1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ma túy ở thành phố hồ chí minh

275 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 275
Dung lượng 3,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu đề tài Khách thể và đối tượng nghiên cứu Giả thuyết khoa học Nhiệm vụ nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu Những luận điểm cần bảo vệ Đóng góp mới của

Trang 1

TỔ CHỨC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO THANH NIÊN SAU CAI NGHIỆN

MA TUÝ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lí giáo dục

Mã số: 62 14 05 01

Hà Nội 2010

Trang 2

LÊ HỒNG MINH

TỔ CHỨC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO THANH NIÊN SAU CAI NGHIỆN

MA TÚY Ở THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 62 14 05 01

HÀ NỘI - 2009

Trang 3

Mục đích nghiên cứu đề tài

Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Giả thuyết khoa học

Nhiệm vụ nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Những luận điểm cần bảo vệ

Đóng góp mới của luận án

Cấu trúc của luận án

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP

CHO THANH NIÊN SAU CAI NGHIỆN Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về quản lý giáo dục va ̀ tổ chức quản lý người nghiện

Nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp (TVHN)

Nghiên cứu về TVHN cho các nhóm đối tượng đặc biệt

Một số khái niệm cơ bản của luận án

Ma tuý, nghiện, cai nghiện, sau cai nghiên ma túy

Thanh niên sau cai nghiện (TNSCN)

Quản lý, tổ chức

Tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện

Tổ chức tư vấn hướng nghiệpcho thanh niên sau cai nghiê ̣n

Trang 4

Sự cần thiết và và tính nhân văn của tổ chức TVHN cho TNSCN

Sự cần thiết của hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho TNSCN

Tính nhân văn của tổ chức TVHN cho TNSCN

Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức TVHN cho TNSCN

Phẩm chất và năng lực của cán bộ quản lý

Đặc điểm tâm lý và hoàn cảnh xã hội của TNSCN

Tâm lý, trình độ nhận thức và thái độ của gia đình

Môi trường xã hội, nếp sống địa phương

Các tiêu chí đánh giá hoạt động tổ chức TVHN cho TNSCN

Đánh giá về mặt khoa họchệ thống và cơ chế tổ chức TVHN

Đánh giá về mặt chất lượng nội dung giáo dục TNSCN qua TVHN

Đánh giá về mặt nhân sự tham gia tổ chức và TVHN

Kiểm chứng thực tế số TNSCN có việc làm trên cộng đồng

Tiểu kết chương 1

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO THANH NIÊN SAU CAI NGHIỆN Ở TP HỒCHÍ MINH

Tình hình chung về QLGD và tổ chức TVHN cho TNSCN

Tình hình quản lý giáo dục thanh niên nghiện, tái nghiện ma túy

Tình hình tái nghiện ma túy và thí điểm phòng chống tái nghiện

Quản lý giáo dục người nghiện và sau cai nghiện của TpHCM

Trang 5

Nội dung và phương pháp TVHN cho TNSCN

Năng lực nhân sự của tổ chức và các lực lượng tham gia TVHN

Thực trạng TNSCN và tình hình an ninh trật tự của thành phố

Kinh nghiệm QLGD TNSCN chống tái nghiện qua TVHN

Ý kiến đánh giá của TNSCN về TVHN

Kinh nghiệm từ chương trình Cai tại chỗ(CTC)

Tiểu kết chương 2

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ CẢI TIẾN HOẠT ĐỘNG

TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO THANH NIÊN SAU CAI NGHIỆN

TP HỒ CHÍ MINH

Nguyên tắc đề xuất giải pháp mới và hệ thống các giải pháp

Một số nguyên tác đề xuất giải pháp mới

Hệ thống các giải pháp

Nhóm giải pháp 1 Hoàn thiện tổ chức TVHN cho TNSCN ở cộng đồng

Giải pháp 1 Xây dựng văn phòng TVHN cho TNSCN ở cộng đồng

Giải pháp 2 Củng cố hệ thống tổ chức và cải tiến phương thức hoạt động

của Đội tình nguyện CTXH ở cộng đồng tham gia TVHN cho TNSCN

Giải pháp 3 Xây dựng quy chế hoạt động của hệ thống TVHN

Giải pháp 4 Tăng cường kiểm tra hoạt động TVHN cho TNSCN

Giải pháp 5 Tăng cường xã hội hóa tổ chức TVHN cho TNSCN

Trang 6

Nhóm giải pháp 2: Xây dựng nội dung và phương pháp giáo dục

TNSCN qua TVHN (10 chuyên đề giáo dục )

Giải pháp 1 : Giáo dục kỹ năng khởi nghiệp và lao động nghề nghiệp

Giải pháp 2: Giáo dục kỹ năng sống, đối phó tình huống có nguy cơ

Nhóm giải pháp3: Bồi dưỡng nhân sự tổ chức TVHN cho TNSCN

Giải pháp 1: Bồi dưỡng chung cho người làm việc với TNSCN

Giải pháp 2: Bồi dưỡng cán bộ quản lý TVHN cho TNSCN

Giải pháp 3: Bồi dưỡng nghiệp vụ TVHN cho tình nguyện viên

Mối quan hệ hữu cơ giữa các giải pháp

Tổ chức thực nghiệm

Mục đích, giới hạn thực nghiệm

Nội dung thực nghiệm

Tiến trình và phương pháp thực nghiệm

Đánh giá kết quả thực nghiệm

Đánh giá về mặt khoa học tổ chức thực nghiệm TVHN choTNSCN

Đánh giá về mặt chất lượng nội dung giáo dục TNSCN qua TVHN

Đánh giá về phẩm chất và năng lực nhân sự tham gia TVHN

Kiểm chứng thực tế số lượng TNSCN có việc làm

Tiểu kết chương 3

Kết luận kiến nghị

Danh mục tài liệu tham khảo

Danh mục công trình đã công bố liên quan đến luận án

193

197

206

207

Trang 7

Lao động Thương binh và xã hội Chương trình giáo dục giá trị sống Người có HIV

Người sau cai Quản lý giáo dục Sắp xếp việc làm

Tổ chức giáo dục Thực nghiệm Thanh niên sau cai nghiện Thành phố Hồ Chí Minh Trung tâm dạy nghề Trung tâm giới thiệu việc làm

Tư vấn hướng nghiệp

Ủy ban dân số gia đình và trẻ em

Ủy ban nhân dân Văn phòng tư vấn gia đình và trẻ em

Trang 8

Tam giác hướng nghiệp Platonop

Quá trình tổ chức các hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho TNSCN

Thang nhu cầu con người của Abraham Maslow

Số người nghiện ma túy Việt Nam tăng giảm hằng năm (2000-2005)

Hệ thống quản lý các trung tâm cai nghiện ở TpHCM

Sơ đồ tổ chức Đội Tình Nguyện CTXH ở phường /xã

Sơ đồ vị trí TVHN trong phòng tư vấn của Trung tâm cai nghiện

Hiện trạng hệ thống quản lý giáo dục TNSCN trong cộng đồng

Mối quan hệ của Đội tình nguyện CTXH với các tổ chức địa phương

Tỷ lệ TNSCN có nghề và không có nghề

Tỷ lệ TNSCN có nghề, học nghề trước và sau cai nghiện

TNSCN đánh giá về cán bộ tư vấn

Các mối quan hê ̣ liên kết hoa ̣t đô ̣ng của Văn phòng TVHN cho TNSCN

Mô hình tổ chức đội tình nguyện kiểu truyền thống

Mô hình tổ chức đội đặc nhiệm

Mô hình chọn ngẫu nhiên số TNSCN đại diện mẫu TN và mẫu ĐC

Mức tiến bộ của mẫu thực nghiệm (%)

Mức tiến bộ của mẫu đối chứng (%)

Mức tiến bộ mẫu thực nghiệm so với mẫu đối chứng

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Tình hình cai nghiện và tỷ lệ tái nghiện ở một số tỉnh thành

Nguyên nhân tái nghiện ở một số tỉnh thành (%)

Xu huớng chọn nghề của TNSCN khi còn ở trung tâm 06 (gđ2)

Tình trạng việc làm của TNSCN trở về cộng đồng sau 6 tháng

Nghề và công việc phù hợp với TNSCN ở TpHCM

Trang 9

TNSCN có ý kiến về phương pháp giáo dục đồng đẳng quaTVHN

Các phương thức tiếp tục giáo dục TNSCN phù hợp

Khác biệt tâm lý quan trọng của TNSCN trước và sau khi cai nghiện

Nguyên nhân tái nghiện đối với TNSCN được TVHN

Bệnh lý tâm thần và di chứng trên hệ thần kinh của TNSCN

Hứng thú tự tạo việc làm đối với TNSCN được CBQL đánh giá

Tỷ lệ % Số TNSCN ở cộng đồng được vay vốn

Tỷ lệ % tình nguyện viên được tập huấn TVHN và việc làm

TNSCN đánh giá chung về cán bộ tư vấn

Kiến thức kỹ năng cần đào tạo bổ sung cho tư vấn viên

Ý kiến đánh giá của chuyên gia

Kết quả đánh giá trước thực nghiệm của mẫu thực nghiệm (a)

Kết quả đánh giá trước thực nghiệm của mẫu đối chứng (b)

So sánh trước thực nghiệm giữa mẫu thực nghiệm và mẫu đối chứng

Kết quả đánh giá sau thực nghiệm của mẫu thực nghiệm (a‟)

Kết quả đánh giá sau thực nghiệm của mẫu đối chứng (b‟)

Mức tiến bộ của mẫu thực nghiệm (a‟-a)

Mức tiến bộ của mẫu đối chứng (b‟-b)

So sánh mức tiến bộ giữa mẫu TN với mẫu ĐC

Đánh giá hiệu quả hoạt động của cán bộ và tình nguyện viên

Báo cáo TNSCN được TVHN và SXVL ở mẫu thực nghiệm

Báo cáo TNSCN được SXVL ở mẫu đối chứng 1

Báo cáo TNSCN được SXVL ở mẫu đối chứng 2

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Những năm gần đây, ma tuý đã trở thành một tệ nạn xã hội trên khắp

thế giới, mang tính toàn cầu Công ước quốc tế 1961, 1971, 1988 và những hội nghị quốc tế liên tiếp hằng năm từ năm 1991 đến nay về các vấn đề kiểm soát và phòng chống ma tuý nói lên nguy cơ mà thế giới, trong đó có Việt Nam đang phải đối đầu Theo Báo cáo ma túy thế giới 2006 (2006 World drug report), năm 2004, số người sử dụng ma túy trên thế giới tăng lên đến

200 triệu, chiếm 4,9% dân số 15-64 tuổi [93, trg 8] Điều đáng lo ngại nhất là ngày càng phát triển các đường dây mua bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia; tạo nhiều băng đảng, mafia, khủng bố, câu kết nhiều thế lực chính trị, gây chiến tranh Ma túy thường đi đôi với nghèo đói, thất nghiệp; Kết hợp với đại dịch HIV-AIDS, lây lan rất nhanh trong cộng đồng, làm thay đổi chất lượng dân số, hủy diệt nòi giống, ngăn cản nỗ lực xóa đói giảm nghèo, phát triển xã hội, làm suy yếu nền kinh tế quốc gia, kéo theo nhiều tệ nạn xã hội, gây rối trị an; Tội phạm tăng nhanh như những ung nhọt xã hội, khó chữa trị, ngủ ngầm

và dễ phát tán khi có thời cơ Người nghiện ma túy đã được chữa trị rất dễ bị

tái nghiện nếu không có việc làm ý nghĩa, phù hợp, kèm theo các dịch vụ y

tế và tư vấn tâm lý xây dựng lại tố chất con người, chấp nhận các giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống , yêu lao động, hòa nhập cộng đồng, tư duy tích cực

1.2 Tổ chức giáo dục hướng nghiệp và hỗ trợ việc làm qua con đường tư

vấn cụ thể cho thanh niên sau cai nghiện trở nên khẩn thiết hơn đối với thanh niên bình thường vì con sâu làm rầu nồi canh Mô ̣t thanh niên nghiê ̣n ma túy ,

cả cộng đồng bất an, và hiểm họa ma túy dễ dàng kết hợp với tệ nạn mãi dâm ,

tô ̣i pha ̣m , HIV-AIDS bùng phát cô ̣ng hưởng , nhanh chóng làm băng hoa ̣i đông đảo thanh niên , gây rối trâ ̣t tự, đời sống nhân dân , ảnh hưởng phát triển kinh tế xã hô ̣i, an ninh quốc gia nếu không được ngăn chă ̣n ki ̣p thời

Trang 11

1.3 Ở Việt Nam, năm 2000 nhà nước tổ chức cai nghiện cho 92.617 người

nghiện ma túy trên cộng đồng và các trung tâm/trường trại cai nghiện Năm

2004 tăng lên 170.407 người và trong năm có gần 1.500 người chết vì tiêm chích ma túy bị sốc, và dịch bệnh Cả nước chỉ còn 48,75% phường xã không

có ma túy Theo Báo cáo ma túy thế giới năm 2007, Việt Nam có 53% người

tiêm chích ma túy bị nhiễm HIV, gây tác hại nhiều mặt về an ninh, kinh tế, xã hội [94,trg 68] Gần đây, tại thành phố Hồ Chí Minh, có 34.563 lượt người đa

số là thanh niên sau cai nghiện (TNSCN) được tập trung cai nghiện ở 18 trung tâm mãn hạn, trở về tái hòa nhập cộng đồng Tính đến tháng 7/ 2009 đã có 14.657 người hoàn thành cai nghiện, trong đó: về xã, phường 12.259 người,

629 người nhiễm HIV/AIDS và 681 trường hợp tử vong, nhưng đáng ngại nhất là con số hằng vạn người này sẽ tái nghiện, (vào những năm 1990, tỷ lệ

tái nghiện thông thường là trên 90% )

Do vậy, tiếp tục quản lý giáo dục, hỗ trợ việc làm, phòng chống tái

nghiện cho TNSCN là một vấn đề thời sự bức xúc của Nhà nước và của xã hội

Đến nay, các nhà hoạch định chính sách chưa giải quyết dứt khoát, nên tiếp tục quản lý giáo dục TNSCN ở các cơ sở cai nghiện tập trung, hay tiếp tục tổ chức quản lý giáo dục ở địa phương Theo quan điểm lịch sử và quan điểm hệ thống trong quản lý giáo dục đối tượng đặc biệt, phải công nhận rằng :

(1) Dù tập trung cai nghiện bao lâu rồi cũng về cộng đồng sinh sống, cần chuẩn bị thành lập một hệ thống tổ chức hợp lý, tiết kiệm ngân sách, hoạt động bền vững, tiếp tục quản lý giáo dục TNSCN ở cộng đồng,

(2) Hệ thống tổ chức đó trực tiếp lãnh đạo các đội tình nguyện công tác

xã hội, gồm những cán bộ lão luyện, giỏi giáo dục, giáo dục lại các đối tượng đặc biệt, không đòi hỏi thù lao cao Nhưng làm việc theo phong trào thiếu tổ chức thường xuyên kiểm tra, động viên giao nhiệm vụ, và triết lý nghiệp vụ thường được suy diễn theo kiểu kẻ cả, dày dạn kinh nghiệm và ban ơn

Trang 12

(3) Do tâm lý của TNSCN, rất ngại giao tiếp, nên mọi hoạt động giáo

dục, quản lý giáo dục đều phải qua con đường tư vấn tâm lý Chủ đề của giáo

dục TNSCN là giáo dục hướng nghiệp, hoạt động chủ yếu của giáo dục viên là

hoạt động tư vấn hướng nghiệp (TVHN), tư vấn tự tạo việc làm hoặc tìm việc làm hỗ trợ cho TNSCN

Nhà nước đã có Thông tư liên bộ số 27/2003/TTLT-BLĐ

TBXH-BTC-UBTƯM TQVN, ngày 18/12/2003, về việc hướng dẫn thành lập Đội tình

nguyện công tác xã hội (ĐTN.CTXH) địa phương, phòng chống tệ nạn xã hội,

giúp đỡ TNSCN tái hoà nhập cộng đồng Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của

đội chưa cao, vì đội chịu nhiều đầu mối lãnh đạo ở phường xã, hệ thống vận hành nặng về quản lý hành chánh hơn là nghiệp vụ giáo dục, quản lý giáo dục

Dựa vào thông tư trên, sử dụng nhân sự và các nguồn lực sẵn có trên

cộng đồng, hoàn thiện tổ chức, thành lập hệ thống tổ chức TVHN cho TNSCN

với cơ chế hoạt động linh hoạt nhưng bền vững và đặc biệt sáng tạo nội dung

mới, phương thức mới, cải tiến nội dung giáo dục, nuôi dưỡng mối quan hệ tương giao nhân ái giữa người tư vấn và TNSCN, giúp TNSCN nhận thức sâu

xa giá trị sống với lao động nghề nghiệp và tăng cường kỹ năng sống, hỗ trợ TNSCN thực tế đối phó với các tình huống có nguy cơ tái nghiện là chiến lược khả thi và thiết thực, góp phần định hướng mục tiêu phương pháp tiếp tục quản

lý giáo dục TNSCN ở cộng đồng

Hiện nay, vấn đề tổ chức, quản lý giáo dục người sau cai nghiện nói chung

và TNSCN nói riêng đã có một số công trình nghiên cứu Nhưng dưới nhãn quan

khoa học quản lý giáo dục, chưa có công trình nào nghiên cứu ở cấp độ luận án

tiến sỹ Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Tổ chức tư vấn hướng

nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ma túy ở thành phố Hồ Chí Minh” làm

luận án tiến sỹ của mình

Trang 13

2 Mục đích

Đề xuất giải pháp thành lập tổ chức hệ thống tư vấn hướng nghiệp

tiếp tục quản lý giáo dục TNSCN ở cộng đồng qua các bước hoàn thiện tổ

chức và đổi mới nội dung phương pháp giáo dục TNSCN của các đội tình

nguyện phòng chống TNXH ở Tp.Hồ Chí Minh

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể: Quá trình tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho TNSCN tại

cộng đồng trên địa bàn TP HCM

3.2 Đối tượng: Giải pháp tổ chức hoạt động TVHN cho TNSCN tại TpHCM

4 Giả thuyết khoa học

Phòng chống tái nghiện ma tuý cho TNSCN tại cộng đồng hiện nay còn

ít kết quả, chủ yếu do cách tổ chức và nội dung, phương pháp quản lý giáo

dục chưa thật phù hợp

Nếu xây dựng được một tổ chức TVHN làm đầu mối, liên kết, điều

phối sự tham gia của các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội hiện có trên cộng đồng dân cư và cải tiến nội dung, phương pháp hoạt động TVHN phù

hợp với đối tượng TNSCN thì sẽ nâng cao được kết quả tổ chức, quản lý giáo

dục TNSCN tại cộng đồng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xác định cơ sở lý luận của tổ chức TVHN trong quản lý giáo dục TNSCN 5.2 Đánh giá thực trạng tổ chức TVHN cho TNSCN ở tp Hồ Chí Minh

5.3 Đề xuất giải pháp thành lập tổ chức TVHN cho TNSCN qua các bước hoàn

thiện tổ chức và cải tiến hoạt động đội tình nguyện CTXH tại phường xã

5.4 Tổ chức thực nghiệm giải pháp hoàn thiện tổ chức và cải tiến hoạt động

TVHN cho TNSCN tại cộng đồng

Trang 14

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

Luận án được tiến hành nghiên cứu theo hai quan điểm cơ bản sau:

6.1.1 Quan điểm xã hội- lịch sử

TNSCN là một nhóm xã hội đặc thù, nhưng họ là con đẻ của hoàn cảnh xã hội lịch sử cụ thể trên địa bàn TP HCM Họ mắc nghiện, quá trình cai nghiên cũng như tái hoà nhập xã hội SCN đều gắn liền với diễn biến đời sống của họ trong bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội không ngững biến đổi trên địa bàn thành phố cũng như của cả nước Cho nên để nghiên cứu tổ chức TVHN, quản lý giáo dục những TNSCN tại cồng đồng cần thấu hiểu tâm tư nguyện vọng, hoàn cảnh sống của họ trong môi trường cụ thể mới giúp họ một cách thiết thực, cụ thể để tái hoà nhập cộng đồng có kết quả

Mặt khác, cai nghiện là một vấn đề đã có ở nước ta từ nhiều năm nay, Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến vấn đề này và cũng đã hình thành nhiều loại hình tổ chức, quản lý, giáo dục người nghiện và sau cai nghiện

Do vậy, nghiên cứu để xuất giải pháp về tổ chức tư vấn và hướng nghiệp cho TNSCN cần kế thừa những kinh nghiệm đã có để đề xuất cách tổ chức cũng như nội dung, phương pháp hoạt động TVHN cho TNSCN phù hợp hơn với hoàn cảnh hiện nay

6.1.2 Quan điểm hệ thống

Quan điểm này được quán triệt trong nghiên cứu, phân tích hệ thống các

tổ chức quản lý giáo dục cai nghiện và sau cai nghiện đã có và hiện có trên địa bàn TP HCM Hệ thống tổ chức này được mô hình hoá, phân tích để đánh giá, rút ra những ưu điểm và hạn chế Việc nghiên cứu, xây dựng một tổ chức mới với mô hình và cơ chế hoạt động mới cũng phải dựa trên quan điểm hệ thống Tức là chỉ ra hệ thống các yếu tố cấu thành tổ chức, hệ thống các mối quan hệ

và cơ chế hoạt động; hệ thống các yếu tố cấu thành điều kiện tồn tại và phát triển bền vững của tổ chức Các hoạt động của tổ chức cũng được thiết kế theo

Trang 15

quan điểm hệ thống: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, điều kiện triển khai hoạt động

Tóm lại, cách tổ chức và các hoạt động TVHN cho TNSCN trong luận án này được nghiên cứu theo quan điểm xã hội - lịch sử và quan điểm hệ thống

6.2 Phương pháp nghiên cứu

6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Để xây dựng cơ sở lý luận của luận án, tác giả đã thu thập, hệ thống hóa các tài liệu liện quan, nghiên cứu, phân tích, khái quát hoá chúng theo ba hướng chủ yếu:

- Lý luận về tổ chức, quản lý giáo dục TNSCN;

- Lý luận về TVHN;

- Tổ chức TVHN cho TNSCN tại cộng đồng

6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

+ Khảo sát thực trạng TVHN cho TNSCN:

Tác giả đã phát phiếu hỏi 364 người, gồm 3 bảng hỏi CBQL (n=140)

và 3 bảng hỏi TNSCN, (n=224) kết quả được phân tích ở chương 2

+ Đánh giá kết quả tổ chức thực nghiệm :

Để đánh giá kết quả tổ chức thực nghiệm, tác giả đã phát phiếu hỏi cho

122 người, gồm 65 tư vấn viên hướng nghiệp (tình nguyện viên), 30 chuyên gia và 27 cán bộ phụ trách TNXH phường (xem mẫu ở bảng 3.1, 3.2, và mẫu phân tích kết quả 3.3, phụ lục 5, trg 243-250)

6.2.2.2 Phương pháp quan sát

Quan sát là phương pháp thường xuyên được sử dụng qua các cuộc tiếp xúc với TNSCN qua quá trình hợp tác đào tạo nghề với các trung tâm cai nghiện và các cộng đồng có TNSCN, nhất là khi tìm hiểu về thực trạng đời sống, công việc, tâm tư của họ để tư vấn cho họ

Trang 16

6.2.2.3 Phương pháp tổng kết thực tiển

Thành phố Hồ Chí Minh cũng như các nơi khác, đã có nhiều cách tổ chức, quản lý giáo dục người sau cai nghiện; nhiều báo cáo tổng kết, trao đổi kinh nghiệm của cán bộ, tư vấn viên tổng kết lại những hoạt động thực tiễn phong phú, cần được nghiên cứu, đánh giá, tìm ra những giải pháp có thể áp dụng cho công trình nghiên cứu này

6.2.2.4 Phương pháp trắc nghiệm

Tác giả luận án tiếp thu và sử dụng một số trắc nghiệm đã có của các tác giả khác, bao gồm những bài trắc nghiệm tổng quát 1 và 2 (TNTQ 01 và 02) thăm dò về khả năng và hứng thú nghề nghiệp theo mô hình lục nghệ của Holland Một số trắc nghiệm được chọn trong các bộ trắc nghiệm cá nhân (TNCN) nhằm đánh giá sự phù hợp nghề/công việc để TVHN cho người TNSCN học nghề hoặc tìm kiếm công việc phù hợp

Trắc nghiệm giúp đánh giá một số mặt, như:

- Trắc nghiệm đo độ bền cơ tỉnh, độ rung tay;

- Đo chỉ số thời gian phản ứng cảm giác/vận động;

- Tư duy logic; Cảm thụ và diễn đạt ngôn từ;

- Trí nhớ hình tượng; Tính bền vững chú ý của Riss;

- Đặc điểm khí chất (H.J.Eyzenck);

- Đặc điểm cảm xúc (Heymans và Wierma)

- Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng sống; …

6.2.2.5 Phương pháp thực nghiệm

Tổ chức thực nghiệm các nhóm giải pháp chủ yếu:

- Thành lập văn phòng và hệ thống TVHN cho TNSCN từ quận đến

phường xã;

- Tổ chức các khoá tập huấn giáo dục TNSCN qua TVHN ở cộng

đồng với 10 chuyên đề ( tự soạn) giáo dục TNSCN yêu lao động và

biết khởi nghiệp, giỏi kỹ năng sống phòng chống tái nghiện,

Trang 17

- Đo lường mức độ thay đổi nhận thức, hành vi của nhóm TNSCN ở mẫu thực nghiệm so sánh với nhóm TNSCN ở mẫu đối chứng Kết quả thực nghiệm được đánh giá tính khoa học của hệ thống tổ chức quản lý TVHN mới được thành lập, tính đồng bộ, thừa kế, khả thi và khẩn thiết của giải pháp, đánh giá trình độ nghiệp vụ và nhiệt tình của cán bộ, đánh giá mức độ thay đổi nhận thức của TNSCN, và cuối cùng còn đánh giá kết quả thực tế TNSCN được sắp xếp việc làm thông qua TVHN (Xem mục 3.2, 3.3, 3.4, chương 3)

Số TNSCN ở quận 3 có tỷ lệ trên dân số và một số đặc điểm khác có

thể đại diện cho TNSCN thành phố HCM, nên quận 3 được chọn làm nơi thực nghiệm Quận 2 và quận Bình Tân là 2 quận vùng ven mới trở thành quận nội

thành cũng phản ánh được tình hình chung người sau cai trở về của thành phố được chọn làm đối chứng, (dân số và số người sau cai của Quận 3 tương đương 2 quận mới Quận 2 và Bình Tân cộng lại)

6.2.2.6 Phương pháp nghiên cứu trường hợp

TVHN cho TNSCN đều cần sâu sát từng trường hợp, nhất là những trường hợp nhiều khó khăn, phức tạp Tuy nhiên trong giới hạn của quá trình nghiên cứu, có 20 trường hợp phỏng vấn sâu qua các cuộc trao đổi tư vấn việc làm cụ thể, 20 trường hợp đó gồm: 7 tư vấn viên và 3 học viên giai đoạn 2 và

10 TNSCN đã về địa phương (tổng hợp trong chương 2, các câu hỏi mở)

6.2.3 Phương pháp bổ trợ

6.2.3.1 Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tranh

thủ sự tư vấn, giúp đỡ quan trọng của nhiều chuyên viên trong các lĩnh vực liên quan; và một số ý kiến lãnh đạo các Trung tâm cai nghiện, Trung tâm Nguồn Tư liệu Ma túy UBDSGĐTE.TpHCM, các quận huyện, phường xã, kết hợp trong các hội nghị chuyên đề và các buổi báo cáo tập huấn cán sự xã hội địa phương

6.2.3.1 Phương pháp thống kê toán học

Trang 18

Sử dụng phần mềm Window, Exel, SPSS,… với sự hỗ trợ của dàn máy vi

tính và chuyên viên của Văn phòng Tư vấn Trẻ em và Gia đình, Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện Thanh Đa, Trung tâm Giới thiệu việc làm Tp, Trung tâm dự báo nhân lực và thị trường lao động, Trung tâm Dạy nghề Nhân Đạo, Phòng LĐTBXH Q3 hỗ trợ thống kê và hoàn chỉnh tư liệu báo cáo

7 Phạm vi nghiên cứu

Về lý luận tập trung vào một số vấn đề làm cơ sở cho việc tổ chức quản

lý giáo dục TNSCN tại cộng đồng thông qua hoạt động TVHN

Về thực trạng, khảo sát đánh giá tình hình tổ chức, quản lý giáo dục TNSCN trên cộng đồng, chủ yếu ở Tp Hồ Chí Minh

Số TNSCN gồm những thanh niên đã cai nghiện trở về cộng đồng còn sức khỏe và sức khỏe yếu, ngoại trừ số bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối

8 Những luận điểm để bảo vệ

8.1 Tổ chức, quản lý giáo dục TNSCN muốn đạt kết quả bền vững cần phải tiến hành ở cộng đồng, phải giúp họ tái hoà nhập cộng đồng, trở lại làm

người công dân, người lao động có cuộc sống bình thường, gắn bó với gia đình với cộng đồng bằng tình thương và trách nhiệm

8.2 Để tổ chức, quản lý giáo dục TNSCN tại cộng đồng có kết quả cần phải xây dựng được một tổ chức có năng lực kết nối các lực lượng xã hội tại cộng đồng cùng tiến hành các hoạt động chung, theo những chương trình, kế

hoạch phù hợp

8.3 Tổ chức các hoạt động TVHN cho TNSCN tại cộng đồng với những tư

vấn viên cộng tác có nhiệt tình và năng lực cùng với nội dung, phương pháp phù hợp có thể giúp TNSCN tái hoà nhập cộng đồng có kết quả khả quan hơn

9 Đóng góp mới của luận án

9.1 Về lý luận

1) Luận án đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận về tư vấn hướng nghiệp cho TNSCN: Bản chất của hướng nghiệp; Các giai đoạn hướng nghiệp;

Trang 19

Các hoạt động tư vấn hướng nghiệp và nội dung tư vấn hướng nghiệp cho TNSCN tại cộng đồng

2) Đã nêu lên được một số vấn đề lý luận về tổ chức tư vấn hướng nghiệp

cho TNSCN trên các mặt:

- Xây dựng cơ cấu bộ máy và cơ chế hoạt động của tổ chức; Phát triển nhân

sự theo yêu cầu của tổ chức;

- Tổ chức triển khai các hoạt động TVHN cho TNSCN: TVHN về việc làm phù hợp; TVHN tìm việc, tự tạo việc làm; TVHN giúp TNSCN thích ứng nghề; Các hình thức TVHN cho TNSCN

9.2 Về thực tiễn

1) Luận án đã hệ thống hoá được các loại hình tổ chức, quản lý giáo dục người nghiện ma tuý và sau cai nghiện trên địa bàn TP HCM; đánh giá được thực trạng về cách tổ chức các hoạt động quản lý giáo dục TNSCN ở tp Hồ Chí Minh

và chỉ ra những mặt hạn chế để tìm giải pháp khắc phục, hoàn thiện tổ chức TVHN cho TNSCN tại cộng đồng;

2) Đã đề xuất được cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng làm

cơ quan đầu mối cho hoạt động TVHN cho TNSCN ở cộng đồng ; Đề xuất đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Đội tình nguyện

3) Xây dựng 2 chuyên đề bồi dưỡng chung cho nguười làm việc với TNSCN, 5 chuyên đề bồi dưỡng cán bộ quản lý, 7 chuyên đề để bồi dưỡng tình nguyện viên 10 chuyên đề giáo dục TNSCN qua TVHN mà trước đó phải bồi dưởng cho tình nguyên viên tư vấn giáo dục

10 Cấu trúc của luận án

Mở đầu

Chương 1 : Cơ sở lý luận về tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho TNSCN

Chương 2: Thực trạng tổ chức TVHN cho TNSCN ma tuý ở TP Hồ Chí Minh Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức và cải tiến hoạt động TVHN cho TNSCN Kết luận và kiến nghị

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP

CHO THANH NIÊN SAU CAI NGHIỆN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

Tổ chức TVHN cho TNSCN là một vấn đề mới trong nghiên cứu và triển khai thực hiện có hệ thống Ở Tây phương, đặc biệt ở Mỹ, có hẳn một

ngành học TVHN phục hồi cho các đối tượng xã hội đặc biệt.(Vocational

Rehabilitation Counseling- Viết tắt là VRC) Nhưng chưa có những công

trình nghiên cứu cụ thể về cách thức triển khai hướng tổ chức hệ thống

quản lý giáo dục ở cộng đồng, huy động các nguồn lực trong nhân dân

Tư vấn hướng nghiệp ở Việt Nam chưa là môn khoa học phổ biến, thường các người tư vấn cho lời khuyên ngay sau khi trắc nghiệm đo lường các chỉ số tâm sinh lý, dù công cụ chỉ là những trắc nghiệm mô phỏng nước ngoài, chưa có tính chính xác đối với người Việt Nam

Ngay từ “tư vấn”, cũng đã có nhiều cách hiểu khác nhau, do xuất phát từ nhiều lãnh vực và học thuyết tư vấn khác nhau Tổ chức TVHN một cách khoa học và nặng về giáo dục hướng nghiệp, dưới nhãn quan quản lý

giáo dục, giáo dục học, là một vấn đề tổ chức giáo dục lại đối tượng đặc biệt TNSCN, bao hàm tính nhân văn, chịu ảnh hưởng của quá trình hoạt động công tác xã hội đối với những thanh niên đã một lần mất niềm tin

trong cuộc sống Đề tài luận án có tính liên ngành, liên quan đến nhiều lĩnh vực lý luận và thực tiễn Để nghiên cứu đề tài nầy, tác giả đã tổng quan tình hình nghiên cứu các lĩnh vực liên quan theo 3 hướng :

- Nghiên cứu về quản lý giáo dục người nghiện và tái nghiện ma tuý

- Nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp

- Tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện (đối tượng đặc biệt)

Trang 21

1.1.1 Nghiên cứu về quản lý giáo dục người nghiện và tái nghiện ma tuý 1.1.1.1 Về quản lý giáo dục: Đã có nhiều công trình nghiên cứu lý luận

chung cũng như nhiều nghiên cứu đi vào các lĩnh vực quản lý giáo dục cụ thể

Hà Thế Ngữ (1984) đã có một số bài viết về “khái niệm quản lý giáo dục,” quản lý nhà trường nói chung và đặc biệt bàn về vị trí vai trò chức năng của quản lý nhà trường [53]

Nguyễn Ngọc Quang (1989) đã trình bầy những vấn đề quản lý giáo

dục, quản lý nhà trường một cách khá cơ bản, nhất là đưa ra “Những khái niệm cơ bản của quản lý giáo dục” [59]

Vũ Ngọc Hải (2004) đã trình bầy “Các mô hình quản lý giáo dục”,

phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn của một số mô hình [32]

Đặng Bá Lãm, Nguyễn Cảnh Hồ, Vũ Ngọc Hải, (2005) đã trình bầy

vấn đề: Quản lý nhà nước về giáo dục - lý luận và thực tiễn [46]… Gần đây

một số nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục đã quan tâm cập nhật những lý thuyết, phương pháp quản lý hiện đại vận dụng vào quản lý giáo dục, như:

Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn thị Mỹ Lộc (2005) Những xu thế quản lý hiện đại và việc vận dụng vào quản lý giáo dục[19]; Trần Kiểm “Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục [42]

Mặt khác, đã có một số công trình vận dụng lý luận chung về quản lý giáo dục vào nghiên cứu những lĩnh vực quản lý giáo dục cụ thể , như:

Hoàng Thị Bích Hường (2002) đã đi sâu nghiên cứu các biện pháp tổ chức giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ em đường phố tại Hà Nội, giúp các em biết tự bảo vệ và hoà nhập xã hội [37]

Đặng Huỳnh Mai (2007), đã vận dụng lý luận quản lý vào phân tích, tổng kết thực tiễn quản lý giáo dục, trình bầy khá hệ thống các tình huống

quản lý giáo dục ở cơ sở trong tác phẩm “Những tình huống trong thực tiễn quản lý giáo dục” [50]

Trang 22

Nguyễn Thanh Thiện (2007), trong Luận án Tiến sỹ Giáo dục học với

đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ đường phố trong điều kiện hiện nay”, đã đề cập khá cụ thể cách tổ chức, cách phối hợp các lực

lượng xã hội, các nội dung, phương pháp để nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ đường phố.[70]

Nguyễn Thị Thuý Dung (2009), tiến hành tổ chức nghiên cứu thực nghiệm bồi dưỡng kỹ năng giải quyết các tình huống quản lý xẩy ra với các

hiệu trưởng trường Tiểu học trong tác phẩm “Kỹ năng giải quyết tình huống quản lý của học viên các lớp bồi dưỡng hiệu trưởng Tiểu học”, Luận án tiến

sỹ tâm lý học, Hà Nội [26]

Tóm lại, phần trên đã tổng quan một số công trình nghiên cứu quản lý giáo dục liên quan đến đề tài của luận án

1.1.1.2 Về tổ chức quản lý giáo dục người nghiện ma tuý, TNSCN

Riêng về vấn đề chữa trị và tổ chức giáo dục phục hồi người nghiện ma

tuý, mỗi quốc gia có một phương thức khác nhau Theo Báo cáo ma tuy thế giới 2006 và Báo cáo hằng năm 2007 (2006 Word Drug Report và Annual

report 2007) của Cơ quan Phòng chống tội phạm và ma túy Liên Hiệp Quốc:

Ở Mỹ, có 2 hình thức cai nghiện nội trú và ngoại trú, và chứng minh cai nghiện ngoại trú có chi phí tổng thể rẻ hơn nhiều lần so với nội trú Các trang

Web về các giải pháp tổ chức quản lý giáo dục người sau cai nghiện cho thấy:

Ở Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Malaysia tiến hành cùng lúc 5 giải

pháp chữa trị, gồm: (1) Bắt buộc chữa trị 3 năm tập trung do Cục Cải tạo phụ trách; (2) Chữa trị tại địa phương hoặc nhà tạm (haftway house) do các tổ chức phi chính phủ, hội đoàn phụ trách; (3) Chữa trị bằng methadone của ngành Y tế; (4) Chữa trị lâu dài dành cho người nghiện bị ở các trung tâm tư vấn dành cho người nghiện bị tâm thần do ngành Phúc lợi xã hội phụ cấp; và (5) Hệ thống các trạm xá chăm sóc người nghiện ma túy của các bệnh viện

Trang 23

Tuy vậy, trong quản lý xã hội nặng về thực thi luật pháp, mô phỏng các giải

pháp ảnh hưởng văn hóa phương Tây, chưa chú trọng xây dựng nội dung giáo dục và các giải pháp quản lý giáo dục theo hướng vận dụng các nguồn lực

tinh thần từ gia đình và các phong trào vận động quần chúng trong cộng đồng, trong các lực lượng hội đoàn tình nguyện tham gia lâu dài hỗ trợ các cá

nhân TNSCN khi trở về tái hội nhập cộng đồng

Ở Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu chung như:

- Đề tài nghiên cứu “Tệ nạn xã hội - Căn nguyên, Biểu hiện và Phương thức khắc phục” của Viện thông tin KHXH (1996) [82] Đề tài có tính tổng

quan tình hình các tệ nạn xã hội xảy ra ở nhiều nước trên thế giới; đưa ra những phân tích của các học giả về những căn nguyên văn hoá, xã hội, sự biến động kinh tế, cơ chế quản lý…; đồng thời cũng khuyến nghị những giải pháp mang tính vĩ mô

- Đề tài“Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đấu tranh phòng, chống các tệ nạn ở nước ta” của Võ khánh Vinh [81] giúp cho mọi người

thấy rõ sự nguy hại, nguyên nhân sâu xa của các tệ nạn xã hội, trong đó nhấn mạnh đến nạn nghiên ma tuý cũng như tầm quan trọng của cuộc đấu tranh với các tệ nạn này, nhất là tệ nạn ma túy mà đất nước chúng ta phải đối đầu, trong thời kỳ hội nhập thế giới, xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Đề tài : «Đặc điểm nhân cách gái mại dâm, nguyên nhân tâm lý – xã hội và một số kiến nghị về giải pháp» của Lê Thị Hà (2002) là công trình

nghiên cứu công phu cả về lý luận lẫn thực tiễn Tác giả đã phân tích rất sâu sắc những nguyên nhân tâm lý, cũng như những hoàn cảnh xã hội dẫn các cô gái đến con đường lầm lỡ [31]

- Đề tài CB 2001 “Các giải pháp tạo việc làm cho người nghiện ma túy

và người mại dâm sau khi được chữa trị phục hồi” do Nguyễn văn Minh (2002) làm chủ nhiệm [51]; Đề tài CB 96-02-06, Cục phòng chống tệ nạn xã

Trang 24

hội “Thử nghiệm cách hạn chế tái nghiện cho các đối tượng sau khi được cai

nghiện” do Trần Xuân Sắc Chủ nhiệm (2006) [60], là những cố gắng tìm

kiếm giải pháp quản lý người sau cai nghiện Tuy nhiên các giải pháp nặng về tính vĩ mô; các giải pháp đa dạng, kết hợp nhiều mặt, những chưa đề cập sâu vấn đề quản lý giáo dục TNSCN qua con đường TVHN cho họ tại cộng đồng

Bên cạnh đó, có một số công trình bàn đến giáo dục lại, giáo dục công dân,

vấn đề quản lý giáo dục người cai nghiện và sau cai nghiện như: “Quy trình chữa

trị cho người nghiện ma túy của Trung tâm giáo dục dạy nghề Bình Triệu; Giá trị sống là một chủ đề giáo dục chủ yếu cho thanh niên cai nghiện trong các trung tâm cai nghiện, với giáo trình: “Chương trình giáo dục các giá trị sống”, (trang

Web:www.giatrisong.org,email : vietnam@livingvalues.net )

Hiện nay Nhà nước thực hiện 2 chế độ: Cai nghiện tập trung và cai nghiện tại cộng đồng với 2 hình thức, bắt buộc và tự nguyện Tuy vậy, vấn đề

tổ chức các phương thức nhằm quản lý người sau cai nghiện, hỗ trợ họ phòng chống tái nghiện, còn gặp nhiều khó khăn Nhất là tại thành phố Hồ Chí Minh, khi hằng vạn người tập trung sau cai nghiện trở về hòa nhập cộng đồng đang có nguy cơ tái nghiện Nhìn chung, các công trình nghiên cứu có trước,

ở nước ngoài và trong nước, cho thấy:

(1) Ma túy là một đại nạn, có tính toàn cầu, có ảnh hưởng trực tiếp đến

sự phát triển kinh tế xã hội đất nước;

(2) Đối với TNSCN, bên cạnh các biện pháp y tế chữa trị lâu dài, giải

pháp tiếp tục tổ chức quản lý giáo dục nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi,

quan tâm đến nghề nghiệp, việc làm giúp họ tự tạo cuộc sống lành mạnh là

rất cần thiết;

(3) Người sau cai nghiện muốn phòng chống tái nghiện, có việc làm

hòa nhập cộng đồng, cần phải có sự giúp sức của cộng đồng và các chính

sách thực hiện các giải pháp thiết thực thuộc nhiều lãnh vực khác nhau

Trang 25

1.1.2 Nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp

1.1.2.1 Những nghiên cứu về tư vấn

Đã có nhiều công trình từ đầu thế kỷ XX:

Carl Rogers có tác phẩm Tư vấn và Tâm lý trị liệu (Counseling and

Psychotherapy) [88] được tái bản nhiều lần, mở ra một trường phái tư vấn tâm lý biết lắng nghe, một cách trung thực và thấu cảm những cảm xúc của thân chủ

Cuốn Áp dụng lý thuyết phát triển nghề nghiệp trong tư vấn (Applying Career Development Theory to Counseling) của Richard S Sharf [92] đã mở

rộng phạm vi tư vấn tâm lý không chỉ có trị liệu mà sang nhiều lĩnh vực thông thường do nhu cầu được tư vấn của các đối tượng khác nhau về những lĩnh vực khác nhau

Về nghiệp vụ tư vấn tâm lý chuyên ngành cho TNSCN có các tác phẩm

Bệnh học tâm lý nghiện ma túy (Psychopathologies des additions) của

Jean-Louis Pedinielli, Georges Rouan, Pascale Bertagne (2000) [86] Các tác giả

đã phân tích sâu về tư vấn trị liệu tâm thần cho người nghiên ma tuý

Cuốn Những vấn đề đặc biệt trong tư vấn tâm lý vị thành niên lệ thuộc chất gây nghiện (Specal Problems in Counseling the Chemically Dependent Adolescent) do Eileen Smith Sweet chủ biên (2001) [90] gồm những bài viết

chuyên sâu về bệnh nghiện ma túy và đặc điểm nhân cách của người nghiện ma túy cũng như các yêu cầu đối với các nhà tư vấn …

1.1.2.2 Tư vấn nghề, tư vấn hướng nghiệp

Khi ngành nghề ở các nước công nghiệp phát triển, nảy sinh xu thế cá biệt hoá lao động kỹ thuật cho một số ngành nghề mũi nhọn, các phòng tư vấn hướng nghiệp ra đời và sau đó công tác hướng nghiệp được xây dựng và phát triển từ các trường phổ thông đến cộng đồng dân cư

Năm 1908, Frank Parson là người đặt nền móng cho các khái niệm cơ bản cho hoạt động tư vấn hướng nghiệp (career counseling) hay tư vấn nghề

Trang 26

(vocational guidance) ngày nay Từ các khái niệm cơ bản đó, nỗi lên 3 nguyên tắc chính trong hướng dẫn chọn nghề: (1) Hiểu rõ về chính mình, (2)

Có kiến thức phân biệt các hướng công việc, nghề nghiệp khác nhau, (3) Nắm được mối quan hệ hợp lý thật sự giữa hai điều trên

Frank Parsons là người đầu tiên, trình bày khái niệm hướng nghiệp

trong cuốn sách Chọn nghề (Choosing a Vocation) Những khái niệm này

đã trở thành lý luận cơ sở cho những lý thuyết có liên quan đến đăc điểm tính cách con người (trait) và yếu tố nghề (factor)- (Trait and factor theory:

lý thuyết đặc điểm người/nghề)

Cùng với khoảng thời gian này, Elton Mayo ở Harvard và Federick Taylor, những nhà tâm lý hoạt động trong lãnh vực công nghiệp đầu tiên đang nghiên cứu về hoàn cảnh, điều kiện làm việc của công nhân, chẳng hạn như những yếu tố đưa đến sự mệt mõi,và buồn chán Những yếu tố này đương nhiên là những yếu tố đo lường được, phù hợp với những nguyên tắc tâm lý của lý thuyết người/ nghề của F Parsons Trong hệ thống học

đường, Jesse B Davis (1907) đã nhanh chóng đưa vào chương trình giáo

dục học đường, rồi từ những năm 20-30 triển khai đại trà TVHN trong hầu hết các trường học

Vào những năm 1930-1940, thời đệ nhị thế chiến, quân đội và các nơi tuyển dụng nhân lực đã sử dụng những ứng dụng của lý thuyết này, để khẳng

định về mặt năng lực cá nhân Một vài ứng dụng đã phát triển trở thành bộ trắc nghiệm xếp hạng quân lực tổng quát của Mỹ (US Army General Classification Test) Sau chiến tranh, lý thuyết này trở thành “Quan điểm và

thực hành Tư vấn của Đại học Minnesota” (Minnesota Point of view and actuarial counseling) Emund G Williamson, Viện trưởng Đại học Minnesota

đã viết tóm lược lý thuyết này năm 1939 và 1965

Trang 27

Trong lúc này, phương pháp tư vấn theo lý thuyết của Williamson khác hẳn phương pháp tư vấn của Carl Rogers Một bên cho rằng tư vấn viên

hướng nghiệp phải chia sẻ thông tin trực tiếp với thân chủ; bên kia cho rằng

tư vấn viên tâm lý phải gián tiếp lắng nghe phản ánh cảm xúc của thân chủ dù

cả hai đều quan tâm đến toàn bộ con người

Bắt đầu từ những năm 60, đặc biệt những năm 70 của thế kỷ XX, khái

niệm hướng nghiệp vì sự phát triển cá nhân nổi lên một cách mạnh mẽ Chức năng giáo dục cá biệt của tư vấn về nghề nghiệp từ đây rất đậm nét

Những năm gần đây, tư vấn hướng nghiệp và tư vấn nghề không chỉ là một nội dung giáo dục trong nhà trường ngoài xã hội cho người bình thường,

mà còn là phương pháp giáo dục thường sử dụng, phù hợp tâm sinh lý người

được giáo dục lại trong các cơ sở cải tạo, giáo dục lao động, tạo điều kiện cho

họ có nghề nghiệp và việc làm sau thời gian cải tạo Hình thức này được

gọi là Tư vấn hướng nghiệp phục hồi Tư vấn hướng nghiệp phục hồi là

một hoạt động nghiệp vụ thông thường của ngành tâm lý và xã hội ở các cơ

sở xã hội và y tế phục hồi chức năng Ở Mỹ, từ khi có đạo luật Phục hồi

chức năng cho người lính năm 1918, họat động TVHN phục hồi đã được

luật pháp thừa nhận và khuyến khích Khởi đầu các chuyên gia về tư vấn phục hồi được tuyển từ các lãnh vực khác nhau từ những điều dưỡng viên, tác viên xã hội, tư vấn viên học đường…Đến những năm 1940, có chương

trình đào tạo chính quy đến bậc tiến sỹ và đến năm 1954 được xác lập

thành một chuyên ngành đào tạo Đến nay, nhu cầu cung ứng cho xã hội

các chuyên gia trong lãnh vực TVHN phục hồi này đang lên cao do xã hội

phải giải quyết các hậu quả của chiến tranh và sự gia tăng các tệ nạn xã hội TVHN cho TNSCN là một hoạt động nghiệp vụ của TVHN phục hồi (VRC)

Trang 28

Ở Việt Nam, công tác hướng nghiệp được đưa vào thí điểm và bước

đầu triển khai tại một số trường phổ thông trọng điểm và phát triển cùng với

sự thành lập và phát triển hệ thống mạng lưới Trung tâm Giáo dục Kỹ thuật Tổng hợp -Hướng nghiệp Khởi đầu theo yêu cầu của Bộ Lao động Thương binh Xã hội (1975 - 1976) Ông Phạm Ngọc Luận và cộng sự tìm kiếm, vận dụng 12 bộ họa đồ nghề và tư vấn cho trên 300 thương binh

Ở giai đoạn đầu 1977-1980 công tác hướng nghiệp được tổ chức thí điểm ở một số trường phổ thông địa phương

Giai đoạn 1981-1986: Ban Giáo dục Hướng nghiệp Bộ Giáo dục tổ chức biên soạn tài liệu sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp PTCS

và các lớp PTTH Từ 1987-1990, do sát nhập Bộ và phải thu gọn đầu mối, Ban Giáo dục Hướng nghiệp sát nhập vào Vụ Giáo dục Phổ thông, công tác hướng nghiệp tạm thời dừng lại Tháng 3/1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo thành

lập Trung tâm Lao động - Hướng nghiệp, biên soạn tài liệu " Tư vấn nghề cho học sinh phổ thông”, mở 2 lớp tập huấn cho 200 cán bộ phụ trách tư vấn ở

các Trung tâm Giáo dục Kỹ thuật Tổng hợp và Hướng nghiệp trên cả nước

Bộ họa đồ nghề, các bộ công cụ trắc nghiệm hướng nghiệp được cải tiến… do nhiều chuyên gia tham gia biên soạn: Phạm Tất Dong, Thế Trường, Lê Đức Phúc, Đỗ Thị Hòa, Nguyễn Đức Trí, Đặng Danh Ánh

Những năm gần đây có một số công trình tiêu biểu sau đây: Sinh hoạt hướng nghiệp 12 (1994), Sinh hoạt hướng nghiệp 11 (1996) của Hoàng Kiện, Nguyễn Thế Trường, Phạm Tất Dong Tài liệu Những nẻo đường lập nghiệp[6] do Đặng Danh Ánh chủ biên (2003) giới thiệu một số ngành nghề

nông-lâm-ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và những gương thành đạt về lập thân, lập nghiệp của các bạn trẻ; …Từ đó đến nay, rất nhiều tác phẩm hướng nghiệp cho HSPT được phát hành trong và ngoài nhà trường, tác động vào thực tiển phát triền giáo dục Đặc biệt từ năm 1998 đến 2005, dự án giáo dục

Trang 29

kỹ thuật dạy nghề do Ngân hàng ADB tài trợ đã đầu tư xây dựng 15 trường

nghề trọng điểm, trong đó mỗi trường đều hình thành bộ phận tư vấn nghề và

tư vấn việc làm Tính đến năm 1996, cả nước đã có 320 Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp Hướng nghiệp, làm tốt khâu TVHN cho học sinh phổ thông nhằm

rèn luyện kỹ năng ban đầu về thực hành lao động kỹ thuật, thử năng lực lao động nghề nghiệp, để biết mức độ phù hợp nghề và bước đầu chuẩn bị tâm thế

đi vào lao động nghề nghiệp tương lai Trong thực tiễn nhu cầu về TVHN trong học sinh và trong xã hội ngày càng cấp bách

Tác phẩm Giúp bạn chọn nghề do Phạm Tất Dong (chủ biên) (2005):

giới thiệu về nghề nghiệp trong xã hội, những nghề cần khuyến khích phát triển, cách chọn nghề và những vấn đề tâm lý cần chuẩn bị trước khi vào nghề

Bộ sách Hoạt động Giáo dục hướng nghiệp dùng cho giáo viên lớp 9-

10, 11-12 do Phạm Tất Dong (chủ biên), (2006),(2007) cùng với nhiều bộ

sách hướng nghiệp thanh niên, học sinh gồm nhiều tập do nhiều tác giả viết chuyên về một số nghề, đang được phổ biến rộng rãi trong xã hội

1.1.3 TVHN cho các nhóm đối tượng đặc biệt

Cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan như:

Tài liệu Lập kế hoạch và thực hiện chương trình giáo dục đồng đẳng

cho người nghiện chích ma tuý của Chung Á [1] có đề cập vấn đề: Các đối

tượng này cần được TVHN giúp họ xác định được hướng sống ;

Tài liệu Liệu pháp giáo dục tâm lý xã hội cho người nghiện ma túy

của Nguyễn Hữu khánh Duy, Nguyễn văn Khuê,Trish Summerfiel (2002) [27] có đề cập vấn đề TVHN, dạy nghề là con đường cơ bản giúp người

TNSCN tái hoà nhập xã hội hiệu quả

Phan Thị Mai Hương (2002) khi nghiên cứu về điểm nhân cách và hòan cảnh xã hội của thanh niên nghiên ma tuý, trong các kiến nghị có đề

xuất: gia đình và các đoàn thể xã hội cần giúp cho các thanh niên này được TVHN và tham gia vào các sinh hoạt đoàn thể, xã hội [36]

Trang 30

Tập sách Tâm lý học giáo dục nhân cách người nghiện ma túy của

Phan Xuân Biên, Hồ Bá Thâm (2004) [14] đề cập vấn đề giáo dục, quản lý

giáo dục người nghiện ma túy, trong đó vấn đề hướng nghiệp, đào tạo nghề

và giải quyết việc làm được đề cập đến như một giải pháp quan trọng

Nhìn chung, TVHN là hoạt động đang được quan tâm Nội dung TVHN mang tính giáo dục yêu lao động, yêu nghề, định hướng ngành nghề, công việc thích hợp TVHN dành cho các đối tượng đặc thù, trong đó có

TNSCN mang tính chất của hoạt động công tác xã hội gọi là TVHN phục hồi,

ở các cơ sở xã hội và y tế phục hồi

Tóm lại qua phần tổng quan cho thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục; tổ chức, quản lý giáo dục người nghiên ma tuý và sau cai nghiện; nhiều công trình nghiên cứu về tư vấn, TVHN trên bình diện lý luận cũng như hoạt động thực tiễn, trên một số lĩnh vực khác nhau

Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề: Tổ

chức tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ở TP HCM, như

đề tài luận án tác giả đã lựa chọn

1.2 Một số khái niệm cơ bản của luận án

1.2.1 Ma tuý, nghiện, cai nghiện, sau cai nghiên

1.2.1.1 Ma tuý

Theo Từ điển Tiếng Việt (1997): Ma tuý là “chất làm cho mê mẩn”, là tên gọi chung các chất “gây trạng thái ngây ngất đến đờ đẩn, dùng quen thành nghiện” Như vậy ma tuý có nghĩa khá rộng, bao gồm nhiều chất cho khoái cảm, có thể gây nghiện mà nhiều người vẫn dùng (chất gây nghiện)

Theo tổ chức Y tế thế giới WHO, “Ma túy là thực thể chất hóa học hay thực thể hỗn hợp, khi sử dụng làm thay đổi chức năng sinh học của con người Ngoại trừ một số chất ma túy không gây sự lệ thuộc cơ thể, hầu hết ma túy đều gây sự lệ thuộc và tăng liều lượng sử dụng (dose)”

Theo khái niệm khoa học: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên (thuốc phiện, morphin ); bán tổng hợp (heroin được bán tổng hợp từ

Trang 31

morphin) hay tổng hợp (ectasy, amphetamine, methamphetamin ) có tác dụng lên thần kinh trung ương gây cảm giác như giảm đau, hưng phấn hay cảm thấy dễ chịu mà khi dùng nhiều lần thì sẽ phải sử dụng lại nó nếu không sẽ rất khó chịu Các chất ma túy tổng hợp thường độc hại hơn thuốc phiện 500 lần Một số thuốc tổng hợp có tác dụng tương tự morphine được sử dụng trong điều trị y tế nhưng nếu người nghiện lạm dụng thì cũng được xem là ma túy, đó là pethidine (tên biệt dược: Dolosal, Dolargan) v.v

Dựa theo tác động lâm sàng tới tâm sinh lý người sử dụng, ma túy và chất gây nghiện thường được chia làm 3 nhóm: Các chất an thần, gây ngủ như: Seduxen, Séconal(sì cọt) Iménoctal (immê) Rohypnol (rô hồng, rô cam); Các chất kích thích như: amphetamin (ectasy); Các chất gây ảo giác (LSD, cần sa tức bồ đà, được hút giống như hút thuốc lá)

Theo tài liệu Phòng chống ma tuý trong thanh niên (1994) thì: Ma tuý

là bất kỳ chất gì mà khi đưa vào cơ thể sống, có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng của cơ thể

Những định nghĩa trên có tính khái quát cao, tuy nhiên chủ yếu nhấn mạnh vào những thay đổi mặt sinh học của con người khi sử dụng ma tuý, chưa chú ý đến mặt tâm lý và hành vi xã hội của người lạm dụng ma tuý

Chúng tôi tán thành quan niệm của tác giả Vũ Ngọc Bừng, cho rằng : Các chất ma tuý là các chất hoá học có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi xâm nhập vào cơ thể người có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí

tuệ, làm con người lệ thuộc vào chúng và cuối cùng gây nên tổn thương cho

cá nhân và cho cộng đồng

Định nghĩa trên đã cho thấy sự phân biệt giữa ma túy và y dược, dù nó cùng một chất hóa học, nhưng cách dùng, liều lượng và mục đích khác nhau Trong lịch sử xa xưa thuốc phiện là thần dược, cho đến khi bị lạm dụng Có lúc gây chiến tranh vì động cơ kinh tế xuyên quốc gia, góp phần toàn cầu hóa một cách trắng trợn của những thế lực đế quốc, của mafia và bạo lực, chà đạp nhân tính, hãm hại nhiều dân tộc, nhiều vùng lãnh thổ

Trang 32

1.2.1.2 Nghiện – nghiện ma tuý

a) Nghiện

Nghiện là trạng thái ham mê đến nỗi thành thói quen rất khó từ bỏ

Về mặt y khoa, Nghiện là trạng thái bệnh lí tâm thần, phát sinh do lạm

dụng các chất gây nghiện Chất gây nghiện có thể là các chất độc thuộc bảng

B của dược điển như thuốc phiện, cocain hay các chất độc khác như rượu, thuốc lá Cơ thể và tâm lý người nghiện bị lệ thuộc mạnh mẽ và có hệ thống

và các chất độc quen dùng

Tùy theo chất hay thể loại tác động gây nghiện, có nhiều loại nghiện: nghiện ma túy, nghiện rượu, nghiện thuốc lá, nghiện cà phê là những loại nghiện những chất gây nghiện thường gặp

Nghiện rượu : Ngày càng có nhiều người lạm dụng bia rượu Ở nhiều

nơi, số người nghiện rượu đang ngày một tăng Hệ quả tất yếu là những người nghiện rượu thường gây rối trật tự an toàn xã hội, thậm chí suy đồi đạo lý và gây án mạng

Nghiện còn được mở rộng chỉ các khái niệm khác, không phải chỉ

nghiện chất gây nghiện, mà là những thói quen, yêu thích không bỏ ngay

được Từ những say mê tích cực trở thành tiêu cực, tai họa như:

Nghiện chơi thể thao : Bóng đá , quần vợt bơi lội, , billard, golf,

Có những loại nghiện có mục đích tốt nhưng trở nên có hại khi nghiện quá sâu, mất bình thường, trở nên bệnh hoạn có hại Như nghiện thể thao, Có

người mãi mê với một môn thể thao nhờ đó họ đạt được nhiều thành tích trong luyện tập Nhưng do luyện tập quá sức, đưa đến sự suy sụp thể chất không gượng lại nỗi

Nghiện công việc Còn những người nghiện công việc, thích làm việc

vất vả bất kể thời gian Họ có thể rất thành công, nhưng cái giá phải trả chính

là sức khoẻ và những thói quen không tốt của việc nghiện công việc Bảy thói

Trang 33

quen xấu của người nghiện công việc là: Quên thư giãn, nghỉ ngơi; Ăn trong khi đi hoặc làm việc; Rút ngắn thời gian ngủ; Không tập thể dục; Làm việc cả khi bị bệnh; Uống quá nhiều; Thường bỏ kiểm tra sức khoẻ định kỳ (Theo SGTT, 03/10/08)

Nghiện enternet, nghiện game online “có thể được định nghĩa là một

rối loạn kiểm soát xung lực không liên quan đến chất gây nghiện, tương tự

như nghiện đánh bạc, nghiện tình dục…”.(Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, Giám đốc Bệnh viện tâm thần TW2)

Nghiện đánh cờ: Thi thố tài năng, ghiện nặng đưa đến rối loạn tâm trí

Nghiện đánh bài : Cờ bác từ vui chơi đến sát phạt, tiền của ra đi

Nghiện ăn vặt: Ăn liên miên những thứ quà bánh, cây trái

Nghiện uống,: Uống cái gì cũng được phải uống mới làm việc được; Nghiện tình dục: Dù không đủ sức khỏe, cũng phải làm tình

Nghiện phẩu thuật thẩm mỹ: Có những người không bao giờ thấy hài

lòng sau mỗi lần thẩm mỹ Vì thế họ cứ tiến hành mãi các cuộc “sửa sang” cho đến khi cơ thể bị biến dạng Đây thực chất là bệnh rối loạn tâm thần, sợ

biến dạng cơ thể (Báo Lao Động điện tử, 9/7/2009);

Trên thế giới còn có nhiều hội chứng nghiện lạ khác, chẳng hạn như nghiện tắm nắng,

nghiện ăn bẩn,

nghiện nhai đá,

Thậm chí có cả trường hợp nghiện đi đám ma…

Đó là những hội chứng xuất phát từ nhu cầu bản thân hoặc xuất phát từ những trào lưu xã hội Nếu vì xuất phát từ nhu cầu bản thân có thể hiểu

"nghiện" là khi cơ thể thiếu cái gì sẽ đòi bổ sung cái đó Trường hợp người nghiện đi đám ma có thể hiểu là do sự mất mát của bản thân đã khiến người ta

có nhu cầu được chia sẻ với nỗi đau của mọi người Những trường hợp như

Trang 34

nghiện shopping, nghiện tắm nắng… là do khi đã tham gia vào một trào lưu

xã hội những người đó đã bị ngập lún quá sâu, và đã để ham muốn điều khiển

ý chí

b) Nghiện ma túy

Riêng về nghiện ma túy: Có nhiều định nghĩa khác nhau về nghiện

ma tuý Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO “Nghiện ma túy là tình trạng lệ thuộc về mặt tinh thần hoặc thể chất, hoặc cả hai”

Còn về mặt thể chất, nếu quen dùng ma túy mà lại ngưng, không sử dụng tiếp, sẽ bị các rối loạn mà từ chuyên môn y dược gọi là bị "hội chứng cai thuốc" gây cơn vật vã dữ dội như bị tiêu chảy, ói mữa, đau nhức cơ xương, tim đập hỗn loạn

Về mặt tinh thần: Người nghiện luôn có tâm lý ham muốn không kềm chế được là phải sử dụng ma túy, làm người nghiện đau đớn khổ sở không chịu được phải tiếp tục dùng ma túy, thậm chí gây tội ác, cướp của, giết người

để có tiền mua ma túy Không những thế, người nghiện thường tăng liều, thay đổi chất gây nghiện, thay đổi phương cách sử dụng để tăng cảm giác khoái cảm Cuối cùng đi đến cách tiêm chích là con đường thuận lợi nhất dẫn đến nhiễm HIV/AIDS

Tuy vậy trong phạm vi nghiên cứu giáo dục, chúng tôi tán thành quan

niệm của Phan Thị Mai Hương: Nghiện ma tuý là hiện tượng phụ thuộc cả về thể xác và tinh thần vào ma tuý do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất khả năng kiểm soát bản thân ở người nghiện ma tuý,

có hại cho cá nhân và xã hội [36 tr 15]

Có 2 khái niệm liên quan đến nghiện ma túy cần phân biệt : sử dụng ma

tuý và lạm dụng ma tuý Sử dụng ma tuý là việc dùng các chất ma tuý với

mục đích chữa bệnh, theo chỉ định của bác sĩ, với liệu lượng nhất định, trong

thời gian nhất định, không gây nguy hiểm cho người sử dụng Còn lạm dụng

Trang 35

ma tuý là sử dụng quá nhiều lần thường quá liều, với mục đích tiêu khiển, có

hại cho sức khoẻ Lạm dụng ma tuý thành thói quen dẫn đến nghiện ma tuý

1.2.1.3 Cai nghiện ma tuý

Cai nghiện ma tuý là một quá trình khó khăn, phức tạp, tốn kém và kết quả thường không đựợc như mong muốn Cũng có nhiều quan niệm khác nhau về cai nghiên ma tuý

Chúng tôi xác định: Cai nghiê ̣n ma túy là biê ̣n pháp tổng hợp và lâu dài gồm cá c tác động của nhiều biê ̣n pháp can thiê ̣p của y khoa , giáo dục, tâm lý , xã hội , đạo đức , pháp luật giúp ng ười nghiện ma túy cắt các hội chứng cai, phục hồi sức khỏe, học tập tái hòa nhập cộng đồng…

Quá trình cai nghiê ̣n ma tuý : Bao gồm các giai đo ̣an:

(1) Tư vấn cá nhân và gia đình , đánh giá viê ̣c la ̣m dụng ma túy và kế họach cai nghiện ;

(2) Điều trị cắt cơn;

(3) Điều trị phục hồi sức khỏe , tâm, sinh lý, giáo dục nếp sống mới ; (4) Tư vấn hướng nghiệp , dạy nghề , tạo việc làm;

(5) Giám sát, tư vấn tại cô ̣ng đồng

Các giai đọan trên phải liên tục kéo dài từ 2 đến 3 năm

Các hình thức cai nghiện: Hiện nay ở nước ta có 2 hình thức cai nghiện : Cai nghiện tự nguyê ̣n ta ̣i gia đình và ta ̣i cơ sở chữa bê ̣nh và cai nghiê ̣n bắt buô ̣c ta ̣i cơ sở chữa bê ̣nh sau khi có quyết đi ̣nh bắt buô ̣c cai nghiê ̣n của

UBND tỉnh , thành phố Cai nghiê ̣n tự nguyê ̣n áp dụng đối với những ngư ời

mới nghiê ̣n, nghiê ̣n nhe ̣, người nghiện và gia đình quyết tâm cai nghiện Cai

nghiê ̣n bắt buô ̣c áp dụng theo Pháp Lê ̣nh vi pha ̣m xử lý hành chính và nghi ̣

đi ̣nh 20/CP ngày 13/04/1996 đối với những ng ời nghiện ma túy đã đ ược chính quyền địa phơng, nhân dân giáo dục , giúp đỡ nhiều lần nhưng không kết quả

Trang 36

1.2.1.4 Sau cai nghiê ̣n – tái nghiện

Trong quá trình cai nghiê ̣n , thường phải phân biệt, biê ̣n pháp cai nghiê ̣n ta ̣m thời và biê ̣n pháp cai nghiê ̣n lâu dài

a) Sau cai nghiê ̣n được hiểu là thời gian sau khi điều trị các biện pháp lâu dài Sau

cai nghiê ̣n, không thể là sau giai đoa ̣n cắt cơn của quá trình điều tri ̣ cai nghiê ̣n ta ̣m

thời Mà phải ít nhất là “sau khi người nghiện ma tú y qua thời gian sử dụng các

biê ̣n pháp cai nghiê ̣n lâu dài, thông qua qúa trình điều dưỡng, thanh tẩy thể chất và tinh thần do các độc tố của ma túy còn di hại trong đời sống sức khỏe và trong hồi tưởng bất chợt.” [78,trg1]

Thông thường, sau cai nghiện đ ược hiểu là sau giai đọan điều trị các liệu pháp tâm lý, giai đo ̣an điều tri ̣ phu ̣c hồi sức khỏe , tâm, sinh lý, giáo dục hành vi xã

hô ̣i (Giai đo ̣an 3) Tiếp theo đó là giai đo ̣an TVHN, học nghề, và tạo vịệc làm t ại

các trung tâm hoặc cộng đồng

Viê ̣c cai nghi ện là mô ̣t quá trình không những giúp người nghi ện từ bỏ ma túy, mà còn duy trì một lối sống không có ma túy , với những thay đổi về nô ̣i tâm và

sự điều chỉnh các quan hê ̣ cá nhân, thói quen không tốt trước đây

b) Tái nghiện là hủy bỏ mọi nỗ lực cai nghiện có trước, tất cả tâm lực và chi phí, cá

nhân, gia đình và cộng đồng, nhà nước địa phương đã đầu tư phút chốc trở thành vô nghĩa, người nghiện đã được chữa trị, trở lại làm kẻ nghiện ngập Theo tài liệu

chuyên ngành phục hồi người nghiện (heroin), tái nghiện là một quá trình, ban đầu

chỉ chơi vì vui chơi thiếu cảnh giác, một lần, 2 lần; đòi hỏi ở mức độ cao hơn về

liều lượng ma túy và sự tự đấu tranh với chính mình Tái nghiện cũng như lúc mới

nghiện chịu ảnh hưởng của các yếu tố tác động của bản thân, gia đình và xã hội, của quá khứ và hiện tại, của hoàn cảnh môi trường thực tế bên trong và bên ngoài; Từ những xung đột nội tâm, xung đột với gia đình, xã hội kéo dài từ thời thơ ấu, những chấn thương hiện tại nhắc lại làm bùng phát chấn thương của quá khứ, dưới nhiều hình thức và mang tính đặc thù riêng cho mỗi trường hợp

Trang 37

1.2.2 Thanh niên sau cai nghiện

Theo quy định hiện nay, thanh niên sau cai nghiện được hiểu là những người nam nữ từ 18 đến 35 tuổi, đó từng nghiện ma tuý, được cai nghiện tự nguyện hoặc bắt buộc và sau các giai đọan điều trị liệu pháp tâm lý, điều trị phục hồi sức khỏe, tâm, sinh lý, giáo dục hành vi xã hội, có thể bước vào giai đoạn tư vấn hướng nghiệp, học nghề, hoà nhập xã hội, dưới sự giúp đỡ và

giám sát của cộng đồng

Như vậy TNSCN là những người trẻ tuổi ở vào giới hạn cùng lứa với nhóm xã hội thanh niên nói chung; họ có những đặc điểm sinh học, tâm lý, xã hội như những thanh niên cùng lứa tuổi; nhưng vì là những TNSCN nên họ có những đặc điểm đặc thù TNSCN là những thanh niên từng nghiện ma tuý, cai nghiện và có thể tái nghiên, tái cai nghiên nhiều lần, nên đặc điểm cá nhân và hoàn cảnh xã hội của họ thường rất phức tạp TNSCN hiện nay thường qua

giai đoạn cai nghiện bắt buộc 24 tháng (qua giai đoạn 3), bước vào giai đoạn TVHN, học nghề, tìm kiếm việc làm tại các trung tâm hoặc về gia đình sống tại cộng đồng

Theo Ủy ban Phòng chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm, nếu trừ

- 38% người tái hòa nhập mất sức lao động thì vẫn còn khoảng :

- 62% người tái hòa nhập còn sức lao động

Đây là một lực lượng lao động khá lớn Nếu tạo được việc làm, giúp họ tránh xa ma túy thì không những có thể có ích cho xã hội mà còn giúp làm giảm tải nhiều tệ nạn khác, kể cả tội phạm, gây mất an ninh trật tự xã hội

1.2.3 Quản lý, tổ chức

Thuật ngữ “tổ chức” và “quản lý” trong thực tế được dùng khá linh

hoạt Có khi một tổ chức (nhà nước, doanh nghiệp ) bao gồm trong nó nhiều cấp quản lý, phục vụ cho tổ chức Ngược lại trong việc quản lý, tổ chức là

Trang 38

một chức năng, một hoạt động cơ bản gắn liền với các chức năng khác, như:

Kế hoạch hoá, chỉ đạo, kiểm tra

Trong luận án này tổ chức TVHN được dùng với cả hai khái niệm lµ

hình thành một hệ thống tổ chức, vừa thiết kế cơ chế vận hành của tổ chức vừa thực hiện một chức năng quản lý là tổ chức triển khai các hoạt động tư

Theo nghĩa đó, “quản l ý” có đối tượng rất rộng: Quản lý nhà kho, quản

lý tài chính, quản lý trang trại, quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà trường

Trong các đối tượng của quản lý thì quản lý xã hội, quản lý con người

là khó khăn, phức tạp nhất Luận án này sử dụng khái niệm quản lý về xã hội, quản lý một tổ chức xã hội làm công tác giáo dục

Với ý nghĩa đó, “Quản lý là một hệ thống xã hội, là một khoa học, đòi hỏi một trình độ vận dụng có tính nghệ thuật tác động vào tập thể, những con người trong một hệ thống tổ chức bao gồm nhiều nguồn lực khác, hoạt động

có mục đích” [18, tr.3]

Theo Mạc Văn Trang (2007), bản chất của quản lý:

- Quản lý là một công việc , một quá trình hoa ̣t đô ̣ng có ý thức của con

người với tư cách là chủ thể quản lý ;

- Quản lý là hoạt động có mục đích , các mục tiêu cụ thể , rõ ràng;

- Đối tượng, khách thể của quản lý là một hệ t hống có cấu trúc phức ta ̣p

có những đặc điểm riêng, trong đó hê ̣ thống con người, xã hội là phức tạp nhất;

Trang 39

- Để quản lý hiê ̣u quả phải sử dụng những công cụ , những phương pháp quản lý phù hợp;

- Quản lý đòi hỏi có những yếu tố , điều kiện đảm bảo cần thiết ;

-Quản lý bao giờ cũng diễn ra trong một bối cảnh, một môi trường nhất đi ̣nh Tóm lại, theo nghĩa rô ̣ng nhất của khái niê ̣m quản lý , có thể xác định:

Quản lý là hoạt động có ý thức của con người , đa ̉m bảo cho đối tượng quản lý được bảo tồn , phát triển theo những quá trình và mục đích xác định ,

bằng những công cụ, phương pháp phù hợp [69, trg.20]

Theo Phan Văn Kha, khái niệm quản lý (về mặt xã hội) có nhiều cách hiểu:

- Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc với con người;

- Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu đề ra;

Chúng tôi lựa chọn định nghĩa: Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định [39, trg 9-19]

Quản lý giáo dục TNSCN thông qua tổ chức hệ thống tư vấn hướng nghiệp trên cộng đồng dựa vào mạng lưới cộng tác viên là đội tình nguyện công tác xã hội ở phường xã là một phương thức quản lý giáo dục do luận án

đề xuất sử dụng định nghĩa nói trên để hoạch định hoản thiện hệ thống và cơ cấu tổ chức và cải tiến nội dung, phương pháp tiến hành giáo dục và quản lý

giáo dục TNSCN trên cộng đồng ở thành phố Hồ Chí Minh

b) Các chức năng quản lý

Mạc Văn Trang (2007) cho rằng có nhiều cách xác định các chức

năng quản lý khác nhau, tuy nhiên có thể khái quát lại như sau:

Trang 40

- Ít nhất cú thể phõn ra 2 chức năng quản lý: Đối nội và đối ngoại;

- Cú thể chia ra nhiều chức năng: Dự bỏo, kế hoạch hoỏ, tổ chức, động viờn, phối hợp, điều chỉnh, kiểm tra

- Thụng thường cỏc nhà nghiờn cứu xỏc định 4 chức năng quản lý cơ bản: Kế hoạch hoỏ, tổ chức, lónh đạo, kiểm tra và đánh giá Mỗi chức năng lại

được phõn chia ra nhiều bước tiến hành với nhiều cụng việc cụ thể

Kế hoạch hoỏ là việc xỏc định mục đớch, cỏc mục tiờu, xỏc định cỏc

giai đoạn phỏt triển; xõy dựng cỏc phương ỏn tổ chức, tớnh toỏn những điểu kiện đảm bảo, lựa chọn cỏc giải phỏp phự hợp; xỏc định bước đi cụ thể, hỡnh dung quỏ trỡnh diễn biến từ khởi đầu đến kết thỳc; xỏc định cỏc tiờu chớ và cụng cụ đỏnh giỏ kết quả cỏc giai đoạn thực hiện kế hoạch cũng như đỏnh giỏ cuối cựng

Tổ chức là quỏ trỡnh sắp xếp, liờn kết một cỏch hợp lý cỏc yếu tố cụng

việc - con người - bộ mỏy- phương tiện để đảm bảo thực thi kế hoạch một cỏch hiệu quả và sử dụng nguồn lực một cách tối -u

Lónh đạo là quỏ trỡnh định hướng, điều phối, tỏc động đến hệ thống tổ

chức nhằm nõng cao hiệu quả hoạt động, giải quyết những vướng mắc để bộ mỏy tổ chức hoạt động thụng suốt, nhịp nhàng, hiệu quả Hoạt động lónh đạo

là làm việc với con người, cỏ nhõn, nhúm, tập thể

Kiểm tra là việc theo dừi, xem xột sự vận hành của bộ mỏy tổ chức

trong quỏ trỡnh triển khai kế hoạch cú khớp với những dự tớnh khụng; những bước đi và kết quả cú phự hợp với mục tiờu đề ra khụng; phõn tớch những điều kiện đảm bảo, những khú khăn, vướng mắc để điều chỉnh kịp thời

Kiểm tra gắn liền với quỏ trỡnh điều chỉnh kế hoạch và cỏc tỏc động

quản lý để đạt tới cỏc mục tiờu đó xỏc định

Ngày đăng: 16/03/2021, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w