Công tác giáo dục lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động giảng dạy và ngoại khóa đang đi đúng hướng đã góp phần tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng, khơi dâ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DẠY HỌC LỊCH SỬ HƯỚNG ĐẾN CÁC MỤC TIÊUPHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (SUSTAINABLE DEVELOPMENT GOALS)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến TS Đoàn Nguyệt Linh người đã tận tình chỉ bảo, định hướng và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm tài liệu
Xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Chuyên Ngoại ngữ đã giúp đỡ
Cuối cùng xin gửi lời tri ân tới gia đình, người thân và bạn bè đã động viên
cổ vũ tôi trong suốt thời gian qua
Sinh viên
Hoàng Thúy Trà
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT THPT trung học phổ thông
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC HÌNH 8
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 4
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
3.1 Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4.1 Mục đích nghiên cứu 6
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu 7
5.2 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Bố cục đề tài nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC VÀ DẠY HỌC HƯỚNG ĐẾN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 9 1.1 Khái niệm phát triển bền vững 9
1.2 Khái niệm về giáo dục vì sự phát triển bền vững 13
1.3 Dạy học Lịch sử hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững 15
1.4 Ưu và nhược điểm của dạy học Lịch sử hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững 18
Trang 61.4.1 Ưu điểm của dạy học Lịch sử hướng tới các mục tiêu phát triển bền
vững .18
1.4.2 Nhược điểm của dạy học Lịch sử hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững 19
CHƯƠNG 2:THIẾT KẾ CHUYÊN ĐỀ “VĂN HÓA VIỆT NAM THẾ KỶ X-XIX HƯỚNG ĐẾN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO HỌC SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGỮ 22
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung chuyên đề “Văn hóa Việt Nam Thế Kỷ X-XIX” hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững 22
2.1.1 Vị trí của chuyên đề “Văn hóa Việt Nam Thế Kỷ X-XIX” hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững 22
2.1.2 Mục tiêu chuyên đề (lồng ghép mục tiêu hướng tới phát triền bền vững) 23
2.1.3 Nội dung chuyên đề “Văn hóa Việt Nam Thế Kỷ X-XIX” hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững 24
2.2 Một số nguyên tắc khi dạy học Lịch sử theo mục tiêu phát triển bền vững 26
2.3 Thiết kế kế hoạch dạy học chuyên đề “Văn hóa nước ta Thế Kỉ X-XIX) theo mục tiêu phát triển bền vững 29
2.4 Thử nghiệm sư phạm 47
2.4.1 Mục đích thử nghiệm 47
2.4.2 Nội dung và phương pháp thử nghiệm 48
2.4.3 Tiến trình thử nghiệm 48
2.4.4 Kết quả thử nghiệm 49
2.4.4.1 Kết quả nhận xét của Giáo viên 49
KẾT LUẬN 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 59
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Nhận xét của giáo viên Error! Bookmark not defined Bảng 2.2: Nhận xét của học sinh Error! Bookmark not defined
Trang 8
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững
Hình 2.1 Tượng Phật Tích chùa Quỳnh Lâm
Hình 2.2 Khoa thi thời phong kiến
Hình 2.3 Tháp Báo Thiên ở Hà Nội
Hình 2.4 Sân khấu Tuồng
Hình 2.5 Ảnh những người sáng tạo ra các tôn giáo Hình 2.6 Những công trình kiến trúc nước ta từ TK X-XV Hình 2.7 Cảnh thi cử nước ta từ TK X-XV
Hình 2.8 Hình ảnh giáo dục hiện nay
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Liên Hiệp Quốc xác định nguyên tắc của nền giáo dục vì sự phát triển bền vững (Education for Sustainable Development), gọi tắt là Giáo dục bền vững (GDBV) (Sustainability Education) GDBV được định nghĩa là quá trình học dẫn đến kết quả là hình thành nơi người học khả năng giải quyết vấn
đề, trình độ hiểu biết về khoa học và xã hội và những hành động hợp tác cần thiết để đảm bảo cho một xã hội công bằng, thịnh vượng và môi trường trong lành Năm 2003, UNESCO được đề cử điều hành thập kỉ Giáo dục vì sự Phát triển bền vững (Decade of Education for Sustainable Development-DESD) ESD muốn phá bỏ lối giáo dục truyền thống như: học theo môn học và ủng hộ lối học kết hợp liên ngành trong GDBV; học theo giá trị; học có tư duy chứ không học thuộc lòng; tiếp cận đa phương pháp, đa hình thức: thơ, kịch, vẽ, tranh luận…; tham gia vào việc ra quyết định; tiếp cận thông tin địa phương phù hợp vẫn hơn thông tin cấp quốc gia (Unesco, 2003) Chúng ta cũng đã biết Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không phá hủy khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương lai Hiện nay học sinh đang có xu hướng thụ động và ỷ lại hơn khi khoa học kỹ thuật và máy tính ngày càng phát triển Giáo viên cần hỗ trợ học sinh nhận thức tốt về tầm quan trọng của Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) , từ đó rèn luyện cho các em những kỹ năng mềm của thế kỷ 21, trang bị cho các em đủ tự tin trở thành công dân toàn cầu
Trong nhiều năm qua, dạy học lịch sử hướng đến mục tiêu phát triển bền vững đã được ngành giáo dục nước ta quan tâm và mong muốn lồng ghép vào các môn học ở bậc phổ thông Tuy nhiên việc thực hiện lồng ghép mục tiêu phát triển bền vững qua môn học Lịch sử ở các lớp, các bậc ở phổ thông chưa trở thành phổ biến; ngoài ra, dạy học lịch sử ở nước ta hiện nay cũng còn nặng về lý thuyết từ chương, chưa được quan tâm đầy đủ Hơn nữa, bên
Trang 10cạnh dạy học lịch sử, thì Giáo dục bền vững (GDBV) cũng đang trở thành một yêu cầu cấp thiết, đặc biệt trong tình hình nước ta đang tiến hành quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hóa và hội nhập kinh tế văn hóa toàn cầu, cũng như quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ và sự phân hoá giàu nghèo ngày càng trở nên sâu sắc
Trường THPT Chuyên ngữ - Đại học Ngoại ngữ (ĐHQG Hà Nội) với
sứ mệnh:
Phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có tư chất thông minh đạt kết quả xuất sắc trong học tập và rèn luyện; đào tạo học sinh giỏi ngoại ngữ, tạo nguồn nhân tài ngoại ngữ cho đất nước
Phát triển năng lực cho từng HS trên cơ sở đảm bảo giáo dục toàn diện; trang bị cho HS những kĩ năng mềm cần thiết để HS có khả năng thích ứng tốt với các môi trường học tập, làm việc trong nước và quốc tế
Đi đầu trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập ngoại ngữ trong nhà trường phổ thông
Hiện nay học sinh THPT trên cả nước nói chung, ở trường THPT chuyên ngữ nói riêng đang có xu hướng thụ động và ỷ lại hơn khi khoa học kỹ thuật và máy tính ngày càng phát triển Do đó công tác giáo dục cần hỗ trợ học sinh nhận thức tốt về tầm quan trọng của giáo dục phát triển bền vững, từ đó rèn luyện cho các em những kỹ năng mềm của thế kỷ 21, trang bị cho các
em đủ tự tin trở thành công dân toàn cầu Tất cả học sinh ở mọi cấp lớp đều có thể tìm hiểu về giáo dục phát triển bền vững theo các cách phù hợp với lứa tuổi với các hoạt động miễn phí, chương trình giảng dạy và các hoạt động hiện có sẵn trong mỗi lớp học Học sinh sẽ ngày càng lớn lên và trường thành trong một xã hội ngày càng kết nối và đa văn hóa Học sinh cần phải nhận thức được các tiêu chuẩn văn hóa và sự khác biệt trên toàn thế giới để chúng có thể tồn tại, phát triển và thành công Giáo dục vì sự phát triển bền vững là các mục tiêu phổ quát mang tính toàn cầu cho tất cả mọi người Tìm hiểu về
Trang 11những sáng kiến này giúp học sinh phát triển những hiểu biết sâu sắc về các vấn đề trên thế giới, như thiếu tiếp cận với nước sạch và bình đẳng giới Những vấn đề này không thể tách rời với văn hóa, và để thực sự hiểu về phát triển bền vững, học sinh cần phải tìm hiểu về thế giới xung quanh
Trong các mục tiêu và nội dung của giáo dục hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, giáo dục về văn hóa đóng một vai trò quan trọng Vật chất và tinh thần là hai mặt của đời sống xã hội nói chung và đời sống mỗi con người nói riêng, nên, nếu coi kinh tế là nền tảng vật chất của xã hội, đáp ứng nhu cầu vật chất, thì văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người và xã hội Không thể phát triển ổn định và bền vững nếu chỉ chú trọng tăng trưởng kinh tế mà bỏ quên, thậm chí hy sinh các giá trị văn hóa Sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc là một quá trình nội sinh và có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa phát triển kinh tế và văn hóa; trong đó văn hóa bao trùm tất cả các phương diện của hoạt động xã hội; không chỉ chi phối, tác động mà còn có khả năng quy định sự phát triển của xã hội Trong bối cảnh đổi mới hội nhập toàn diện, để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, phải tích cực, chủ động hội nhập, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với giữ vững truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc; coi trọng kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng an ninh, tăng cường quan hệ đối ngoại, đặc biệt là chú trọng phát triển văn hoá, xã hội hài hoà với phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển Đồng thời, phải tăng cường huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển văn hoá, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa kế thừa, phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, để văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội và “phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát
Trang 12triển văn hóa Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân
ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo…” Trong các nhà trường, việc giáo dục truyền thống lịch sử và văn hóa cho học sinh có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Công tác giáo dục lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động giảng dạy và ngoại khóa đang đi đúng hướng đã góp phần tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, khơi dậy tình yêu quê hương đất nước cho các em học sinh, hướng tới thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia về văn hóa
Xuất phát từ những nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của giáo dục phát triển bền vững nói chung và dạy học lịch sử nói riêng trong các nước và
ở trường THPT hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt các mục tiêu
liên quan đến văn hóa, em quyết định chọn đề tài “DẠY HỌC LỊCH SỬ HƯỚNG ĐẾN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (SUSTAINABLE DEVELOPMENT GOALS) Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGỮ” đề làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến đề tài về giáo dục hướng đến mục tiêu phát triển bền vững đã có những công trình nghiên cứu như sau:
- Trong công trình “Giáo dục vì sự phát triển bền vững”, nhóm tác giả Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Min đã nhận định: Giáo dục có vai trò chính như một nguồn sức mạnh cho tương lai Giáo dục có thể đảm bảo rằng mọi công dân, từ trẻ em đến người già, có kiến thức về những thay đổi cần thiết, có khả năng xây dựng tầm nhìn về các tương lai, có cam kết thực hiện dân chủ, có các kĩ năng cần thiết và có động lực để hành động tích cực để tạo ra thay đổi
Trang 13Và từ đó, các tác giả đã đưa ra những định hướng nhằm phát triển giáo dục theo hướng bền vững
- Ở công trình “Giáo dục - nền móng của phát triển bền vững”, tác giả Cao Đức Tiến từ những khảo sát thực tiễn về tình hình dạy học đã khẩng định nền móng của giáo dục là sự phát triển bền vững Và từ đó tác giả cũng đã có những đề xuất nhằm hiện thực hóa giáo dục theo định hướng phát tiển bền vững Tạp chí Giáo dục, Số 149
- Liên quan tới giáo dục theo hướng phát triển bền vững, tác giả Phạm Xuân Nam trong “Vai trò của văn hóa - giáo dục trong việc tạo lập một "tâm quyển" cho sự phát triển bền vững của đất nước trên cơ sở kinh tế tri thức” đã cho rằng cần phải mở rộng thành năm trụ cột của phát triển bền vững, đó là kinh
tế phồn vinh, xã hội hài hòa, văn hóa lành mạnh, chính trị ổn định và môi trường trong sạch Theo tác giả, cả năm trụ cột này có mối quan hệ tác động qua lại khăng khít với nhau Tuy nhiên, ở bài viết này, tác giả chỉ tập trung phân tích, làm rõ vai trò của văn hóa - giáo dục trong việc tạo lập một "tâm quyển" cho phát triển bền vững của Việt Nam trên cơ sở kinh tế tri thức
- Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng trong công trình “Điều tra nhận thức của sinh viên về giáo dục vì sự phát triển bền vững” đã có những khảo sát và thống kê thực tiễn về vấn đề “giáo dục vì sự phát triển biền vững” Từ đó tác giả đã nhận định việc nhận thức của sinh viên về giáo dục vì sự phát trienr còn có những hạn chế và cần khắc phục, cải thiện thông qua hệ thống các biện pháp cụ thể
- Ngoài những công trình nghiên cứu trên, còn có thể kể tới công trình nghiên cứu “Giáo dục và sự phát triển bền vững trong thời đại toàn cầu hoá: Education for sustainable development in the era of globalization” tại kỷ yếu hội thảo khoa học, Tạp chí Khoa học ĐHSP Hà Nội (2005) đã giới thiệu 50 báo cáo khoa học về giáo dục bền vững, những kinh nghiệm của Việt Nam và thế giới; công trình “Giáo dục trong kỉ nguyên phát triển bền vững” của tác
Trang 14giả D Sachs, Jeffrey; “Giáo dục vì sự phát triển bền vững” của Nguyễn Thanh Hoàn (2006)
Tóm lại, các công trình này đều tập trung vào làm rõ các khía cạnh của giáo dục hướng tới phát triển bền vững, đặc biệt ở góc độ giáo dục học Còn các công trình nghiên cứu cụ thể về dạy học lịch sử hướng đến mục tiêu phát triển bền vững chưa có công trình nghiên cứu hệ thống nào Đó là một
“khoảng trống” trong nghiên cứu về lí luận dạy học cũng như những nghiên cứu trường hợp cụ thể để rút ra các kinh nghiệm thực tiễn về dạy học lịch sử
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thiết kế bài giảng chủ đề “Văn hóa nước ta từ Thế kỷ X-XVIII” để hỗ
trợ hoạt động dạy và học môn Lịch Sử lớp 10 ở trường THPT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về lí luận
Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc dạy học lịch sử hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững chủ đề “Văn hóa nước ta từ Thế kỷ X-XIX” trong dạy học lịch sử lớp 10
Trang 15quá trình dạy học lịch sử và thực tiễn sử dụng các phương pháp đó trong dạy học lịch sử ở trường THPT, đề tài tập trung vào việc vận dụng, lồng ghép các phần mềm công nghệ, tiếp cận đa phương pháp, đa hình thức: thơ, kịch, vẽ, tranh luận… thông qua chủ đề “Văn hóa nước ta từ thế kỷ X-XIX” trong dạy học lịch sử lớp 10 theo chương trình giáo dục phổ thông mới Qua đó, góp phần đổi mới phương pháp học tập, giúp học sinh nâng cao khả năng tiếp thu, nhận thức trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề về cơ sở lý luận
- Khảo sát thực tiễn việc sử dụng những phương pháp dạy học hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT cho học sinh
- Nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông mới môn Lịch sử, phần lịch sử Việt Nam, chuyên đề “Văn hóa nước ta từ thế kỷ X-XIX” và xác định nội dung, kiến thức cơ bản
- Thiết kế bài giảng chủ đề “Văn hóa nước ta từ thế kỷ X-XIX”
- Tiến hành thử nghiệm sư phạm để chứng minh tính khả thi của việc sử dụng những phương pháp dạy học hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững vào dạy học lịch sử Việt Nam Từ đó, rút ra kết luận khoa học liên quan đến đề tài
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo nói chung, dạy học lịch sử nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận thông qua các tài liệu sử học, và các tài liệu có liên quan
Trang 16- Điều tra, khảo sát thực tiễn ứng dụng dạy học Lịch sử hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững trong các môn học khác nói chung và trong dạy học môn lịch sử nói riêng ở các trường THPT hiện nay
- Nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông đổi mới, chương trình dạy học môn Lịch sử mới
- Thực nghiệm sư phạm: cho học sinh và giáo viên trải nghiệm dạy học Lịch
sử hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững trong trong quá trình dạy và học, kiểm nghiệm tính hiệu quả của việc sử dụng phương pháp đó trong quá trình dạy và học lịch sử Việt Nam với chủ đề “Văn hóa nước ta từ Thế Kỉ X-XIX”
6 Bố cục đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, tài liệu bổ sung, khóa luận tốt nghiệp gồm 2 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục và dạy học hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững
Chương 2: Thiết kế chuyên đề “Văn hóa Việt Nam thế kỉ X – XIX” hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững cho học sinh lớp 10 trường THPT Chuyên Ngữ
Trang 17CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC VÀ DẠY HỌC HƯỚNG ĐẾN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.1 Khái niệm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa”
Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Hiện nay, vẫn còn nhiều tranh luận dưới những góc độ khác nhau về khái
niệm “Phát triển bền vững“ Theo quan điểm của Tổ chức Bảo tồn Thiên
nhiên Quốc tế (IUCN) đưa ra năm 1980 thì: “Phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau” Định nghĩa này chú trọng đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên chứ chưa đưa ra một bức tranh toàn diện về phát triển bền vững Một định nghĩa khác được các nhà khoa học trên thế giới đề cập một cách tổng quát hơn, trong đó chú trọng đến trách nhiệm của mỗi một chúng ta: “Phát triển bền vững là các hoạt động phát triển của con người nhằm phát triển và duy trì trách nhiệm của cộng đồng đối với lịch sử hình thành và hoàn thiện các sự sống trên Trái đất” Tuy nhiên, khái niệm do Uỷ ban Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) đưa ra năm 1987 được sử dụng rộng rãi hơn cả Theo UNCED, “Phát triển bền vững thoả mãn những nhu cầu của hiện tại nhưng không làm giảm khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau” Như vậy, nếu một hoạt động có tính bền vững, xét về mặt lý thuyết nó có thể được thực hiện mãi mãi
Trang 18Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Hiện nay, vẫn còn nhiều tranh luận dưới những góc độ khác nhau về khái
niệm “Phát triển bền vững“ Theo quan điểm của Tổ chức Bảo tồn Thiên
nhiên Quốc tế (IUCN) đưa ra năm 1980 thì: “Phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau” Định nghĩa này chú trọng đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên chứ chưa đưa ra một bức tranh toàn diện về phát triển bền vững Một định nghĩa khác được các nhà khoa học trên thế giới đề cập một cách tổng quát hơn, trong đó chú trọng đến trách nhiệm của mỗi một chúng ta: “Phát triển bền vững là các hoạt động phát triển của con người nhằm phát triển và duy trì trách nhiệm của cộng đồng đối với lịch sử hình thành và hoàn thiện các sự sống trên Trái đất” Tuy nhiên, khái niệm do Uỷ ban Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) đưa ra năm 1987 được sử dụng rộng rãi hơn cả Theo UNCED, “Phát triển bền vững thoả mãn những nhu cầu của hiện tại nhưng không làm giảm khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau” Như vậy, nếu một hoạt động có tính bền vững, xét về mặt lý thuyết nó có thể được thực hiện mãi mãi
Mô hình phát triển bền vững
Tại Hội nghị về Môi trường toàn cầu RIO 92 và RIO 92+5, quan niệm về phát triển bền vững được các nhà khoa học bổ sung Theo đó, “Phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, đan xen và thoả hiệp của 3 hệ thống tương tác là hệ kinh tế, hệ xã hội và hệ môi trường”
Trang 19Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững
Theo quan điểm này, phát triển bền vững là sự tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của ba hệ thống nói trên Như thế, phát triển bền vững không cho phép con người vì sự ưu tiên phát triển của hệ này mà gây ra sự suy thoái, tàn phá đối với hệ khác Thông điệp ở đây thật đơn giản: Phát triển bền vững không chỉ nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế Hiện nay, phát triển phải dựa trên tính bền vững cả về môi trường-sinh thái, văn hoá-xã hội và kinh tế Phát triển bền vững mang tính ba chiều, giống chiếc kiềng 3 chân Nếu một chân bị gãy, cả hệ thống sẽ bị sụp đổ dài hạn Cần phải nhận thức được rằng, ba chiều này phụ thuộc nhau về rất nhiều mặt, có thể hỗ trợ lẫn nhau hoặc cạnh tranh với nhau Nói đến phát triển bền vững có nghĩa là tạo được sự cân bằng giữa
ba chiều (ba trụ cột) Cụ thể là:
Sự bền vững về kinh tế: Tạo nên sự thịnh vượng cho cộng đồng dân cư và đạt
hiệu quả cho mọi hoạt động kinh tế Điều cốt lõi là sức sống và sự phát triển của doanh nghiệp và các hoạt động của doanh nghiệp phải được duy trì một cách lâu dài
Sự bền vững xã hội: Tôn trọng nhân quyền và sự bình đẳng cho tất cả mọi
người Đòi hỏi phân chia lợi ích công bằng, chú trọng công tác xoá đói giảm nghèo Thừa nhận và tôn trọng các nền văn hoá khác nhau, tránh mọi hình thức bóc lột
Trang 20Sự bền vững về môi trường: Bảo vệ, quản lý các nguồn tài nguyên; hạn chế
đến mức tối thiểu sự ô nhiễm môi trường, bảo tồn sự đa dạng sinh học và các tài sản thiên nhiên khác
Khái niệm "phát triển bền vững" xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỉ XX Năm 1987, trong báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" Hội đồng Thế giới về Môi trường và phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" được định nghĩa
"là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau"
Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững được tổ chức tại Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002, nhấn mạnh thêm rằng, phát triển bền vững đòi hỏi ba khía cạnh chủ yếu là liên quan tới đời sống của nhân loại là phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) cả ba khía cạnh này cần được lồng ghép và cân đối một cách có hiệu quả qua các chính sách, cơ chế, công cụ và qua quá trình thực hiện chính sách Ngoài ra, văn hóa cũng là một khía cạnh quan trọng, ảnh hưởng mạnh mẽ tới cách thức cảm nhận và quyết định các vấn đề phát triển bền vững, vì những giá trị, sự đa dạng, kiến thức, ngôn ngữ, lịch sử và cả thế giới quan của nó
Những mục tiêu của phát triển bền vững:
Tính bền vững là mục tiêu chung của sự phát triển bền vững đó là sự nỗ lực không ngừng nhằm cải thiện chất lượng của cuộc sống và môi trường của con người, đồng thời đảm bảo sự thịnh vượng mà không hủy hoại các hệ thống hỗ trợ cuộc sống của các thế hệ hôm nay và mai sau Tính bền vững được xem là ít đến vừa được xem là một chặng đường Mục tiêu phát triển
Trang 21bền vững có thể liên hệ chặt chẽ với mục tiêu phát triển thiên niên kỉ các mục tiêu cụ thể của phát triển bền vững là đảm bảo một xã hội công bằng dựa trên pháp luật, các giá trị văn hóa, nhu cầu của mọi người- không phân biệt sắc tộc, dân tộc, tôn giáo, giới tính, hay tuổi tác; môi trường được bảo vệ nhiều sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; kinh tế thịnh vượng thông qua phát triển kinh tế và việc làm; phát triển phù hợp với văn hóa địa phương
1.2 Khái niệm về giáo dục vì sự phát triển bền vững
Giáo dục vì sự phát triển bền vững là một sáng kiến giáo dục quốc tế, một chủ trương lớn của nhà nước Việt Nam
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người Đây là một lựa chọn mang tính chiến lược mà tất cả các quốc gia đều quan tâm Trong đó, con người là trung tâm và cần thiết được giáo dục để phát triển bền vững
Liên hợp Quốc đã có sáng kiến chọn giai đoạn 2005-2014 làm "Thập kỷ Giáo dục vì sự phát triển bền vững" Mục đích chung của "thập kỷ" là thúc đẩy giáo dục giữ vai trò nền tảng cho một xã hội bền vững, lồng ghép nội dung giáo dục vì sự phát triển bền vững vàng hệ thống giáo dục ở tất cả các cấp học, hình thành và tăng cường nhận thức về phát triển bền vững cho mọi người, biến nhận thức thành hành động cụ thể vì một cuộc sống bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường và văn hóa
Trên thế giới, giáo dục vì sự phát triển bền vững đã được triển khai với các sáng kiến và hoạt động đa dạng tại nhiều vùng, lãnh thổ Tại Châu Âu và Thụy Điển đã có một Viện Nghiên cứu Giáo dục vì sự phát triển bền vững
Hà Lan đã thành lập một liên kết hợp tác "Chương trình học vì sự phát triển bền vững" giữa 6 bộ, chính quyền các tỉnh và Liên hiệp Quản lí các nước Tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nhiều quốc gia đã và đang nỗ lực nâng cao nhận thức và thực hiện giáo dục vì sự phát triển bền vững trong nghiên cứu và đào tạo sau đại học Nhiều Nội dung giáo dục vì sự phát triển
Trang 22bền vững đã được tích học vào sách giáo khoa và chương trình giảng dạy, đào tạo giáo viên, thực hành lối sống Nhiều viện nghiên cứu và trường học đã trở thành "trường học giáo dục phát triển bền vững"
Trong tuyên bố Bonn (UNESCO, 2009), đưa ra tại hội nghị thế giới của UNESCO về giáo dục vì sự phát triển bền vững, giáo dục vì sự phát triển bền vững được định nghĩa như sau: Giáo dục vì sự phát triển bền vững những là
đề ra một hướng đi mới về giáo dục và học tập cho tất cả mọi người Nó thúc đẩy giáo dục có chất lượng, và có tính ngoài nhập với tất cả mọi người Nó được dựa trên những giá trị, nguyên tắc và thực tiễn cần thiết để đáp ứng có hiệu quả với những thách thức trong hiện tại và tương lai giáo dục vì sự phát triển bền vững giúp xã hội giải quyết những vấn đề ưu tiên và vấn đề khác nhau như nước, năng lượng, biến đổi khí hậu, giảm thiểu nguy cơ và thiên tai, mất đa dạng sinh học, khủng hoảng lương thực, nguy cơ sức khỏe, hiệp hội xã hội và không an toàn giáo dục vì sự phát triển bền vững rất quan trọng với sự phát triển tư duy kinh tế mới Giáo dục vì sự phát triển bền vững góp phần xây dựng xã hội vững mạnh, lành mạnh và bền vững thông qua cách thức tiếp cận hệ thống và tích hợp Nó mang sự phù hợp, chất lượng, ý nghĩa và mục đích đến các hệ thống giáo dục và đào tạo Nó bao gồm các bối cảnh giáo dục chính quy, không chính quy, phi chính quy và tất cả các lĩnh vực của một xã hội học tập suốt đời Giáo dục vì sự phát triển bền vững được dựa trên các giá trị về sự công bằng, bình đẳng, khoan dung, quyền hạn và trách nhiệm Nó thúc đẩy bình đẳng giới, cố kết xã hội và giảm nghèo, đồng thời nhấn mạnh
sự quan tâm, liêm chính và trung thực, như đã từng được quy định trong Hiến Chương Trái đất giáo dục vì sự phát triển bền vững được dựa trên nền tảng của các nguyên tắc hỗ trợ sống bền vững, dân chủ và an sinh của con người Bảo vệ và phục hồi môi trường, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên, sử dụng các phương thức sản xuất và tiêu dùng bền vững, xây dựng các xã hội công bằng và Hòa Bình cũng là những nguyên tắc quan trọng là nền tảng cho
Trang 23giáo dục vì sự phát triển bền vững giáo dục vì sự phát triển bền vững được nhấn mạnh các cách thức tiếp cận sáng tạo và phê bình, tư duy dài hạn, sáng tạo và giải quyết vấn đề xử lí những bất ổn, và giải quyết những vấn đề phức tạp Giáo dục vì sự phát triển bền vững nêu bật sự phụ thuộc lẫn nhau giữa môi trường, kinh tế, xã hội và đa dạng văn hóa từ địa phương tới toàn cầu, trong mối quan hệ quá khứ, hiện tại và tương lai Kết nối các nhu cầu khác nhau và điều kiện sống cụ thể của mọi người, giáo dục vì sự phát triển bền vững những cung cấp các kỹ năng để tìm ra giải pháp và đúc kết các kinh nghiệm và kiến thức chuẩn sâu trong các văn hóa địa phương cũng như những
lý tưởng và công nghệ mới ảnh hưởng của giáo dục vì sự phát triển bền vững đến các mục tiêu giáo dục quốc gia như sau: Trong tiêu giáo dục quốc gia có vai trò quan trọng trong việc xây dựng tầm nhìn và các mục tiêu của một xã hội Các mục tiêu này thường phản ánh những chính sách ưu tiên trong xã hội Trong đó có các chính sách quốc gia về phát triển bền vững Giáo dục vì
sự phát triển bền vững có tác dụng xem xét lại việc xây dựng các mục tiêu giáo dục để phản ánh các ưu tiên về phát triển bền vững trong bối cảnh kinh
tế, xã hội, môi trường và văn hóa cụ thể của quốc gia
1.3 Dạy học Lịch sử hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững
Hiện nay việc dạy học các môn nói chung và môn Lịch sử nói riêng vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, ít quan tâm đến vận dụng kiến thức của bộ trong giải quyết vấn đề thực tiễn Mà sứ mệnh của việc dạy và học môn Lịch
Sử không chỉ đơn thuần là dạy cho học sinh những sự kiện hay những mốc thời gian đã diễn ra trong quá khứ mà môn Lịch Sử giúp hình thành cho học sinh khả năng tư duy, suy luận, phán đoán; khả năng giải thích những hiện tượng, sự kiện một cách logic Do đó, phương pháp và định hướng, mục tiêu dạy học của môn học này như hiện nay chưa tạo được động lực thực sự từ bên trong để học sinh chủ động tìm đến và yêu thích môn học
Trang 24Dạy học Lịch sử hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững được hiểu
là việc giúp giáo viên có tầm nhìn chiến lược, mở rộng hơn ranh giới học tập, thay vì học theo hướng liệt kê các sự kiện theo trình tự thời gian nối tiếp nhau qua các năm học, trong mỗi cấp học và chuyên sâu hơn khi lên cấp trên Mỗi giáo viên của mỗi một lớp học chỉ có nhiệm vụ giảng dạy cho học sinh những nội dung kiến thức trong sách giáo khoa và theo phân phối chương trình của
bộ theo từng năm một cách rời rạc Thì việc dạy học bộ môn lịch sử theo hướng phát triển bền vững hóa sẽ hình thành chương trình học của bộ môn theo hướng phát triển cá nhân hóa, lấy người học là trung tâm và triển khai bài giảng theo hướng tiếp cận năng lực Nội dung kiến thức trong Khung chương trình của từng năm sẽ được phân ra theo chuyên đề để giúp học sinh hình thành năng lực nghiên cứu theo từng chuyên đề đó ví dụ: Chuyên đề
“Kinh tế nước ta từ Thế Kỉ X – XIX” năng lực nghiên cứu trong chuyên đề này cụ thể học sinh hình thành tư duy khi tìm hiểu về tình hình kinh tế của bất
kì thời kì nào trước tiên cũng sẽ phải tìm hiểu về tình hình kinh tế thời kì đó như thế nào trên các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp… Tìm hiểu xem so với các thời kì trước thì thời kì này đã làm được những gì và những gì còn chưa làm được, có cái gì mới và cái gì cũ, cái
gì phát triển, cái gì chưa phát triển và lí giải lí do tại sao có thể là do chính sách thời đó hay có lí do nào khác nữa, Chuyên đề “Văn hóa nước ta từ Thế
Kỉ X-XIX” chuyên đề này sẽ giúp hình thành cho học sinh nhận thức thông thường khi tìm hiểu về tình hình văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi thời kì trước tiên cần tìm hiểu về tình hình tôn giáo, tín ngưỡng, giáo dục, khoa học kĩ thuật, nghệ thuật…Tìm hiểu xem so với các thời kì trước thì thời kì này đã làm được những gì và những gì còn chưa làm được, có cái gì mới và cái gì cũ, cái gì phát triển, cái gì chưa phát triển và lí giải lí do tại sao có thể là do chính sách thời đó hay có lí do nào khác nữa Mỗi một chuyên đề sẽ giúp học sinh hình thành được nhóm năng lực riêng của mỗi chuyên đề đó Nội dung kiến
Trang 25thức được nhóm lại và phân cấp độ nặng nhẹ từ đó tương đối theo từng lớp học và độ tuổi Mỗi một lớp chỉ cần học vài chuyên đề bên cạnh đó sẽ có những đề tài dự án bài tập lớn theo từng chuyên đề để giúp học sinh củng cố lại kiến thức, đan xen vào đó là những phương pháp dạy học chuyên biệt cho từng phần để tăng sức hấp dẫn của bài giảng Với phương pháp đó sẽ giúp học sinh không thấy nhàm chán vì nội dung của các buổi học luôn luôn được đổi mới và đa dạng, kích thích tinh thần tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo; môn Lịch sử giúp học sinh khám phá thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh để bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước; ý thức bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn và phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; tôn trọng sự khác biệt về văn hoá giữa các quốc gia và dân tộc, từ đó góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
Một số nhóm phương pháp trong dạy học Lịch Sử hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững:
Nhóm phương pháp truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm: đây là những phương pháp rất tốt để dạy học những khái niệm và thông tin cơ bản
về phát triển bền vững Có thể kể tới các phương pháp trong nhóm này như sau: kể chuyện có sự dẫn dắt của giáo viên, thảo luận lớp có sự hướng dẫn của giáo viên, khách mời diễn giả: từ các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa nói chuyện về những chủ đề và vấn đề, giải pháp phát triển bền vững tiêu biểu và thiết thực
Nhóm phương pháp lấy người học và thực tiễn làm trung tâm: đây là những phương pháp rất tốt để dạy học những kỹ năng cơ bản trong giáo dục
vì sự phát triển bền vững Có thể kể tới các phương pháp trong nhóm này như sau: mô phỏng và sắm vai, đóng kịch: học sinh thảo luận nhóm; học sinh giảng lẫn nhau; trải nghiệm, phân tích tranh ảnh, bảng biểu, bản đồ, sơ đồ;
Trang 26nghiên cứu phim, video hoặc các chương trình máy tính học qua truy vấn, phân loại và phân tích giá trị
Nhóm phương pháp học tập nâng cao năng lực hoạt động: các phương pháp này đòi hỏi học sinh tìm hiểu kiến thức bản chất vấn đề như: chúng phát sinh như thế nào? từ đó học sinh sẽ xây dựng tầm nhìn cho các kịch bản tương lai khác nhau và dự báo những thay đổi có thể xảy ra trong một bối cảnh nào đó trong khi phát triển các kỹ năng xã hội, phê phán và tư duy sáng tạo những phương pháp này đòi hỏi học sinh đặt mình vào tình huống thực tế để xây dựng năng lực ra quyết định Học sinh có năng lực hành động người có khả năng đánh giá, phản ánh và cấu trúc lại hành động của mình trong một quy trình học tập và thay đổi liên tục
Có thể kể tới các phương pháp trong nhóm này như sau: Trình bày trước lớp, phân tích truyền thống phê phán, giải quyết vấn đề tương lai, đi thực địa, các dự án đạo đức công dân ở cộng đồng, nghiên cứu điển hình
1.4 Ưu và nhược điểm của dạy học Lịch sử hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững
1.4.1 Ưu điểm của dạy học Lịch sử hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững
1.4.1.1 Đối với học sinh:
+ Vạch rõ được tầm nhìn chiến lược đối với mục đích của môn học, giúp học sinh định hướng được tương lai của môn học Đối với phương pháp học cũ học sinh chỉ biết về những sự kiện và mốc thời gian, có thể có nhưng rất ít và rất khó với tầm nhận thức của học sinh có thể nhận ra được năng lực nhận định, phán đoán và suy luận-những năng lực đặc thù chỉ có ở môn Lịch sử + Biến những kiến thức dài, khó nhớ trở lên có liên kết, dễ hình dung, dễ nhớ với việc hình thành được nhóm chuyên đề và có tips tìm hiểu đặc thù của từng phần Ví dụ như mỗi khi nhắc đến văn hóa thì học sinh sẽ nghĩ ngay là cần tìm hiểu về tôn giáo, tín ngưỡng, giáo dục…
Trang 27+ Việc thường xuyên được đổi mới phương pháp dạy và học giúp học sinh hứng thú hơn trong học tập, kèm theo những hình ảnh trực quan, sinh động,
áp dụng đa phương tiện vào giờ học
+ Việc hình thành sớm những năng lực cần thiết về bộ môn nên khi lên đại học học sinh có thể dễ dàng tiếp cận với phương pháp học tập và nghiên cứu trên đại học, giúp việc học trở lên có hiệu quả hơn
+ Giúp học sinh phát triển các kỹ năng xã hội khác như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tự học, tự tìm hiểu…
1.4.1.2 Đối với Giáo viên:
+ Giảm gánh nặng, áp lực dạy học cho giáo viên Việc dạy học theo hướng cũ không giúp học sinh hứng thú chính vì vậy giáo viên luôn luôn phải nghĩ việc đổi phương pháp giảng dạy, phải quản lí lớp ra sao để khiến giờ học trở nên hiệu quả hơn Với việc dạy học hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đi cùng với việc đổi mới phương pháp học sinh phải hoạt động nhiều hơn và tự giác hơn giáo viên không còn quá nặng nề đối với việc quản lí lớp cũng như giảng dạy
+ Dễ dàng hơn trong việc kiểm tra đánh giá và kiểm soát deadline Việc kết hợp sử dụng công nghệ và đa phương tiện giảng dạy giúp giáo viên dễ dàng kiểm soát được hạn nộp bài và làm bài của học sinh chính xác đến từng giây + Tương tác với học sinh dễ dành hơn, giảm nhẹ nội dung hoạt động trên lớp,
có thể thông báo cũng như tương tác với học sinh trên các phương tiện khác qua mạng xã hội ví dụ như zoom
1.4.2 Nhược điểm của dạy học Lịch sử hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững
1.4.2.1 Đối với học sinh
+ Nhiều nhiệm vụ hơn, khi học theo những mục tiêu và phương pháp mới này học sinh sẽ phải làm nhiều hơn, tự tìm tòi những nội dung kiến thức nhưng
Trang 28mặc dù vậy điều đó cũng phần nào giúp học sinh dễ ghi nhớ nội dung bài học hơn bao giờ hết
+ Cần có phương tiện và năng lực công nghệ thông tin ứng dụng văn phòng
cơ bản, việc kết hợp các tiện ích xã hội cũng như mạng xã hội thì học sinh phải biết sử dụng những ứng dụng và tiện ích đó ví dụ như cách sử dụng zoom, meeting, facebook… Và không phải nhà bạn nào cũng có đầy đủ phương tiện công nghệ thông tin và nhất là với học sinh vùng cao, những vùng có kinh tế kém phát triển hơn, có lẽ đây chính là trở ngại lớn nhất với cô
và trò khi áp dụng những phương pháp để dạy học môn Lịch sử hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững
1.4.2.1 Đối với giáo viên
+ Cần nâng cao các kỹ năng xã hội khác ngoài năng lực giảng dạy Các phương pháp dạy và học hiện nay tương đối đa dạng và phong phú và để tổ chức dạy và học hiệu quả đôi khi người giáo viên phải trở thành những người
MC, ban giám khảo, Cổ động viên, người tham gia, chủ tọa… Điều đó đòi hỏi
họ cần phải có thêm những kỹ năng xã hội nhất định như dẫn dắt, đánh giá, Đối với những khó khăn trên đối với tác giả lại là những yếu tố rất tích cực, nhờ điều đó khiến cho giáo viên trở nên mới mẻ hơn, năng động hơn, không
bị già hóa sự sáng tạo, luôn luôn suy nghĩ luôn luôn vận động khiến cho cả giáo viên và học sinh kích thích được tư duy sáng tạo và tinh thần học hỏi không ngừng
+ Nâng cao năng lực công nghệ thông tin Đây là yêu cầu thiết yếu chung đối với cả Cô và trò, cần phải có năng lực để sử dụng những năng lực công nghệ đó Tuy nhiên đối với hiện nay thì điều này không còn quá khó khăn khi điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, những trung tâm ứng dụng công nghệ thông tin văn phòng học nên như nấm hay những trung tâm bồi dưỡng năng lực sư phạm hoàn toàn có thể giúp cho phần lớn giáo viên khắc phục được nhước điểm này
Trang 29+ Tốn nhiều thời gian soạn giáo án hơn Việc nói ít hơn, giảng ít hơn ở trên lớp cũng đồng nghĩa với việc ở nhà giáo viên cần chuẩn bị nhiều hơn xây dựng các nội dung chính để giảng dạy, xác định những năng lực có thể nâng cao cho học sinh trong từng nội dung, biên soạn các câu hỏi, bài tập để đánh giá trình độ của học sinh, thiết kế tiến trình dạy học thành các hoạt động học của học sinh, tổ chức dạy học để dự giờ, phân tích, rút kinh nghiệm Yêu cầu cấp thiết của nhược điểm này là nâng cao năng lực của giáo viên để đáp ứng được sự phát triển không ngừng về nâng lực của học sinh
Trang 30
CHƯƠNG 2:
THIẾT KẾ CHUYÊN ĐỀ “VĂN HÓA VIỆT NAM THẾ KỶ X-XIX HƯỚNG ĐẾN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
CHO HỌC SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGỮ
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung chuyên đề “Văn hóa Việt Nam Thế Kỷ XIX” hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững
X-2.1.1 Vị trí của chuyên đề “Văn hóa Việt Nam Thế Kỷ X-XIX” hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững
Xét theo phương diện thời gian, vị trí của chuyên đề nằm trong giai đoạn từ Thế kỉ X giai đoạn đất nước vừa bước sang thời kì độc lập, Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo vốn được du nhập vào nước ta có điều kiện phát triển dưới sự trị vì của triều đình nhà Lý đến thế kỉ XIX, Biết được tình hình chung
về văn hóa ở nước ta nửa đầu thế kỷ XIX dưới vương triều Nguyễn, trước khi diễn ra cuộc kháng chiến chống cuộc xâm lược của thực dân Pháp, thống trị nước ta vào lúc chế độ phong kiến đã bước vào giai đoạn suy vong là những người kế thừa của giai cấp thống trị cũ – vương triều Nguyễn không tạo được điều kiện đưa đất nước bước sang một giai đoạn phát triển mới phù hợp với hoàn cảnh của thế giới
Xét về bố cục trên Sách giáo khoa thì nội dung chuyên đề thuộc phần hai của khung chương trình, phần lịch sử Việt Nam xuyên suốt trong 3 giai đoạn (Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XIX)
Xét theo phương diện về các lĩnh vực thì nội dung chuyên đề thuộc về lĩnh vực văn hóa, là thời kì đỉnh cao của lịch sử hình thành và phát triển văn hóa của nước ta ở chế độ phong kiến về các mặt như: tôn giáo, tín ngưỡng, giáo dục, kiến trúc điêu khắc…
Trang 312.1.2 Mục tiêu chuyên đề (lồng ghép mục tiêu hướng tới phát triền bền vững)
2.1.2.1 Mục tiêu kiến thức:
Bài học giúp học sinh hiểu được
- Hiểu được trải qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý Trần, Hồ, Lê sơ ở các thế
kỷ X – XV, công cuộc xây dựng văn hóa được tiến hành đều đặn nhất quán Đây cũng là giai đoạn hình thành của nền văn hóa Đại Việt (còn gọi là văn hóa Thăng Long) Hiểu được nền văn hóa Thăng Long phản ánh đậm đà tư tưởng yêu nước, tự hào và độc lập dân tộc Văn hóa nước ta TK XVI XIX có
sự mở rộng thêm văn hóa phương Tây
- Về tư tưởng và tôn giáo: Hiểu được sự thay đổi vai trò thống trị về tư tưởng của Phật giáo và Nho giáo Vài nét về Đạo giáo, tín ngưỡng truyền thống, sự
du nhập của Thiên Chúa giáo
- Biết được sự phát triển của giáo dục nho học thời phong kiến; sự phát triển của văn học chữ Hán và chữ Nôm
- Biết được đặc điểm nổi bật của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc ; khái quát về
sự hình thành và phát triển những loại hình sân khấu, đặc biệt là múa rối nước; hát quan họ, Nhã nhạc cung đình Huế, hát Ví dặm( Hà Tĩnh), cố đô Huế những di sản văn hóa thế giới của đất nước Việt Nam trong thế kỉ X-XIX
- Kể được những công trình khoa học đặc sắc
- So sánh được sự khác nhau về tư tưởng, tôn giáo, giáo dục, văn học, nghệ thuật giữa các giai đoạn lịch sử
2.1.2.2 Kỹ năng:
Rèn luyện kỹ năng trình bày, phân tích
Kỹ năng khai thác tranh ảnh
2.1.2.3 Thái độ:
Trang 32 Bồi dưỡng tình cảm đối với những giá trị văn hóa tinh thần của nhân dân
Bồi dưỡng ý thức bảo vệ các di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Tự hào về năng lực sáng tạo phong phú của nhân dân lao động, một khi dân trí được nâng cao
2.1.2.4 Định hình khung năng lực và năng lực chuyên biệt (gắn mục tiêu phát triển bền vững)
Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ
Năng lực chuyên biệt:
- Năng lực tái hiện các sự kiện lịch sử dân tộc, các thành tựu văn hóa trong thế kỉ X-XV
- Năng lực thực hành bộ môn: Khai thác, sử dụng tư liệu gốc, tranh ảnh lịch sử…
- So sánh, phân tích sự thay đổi vai trò thống trị về tư tưởng của Phật giáo và Nho giáo, sự hưng, suy giáo dục nho học, sự phát triển của dòng văn học chữ Hán, Nôm, dân gian…
- Vận dụng những kiến thức lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn: Biết tìm hiểu thông tin lịch sử về các nhân vật lịch sử như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du
- Biết vận dụng kiến thức liên môn các bộ môn Văn học, Địa lí giải quyết vấn đề bài học, lĩnh hội kiến thức mới
2.1.3 Nội dung chuyên đề “Văn hóa Việt Nam Thế Kỷ X-XIX” hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững
Những nội dung giáo dục vì sự phát triển bền vững ở lĩnh vực văn hóa được thể hiện trong chuyên đề bao gồm:
Trang 33Nội dung giáo
Cụ thể
Kiến thức bản
địa
x Văn hóa Thăng Long
Giá trị văn hóa x Đặc tính lớn đặc thù cho người Việt
Nam là: Yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa
- Truyền thống văn hóa Việt Nam có nhiều điểm sáng như yêu nước thương nòi, uyển chuyển
Di sản văn hóa x Di sản vật thể (Văn Miếu-Quốc tử
Giám; An Nam tứ đại khí; Quần thể lăng tầm triều Nguyễn ở Huế….); di sản phi vật thể (các làn điệu dân ca, tư tưởng…)
Các hệ thống tín
ngưỡng, tôn giáo
x Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo
Bảo tồn văn hóa x Bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và
phi vật thể trong bối cảnh hiện nay
Trang 34Phê bình văn hóa x Nhìn ra một số hạn chế của văn hóa
(đặc biệt trong giáo dục) thế kỉ X-XIX Đổi mới văn hóa x Trên cơ sở nhận thức về văn hóa dân
tộc truyền thống (thế kỉ X-XIX) để phát huy những giá trị bản sắc dân tộc để đổi mới văn hóa
2.2 Một số nguyên tắc khi dạy học Lịch sử theo mục tiêu phát triển bền vững
2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa “lý luận và thực tiễn”,
“học đi đôi với hành” và “nhà trường gắn liền với đời sống, với nhiệm vụ phát triển đất nước”
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học lịch sử, học sinh cần nắm vững tri thức, nắm vững cơ sở khoa học, kỹ thuật, văn hoá thông qua đó ý thức rõ tác dụng của tri thức lý thuyết đối với thực tiễn, hình thành cho học sinh những kỹ năng vận dụng chúng ở những mức độ khác nhau mà mức độ cao nhất là góp phần phát triển kinh tế- xã hội và văn hoá- khoa học của đất nước
Bác Hồ đã nói, đã học là phải học phải toàn diện, không những phải có tri thức phổ thông mà còn phải có đạo đức cách mạng, còn với hành theo Bác là vận dụng những điều đã học vào việc giải quyết những vấn đề do thực tiễn đề
ra, việc thực hành này không chỉ là những việc to lớn mà cả trong những việc bình thường, ai cũng làm, từ đó có thể nhận thấy nội dung khái niệm học và hành nó liên kết chặt chẽ với nhau, trong nội dung học có nội dung hành và ngược lại
Để thực hiện nguyên tắc này cần phải:
Trang 35- Về nội dung dạy học phải làm cho học sinh nắm vững lý thuyết, thấy rõ nguồn gốc của những giá trị và vai trò của kiến thức lịch sử đối với thực tiễn, phải vạch ra phương hướng ứng dụng kiến thức đó vào hoàn cảnh cụ thể đất nước và phản ánh được tình hình thực tiễn vào nội dung dạy học
- Về phương pháp dạy học cần phải giúp học sinh hiểu được vấn đề từ đó đặt
ra những câu hỏi và giải quyết những vấn đề cần lý luận bên cạnh đó cần vận dụng những phương pháp như thực nghiệm, nghiên cứu các tài liệu thực tiễn
để cho học sinh nắm nhanh và nắm chắc những tri thức lý thuyết và vận dụng những tri thức lý thuyết đó vào giải quyết những tình huống khác nhau
- Về hình thức tổ chức dạy học thì cần kết hợp các hình thức tổ chức dạy học khác nhau như hình tham quan, thực hành, thuyết trình,…
2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự
Nguyên tắc này đòi hỏi phải giúp người học lĩnh hội hay nói cách khác là nhận thức được trình tự hệ thống logic, phải cho người học biết hệ thống những kiến thức lịch sử Trong lịch sử, sự nhận thức những vật thể và hiện tượng phức tạp hơn thường đi trước sự nhận thức những thành phần của nó, trong quá trình dạy học ở trường phổ thông khi muốn trình bày về các sự kiện lịch sử thì cần phải giới thiệu bối cảnh, hoàn cảnh,… thời đại Chính vì thế hệ thống hợp lý về mặt lý luận dạy học của những giáo trình phải được xây dựng trên sự nghiên cứu cẩn thận logic của khoa học và sự phát triển của những khái niệm, định luật trong lịch sử và trong ý thức của người học sinh
Để thực hiện nguyên tắc dạy học này, về mặt nội dung dạy học cần xây dựng hệ thống dạy học cần phải phụ thuộc vào lý thuyết làm cơ sở cho việc giảng dạy, với tính tuần tự như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi để phát triển
tư duy lý luận cho học sinh
2.2.3 Nguyên tắc thống nhất vai trò chủ đạo của người dạy và vai trò tích cực, tự giác, sáng tạo độc lập của học sinh