5 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ “DANH NHÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT CHƯƠNG TRÌNH 2018 .... - Ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THU UYÊN
DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ “DANH NHÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC
SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
( CHƯƠNG TRÌNH 2018 )
KHÓA LUÂN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM LỊCH SỬ
Hà Nội – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ “DANH NHÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC
SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trang 3Em xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô khoa Sư phạm đã trang bị cho em đầy đủ những kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đề tài này
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, quý thầy cô và toàn thể các em học sinh trường THPT Việt Đức Đặc biệt cô Nguyễn Thị Minh Đức giáo viên chủ nhiệm và toàn thể HS khối 11 cùng quý thầy cô ở trường
đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong thời gian thực tập và thử nghiệm
sư phạm để hoàn thành tốt đề tài khóa luận này
Đây là lần đầu tiên em thực hiện khóa luận nên không thể tránh khỏi những sai sót kính mong được sự đóng góp ý kiến tận tình của quý thầy cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, Ngày 01 tháng 06 năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Thu Uyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4.1 Mục đích nghiên cứu 4
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
5.1 Phương pháp luận 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu 5
6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 5
7 Cấu trúc của đề tài 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ “DANH NHÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT ( CHƯƠNG TRÌNH 2018 ) 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.1.2 Một số đặc điểm của dạy học phát triển năng lực sáng tạo 11
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của dạy học phát triển năng lực sáng tạo 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Về phía GV 15
1.2.2 Về phía học sinh 17
Tiểu kết chương 1 19
Trang 5CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ ĐỀ “DANH NHÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT ( CHƯƠNG TRÌNH
2018 ) 20
2.1 Vị trí, mục tiêu và nội dung cơ bản của chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” 20
2.1.1 Vị trí 20
2.1.2 Mục tiêu dạy học 21
2.2 Nội dung chuyên đề 22
2.2.1 Nội dung 22
2.2.2 Quy trình tổ chức dạy học chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” theo hướng phát triển năng lực sáng tạo 32
2.2.3 Một số nguyên tắc, yêu cầu khi dạy học chuyên đề Lịch sử theo phát triển năng lực sáng tạo 33
2.4 Tổ chức dạy học chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” theo hướng phát triển năng lực sáng tạo 38
2.5 Thực nghiệm sư phạm 55
2.5.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 55
2.5.2 Nội dung và phương pháp thử nghiệm 56
2.5.3 Tiến trình thử nghiệm 56
2.5.4 Phân tích kết quả thử nghiệm 57
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 62
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 68
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo luôn giữ vai trò cốt tử đối với mỗi quốc gia Trong
xu thế toàn cầu hóa, giáo dục mang trong mình sứ mệnh cao cả là đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội Bởi lẽ đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đặc biệt đến sự phát triển giáo dục Điều đó được thể hiện trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc về giáo dục chỉ rõ: “Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi và kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” [28, tr.216] Trong lịch sử giáo dục, ông cha ta đã rất coi trọng giáo dục môn Lịch sử Bởi lẽ “Lá rụng về cội, sông chảy về nguồn” - mỗi con người từ khi sinh ra đã có một gia đình làm nền tảng, một quê hương yêu thương và một đất nước để tự hào Những con người ấy khi lớn lên đều muốn hiểu biết về gia đình, tổ tiên nhưng cội nguồn của mỗi con người đâu chỉ là đấng bậc sinh thành, đâu chỉ là tổ tiên của một dòng họ, đó còn là cội nguồn dân tộc, của Tổ quốc thân yêu Bởi vậy, bộ môn Lịch sử có vai trò quan trọng trong chương trình giáo dục quốc dân và có ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc đời của mỗi công dân Tổng thống Pháp Mitterrand đã từng cho rằng: những người không hiểu lịch sử dân tộc chỉ là những kẻ mồ côi Trong
sự vận động quốc tế mạnh mẽ như hiện tại, không chỉ dừng lại ở lịch sử dân tộc, khám phá tri thức lịch sử khu vực và lịch sử thế giới cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc vươn mình ra thế giới Để khẳng định giá trị môn Lịch Sử, trong Điện chúc mừng Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam ngày 16-8-
2012, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Giáo dục khoa học Lịch sử cho thế
hệ trẻ Việt Nam là vấn đề vô cùng quan trọng đối với tương lai và sự trường tồn phát triển dân tộc Lời căn dặn đó đã thể hiện lòng mong muốn đầy tâm
Trang 7huyết của Đại tướng đối với tương lai của đất nước và dân tộc” Bởi vậy, tri thức Lịch sử là một yếu tố của nền văn hóa chung cho loài người.Trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, nhiều giáo viên đã và đang đổi mới cách dạy, tích cực áp dụng các phương pháp dạy học mới nhằm phát huy tính tích cực của học Nhưng thực tế cho thấy hiện nay hầu hết các em không thích học lịch sử vì có quá nhiều các sự kiện, các mốc thời gian mà các em không thể nhớ được.Trong khi đó nhiều giáo viên truyền thụ lại những nội dung được trình bày trong sách giáo khoa, học sinh nghe và ghi chép Học sinh được làm việc chung theo cả lớp, chưa được tổ chức làm việc theo nhóm và ít được làm việc độc lập Các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử…không được trình bày một cách cụ thể, sinh động; học sinh không được trực tiếp làm việc với các sử liệu Hoạt động nhận thức của học sinh chưa trở thành trung tâm của quá trình dạy học lịch sử Học sinh ít được giao nhiệm vụ và tạo điều kiện thuận lợi để
tự mình hình thành hiểu biết về quá khứ Phương thức lĩnh hội bao trùm là nghe và ghi nhớ; do đó, những kiến thức cơ bản không được lĩnh hội vững chắc, những kỹ năng học tập Lịch sử không được hoàn thiện Trong dạy học Lịch sử,vẫn còn tồn tại nhiều trường hợp đã không tận dụng khả năng tạo ra
sự xúc động, sự rung cảm của học sinh trước các sự kiện, hiện tượng, hành động lịch sử…
Vậy làm thế nào để các em có hứng thú, say mê học môn Lịch sử Muốn học sinh ham học, thích học bộ môn Lịch sử đòi hỏi giáo viên đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực cho học sinh,giúp học sinh có hứng thú với bài học và tiếp thu kiến thức một cách chủ động hơn
Xuất phát từ lý do trên , tôi quyết định chọn đề tài : “Dạy học chuyên
đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh ở trường trung học phổ thông ( chương trình 2018 )”
làm đề tài khóa luận của mình Tôi hi vọng đề tài mình sẽ phần nào đưa
Trang 8chuyên đề Danh nhân trong lịch sử Việt Nam gần gũi với GV và HS đồng thời
hỗ trợ GV triển khai thực hiện chuyên đề tích cực và hiệu quả
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Theo tiến sĩ Robert W Mendenhall là Chủ tịch của Đại học Western Governorors (WGU), một trường đại học đào tạo trực tuyến phi lợi nhuận, dựa trên năng lực với hơn 34.000 sinh viên và 17.000 sinh viên tốt nghiệp ở tất cả 50 tiểu bang và Quận Columbia :
Những lợi ích của phương pháp dạy học dựa trên năng lực này đã được các nhà hoạch định chính sách và người có ảnh hưởng trong giáo dục công nhận Trung tâm “Vì sự Tiến bộ” của Mỹ gần đây đã cho thấy, “dạy học dựa trên việc phát triển năng lực có thể là chìa khóa để cung cấp chất lượng giáo dục phổ thông cho hàng triệu người Mỹ với chi phí thấp hơn.” Trong khi các nhà hoạch định chính sách đang ca ngợi dạy học dựa trên phát triển năng lực, thì lại chưa có đủ sự hỗ trợ để đảm bảo nó có thể được thực hiện thành công trên thực tiễn Ví dụ, các quy định về hỗ trợ tài chính thường dựa trên thời gian giảng dạy hoặc số lượng học sinh, tài liệu giảng dạy mới chỉ dừng lại ở sách giáo khoa và một vài tài liệu tham khảo giản đơn Việc biến quá trình dạy học phát triển năng lực thành xu thế chủ đạo sẽ đòi hỏi một sự thay đổi
“căn bản và toàn diện” cách tiếp cận về giáo dục của chúng ta từ trước đến nay
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là dạy học Lịch sử theo định hướng phát tiển năng lực và tổ chức dạy học chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh ở trường trung học phổ thông ( chương trình 2018 )
3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về lí luận:
Trang 9- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học phát triển năng lực và tổ chức dạy học chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh ở trường trung học phổ thông ( chương trình 2018 )
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực sáng tạo
- Nghiên cứu chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh ở trường THPT ( chương trình 2018 ) và xác định nội dung cơ bản của chuyên đề
- Xây dựng kế hoạch tổ chức dạy học cho chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh ở trường THPT ( chương trình 2018 )
- Tiến hành thử nghiệm sư phạm để chứng minh tính khả thi của kế hoạch dạy học đã đề xuất, từ đó rút ra kết luận khoa học liên quan đến đề tài
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 105.1 Phương pháp luận
Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục đào tạo nói chung, DHLS nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận qua việc sưu tầm, tổng hợp, phân tích, hệ thống, khái quát hóa các tài liệu từ sách, báo, tạp chí…về giáo dục học, sử học, phương pháp DHLS, dạy học theo chuyên đề, phân tích nội dung chuyên đề và các vấn đề có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu chương trình giáo dục môn Lịch sử phổ thông mới, nội dung cụ thể phần chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam”
- Thực nghiệm sư phạm: Ứng dụng kế hoạch dạy học đã xây dựng để tiến hành thực nghiệm sư phạm
6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài
* Ý nghĩa khoa học:
Đề tài nghiên cứu, phân tích một cách cụ thể, rõ ràng và đầy đủ về khái niệm, dạy học phát triển năng lực sáng tạo, những đặc trưng khi dạy học các chuyên đề Lịch Sử Đồng thời trình bày ý nghĩa của việc tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực sáng tạo làm tăng hiệu quả giờ học cũng như sự chủ động, tích cực, sáng tạo của HS
* Ý nghĩa thực tiễn:
Góp phần nâng cao nhận thức cho GV và học sinh, sinh viên sư phạm
về vai trò và ý nghĩa của việc tổ chức dạy học chuyên đề lịch sử theo hướng tiếp cận STEAM, đồng thời là tài liệu tham khảo cho GV trong giảng dạy lịch
sử, nâng cao năng lực sư phạm cho chính bản thân trong quá trình giảng dạy sau này
7 Cấu trúc của đề tài
Trang 11Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì khóa luận bao gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học chuyên đề đề
“Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh ở trường THPT ( chương trình 2018 )
Chương 2: Tổ chức dạy học chuyên đề đề “Danh nhân trong lịch sử Việt
Nam” nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh ở trường THPT ( chương trình 2018 )
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ “DANH NHÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG
THPT ( CHƯƠNG TRÌNH 2018 ) 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Dạy học phát triển năng lực
Dạy học dựa trên phát triển năng lực đã trở thành một chủ đề được quan tâm trong giáo dục ngày nay Nó ngày càng trở nên quan trọng hơn khi chính phủ đang nỗ lực tìm kiếm giải pháp trong cải cách giáo dục và đo lường chính xác hơn kết quả học tập của học sinh Hầu hết các trường học đều tuyên bố là
họ đang dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhưng lại không thể định nghĩa được một cách chính xác được về nó, vì vậy việc xác định lại khái niệm học tập dựa trên phát triển năng lực là gì? và nó mang lại lợi ích gì cho mỗi trường học cũng như hệ thống giáo dục nói chung?
Dạy học dựa trên phát triển năng lực là gì và điều gì làm cho nó khác biệt? Đặc điểm quan trọng nhất của dạy học phát triển năng lực là đo được
“năng lực” của học sinh hơn là thời gian học tập và cấp lớp Học sinh thể hiện
sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của mình, điều đó có nghĩa là chúng phải chứng minh mức độ làm chủ/nắm vững kiến thức và kỹ năng (được gọi là năng lực) trong một môn học cụ thể, cho dù mất bao lâu Mặc dù các mô hình học truyền thống vẫn có thể đo lường được năng lực, nhưng chúng phải dựa vào thời gian, các môn học được sắp xếp theo cấp lớp vào từng kì học, năm học Vì vậy, trong khi hầu hết các trường học truyền thống đều cố định thời gian học tập (theo năm học) thì dạy học phát triển năng lực lại cho phép chúng ta giữ nguyên việc học và để thời gian thay đổi học
Dạy học dựa trên phát triển năng lực tốt hơn cho phép mọi học sinh học tập, nghiên cứu theo tốc độ của riêng của chúng
Trang 13Chúng ta đều thừa nhận rằng, mỗi học sinh là một cá thể độc lập với sự khác biệt về năng lực, trình độ, sở thích, nhu cầu và nền tảng xuất thân Dạy học phát triển năng lực thừa nhận thực tế này và tìm ra được những cách tiếp cận phù hợp với mỗi học sinh Không giống như phương pháp “một cỡ vừa cho tất cả” một chiếc áo tất cả đều mặc vừa, nó cho phép học sinh được áp dụng những gì đã học, thông qua sự gắn kết giữa bài học và cuộc sống Điều này cũng giúp học sinh thích ứng với những thay đổi của cuộc sống trong tương lai Đối với một số học sinh, dạy học phát triển năng lực cho phép đẩy nhanh tốc độ hoàn thành chương trình học, tiết kiệm thời gian và công sức của việc học tập
Để triển khai một cách hiệu quả, dạy học phát triển năng lực cần phải:
1 Đánh giá “năng lực” của học sinh hơn là thời gian học
Khai thác các thế mạnh của công nghệ cho việc dạy và học Hướng dẫn qua máy tính cho chúng ta khả năng cá nhân hóa việc học cho mỗi học sinh Bởi
vì mỗi học sinh ở một tốc độ khác nhau và đến trường với kiến thức khác nhau, đây là một yêu cầu cơ bản của dạy học dựa trên năng lực
2 Thay đổi căn bản vai trò của giáo viên, khi các giáo viên trước kia thường làm việc với học sinh theo các lớp, dạy học theo lịch trong một số tuần quy định, giáo viên là người trực tiếp đưa hướng dẫn và kiểm soát quá trình học tập Đối với học sinh, điều này không phù hợp Một số học sinh sẽ cần chậm lại, một số khác có thể cần hoạt động nhanh hơn Học tập dựa trên phát triển năng lực làm thay đổi vai trò của giáo viên từ “một nhà hiền triết, suối nguồn của tri thức” đến “ người hướng dẫn, đồng hành” Các giáo viên làm việc với học sinh, hướng dẫn chúng học tập, trả lời các câu hỏi, hướng dẫn thảo luận và giúp học sinh tổng hợp và áp dụng kiến thức
3 Xác định năng lực và phát triển các đánh giá phù hợp, tin cậy Tiền đề
cơ bản của dạy học phát triển năng lực là chúng ta xác định những năng lực
Trang 14học sinh tốt nghiệp Điều này có nghĩa là chúng ta phải xác định các năng lực một cách rất rõ ràng Lấy nhu cầu của xã hội tương lai làm cơ sở Khi các năng lực được thiết lập, chúng ta cần các chuyên gia đánh giá để đảm bảo rằng chúng ta đo lường được một cách chính xác nhất có thể
1.1.1.2 Sáng tạo và năng lực sáng tạo
Sáng tạo là hoạt động mang tính tinh thần của mỗi cá nhân và mỗi người lại có cách thức và con đường sáng tạo khác nhau Vì lẽ đó, việc nghiên cứu nhằm tìm ra quy luật chung cho sự sáng tạo là một nhiệm vụ không hề dễ dàng Cho đến nay, hầu hết các định nghĩa về sáng tạo đều tập trung nhấn mạnh vào đặc điểm của sản phẩm sáng tạo Tác giả Phan Dũng và một số nhà nghiên cứu khác đều cho rằng “sáng tạo là hoạt động tạo ra cái gì đồng thời
có tính mới và tính ích lợi”
Dựa vào sản phẩm để đánh giá quá trình tạo ra nó là một hướng đi cần thiết để gọi tên, khu biệt một hoạt động khi người ta không thể quan sát trực tiếp được nó Tuy nhiên, hướng đi này do chỉ đi tìm những dấu hiệu cụ thể để chứng minh cho cái gọi là “sáng tạo” nên dễ rơi vào những nhận định, đánh giá chủ quan Hơn thế nữa, một sản phẩm sáng tạo của một hay nhiều cá nhân cũng chưa đủ cơ sở để khái quát thành một lí thuyết về hoạt động tạo ra nó
Vì thế, Amabile cho rằng một sản phẩm hay một hoạt động nào đó được gọi
là sáng tạo không chỉ dựa vào đặc điểm của sản phẩm được tạo ra mà còn phải căn cứ vào cách thức, con đường làm ra sản phẩm đó như thế nào Ông quan niệm hoạt động sáng tạo “phải có tính trực giác chứ không mang tính logic” Như vậy, sáng tạo không chỉ là hoạt động hướng tới mục tiêu tạo ra cái mới, có tính hữu dụng, cần thiết cho hoạt động của con người mà còn phải
là một hướng đi mới, con đường mới chưa được nghiên cứu, xác lập thành quy luật phổ biến Quan niệm của Amabile về cơ bản vẫn dựa trên tiêu chuẩn
về “cái mới” nhưng ông đã cố gắng phân biệt hoạt động sáng tạo với các hoạt động mang tính logic
Trang 15Xuất phát từ khái niệm “sáng tạo” và các yếu tố có liên quan, các nhà nghiên cứu tâm lí học đã đưa ra định nghĩa về “năng lực sáng tạo”: “là khả năng tạo cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ của con người”; “là khả năng tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân dựa trên tổ hợp các phẩm chất độc đáo của cá nhân đó” Có thể nói, những quan niệm về năng lực sáng tạo nói trên đều thống nhất cho rằng đó là khả năng tạo ra cái mới có giá trị dựa trên những phẩm chất độc đáo của cá nhân như tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo và ý chí Những định nghĩa nói trên đã giúp chúng ta phân biệt năng lực sáng tạo với các năng lực khác của con người Tuy nhiên, để có cơ sở đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong quá trình dạy học nói chung và dạy học làm văn nói riêng, thiết nghĩ, chúng ta cần phải làm rõ hơn những thuộc tính, biểu hiện cụ thể của năng lực này Căn
cứ vào thành tựu nghiên cứu về tâm lí học sáng tạo, chúng tôi cho rằng, năng lực sáng tạo được thể hiện ra ở những khả năng sau:
1 Khả năng phát hiện ra những điểm tương đồng, khác biệt cũng như mối liên hệ giữa nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau trong đời sống Người có năng lực sáng tạo thường có thói quen quan sát, so sánh và nhất là khả năng tưởng tượng, liên tưởng rất tốt “Tưởng tượng tự do giúp tạo ra những hình ảnh, cấu thành, thiết kế mới hữu ích mà trong điều kiện tư duy duy lí thông thường không có được” Vì thế nên tưởng tượng trở thành một trong những yếu tố rất quan trọng trong tư duy sáng tạo của con người và là khởi nguồn cho mọi phát minh sau này Nếu không tưởng tượng, không có mong muốn biết bay như loài chim thì chắc hẳn con người không thể thiết kế được máy bay như ngày hôm nay
2 Khả năng tìm tòi, phát hiện ra những vấn đề mới, những giải pháp mới dựa trên những kiến thức, kinh nghiệm đã có hay những hạn chế, bất cập đang tồn tại hiện hữu Biểu hiện này thường xuất hiện ở những người có động cơ sáng
Trang 16cho cá nhân hay cộng đồng và đặc biệt là phải có một nền tảng tri thức phong phú cũng như khả năng phân tích, suy luận đúng đắn Nếu không thấy được những hạn chế trong việc thông tin, liên lạc, các nhà khoa học khó có thể phát minh được điện thoại di động Điều này còn được thể hiện ở việc nâng cấp, cải tiến những công cụ, phương tiện khác theo hướng tiện dụng hơn
3 Khả năng giải quyết vấn đề bằng nhiều con đường, cách thức khác nhau; phân tích, đánh giá vấn đề ở nhiều phương diện, góc nhìn khác nhau Cùng một vấn đề, một bài toán đặt ra, người có năng lực sáng tạo thường tìm kiếm, phát hiện được nhiều hướng giải quyết, nhiều ý tưởng khác nhau Người có năng lực sáng tạo thường không dễ dàng chấp nhận những gì đã có mà luôn tìm tòi những cách giải quyết mới, biện pháp mới
4 Khả năng phát hiện ra những điều bất hợp lí, những bất ổn hay những quy luật phổ biến trong những hiện tượng, sự vật cụ thể dựa trên sự tinh tế, nhạy cảm và khả năng trực giác cao của chủ thể
dạy học phát triển năng lực sáng tạo cũng nhằm phát triển các tiềm năng sáng tạo của học sinh, giúp các em trở thành những cá nhân sáng tạo
1.1.2 Một số đặc điểm của dạy học phát triển năng lực sáng tạo
Vai trò của học sinh
Với phương pháp dạy học phát triển năng lực thì học sinh luôn luôn đóng vai trò là trung tâm,giáo viên chỉ là người giúp đỡ, hướng dẫn Tức là học sinh phải tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức, với sự tổ chức, hướng
dẫn của GV
Giáo viên khi đặt các mục tiêu phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong các mục tiêu dạy học nhất thiết phải xác định được các công cụ, phương pháp sáng tạo và nguyên liệu ngay từ khâu chuẩn bị bài
Giáo viên đóng vai trò then chốt
Nền giáo dục Việt Nam còn thấp so với nền giáo dục của nhiều nước trên thế giới Phương pháp dạy học truyền thống vẫn phổ biến, học sinh phải
Trang 17học thêm quá nhiều Học thêm tốn thời gian và sức lực của học sinh và làm cho các em mệt mỏi
Giáo viên sử dụng chưa có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực, ít chú trọng phát triển sáng tạo cho học sinh vì họ không được khuyến khích dạy học để phát triển năng lực sáng tạo Trong khi đó giáo viên chỉ có thể phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh khi bản thân họ có được năng lực dạy học phát triển sáng tạo và có một môi trường thuận lợi để phát huy sự sáng tạo của bản thân trong quá trình dạy học
Để giúp học sinh phát triển năng lực sáng tạo trong các môn học thì bản thân giáo viên phải có có kiến thức và kĩ năng chuyên môn sư phạm Cụ thể
đó là kiến thức về các lĩnh vực khoa học; hiểu biết bản chất của sự sáng tạo và những phẩm chất năng lực cần có để một người sáng tạo
Tiềm năng sáng tạo của học sinh ở các độ tuổi khác nhau có những đặc điểm riêng đòi hỏi giáo viên phải nắm bắt và vận dụng trong quá trình dạy học để phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh một cách phù hợp
Thực tế cho thấy, giáo viên đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh vì vậy họ cần được đào tạo để có được kĩ năng dạy học phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh Sự sáng tạo của giáo viên ảnh hưởng đối với học sinh cũng như nhà trường và phụ thuộc vào môi trường làm việc của họ
Với yêu cầu đổi mới giáo dục chuyển từ dạy học truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực cho người học thì yếu tố quan trọng đầu tiên quyết định quá trình này chính là giáo viên với các năng lực sư phạm tương ứng… Muốn vậy, các chương trình đào tạo và bồi dưỡng cần được xây dựng dựa trên những năng lực dạy học phát triển sáng tạo mà giáo viên cần có Chỉ khi nào đội ngũ giáo viên có được các năng lực tương ứng cộng với những chính sách phù hợp để thực hiện chương trình giáo dục mới thì các năng lực của
Trang 18Để dạy học phát triển năng lực sáng tạo, giáo viên phải sử dụng các phương pháp và công cụ sáng tạo trong suốt quá trình dạy học và đánh giá năng lực người học, đồng thời đánh giá sự phát triển năng lực sáng tạo của học sinh qua ý tưởng và sản phẩm mà các em sáng tạo ra theo một số tiêu chí
về tính mới, tính độc đáo và tính hữu ích…
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của dạy học phát triển năng lực sáng tạo
Dạy học phát triển năng lực sáng tạo tạo điều kiện để học sinh làm chủ quá trình học tập của bản thân Bởi việc tự kiểm soát quá trình học tập dẫn đến sự sáng tạo, tạo sự hứng thú và đam mê học tập với cảm giác được làm chủ bản thân, được thể hiện nay trải nghiệm và cảm giác thuộc về một nhóm với sự chấp nhận những mong muốn chung khi thực hiện các hoạt động hợp tác
Về kiến thức, người học có được là khả năng áp dụng vào thực tiễn.Phát huy sự tìm tòi nên người học không phụ thuộc vào Giáo trình/Tài liệu/Sách giáo khoa.Phát huy khả năng ứng dụng nên sản phẩm GD là những con người năng động, tự tin Về kỹ năng, dạy học phát triển năng lực sáng tạo đề cao sự phát triển năng lực giải quyết vấn đề và nâng cao khả năng sáng tạo cho người học Trong mỗi bài học, người học được đặt trước một tình huống thực tế cần giải quyết liên quan đến các kiến thức đã học Để giải quyết vấn đề đó, người học phải tìm tòi, nghiên cứu những kiến thức thuộc các môn học có liên quan đến vấn đề và sử dụng chúng để giải quyết vấn đề đặt ra Các hoạt động này giúp người học không chỉ hiểu sâu hơn về các khái niệm và nguyên lý, mà còn có khả năng tư duy sáng tạo và đưa ra được những quyết định tốt
Về thái độ, trong một khía cạnh quan trọng khác của dạy học phát triển năng lực sáng tạo là giúp người học phát triển đạo đức và lương tâm xã hội Các chủ đề dạy học phát triển năng lực sáng tạo có thể giải quyết các tình huống thực tế về xã hội, kinh tế, sức khỏe, an toàn và môi trường trong cộng đồng của người học, cả trong nước và trên thế giới Trước tiên, người học xác
Trang 19định các tình huống cần xử lý, sau đó nghiên cứu và suy nghĩ các ý tưởng để khắc phục những vấn đề đó Khi thực hiện quá trình này, người học nhận thức
rõ hơn về nhu cầu nhận diện và giải quyết các vấn đề ảnh hưởng đến cộng đồng nơi họ sinh sống Từ đó, người học biết quan tâm đến môi trường xung quanh mình và có ý thức phát triển xã hội trở nên ngày càng tốt đẹp hơn
1.2 Cơ sở thực tiễn
Để tìm hiểu cơ sở thực tiễn cho đề tài, tôi đã tiến hành khảo sát tình hình thực tế sử dụng phương pháp tranh luận trong DHLS ở trường THPT Việt Đức
- Địa điểm của thời gian khảo sát: Tôi tiến hành điều tra, khảo sát GV ở trường THPT Việt Đức (Địa chỉ: 47 Lý Thường Kiệt- Hoàn Kiếm - Hà Nội)
- Đối tượng khảo sát: 4 GV lịch sử và 317 HS khối lớp 11 tại trường THPT Việt Đức
- Kế hoạch tiến hành: Soạn phiếu điều tra, sau đó tiếp xúc, phỏng vấn và phát phiếu điều tra xin ý kiến GV và học sinh
- Nội dung khảo sát:
+ Nhận thức và thái độ của GV, HS về dạy học chuyên đề, dạy học phát triển năng lực sáng tạo và việc tổ chức dạy học chuyên đề trong DHLS tại trường THPT theo hướng phát triển năng lực sáng tạo
+ Những kết luận rút ra từ thực tiễn tổ chức dạy học chuyên đề trong DHLS
và theo hướng phát triển triển năng lực sáng tạo ở trường phổ thông
- Các phương pháp điều tra, khảo sát:
Trang 20Thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn GV dạy học bộ môn Lịch sử, các em HS ,tôi đã điều tra 4 GV, 317 HS và thu được kết quả về tình hình thực tế như sau:
1.2.1 Về phía GV
Tôi đưa ra một số câu hỏi nhằm tìm hiểu về thực trạng và nhận thức của
GV đối với việc tổ chức dạy học chuyên đề trong DHLS theo hướng phát
triển năng lực, kết quả thu được như sau:
Thứ nhất, về nhận thức của GV về tổ chức dạy học chuyên đề trong DHLS: Khi được hỏi về việc thực hiện tổ chức dạy học chuyên đề trong DHLS thu được kết quả như sau:
Tìm hiểu về mức độ cần thiết của việc tổ chức dạy học chuyên đề thì 100% các thầy/cô đều trả lời là cần thiết Qua trò chuyện với cô giáo Nguyễn Thị Minh Đức - GV lịch sử trường THPT Việt Đức chia sẻ rằng: “Dạy học chuyên đề thực sự là cần thiết, theo cách đó, HS có thể hệ thống kiến thức hiệu quả rõ ràng và chi tiết thông qua từng chuyên đề Tuy nhiên, hiện tại, dạy học chuyên đề mới chỉ được tổ chức thường xuyên ở khối lớp 12 và chưa có điều kiện thực hiện rộng ở các khối 10 và 11”
Các hình thức dạy học được thầy cô sử dụng linh hoạt khi tổ chức dạy học tập trung nhiều nhất vào 3 hình thức là: dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân và dạy học cả lớp Tuy nhiên đây là những hình thức dạy học khá truyền
Trang 21thống, vì nhiều lý do khách quan như khung chương trình đào tạo, điều kiện
cơ sở vật chất, kinh phí lớp học, thời gian nên hình thức dạy học ngoài lớp và tham quan, dã ngoại chưa được áp dụng để thực hiện dạy học chuyên đề Như vậy, kết quả điều tra cho thấy các thầy/cô giáo rất quan tâm đến việc thực hiện tổ chức dạy học chuyên đề với các hình thức khác nhau Tuy nhiên , dạy học chuyên đề mới tập trung vào các lớp 12, đặc biệt là các lớp ban D ôn thi môn Lịch sử chuẩn bị cho kỳ thi THPT Quốc gia Còn ở các lớp dưới tần suất các thầy/ cô sử dụng vẫn còn rất thấp
Thứ 2, về thái độ của GV về việc đưa chuyên đề “Danh nhân trong lịch
sử Việt Nam” vào chương trình giảng dạy môn lịch sử tại trường THPT Để tìm hiểu được thái độ của các thầy/ cô, chúng tôi đưa ra 4 mức độ (rất phù hơp, phù hơp, phân vân, không phù hơp) Các thầy cô đều đồng ý rằng chuyên đề này rất phù hợp để giáo dục HS phổ thông
Thứ 3, tìm hiểu nhận thức và thái độ của thầy/ cô về dạy học phát triển năng lực sáng tạo
Khi được hỏi “Thầy/ cô đã từng tiếp cận dạy học phát triển năng lực sáng tạo?” Có 40% thầy/cô “hiểu đôi chút về dạy học phát triển năng lực sáng tạo” Và 60% GV “Chưa biết đến dạy học phát triển năng lực sáng tạo” Chính
vì lẽ đó mà tất cả các thầy/cô đều “rất ít” vận dụng dạy học phát triển năng lực sáng tạo Kết quả trên cho thấy, dạy học phát triển năng lực sáng tạo còn rất là mới mẻ và chưa được phổ rộng trong giảng dạy ở trường THPT nói chung và môn Lịch sử nói riêng
Vì chưa từng thực hiện tiết dạy ứng dụng dạy học phát triển năng lực sáng tạo nên chúng tôi không khai thác được những điểm tích cực và hạn chế khi vận dụng dạy học phát triển năng lực sáng tạo Tuy nhiên để có thêm dẫn chứng cho nội dung này,tôi xin khai thác từ nguồn thông tin khác là internet- mạng xã hội facebook
Trang 22Cuối cùng, khi được hỏi về ý kiến rằng có mong muốn được dạy học phát triển năng lực sáng tạo vào DHLS thì có 70% thầy/cô tỏ ra rất hào hứng muốn thực hiện; 30% thầy/cô còn ngập ngừng phân vân Các cô chia sẻ rằng : rất muốn thực hiện song cảm thấy rất khó thực hiện được vì nhiều điều kiện chưa đáp ứng tốt để có thể tổ chức dạy học phát triển năng lực sáng tạo
1.2.2 Về phía học sinh
Để tìm hiểu sự hứng thú học tập của HS đối với bộ môn và khả năng ứng dụng việc tổ chức dạy học chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh, tôi đã tiến hành khảo sát, điều tra thực tiễn thu được kết quả như sau:
Khi được hỏi “Theo các em, có cần thiết tổ chức dạy học chuyên đề hay không?” thì có 35 % các em cho rằng: “Cần thiết” Đa số 52% HS cho rằng:
“Bình thường” và 13% HS chọn “Không cần thiết”
Lý giải cho số lượng lớn HS thấy việc tổ chức dạy học chuyên đề chủ yếu nằm ở mức độ “Bình thường” bởi theo yếu tố khách quan đối tưởng chúng tôi thực hiện khảo sát là các lớp khối 11, các em chưa được tham gia nhiều các tiết dạy chuyên đề mà chủ yếu vẫn học theo đợn vị bài trong sách giáo khoa và có thể vì yếu tố chủ quan xuất phát từ thực tế HS không hứng thú với môn Lịch sử như hiện nay Cùng với đó, chúng tôi đưa ra câu hỏi “Em cảm thấy thế nào khi tham gia các giờ học chuyên đề” thì có tới 50% các em cảm thấy hứng thú, 31% cảm thấy bình thường và 19% cảm thấy không hứng thú Như vậy, ít nhiều những giờ dạy chuyên đề đã thu hút tạo hứng thú cho 1/2 đối tượng học sinh Trao đổi với 1 HS chọn “Không hứng thú” để hiểu hơn lý do chúng tôi được em chia sẻ rằng: “ Những tiết học chuyên đề thực sự vẫn có nhiều lý thuyết, em chưa cảm thấy sự mới mẻ trong các giờ học” Như vậy, thay đổi từ dạy học theo bài sang dạy học chuyên đề đã là 1 sự thay đổi lớn trong việc tổ chức dạy học nhưng việc thiết kế hoạt động là một thử thách lớn hơn
Trang 23Khảo sát về thái độ của HS về việc đưa chuyên đề “Danh nhân trong lịch
sử Việt Nam” vào chương trình giảng dạy Lịch sử với các mức độ khác nhau (Rất phù hơp, phù hợp, phân vân và không phù hợp” Kết quả thu được là 27% đồng ý là “Rất phù hơp”; 25% cho rằng “Phù hợp”; 29% chọn “Phân vân” và 19% thấy “Không phù hợp” Số lượng HS lựa chọn các đáp án với tỉ
lệ phần trăm tương đối gần nhau cho, bởi lẽ các em HS chưa biết cụ thể nội dung chuyên đề đó mà nhận định còn khá mơ hồ thông qua tên đề tài
Từ đó, tôi mong muốn thiết kế một kế hoạch giảng dạy chuyên đề này theo hướng dạy học phát triển năng lực sáng tạo để các em có cái nhìn mới
mẻ và thấy được những điều thú vị của môn Lịch sử mà trước đây các em nghĩ là khô khan
Trang 24Tiểu kết chương 1
Thông qua việc nghiên cứu những cơ sở lí luận về tổ chức dạy học phát triển năng lực sáng tạo, tôi đã bước đầu góp phần làm sáng tỏ nội dung chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh ở trường trung học phổ thông (chương trình 2018 )
Qua đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh những đặc điểm, ý nghĩa, hiệu quả của việc vận dụng dạy học phát triển năn lực sáng tạo vào DHLS, đồng thời dạy học phát triển năng lực sáng tạo cũng được coi là một con đường mới hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ cho, góp phần hình thành những năng lực chung và chuyên biệt cho HS trong DHLS
Việc tìm hiểu thực trạng dạy học phát triển năng lực sáng tạo và hoạt động tổ chức dạy học chuyên đề lịch sử ở trường THPT, chúng tôi nhận thấy một thực trạng: dạy học chuyên đề đã dần được đưa vào giảng dạy tại trường phổ thông đánh dấu sự thay đổi linh hoạt thay đổi cách dạy và học lịch sử với những phương pháp dạy học khác nhau Tuy nhiên việc thực hiện dạy học chuyên đề chưa đồng đều giữa các khối lướp và chưa thực sự hấp dẫn mang tính ưu việt vượt trội hơn hẳn dạy học truyền thống Đồng thời quá trình khảo sát về dạy học phát triển năng lực cho thấy hướng tiếp cận dạy học phát triển năng lực sang tạo còn rất bỡ ngỡ với cả GV và học sinh Bởi vậy, đặc biệt đây còn là ẩn số khi vận dụng vào DHLS mà chúng tôi đang từng bước đi tìm lời giải
Triết lý giáo dục của UNESCO là: học để biết - học để làm - học để chung sống Không nằm ngoài sứ mệnh đó, giáo dục lịch sử có vai trò quan trọng giáo dục nên những công dân tốt ,đem những điều tốt đẹp cống hiến cho
xã hội Với dạy học phát triển năng lực sáng tạo sẽ giúp các em có thể kích thích sáng tạo và giải quyết những vấn đề cụ thể trong cuộc sống Từ đó các
em có niềm tin vào những tri thức mà mình đã khám phá và biết phát triển cho những ý tưởng bản thân Điều này không chỉ có giá trị đối với việc học tập bộ môn mà còn có giá trị lớn đối với cuộc sống của các em
Trang 25CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ ĐỀ “DANH NHÂN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT ( CHƯƠNG TRÌNH 2018 ) 2.1 Vị trí, mục tiêu và nội dung cơ bản của chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam”
2.1.1 Vị trí
Theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử ban hành năm 2018
đã thực hiện một cuộc “thay da đổi thịt” cho chương trình giáo dục môn Lịch
sử tại trường THPT Theo đó, nội dụng bài học không còn dưới dạng các đợn
vị bài học như trước nữa mà thay vào đó là xây dựng thành các chuyên đề học tập Ở cấp THPT, Lịch sử là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh, thuộc nhóm môn Khoa học xã hội Thông qua hệ thống các chuyên đề về lịch sử thế giới, lịch sử khu vực Đông Nam Á và lịch sử Việt Nam, môn Lịch sử giúp HS phát triển năng lực
sử học, đặc biệt là tư duy lịch sử, các khả năng thu thập và xử lý sử liệu, kết nối quá khứ với hiện tại, vận dụng các bài học lịch sử vào việc giải quyết những vấn đề của thực tế cuộc sống Đồng thời, môn Lịch sử giúp HS nhận thức được giá trị khoa học và giá trị thực tiễn của Sử học trong đời sống xã hội hiện đại Năng lực sử học và hiểu biết về giá trị thực tiễn của Sử học sẽ góp phần quan trọng vào việc định hướng cho HS lựa chọn những ngành nghề liên quan như: nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, ngoại giao, quản lý, lãnh đạo, hoạt động du lịch, văn hoá, thông tin truyền thông,…từ đó tăng cường hoạt động trải nghiệm thực tế, giúp HS phát triển tình yêu, sự say mê, hứng thú tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt Nam, lịch sử thế giới
Theo đó Chương trình đổi mới của Bộ giáo dục và đòa tạo, Chuyên đề “ Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” nằm trong nội dung Lịch sử Việt Nam thuộc chương trình học lớp 11.Đây là chuyên đề thể hiện quá khứ lịch sử đưa
Trang 26tin tưởng ở khí phách, tài trí, lòng yêu cũng như những đóng góp của những con người đã cống hiến hết mình cho đất nước Vì vậy, nó có một vị trí quan trọng góp phần hoàn thiện kiến thức lịch sử Việt Nam cho HS THPT và có ý nghĩa không nhỏ trong việc thực hiện mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và thái
độ của toàn bộ chuyên đề lịch sử theo chương trình đổi mới của Bộ giáo dục
và Đào tạo
Việc vận dụng dạy học phát triển năng lực sáng tạo trong dạy học Chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử ViệtNam” sẽ giúp cho các em tiếp cận kiến thức một cách mới mẻ và hứng thú Đồng thời , giúp các em phát triển được năng lực sáng tạo cho bản thân
2.1.2 Mục tiêu dạy học
Hiện nay phần lớn GV và hầu hết các sách hướng dẫn biên soạn giáo án đều xác định mục tiêu bài học trên cả ba mặt: Kiến thức, kỹ năng, thái độ Nhiệm vụ của GV không phải chỉ là chọn lọc kiến thức trong SGK để giảng dạy mà điều quan trọng là GV phải dẫn dắt, nêu vấn đề để các em chủ động tiếp thu, lĩnh hội kiến thức, giúp các em là chủ thể của nhận thức và là người khám phá, kiến tạo tri thức cho mình
Đối với nội dung chuyên đề này cần thực hiện các mục tiêu sau:
* Về kiến thức
– Giải thích được khái niệm danh nhân
– Nêu được nét chính về vai trò của danh nhân trong lịch sử dân tộc
– Nêu được nhận xét về những đóng góp chính của các nhà chính trị nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam thời cổ – trung đại
– Đánh giá được vai trò của danh nhân quân sự trong lịch sử Việt Nam
– Nêu được nhận xét về những đóng góp chính của danh nhân văn hoá trong lịch sử Việt Nam thông qua ví dụ cụ thể
– Nêu được nhận xét về đóng góp chính của danh nhân trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và giáo dục – đào tạo thông qua ví dụ cụ thể
Trang 27* Về kỹ năng
– Biết cách sưu tầm và sử dụng tư liệu lịch sử để hiểu được thân thế, sự nghiệp của một số nhà chính trị nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam thời cổ – trung đại
– Biết cách sưu tầm và sử dụng tư liệu lịch sử để hiểu được thân thế, sự nghiệp của một số danh nhân quân sự trong lịch sử Việt Nam
– Biết cách sưu tầm và sử dụng tư liệu lịch sử để hiểu về một số danh nhân văn hoá trong lịch sử Việt Nam
– Biết cách sưu tầm và sử dụng tư liệu lịch sử để hiểu về một số danh nhân trong lịch sử Việt Nam về lĩnh vực khoa học – công nghệ và giáo dục – đào tạo
- Năng lực chuyên biệt: Tái hiện sự kiện, xác định mối liên hệ giữa các
sự kiện hiện tượng lịch sử, tìm kiếm thông tin và phát hiện kiến thức và HS tự đưa ra nhận xét, đánh giá của bản thân về các sự kiện lịch sử
2.2 Nội dung chuyên đề
Trang 28- Khái niệm danh nhân: Danh nhân là người có danh tiếng và được xã hội công nhận
- Vai trò của danh nhân trong lịch sử dân tộc:Dù là ở lĩnh vực nào thì những đóng góp mà những danh nhân cho lịch sử Việt Nam đều vô cùng to lớn,góp phần xây dựng nên một Việt Nam hòa bình độc lập và phát triển như ngày nay
2 Một số nhà chính trị nổi tiếng của Việt Nam thời cổ – trung đại
Đinh Bộ Lĩnh sinh năm 924 tại Hoa Lư Lớn lên tại một ngôi làng địa
phương trong sự tan rã của nhà Đường Trung Quốc đã thống trị Việt Nam trong nhiều thế kỷ, Đinh Bộ Lĩnh trở thành một nhà lãnh đạo quân sự địa phương khi còn rất trẻ Từ thời kỳ hỗn loạn này, chính thể độc lập đầu tiên của Việt Nam đã xuất hiện khi lãnh chúa Ngô Quyền đánh bại lực lượng của Nam Hán trong Trận chiến đầu tiên của sông Bạch Đằng vào năm 938 Tuy nhiên, nhà Ngô rất yếu và không thể thống nhất Việt Nam Đối mặt với tình trạng hỗn loạn trong nước được sản xuất bởi sự cạnh tranh của 12 lãnh chúa phong kiến để kiểm soát đất nước , cũng như mối đe dọa bên ngoài do Nam Hán đại diện, tự coi mình là người thừa kế vương quốc cổ đại Nan Yue đã bao trùm không chỉ miền nam Trung Quốc mà cả vùng Bắc Bộ của miền bắc Việt Nam, Đinh Bộ Lĩnh tìm kiếm một chiến lược để thống nhất chính trị Việt Nam Sau cái chết của vị vua Ngô cuối cùng vào năm 965, ông nắm quyền lực
và thành lập một vương quốc mới, thủ đô của nó nằm ở quận Hoa Lư Để thiết lập tính hợp pháp của mình liên quan đến triều đại trước, ông kết hôn với một người phụ nữ của nhà Ngô
Đền dành riêng cho hoàng đế Đinh Tiên Hoàng tại cố đô Hoa Lư - Ninh Bình
Trong những năm đầu cầm quyền, Đinh Bộ Lĩnh đặc biệt cẩn thận để tránh đối kháng Nam Hán Tuy nhiên, vào năm 968, ông đã thực hiện bước đi đầy khiêu khích khi nhận tước hiệu Hoàng đế (Hoàng đế) và qua đó tuyên bố
Trang 29độc lập khỏi sự thống trị của Trung Quốc Ông thành lập triều đại Đinh và gọi vương quốc của mình là Đại Cồ Việt Tuy nhiên, quan điểm của ông đã thay đổi khi nhà Tống hùng mạnh sáp nhập Nam Hán vào năm 971 Năm 972, Đinh Mục Lĩnh đã ăn nhập với nhà Tống bằng cách gửi một sứ mệnh cống nạp để chứng tỏ sự ghen tị của mình với Hoàng đế Trung Quốc Hoàng đế Taizu của nhà Tống sau đó đã công nhận người cai trị Việt là Giao ChỉQuận Vương (Vua Giao Chi), một tước hiệu thể hiện mối quan hệ lý thuyết về chư hầu để phục tùng đế chế Nhận thức rõ về sức mạnh quân sự của Tống, và mong muốn bảo vệ sự độc lập của đất nước mình, Đinh Bộ Lĩnh đã đạt được một thỏa thuận không xâm lược để đổi lấy các khoản phải trả cho tòa án Trung Quốc cứ sau ba năm
Trần Thủ Độ ( 1194 – 1264), cũng gọi Trung Vũ đại vương ,là một nhà
chính trị Đại Việt, sống vào thời cuối triều Lý đầu triều Trần trong lịch sử Việt Nam Ông đóng vai trò quan trọng trong các sự kiện lật đổ nhà Lý, lập nên nhà Trần, thu phục các thế lực người Man làm phản loạn và trong cuộc chiến kháng quân Nguyên lần thứ nhất
Năm 1209, trong nước có loạn Quách Bốc, Lý Cao Tông phải chạy ra khỏi kinh sư, Lý Huệ Tông Lý Hạo Sảm – khi ấy đang là Thái tử phải chạy đến nương nhờ Trần Lý Họ Trần dẫn quân về triều dẹp loạn, rước vua về kinh sư, nhân đó mà khuynh loát triều đình Với chức vụ Điện tiền chỉ huy sứ, Trần Thủ Độ đã sắp xếp cho con người anh họ của mình lấy Lý Chiêu Hoàng, sau đó Nữ hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Thái Tông (Trần Cảnh), lập
ra triều Trần
Trần Thủ Độ một tay cáng đáng trọng sự, giúp Trần Thái Tông bình phục được giặc giã trong nước và chỉnh đốn lại mọi việc, làm cho nước Đại Việt bấy giờ được cường thịnh, có thể chống cự với Mông Cổ Ông được nhiều nhà sử học qua các thời đại thừa nhận và đánh giá cao về tài năng, khả
Trang 30bình tiêu cực về nhân phẩm của ông Nhiều ý kiến cho rằng ông đã vi phạm các chuẩn mực đạo đức do ông đã bức tử Lý Huệ Tông cũng như cưới Huệ hậu (chị họ của ông) làm phu nhân; ép Trần Thái Tông lấy vợ của anh trai khi đang mang thai 3 tháng và tàn sát tôn tộc nhà Lý
3 Một số danh nhân quân sự Việt Nam
Trần Hưng Đạo,còn được gọi là Hưng Đạo Đại Vương hay Nhân Vũ
Hưng Đạo Đại Vương là một nhà chính trị, quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời Trần Ông được biết đến trong lịch sử Việt Nam với việc chỉ huy quân đội đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông năm 1285 và năm 1288 Ông nguyên có tên khai sinh là Trần Quốc Tuấn Phần lớn tài liệu nghiên cứu lịch sử và cả dân gian thời sau thường dùng tên gọi vắn tắt là
"Trần Hưng Đạo" thay cho cách gọi đầy đủ là "Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn", vốn bao gồm tước hiệu được sắc phong cho ông Cần lưu ý rằng
"Hưng Đạo đại vương" là tước phong chính thức cao nhất do vua nhà Trần ban tặng cho Trần Quốc Tuấn lúc sinh thời do công lao kháng chiến bảo vệ đất nước, Tước "đại vương" có cấp bậc cao hơn tước "vương" dù cùng thuộc hàng vương tước được ban cho những người thành viên hoàng tộc nhà Trần đương thời
Là con của An Sinh thân vương Trần Liễu và là cháu nội của Trần Thái
Tổ, Trần Hưng Đạo có mối quan hệ mật thiết với hoàng tộc họ Trần và vua Trần Nhân Tông gọi ông bằng bác Năm 1257, ông được vua Trần Thái Tông phong làm đại tướng chỉ huy các lực lượng ở biên giới đánh quân Mông Cổ xâm lược Sau đó, ông lui về thái ấp ở Vạn Kiếp Đến tháng 10 âm lịch năm
1283, nhà Nguyên (sau khi Mông Cổ thống nhất Trung Hoa) đe dọa đánh Đại Việt lần hai, Hưng Đạo vương được Thượng hoàng Trần Thánh Tông, và vua Trần Nhân Tông (lần lượt là em họ và cháu họ ông) phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội cả nước Trên cương vị này, năm 1285, ông lãnh đạo quân sĩ chặn đứng đội quân xâm lược của Trấn Nam vương Thoát Hoan Sau
Trang 31những thất bại ban đầu, quân dân Việt dưới sự lãnh đạo của hai vua Trần, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và Hưng Đạo vương phản công mạnh mẽ, phá tan quân Nguyên trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Trường Yên, Vạn Kiếp, đánh đuổi hoàn toàn quân Nguyên khỏi biên giới Năm 1288, quân Nguyên trở lại xâm lược Đại Việt lần thứ ba Khi tiếp tục được phong Quốc công tiết chế; Hưng Đạo vương khẳng định với vua Trần Nhân Tông: "Năm nay đánh giặc nhàn" Ông đã áp dụng thành công chiến thuật của Ngô Quyền, đánh bại hoàn toàn thủy quân nhà Nguyên do các tướng Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi chỉ huy trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, buộc quân Nguyên lại phải rút về nước, và vĩnh viễn đặt tham vọng thôn tính phương Nam của họ Tháng 4 âm lịch năm 1289, Trần Nhân Tông chính thức gia phong ông làm "Đại vương" dù chức quyền đứng đầu triều đình khi đó vẫn thuộc về Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải
Sau đó, ông lui về Vạn Kiếp đến khi mất năm 1300 Trước lúc lâm chung, ông khuyên Trần Anh Tông: "Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc".[2] Ngoài ra, ông còn để lại các tác phẩm kinh điển như Hịch tướng
sĩ, Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư đặt nền móng cho nghệ thuật quân sự Việt Nam kể từ thời Trần đến tận ngày nay
Võ Nguyên Giáp (25 tháng 8 năm 1911 – 4 tháng 10 năm 2013), tên khai sinh
là Võ Giáp, còn được gọi là tướng Giáp hoặc anh Văn, là một nhà chỉ huy quân sự và chính trị gia Việt Nam Ông được bình chọn là một trong 100 vị tướng xuất sắc nhất mọi thời đại, và cũng là một trong những nhà quân sự vĩ đại nhất lịch sử hiện đại.Ông là Đại tướng đầu tiên, Tổng Tư lệnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng là người chỉ huy đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, là một trong những người góp công thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Chính phủ Việt Nam đánh giá là "người học trò xuất sắc
Trang 32và chiến thắng chính trong Chiến tranh Đông Dương (1946–1954) đánh đuổi Thực dân Pháp, Chiến tranh Việt Nam (1960–1975), thống nhất đất nước và Chiến tranh biên giới Việt – Trung (1979) chống quân Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc
Xuất thân là một giáo viên dạy lịch sử, ông trở thành người được đánh giá là một trong những nhà lãnh đạo quân sự lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam.Ông cũng được đánh giá là một trong những vị tướng tài giỏi trên thế giới Ông được nhiều tờ báo ca ngợi là anh hùng dân tộc của nhân dân Việt Nam
Võ Nguyên Giáp là người đầu tiên được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và cho tới nay là người duy nhất 2 lần được tặng thưởng Huân chương này (lần thứ nhất năm 1950 và lần thứ hai năm 1979)
4.Một số danh nhân văn hoá Việt Nam
Nguyễn Trãi (1380 – 19 tháng 9 năm 1442), hiệu là Ức Trai, là một nhà
chính trị, nhà văn, người đã tham gia tích cực Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại sự xâm lược của nhà Minh (Trung Quốc) với Đại Việt Khi cuộc khởi nghĩa thành công vào năm 1428, Nguyễn Trãi trở thành khai quốc công thần của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê trong Lịch sử Việt Nam
Nguyễn Trãi có cha là Nguyễn Phi Khanh, con rể của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, nhà Trần Khi nhà Trần bị Hồ Quý Ly lật đổ lập nên nhà Hồ, Nguyễn Trãi tham gia dự thi, thi đỗ Thái học sinh năm 1400, Nguyễn Trãi làm quan dưới triều Hồ với chức Ngự sử đài chính chưởng Khi nhà Minh xâm lược, cha ông là Nguyễn Phi Khanh bị bắt giải về Trung Quốc Sau khi nước Đại Ngu rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại sự thống trị của nhà Minh Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn, đề ra chiến lược cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh.Ông tiếp tục phục vụ dưới
Trang 33triều đại vua Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông với chức vụ Nhập nội hành khiển
và Thừa chỉ
Năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị kết án tru di tam tộc trong
vụ án Lệ Chi Viên Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu ân xá cho ông.Nguyễn Trãi là một nhà văn hoá lớn, có đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam Ông nằm trong danh sách 14 anh hùng dân tộc Việt Nam
Nguyễn Du (1766 - 1820) tên tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sống trong
triều đại Lê mạt, Nguyễn sơ Song thân của Nguyễn Du là cụ Nguyễn Nghiễm
và bà Trần Thị Tần
Dòng tộc của Nguyễn Du có truyền thống khoa hoạn nhiều đời, nổi bật nhất là ở thời Lê mạt Cuộc đời của thi hào họ Nguyễn trải qua nhiều thăng trầm, thời gian giàu sang phú quý “chẳng tày gang”, ông đã phải chịu kiếp đời gian truân lưu lạc Mồ côi cả cha lẫn mẹ khi chỉ mới 13 tuổi là một mất mát lớn về tinh thần đối với Nguyễn Du Những biến chuyển dữ dội của xã hội nửa phong kiến nửa cuối thế kỷ XVIII đã làm mất đi gốc rễ quý tộc của gia đình Nguyễn Du Ông bắt đầu cuộc sống nương tựa này đây mai đó sau khi chứng kiến hoàn cảnh ly tán của gia đình
Có thể nói thiên tài Nguyễn Du được tạo nên từ nhiều yếu tố từ gia đình, hoàn cảnh sống và cả chính bản thân ông Gia đình với cội rễ quý tộc với truyền thống làm quan và sáng tác văn chương phần nào đã nuôi lớn hồn thơ trong ông Với trái tim nhân hậu, khi chứng kiến hoàn cảnh loạn lạc của xã hội giữa các cuộc chiến tranh của các tập đoàn phong kiến, ông dành cho nhân dân sự đồng cảm và thương xót sâu sắc gửi vào những tác phẩm văn học, vừa để phản ánh thực trạng, vừa thể hiện tấm lòng bao la của Nguyễn
Du Quan trọng hơn hết, chính trái tim giàu cảm xúc và tài năng thiên bẩm đã tạo nên một thi hào lớn của dân tộc vang danh sử sách nước nhà và thế giới
Trang 34Có thể chia những tác phẩm của Nguyễn Du làm 2 nhóm là nhóm tác phẩm viết bằng chữ Nôm và nhóm tác phẩm viết bằng chữ Hán
Ở nhóm tác phẩm viết bằng chữ Nôm không thể không kể đến Truyện Kiều với 3.254 câu thơ lục bát truyền thống được vang danh khắp thế giới khi được dịch ra rất nhiều thứ tiếng khác nhau Bên cạnh đó còn là những bài thơ viết về thân phận con người đương thời, đặc biệt là kiếp đời gian truân của phụ nữ như: Độc Tiểu Thanh ký, Văn chiêu hồn, Thác lời trai phường nón
Ở nhóm tác phẩm sáng tác bằng chữ Hán, Nguyễn Du có cho mình 249 bài nằm trọn trong 3 tập thơ lớn là Thanh Hiên thi tập (78 bài), Nam Trung tạp ngâm (40 bài), Bắc Hành tạp lục (131 bài)
5 Một số danh nhân Việt Nam trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và giáo dục – đào tạo
Trần Đại Nghĩa, tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13-9-1913, tại xã
Xuân Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình Nho giáo có truyền thống yêu nước Lúc nhỏ, anh học tiểu học ở Vĩnh Long, rồi lên Mỹ Tho học trung học, sau đó, học Trường Chuyên khoa Pétrus Ký ở Sài Gòn Năm 1933, anh đỗ đầu cả tú tài bản xứ và tú tài Tây
Được học bổng, ngày 5-9-1935, anh lên đường qua Pháp du học Anh thi vào học Trường Quốc gia Cầu cống, đồng thời học thêm ở Trường Tổng hợp Xóocbon, Viện khí động học, Học viện Thống kê, Trường cao đẳng Kỹ thuật Điện Anh chủ tâm tìm hiểu về lý thuyết quân sự, đọc các luận văn về chiến thuật, chiến lược, nghiên cứu các tác phẩm quân sự của các tướng lĩnh nổi tiếng Suốt 11 năm, anh kiên nhẫn âm thầm theo đuổi học hỏi về vũ khí và quân sự
Sau khi tốt nghiệp Trường Quốc gia Cầu cống, Trường đại học Điện và
Cử nhân Toán ở Trường Tổng hợp Xóocbon, anh vào làm việc tại Công ty Điện khí Thômxơn, và lần lượt công tác trong ba công ty chế tạo máy bay của nước Pháp
Trang 35Từ một cậu bé mồ côi cha, vượt qua nỗi bất hạnh của thời thơ ấu, với động cơ học tập đúng đắn, Trần Đại Nghĩa đã trở thành một vị tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam, một Anh hùng lao động, một Bộ trưởng, Viện
sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, một nhà bác học lỗi lạc bậc nhất của Việt Nam ở thế kỷ 20 Nhà nước ta đã tặng thưởng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh
về Cụm công trình nghiên cứu về chỉ đạo kỹ thuật chế tạo vũ khí
Trần Đại Nghĩa lâm bệnh nặng Trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, ông khẽ gật đầu như mãn nguyện trước câu hỏi của người bạn đời:”Nghĩa vụ của ông với đất nước đã hoàn thành Con cháu tề tựu đông đủ Các cháu học giỏi và ngoan Ông đã yên lòng chưa ?” Trìu mến nhìn bà, ông trút hơi thở cuối cùng lúc 16 giò 20 phút ngày 9-8-1997 tại Bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 85 tuôi Ông đã ra đi, nhưng những công trình sáng giá của ông còn đó, để các nhà khoa học thế hệ sau tiếp tục nghiên cứu
và học tập
Cuộc đời của nhà bác học Trần Đại Nghĩa là một tấm gương sáng chói
về trí tuệ và nhân cách Tên tuổi và sự nghiệp của ông sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam
Đào Duy Anh sinh ngày 25 tháng 4 năm 1904 tại Thanh Hóa, tuy nhiên
dòng họ của ông vốn gốc ở làng Khúc Thủy, tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (nay là huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội), đời ông nội của Đào Duy Anh chuyển cư vào xã Trung Chính, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Các em trai của ông là Đào Duy Kỳ, Đào Duy Dếnh
Sau khi đỗ Thành chung tại trường Quốc học Huế năm 1923, ông không làm công chức dưới chính quyền thực dân Pháp mà làm nghề dạy học ở Trường Tiểu học Đồng Hới tỉnh Quảng Bình Ông chịu ảnh hưởng của các phong trào yêu nước đang dấy lên thời kỳ đó như phong trào đấu tranh đòi
"ân xá" cho Phan Bội Châu năm 1925, đám tang Phan Chu Trinh năm 1926
Trang 36Cuối năm 1925, ông tham gia sự kiện Hội Quảng Tri Đồng Hới đón tiếp Phan Bội Châu trên đường từ Hà Nội vào Huế
Năm 1926, ông từ chức giáo học, vào Đà Nẵng và có ý định đến Sài Gòn Trên đường vào Đà Nẵng, ông đã gặp Phan Bội Châu đang bị giam lỏng
ở chùa Phổ Quang, vào Quảng Nam gặp Huỳnh Thúc Kháng đang làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ Ông đã giúp Huỳnh Thúc Kháng sáng lập báo Tiếng dân và làm Thư ký tòa soạn Đào Duy Anh tham gia Việt Nam Cách mạng Đảng năm 1926 và sau khi đảng này đổi tên thành Tân Việt Cách mạng Đảng (tháng 7 năm 1928), ông trở thành Tổng Bí thư
Năm 1928, ông sáng lập Quan hải tùng thư, với sự cộng tác của những trí thức như Võ Liêm Sơn, Trần Đình Nam, Phan Đăng Lưu xuất bản những tập sách phổ cập để người đọc làm quen với tư tưởng khoa học và duy vật lịch
sử (như Lịch sử các học thuyết kinh tế, Phụ nữ vận động, Lịch sử nhân loại, Tôn giáo là gì? Xã hội là gì? Dân tộc là gì?) Trong thời gian này, ông lấy biệt hiệu là Vệ Thạch (chim tinh vệ)
Tháng 7 năm 1929, Đào Duy Anh bị chính quyền bắt giam cho đến đầu năm 1930 Từ đó ông chuyên tâm nghiên cứu văn hóa bắt đầu là từ điển học rồi văn hóa, văn học, sử học Sau Cách mạng tháng Tám, Đào Duy Anh được mời giảng dạy môn Lịch sử tại Đại học Văn khoa Hà Nội Ông là Uỷ viên Ban vận động Đại hội văn hóa toàn quốc năm 1946 Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động trong Chi hội văn nghệ Liên khu IV
Ông là một trong số ít nhân vật Việt Nam được ghi tên vào bộ từ điển Larousse với tư cách là một nhà bách khoa toàn thư của thời hiện đại
Đào Duy Anh được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội năm 2000
Tên của ông được đặt cho các con đường tại quận Phú Nhuận (TP Hồ Chí Minh), quận Đống Đa (TP Hà Nội), thành phố Thanh Hóa, thành phố Hạ Long (từ đường Trần Phú tới đường Trần Thái Tông)
Trang 372.2.2 Quy trình tổ chức dạy học chuyên đề “Danh nhân trong lịch sử Việt Nam” theo hướng phát triển năng lực sáng tạo
Việc thiết kế tiến trình dạy học chuyên đề thành các hoạt động học thực chất là thiết kế giáo án dạy học, được tổ chức cho HS có thể thực hiện ở trên lớp hoặc ở nhà Mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực hiện một số hoạt động trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng Tiến trình tổ chức các hoạt động cần linh hoạt, mềm dẻo Sử dụng các phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực của HS nhằm hình thành các năng lực cần thiết Khi thiết kế và tổ chức một hoạt động học tập theo quan điểm định hướng phát triển năng lực HS cần lưu ý quá trình dạy học bao gồm hệ thống các hành động có mục đích của GV tổ chức hoạt động trí óc và tay chân của HS đảm bảo HS chiếm lĩnh được nội dung dạy học, đạt được mục tiêu xác định GV tổ chức định hướng hành động chiếm lĩnh trí thức của HS phỏng theo tiến trình của chu trình sáng tạo khoa học Chúng ta
có thể hình dung diễn biến của hoạt động dạy học theo các bước sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu dạy học về kiến thức, kỹ năng, thái độ
Bước 2: GV tổ chức tình huống, giao nhiệm vụ cho học sinh HS sẵn sàng nhận nhiệm vụ, này sinh vấn đề cần tìm tòi giải quyết
Bước 3: HS tự chủ, tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra Với sự theo dõi, định hướng, giúp đỡ của GV, hoạt động học của HS diễn ra theo một tiến trình hợp lí Có thể tổ chức bằng các hoạt động cá nhân, hoạt động cặp đôi hoặc các nhóm nhỏ
Bước 4: GV tổ chức cho HS báo cáo kết quả làm việc, thảo luận và bổ sung ý kiến cho nhau
Bước 5: GV hướng dẫn HS nhận định các kết quả và rút ra kết luận, chốt các kiến thức thu được và gợi ý HS phát hiện các vấn đề cần giải quyết tiếp theo
Trang 382.2.3 Một số nguyên tắc, yêu cầu khi dạy học chuyên đề Lịch sử theo phát triển năng lực sáng tạo
2.2.3.1 Những nguyên tắc khi dạy học chuyên đề Lịch sử theo hướng phát triển năng lực sáng tạo
Thứ nhất, nhận thức và thực hiện đúng bản chất của từng hoạt động trong tiến trình bài học để vận dụng linh hoạt, phù hợp với HS
Hoạt động giới thiệu bài mới cần có sự đầu tư hợp lí bởi hoạt động này
có tác dụng trong việc: Tạo tâm thế học tập, giúp HS ý thức được nhiệm vụ học tập, hứng thú học bài mới và giiúp HS suy nghĩ và làm xuất hiện những nhận thức ban đầu về vấn đề sắp tìm hiểu, học tập
Tổ chức các hoạt động học tập giúp HS lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng mới và đưa các kiến thức, kĩ năng mới vào hệ thống kiến thức, kỹ năng của bản thân Trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập, GV sẽ giúp HS xây dựng kiến thức mới của bản thân (đối chiếu kiến thức, kinh nghiệm sẵn có với những hiểu biết mới; kết nối/sắp xếp kiến thức cũ và kiến thức mới dựa trên việc phát biểu, viết ra các kết luận/ khái niệm/ công thức mới…)
Sơ kết chuyên đề giúp HS củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội được GV sẽ yêu cầu HS làm các “bài tập” cụ thể giống như “bài tập” trong bước hình thành kiến thức để diễn đạt được đúng kiến thức hoặc
mô tả đúng kĩ năng đã học bằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình và áp dụng trực tiếp kiến thức, kĩ năng đã biết để giải quyết các tình huống/vấn đề trong học tập
Dặn dò, bài tập về nhà là dặn dò yêu cầu HS chuẩn bị bài mới; Giao nhiệm vụ cho HS vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống/vấn đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống vàGV cần khuyến khích HS tiếp tục tìm tòi và mở rộng kiến thức ngoài lớp học HS tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh từ nội dung bài học, từ thực tiễn cuộc sống,
Trang 39vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết bằng những cách khác nhau
Thứ hai, hiểu và thực hiện đúng ý nghĩa của các hình thức hoạt động trong dạy học
Hoạt động cá nhân là hoạt động yêu cầu HS thực hiện các bài tập/nhiệm
vụ một cách độc lập Hoạt động cá nhân tăng cường khả năng làm việc độc lập của HS , nhằm yêu cầu khám phá, sáng tạo GV cần đặc biệt coi trọng hoạt động cá nhân vì nó giúp nhận thức của HS sâu sắc và chắc chắn
Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm là những hoạt động nhằm giúp HS phát triển NL hợp tác, tăng cường sự chia sẻ và tính cộng đồng Hoạt động cặp đôi được sử dụng trong những trường hợp các bài tập/ nhiệm vụ cần sự chia sẻ, hợp tác trong nhóm nhỏ gồm 2 HS Ví dụ: kể cho nhau nghe, nói với nhau một nội dung nào đó, đổi bài cho nhau để đánh giá chéo, ; Hoạt động nhóm (từ 3 HS trở lên) được sử dụng trong trường hợp tương tự, nhưng thiên
về sự hợp tác, thảo luận với số lượng thành viên nhiều hơn
Hoạt động chung cả lớp, khi HS có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh một vấn đề hoặc có những khó khăn mà nhiều HS không thể vượt qua, GV có thể dừng công việc của các nhóm lại để tập trung cả lớp làm sáng tỏ các vấn
đề còn băn khoăn hoặc bàn cãi Hoạt động chung cả lớp thường được vận dụng trong các tình huống sau: giải quyết những vấn đề mà các nhóm không giải quyết được, nghe GV hướng dẫn chung; nghe GV nhắc nhở, tổng kết, rút kinh nghiệm; HS luyện tập thuyết trình trước tập thể lớp… Khi tổ chức hoạt động chung cả lớp, GV tránh biến giờ học thành giờ nghe thuyết giảng hoặc vấn đáp vì như vậy sẽ làm giảm hiệu quả và sai mục đích của hình thức hoạt động này
Thứ ba, hướng dẫn thực hiện đúng tiến trình hoạt động nhóm Đầu tiên, làm việc cá nhân: Trước khi tham gia phối hợp với bạn học trong các nhóm
Trang 40kiến thức, chuẩn bị cho các hoạt động thảo luận trong nhóm Cá nhân làm việc độc lập nhưng vẫn có thể tranh thủ hỏi hay trả lời bạn trong nhóm, vẫn thực hiện các yêu cầu của của nhóm trưởng (nếu có) để phục vụ cho các hoạt động cá nhân Trong quá trình làm việc cá nhân, gặp những gì không hiểu, HS
có thể hỏi bạn ngồi cạnh hoặc nêu ra trong nhóm để các thành viên khác cùng trao đổi và nếu nhóm không giải quyết được vấn đề thì nhóm trưởng có thể nhờ GV hỗ trợ Sau đó là làm việc chung cả nhóm: Trong các giờ học của chuyên đề luôn có các hoạt động cả nhóm cùng hợp tác Chẳng hạn: Sau khi
HS tự đọc một đoạn tư liệu, hay quan sát tranh ảnh… trưởng nhóm sẽ dẫn dắt các bạn trao đổi về nội dung cần khai thác của tư liệu, tranh ảnh đó; Hay sau khi một cá nhân trong nhóm đã đưa ra kết quả làm việc, nhóm sẽ cùng trao đổi nhận xét, bổ sung về nội dung kiến thức, nội dung kênh hình, tư liệu… Nhóm là hình thức học tập phát huy rất tốt khả năng sáng tạo, điều quan trọng
là HS cần phải biết mình làm gì và làm như thế nào khi tham gia làm việc nhóm
Thứ tư, nhận thức và thực hiện đúng việc chốt kiến thức Căn cứ nội dung học tập, GV chỉ chốt kiến thức của nội dung đã học khi thấy việc chốt là cần thiết cho việc tiến hành các hoạt động tiếp theo Hình thức chốt kiến thức:
GV nên hướng dẫn để HS tự chốt; GV chỉ hỗ trợ trong trường hợp HS của cả lớp không thể chốt kiến thức
Thứ năm, nhận thức đúng việc ghi bài của HS, GV hướng dẫn HS lựa chọn nội dung trong chuyên đề và kết quả thảo luận để ghi tóm tắt vào vở theo cách diễn đạt của HS Nói chung, GV không nên đọc cho HS ghi bài, không yêu cầu HS chép lại toàn bộ nội dung bài học trong tài liệu HS có thể ghi nháp sau hoàn thiện trước khi ghi vào vở
2.2.3.2 Những yêu cầu khi dạy học chuyên đề Lịch sử theo hướng phát triển năng lực sáng tạo