ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LÊ THỊ THẢO PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI “HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ” SGK NGỮ VĂN 10,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THẢO
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI “HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG
NGÔN NGỮ” (SGK NGỮ VĂN 10, CƠ BẢN)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Hà Nội – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI “HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG
NGÔN NGỮ” (SGK NGỮ VĂN 10, CƠ BẢN)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: Ts Lã Phương Thúy Sinh viên thực hiện khóa luận: Lê Thị Thảo
Hà Nội – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với những tình cảm và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên – Tiến sĩ Lã Phương Thúy Cô là người đã trực tiếp hướng dẫn
và tận tình giúp đỡ tôi trong một quá trình thực hiện khóa luận này
Tôi xin cảm ơn với các thầy cô khoa Sư phạm – Trường Đại học Giáo Dục đã chỉ bảo, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn sự hỗ trợ của các anh chị trong Trung tâm thư viện Đại học KHXH – NV, thư viện Mễ Trì và phòng tư liệu trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN đã tạo điều kiện để tôi có những nguồn tư liệu bổ ích
Tôi cũng xin cảm ơn đến các thầy cô và các em HS trường THPT Kim Liên đã nhiệt tình hợp tác trong quá trình điều tra, nghiên cứu và thể nghiệm phục vụ cho đề tài
Trong quá trình hoàn thiện khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những đóng góp chỉ bảo của thầy cô và các bạn để khóa luận hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Thảo
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, phương pháp dạy học hiện nay đòi hỏi ngành giáo dục chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Tuy nhiên, để giáo dục phát triển năng lực phẩm chất người học đi vào thực chất mang lại hiệu quả thiết thực cần hiểu đúng và có giải pháp triển khai phù hợp
Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 đã nêu giải pháp cụ thể cho
giáo dục phổ thông: “Thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh, và đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù mỗi địa phương” và “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học” Đề án Đổi mới chương trình và sách giáo khoa của Bộ Giáo
dục Đào tạo đã dự kiến chuẩn đầu ra cho các cấp học từ Tiểu học, Trung học
cơ sở đến Trung học phổ thông gồm năm phẩm chất và mười năng lực cốt lõi Trong số mười năng lực học sinh cần hình thành và phát triển thì năng lực giao tiếp và hợp tác là một trong những năng lực cốt lõi, quan trọng cần hình thành
và phát triển, đặc biệt cần phải đi trước một bước so với các năng lực khác, vì
nó là tiền đề, là cơ sở cho việc phát triển các năng lực khác Brian Tracy đã
khẳng định: “Giao tiếp là một kĩ năng mà bạn có thể học Nó cũng giống như
đi xe đạp hay tập đánh máy Nếu bạn sẵn sàng nhọc công vì nó, bạn có thể nhanh chóng cải thiện chất lượng của mọi phần cuộc sống của mình”
Có thể thấy, đây chính là một năng lực cốt lõi cần phát triển ở học sinh, giúp các em làm chủ bản thân, làm chủ các tình huống đặt ra trong cuộc sống, giải quyết các vấn đề một cách nhanh nhất bằng con đường tư duy và ngôn ngữ
Trang 6Hình thành cho bản thân năng lực hợp tác và giao tiếp tốt, các em có thể thành công dễ dàng trong cuộc sống, thể hiện tư duy, trí óc nhanh nhạy, khéo léo và biệt tài ngoại giao
1.2 Cùng với lao động, ngôn ngữ cũng góp phần hình thành và phát triển xã hội loài người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp phổ biến và thuận lợi nhất
của con người và được coi là “sáng tạo kì diệu của loài người” Ngôn ngữ là
công cụ tổ chức quá trình tư duy, giúp tư duy phát triển Mặt khác, ngôn ngữ đóng vai trò là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành cộng đồng dân tộc, duy trì và phát triển truyền thống văn hóa dân tộc Nói đến ngôn ngữ, chúng ta không thể không nói đến vai trò của phân môn tiếng Việt trong bộ môn Ngữ văn với mục đích cuối cùng là rèn luyện cho HS sử dụng đúng và sử dụng hay tiếng Việt vào hoạt động giao tiếp trong đời sống Tiếng Việt cung cấp cho HS những tri thức về ngôn ngữ, các quy tắc sử dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp và hợp tác Nhờ những tri thức này mà HS mới biết cách sử dụng ngôn ngữ phù hợp với nội dung cần trình bày
Có thể nói, dạy tiếng Việt là dạy cho HS cách sử dụng những phương tiện cần thiết để thực hiện quá trình giao tiếp và hợp tác Đồng thời, phần này còn giúp HS tiếp nhận và diễn đạt những kiến thức khoa học, phục vụ cho quá trình học tập, hoạt động trong nhà trường
Như vậy môn Ngữ văn đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện nhiệm
vụ phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh Học sinh cần có vốn hiểu biết nhất định về ngôn ngữ, tri thức khoa học đời sống xã hội từ đó mà hình thành ở các em khả năng phản xạ nhanh, khả năng xử lý tình huống giao tiếp trong đời sống xã hội
1.3 Để hình thành và phát triển các năng lực chuyên biệt như trên, chúng tôi nhận thấy việc dạy học Tiếng Việt ở các trường THPT còn chưa thực hiện được Phân môn Tiếng Việt vẫn chưa thực sự nhận được sự quan tâm lớn từ GV và
HS, việc dạy học Tiếng Việt còn tồn tại nhiều vẫn đề Chính vì vậy, trong khóa
Trang 7luận này, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Phát triển năng lực giao tiếp thông qua dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ SGK Ngữ văn 10
Thông qua bài học, chúng tôi không chỉ đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng
và đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văN, điều quan trọng nhất là còn giúp các em HS phát triển được năng lực giao tiếp và hợp tác của chính bản thân mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Nghiên cứu về năng lực giao tiếp và hợp tác
Năng lực của người học và dạy học tiếp cận năng lực đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới nhưng đặc biệt được quan tâm khi bước sang thế kỉ XXI Năng lực và các hệ thống năng lực của người học đã được các nhà nghiên cứu giáo dục New Zealand nghiên cứu và xác định gồm 5 năng lực chính Những năm đầu thế kỉ XXI, các nước trong khối EU đã bình luận rất sôi nổi về khái niệm năng lực cơ bản (Key competence) Không chỉ nhận được sự quan tâm của các nhà giáo dục học, năng lực còn được các chuyên gia trong lĩnh vực xã hội, triết học, tâm lí học đầu tư nghiên cứu
Trong số 10 năng lực cốt lõi của người học sinh, giao tiếp và hợp tác là một trong những vấn đề được các học giả cũng như các nhà nghiên cứu đề cao
và đi sâu tìm hiểu Đã có một số bài báo, công trình luận văn nghiên cứu về vấn
đề này như: “Phát triển năng lực giao tiếp của học sinh thông qua việc dạy các bài văn nghị luận xã hội ở lớp 9” của tác giả Bùi Thị Thùy, “Dạy học hợp tác
- một xu hướng mới của giáo dục thế kỉ XXI” của tác giả Trịnh Văn Biều [25] Tác giả Phạm Thị Minh Châu đã có bài báo về vấn đề “Ứng dụng dạy chức năng ngôn ngữ qua các bài hội thoại nhằm tăng cường năng lực giao tiếp cho học sinh phổ thông”[27], trong bài báo đã trình bày một số khái niệm: năng lực
giao tiếp, chức năng ngôn ngữ, dạy chức năng ngôn ngữ; dạy chức năng ngôn ngữ tiếng Anh cho HS phổ thông qua các bài hội thoại Bên cạnh đó, các tác giả cũng rất coi trọng việc xây dựng các bài tập tình huống để rèn năng lực giao
Trang 8tiếp cho HS Đây cũng là cơ sở góp phần làm cho việc dạy tiếng Việt hiệu quả hơn
2.2 Nghiên cứu về dạy học Tiếng Việt và bài “Hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ”
Ngôn ngữ là một trong những phương tiện hỗ trợ tốt nhất cho hoạt động giao tiếp Vốn hiểu biết về ngôn ngữ và cách thức vận dụng ngôn ngữ khéo léo giúp người sử dụng đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất Điều đó càng được chú trọng hơn đối với lứa tuổi HS Bởi với các em, với mỗi ngữ cảnh giao tiếp
là một bài học về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Chính vì nhận thấy vai trò của nó, giao tiếp bằng ngôn ngữ được các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng chức năng vô cùng đề cao Họ cho rằng việc phát triển năng lực giao tiếp cần được chú trọng và tập trung hơn việc dạy người học cách nắm vững các cấu trúc Khi bàn về quan điểm tâm lý học hoạt động có liên quan đến việc dạy và học ngôn ngữ, Trương Định đã đề cao quan điểm dạy học bản ngữ dựa
trên lý thuyết hoạt động lời nói Ông khẳng định: “Trên quan điểm coi hoạt động lời nói trong giao tiếp như mục đích dạy học, dạy ngôn ngữ và đặc biệt
là bản ngữ, phải thông qua hoạt động giao tiếp giữa thầy và trò để tổ chức cho
HS phân tích mẫu hành vi lời nói trong giao tiếp, quan sát hành vi lời nói trong giao tiếp trong thực tiễn nghiên cứu các văn bản giao tiếp trích dẫn để nâng cao ý thức, quy tắc về giao tiếp bản ngữ, mặt khác, trên cơ sở đã có ý thức về năng lực giao tiếp, tổ chức cho HS sáng tạo các lời nói trong giao tiếp” (Mấy
vấn đề về lý luận và thực tiễn về dạy và học tiếng Việt ở trường trung học, TP HCM, 1998) Bên cạnh đó, việc xây dựng các bài tập tình huống để rèn năng lực giao tiếp cho HS cũng được tác giả vô cùng chú trọng
Vấn đề dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” nói riêng cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
vấn đề này, chúng tôi đã tìm hiểu được một số công trình nghiên cứu như sau: Một trong những người nghiên cứu về dạy tiếng Việt THPT theo tình huống
Trang 9giao tiếp là Lê Thị Bích Hồng, tác giả khẳng định sự cần thiết phải sử dụng tình
huống giao tiếp trong dạy học tiếng Việt: “Trong dạy học để giúp học sinh tích cực chủ động, huy động mọi vốn sống , tri thức, kinh nghiệm của mình vào hoạt động tìm kiếm tri thức mới hay giải quyết các tình huống mới, tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo, chủ động điều chỉnh nhận thức, lời nói và hành vi, giao tiếp cần xây dựng các tình huống giao tiếp” [24] Trong bài viết,
những định nghĩa tương đối đầy đủ về tình huống giao tiếp được tác giả đưa ra, đồng thời xác định các đặc điểm cơ bản cũng như những yêu cầu cần thiết của một tình huống giao tiếp trong giờ học tiếng; từ cơ sở đó, tác giả mô tả khái quát quy trình thực hiện một tình huống giao tiếp trong giờ dạy tiếng Việt Như vậy, có thể thấy giờ dạy học tiếng Việt đóng vai trò vô cùng quan trọng giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ Không chỉ rèn luyện khả năng giao tiếp, hợp tác cũng là một năng lực được phân môn Ngữ văn vô cùng chú trọng Trong luận văn thạc sĩ giáo dục học, tác giả Đào Thị Dung đã nghiên cứu đề tài “Vận dụng phương pháp hợp tác vào giảng dạy phong cách chức năng ngôn ngữ” Trong luận văn tác giả cũng đã cho thấy hợp tác đóng vai trò thực tiễn trong dạy học ngôn ngữ
Như vậy, mặc dù các giáo trình, các tài liệu và các bài viết trên không cập nhật trực tiếp đến vấn đề mà đề tài này quan tâm nhưng chính các công trình trên là những định hướng, những gợi ý quý báu giúp người thực hiện đề tài này có hướng nghiên cứu về nội dung và phương pháp cũng như hình thức
tổ chức dạy học tiếng Việt dựa trên mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác của HS
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Năng lực giao tiếp và hợp tác chiếm giữ một vị trí đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh THPT HS THPT luôn thích thú, hăng say trong việc thể hiện suy
Trang 10nghĩ, cảm xúc, quan điểm của mình thông qua giao tiếp và hợp tác Song các
em còn chưa hiểu rõ mục đích, cách thức trong việc thực hiện quá trình giao tiếp và hợp tác, điều đó khiến cho hoạt động giao tiếp không đạt được hiệu quả như mong muốn Thông qua đề tài nghiên cứu, người viết muốn hình thành, phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác ở học sinh THPT, giúp định hướng cho các em cách trình bày quan điểm, suy nghĩ cá nhân, cách lắng nghe, lĩnh hội trong giao tiếp, đặc biệt cách hợp tác trong hoạt động nhóm thông qua bài học
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cũng như nghiên cứu thực trạng dạy học tiếp Việt đồng thời đề xuất một số phương pháp giảng dạy nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tổ chức dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ theo định
hướng phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Khóa luận tiến hành nghiên cứu trong phạm vi hoạt động dạy và học bài
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, lớp 10 tập 1 nhằm phát triển năng lực giao
tiếp cho HS
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
+ Nghiên cứu tài liệu lí luận dạy học bộ môn Ngữ Văn bậc THPT
+ Nghiên cứu chương trình, SGK Ngữ văn lớp 10 bậc THPT, các tài liệu dịnh hướng đổi mới về phương pháp dạy học
Trang 115.1 Phương pháp quan sát, điều tra
Điều tra thực trạng dạy và học tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn 10
5.2 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm để xem tính khả thi và hiệu quả của một số
biện pháp dạy học bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ”
5.3 Phương pháp thống kê xử lí số liệu
Phương pháp này được chúng tôi xử lí số liệu sau khi thu thập phiếu điều tra học tập, phiếu điều tra năng lực giao tiếp và hợp tác của HS, phiếu điều tra dạy học của giáo viên Phương pháp thống kê giáo dục học được sử dụng để xử lí số liệu trong giai doạn thực nghiệm sư phạm của đề tài
6 Đóng góp của đề tài
- Về mặt lí luận: khẳng định hướng đổi mới đúng đắn của phương pháp dạy học tiếng Việt phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác Đề xuất những phương pháp, biện pháp dạy học phát triển năng lực
- Về thực tiễn:
+ Đánh giá thực trạng dạy học tiếng Việt cho HS lớp 10
+ Đánh giá tính khả thi của phương pháp dạy học tiếng Việt, hình thành
mô hình giờ dạy tiếng Việt nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác
7 Cấu trúc khóa luận
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học
sinh qua dạy học bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” trong chương trình
Ngữ văn 10 cơ bản
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm Năng lực
Năng lực có nguồn gốc tiếng La tinh “Competentia”, có nghĩa là gặp gỡ Khái niệm năng lực đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và có mặt trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau: Tâm lý học, Triết học, Xã hội học, Giáo dục học, Kinh tế học… Năng lực có một số từ đồng nghĩa hoặc nhiều nghĩa tương đồng như: “Khả năng” (ability); “Năng khiếu” (aptitude); “hiệu suất” (efficiency); “Hiệu quả” (effectiveness) và “Kỹ năng” (Skill) Vì các định nghĩa khoa học cho khái niệm năng lực rất đa dạng nên không thể xác định được một định nghĩa tập trung đơn lẻ Tuy nhiên vẫn có thể giải thích và phát triển khái niệm năng lực theo những mục đích khoa học và thực tiễn
Có rất nhiều quan điểm, định nghĩa về khái niệm năng lực như:
Năng lực là “Khả năng được hình thành và phát triển, cho phép con người được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp Năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ.” (Từ điển giáo dục học, NXB từ điển Bách Khoa, 2000)
Trong tâm lý học, khái niệm “năng lực” thường được định nghĩa như
sau: “Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu
tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức…” “Năng lực là những khả năng và kĩ xảo, học được hoặc sẵn
có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sẵn sàng về động cơ, xã hội… và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách
có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” (weinert, 2001)
[16,1]
Trang 13Trong giáo dục học, người ta quan tâm nhiều đến năng lực hành động
và coi trọng hơn năng lực cuộc sống “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [16,1]
Trong giáo trình phương pháp dạy học văn, tác giả Phan Trọng Luận
đã rất quan tâm đến việc triển khai quan niệm về năng lực trong dạy học văn chương Tác giả cho rằng: có 3 loại năng lực văn chương: năng lực sáng tạo, năng lực phê bình và năng lực tiếp nhận, trong đó năng lực tiếp nhận là năng lực cần hình thành cho học sinh [16,1]
Theo từ điển tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê (Chủ biên) thì năng
lực có thể được hiểu theo hai định nghĩa:
Thứ nhất, Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một họat động nào đó
Thứ hai, Là một phảm chất tâm sinh lý tạo cho con người khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng [16, 2]
Có thể thấy, dù định nghĩa có khác nhau về câu chữ nhưng các khái niệm
về năng lực đều hướng tới khả năng thực hiện, hành động của con người chứ không đơn thuần là kiến thức Các nhà nghiên cứu đã khẳng định, nói đến năng
lực là phải biết làm (know - how), chứ không chỉ biết và hiểu Trong đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn THCS, nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thống khẳng định: Năng lực phải được đánh giá dựa trên hành động, có nghĩa là hành động (làm), thực hiện (performance) ở đây gắn với ý thức và thái độ, phải có kiến thức và kỹ năng chứ không phải làm một cách “máy móc”, “mù quáng”
1.1.2 Phân loại hệ thống năng lực
Trang 14Năng lực chuyên biệt, đặc thù của môn Ngữ Văn sẽ bao gồm: năng lực cảm thụ thẩm mỹ và năng lực giao tiếp tiếng Việt
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện ở khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống, thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện Như vậy, năng lực cảm xúc (hay năng lực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân Chỉ số này mô tả khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người, của người khác, của các nhóm cảm xúc
Năng lực giao tiếp được hiểu là khả năng sử dụng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh /ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con người với nhau trong
xã hội Năng lực giao tiếp bao gồm các thành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào các tình huống phù hợp để đạt được mục đích Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, HS được hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, HS được luyện tập những tình huống hội thoại theo nghi thức
và không nghi thức, các phương châm hội thoại, từng bước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp
Như vậy, Thông qua một số khái niệm của các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau, chúng ta đã phần nào thấy được 2 dạng chính của khái niệm năng lực Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả của hoạt động, nó
là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó
Trang 15Có thể nói, năng lực không chỉ dừng lại ở kiến thức và kỹ năng, mà năng lực còn được đánh giá thông qua khả năng đáp ứng được những yêu cầu phức tạp qua việc nỗ lực sử dụng tốt các kiến thức, kỹ năng và huy động nó một cách thích hợp nhất trong từng hoàn cảnh Năng lực có thể gọi là khả năng tiếp nhận
và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi khả năng của con người (tri thức, kỹ năng, thái độ, thể lực, niềm tin,…) nhằm thực hiện và giải quyết có hiệu quả công việc, nhiệm vụ, trạng thái nào đó trong cuộc sống, trong lao động theo các chuẩn mực nhất định
1.1.3 Dạy học tiếp cận năng lực
1.1.3.1 Chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Đổi mới chương trình dạy học không chỉ đổi mới phương pháp mà còn phải đổi mới mục đích, đó là học sinh (HS) làm được gì thông qua việc học
chứ không phải các em học được gì thông qua việc dạy của thầy cô Đây chính
là nội dung cốt yếu trong đổi mới giáo dục trung học và người giữ vị trí quan trọng trong việc triển khai phương pháp mới này không ai khác là giáo viên đứng lớp
Mục tiêu giáo dục của chương trình định hướng năng lực là kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát được, thể hiện được mức độ tiến bộ của học sinh một cách liên tục Nội dung giáo dục là những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết Với chương trình này, giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức; trong đó, chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết các vấn đề, khả năng giao tiếp và chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành
Trang 16Khác với việc chỉ học lý thuyết trên lớp học, chương trình định hướng năng lực sẽ tổ chức các lớp học đa dạng; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo, đẩy mạnh ứng dụng CNTT
và truyền thông trong dạy - học Đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến
sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn Đây là sự khác biệt cơ bản và gần như trái ngược với chương trình giáo dục định hướng nội dung mà trường phổ thông đang triển khai
Theo ThS Lương Ngọc Bình (Học viện Quản lý giáo dục), dạy học theo hướng tiếp cận năng lực là phương pháp dạy học nhắm trúng vào năng lực của người học để thiết kế chương trình “Muốn dạy học theo hướng này đạt hiệu quả mong muốn thì khâu xác định sở thích và năng lực người học là quan trọng hàng đầu, nhưng chỉ dựa vào sở thích của người học thì đúng, nhưng chưa đủ
Để thành công, yếu tố có tính quyết định ở đây là năng lực người học Từ trước đến nay, chúng ta chủ yếu dạy học theo phương pháp tiếp cận nội dung Chương trình và nội dung giáo dục được xác định là chuẩn mực, không được phép xê dịch Khi học, học sinh không biết học để làm gì, khi làm không hiểu tại sao phải làm ”, ThS Bình nói
Việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học được xem là chìa khóa để đổi mới giáo dục Và để thực hiện đổi mới nội dung này thì giải pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực cần phải xác định chính xác ngưỡng nhận thức năng lực phù hợp của người học Ngoài ra, cần điều chỉnh lại mục tiêu, thiết kế xây dựng lại nội dung cho từng cấp, bậc và ngành học; bổ sung điều kiện quan trọng khác như giáo trình, sách giáo khoa Đây là các yếu tố quan trọng, hướng tới một nền giáo dục tiên tiến, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng
1.1.3.2 Quy trình dạy học tiếp cận năng lực
Trang 17Chia sẻ về quy trình dạy học theo hướng tiếp cận năng lực, GS.TS Nguyễn Đức Chính – Nguyên Phó giám đốc ĐHQG Hà Nội chia sẻ gồm: Trước giờ dạy; giáo án (Kịch bản giờ dạy); đánh giá sau giờ dạy, những câu hỏi giáo viên cần trả lời sau giờ dạy Trước giờ dạy, chọn một bài cụ thể tổ chức để toàn
tổ thảo luận theo 6 nội dung như sau:
Câu hỏi giáo viên cần trả lời Căn cứ
1 Nội dung bài mới là gì? Có hứng thú
với học sinh không?
Sách giáo khoa, phân phối chương trình, chuẩn kiến thức - kĩ năng
2 Những kiến thức cần để học bài học
mới mà học sinh đã học ở các bài trước là
gì? Có cần nhắc lại trước khi học bài mới
không? Bằng cách nào? Có cần tạo hứng
thú với bài học mới không? Bằng cách
nào?
Bài học trước, kết quả kiểm tra (nếu có)
3 Mục tiêu cần đạt sau bài học là gì? Hành vi hóa, khả thi, phù hợp với
chuẩn, đối tượng học sinh, bối cảnh dạy học
4 Tôi cần chuẩn bị những loại học liệu,
phương tiện, công cụ nào cho phù hợp với
mục tiêu, nội dung, học sinh và bối cảnh
dạy học?
Căn cứ số lượng và mức độ khó của mục tiêu
5 Những loại hình hoạt động nào giúp
học sinh chiếm lĩnh được mục tiêu, phù
hợp với nội dung và học sinh của tôi? Có
Trang 181.1.3.3 Định hướng phát triển năng lực người học trong phân môn tiếng Việt
Trong dạy học Tiếng Việt, để phát triển năng lực người học:
Đầu tiên, cần thống nhất với nhau trên cả quan điểm và hành động là phải thay đổi lối dạy truyền thống chỉ cung cấp tri thức cho học sinh, thay vào
đó cần chuyển sang cách dạy Ngữ văn mới nói chung và tiếng Việt nói riêng nhằm phát triển năng lực cho người học
Thứ hai, cần một bộ SGK Ngữ văn được biên soạn theo tinh thần phát triển năng lực người học để làm cơ sở cho việc dạy – học
Thứ ba, vai trò chủ đạo của người thầy trong việc phát triển năng lực của học sinh là vô cùng quan trọng Để phát triển tốt năng lực thẩm mĩ, cần hướng vào cách người học thực hành vận dụng kiến thức là chủ yếu chứ không phải hướng vào kiến thức như cách dạy truyền thống trước đây; từ đó có thể mở ra
cơ hội và tạo điều kiện thuận lợi để người học khám phá và thưởng thức vẻ đẹp của ngôn ngữ cũng như hoàn cảnh giao tiếp tiếng Việt
Để phát triển tốt năng lực sử dụng tiếng Việt, bên cạnh việc bồi dưỡng cho người học một vốn ngôn ngữ cần thiết để sử dụng, cần đặc biệt chú ý khâu thực hành bởi chỉ qua thực hành thì năng lực của người học mới phát triển được Thực hành ở đây là thực hành giao tiếp ngôn ngữ và thực hành tạo lập văn bản, cần được rèn luyện thường xuyên để người học có thể làm chủ được ngôn ngữ
và sử dụng thành thạo nó
Thứ tư, định hướng giúp HS nhận thức được vai trò chủ động của học sinh để có thể tự phát triển năng lực của mình Năng lực thẩm mĩ và năng lực
Trang 19giao tiếp là những năng lực tự thân mà em nào cũng có Chỉ cần người thầy luôn biết cách khơi dậy khả năng tự phát triển đó của học sinh trong dạy học
Như vậy, khi vai trò chủ đạo của người dạy gặp được sự chủ động của người học thì việc phát triển năng lực trong dạy – học Ngữ văn nói chung và tiếng Việt nói riêng sẽ thành công
1.1.4 Năng lực giao tiếp
1.1.4.1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp(Communicate) là truyền đạt cảm xúc và ý kiến cho phía bên kia (đối phương) Dù bạn làm ở đâu? Dù bạn làm trong lĩnh vực nào đi chăng nữa thì kĩ năng giao tiếp vẫn luôn là một trong những kĩ năng cần thiết nhất nếu bạn muốn làm việc được hiệu quả Giao tiếp đơn thuần bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt nhất là chào hỏi mọi người, chào hỏi đồng nghiệp của bạn, chào hỏi sếp của bạn… cho tới những kĩ năng cao hơn là trao đổi thông tin, liên lạc, báo cáo tình hình liên quan tới công việc
Theo G.A.Miller (1956): “Giao tiếp(communication) là việc một tin nào
đó được truyền từ điểm này đến điểm khác” Warren Weaner & Claude
Shannon trong “Lí thuyết toán học của giao tiếp” cũng cho rằng: “giao tiếp được sử dụng với một nghĩa rộng, bao gồm các tiến trình mà suy nghĩ của người này có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ của người khác Điều đó không chỉ xảy ra với ngôn ngữ viết cũng như nói mà còn được thể hiện trong kịch, múa… và trong mọi hành vi của con người”
Ở Việt Nam, giao tiếp cũng được nhìn nhận từ nhiều phương diện: tâm
lí, giáo dục, triết học… Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Giao tiếp là một hoạt động liên cá nhân, có chức năng truyền đạt những thông tin về sự vật, hiện tượng của thực tế (thông tin miêu tả hay thông tin sự vật) nhằm tạo ra những biến đổi trong tình cảm, trạng thái tâm lí và hoạt động giữa những người tham gia giao
Trang 20tiếp(thông tin liên cá nhân hay tông tin tác động)” [22,tr 225] Các nhân tố giao tiếp là: “Ngữ cảnh (nhân vật giao tiếp, hiện thực ngoài diễn ngôn), ngôn ngữ (với các phương diện: đường kênh thính giác và thị giác của ngôn ngữ; các biến thể của ngôn ngữ: biến thể chuẩn mực hóa, biến thể phương ngữ địa
lí và phương ngữ xã hội, ngữ vực và phong cách chức năng) và diễn ngôn được hiểu là “một thuật ngữ chung chỉ cách dùng ngôn ngữ tức chỉ các sản phẩm ngôn ngữ được tạo ra do một hành động giao tiếp nào đấy” [20, tr tr32]
Theo quan niệm của nhà nghiên cứu Bùi Minh Toán: “Giao tiếp chính là
sự tiếp xúc, giao lưu giữa người và người trong xã hội, qua đó con người bộc
lộ và truyền đạt cho nhau những nhận thức, tư tưởng và cả những tình cảm, thái độ đối với nhau và đối với điều được diễn đạt…” (14,tr26)
1.1.4.2 Khái niệm năng lực giao tiếp
Trong quá trình giảng dạy Ngữ văn hiện nay, yếu tố năng lực giao tiếp cần được quan tâm xứng đáng, cần được coi là vấn đề trọng tâm trong việc nghiên cứu cũng như phát triển nhằm cải tiến tốt hơn hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của người học
Theo tác giả Đinh Ngọc Lâm trong bài báo “Phát triển năng lực giao tiếp của người học và việc áp dụng vào dạy ngoại ngữ” Khái niệm về năng lực
giao tiếp lần đầu được xuất hiện trong những năm 1970 khi nhà ngôn ngữ học Hymes phân biệt hai loại năng lực: “năng lực ngữ pháp” và “năng lực sử dụng” [23] Theo Hymes, “năng lực sử dụng” là khả năng vận dụng các “năng lực ngữ pháp” nhằm đảm bảo các phát ngôn phù hợp với các tình huống cụ thể Từ đó, khái niệm “năng lực giao tiếp” được hình thành để chỉ việc sử dụng hiệu quả ngôn ngữ trong một tình huống xã hội cụ thể
Đối với A Abbou, năng lực giao tiếp được xem xét dưới góc độ xã hội nhiều hơn là ngôn ngữ Theo Abbou, năng lực giao tiếp của một người nào đó
Trang 21là “tổng hợp năng lực vốn có và các khả năng thực hiện được hệ thống tiếp nhận và diễn giải các tín hiệu xã hội có được theo đúng như tập hợp các chỉ dẫn
và quy trình đã được xây dựng và phát triển để tạo ra trong một tình huống xã hội các hành xử phù hợp với việc xem xét các dự định của mình”
Dưới góc nhìn ngôn ngữ học của mình, Beautier – Casting lại cho rằng năng lực giao tiếp là “năng lực vốn có của người nói để hiểu một tình huống trao đổi ngôn ngữ và trả lời một cách thích hợp, bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ Hiểu ở đây đồng nghĩa với việc đối chiếu một ngữ nghĩa không chỉ dưới hình thức quy chiếu, nghĩa học, nội dung của thông điệp, mà còn rất có thể là một hành vi, hoạt động tại lời và bởi lời có chủ đích” (Beautier-Casting, 1983) Có thể nói tác giả đề cao các vấn đề ngữ dụng khi đưa ra quan điểm của mình về năng lực giao tiếp
Áp dụng cụ thể vào việc giảng dạy, các tác giả của Khung quy chiếu chung các ngôn ngữ Châu Âu cho rằng năng lực giao tiếp là khả năng của một
cá nhân nói chung và người học nói riêng thực hiện một hành động nào đó, ở đây là hành động giao tiếp trong ngôn ngữ cần học Nói một cách chi tiết hơn, năng lực giao tiếp của người học được thể hiện khi “người học vận hành các năng lực sẵn có trong các ngữ cảnh và điều kiện khác nhau theo các yêu cầu nhằm thực hiện các hoạt động ngôn ngữ cho phép xử lý (trong việc tiếp nhận
và diễn đạt) các văn bản theo các chủ đề trong một lĩnh vực cụ thể có vận dụng các chiến lược phù hợp nhất để hoàn thành nhiệm vụ được giao” (Daniel Coste
et al, 2010) Như vậy, các tác giả của Khung quy chiếu này đã thể hiện rõ quan điểm của họ về việc dạy và học ngôn ngữ khi nhấn mạnh vào người học, vào khả năng vận hành ngôn ngữ một cách phù hợp của người học trong tình huống
cụ thể và với hoạt động học chủ yếu là các nhiệm vụ cụ thể được giao
Tóm lại, trong quá trình giảng dạy ngôn ngữ, để đạt được năng lực giao tiếp, người học cần phải nắm bắt được nhiều yếu tố khác ngoài các kiến thức
Trang 22ngôn ngữ thuần túy để diễn đạt được ngôn ngữ mà mình học cho phù hợp trong các hoàn cảnh cụ thể
Năng lực giao tiếp trong chương trình Ngữ văn nhà trường phổ thông đặc biệt là năng lực giao tiếp bằng Tiếng Việt là luyện cho HS kỹ năng nghe, nói, đọc, viết thành thạo
Ví dụ: Yêu cầu và biểu hiện năng lực đọc thì ở tiểu học phải “đọc trôi chảy và đúng ngữ liệu”, “đọc hiểu bài đọc ngắn về các chủ đề quen thuộc, phù hợp tâm
lí lứa tuổi”… Bậc THCS phải “đọc lưu loát và đúng ngữ điệu”, “đọc hiểu nội dung chính và chi tiết các bài đọc có độ dài vừa phải”, “phản hồi những văn bản đã đọc một cách tương đối hiệu quả”, “bước đầu có ý thức tìm tòi, mở rộng phạm vi đọc”… Bậc THPT, “HS đọc rất lưu loát và đúng ngữ điệu”, “đọc hiểu các văn bản phức tạp trong chương trình học và đời sống, phù hợp tâm lí lứa tuổi”, “phản hồi một cách tích cực và hiệu quả những nội dung đã đọc”, “luôn
có ý thức tìm tòi, mở rộng phạm vi đọc”…
1.1.4.3 Các đơn vị cấu thành năng lực giao tiếp Tiếng Việt
Trong bài viết Dạy học tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực, theo
nhà nghiên cứu Đỗ Việt Hùng thì về cơ bản có thể hình dung về năng lực tiếng Việt như sau:
NĂNG LỰC GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT
NĂNG LỰC NHẬN THỨC
(NHẬN THỨC NGÔN NGỮ VÀ NHẬN THỨC VĂN HÓA)
Năng lực nói Năng lực nghe Năng lực đọc Năng lực viết
Trang 23Trong mỗi năng lực bộ phận lại được chia tiếp thành các năng lực cụ thể theo mức độ đơn giản đến phức tạp Việc phân định các thành phần khác nhau của năng lực giao tiếp cũng rất đa dạng ở các tác giả khác nhau
Theo Daniel Coste, năng lực giao tiếp bao gồm bốn thành phần:
- Thành phần làm chủ ngôn ngữ gồm các kiến thức ngôn ngữ, các kỹ năng liên quan đến sự vận hành của ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống cho phép thực hiện các phát ngôn;
- Thành phần làm chủ văn bản gồm các kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng liên quan đến diễn ngôn, các thông điệp với tư cách là một chuỗi tổ chức phát ngôn;
- Thành phần làm chủ các yếu tố về phong tục gồm các kiến thức, kỹ năng liên quan đến tập quán, chiến lược, cách điều chỉnh trong trao đổi liên nhân theo đúng địa vị, vai vế và ý định của những người tham gia giao tiếp;
- Thành phần làm chủ tình huống bao gồm các kiến thức và kỹ năng liên quan đến các yếu tố khác nhau có thể ảnh hưởng đến cộng đồng và sự lựa chọn của người sử dụng ngôn ngữ trong một hoàn cảnh cụ thể
1.1.4.4 Các kết quả đầu ra cần đạt về năng lực giao tiếp tiếng Việt
Như chúng tôi đã phân tích ở trên, năng lực giao tiếp có vai trò rất quan trọng trong giảng dạy ngôn ngữ Năng lực này được hình thành từ tập hợp các năng lực thành phần liên quan đến giao tiếp ngôn ngữ, giao tiếp văn hóa, giao tiếp xã hội và các yếu tố phi ngôn ngữ khác
Do đó, người dạy cần phải xác định được đầy đủ các thành tố này của năng lực giao tiếp, nắm vững những yêu cầu, đòi hỏi để hình thành mỗi năng lực thành phần ở người học, giúp họ có được điều kiện thuận lợi trong nắm bắt ngôn ngữ và vận dụng nó trong những tình huống giao tiếp cụ thể
Trang 24Ngoài ra, người dạy cũng cần phải xác định các năng lực thành phần trọng tâm trong cấu phần các năng lực giao tiếp cho phù hợp với mỗi đối tượng người học và với mỗi cấp độ phát triển năng lực ngôn ngữ của họ để có các biện pháp cụ thể tập trung nâng cao cả về khối lượng kiến thức, kỹ năng và chất lượng nắm bắt chúng, nhằm hình thành vững chắc năng lực trọng tâm cần thiết
ở người học Ví dụ như ở giai đoạn đầu của việc học ngoại ngữ, người học có thể đưa cấu phần năng lực ngôn ngữ làm trọng tâm vì đây là năng lực rất cần thiết cho việc thiết lập kiến thức nền tảng về ngôn ngữ ở người học Tuy nhiên, giáo viên cũng không nên bỏ qua việc phát triển các năng lực chung khác về văn hóa giao tiếp hay xã hội giao tiếp ngoại ngữ đó ở người học vì đây cũng là những yếu tố mang tính định hướng cho việc sử dụng đúng ngôn ngữ ở các tình huống giao tiếp thực tế
1.1.5 Năng lực hợp tác
1.1.5.1 Khái niệm hợp tác
Hợp tác là cùng nhau làm việc, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc hay một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung Cơ sở tâm lí-xã hội học của dạy học hợp tác là: - Mỗi người đều có những điểm mạnh và những hạn chế nhất định
Năng lực hợp tác được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người trong xã hội hiện nay, chính vì vậy, phát triển năng lực hợp tác từ trong trường học đã trở thành một xu thế giáo dục trên thế giới Dạy học hợp tác chính là sự phản ánh thực tiễn của xu thế đó
Tác giả Trịnh Văn Biều có viết về George Bernard Shaw một nhà soạn
kịch nổi tiếng người Anh, từng đoạt giải Nobel Văn học đã nói: “Bạn có một quả táo, tôi có một quả táo, chúng ta trao đổi với nhau thì bạn và tôi mỗi người
có một quả táo Nhưng nếu bạn có một ý tưởng, tôi có một ý tưởng và chúng ta
Trang 25trao đổi ý tưởng cho nhau, thì tôi và bạn mỗi người có hai ý tưởng”[25] Phát
triển tư tưởng của Bernard Shaw, Dạy học hợp tác đã và đang là một trong những xu hướng phát triển mới có nhiều ưu điểm và hiệu quả cao của giáo dục thế kỷ XXI Dạy học hợp tác góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện,
nó không chỉ giúp cho người học nắm vững kiến thức mà còn phát triển năng lực giao tiếp và khả năng hợp tác – một trong những phẩm chất cần thiết một dấu ấn mới trong lịch sử phát triển của tư tưởng giáo dục hợp tác Khi nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên ở các nhóm dân chủ, ông đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của “cách thức cư xử trong nhóm”
1.1.5.2 Dạy học hợp tác
Dạy học hợp tác theo nhóm là một hình thức tổ chức dạy học, trong
đó dưới sự tổ chức và điều khiển của giáo viên, học sinh được chia thành nhiều nhóm nhỏ liên kết lại với nhau trong một hoạt động chung, với phương thức tác động qua lại của các thành viên, bằng trí tuệ tập thể mà hoàn thành các nhiệm vụ học tập Cách học hợp tác theo nhóm đang được áp dụng có hiệu quả ở tất cả các bậc học và nhiều môn học
Lý giải vì sao chúng tôi lại chọn kết hợp hai năng lực giao tiếp và hợp tác trong dạy học Tiếng Việt của đề tài nghiên cứu này? Trong dự thảo đổi mới chương trình giáo dục Phổ thông tổng thể, ba nhóm năng lực chủ đạo được hướng đến là: “năng lực tự chủ và tự học,năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo”, song xét về ý nghĩa thì chúng bao hàm lẫn nhau Cụ thể hơn như sau: năng lực hợp tác đã có thể bao gồm năng lực giao tiếp, năng lực tự chủ có thể bao gồm tính chủ động học tập, và năng lực giải quyết vấn đề bao gồm tất cả các năng lực trên[33] Chính vì vậy, để phát huy tốt những năng lực trên, chúng ta cần xét chúng dựa trên các mối quan hệ bao hàm, bổ trợ lẫn nhau Cũng giống như muốn phát huy tốt năng lực hợp tác HS cần có khả năng giao tiếp hoặc ngược lại
Trang 261.1.6 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.1.6.1 Vai trò của hoạt động
Hoạt động dưới góc nhìn của tâm lý học là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Hoạt động của con người chính là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới khách quan và với chính bản thân mình Hoạt động có vai trò quan trọng và tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển tâm lý và nhân cách cá nhân thông qua hai quá trình:
Qúa trình đối tượng hóa: Sản phẩm được tạo nên nhờ năng lực và phẩm
chất tâm lý của chủ thể Qua đó, phẩm chất, tâm lý con người được bộc lộ
Ví dụ: Khi xây dựng bài tập thuyết trình về một môn học nào đó, người thuyết trình phải vận dụng tất cả những kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm về môn học đó Trong khi thể hiện bài thuyết trình, mỗi người lại có một tâm lý khác nhau: người thì rất tự tin, nói to, mạch lạc, lôi cuốn, trôi chảy, có người lại rất
lo sợ, rụt rè, nói ấm úng, chậm chạp Chính vì vậy, tùy vào tâm lý mỗi người, vào sự rèn luyện và vốn kỹ năng sử dụng ngôn ngữ mà bài thuyết trình đó sẽ đạt yêu cầu hay ko đạt yêu cầu
Qúa trình chủ thể hóa: Thông qua các hoạt động đó, con người tiếp thu
và rút ra kinh nghiệm
Ví dụ: Sau bài thuyết trình, cá nhân đó đã thử nghiệm và rút ra được kinh nghiệm cho bản thân và đã biết làm thế nào để có được bài thuyết trình đạt hiệu quả tốt Nếu có lần sau thì sẽ chuẩn bị một bài thuyết trình rõ ràng, mạch lạc, làm chủ… hơn
1.1.6.2 Vai trò của hoạt động giao tiếp
“Hoạt động giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin của con người trong
xã hội, được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ (dạng nói hoặc
Trang 27dạng viết), nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức, về tình cảm, về hành động…”
“Mỗi hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình: tạo lập văn bản (do người nói, người viết thực hiện), và lĩnh hội văn bản (do người nghe người, đọc thực hiện) Hai quá trình này diễn ra trong quan hệ tương tác.” [6]
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội Thông qua giao tiếp, chúng ta có thể xác định được nhu cầu, tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm… của đối tượng giao tiếp Từ đó điều chỉnh hành vi đáp ứng kịp thời mục đích và nhiệm vụ giao tiếp Từ đó tạo thành các hình thức giao tiếp khác nhau giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với nhóm, giữa nhóm với nhóm, với cộng đồng…
Ví dụ: Trường hợp một em bé sinh ra trong rừng và được chó sói nuôi, lớn lên
em bé ấy sẽ có các đặc điểm giống chó sói như đi bằng 4 chân, ăn thịt sống, gào rú, sợ người, cách cư xử và tập tính giống chó sói
Giao tiếp là nhu cầu bức thiết của con người khi tồn tại Ở đâu có sự tồn tại của con người thì ở đó có giao tiếp
1.1.6.3 Vai trò của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Giáo dục ngôn ngữ là lĩnh vực GD gồm các môn học vừa mang tính công
cụ (ngữ) vừa mang tính đặc thù (văn) nhằm hướng đến mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp, thẩm mỹ và phát triển các phẩm chất nhân văn cho HS Vì thế GDNN phải đặc biệt được coi trọng phát triển
Mục tiêu của chương trình phổ thông mới là GD phát triển con người toàn diện về 4 mặt đức, trí, thể, mỹ Do vậy cùng với việc phát triển các năng lực trên, lĩnh vực GDNN còn góp phần hình thành, phát triển ở HS các phẩm chất chủ yếu như: Sống yêu thương, sống tự chủ và sống trách nhiệm Đồng thời giúp HS nhận biết được ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng và
Trang 28công cụ tư duy của con người, coi ngôn ngữ là công cụ để học tốt tất cả các môn học, từ đó có ý thức trau dồi ngôn ngữ…
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khảo sát chương trình, SGK, Ngữ văn THPT lớp 10
• Bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong chương trình THPT
Chương trình ngữ văn hiện hành nêu lên 3 mục tiêu, trong đó mục tiêu
đầu tiên là “Cung cấp cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ (trọng tâm là tiếng Việt) và văn học (trọng tâm là văn học Việt Nam), phù hợp với trình độ phát triển lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong thười kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Mục
tiêu thứ ba là bồi dưỡng tinh thần, tình cảm, tình yêu tiếng Việt, yêu gia đình Mục tiêu của chương trình đã nêu rõ: Dạy học Ngữ Văn trong đó có phần tiếng Việt là nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác của HS Quan điểm này được thể hiện rõ nhất trong hai yêu cầu: Phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt cho HS và ứng dụng những điều đã học vào thực tiễn
Chương trình đã quy định chuẩn kiến thức, kĩ năng của bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong chương trình lớp 10 như sau:
Mức độ cần đạt
- Hiểu được các kiến thức cơ bản về hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ
- Nâng cao kĩ năng phân tích, lĩnh hội, tạo lập văn bản trong giao tiếp
Có thể thấy chuẩn kiến thức, kĩ năng của bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong chương trình ngữ văn THPT đã thể hiện được mục tiêu dạy học
tiếng Việt là phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh
Trang 29Bên cạnh ưu điểm nói trên, chuẩn chương trình cũng có điểm hạn chế nhìn từ mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS Các tác giả xây dựng chương trình đã nhìn vào thang tư duy của bloom để phân tách thành
ba mức độ cần đạt của HS trong chuẩn kiến thức, kĩ năng: Biết, hiểu và vận dụng Tuy nhiên, nhìn vào bảng trên ta dễ nhận thấy chương trình còn nặng về yêu cầu hiểu được kiến thức lí thuyết Trong khi đó, khả năng vận dụng của các
em được yêu cầu chỉ là khả năng phân tích, lĩnh hội, biết vận dụng, biết cách… một cách khái quát Đáng ra yêu cầu về khả năng thực hành của các em phải đạt được nhiều hơn thế để GV và HS có thể vận dụng những tri thức ngôn ngữ học vào thực tế giao tiếp và hợp tác Chuẩn kiến thức và kĩ năng của chương trình chưa đạt yêu cầu nhằm phát huy tối đa năng lực của HS như vậy sẽ chi phối đến PP dạy học và kiểm tra đánh giá trong dạy học Ngữ văn Đây không
chỉ là hạn chế của riêng bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ mà là hạn chế
của chương trình Ngữ Văn hiện hành, chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam nói chung
1.2.2 Thực trạng dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở THPT
hiện nay
1.2.2.1 Mục đích khảo sát
Để có được cơ sở đề xuất nội dung nghiên cứu đề tài, chúng tôi
tiến hành tìm hiểu thực tiễn dạy học ở trường THPT Kim Liên – Hà Nội
1.2.2.2 Đối tượng khảo sát
GV bộ môn ngữ văn và HS khối 10 ở các lớp ở trường THPT Kim Liên –
Hà Nội
1.2.2.3 Nội dung khảo sát
Với mục đích như trên chúng tôi đã xây dựng được nội dung khảo sát như sau:
- Khảo sát về tầm quan trọng cũng như vai trò của bài Hoạt động giao tiếp
Trang 30bằng ngôn ngữ nhằm hiểu được nhận thức của GV và HS về vai trò của bài
trong học tập cũng như trong thực tiễn
- Khảo sát về các phương pháp dạy học mà Gv thường sử dụng để dạy bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
- Xây dựng các nội dung khảo sát nhằm tìm hiểu những thuận lợi và khó
khăn khi GV và HS dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Từ đó đề
xuất các phương pháp dạy học vừa phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho
HS
- Đề xuất các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS một cách khách quan nhất
1.2.2.4 Đối tượng, phạm vi
Địa bàn: THPT Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội
Đối tượng khảo sát: 9 GV và 92 Học sinh THPT Kim Liên tại lớp 10A5
và 10A10
1.2.2.5 Hình thức
Hình thức khảo sát: sử dụng phiếu khảo sát, phỏng vấn trực tiếp GV và
HS trường THPT Kim Liên
1.2.2.6 Kết quả khảo sát
➢ Đối với HS:
Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu thái độ học tập bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ của 92 HS lớp 10 ở 2 lớp thuộc các ban A(Toán, lí, anh) và
D(Toán, Văn, Anh) gồm: 10A5 và 10A10 trường THPT Kim Liên, việc khảo sát
được tiến hành bằng các hình thức: Dự giờ tiết học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và phát phiếu điều tra:
Khi hỏi về thái độ của HS khi học xong bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, có 5,3% trả lời rất hứng thú, 9,7% hứng thú, 33,6% bình thường, 35,4% chán
Trang 31và 16.0% rất chán Trước câu hỏi việc học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
có giúp ích gì cho em trong thực tế giao tiếp và hợp tác trong lớp học cũng như ngoài đời sống?” Chúng tôi đã thống kê được bản sau:
Bảng 1.1: Vai trò của bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ trong thực tế giao tiếp và hợp tác ngoài đời sống qua ý kiến HS
Số lượng HS Rất có ích Có ích ít Bình
thường
Không có ích
Qua khảo sát HS sau khi học xong bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ,
chúng tôi nhận thấy mức độ được tham gia giao tiếp và hợp tác trên lớp của các em là rất ít
➢ Đối với giáo viên:
Về nhận thức của giáo viên: chúng tôi đã phát phiếu điều tra cho 9 giáo viên,
kết quả thu được như sau: 78% Gv cho rằng bản chất của việc dạy học tiếng Việt là giúp HS có khả năng giao tiếp và hợp tác, hình thành và phát triển được các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Như vậy nhìn chung Gv đã hiểu được tinh thần của dạy học tiếng Việt nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác Về đánh
Trang 32giá của Gv đối với bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, Trước câu hỏi đánh giá của GV về sự cần thiết của việc dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Với câu hỏi mục đích của bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ được dạy
trong chương trình THPT nói chung và chương trình Ngữ văn nói riêng có 66,7% cho rằng mục đích của bài này là cung cấp cho HS những tri thức ngôn ngữ mới, 16,65% lại khẳng định nhằm nâng cao ttri thức ngôn ngữ và năng lực
sử dụng Tiếng Việt cho HS, 16,65% chọn mục đích giúp HS rèn luyện kĩ năng
sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp
Thống kê các hoạt động được sử dụng trong dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, SGK lớp 10, cơ bản:
1 HS được làm việc theo cặp, nhóm nhỏ 55,6
Trang 332 HS được thuyết trình trước lớp 22,2
3 HS được tham gia các trò chơi dạy học 22,2
5 HS được tự tổ chức các hoạt động giao tiếp và hợp tác 11,1
6 HS được tham gia hoạt động trải nghiệm thực tế 11,1
Nhìn kết quả khảo sát, chúng ta nhận thấy PP diễn giảng được hầu hết các GV khẳng định là đã sử dụng trong hoạt động dạy học PP dạy học tương tác cũng được nhiều GV vận dụng trong dạy học tiếng Việt, chiếm tỉ số 55,6% tổng số GV được hỏi PP đóng vai, đóng kịch cũng được nhiều GV vận dụng trong dạy học nhưng còn hết sức hạn chế, chủ yếu đóng vai trong một số tình huống nhỏ và nhiều GV cho rằng PP đóng vai là đọc phân vai ngữ liệu trên lớp Qua đó, để thấy được không chỉ có những khó khăn mang tính khách quan mà còn có những khó khăn mang tính chủ quan, khi GV không thể làm cho HS hứng thú, không kích thích ở người học những tìm tòi, sáng tạo
Qua khảo sát đối với GV và HS, chúng tôi nhận thấy mức độ được tham gia giao tiếp trên lớp của các em là rất ít Hầu hết các GV đều lựa chọn PP giảng dạy diễn giảng về kiến thức của bài học và yêu cầu HS minh họa tri thức
đó bằng hệ thống bài tập có sẵn ở trong sách Khi trả lời những câu hỏi: “Em
có mong muốn gì từ phía thầy cô để giờ học tiếng Việt trở nên hấp dẫn hơn?”, nhiều HS đã mạnh dạn trình bày mong muốn của mình là được tham gia nhiều hơn nữa các hoạt động giao tiếp, trải nghiệm và hợp tác với nhau trong và ngoài giờ học
1.2.2.7 Một số vấn đề đặt ra
Thông qua khảo sát của HS và GV chũng ta có thể nhận thấy được thực
trạng học tập và giảng dạy bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở THPT Cả
Trang 34GV và HS đều gặp những khó khăn trong việc dạy học và học
Đối với HS: Một đặc điểm dễ nhận thấy là HS không thích học các bài hoc
tiếng Việt bởi trong giờ học các em phải làm số lượng bài tập tương đối nhiều
Bởi vậy, phải kích thích ở các em niềm đam mê, hứng thú với với tiếng Việt
Đối với GV: Hầu hết GV đều nhận thấy sự cần thiết của việc phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác ở HS, đồng thời, GV cũng đưa ra được một số đề xuất để
có thể cải tiến được một số phương pháp giảng dạy phong phú hơn Phát triển hơn
cá tính tích cực sáng tạo của HS cũng như giảm tải bớt sự lệ thuộc vào GV GV phải làm thế nào kích thích được khả năng chủ động của HS, ở đó có thể là trong các hoạt động phục vụ bài học Vai trò, trách nhiệm của GV được đề cao hơn nữa, không chỉ là những lời bình giảng, truyền thụ kiến thức một chiều một cách đơn thuần Ít nhiều cũng đã có những GV tìm hiểu và vận dụng những phương pháp dạy học mới nhưng hiệu quả chưa cao
Thực hiện đề tài này, tôi hi vọng sẽ góp phần hướng dẫn HS tiếp nhận phân môn tiếng Việt một cách chủ động nhất, đi theo hướng phát triển năng lực của HS, kích thích sự sáng tạo, hợp tác của GV và HS Đồng thời nó sẽ làm cơ sở, đường hướng để vận dụng vào việc dạy học Ngữ Văn nói chung
Trang 35Tiểu kết chương 1
Khóa luận đã nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học bài
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ lớp 10 THPT nhằm phát triển năng lực giao
tiếp và hợp tác của HS Về mặt lí luận, mặc dù có nhiều lí thuyết liên quan nhưng chúng tôi chỉ chắt lọc và trình bày một cách ngắn gọn các vấn đề liên quan trực tiếp đến khóa luận như: năng lực, giao tiếp, năng lực giao tiếp, các đơn vị cấu thành năng lực giao tiếp tiếng Việt, hợp tác, dạy học tiếp cận năng lực,… Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và các vấn đề liên quan đến PP dạy
học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Từ đó để thấy rằng Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có khả năng đáp ứng rất tốt cho mục tiêu của chương
trình Ngữ văn ở phổ thông Về cơ sở thực tiễn, chúng tôi khảo sát các mặt liên
quan đến việc dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở THPT: Từ
chương trình, SGK; chuẩn kiến thức, kĩ năng; việc dạy của GV, việc học của
HS từ góc nhìn năng lực giao tiếp Kết quả nghiên cứu thực tiễn đã đặt ra các vấn đề khoa học: Chuẩn chương trình của nhóm bài Hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ khá nhàm chán về lí thuyết và ngữ liệu, PP dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ của GV khá đơn điệu; hứng thú của HS khi học nhóm
bài này còn thấp, năng lực giao tiếp và hợp tác của HS THPT còn ở mức trung bình, năng lực diễn đạt ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp còn chưa
tốt… Như vậy cả lí luận và thực tiễn đều đòi hỏi phải thay đổi việc dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở THPT mà trước mắt cần vận dụng các
PP dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS, tạo
hứng thú cho HS khi học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở trường
THPT
Trang 36Trong quá trình dạy học, chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học là yêu cầu cơ bản, tối thiểu của mỗi bài học mà HS cần đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức Trong phần tiếng Việt, chuẩn kiến thức, kĩ năng sẽ được cụ thể hóa trong mục tiêu của từng bài học, giờ học qua cả bài hình thành lí thuyết lẫn thực hành Một trong những cơ sở quan trọng của quá trình dạy học tiếng Việt là bám sát mục tiêu của môn học, từ đó xác định năng lực cần được hình thành và phát
triển ở người học Điều đó có nghĩa là khi dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS thì trước hết
người GV phải xác định được vị trí và mục tiêu của phần phong cách học trong nhà trường THPT
Về mục tiêu: Xét về mục tiêu chung của việc giảng dạy tiếng Việt Chúng
ta không thể tách biệt rạch ròi mục tiêu riêng biệt của việc dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Chính vì thế, nói một cách chung nhất mục tiêu của việc giảng dạy và học tập Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở trường
THPT hiện nay là: Cung cấp cho HS những tri thức về ngôn ngữ tiếng Việt, đảm bảo cho các em có cơ sở lý thuyết cần thiết để rèn luyện kỹ năng lĩnh hội văn bản, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng nói và viết thích hợp với các điều kiện giao tiếp Qua đó, hình thành cho các em kỹ năng giao tiếp tốt nhằm hỗ
trợ cho các em khi cần thực hiện năng lực hợp tác Nói một cách khác Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nhằm đạt đến mục tiêu giúp HS xây dựng năng
lực giao tiếp bằng ngôn ngữ, biết xây dựng cách viết, cách nói chuẩn ngôn ngữ
Trang 37hỗ trợ giúp các em vận dụng vào năng lực hợp tác Tạo điều kiện cho HS phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập
2.2 Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh trong dạy
học bài hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (Ngữ văn 10)
2.2.1 Phương pháp đóng vai (Role play)
2.2.1.1 Khái niệm
Đóng vai là một phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau
phần diễn ấy Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, đóng vai là “Thể hiện nhân vật trong kịch bản lên sân khấu hay màn ảnh bằng cách hành động, nói năng như thật” [5, tr337] Hiểu một cách khái quát, đóng vai là bất cứ hoạt
động nào trong đó một người mượn vai trò của người khác, hoặc vẫn là mình nhưng tưởng tượng mình đang ở trong một tình huống nào đó để diễn một cách công khai và có ý thức Đóng vai xuất phát từ nghệ thuật kịch, từ lĩnh vực kịch tâm lí (Psycho-drama) Sau đó đến khoảng thế kỉ XIX nó được vận dụng vào quá trình dạy học, trở thành PP dạy học mang lại hiệu quả cao Ở Việt Nam, Role play còn được một số tác giả dịch là PP đóng kịch Theo tác giả Phan
Trọng Ngọ, “PP đóng kịch trong dạy học là GV cũng cấp kịch bản và đạo diễn, học viên hành động theo các vai diễn Qua đó họ học được cách suy nghĩ, thể hiện thái độ và hành động cũng như các kỹ năng ứng xử khác nhau của các nhân vật trong kịch bản” [16,Tr283]
Để PP đóng vai thực sự có hiệu quả trong quá trình dạy học Tiếng Việt, theo chúng tôi có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau :
Trang 38Bước 1: Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định rõ thời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai
Bước 2: Các nhóm thực hành PP đóng vai
Bước 3: HS và GV thảo luận những nội dung của bài học từ vở kịch Giáo viên
có thể phỏng vấn học sinh đóng vai theo các câu hỏi như:
• Vì sao em lại ứng xử như vậy?
• Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử? Khi nhận được cách ứng xử (đúng hoặc sai)
Lớp thảo luận, nhận xét:
• Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp?
• Chưa phù hợp ở điểm nào? Vì sao?
Bước 4: Giáo viên kết luận giúp HS rút ra bài học về cách ứng xử phù hợp trong tình huống
Có thể thấy PP đóng vai mang lại rất nhiều hiệu quả trong việc dạy học PP đóng vai có những ưu điểm nổi bật sau:
• Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái
độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
• Cuốn hút và gây ấn tượng với HS, PP đóng vai sẽ tạo ra không khí vui nhộn cho lớp học và tạo động lực học tập cho các em
• Giúp phát triển tư duy cho người học Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo, phản biện - một phẩm chất hết sức quan trọng với con người hiện đại
Trang 39• Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành
vi đạo đức và chính trị – xã hội
• Tạo cơ hội thuận lợi hể HS thể hiện hiểu biết, kỹ năng và cách ứng xử của mình, thể hiện cá tính của mình trước người khác Đặc biệt ngay cả những
HS ít nói cũng có dịp thể hiện bản thân mình một cách tự nhiên và thoải mái
2.2.1.2 Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
PP đóng vai được chúng tôi vận dụng theo hai hình thức: Đóng vai thể hiện phần ngữ liệu SGK và đóng vai theo một tình huống thực tế trong cuộc sống để giải quyết một tình huống dạy học Điểm khác biệt giữa hai hình thức này là: Đóng vai thể hiện ngữ liệu trong dạy học Tiếng Việt thì HS đã có kịch bản sẵn, lời thoại, được gợi ý về bối cảnh, phông nền sân khấu và thường được chuẩn bị trước tiết học; Còn đóng vai như một tình huống dạy học là một tình huống không cho trước, tương đối mở để HS có thể xử lí tình huống theo nhiều cách khác nhau Khoongcho trước kịch bản, thời gian chuẩn bị diễn biến ít hơn đòi hỏi HS phải chủ động sáng tạo
Đóng vai thể hiện ngữ liệu SGK:
GV lựa chọn những văn bản hấp dẫn, kịch tính có sẵn trong SGK Đây là những văn bản đã được người biên soạn sách lựa chọn rất kĩ càng Bên cạnh đó, dựa trên văn bản có sẵn trong chương trình giúp các em đi sâu khám phá, cùng
“sống”, trải nghiệm với nhân vật Từ đó, năng lực đọc hiểu văn bản của HS tốt hơn, tri thức và kĩ năng tiếng Việt được củng cố sâu sắc hơn và môn ngữ văn
từ đó được gần hơn với cuộc sống
Khi dạy học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ chúng tôi sử dụng PP đóng
vai theo các bước như sau:
Trang 40Bước 1: Chuẩn bị: Trước khi học bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, GV
yêu cầu HS ở nhà phân tích kịch bản, chuẩn bị đóng vai hoạt cảnh về cuộc đối thoại giữa vua nhà Trần và các bô lão GV chia lớp thành 2 nhóm GV đặt ra yêu cầu về thời lượng biểu diễn của mỗi nhóm là 5 phút
GV gợi ý bài trí sân khấu, có thể vẽ bầu trời, có mái che, cờ bay phất phới, hoặc cung điện của nhà vua
Bước 2: Thể hiện kịch bản: HS trình diễn vở kịch, nội dug kịch bản có thể tóm tắt như sau:
Hoạt cảnh: Các bô lão đã đến đầy đủ Nhà Vua vào Các bô lão quỳ xuống vái lạy nhà vua Nhà Vua đứng trên một vị trí cao hơn miễn lễ và trịnh trọng hỏi các bô lão:
- Nước Đại Việt ta tuy là một nước nhỏ ở phương nam nhưng luôn bị nước ngoài nhòm ngó… Tự cổ xưa đến giờ thật chưa có khi nào giặc mạnh và hung hãn như ngày nay Chúng sẽ kéo sang năm mươi vạn quân, bảo rằng : “Vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu, cỏ không mọc được ở chỗ ấy !” Vậy nên liệu tính sao ? Mọi người (Đồng loạt đứng dậy, dơ cao cánh tay, bàn tay nằm chặt) xôn xao tranh nhau nói :
- Xin bệ hạ cho đánh !
- Thưa, chỉ có đánh !
Nhà vua nhìn những khuôn mặt đẹp lồng lộng, hỏi lại một lần nữa :
- Nên hòa hay nên đánh ?
(Toàn bộ các bô lão đứng lên, không ai bảo ai, họ cùng dơ cao cánh tay, mắt hướng về nhà vưa không chợp mắt)Tức thì muôn miệng một lời :
- Đánh ! Đánh !