Đề xuất một số nội dung phần Sinh học Vi sinh vật có thể sử dụng phương pháp dạy học theo trạm .... - Thiết kế hoạt động dạy học bằng PPDH theo trạm cho một số nội dung kiến thức phần Si
Trang 1
LƯU THỊ KIM
DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO TRẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM SINH HỌC
Hà Nội – 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- - - - - -
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO TRẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Phượng Sinh viên thực hiện khóa luận: Lưu Thị Kim
Hà Nội – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là TS Lê Thị Phượng đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin cảm ơn các thầy cô trường THPT Nguyễn Trãi – Ba Đình, cô Nguyễn Thị Nhã và toàn thể học sinh lớp 10A8, 10A9 đã giúp đỡ em trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Mặc dù đã cố gắng hết mình nhưng khóa luận của em vẫn còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô để khóa luận của
em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2018
Lưu Thị Kim
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
1.1 Xuất phát từ việc đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay 1
1.2 Xuất phát từ đặc điểm kiến thức phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 2 1.3 Xuất phát từ thực trạng dạy học phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 2 2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 4
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 5
8 Cấu trúc của khóa luận tốt nghiệp 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Phương pháp dạy học tích cực 6
Trang 61.1.2 Phương pháp dạy học theo trạm 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1 Mục đích điều tra 23
1.2.2 Phương pháp điều tra 23
1.2.3 Kết quả điều tra 24
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO TRẠM 26
2.1 Cấu trúc chương trình sách giáo khoa Sinh học 10 Trung học phổ thông 26
2.1.1 Cấu trúc chương trình Sinh học 10 Trung học phổ thông 26
2.1.2 Cấu trúc chương trình Sinh học 10 phần Sinh học Vi sinh vật 27
2.2 Chuẩn kiến thức, kỹ năng phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 Trung học phổ thông 27
2.3 Thiết kế tiến trình dạy học theo trạm một số nội dung kiến thức phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 28
2.3.1 Quy trình dạy học theo trạm đối với phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 28
2.3.2 Ví dụ cụ thể một số nội dung sử dụng phương pháp dạy học theo trạm theo quy trình 31
2.3.3 Đề xuất một số nội dung phần Sinh học Vi sinh vật có thể sử dụng phương pháp dạy học theo trạm 66
2.3.4 Một số giáo án sử dụng phương pháp dạy học theo trạm 69
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 70
Trang 73.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 70
3.3 Đối tượng thực nghiệm 70
3.4 Phương pháp thực nghiệm 71
3.5 Kết quả thực nghiệm 71
3.5.1 Đánh giá định tính 71
3.5.2 Phân tích định lượng 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 84
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ việc đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Trong những năm qua, cùng với sự đi lên của nền kinh tế trên toàn thế giới, đất nước chúng ta cũng có những bước tiến mới để có thể sánh bằng với các quốc gia trong khu vực châu Á Để làm được điều đó đòi hỏi nền giáo dục phải đổi mới về nội dung và quan trọng hơn là phải đổi mới về PPDH nhằm tạo ra những con người năng động, sáng tạo, có tư duy khoa học, trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội
Mục đích giáo dục tại các quốc gia hiện nay không chỉ thuần túy việc truyền thụ kiến thức, kỹ năng mà loài người đã tích lũy được mà còn đặc biệt quan tâm tới việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo ra những tri thức mới, phương pháp mới và cách giải quyết vấn đề mới Tại các nước phát triển như Mỹ, châu
Âu trẻ em có tính tự lập tốt, năng lực giải quyết vấn đề tốt và rất sáng tạo trong quá trình học tập Ở Việt Nam, phần lớn HS còn thụ động tiếp thu kiến thức, chưa tích cực trong học tập và chưa ứng dụng được kiến thức học được ở nhà trường vào thực tế cuộc sống Chính vì vậy, nhu cầu đổi mới giáo dục là một điều tất yếu giúp HS không những chiếm lĩnh tri thức mà còn có thể vận dụng được tri thức vào cuộc sống, sáng tạo ra tri thức mới
Vấn đề đổi mới PPDH để phát huy tính tích cực của HS đã được đặt ra cho Ngành Giáo dục nước ta từ những năm 1960 và trong các nghị quyết Trung ương, Luật Giáo dục cũng thể hiện rất rõ ràng Cụ thể như điều 2 Luật Giáo dục năm 2005 sửa đổi năm 2009 nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn” Trong Nghị quyết số 88
Trang 9ngày 28/11/2014 của Quốc hội đã đề cập: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS.” Việc nghiên cứu các PPDH tích cực, áp dụng các phương pháp phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng HS để nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề cấp thiết đối với những người làm giáo dục nói chung và nhà giáo nói riêng [10]
1.2 Xuất phát từ đặc điểm kiến thức phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10
Trong chương trình Sinh học 10, phần kiến thức Sinh học VSV có bố cục theo hệ thống các bài, các phần tương đối hợp lí, đảm bảo tính nguyên, tắc hệ thống, đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cái riêng đến cái chung, khái quát giúp HS một cái nhìn tổng thể rõ ràng kiến thức
Bên cạnh đó, nội dung kiến thức phần này có thể ứng dụng rất nhiều vào thực tế như có thể ứng dụng trong nuôi cấy VSV, chăm sóc sức khỏe con người Chính vì vậy yêu cầu đặt ra cho GV là phải để HS có thể liên hệ tới thực tế cuộc sống và vận dụng kiến thức này để giải thích được những vấn đề trong thực tiễn Qua đó, HS không những khắc sâu được kiến thức mà còn có thể vận dụng được vào thực tiễn
1.3 Xuất phát từ thực trạng dạy học phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10
Kiến thức phần Sinh học VSV là phần kiến thức không khó nhưng trừu tượng, chứa nhiều nội dung hay, với nhiều ứng dụng trong sản xuất Tuy nhiên, phần lớn các nhà trường, do khuôn khổ SGK không cho phép nên các kiến thức về VSV được trình bày trong SGK rất khái quát, ít dẫn chứng minh họa GV cũng không đầu tư quá nhiều cho một giờ dạy môn Sinh học, chỉ dạy đơn thuần các kiến thức trong SGK Đối với một tiết học thông thường, GV thường chỉ áp dụng các phương pháp truyền thống như truyền đạt kiến thức một chiều, HS thụ động tiếp thu kiến thức Những tiết học lặp lại nhiều lần
Trang 10như vậy khiến HS cảm thấy nhàm chán, ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp thu tri thức của HS
Cùng với sự phát triển của khoa học và nhu cầu thực tế, môn Sinh học đang ngày càng được chú trọng trong trường phổ thông Để HS có thể có được kiến thức vững chắc làm nền tảng cho các nghề nghiệp liên quan đến lĩnh vực Sinh học sau này, đòi hỏi các nhà khoa học, GV phải nghiên cứu tìm ra những phương pháp hiện đại nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực học tập của HS, tạo cho các em có cơ hội được tìm tòi, sáng tạo và tự do nêu ra ý kiến của bản thân Dạy học theo trạm là phương pháp kích thích HS tích cực tham gia hoạt động trong giờ học, phát triển năng lực toàn diện, HS chủ động khám phá, tiếp thu kiến thức
Từ những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Dạy học phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 Trung học phổ thông bằng phương pháp dạy học theo trạm”
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế và vận dụng PPDH theo trạm vào dạy học phần Sinh học VSV nhằm phát triển năng lực cho HS
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung kiến thức phần Sinh học VSV
- PPDH theo trạm
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phần Sinh học VSV ở trường THPT
4 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng PPDH theo trạm vào dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học
10 một cách hợp lý sẽ phát triển được năng lực và nâng cao hiệu quả học tập
Trang 115 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các quan điểm dạy học tích cực và làm rõ cơ sở lý luận của PPDH theo trạm
- Tìm hiểu thực tế dạy học môn Sinh học ở trường phổ thông, đặc biệt là một số nội dung kiến thức phần Sinh học VSV, Sinh học 10
- Thiết kế hoạt động dạy học bằng PPDH theo trạm cho một số nội dung kiến thức phần Sinh học VSV, Sinh học 10 theo định hướng phát triển năng lực cho HS
- TN sư phạm theo kế hoạch đã đề ra Phân tích kết quả TN thu được để đánh giá tính khả thi của đề tài, sơ bộ đánh giá hiệu quả dạy học một số nội dung kiến thức phần Sinh học VSV, Sinh học 10
6 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu việc ứng dụng PPDH theo trạm cho nội dung kiến thức phần Sinh học VSV, Sinh học 10 tại trường THPT Nguyễn Trãi – Ba Đình
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 5 năm 2018
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học, lý luận dạy học Sinh học làm cơ sở lý luận cho đề tài: tài liệu về PPDH, các luận văn, luận án có cùng hướng nghiên cứu, tâm lý học sư phạm
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của PPDH theo trạm
- Nghiên cứu chương trình SGK và các tài liệu về phần Sinh học VSV làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch dạy học theo trạm
Trang 127.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Thông qua việc điều tra, khảo sát bằng phiếu khảo sát nhằm sơ bộ đánh giá tình hình dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành TN sư phạm theo kế hoạch dạy học đã soạn thảo Phân tích kết quả thu được trong quá trình TN sư phạm và đối chiếu với mục tiêu nghiên cứu, rút ra kết luận
8 Cấu trúc của khóa luận tốt nghiệp
* Phần thứ nhất: Mở đầu
* Phần thứ hai: Nội dung
- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
- Chương 2 Tổ chức dạy học phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 bằng phương pháp dạy học theo trạm
- Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
* Phần thứ ba: Kết luận và khuyến nghị
* Danh mục các tài liệu tham khảo
* Phụ lục
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Phương pháp dạy học tích cực
1.1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
- PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
- "Tích cực" trong PPDH tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của
HS chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của GV Phải có sự hợp tác cả của GV và HS, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Trong dạy học tích cực, hoạt động học tập được thực hiện trên cơ sở hợp tác, giao tiếp ở mức độ cao PPDH tích cực không phải một PPDH cụ thể, mà là một khái niệm bao gồm nhiều phương pháp, hình thức, kỹ thuật cụ thể khác nhau nhằm tích cực hóa, tăng cường sự tham gia của HS, tạo điều kiện cho HS phát triển tối đa khả năng học tập, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
1.1.1.2 Các đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Các dấu hiệu đặc trưng của PPDH tích cực có thể là:
a Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
- Trong PPDH tích cực, HS là đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời
là chủ thể của hoạt động "học" được cuốn hút vào các hoạt động học tập do
GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa
rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt Được
Trang 14đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, HS trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ
đó nắm được kiến thức kỹ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kỹ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ
và phát huy tiềm năng sáng tạo [17]
- Dạy theo cách này GV không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn HS biết hoạt động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
b Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- PPDH tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ
là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
- Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kỹ thuật, công nghệ khối lượng kiến thức ngày càng nhiều thì không thể nhồi nhét tất cả chúng vào đầu HS Phải quan tâm dạy cho HS phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho HS có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho HS lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi HS, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo GV
c Tăng cường hoạt động học tập của mỗi cá nhân, phối hợp với học tập hợp tác
- Trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp
GV - HS, HS - HS, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con
Trang 15đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó HS nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người GV
- Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực
sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
d Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS
- Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của HS mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của GV
- Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà HS tự liên hệ đến phần nhiệm vụ đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học tập Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là tự mình cho điểm số mà là sự đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả, mức độ cao hơn là HS có thể tự phản hồi lại quá trình học của mình Cùng với tự đánh giá của HS, GV cần tổ chức cho HS đánh giá lẫn nhau Đánh giá lẫn nhau dựa trên các tiêu chí do GV cung cấp Cách đánh giá này không chỉ giúp HS đánh giá kết quả của bạn mà thông qua đó còn có
sự so sánh, nhìn lại kết quả học tập của chính mình để điều chỉnh cách giải quyết vấn đề, chia sẻ kinh nghiệm từ kết quả học tập của mình và của bạn, thúc đẩy hiệu quả học tập ngày một tốt hơn
Trang 16- Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với GV, mang lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
e Dạy học chú trọng đến sự quan tâm, hứng thú của HS, nhu cầu và lợi ích của xã hội
HS được chủ động lựa chọn vấn đề mà mình quan tâm, tự mình tiến hành nghiên cứu giải quyết vấn đề và trình bày kết quả Việc nghiên cứu có thể diễn ra bởi một cá nhân hoặc nhóm nhỏ Các chủ đề/nội dung tìm hiểu có thể do HS tự đề xuất hoặc lựa chọn trong số các chủ đề/nội dung GV đưa ra Các chủ đề/nội dung cần gắn với nhu cầu, lợi ích của người học cũng như tính thực tiễn GV cần thiết kế các hoạt động, tình huống học tập sao cho có thể lôi cuốn được sự tham gia tích cực, chủ động của người học và đảm bảo nguyên tắc phân hóa trong dạy học [1]
f Dạy học coi trọng hướng dẫn tìm tòi
Việc coi trọng hướng dẫn tìm tòi nhằm giúp HS phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và nhấn mạnh rằng HS có thể học được phương pháp học thông qua hoạt động Một nhiệm vụ học tập tốt là nhiệm vụ đặt ra thách thức với người học Nhiệm vụ không nên quá dễ vì sẽ tạo nên sự nhàm chán đối với HS Nhiệm vụ quá khó sẽ khiến HS lo lắng và không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao Để đạt được sự cân bằng, các nhiệm vụ cần đa dạng và thiết kế riêng cho từng đối tượng [12]
1.1.2 Phương pháp dạy học theo trạm
Dạy học theo trạm là một trong những PPDH tích cực giúp HS phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo
1.1.2.1 Khái niệm dạy học theo trạm
Khái niệm “học tập vòng tròn” thường được nhắc đến trong cách đào tạo một số môn thể thao Những năm 1952, hình thức đó được phát triển bởi
Trang 17Morgan (Anh) và hệ thống đào tạo của Adamson cho môn thể thao, thông qua việc một mục tiêu đào tạo cụ thể sẽ đạt được bằng cách lặp đi lặp lại các thao tác luyện tập Vì vậy, tất cả các thành viên đồng thời được luyện tập, được rèn luyện kỹ năng Các kỹ năng cần thiết được tổ chức, sắp xếp có hệ thống thành vòng tròn Những ý tưởng đầu tiên của vòng tròn học tập xuất hiện trong một
số môn học Sau này các hình thức dạy học mở phát triển, phương pháp tổ chức dạy học theo các vòng tròn học tập được hình thành và lan ra nhanh chóng Đầu tiên, khái niệm này đã được thử nghiệm trong trong Giáo dục Tiểu học, nhưng dần dần đạt đến trình độ Trung học cơ sở và đang mở rộng lên cấp THPT, ở phạm vi một môn, liên môn Tương tự như cách đào tạo trong thể thao, phương pháp này tạo ra một vòng tròn học tập, với các trạm được thiết lập, thiết kế Vì vậy, PPDH theo các vòng tròn học tập còn được gọi là PPDH theo trạm
Trang 18Dạy học theo trạm là một phương pháp tổ chức dạy học dựa trên hình thức làm việc tại các trạm, ngoài mục tiêu truyền đạt kiến thức, dạy học theo trạm còn kích thích hứng thú say mê nghiên cứu, rèn luyện năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, gắn lí thuyết với thực hành, tư duy và hành động, rèn luyện năng lực cộng tác làm việc theo nhóm [18]
1.1.2.2 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học theo trạm
là người theo dõi hoạt động của toàn lớp, bổ sung các tài liệu cần thiết, phù hợp cho HS để HS có thể thực hiện được nhiệm vụ một cách hoàn toàn độc lập Những vấn đề nảy sinh trong khi học sẽ được GV giải quyết kịp thời, hỗ trợ đúng lúc, đúng mức và đúng đối tượng HS
b Vai trò của HS
HS là người tiếp nhận kiến thức và phát triển các kỹ năng trong điều kiện tốt nhất do GV và tài liệu học tập tạo ra HS chính là chủ thể của mọi mặt hoạt động và là mục đích hướng tới của việc học tập Quá trình học tập sẽ giúp HS học được từ bạn cùng lớp những kiến thức, kỹ năng, thái độ, do đó HS sẽ có
cơ hội chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức, tham gia tự giác và bình đẳng vào quá trình học tập HS không rập theo khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ, phát huy tiềm năng sáng tạo HS cũng là người đánh giá các ý kiến, quan điểm, sản phẩm hoạt động của bản thân và bạn bè [1]
Trang 191.1.2.3 Đặc điểm của dạy học theo trạm
Dạy học theo trạm có một số đặc điểm sau:
Hình 1.2 Đặc điểm của dạy học theo trạm
Dạy học theo trạm tạo ra một môi trường học tập có tính khuyến khích hoạt động và thúc đẩy việc học tập cho HS Các hoạt động có tính đa dạng cao
về nội dung và bản chất, hướng tới việc thực hành, khám phá và trải nghiệm Quá trình học được chia thành các khu vực bằng cách phân chia nhiệm vụ và
tư liệu học tập, để có một cái nhìn tổng quát tốt, một cấu trúc rõ ràng sẽ được
áp dụng nhằm giúp HS có thể độc lập lựa chọn cách thức học tập riêng trong nhiệm vụ chung Các tư liệu và nhiệm vụ học tập là những thử thách, tình huống có vấn đề, những mâu thuẫn nhận thức mà HS phải giải quyết Mỗi khu vực, các nhiệm vụ học tập đều đa dạng về cả nội dung lẫn hình thức tổ chức,
do đó HS có sở thích và năng lực khác nhau, nhịp độ học tập và phong cách học tập khác nhau đều có thể tự tìm cách để thích ứng và thể hiện năng lực của mình HS sẽ bị cuốn vào việc học tập một cách tích cực, không chỉ hướng tới việc thực hành các nội dung học tập mà còn khám phá các cơ hội học tập mới
mẻ Việc trải nghiệm khám phá trong học tập sẽ giúp HS có nhiều cơ hội được phát huy hơn khi học theo trạm
Các hoạt động có tính đa dạng cao
về nội dung và bản chất
Hướng đến việc thực hành, khám phá và trải nghiệm
Trang 201.1.2.4 Các tiêu chí của dạy học theo trạm
- Tính khả thi: PPDH không thể coi là phù hợp nếu nó đòi hỏi các điều kiện thực hiện quá cao so với cơ sở vật chất hiện có của cơ sở giảng dạy và không có khả năng triển khai đồng bộ trên diện rộng Căn cứ vào đặc điểm học theo trạm, cần chọn nội dung dạy học, cần thiết kế nhiệm vụ tại các trạm, cần chuẩn bị các phương tiện dạy học tại các trạm sao cho phù hợp Không gian lớp học phải phù hợp với số trạm học tập và số lượng HS phải phù hợp với không gian lớp học Mỗi trạm cần có đủ tài liệu, đồ dùng, phương tiện học tập đầy đủ với nhiệm vụ được thiết kế cho trạm đó
- Làm tích cực hóa HS: PPDH theo trạm đảm bảo HS tham gia tích cực vào quá trình tiếp thu và chiếm lĩnh các tri thức và kỹ năng Các nhiệm vụ học tập tại các trạm cần được thiết kế sao cho HS tham gia một cách tích cực, tự chủ, sáng tạo vào việc giải quyết các nhiệm vụ Thông qua nhiệm vụ tại các trạm, GV cần giúp HS lựa chọn những kiến thức và kỹ năng muốn học, phù hợp với nhu cầu cá nhân Sự lựa chọn đảm bảo sẽ lôi cuốn được HS trong các nhiệm vụ học tập và sẽ được động viên mạnh mẽ do được theo đuổi những quan niệm và sự tò mò HS sẽ hứng thú học hơn và hiệu quả hơn khi xác định được mục đích học để làm gì
- Truyền tải được những tri thức cần thiết của nội dung học tập đến HS: PPDH theo trạm đảm bảo truyền tải được các khái niệm, nội dung, kỹ năng cơ bản đến HS và tạo ra sự tiếp thu thuận lợi ở người học
1.1.2.5 Phân loại hệ thống trạm học tập
Trên mỗi vòng tròn học tập có nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn trên hành trình tương ứng với một trạm học tập Người học phải trải qua rất nhiều trạm khác nhau Số lượng các trạm trong một vòng tròn học tập phụ thuộc vào sự phức tạp của vấn đề cần giải quyết, phụ thuộc vào không gian lớp học và trình độ hiện tại của HS Cần tạo ra các trạm học tập sao cho tất cả
Trang 21các HS có thể cùng làm việc tại các trạm khác nhau, không có trạm nào bị bỏ trống và không có HS nào chơi không Việc tổ chức các trạm học tập phải tạo
ra được các trạm khác nhau, tương ứng các phong cách học khác nhau của
HS, phải cho HS có sự lựa chọn một trạm thích hợp với khả năng và sở thích của mình Xét về mặt hình thức, người ta chia thành một số hình thức hệ thống trạm học tập như sau:
a Hệ thống trạm đóng
- Đặc điểm:
+ HS tự do lựa chọn thứ tự hoạt động tại các trạm
+ HS có thể bắt đầu hay kết thúc tại trạm bất kì nào đó
+ Thứ tự hoạt động tại các trạm đã được sắp xếp cố định
+ Luôn bắt đầu tại một trạm trước
- Sơ đồ tổng quan:
Trang 22Hình 1.4 Sơ đồ hệ thống trạm đóng
c Hệ thống trạm kép
- Đặc điểm:
+ Có hai hệ thống trạm được bố trí song song với nhau
+ Các trạm bắt buộc được bố trí ở vòng ngoài, các trạm bổ sung cho các trạm bắt buộc được bố trí ở vòng trong
Trang 23+ Có thể lựa chọn được các hình thức làm việc khác nhau như cá nhân, cặp, nhóm,…
+ Có thể chọn tùy ý các chủ đề khác nhau trong hệ thống các tram
họ thiết lập tri thức để phản ánh kinh nghiệm mới và do vậy mỗi người có cách thức học tập riêng Học tập là một quy trình tích cực, trong đó người học liên tục mở rộng hoặc thay đổi cấu trúc kinh nghiệm [1]
b Cơ sở sinh lý thần kinh
Nghiên cứu chức năng của não bộ cho thấy, toàn bộ não hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt động thần kinh của con người và quá trình tư duy,
là sự kết hợp phức tạp giữa ngôn ngữ, hình ảnh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh và giai điệu Nói cách khác, tư duy cần sử dụng toàn bộ các phần của não bộ Bộ não chia thành hai khu vực hoạt động gồm: bán cầu não trái và bán cầu não phải Con người sinh ra có thể vượt trội một trong hai bán cầu não
Trang 24nhưng hai bán cầu não cần phải hoạt động, phát triển cân bằng và phối hợp tốt với nhau để con người phát triển toàn diện về cả thể lực và trí tuệ, suy nghĩ và hành động Dạy học theo trạm khai thác và sử dụng các chức năng của bán cầu não trái và bán cầu não phải [12] Để khắc phục những hạn chế của PPDH truyền thống, cần đổi mới PPDH để không những làm cho HS có bán cầu não phải phát triển trội tìm thấy sự thích ứng, mà làm sao cho HS phát triển cân bằng chức năng của cả hai bán cầu não, bởi chức năng của cả hai bán cầu não đều cần thiết để con người giải quyết các vấn đề khác nhau
c Các phong cách học tập
Phong cách học của mỗi HS là khác nhau Có HS thích học qua phân tích (nghiên cứu tài liệu, đọc sách để rút ra kiến thức); có HS thích học qua quan sát (quan sát hình ảnh, video, thí nghiệm để rút ra kết luận hoặc thu nhận kiến thức); có HS đạt được hiệu quả học tập tốt nhất khi được trải nghiệm khám phá (làm thí nghiệm, trải nghiệm để tiếp thu kiến thức); một số HS lại thích học thông qua thực hành áp dụng (học thông qua hành động để rút ra kết luận) [7] Học theo trạm thể hiện sự đa dạng, do đó HS có sở thích và năng lực khác nhau, nhịp độ học tập, phong cách học khác nhau đều có thể tự tìm cách để thích ứng và thể hiện năng lực của mình Điều này cho phép GV giải quyết vấn đề đa dạng trong hoạt động học tập của HS
d Bản chất của dạy học theo trạm
- Bản chất của dạy học theo trạm là một hình thức tổ chức hoạt động học tập, trong đó HS thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học, nhằm đạt được mục tiêu học sâu một nội dung học một bài học
- Là một môi trường học tập với cấu trúc được xác định
- Kích thích HS tích cực hoạt động, thông qua hoạt động mà học tập
- Đa dạng về nội dung và hình thức hoạt động
Trang 25- Được tổ chức với mục đích để HS được thực hành, khám phá và thử nghiệm qua mỗi hoạt động
1.1.2.7 Quy trình của dạy học theo trạm
a Chọn nội dung và mục tiêu bài học phù hợp
- Không phải bài học nào cũng có thể tổ chức cho HS học theo trạm có hiệu quả Tùy theo môn học, dạng bài học, GV cần cân nhắc xác định những nội dung học tập sao cho việc áp dụng dạy học theo trạm hiệu quả hơn so với PPDH khác
- Ngoài mục tiêu cần đạt được của bài học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng,
GV cần xây dựng các mục tiêu về khả năng làm việc độc lập, chủ động của
HS khi thực hiện theo trạm
b Xây dựng các trạm và hoạt động cụ thể của từng trạm
- Đặt tên các trạm sao cho thể hiện rõ đặc thù của hoạt động học tập với mỗi trạm và hấp dẫn với học HS
Ví dụ 1: Dạy học theo trạm với 4 trạm tên gọi khác nhau, thực hiện một nội dung, mục tiêu học tập theo các phong cách khác nhau và sử dụng các phương tiện khác nhau
Trang 26Hình 1.7 Mô phỏng ví dụ về tên gọi 4 trạm với 1 nội dung
Ví dụ 2: Dạy học theo trạm với 4 trạm tên gọi khác nhau, thực hiện 4 nội dung khác nhau, mục tiêu học tập theo các phong cách khác nhau và sử dụng các phương tiện khác nhau
Hình 1.8 Mô phỏng ví dụ về tên gọi 4 trạm với 4 nội dung
- Thiết kế các nhiệm vụ và hoạt động ở mỗi trạm: Căn cứ vào nội dung
cụ thể của bài học và không gian lớp học, GV cần phải:
Nội dung dạy học
Trạm quan sát
Trạm phân tích
Trạm trải nghiệm
Trạm phân tích
Trạm làm thí nghiệm
Trạm xem phim
Trạm đọc hiểu Trạm áp
dụng
Trang 27- HS lắng nghe, tìm hiểu và quyết định chọn trạm theo sở thích, tuy nhiên
HS sẽ phải điều chỉnh nếu như có số HS chọn quá đông vào cùng một trạm hoặc GV có thể tự sắp xếp thứ tự xuất phát theo ý mình
- HS thực hiện nhiệm vụ tại các trạm, GV quan sát, hỗ trợ
- Hết thời gian tại mỗi trạm, GV yêu cầu HS luân chuyển các trạm và sau khi HS hoàn thành nhiệm vụ ở tất cả các trạm
d Hoạt động đánh giá và củng cố nội dung bài học
Vào cuối giờ học, sau khi HS đã được luân chuyển qua đủ các trạm, GV
tổ chức cho HS báo cáo, thảo luận, bổ sung kết quả học tập ở mỗi trạm Trên
Trang 28cơ sở ý kiến của HS, HS nhận xét, đánh giá, chốt lại vấn đề trọng tâm, đảm bảo cho HS khắc sâu kiến thức
e Một số lưu ý trong quy trình của dạy học theo trạm
- Định hướng hoạt động học của HS
+ Để tổ chức dạy học theo trạm, điều quan trọng là phải nắm được mức
độ định hướng của HS và mức độ hoạt động độc lập các em có thể thực hiện được Khả năng định hướng của HS càng tốt thì việc tổ chức lớp học càng đơn giản đối với GV Do đó, HS sẽ có thể tự do sáng tạo trong lớp học
+ Trong quá trình tổ chức dạy học theo trạm, sự định hướng của GV với
HS được thể hiện qua bảng theo dõi học theo trạm hoặc thẻ trạm cá nhân Cách tổ chức dạy học theo trạm sau đây sẽ giúp HS được thêm cơ hội để thể hiện sự sáng tạo của mình, mỗi nhiệm vụ học theo trạm phải được hoàn thành trong một thời gian nhất định và HS được quyền lựa chọn thứ tự các trạm [14] + Cách tổ chức này nằm trong điều kiện lí tưởng nên với điều kiện đa số các trường phổ thông và HS ở Việt Nam thì còn gặp nhiều khó khăn theo cách
tổ chức này Trong trường hợp đó, GV cần giới hạn số lượng HS hoạt động trong một trạm nếu không sẽ có trường hợp có các trạm có số HS quá đông, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của HS, có trạm thì có số lượng HS quá ít + Để giám sát các HS đã hoàn thành xong nhiệm vụ, GV có thể áp dụng hai hệ thống:
GV có thể sử dụng “bảng theo dõi trạm” để HS đánh dấu các trạm các
em đã hoàn thành Qua đó, GV có thể nắm được những HS đang bị tụt lại và
có được phương pháp hỗ trợ kịp thời
GV có thể sử dụng thẻ trạm cá nhân để HS sẽ đánh dấu các trạm đã hoàn thành
- Tổ chức không gian học theo trạm
Trang 29Một yếu tố quan trọng là mối quan hệ giữa số HS và kích thước của không gian học tập Không những chỉ sử dụng không gian trong lớp học, GV
có thể sử dụng không gian bên ngoài để có thể có không gian học tập lớn hơn Học theo trạm đòi hỏi việc tổ chức lại không gian lớp học kể cả trong các điều kiện giới hạn Có thể thực hiện được điều này theo một số cách đơn giản: ghép các bàn học lại với nhau, chia HS thành cặp, đặt các tư liệu dạy học lên phía trước lớp học Nếu các trạm có thể được giữ nguyên trong lớp ở một khoảng thời gian, GV cũng có thêm các khả năng khác và giảm bớt hoạt động tổ chức lớp học HS cũng có thể quay lại vị trí đang làm việc [16]
- Tổ chức tư liệu trong dạy học theo trạm
Việc triển khai dạy học theo trạm phụ thuộc vào chất lượng của tư liệu/tài liệu ở trường Một môi trường học tập được tổ chức là một yếu tố chủ yếu để hỗ trợ cho học tập tích cực Sự đa dạng của các tư liệu có ích lợi đối với HS, đặt lại các trạm khác nhau cần có sự sẵn sàng trong tất cả thời gian để
HS có thể thao tác và khai thác nó [7]
1.1.2.8 Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo trạm
* Ưu điểm
- Kích thích HS tích cực học tập thông qua hoạt động
- Mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái ở HS
- HS được chọn trạm học tập theo sở thích (phong cách học) để thực hiện nhiệm vụ nên tạo ra sự hứng thú, thoải mái cho HS
- HS được tìm hiểu một nội dung theo các cách khác nhau: nghiên cứu lý thuyết, làm thí nghiệm, quan sát hình ảnh, hiện tượng hay áp dụng, do đó HS
sẽ khắc sâu kiến thức hơn là chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình
- Có sự tương tác nhiều hơn giữa HS với HS và giữa HS với GV
- GV có thể hỗ trợ đến từng cá nhân, giúp đỡ các em trong hoạt động học tập
Trang 30* Hạn chế
- Nội dung lựa chọn là hữu hạn
- Phải có không gian và thiết bị dạy học phù hợp
- Cần có sự chuẩn bị rất kỹ của GV về mặt thiết kế nhiệm vụ, đồ dùng, phương tiện học tập tại các trạm, HS cũng cần chuẩn bị bài trước khi đến lớp
- GV cần có trình độ sâu về chuyên môn và PPDH
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Mục đích điều tra
Qua việc tìm hiểu thực tế dạy và học phần Sinh học VSV, Sinh học 10 bằng cách trao đổi với GV và HS nhằm thu thập một số thông tin sau:
- Những thuận lợi và khó khăn khi dạy kiến thức phần Sinh học VSV
- Việc đổi mới PPDH, cách tổ chức dạy học, việc biên soạn bài giảng của GV,…
- Việc sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học của GV và việc học tập của HS
- Những thuận lợi, khó khăn, mong muốn của HS khi học kiến thức về phần Sinh học VSV
1.2.2 Phương pháp điều tra
Để thực hiện được các mục đích nói trên, chúng tôi tiến hành điều tra như sau:
- Điều tra GV: dùng phiếu trao đổi ý kiến GV (phụ lục 1), trao đổi trực tiếp với GV và dự giờ dạy học của GV
- Điều tra HS: dùng phiếu hỏi thông tin HS (phụ lục 2), trao đổi trực tiếp với HS
- Phân tích kết quả kiểm tra
- Địa điểm điều tra: trường THPT Nguyễn Trãi – Ba Đình
Trang 311.2.3 Kết quả điều tra
Bảng 1.2 Số lượng điều tra bằng phiếu hỏi của GV và HS
Đối tượng điều
tra
Số phiếu phát ra Số phiếu thu vào
1.2.3.1 Tình hình dạy và học phần Sinh học Vi sinh vật
Sau khi thu thập thông tin từ GV và HS, chúng tôi đưa ra nhận xét về kết quả khảo sát như sau:
- Về phía GV:
+ Các GV rất ít khi sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy nội dung phần Sinh học VSV vì lý do số lượng các phòng đa năng ở trường có hạn nên không thể thường xuyên sử dụng và việc chuẩn bị giáo án điện tử mất khá nhiều công sức, thời gian nên GV không thể thường xuyên sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học
+ Tất cả GV được hỏi đều đã được tập huấn và bồi dưỡng đổi mới PPDH nhưng chỉ áp dụng ở mức đơn giản và chưa mang lại hiệu quả nhiều đối với phát triển năng lực của HS
+ Tất cả GV đều rất thường xuyên sử dụng phương pháp thuyết trình, vấn đáp trong giảng dạy GV cũng sử dụng PPDH thí nghiệm nhưng không thường xuyên Các GV chỉ gộp các bài thực hành của một chương vào một buổi thực hành duy nhất nên HS ít có cơ hội được thực hành và phát triển năng lực Các PPDH mới như dạy học dự án, dạy học theo trạm hay dạy học kết hợp tổ chức hoạt động ngoại khóa còn chưa được sử dụng
Trang 32+ Trong khi dạy học, GV cũng có những biện pháp nhằm làm tích cực hóa hoạt động của HS như: Đưa ra câu hỏi cho HS giải quyết nhưng các câu hỏi đa số chỉ mang tính lý thuyết ở mức độ tái hiện kiến thức, không có nhiều tác dụng trong việc phát huy năng lực của HS Bên cạnh đó, GV cũng thường xuyên sử dụng các phiếu học tập để HS hoạt động nhóm nhưng các phiếu học tập chỉ có các câu hỏi lý thuyết và tâm lý môn Sinh học không là môn thi Đại học nên vẫn chưa nhận được sự hưởng ứng tích cực của HS
- Về phía HS: Qua việc sử dụng phiếu điều tra, trao đổi và dự giờ, phân tích kết quả, chúng tôi đưa ra những nhận xét sau đây:
+ Có 50/100 HS được hỏi rất thụ động trong giờ học Biểu hiện ở các em không bao giờ giơ tay trả lời câu hỏi hay phát biểu ý kiến, đặt ra câu hỏi cho
GV Trong giờ học, các em chủ yếu chỉ ngồi nghe giảng, lười hoạt động và không có hứng thú trong học tập môn Sinh học
+ 76/100 HS được hỏi không có sự chuẩn bị bài môn Sinh học khi đến lớp + 71/100 HS chưa hoặc ít có khả năng vận dụng kiến thức môn Sinh học vào thực tiễn HS chỉ giải quyết được các tình huống rất đơn giản hay các hiện tượng đã được GV giải thích
+ 20/100 HS đã được học PPDH theo trạm và đa phần các em đều rất hứng thú
1.2.3.2 Những khó khăn và sai lầm học sinh thường gặp phải khi học phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 Trung học phổ thông
Qua trao đổi với GV, HS và phân tích bài làm của HS chúng tôi nhận thấy khi học phần Sinh học VSV, Sinh học 10, HS thường gặp phải những khó khăn:
- Nội dung kiến thức những bài dài, trừu tượng, khô khan
- Phần Sinh học VSV là học phần có những nội dung gắn liền rất nhiều với thực tế nhưng do HS không chú tâm nhiều trong quá trình học nên các em không vận dụng kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng các em gặp phải
Trang 33CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC THEO TRẠM 2.1 Cấu trúc chương trình sách giáo khoa Sinh học 10 Trung học phổ thông
2.1.1 Cấu trúc chương trình Sinh học 10 Trung học phổ thông
Chương trình Sinh học 10 được thể hiện trong hình 2.1:
Hình 2.1 Cấu trúc chương trình Sinh học 10
hóa học của tế bào
Chương II Cấu trúc
của tế bào
Chương III Chuyển
hóa vật chất và năng lượng trong tế bào
Chương IV Phân bào
Trang 342.1.2 Cấu trúc chương trình Sinh học 10 phần Sinh học Vi sinh vật
Phần III Sinh học VSV gồm 3 chương với 11 bài:
- Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở VSV:
Chương này đề cập đến các loại môi trường nuôi cấy VSV cơ bản, các kiểu dinh dưỡng và chuyển hóa vật chất đa dạng ở vVSV thông qua các quá trình phân giải các chất, bên cạnh đó cũng nêu nên vai trò của VSV trong thiên nhiên cũng như những ứng dụng của nó trong đời sống con người
- Chương II: Sinh trưởng và sinh sản của VSV:
Chương nói tới sự sinh trưởng của VSV theo cấp số mũ, quy luật sinh trưởng nuôi cấy liên tục, nuôi cấy không liên tục, nêu được các yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của VSV và kể tên các hình thức sinh sản ở VSV
- Chương III: Virut và bệnh truyền nhiễm:
Chương III đề cập tới các dạng virut, cấu trúc các dạng virut và sự nhân lên của virut trong tế bào chủ Đồng thời cũng chỉ ra được các phương pháp lây truyền các bệnh do virut gây ra, các ứng dụng của virut trong thực tiễn, giới thiệu về bệnh truyền nhiễm và miễn dịch
Cuối mỗi chương đều có một bài thực hành để minh họa hoặc củng cố hay phát triển nhận thức cho HS Cuối phần III có bài ôn tập, tổng kết các kiến thức về VSV
2.2 Chuẩn kiến thức, kỹ năng phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 Trung học phổ thông
* Kiến thức
- Nêu được môi trường và kiểu dinh dưỡng của VSV
- Phân biệt được quá trình phân giải ngoại bào và phân giải nội bào prôtêin của VSV
- Phân biệt được lên men êtilic và lên men lactic
Trang 35- Nêu được khái niệm sinh trưởng của VSV
- So sánh sự khác nhau giữa nuôi cấy liên tục và không liên tục
- Tính được số tế bào sau mỗi lần phân chia, thời gian thế hệ
- Nêu được đặc điểm của một số chất hóa học, yếu tố vật lý đến sinh trưởng của VSV
- Nêu được các đặc điểm chung của virut
- Phân biệt được cấu tạo của virut trần và virut có vỏ ngoài, các dạng hình thái của virut
- So sánh được sự khác biệt giữa vi khuẩn và virut
- Nêu được 5 giai đoạn nhân lên của virut trong tế bào và đặc điểm của từng giai đoạn đó
- Trình bày được khái niệm của virut HIV và đặc điểm của bệnh HIV/AIDS
- Nêu được ứng dụng của virut trong thực tiễn
- Nêu được các đặc điểm của bệnh truyền nhiễm và miễn dịch
* Kỹ năng
- Thực hiện được các thí nghiệm lên men êtilic và lactic
- Quan sát được một số video, hình ảnh, mẫu vật VSV
- Nhận biết được một số bệnh gây ra bởi virut, bệnh truyền nhiễm và các cách phòng tránh
2.3 Thiết kế tiến trình dạy học theo trạm một số nội dung kiến thức phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10
2.3.1 Quy trình dạy học theo trạm đối với phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10
Dựa vào cơ sở lý luận, thực tiễn của PPDH theo trạm, dựa vào các đặc điểm, nguyên tắc dạy học theo trạm và dựa vào nội dung, chuẩn kiến thức,
Trang 36kỹ năng của phần Sinh học VSV chương trình Sinh học 10, chúng tôi đã nghiên cứu và đưa ra quy trình dạy học theo trạm phần Sinh học VSV chương trình Sinh học 10 với các bước như sau:
Hình 2.2 Quy trình dạy học theo trạm đối với phần Sinh học VSV
Mô tả quy trình
a Bước 1: Lựa chọn nội dung và xác định mục tiêu bài học
- Lựa chọn nội dung phù hợp với sự phát triển của chương trình, phù hợp với kỹ năng làm việc nhóm
- Xác định mục tiêu bài học: Cần xác định rõ ràng về kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực, đặc biệt cần xác định rõ các kỹ năng cụ thể HS có thể đạt được sau khi học bài để thuận tiện cho quá trình đánh giá
b Bước 2: Xây dựng các trạm và quy tắc học tập mỗi trạm
- Tùy vào nội dung bài học để sử dụng hệ thống trạm học tập cho phù hợp (Bảng 1.1) Các nhiệm vụ học tập phải độc lập Nếu một bài học có nhiều nội dung ta có thể chia thành nhiều nhóm trạm học tập sao cho trong mỗi nhóm trạm đó, các nhiệm vụ học tập là độc lập với nhau
Bước 1 • Lựa chọn nội dung và xác định mục tiêu bài học
Bước 2 • Xây dựng các trạm và quy tắc học tập mỗi trạm
Bước 4 • Tổng kết và củng cố kiến thức
Trang 37- Với các trạm có thí nghiệm, các nguyên vật liệu phải đơn giản, dễ thao tác, phù hợp với thí nghiệm HS
- Thời gian dành cho mỗi trạm tối đa không quá 15 phút Xây dựng nhóm trạm có nội dung tương đương với nhau thì thời gian hoạt động trên mỗi trạm phải như nhau Thời gian dành cho mỗi trạm tuỳ thuộc vào nội dung và nhiệm vụ của từng trạm nhưng phải phù hợp với thời gian của tiết học
- Số trạm trong một đơn vị kiến thức không quá 7 trạm, tránh trường hợp xây dựng nhiều trạm gây cảm giác mệt mỏi cho HS
- Các phiếu học tập riêng của trạm đặt tại mỗi trạm không phát cho các nhóm để tránh nhầm lẫn phiếu tại các trạm
c Bước 3: Tổ chức dạy học theo trạm
- GV bố trí không gian lớp học theo hệ thống trạm đã xây dựng cho nội dung bài học
- Chuẩn bị đầy đủ phương tiện, đồ dùng, tài liệu học tập phù hợp với nhiệm vụ ở mỗi trạm
- Hoạt động diễn ra trong một tiết học áp dụng PPDH theo trạm có thể như sau (lưu ý thời gian từng bài có thể thay đổi tùy thuộc vào nội dung):
* Hoạt động: Tổ chức dạy học theo trạm (35 phút)
- GV ổn định lớp, chia nhóm HS, yêu cầu
các nhóm cử nhóm trưởng, thư kí
- Chia nhóm vào các trạm, nêu nội dung,
nhiệm vụ, cách di chuyển theo quy tắc của
các trạm để các nhóm biết công việc của
mình như ở bước 2
- Tập hợp các nhóm và cử nhóm trưởng và thư kí của nhóm
- Nghe GV thông báo quy tắc di chuyển và nhiệm vụ của các trạm
Trang 38- GV ra hiệu thời gian làm nhiệm vụ của
các trạm bắt đầu
- Sau khi hết thời gian hoàn thành nhiệm
vụ của trạm đó, GV ra hiệu cho các nhóm
chuyển trạm theo quy tắc đã hướng dẫn
- GV quan sát hoạt động của HS và trợ
giúp các nhóm, duy trì trật tự trong lớp học
- Các nhóm hoàn thành nhiệm
vụ ở trạm trong thời gian quy định
- Các nhóm di chuyển trạm theo hiệu lệnh của GV
d Bước 4: Tổng kết và củng cố kiển thức
- GV yêu cầu các nhóm trình bày kết quả ở một trạm cuối cùng của nhóm Yêu cầu các thành viên trong nhóm khác nhận xét, góp ý, bổ sung và cùng GV chữa phiếu học tập
- GV củng cố lại kiến thức cho HS
2.3.2 Ví dụ cụ thể một số nội dung sử dụng phương pháp dạy học theo trạm theo quy trình
Dựa vào quy trình dạy học theo trạm phần Sinh học VSV, chúng tôi đưa ra một số ví dụ dạy học theo trạm áp dụng theo quy trình:
2.3.3.1 Ví dụ 1: Bài 22 Dinh dưỡng, chuyển hóa vật chất và năng lượng
ở VSV
a Bước 1: Lựa chọn nội dung và xác định mục tiêu bài học:
* Nội dung phần II Môi trường và các kiểu dinh dưỡng
* Mục tiêu:
- Kiến thức
+ Trình bày được các kiểu chuyển hóa vật chất và năng lượng ở VSV dựa vào nguồn năng lượng và nguồn cacbon mà VSV đó sử dụng
Trang 39- Kỹ năng
+ Hình thành kỹ năng phân tích, so sánh, suy luận và giải thích
+ Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm
- Thái độ
+ Nhận thức được vai trò của VSV trong hệ thống sống
+ Vận dụng được kiến thức về dinh dưỡng, chuyển hóa vật chất và năng lượng
ở VSV vào đời sống, giải thích được một số hiện tượng trong cuộc sống như lên men dấm, sữa chua…
b Bước 2: Xây dựng các trạm và quy tắc học tập mỗi trạm:
* Hoạt động của mỗi trạm:
Trạm Thời
gian
Thiết bị - đồ dùng
Trang 40* Cách sắp xếp và di chuyển của các nhóm tại trạm:
Hình 2.3 Sơ đồ di chuyển của các nhóm tại mỗi trạm
- Lớp học được chia làm 3 nhóm, với vị trí các nhóm tại các trạm như hình 2.3
- Sau khi hết thời gian hoàn thành nhiệm vụ tại trạm, các nhóm nghe hiệu lệnh của GV và di chuyển theo chiều kim đồng hồ sang các trạm kế tiếp và tiếp tục làm nhiệm vụ tại trạm đó trong thời gian quy định
- Các nhóm di chuyển lần lượt hết các trạm
c Bước 3: Tổ chức dạy học:
* Hoạt động: Tổ chức dạy học theo trạm nội dung II Môi trường và các kiểu dinh dưỡng, bài 22 Dinh dưỡng, chuyển hóa vật chất và năng lượng ở VSV (20 phút)
- GV ổn định lớp, chia HS thành 3 nhóm,
yêu cầu các nhóm cử nhóm trưởng, thư kí
- Chia nhóm vào các trạm, nêu nội dung,
nhiệm vụ, cách di chuyển theo quy tắc của
các trạm để các nhóm biết công việc của
- Tập hợp các nhóm và cử nhóm trưởng và thư kí của nhóm
- Nghe GV thông báo quy tắc
di chuyển và nhiệm vụ của các trạm
Trạm phân tích 1 (Nhóm 1 xuất phát)
Trạm phân tích 2 (Nhóm 2 xuất phát) Trạm quan sát
(Nhóm 3 xuất phát)