1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng graph trong dạy học bài ôn tập phần tiếng việt ngữ văn 11 tập 2 ban cơ bản

98 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận với đề tài Sử dụng Graph trong dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” Ngữ Văn 11, tập 2, ban Cơ bản, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ quý thầy c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THU HÀ

SỬ DỤNG GRAPH TRONG DẠY HỌC BÀI

“ÔN TẬP PHẦN TIẾNG VIỆT” (NGỮ VĂN 11, TẬP 2, BAN CƠ BẢN)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

SỬ DỤNG GRAPH TRONG DẠY HỌC BÀI

“ÔN TẬP PHẦN TIẾNG VIỆT” (NGỮ VĂN 11, TẬP 2, BAN CƠ BẢN)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ban Sinh viên thực hiện khóa luận: Nguyễn Thu Hà

Hà Nội – 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận với đề tài Sử dụng Graph trong dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” (Ngữ Văn 11, tập 2, ban Cơ bản), em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ quý thầy cô và các bạn học sinh

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Thị Ban, người trực tiếp hướng dẫn, hỗ trợ nhiệt tình em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng kiểm tra đánh giá khóa luận khoa Sư phạm, trường Đại học Giáo Dục

Chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo bộ môn Ngữ Văn và các bạn học sinh trường THPT Thuận Thành số 1, tỉnh Bắc Ninh

đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu và thực nghiệm sư phạm

Mặc dù đã rất nỗ lực, cố gắng nhưng khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô giáo góp ý để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Nguyễn Thu Hà

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN………

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT………

DANH MỤC BẢNG………

DANH MỤC BIỂU ĐỒ………

MỤC LỤC………

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở trường THPT 1

1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy và học hiện nay ở trường THPT 2

1.3 Xuất phát từ vai trò của phần Ôn tập tiếng Việt và những ưu thế của việc sử dụng Graph 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

2.1 Nghiên cứu và vận dụng lý thuyết Graph vào dạy học trên thế giới 4

2.2 Nghiên cứu và vận dụng lý thuyết Graph vào dạy học ở Việt Nam 6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

3.1 Mục đích nghiên cứu 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4.1 Đối tượng nghiên cứu 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Cấu trúc của khóa luận 10

NỘI DUNG 11

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11

1.1 Vị trí, đặc điểm và một số vấn đề có tính nguyên tắc của việc dạy học tiếng Việt trong trường phổ thông 11

Trang 5

1.1.1 Vị trí của phân môn tiếng Việt trong nhà trường phổ thông 11

1.1.2 Đặc điểm và yêu cầu của chương trình tiếng Việt ở trường trung học phổ thông 13

1.1.2.1 Đặc điểm 13

1.1.2.2 Yêu cầu 13

1.1.3 Một số vấn đề có tính nguyên tắc trong dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông 15

1.1.3.1 Nguyên tắc khoa học 15

1.1.3.2 Nguyên tắc hệ thống và phát triển 15

1.1.3.3 Nguyên tắc vừa sức 15

1.2 Các khái niệm cơ bản 18

1.2.1 Khái quát về lý thuyết Graph 18

1.2.1.1 Khái niệm Graph 18

1.2.1.2 Bản chất, đặc điểm của Graph 18

1.2.1.3 Vai trò của Graph trong quá trình dạy học 22

1.2.1.4 Phân loại Graph 23

1.2.1.5 Các bước lập Graph 27

1.2.2 Vị trí, vai trò, đặc điểm bài ôn tập 29

1.3 Thực trạng dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” (Ngữ Văn 11, tập 2,) ở trường THPT 30

1.3.1 Tổ chức nghiên cứu 31

1.3.1.1 Đối tượng khảo sát 31

1.3.1.2 Cách thức thu thập và xử lí số liệu 31

1.3.2 Kết quả khảo sát 31

1.3.2.1 Thực trạng sử dụng phương pháp giảng dạy phân môn tiếng Việt, bộ môn Ngữ Văn 31

1.3.2.2 Mức độ thường xuyên về cách sử dụng Graph của giáo viên trong dạy học tiếng Việt 35

Trang 6

1.3.2.3 Kết quả điều tra về thái độ, phương pháp và kết quả học tập phân

môn tiếng Việt, bộ môn Ngữ Văn của học sinh 38

1.3.3 Đánh giá chung thực trạng dạy học phân môn tiếng Việt, bộ môn Ngữ Văn 42

Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI “ÔN TẬP PHẦN TIẾNG VIỆT” (Ngữ Văn 11, tập 2) BẰNG GRAPH 44

2.1 Cơ sở xây dựng Graph trong bài “Ôn tập phần tiếng Việt” (Ngữ Văn 11, tập 2) 44

2.1.1 Mục tiêu dạy học bài Ôn tập 44

2.1.2 Nội dung dạy học bài Ôn tập 45

2.2 Quy trình sử dụng Graph vào dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” (Ngữ Văn 11, tập 2) 47

2.2.1 Giới thiệu với học sinh cách học bằng Graph 47

2.2.2 Sử dụng Graph trong dạy học bài ôn tập 47

2.2.3 Sử dụng Graph để kiểm tra đánh giá kết quả học tập 51

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 52

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 52

3.3 Giáo án được xây dựng để thực nghiệm 52

3.4 Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm 67

3.4.1 Nội dung 67

3.4.2 Cách thức tiến hành 67

3.5 Tiêu chí đánh giá và kết quả thực nghiệm 68

3.5.1 Tiêu chí đánh giá 68

3.5.2 Kết quả thực nghiệm 70

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 81

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Số hiệu

bảng

1.2 Mức độ thường xuyên sử dụng phương pháp giảng

dạy phân môn tiếng Việt, bộ môn Ngữ Văn

32

1.3 Mức độ hiệu quả sử dụng phương pháp giảng dạy

phân môn tiếng Việt, bộ môn Ngữ Văn

34

1.4 Mức độ thường xuyên về cách sử dụng Graph của

giáo viên trong dạy học tiếng Việt

36

1.5 Kết quả điều tra về thái độ, phương pháp và kết

quả học tập phân môn tiếng Việt, bộ môn Ngữ Văn của học sinh

3.4 Kết quả phản hồi của học sinh lớp thực nghiệm sau

giờ học

74

Trang 10

Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII khẳng định: “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh” [19]

Nghị quyết Trung ương 8, khóa XI về việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ một trong những nhiệm vụ và giải pháp đổi mới giáo dục trong thời gian sắp tới “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp kiểm tra, thi và đánh giá chất lượng giáo dục, bảo đảm trung thực, khách quan, chính xác, theo yêu cầu phát triển năng lực và phẩm chất người học” [7]

Về phương pháp dạy học, Luật giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [19]

Trong Tạp chí Khoa học ĐHSP TP.HCM (số 17 năm 2009) của tác giả Phan Thị Minh Thúy có chỉ rõ công cuộc đổi mới về giáo dục đã đặt ra những yêu cầu về phẩm chất và năng lực, làm thay đổi vai trò của người GV Tính hiệu quả của việc dạy học không phải dựa vào điều GV trình bày mà dựa vào

“cách gây ảnh hưởng” của họ như thế nào đối với HS Khi lấy HS làm trung

Trang 11

2

tâm, phương pháp dạy học hiện nay đã chuyển từ cách dạy thông báo – đồng loạt – bị động…sang cách dạy thực hành – phân hóa – chủ động Bài viết cũng chỉ rõ “Chính tính chất phong phú của nội dung môn học, sự đa dạng của nhiều cách tiếp cận kiến thức và nhu cầu tâm lý luôn muốn đổi mới, sáng tạo trong học tập của học sinh đã buộc giáo viên phải thay đổi cách dạy” [20] Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học đã, đang và sẽ là vấn đề cấp thiết đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà Đây được xem như một chiến lược ưu tiên để tìm ra đáp số cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Vì thế, việc sử dụng Graph trong dạy học tiếng Việt là một kỹ năng cần được GV rèn luyện nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS

1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy và học hiện nay ở trường THPT

Giờ học Ngữ Văn từ trước đến nay phần lớn vẫn theo cách truyền thụ truyền thống, HS thụ động trong cách tiếp thu kiến thức, thiếu tính tích cực,

tự giác, sáng tạo và đặc biệt, ít có hứng thú với môn học này

Phần lớn trong giờ học Ngữ Văn nói chung, giờ học tiếng Việt nói riêng,

GV vẫn sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, dạy học nêu – giải quyết vấn đề, đàm thoại…mà ít khi sử dụng các phương pháp dạy học mang tính đổi mới, sáng tạo Chính vì thế, HS có tâm lý tiếp thu kiến thức một cách thụ động với thói quen đọc – chép, học thuộc lòng kiến thức….Điều này khiến tiếng Việt, một trong những phân môn vô cùng thú vị với sự tư duy, sáng tạo của ngôn ngữ trong bộ môn Ngữ Văn không còn trở nên hấp dẫn đối với HS Đặc biệt, đối với những bài ôn tập tiếng Việt với một khối lượng kiến thức rất lớn, việc sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống sẽ khiến HS dễ dàng nhàm chán, giảm hứng thú học tập Từ đó, chất lượng ôn tập kiến thức và kết quả học tập sẽ không cao

Vì thế, việc nghiên cứu tìm ra các phương pháp dạy học tích cực nói chung

và sử dụng Graph nói riêng vào việc dạy học để phát huy tính tích cực hóa hoạt động của HS đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp nâng cao chất lượng

Trang 12

Bên cạnh đó, trong quá trình học tập, HS tiếp nhận thông tin và tri thức khoa học để hình thành tri thức của bản thân Thông qua tri giác, HS sẽ khái quát hóa, trừu tượng hóa và cuối cùng là mô hình hóa thông tin để ghi nhớ theo mô hình

Việc sử dụng Graph trong dạy học thực chất là hoạt động mô hình hóa, tạo

ra các đối tượng nhận tạo tương tự về mặt nào đó với đối tượng hiện thực để tiện cho việc nghiên cứu Như vậy, Graph thuộc loại mô hình “mã hóa”, tức loại mô hình mà các yếu tố trực quan bị loại bỏ, chỉ còn các mối quan hệ logic Loại mô hình này có ý nghĩa quan trọng trong các thao tác tư duy như hình thành biểu tượng, trừu tượng hóa – khái quát hóa [3] [5] [6]

Vì thế, việc vận dụng Graph vào dạy học các bài ôn tập với một lượng kiến thức lớn có những ưu thế nhất định Sử dụng Graph sẽ giúp HS lĩnh hội kiến

Trang 13

4

thức nhanh chóng và thúc đẩy sự phát triển tư duy, tinh thần tự học, tự nghiên cứu, rèn luyện năng lực hệ thống hóa kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh

Với tất cả những lí do trên, người viết lựa chọn đề tài “Sử dụng Graph trong dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt”” (Ngữ Văn 11, tập 2, ban Cơ bản) làm đề tài nghiên cứu khóa luận của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về Graph, đã có rất nhiều công trình bàn về vấn đề này nhưng

ở đây, người viết chỉ khái quát một số vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài

2.1 Nghiên cứu và vận dụng lý thuyết Graph vào dạy học trên thế giới

Lí thuyết Graph – còn được gọi là lí thuyết sơ đồ được ra đời từ hơn 250 năm trước, được khai sinh từ công trình về bài toán “Bảy cây cầu ở Konigburg” của nhà Toán học Thụy Sĩ Leonhard Euler (1707 – 1783) Khi

mới ra đời lí thuyết này chủ yếu nghiên cứu giải quyết những bài toán có tính chất giải trí và tiêu khiển Vào thời điểm đó, lí thuyết Graph chỉ là một bộ phận nhỏ của toán học, chưa thu hút được chú ý của các nhà khoa học nên thành tựu về Graph chưa nhiều Cho đến những năm 30 của thế kỉ XX, khi toán học ứng dụng và lí thuyết đồ thị phát triển mạnh thì lí thuyết Graph mới được xem là một ngành toán học riêng biệt thực sự [3] [5] [6]

Năm 1958, tại Pháp, Claude Bege đã viết “Lí thuyết Graph và những ứng dụng của nó”, trình bày các khái niệm, định lí Toán học cơ bản của lí thuyết

Graph, đặc biệt là ứng dụng của Graph trong các lĩnh vực khác nhau [5] Năm 1965 – 1966, để giúp cho HS có một phương pháp tư duy và tự học mang tính khái quát, đạt hiệu quả cao, nhà sư phạm người Nga L.N Lanđa đã tiến hành thực nghiệm chuyển hóa phương pháp của toán học thành phương pháp dạy học chung cho nhiều bộ môn khoa học nhà trường L.N Lanđa đã trở thành một người định hướng, mở ra hướng đi mới cho phương pháp dạy

Trang 14

Năm 1972, V.P.Garkumop đã sử dụng phương pháp Graph để mô hình hóa các tình huống của dạy học nêu vấn đề, dựa vào đó phân loại các tình huống

có vấn đề Lí thuyết Graph vận dụng để tạo ra mẫu của các tình huống nêu vấn đề và giải quyết vấn đề theo một trình tự xác định [5]

Hiện nay, nhiều trường đại học trên thế giới có những nhóm tác giả đang nghiên cứu về lý thuyết Graph, về sự chuyển hóa của lý thuyết Graph vào những lĩnh vực khoa học khác nhau: [2]

- Trường đại học Antrep – Bỉ có nhóm nghiên cứu của giáo sư Dirk Janssens; trường Đại học kỹ thuật Beclin – Đức có nhóm nghiên cứu của giáo sư Hartmut Ehrig; trường Đại học tổng hợp Layden – Hà Lan có giáo sư Grzegorz Rozenberg…

- Ở Hoa Kỳ có nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu về lý thuyết Graph làm cơ sở cho lý thuyết mạng máy tính và chuyển hóa vào các ngành khoa học khác Trong đó có công trình nghiên cứu của Jonathan L Gross (trường Đại học Columbia, NewYork) và Jay Yellen (trường Rolin, Florida) Đây là 2 tác giả

có công bố công trình về Graph nhiều nhất

Có thể nhận thấy việc nghiên cứu và vận dụng lý thuyết Graph vào dạy học trên thế giới bắt nguồn từ lĩnh vực Toán học từ nhà Toán học Thụy Sĩ Leonhard Euler Sau đó, việc chuyển đổi phương pháp Graph trong Toán học sang phương pháp dạy học chung cho nhiều bộ môn khác đã được thực hiện

Trang 15

6

Từ đó, rất nhiều những công trình nghiên cứu về việc ứng dụng Graph trong dạy học được công bố

2.2 Nghiên cứu và vận dụng lý thuyết Graph vào dạy học ở Việt Nam

Từ năm 1971, GS Nguyễn Ngọc Quang là người tiên phong nghiên cứu chuyển hóa Graph Toán học thành Graph dạy học và đã đạt được rất nhiều thành công Theo ông, có thể chuyển Graph của lí thuyết Toán thành Graph trong dạy học vì Graph có ưu thế đặc biệt trong việc mô hình hóa cấu trúc của các hoạt động từ đơn giản đến phức tạp, lại vừa có tính trực quan GS có rất nhiều những công trình được công bố, đặc biệt những công trình trong lĩnh vực giảng dạy hóa học GS đã hướng dẫn rất nhiều nghiên cứu sinh và học viên cao học vận dụng lí thuyết Graph để dạy một số chương, một số bài cụ thể của chương trình hóa học phổ thông [18]

Năm 1980, với sự hướng dẫn của GS Nguyễn Ngọc Quang, tác giả Trần

Trọng Dương đã nghiên cứu đề tài: “Áp dụng phương pháp Graph và alogrit

để nghiên cứu cấu trúc – phương pháp xây dựng và giải hệ thống bài toán về lập công thức hóa học ở trường phổ thông” Tác giả đã áp dụng phương pháp

Graph và algorit hóa vào việc phân loại các kiểu bài toán về lập công thức hóa học và có kết luận: [5]

- Phương pháp Graph và algorit cho phép chúng ta nhìn thấy rõ cấu trúc của một đầu bài toán hóa học, cấu trúc và các bước giải toán

- Graph có thể phân loại, sắp xếp các bài toán về hóa học thành hệ thống bài toán có logic giúp cho việc dạy học có kết quả hơn

Năm 1983, tác giả Nguyễn Đình Bào đã nghiên cứu sử dụng Graph để hướng dẫn ôn tập môn Toán, tác giả Nguyễn Anh Châu đã nghiên cứu sử dụng Graph hướng dẫn ôn tập môn Ngữ Văn [12]

Năm 1984, tác giả Phạm Tư nghiên cứu đề tài: “Dùng Graph nội dung của bài lên lớp để dạy và học chương Nitơ – Photpho ở lớp 11 trường THPT”

Đây là công trình đầu tiên tìm hiểu sâu sắc việc sử dụng Graph để dạy học

Trang 16

7

Tác giả có trình bày tương đối đầy đủ những cơ sở lí luận của việc chuyển hóa từ phương pháp nghiên cứu khoa học thông qua việc xử lí sư phạm thành phương pháp dạy học [5] [6]

Năm 1987, tác giả Nguyễn Chính Trung đã nghiên cứu “Dùng phương pháp Graph lập trình tối ưu và dạy môn sử dụng thông tin trong chiến dịch”

Trong công trình, tác giả đã nghiên cứu chuyển hóa Graph toán học vào lĩnh vực giảng dạy quân sự [12]

Năm 2000, tác giả Phạm Thị My đã thực hiện luận văn thạc sĩ: “Ứng dụng

lí thuyết Graph xây dựng và sử dụng sơ đồ để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Sinh học ở THPT” [13] Cũng cùng năm đó, tác giả Phan Thị Thanh Hội có luận văn thạc sĩ với đề tài “Xây dựng và sử dụng một số dạng sơ đồ trong dạy học Sinh thái học lớp 11 THPT” [10]

Năm 2003, Tiến sĩ Phạm Tư có 2 bài báo “Dạy học bằng phương pháp Graph góp phần nâng cao chất lượng giờ giảng” (Giáo dục thời đại, số 124)

và “Dạy học bằng phương pháp Graph góp phần nâng cao chất lượng học tập, tự học” với mục đích thể hiện hiệu quả của Graph trong việc nâng cao

chất lượng dạy học và đổi mới phương pháp dạy học Đây là sự khẳng định tính hiệu quả của việc sử dụng Graph trong dạy học [21]

Năm 2005, Luận văn tiến sĩ của tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh đã nghiên cứu

xuất sắc đề tài “Nâng cao hiệu quả dạy học giải phẫu sinh lí người và vệ sinh THCS bằng áp dụng phương pháp Graph” [6]

Năm 2009, trong Tạp chí giáo dục số đặc biệt 8/2009, tác giả Nguyễn Đình

Nhâm đã có bài viết “Dạy học Sinh thái học – Sinh học THPT bằng phương pháp Graph” [16]

Năm 2013, Luận văn thạc sĩ Trần Văn Hiệu đã trình bày nghiên cứu “Xây dựng và sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học ôn tập, củng cố kiến thức Chương 1 và 2 – Phần di truyền học – Sinh học 12” [9] Cũng cùng năm đó, tác giả Trần Thị Mỹ Hà có công trình nghiên cứu “Thiết kế và sử dụng Graph

Trang 17

kể ra một số công trình nghiên cứu Graph trong phân môn tiếng Việt, bộ môn Ngữ Văn như sau:

Năm 2004, đề tài Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ban có nghiên

cứu “Sử dụng Graph trong dạy học tiếng Việt cho học sinh Trung học cơ sở”

Mục đích của luận án giúp GV làm quen với các nội dung quan trọng nhất của

lý thuyết Graph và biết cách sử dụng Graph trong dạy học, phương pháp sử dụng Graph trong dạy học ngôn ngữ tiếng Việt cho HS Trung học cơ sở Luận

án có xây dựng quy trình lập Graph nội dung bài học và hướng dẫn sử dụng Graph trong dạy học tiếng Việt ở một số dạng bài như: dạng bài lý thuyết, dạng bài ôn tập hay trong luyện tập thực hành Quy trình này phù hợp với đặc điểm của ngôn ngữ tiếng Việt, đơn giản, dễ thực hiện để GV thuận lợi trong những giờ giảng dạy [3]

Năm 2009, trong Tạp chí khoa học ĐHSP TP.HCM, số 17 năm 2009, tác

giả Phan Thị Minh Thúy có bài viết“Sử dụng Graph trong dạy học tiếng Việt” Bài báo có đưa ra cụ thể một số cách sử dụng Graph: [20, tr 192-199]

- Sử dụng Graph trong việc tạo lập, phát hiện kiến thức mới (trong đó có đưa

ra các trường hợp cụ thể như: Xác định các khái niệm chủ đạo trong bài học, Dùng để so sánh, phân loại các khái niệm với nhau)

- Sử dụng Graph để thực hành, để ôn tập, củng cố và hoàn thiện kiến thức

Trang 18

9

- Sử dụng Graph trong việc kiểm tra – đánh giá học sinh (Kiểm tra khả năng vận dụng thực tiễn của HS; Kiểm tra khả năng tự học của HS; Kiểm tra khả năng ghi nhớ tích cực của HS, khắc phục lối học vẹt, thụ động)

Năm 2011, sinh viên Nguyễn Thị Ngọc có đề tài Khóa luận tốt nghiệp“Sử dụng Graph vào dạy học bài Đặc điểm loại hình của tiếng Việt” trong sách

giáo khoa Ngữ Văn 11 Khóa luận đóng góp thêm việc sử dụng Graph vào dạy học một bài học cụ thể “Đặc điểm loại hình của tiếng Việt” nhằm tạo ra hứng thú học tập cho HS [15]

Tác giả Hồ Trần Ngọc Oanh có bài viết “Sử dụng Graph trong dạy học từ loại tiếng Việt cho học sinh tiểu học Jrai” được đăng trên Kỷ yếu Hội thảo

“Khoa học toàn quốc” “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường”, NXB Dân trí, Hà Nội, năm 2016 [17, tr.1433-1437]

Có thể nhận thấy, những nghiên cứu về việc sử dụng Graph trong dạy học các bộ môn khá nhiều, thế nhưng đối với bộ môn Ngữ Văn, đặc biệt là phân môn tiếng Việt còn khá ít nghiên cứu đề cập tới Chính vì thế, Khóa luận tốt nghiệp xin được đóng góp một cách cụ thể về lý thuyết Graph và cách vận dụng Graph vào dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” (Ngữ Văn 11, tập 2, ban Cơ bản)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất cách thức sử dụng Graph vào việc dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” (Ngữ Văn 11, tập 2) nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của việc dạy và học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” nói riêng, dạy học Ngữ Văn nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng Graph trong dạy

học tiếng Việt (Ngữ Văn)

Trang 19

- Xây dựng Graph trong bài “Ôn tập phần tiếng Việt” (Ngữ Văn 11, tập 2)

- Đề xuất cách thức sử dụng Graph trong bài “Ôn tập phần tiếng Việt”(Ngữ Văn 11, tập 2)

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của việc sử dụng Graph trong dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” (Ngữ Văn 11, tập 2)

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Graph và việc sử dụng Graph trong dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” trong chương trình Ngữ Văn 11, tập 2

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Bài “Ôn tập phần tiếng Việt” trong chương trình Ngữ Văn 11, tập 2

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu lý thuyết Graph, các giáo trình lý luận, sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo có liên quan

- Phương pháp điều tra: Phiếu thăm dò ý kiến GV, HS ;tham khảo ý kiến GV

- Phương pháp thực nghiệm: Kiểm tra, đánh giá mức độ hiệu quả của việc vận dụng Graph vào dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” (Ngữ Văn 11, tập 2)

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung khóa luận được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Tổ chức dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” bằng Graph

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 20

11

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Vị trí, đặc điểm và một số vấn đề có tính nguyên tắc của việc dạy học tiếng Việt trong trường phổ thông

1.1.1 Vị trí của phân môn tiếng Việt trong nhà trường phổ thông

Trong tài liệu Phương pháp dạy học tiếng Việt cho học sinh phổ thông trung học có đề cập đến vị trí, nhiệm vụ của môn tiếng Việt Theo đó, tài liệu

đề cập môn tiếng Việt có vị trí hàng đầu ở trường phổ thông, đặc biệt là ở cấp tiểu học và trung học cơ sở [4]

- Đây vừa là một môn học độc lập, lại vừa là một môn học công cụ hỗ trợ cho khả năng diễn đạt và tư duy tất cả các môn học khác, tiếng Việt thể hiện tính liên đới dạy học với các môn khác Trong chương trình cải cách giáo dục cũng như chương trình thí điểm chuyên ban, tiếng Việt được xác định là một môn học độc lập Với tư cách là một môn học, tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức ngôn ngữ học, hệ thống tiếng Việt, qui tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp Mặt khác, vì tiếng Việt là một công cụ giao tiếp, học tập, tư duy và biểu hiện tư duy nên nó còn có tư cách là một phương tiện dạy và học trong nhà trường

- Tính liên đới dạy học của môn tiếng Việt với các môn học khác xuất phát

từ chức năng công cụ của nó

Trong giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt (Lê A chủ biên) có đề

cập đến quan hệ của tiếng Việt với các môn khác rất rõ ràng Dạy và học tốt môn tiếng Việt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho dạy và học các môn học khác Với các môn học khác trong chương trình THPT, môn tiếng Việt giữ vai trò “môn học công cụ” giúp HS tiếp nhận và diễn đạt tốt các thông tin khoa học được giảng dạy ở nhà trường Nói cách khác, HS để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, trước hết phải nghiên cứu và rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng Việt – chìa khóa của nhận thức, học vấn, sự phát triển trí tuệ Nếu thiếu

Trang 21

12

sự quan tâm đúng mực đến việc rèn luyện năng lực tiếng Việt, HS không thể hoàn thành tốt được nhiệm vụ học tập của bất cứ môn khoa học nào trong nhà trường [1, tr.8]

Đối với mối quan hệ liên môn, tri thức khoa học các môn học khác được thể hiện thông qua hệ thống khái niệm và thuật ngữ khoa học Vốn từ ngữ của

HS sẽ được làm giàu hơn qua các môn khoa học trong nhà trường Đồng thời, khi tiếp xúc với nhiều môn học, HS sẽ thấy được cách diễn đạt phong phú của tiếng Việt với các phong cách khác nhau, rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt theo các phong cách khác nhau [1, tr.8-9]

Trong các phân môn của chương trình Ngữ Văn, tiếng Việt có quan hệ gần gũi và mật thiết với 2 phân môn còn lại là Văn bản và Làm văn Nội dung giảng dạy của môn tiếng Việt là hệ thống ngôn ngữ, những qui luật hành chức của tiếng Việt trong giao tiếp và các sản phẩm lời nói bằng tiếng Việt, hệ thống các kĩ năng cần thiết để giao tiếp xã hội

Mục đích, nhiệm vụ dạy học của môn tiếng Việt chủ yếu trang bị cho các

em năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ ngày càng tốt hơn với các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết

Về phương pháp dạy học, dạy tiếng Việt là quá trình hướng dẫn HS khám phá cấu trúc tiếng Việt, cách thức hoạt động của tiếng Việt và những sản phẩm của quá trình này Trong khi dạy Văn bản tác động nhiều đến cảm xúc thì dạy tiếng lại tác động nhiều đến tư duy và trí tuệ HS [1, tr.9]

Tiếng Việt và 2 phân môn Văn bản, Làm văn có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời Văn bản là những tác phẩm của nghệ thuật ngôn từ, còn Làm Văn là việc sử dụng ngôn từ để tạo lập văn bản Chính vì thế, cả 3 phân môn có mối quan hệ mật thiết với nhau trong bộ môn Ngữ Văn

-Tại trường THPT, môn tiếng Việt vẫn đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực tư duy (tư duy logic và tư duy hình tượng), trong việc phát triển ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ khoa học tự nhiên

Trang 22

13

-Tăng cường dạy học phong cách học và ngữ dụng học, góp phần phát triển

tư duy hình tượng và ngôn ngữ văn học

-Tăng cường dạy học kĩ năng làm văn, kĩ năng lập luận…nhằm phát triển tư duy logic và ngôn ngữ nghị luận

1.1.2 Đặc điểm và yêu cầu của chương trình tiếng Việt ở trường trung học phổ thông

về tiếng Việt, tự phân cắt và lí giải được sự tương đồng và dị biệt khi đối chiếu tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ đang học

- Tri thức về cách sử dụng tiếng Việt bao gồm các qui tắc sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp xã hội và các sản phẩm được tạo ra từ quá trình đó Vì vậy, có thể nói HS học cách sử dụng tiếng Việt là học mẹ đẻ trong hành vi tâm lí giao tiếp của dân tộc Việt

1.1.2.2 Yêu cầu

So với cấp học THCS, học sinh THPT phải đạt trình độ cao hơn trong tri thức về tiếng Việt cũng như trong năng lực hoạt động ngôn ngữ bằng tiếng Việt: [1, tr.11-12]

- “Tiếp tục nâng cao, hoàn chỉnh hóa cho học sinh tri thức về tiếng Việt: những tri thức có tính chất lí thuyết về hệ thống các đơn vị của tiếng Việt, về ngữ nghĩa, phong cách, nghệ thuật ngôn từ; những tri thức cơ bản về quá trình phát triển của tiếng Việt trong lịch sử, qua đấu tranh để tự khẳng định và phát triển, cũng như qua tiếp xúc với các ngôn ngữ khác Tóm lại, HS cần đạt một

Trang 23

14

trình độ tối thiểu về tri thức ngôn ngữ học để có thể vận dụng tri thức ấy vào các phạm vi của hoạt động ngôn ngữ…”

- Tiếp tục nâng cao, hoàn chỉnh hóa cho HS năng lực hoạt động ngôn ngữ

HS THPT cần có năng lực lĩnh hội tốt các ngôn bản, bao hàm năng lực phân tích, lí giải, bình luận cái hay, cái đẹp…do nghệ thuật ngôn từ mang lại Đồng thời, năng lực tạo sinh văn bản của các em cũng phải được phát triển lên một tầm cao mới so với THCS HS THPT cũng cần có năng lực tạo lập tốt các loại ngôn bản, bao gồm năng lực nói và viết đúng chuẩn mực của tiếng Việt, biết làm cho ngôn bản của mình thích hợp với mục đích, hoàn cảnh và điều kiện

xã hội của giao tiếp, biết tự đánh giá, tự điều chỉnh cách viết, cách nói của mình hợp với các phong cách ngôn ngữ Môn tiếng Việt ở THPT, trong quan

hệ với phân môn Văn học, cần tạo cho HS năng lực thưởng thức, thẩm định giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn chương, phong cách của các nhà văn và tự xây dựng cách viết, cách nói bắt đầu có phong cách cá nhân

- Tiếp tục phát triển năng lực trí tuệ cho các em Các phương pháp tư duy logic, tư duy biện chứng và tư duy hình ảnh cần được tập dượt qua rèn luyện

kĩ năng tiếng Việt Từ đó, giúp HS biết tích lũy cho mình một vốn tri thức ngày càng phong phú, biết huy động và tổ chức những tri thức cần thiết cho một đề tài, biết tự đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, biết diễn đạt kết quả tư duy của mình một cách rành mạch, chặt chẽ, logic, có sức thuyết phục về trí tuệ và tình cảm Sự nâng cao năng lực tư duy qua sự nâng cao năng lực ngôn ngữ có tác dụng hết sức quan trọng đến sự đào tạo năng lực lao động của thanh niên trong đời sống xã hội, cũng như năng lực học tập của họ ở bậc đại học

- Thông qua việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, cùng với các bộ môn khác trong nhà trường, môn tiếng Việt góp phần hình thành cho HS thế giới quan khoa học, những phẩm chất tốt đẹp của thế hệ Việt Nam mới như lòng yêu quê hương đất nước, yêu gia đình, bạn bè, ý thức trách nhiệm trước cuộc

Trang 24

1.1.3.1 Nguyên tắc khoa học

Nguyên tắc này đòi hỏi chương trình môn tiếng Việt phải đảm bảo cung cấp cho HS những tri thức khoa học chính xác, hiện đại Nó còn yêu cầu việc sắp xếp bố trí nội dung tri thức tiếng Việt, vừa phản ánh được cấu trúc, sự hoạt động của tiếng Việt, vừa hợp với quy luật tiếp nhận và khả năng tâm lí của HS phổ thông trung học [1, tr.14-15]

1.1.3.2 Nguyên tắc hệ thống và phát triển

Nguyên tắc hệ thống yêu cầu các tài liệu học tập tiếng Việt phải được trình bày theo thứ tự hợp lí và nêu được mối quan hệ giữa chúng với nhau…; bảo đảm sự kế thừa và phát triển chương trình ở các cấp học dưới…” [1, tr.15]

1.1.3.3 Nguyên tắc vừa sức

“Những thành tựu của tâm lí học hiện đại khẳng định ở mỗi độ tuổi, HS có những đặc điểm tâm lí tiếp nhận riêng, có ngưỡng nhất định Khác với lứa tuổi ở các cấp dưới, HS phổ thông trung học đã trưởng thành về mặt tâm lí, khả năng tư duy đã tương đối hoàn thiện Chương trình tiếng Việt phổ thông trung học cần phải tính đến lợi thế này để vừa đáp ứng yêu cầu vừa sức, vừa tạo sức cho HS” [1, tr.15]

Bên cạnh đó, trong giáo trình “Phương pháp dạy học tiếng Việt” cũng đề cập đến các nguyên tắc đặc thù của phương pháp dạy học tiếng Việt, cụ thể

như sau:

Trang 25

16

-Nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy [1, tr.56-57]

Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ Hai lĩnh vực này có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau, tạo thành một khối thống nhất biện chứng, có quan hệ thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển Qúa trình chiếm lĩnh tiếng Việt khoa học ở HS là quá trình thông hiểu các quy luật cấu trúc nội bộ của tiếng Việt, quy luật hoạt động của nó, và trên

cơ sở đó hình thành các kĩ năng và kĩ xảo ngôn ngữ Song song với quá trình

đó, đồng thời cũng xảy ra quá trình hình thành và phát triển các thao tác, các phẩm chất tư duy Hai quá trình này có tác dụng thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau Thực tế giảng dạy đã chứng minh rằng HS nào yếu về tư duy đồng thời cũng yếu về ngôn ngữ và ngược lại, HS nào yếu về ngôn ngữ cũng yếu về năng lực

+ Phải chuẩn bị tốt nội dung các đề tài cho các bài tập rèn luyện lời nói liên kết Muốn vậy, các đề tài này phải gần gũi với đời sống của các em, các em cần phải thường xuyên quan sát, ghi chép thực tế, chuẩn bị đầy đủ nội dung cần trình bày

-Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp [1, tr.57]

Ngôn ngữ là hệ thống hoạt động chức năng, tách khỏi hoạt động chức năng thì nó sẽ không còn tồn tại Ngôn ngữ phải được thể hiện qua các dạng lời nói khác nhau, mọi quy luật cấu trúc và hoạt động của hệ thống ngôn ngữ chỉ được rút ra trên cơ sở nghiên cứu lời nói sinh động Mặt khác, muốn hình

Trang 26

17

thành các kĩ năng và kĩ xảo ngôn ngữ, HS phải trực tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp Việc lĩnh hội lời nói của người khác, sản sinh ra các lời nói đúng và hay vừa là phương tiện, đồng thời là mục đích của bộ môn tiếng Việt

ở nhà trường phổ thông Đây chính là đặc trưng của bộ môn tiếng Việt so với các bộ môn khoa học khác trong nhà trường phổ thông

Nguyên tắc dạy tiếng hướng vào hoạt động giao tiếp đòi hỏi:

Đặt các đơn vị ngôn ngữ cần nghiên cứu vào hệ thống hành chức Phương hướng tốt nhất để dạy các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức là phải tìm mọi cách hướng HS vào hoạt động nói năng Học tiếng Việt, HS không chỉ nghiên cứu về nó mà phải biết cách sử dụng thành thạo vũ khí này vào tư duy và giao tiếp Muốn đạt được điều đó, cần phải tạo được các hoàn cảnh giao tiếp, tình huống giao tiếp khác nhau để kích thích động cơ giao tiếp cho các em có nhu cầu giao tiếp Các hình thức hoạt động ngoại khóa, các cuộc tranh luận là các hình thức tạo tình huống giao tiếp, kích thích nhu cầu và động cơ giao tiếp cho HS

- Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng Việt vốn có của học sinh [1, tr.58-60]

Khi học môn tiếng Việt, HS tiếp xúc với một đối tượng vô cùng quen thuộc

và gắn bó mật thiết với cuộc sống hàng ngày của mình

Chú ý đến trình độ tiếng Việt vốn có của HS là phát huy tính tích cực chủ động của HS trong giờ giảng dạy tiếng, một yêu cầu đang đặt ra một cách cấp thiết trong lí luận và thực tiễn giảng dạy

Nguyên tắc này lưu ý các nhà phương pháp, các nhà giáo cần phải điều tra nắm vững khả năng ngôn ngữ của HS theo từng độ tuổi, địa phương để trên

cơ sở đó mà xác định nội dung về phương pháp dạy học thích hợp

Chú ý đến trình độ tiếng mẹ đẻ của HS có nghĩa là cần phải hệ thống hóa, phát huy những năng lực ngôn ngữ, tích cực của HS, hạn chế và đi đến thủ tiêu những mặt tiêu cực về lời nói của HS trong quá trình học tập

-Nguyên tắc so sánh và hướng tới cả dạng nói lẫn dạng viết [1, tr.60-61]

Trang 27

18

Dạng nói và dạng viết là hai dạng tồn tại khác nhau của lời nói, mang những đặc điểm khác nhau Bởi vậy, muốn cho HS nắm được cả hai dạng lời nói này, cần phải so sánh đối chiếu và chỉ ra sự khác biệt giữa chúng với nhau, học sinh không nên “nói như viết” hay “viết như nói”

Như vậy, có thể hiểu nguyên tắc đặc trưng của việc dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông là những tiền đề lý luận cơ bản nhất để xác định nội dung dạy học, phương pháp dạy học và những hoạt động khác có liên quan đến việc dạy học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái quát về lý thuyết Graph

1.2.1.1 Khái niệm Graph

Theo từ điển Anh -Việt, Graph (danh từ) có nghĩa là sơ đồ, đồ thị, mạch, mạng; khi là động từ, Graph được hiểu là vẽ sơ đồ, vẽ đồ thị, minh họa bằng

1.2.1.2 Bản chất, đặc điểm của Graph

*Bản chất của Graph [14, tr.16-17]

Muốn lập một Graph cần có 2 yếu tố: tập hợp các đỉnh và tập hợp các cung Mỗi cung lại là tập hợp của một cặp đỉnh có mối quan hệ với nhau

Đầu tiên là tập hợp các đỉnh Đỉnh có thể được kí hiệu bằng một dấu chấm,

có thể là một vòng tròn, một ô vuông hay một hình chữ nhật Số lượng các đỉnh có trong Graph đó sẽ quyết định bản chất Graph

Số lượng các đỉnh có trong Graph đó: Một Graph có hai đỉnh sẽ khác về

bản chất so với một Graph có ba, bốn, năm hay sáu đỉnh Tùy vào số lượng

Trang 28

Tập hợp các cung: Số lượng đỉnh của 2 Graph bằng nhau nhưng mối quan

hệ giữa các đỉnh ở 2 Graph khác nhau thì bản chất của 2 Graph đó sẽ khác nhau Ví dụ:

Graph này là khác nhau nên bản chất của chúng cũng khác nhau

Từ đó, có thể nhận xét bản chất của 1 Graph được thể hiện:

-Có bao nhiêu đỉnh

- Có bao nhiêu cạnh

- Các đỉnh được nối với nhau như thế nào

*Đặc điểm của Graph

Trang 29

20

- Tính hệ thống khái quát [14, tr.18]

Graph là sơ đồ thể hiện nội dung cơ bản của một bài học hay một chương Khi nhìn vào Graph sẽ thấy toàn bộ nội dung kiến thức chọn lọc nhất, chủ yếu

và quan trọng nhất qua các đỉnh của Graph Bên cạnh đó, chúng ta còn nhận

ra mối quan hệ được thể hiện giữa các nội dung kiến thức thông qua các cung của Graph

Sơ đồ Graph chủ yếu là sơ đồ hình cây, được sắp xếp theo thứ tự, tầng bậc, nêu trình độ kiến thức của bài Trong mỗi Graph chỉ có một đỉnh để xác định

đề tài của Graph còn lại là các đỉnh chính, đỉnh phụ, đỉnh nhánh Các đỉnh này thuộc các tầng bậc khác nhau Sự phân chia thành các tầng bậc, đỉnh đã tạo nên tính hệ thống của Graph Nhìn vào Graph có thể thấy được tổng thể logic phát triển của nội dung kiến thức bài học HS vừa có cái nhìn tổng thể vừa có cái nhìn bộ phận, cụ thể cho từng kiến thức học tập Bên cạnh đó, HS cũng thấy được mỗi quan hệ giữa các nội dung kiến thức, giúp HS nhìn nhận vấn

đề tổng quan và chi tiết Điều này góp phần làm nâng cao chất lượng ghi nhớ nội dung kiến thức tốt hơn của HS

-Tính logic [14, tr 18-19]

Graph có nội dung nêu lên được những dấu hiệu bản chất nhất của các kiến thức, các khái niệm, định luật…Do sự sắp xếp có tính hệ thống nên Graph mang tính logic rất cao Tính logic của Graph thể hiện cụ thể, rõ ràng trong việc bố trí các đỉnh, các cung Graph Thể hiện qua quan hệ ngang, dọc, rẽ, nhánh của các đơn vị kiến thức Qua Graph, tính tư duy của HS được rèn luyện và nâng cao hơn rất nhiều

-Tính trực quan [14, tr 19]

Tính trực quan tác động trực tiếp đến các giác quan của HS Đồng thời, giúp cho việc trình bày kiến thức theo hình thức hấp dẫn, sinh động, sáng tạo hơn, thu hút sự chú ý, tập trung, khơi gợi sự tò mò, hứng thú học tập của HS Graph được bố trí với các hình khối đẹp, sắp xếp hợp lí, rõ ràng sẽ tạo thành

Trang 30

21

một điểm nhấn thu hút sự chú ý của rất nhiều đối tượng Một Graph hợp lí, chính xác, sử dụng theo đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng bộ môn sẽ trở thành một phương tiện trực quan đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin cho học tập

-Tính ổn định và chuyển tải cao [14, tr 19-20]

Graph có tính ổn định vì được tạo ra từ phương pháp khoa học ổn định Đây là một phương pháp riêng, phạm vi rộng, đồng thời có thể áp dụng kết hợp với nhiều phương pháp dạy học khác như: thuyết trình, nêu-giải quyết vấn đề, dạy học nhóm, gợi mở…Bên cạnh đó, Graph có thể sử dụng với nhiều hình thức khác nhau như kiểm tra bài cũ, trong các bài học mới, các bài ôn tập kiến thức, kiểm tra – đánh giá…Vì thế Graph có tính chuyển tải cao Một lượng kiến thức lớn sẽ được thể hiện qua Graph giúp người học có thể hình dung, ghi nhớ khối lượng kiến thức ấy dễ dàng và tổng thể hơn

Vì thế, Graph là tập hợp của các yếu tố, bao gồm:

Điểm: Mỗi đối tượng nghiên cứu được xác định thành một điểm của Graph Đoạn: Biểu thị mối quan hệ của các điểm

Về hình thức thể hiện:

Trang 31

22

Điểm có thể được biểu thị bằng kí hiệu (*)

Đoạn có thể được biểu thị bằng kí hiệu: Đường thẳng, đường cong, vòng

tròn, mũi tên…

1.2.1.3 Vai trò của Graph trong quá trình dạy học

Trên Tạp chí Khoa học ĐHSP TP.HCM (số 17 năm 2009) của tác giả Phan Thị Minh Thúy có bài viết “Sử dụng Graph trong dạy học tiếng Việt” Trong

đó, tác giả có đề cập cụ thể đến vai trò, ưu điểm của Graph

Trong dạy học tiếng Việt, việc lập graph có thể được áp dụng với cả giờ dạy lí thuyết lẫn thực hành, có thể dùng để kiểm tra-đánh giá HS hoặc dùng

để củng cố bài, ôn tập chương…Cùng với hệ thống ngữ liệu, Graph cũng được coi là phương tiện trực quan, làm “tăng cường và mở rộng các giác quan của HS”, tạo sự ấn tượng về thị giác, làm thay đổi “điểm nhìn”, tạo sự chú ý của HS trong giờ học Grpah bổ sung và hỗ trợ cho việc giảng dạy của GV khi mà việc diễn đạt bằng lời thường hạn chế bởi thời gian, sự cụ thể - sinh động, sự tập trung…nhằm điều khiển hoạt động nhận thức của HS [20, tr.191]

Bài viết cũng chỉ rõ việc lập Graph cho phép kết hợp chặt chẽ nhiều công đoạn dạy học với nhau, không mất nhiều thời gian, không làm “loãng” trọng tâm bài học và thu hút HS Graph cho phép GV có thể tập hợp nhiều tài liệu học tập, tạo ra những biện pháp sư phạm thích hợp với các đối tượng HS Cụ thể: [20, tr.191-192]

-Tái hiện lại những tri thức của bài giảng một cách chặt chẽ, chính xác, thành một hệ thống

-Nhờ tính trực quan cao, Graph giúp HS tăng cường trí nhớ và khả năng tập trung., làm cho việc học tập được lâu bền, tiết kiệm thời gian (toàn bộ nội dung bài học được tóm tắt trong 1 sơ đồ ngắn gọn, đầy đủ, dễ nhớ)

-Làm rõ được khái niệm, quy tắc, đơn vị kiến thức trong sự phân loại theo tầng bậc, qua đó phát triển tư duy logic, tư duy khoa học cho HS

Trang 32

23

-Khắc phục được nhược điểm khái quát hóa vấn đề vốn còn yếu kém ở HS trên cơ sở giúp các em biết liên hệ các kiến thức rời rạc lại với nhau Ngoài ra, Graph với việc xây dựng cấu trúc hợp lí bài sọan giảng của GV, giúp GV soạn giảng bài dạy phản ánh được mục tiêu của chuẩn kiến thức cơ bản, chứa đựng nội dung kiến thức sách giáo khoa và cũng định hướng cho HS vào những nhiệm vụ nhận thức cụ thể Bài giảng được soạn từ Graph sẽ giúp GV tập trung vào kiến thức cơ bản, tránh lặp lại toàn văn của sách giáo khoa Bài giảng Graph cũng giúp học sinh chủ động tìm hiểu và nhận thức từ sách giáo khoa Ở những mục mà Graph chưa hoàn chỉnh, HS sẽ chủ động tìm hiểu bổ sung cho hoàn chỉnh

Nói tóm lại, Graph có vai trò trong việc giảng dạy của GV và trong việc nhận thức của HS rất lớn, tạo điều kiện giúp HS có thể lĩnh hội kiến thức bài học một cách cụ thể, chính xác và khoa học

1.2.1.4 Phân loại Graph

Căn cứ vào đặc điểm, tính chất của đối tượng nghiên cứu và mục đích sử dụng, chúng ta có thể phân Graph thành những loại khác nhau

*Graph định hướng và Graph vô hướng [14, tr 20-23]

Graph định hướng là Graph có sự xác định rõ đỉnh nào là đỉnh xuất phát

trong Graph Ở loại Graph này, mối liên hệ giữa các đỉnh của Graph sẽ được định rõ đi theo hướng nào chiều nào, đi từ đỉnh nào tới đỉnh nào trong Graph

Vì thế nên các đoạn nối đỉnh trong Graph định hướng đều được thể hiện bằng những đoạn nối có chiều mũi tên Chiều mũi tên là chiều quan hệ, chiều phân chia, hoặc chiều vận động của các yếu tố

Trang 33

24

Ví dụ:

Graph định hướng Graph vô hướng là Graph không chỉ rõ đâu là chiều liên hệ, chiều vận động

của các yếu tố Vì đặc tính này, các đoạn nối đỉnh trong Graph vô hướng đều

không cần thể hiện bằng những đoạn nối có chiều mũi tên

Trong hai loại Graph trên, thường sử dụng Graph định hướng để biểu thị mối quan hệ động, mối quan hệ trong sự phát triển của các yếu tố được đưa vào Graph Còn Graph vô hướng được sử dụng để biểu thị mối quan hệ tĩnh của các yếu tố Trong dạy học, người ta chủ yếu sử dụng loại Graph định hướng vì Graph định hướng cho biết cấu trúc của đối tượng nghiên cứu Graph định hướng sẽ giúp HS trực quan, cụ thể được các mối quan hệ trừu tượng của hệ thống ngôn ngữ Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho HS nhận thức được các yếu tố, các khái niệm, sự kiện và hiện tượng ngôn ngữ

*Graph khép và Graph mở [14, tr.23-25]

Graph khép là Graph trong đó mọi cặp đỉnh đều có sự liên thông với nhau

Trang 34

25

Graph mở là graph trong đó không phải tất cả các đỉnh đều có quan hệ liên

thông với nhau mà ít nhất phải có hai đỉnh treo

Graph khép thường được thể hiện để biểu diễn mối quan hệ giữa các yếu tố

trong một tổng thể hoàn chỉnh, chuyển đổi tuần hoàn để tạo ra chu trình khép

kín Trong khi đó, Graph mở lại được sử dụng để biểu diễn mối quan hệ bao

hàm, quan hệ phân chia hoặc quan hệ mang tính tầng bậc Sử dụng Graph

trong dạy học môn Ngữ Văn chủ yếu là Graph mở, vì nó phù hợp với đặc tính

hệ thống tầng bậc kiến thức

*Graph đủ, graph câm, graph khuyết [14, tr.25-26]

Graph đủ là graph mà tất cả các đỉnh của nó đều được ghi chú hoặc ghi kí

hiệu một cách đầy đủ, không thiếu một đỉnh nào Ví dụ:

Graph trên là Graph đủ, có các đỉnh được biểu diễn bằng các ghi chú, giải

thích

Graph câm là Graph mà tất cả các đỉnh của nó đều rỗng

Liên kết trong văn bản

Phép nối

Phép thế

Phép lặp

Phép liên tưởng

Phép tỉnh lược

Trang 35

Đây là 1 Graph khuyết vì trong đó có 2 đỉnh rỗng

Graph câm và Graph khuyết có tác dụng lớn trong việc ôn tập kiến thức cho HS HS có thể vừa luyện tập vừa ôn tập kiến thức bằng việc ghi nhớ để hoàn thiện Graph

*Theo Nguyễn Ngọc Quang, trong dạy học có 2 loại Graph là Graph nội dung

và Graph hoạt động dạy học

-Graph nội dung

Graph nội dung là Graph phản ánh một cách khái quát, trực quan cấu trúc logic phát triển bên trong của một tài liệu Graph nội dung là sự tập hợp những yếu tố thành phần của một nội dung và mối liên hệ bên trong giữa chúng với nhau, diễn tả cấu trúc logic của nội dung dạy học bằng một ngôn ngữ trực quan, khái quát, cô đọng, súc tích Mỗi loại kiến thức được mô hình

Đặc trưng của phong cách ngôn

ngữ nghệ thuật

Tính truyền cảm

Trang 36

-Mối quan hệ giữa Graph nội dung và Graph hoạt động trong dạy học

+Đối với GV: Căn cứ vào nội dung Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo…lập graph nội dung của một số tổ hợp kiến thức và bài học Từ Graph nội dung, GV xác định được các hoạt động dạy học để lập Graph hoạt động dạy học trên lớp, GV thực hiện các tình huống dạy học, triển khai Graph nội dung theo hoạt động dạy học và chỉ đạo hoạt động lĩnh hội tri thức của học sinh

+Đối với HS: thực hiện các hoạt động trên lớp với sự tổ chức của GV để lập Graph nội dung, từ đó hiểu bản chất nội dung học tập Ở nhà, HS tự học bằng Graph để ghi nhớ nội dung bài học và có thể vận dụng linh hoạt

Có thể thấy, Graph nội dung và Graph hoạt động có mối quan hệ mật thiết với nhau Dùng Graph nội dung để hình thành Graph hoạt động dạy học, dùng Graph hoạt động dạy học để triển khai Graph nội dung theo logic khoa học [12]

1.2.1.5 Các bước lập Graph

*Quy trình lập Graph nội dung [11]

Trang 37

28

Bước 1: Xác định các đỉnh của Graph

-Lựa chọn những kiến thức cơ bản của nội dung bài học

-Mã hóa chúng sao cho súc tích, khoa học

-Đặt chúng vào các đỉnh của Graph

Bước 2: Thiết lập các cung

Thiết lập các mối quan hệ giữa các đỉnh của Graph, nối chúng bằng các mũi tên để diễn tả mối liên hệ giữa nội dung các đỉnh với nhau

Các mối quan hệ đó phải đảm bảo tính logic khoa học, tuân theo những quy luật khách quan và tính hệ thống của nội dung kiến thức

Bước 3: Hoàn thiện Graph (bố trí các đỉnh và các cung lên mặt phẳng)

Khi đã xác định được các đỉnh và mối quan hệ giữa chúng, chúng ta tiến hành xếp các đỉnh lên mặt phẳng theo logic khoa học, lưu ý:

-Trung thành với nội dung được mô hình hóa về cấu trúc logic

Quy trình lập Graph nội dung

*Quy trình lập Graph hoạt động [11]

Bước 1: Xác định mục tiêu bài học

Mục tiêu bài học là những yêu cầu cần đạt của HS sau khi học xong bài học Các yếu tố tác động đến việc xác định mục tiêu bài học bao gồm: nội dung bài học, yếu tố nhận thức của HS và năng lực của GV

Tổ chức các đỉnh của Graph

Thiết lập các cung

Hoàn thiện Graph (Bố trí các đỉnh và các cung lên mặt phẳng)

Trang 38

29

Bước 2: Xác định các hoạt động

Xác định các họa động trong một bài học có thể dựa trên việc phân tích cấu trúc bài học Mỗi hoạt động ứng với một đơn vị kiến thức

Bước 3: Xác định các thao tác trong mỗi hoạt động

Cần xác định các thao tác chính để đạt được mục tiêu

Bước 4: Lập Graph hoạt động dạy học

Sau khi đã xác định được các hoạt động và các thao tác của bài học, GV lập Graph mô tả diễn biến của bài học Sau đó tiến hành lập Graph dạy học

Quy trình lập Graph hoạt động

1.2.2 Vị trí, vai trò, đặc điểm bài ôn tập

Bài ôn tập phải đưa ra được bản danh mục những kiến thức cơ bản nhất mà học sinh đã được học trước đó Đây chính là những kiến thức chốt, kiến thức chìa khóa của chương trình Phụ thuộc vào số lượng bài, số lượng kiến thức

ôn tập mà bản danh mục có thể nhiều hay ít, phạm vi rộng hay hẹp Nếu việc

ôn tập chỉ mang tính chất củng cố, nhắc lại kiến thức của một số bài học cũ để chuẩn bị bước vào bài học mới thì bản danh mục này không nhiều Nhưng

Bước 1 Xác định mục tiêu bài học

Bước 2 Xác định các bước hoạt động

Bước 3 Xác định các thao tác trong mỗi hoạt động

Bước 4 Lập Graph hoạt động dạy hoc

Trang 39

ôn tập giúp HS nhớ lại những vấn đề đã học, giúp HS xâu chuỗi kiến thức và hình dung lại trong cái nhìn khái quát, chung nhất Các kiến thức riêng lẻ trong từng bài học, khi đến bài ôn tập sẽ được hệ thống hóa lại thành từng khía cạnh, vấn đề và được sắp xếp một cách logic chặt chẽ theo từng đặc tính cần tổng kết, hệ thống [12]

Vì vậy, nhiệm vụ của bài ôn tập là phải đưa ra được bản danh mục những kiến thức cơ bản nhất với sự giải thích và tóm tắt cần thiết, được hệ thống hóa lại theo từng mặt, từng khía cạnh cần ôn tập Để thực hiện mục đích này, việc

sử dụng Graph có rất nhiều ưu thế

Bài ôn tập phần tiếng Việt được lựa chọn trong đề tài nghiên cứu có vị trí nằm ở cuối học kì II, ôn tập lại toàn bộ hệ thống kiến thức tiếng Việt đã được học từ đầu năm Đây là bài ôn tập tiếng Việt duy nhất trong cả năm học lớp

11 Chính vì thế, bài ôn tập này có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng giúp HS

ôn tập kiến thức và vận dụng làm bài tập để chuẩn bị cho kì thi cuối học kì, thi cuối năm Một điểm chung trong việc ôn tập các đơn vị kiến thức này là đều có thể sử dụng Graph để sơ đồ hóa những đơn vị kiến thức ấy Việc lựa chọn bài học này là vô cùng hợp lí và thuận tiện để sử dụng Graph

1.3 Thực trạng dạy học bài “Ôn tập phần tiếng Việt” (Ngữ Văn 11, tập 2,) ở trường THPT

Trang 40

31

1.3.1 Tổ chức nghiên cứu

1.3.1.1 Đối tượng khảo sát

- GV giảng dạy bộ môn Ngữ Văn, trường THPT Thuận Thành số 1, tỉnh Bắc Ninh

- HS lớp 11A11, 11A12 trường THPT Thuận Thành số 1, tỉnh Bắc Ninh

Bảng 1.1 Đặc điểm đối tượng khảo sát

kiến HS về thái độ, phương pháp và kết quả học tập bộ môn Ngữ Văn

Sau khi xây dựng xong phiếu thăm dò ý kiến, người viết nhờ sự giúp đỡ của nhà trường đã phát phiếu cho 11 thầy cô giảng dạy bộ môn Ngữ Văn và

94 bạn HS lớp 11A11, 11A12 Nhờ sự hỗ trợ và tạo điều kiện của nhà trường,

sự nhiệt tình của quý thầy cô và các bạn HS, phiếu phát ra 11 phiếu và thu về

11 phiếu, 94 phiếu và thu về 94 phiếu Đạt chuẩn số lượng

Sau đó, người viết tiến hành xử lí số liệu phiếu thăm dò ý kiến bằng cách phân loại các phiếu và tính phần trăm tương đương với mỗi nội dung câu hỏi

Ngày đăng: 16/03/2021, 21:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w