1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường cao đẳng nghề công nghệ và nông lâm phú thọ trong giai đoạn hiện nay

137 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Australia vào tháng 3 năm 2000, Hội đồng Bộ trưởng đã ủng hộ hướng đi được trình bày trong tài liệu “Cơ cấu chiến lược phát triển thúc đẩy ứng dụng CNTT, quản lý ứng dụng CNTT” tài l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Trang

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

5 Giả thuyết khoa học

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

7 Phương pháp nghiên cứu

8 Những đóng góp mới của đề tài

9 Cấu trúc luận văn

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Ngoài nước

1.1.2 Trong nước

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường

1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học

1.2.4 Phương pháp dạy học

1.2.5 Đổi mới phương pháp dạy học

1.2.6 Công nghệ, công nghệ thông tin

1.2.7 Biện pháp quản lý

1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.3.1 Môi trường đa học tập phương tiện

1.3.2 Phần mềm dạy học

1

2

2

2

3

3

3

4

4

5

5

5

6

9

9

13

16

19

19

20

22

23

23

27

Trang 4

1.3.3 Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin và giáo án

dạy học tích cực điện tử

1.3.4.Các mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.4 Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường cao đẳng nghề

1.4.1 Quản lý việc xây dựng phòng học đa phương tiện

1.4.2 Quản lý việc sử dụng các phần mềm dạy học

1.4.3.Quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin

Tiểu kết chương 1

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHỆ VÀ NÔNG LÂM PHÚ THỌ

2.1 Khái quát về trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

2.1.2 Nhiệm vụ của nhà trường

2.1.3 Đội ngũ giáo viên trường

2.1.4 Về tình hình cơ sở vật chất của trường

2.1.5 Thực trạng dạy học ở trường

2.2 Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học ở các khoa , bộ môn trong trường

2.2.1 Việc triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết, chủ trương chính sách của Đảng,nhà nước và những điều kiện để phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ

2.2.2 Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên về việc ứng

dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công

29

34

35

35

38

38

41

43

43

43

44

44

50

53

56

56

Trang 5

nghệ và Nông lâm Phú Thọ

2.2.3 Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học

2.3 Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

2.3.1.Quản lý việc xây dựng và sử dụng phòng học đa phương tiện

2.3.2 Quản lý việc sử dụng phần mềm dạy học

2.3.3 Quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin

2.4 Phân tích thực trạng ứng dụng và quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ

2.4.1 Mặt mạnh

2.4.2 Mặt yếu

2.4.3 Phân tích nguyên nhân tồn tại

Tiểu kêt chương 2

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHỆ VÀ NÔNG LÂM PHÚ THỌ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp

3.1.1 Các văn kiện của Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục và đào tạo về ứng dụng công nghệ thông tin

3.1.2 Định hướng chỉ đạo phát triển đào tạo của trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ

3.2 Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và tính hiệu quả

57

58

62

62

63

64

67

67

67

68

70

71

71

71

72

74

74

74

75

Trang 6

3.3 Các biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở

trường Cao đẳng nghề Công nghệ và nông lâm Phú Thọ

3.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho giáo viên về tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

3.3.2 Biện pháp 2: Tăng cường đầu tư mua sắm thiết bị dạy học hiện đại, xây dựng phòng học đa phương tiện để ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học

3.3.3 Biện pháp 3: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao cho giáo viên của các khoa, bộ môn về kiến thức, kỹ năng tin học cơ bản và sử dụng một số phần mềm dạy học

3.3.4 Biện pháp 4: Xây dựng qui trình thiết kế giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin

3.3.5 Biện pháp 5 : Xây dựng quy trình sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin

3.3.6 Biện pháp 6: Tăng cường kiểm tra đánh giá kết quả ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của giáo viên

3.4 Mối liên hệ giữa các biện pháp

3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp

Tiểu kết chương 3

Kết luận và khuyến nghị

75

75

79

83

86

90

92

95

97

103

104

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công nghệ thông tin có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi hoạt động của đời sống xã hội ở tất cả các quốc gia trên thế giới Đặc biệt với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật thì yêu cầu cấp thiết là phải trang bị kiến thức nền tảng, kỹ năng cơ bản, đồng thời dạy cách học cho người học, tạo cho

họ khả năng, thói quen và niềm say mê học tập suốt đời

Trong kỳ họp của Bộ chính trị đã có kết luận số 242-TB/TW ngày 15 tháng 4 năm 2010 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 trong phần Tiếp

tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục

có nêu: “Đổi mới, hiện đại hóa chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, chuyển mạnh mẽ từ đào tạo theo khả năng sang đào tạo theo nhu cầu; tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên; gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống”

Theo điều 7 khoản 2 của luật dạy nghề năm 2006 : “ Đầu tư có trọng tâm trọng điểm để đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy nghề , phát triển đội ngũ giáo viên, hiện đại hóa thiết bị, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề, tập trung xây dựng một số cơ sở dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và trên thế giới ”

Úng dụng CNTT trong dạy học là hết sức cần thiết Trong những năm qua ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ đã được quan tâm nhưng chưa được đầu tư thỏa đáng Tính đến năm học 2010 – 2011, Trường đã được trang bị các phòng máy vi tính cho học sinh và được trang bị máy chiếu đa năng cho giáo viên sử dụng

Trang 9

trong giảng dạy Nhưng hiệu qủa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học còn rất thấp Nguyên nhân do Giáo viên chưa nhận thức được hết vai trò và ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, chưa đủ kiến thức, kỹ năng tin học cơ bản; Một số CBQL hạn chế về trình độ tin học, chưa có khả năng định hướng cho Giáo viên nhận thức đúng về bản chất của GADHTC có ứng dụng CNTT và GADHTC điện tử dạy học Phòng máy tính của trường mới sử dụng để dạy tin học, còn mạng máy tính, các phần mềm dạy học để tạo môi trường dạy học ĐPT thì vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Với lý do trên tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “ Biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công Nghệ và Nông lâm Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.”

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận, ứng dụng CNTT trong dạy học

- Đánh giá thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ

- Đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở Trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

Do điều kiện về thời gian và khả năng có hạn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT trong dạy học (Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, ứng dụng CNTT trong quá trình dạy

Trang 10

học, soạn giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ) Đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ

5 Giả thuyết khoa học

Hiện nay việc quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ còn nhiều bất cập

Nếu chọn lựa, đề xuất và áp dụng được một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học phù hợp với thực tiễn thì sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả đào tạo ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm

Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường cao đẳng nghề

- Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ

- Đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở

trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ trong giai đoạn hiện

nay

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu luật giáo dục, luật dạy nghề các văn kiện của Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển giáo dục & đào tạo và định hướng phát triển việc ứng dụng CNTT trong dạy học

- Nghiên cứu các văn bản của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Lao động Thương binh & Xã hội, Tổng cục dạy nghề có liên quan đến TBDH, ứng dụng CNTT trong dạy học

- Nghiên cứu các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Trang 11

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thông qua các phiếu trưng cầu ý kiến, tìm hiểu nhận thức, nguyện vọng của CBQL, CBGV và HS để thu thập thông tin về thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở Trường

- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học

- Phương pháp bổ trợ: Trực tiếp đi dự một số giờ dạy có ứng dụng CNTT; Tiến hành phỏng vấn HS, GV và CBQL; Rút ra được những nhận xét

về công tác quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học

7.3 Xử lý kết quả điều tra bằng thống kê toán học

Phân tích xử lý các thông tin thu được, các số liệu bằng thống kê toán học

8 Những đóng góp mới của đề tài

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học

- Khảo sát và phân tích thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học và quản

lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ

- Chọn lựa, đề xuất và áp dụng một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ

9 Cấu trúc luận văn:

Ngoài phần mở đầu; kết luận và khuyến nghị; tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin

trong dạy học ở các trường Cao đẳng nghề

Chương 2: Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy

học ở Trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ

Chương 3: Một số biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin

trong dạy học ở Trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông Lâm Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ

THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ngoài nước

Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT như: Nước Mỹ, Australia, Canađa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Để ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục

Tại Mỹ và các nước Châu Âu đã có những nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học, nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những thập niên 90

Một số quốc gia ở Châu Á đặc biệt là các nước có nền giáo dục phát triển đã có những biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục như:

Năm 1981 Singapore thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia

- Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore Một Ủy ban máy tính Quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo công tác đó

Năm 1989 tại Philippin chiến lược phát triểnCNTT Quốc gia đã được

công bố Bản chiến lược xác định: CNTT phục vụ phát triển kinh tế xã hội đất nước, dạy và học tin học, ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học

Năm 1980 kế hoạch 10 năm phát triển CNTT ở Đài Loan đã được công

Trang 13

bố Kế hoạch này đề cập đến cấu trúc tổ chức của CNTT ở trong nước và những nội dung mà chính phủ cần làm để phát triển CNTT, ứng dụng CNTT trong các ban ngành xã hội Đặc biệt là ứng dụng CNTT trong giáo dục, tiếp tục khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường thế giới

Ở Australia vào tháng 3 năm 2000, Hội đồng Bộ trưởng đã ủng hộ

hướng đi được trình bày trong tài liệu “Cơ cấu chiến lược phát triển thúc đẩy

ứng dụng CNTT, quản lý ứng dụng CNTT” tài liệu này bao gồm hai mục tiêu

giáo dục trường học bao quát cho nền kinh tế thông tin, đó là:

Một là: Tất cả học sinh tốt nghiệp phổ thông đều ứng dụng được CNTT và ý thức được tác động của CNTT&TT đối với xã hội

Hai là: Ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tạo môi trường học tập cho học sinh

1.1.2 Trong nước

Từ thập niên 90 của thế kỉ trước, vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI Ngoài ra, UNESCO còn dự báo: công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản vào đầu thế kỉ XXI

Ở nước ta CNTT đã được ứng dụng vào trong quá trình dạy học từ những năm 90 của thế kỷ trước Và cho đến nay CNTT vẫn đang được nghiên cứu, ứng dụng hết sức rộng rãi trong tất cả các cơ sở giáo dục từ Trung ương đến địa phương Đã có những đề tài nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học bước đầu thu được những kết quả khả quan, thúc đẩy việc ứng dụng CNTT vào dạy học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có Chỉ thị 29/CT-Bộ GD&ĐT về "Tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành GD & ĐT giai đoạn 2001 - 2005" và Chỉ thị 55/2008/CT- BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong giáo dục giai đoạn 2008-2012 và chọn năm học 2008-2009 là "Năm học đẩy

Trang 14

mạnh ứng dụng CNTT", tạo bước đột phá về ứng dụng CNTT trong giáo dục

và tạo tiền đề ứng dụng và phát triển CNTT trong những năm tiếp theo

Trong những năm qua việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động dạy học đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Gần đây các hội nghị, hội thảo hay trong các đề tài khoa học nghiên cứu về CNTT đã đề cập nhiều đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục và nâng cao chất lượng dạy học:

- Hội thảo “Nâng cao chất lượng đào tạo” tại ĐHQG Hà Nội năm

- Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT “ Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học” Trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với dự án giáo dục đại học tổ chức từ 9-10/12/2006 tại Trường ĐHSP Hà Nội Những cuộc hội thảo này đều tập trung bàn về vai trò của CNTT đối với giáo dục và các giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh việc ứng dụng CNTT vào dạy học Nội dung cụ thể bao gồm:

+ Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học (phổ thông, đại

học

+ Các giải pháp, quản lý phát triển ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học: chiến lược phát triển, kinh nghiệm quản lý, mô hình tổ chức trường học điện tử, mô hình dạy học điện tử,

+ Các kết quả ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học: xây dựng

và sử dụng phần mềm dạy học, kho tư liệu điện tử

Trang 15

- Hội thảo “Ứng dụng CNTT trong giảng dạy ” ngày 12 tháng 01 năm

2011 dành cho cán bộ quản lý của các trường Trung cấp chuyên nghiệp do Trường Trung cấp Âu Việt tổ chức

- Hội thảo “ Ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục và phương pháp dạy học” trong 2 ngày 13 và 14 tháng 4 năm 2011 tại Đông Triều do Sở GD&ĐT tổ chức

Trường Cao đẳng nghề KTCN Việt Nam - Hàn Quốc - Nghệ An với đề tài “ Thí nghiệm thực hành ảo ứng dụng trong dạy nghề điện ô tô ”

Các cuộc hội thảo trên đều tập trung bàn về vai trò của CNTT trong giáo dục và các giải pháp đẩy nhanh việc ứng dụng CNTT trong dạy học

Có một số luận văn thạc sỹ khoa học nghiên cứu về quản lý việc ứng dụng CNTT trong dạy học như:

Tác giả Đào Thị Ninh với đề tài: “Một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở các trường THPT quận Cầu Giấy - Hà Nội” Tác giả

đã lưu ý thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đạt được một số kết quả song còn có bất cập Qua đó đề ra một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở các trường THPT quận Cầu Giấy, Hà Nội

Tác giả Phạm Trường Lưu, với đề tài: “Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học có sử dụng đa phương tiện ở trường THCS” Tác giả nhấn mạnh môi trường đa phương tiện là môi trường học tập chủ yếu hiện nay Giáo viên cần ứng dụng CNTT hiệu quả thông qua môi trường dạy học ĐPT ; Đề ra một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học và góp phần đổi mới PPDH ở trường THCS

Tác giả Trần Thị Đản với đề tài: “Một số biện pháp tổ chức triển khai việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy của Hiệu trưởng trường THCS Văn Lang Thành phố Việt trì, tỉnh Phú Thọ” Những biện pháp mà tác giả đề ra là cần thiết và có khả năng thực hiện trong điều kiện của trường THCS Văn Lang

Trang 16

thành phố Việt Trì

Qua tổng quan nghiên cứu vấn đề thấy rằng các hội thảo, các đề tài về ứng dụng CNTT từ trước đến nay, đều khẳng định vai trò của ứng dụng CNTT trong dạy học và vai trò quan trọng của các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học Thực tế việc đưa CNTT vào hoạt động dạy học còn tồn tại nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết Trình độ tin học cơ bản của đội ngũ giáo viên còn hạn chế và gặp nhiều lúng túng khi thiết kế GADHTC có ứng dụng CNTT Cho đến nay, ở các trường Cao đẳng nghề nói chung và Trường Cao Đẳng nghề Công nghệ và Nông Lâm Phú Thọ nói riêng đã áp dụng rất nhiều biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học Việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học để nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ đang là cần thiết

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

1.2.1.1 Khái niệm:

Khái niệm “Quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm Sau đây là một số định nghĩa về

“Quản lý ”:

Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sư người Pháp - Ông quan niệm: “ Quản

lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” Trong học thuyết quản lý của mình H.Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là: Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm tra

Theo F.W.Tay Lor (Nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) người có học thuyết chú trọng vào nhiệm vụ cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng,

Trang 17

chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”

Theo Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quán lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” ( 22, tr.8)

Theo tác giả Trần Kiểm: “ Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn nhân lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (Chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất

và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến” (19, tr.8)

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện dược những mục tiêu dự kiến” [ 24, tr 24]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5,tr.9]

Còn theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý là nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới

Quản lý = Quản + Lý Trong đó : - Quản là coi giữ, cầm nắm tạo ra sự ổn định

- Lý là chỉnh sửa, sắp xếp, đổi mới để phát triển

Tuy nhiên có ổn định mà không phát triển thì dẫn đến trì trệ, lạc hậu, còn

có phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren Trong ổn định tạo

Trang 18

mầm mống phát triển ; phát triển giữ được hạt nhân cho ổn định Vì vậy quản

lý là vừa chống lạc hậu và chống sự lạc điệu làm cho tổ chức luôn giữ được

sự ổn định và phát triển” [2,tr.15]

Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua

sự nỗ lực của người khác Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người Quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa:

Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức

1.2.1.2 Chức năng quản lý

Chức năng quản lý là những hình thức thực hiện những tác động của chủ thể đến đối tượng quản lý thông qua những nhiệm vụ mà chủ thể cần được thực hiện trong quá trình quản lý Nhìn chung các tác giả khác nhau đều

thống nhất nêu lên các chức chức năng quản lý như sau:

- Chức năng kế hoạch

Chức năng kế hoạch hóa là xác định mục tiêu cho bộ máy, xác định các bước đi để đạt được mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, các biện pháp cách thức để đạt tới mục tiêu Để vạch

ra được mục tiêu và xác định được các bước đi cần có khả năng dự báo, tức là đòi hỏi nhà quản lý phải có khả năng lường trước sự phát triển của các sự vật (của bộ máy) Những nội dung chủ yếu của kế hoạch là:

- Xác định , hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức

- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn , có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu

Quyết định xem những hoạt động nào cần thiết để đạt được mục tiêu đó

Như vậy, có thể hiểu, chức năng kế hoạch hoá là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lý vào công tác kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, biện pháp thực hiện và bảo đảm các nguồn lực để đạt tới mục tiêu của tổ chức

Trang 19

- Chức năng tổ chức

Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý tưởng ấy thành những hoạt động hiện thực Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Người quản lý phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức

- Chức năng chỉ đạo

Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Đó là quá trình liên kết, liên hệ với người khác, hướng dẫn và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy

đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt động quản lý

- Chức năng kiểm tra

Chức năng kiểm tra diễn ra ở giai đoạn cuối cuối cùng của chu trình quản lý, là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới các mục tiêu của tổ chức, chức năng kiểm tra bao gồm những nhiệm

vụ chính sau đây :

+ Người quản lý đặt ra các chuẩn mực thành đạt của hoạt động

+ Đánh giá, đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực

đã đặt ra

+ Điều chỉnh những sai lệch

+ Hiệu chỉnh , sửa lại chuẩn mực nếu cần

Trong những chức năng trên, mỗi chức năng đảm nhận vị trí, vai trò nhất định, song các chức năng này có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Như vậy, chức năng quản lý là những vấn đế hết sức cơ bản của lý luận

Trang 20

về quản lý, nó giữ một vai trò quan trọng trong thực tiễn quản lý Chức năng quản lý và chu trình quản lý thể hiện đầy đủ nội dung hoạt động của chủ thể quản lý đối với khách thể quản lý Vì vậy, việc thực hiện đầy đủ các giai đoạn quản lý trong một chu trình là cơ sở đảm bảo cho hiệu quả của toàn bộ hệ thống được quản lý Việc thực hiện chu trình quản lý có hiệu quả hay không

là nhờ có thông tin Thông tin vừa là điều kiện, vừa là phương tiện tổng hợp các chức năng trên

Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý

Nhìn về hình thức, quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng

kế hoạch đến các chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Song, trong thực tế các chức năng đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện Sự liên kết giữa chức năng cơ bản này là thông tin quản lý và các quyết định quản lý

1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường

1.2.2.1 Quản lý giáo dục

Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người và quản lý giáo dục là

một loại hình của quản lý xã hội Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục:

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII cũng đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý tới khách

Trang 21

thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [23,tr.119]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành tiến tới mục tiêu đào tạo theo nguyên lý giáo dục”

[2, tr 25] Trong quan điểm giáo dục hiện đại của các tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc, chỉ rõ: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất

cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực

và tâm lý của con người Chất lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo

nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục phải nói đến quản lý nhà trường cùng với hệ thống quản lý giáo dục” [5, tr.71]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp qui luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên

trạng thái mới về chất” [24,tr.24]

Theo tác giả Nguyễn Trọng Hậu “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn

ở thế hệ trẻ mà là cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân”.[15,tr 65 ]

Trang 22

lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác

Từ những định nghĩa trên cho thấy: QLGD là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý

mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các cơ sở giáo dục

1.2.2.2 Quản lý nhà trường

Trường học là hình thức thể hiện của hệ thống giáo dục trên qui mô toàn

xã hội, là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân

Nhà trường là một thiết chế xã hội, là đơn vị cấu trúc cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân Do đó, quản lý nhà trường là quản lý thiết chế của

hệ thống giáo dục, đó chính là quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô, cấp độ một đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân

Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp

và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong nhà trường

Theo điều 48 luật giáo dục 2005 “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục”.[25,tr.42]

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”.[31, tr.205]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ"

[24, tr.43]

Trang 23

Vậy bản chất của hoạt động quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học để đưa hoạt động này phát triển đi lên theo xu thế tất yếu của thời đại

và đạt tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo

Tóm lại: Quản nhà trường là QLGD được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội

1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học

1.2.3.1 Hoạt động dạy học

Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể , là con đường

để thực hiện mục đích giáo dục Quá trình dạy học được tổ chức trong nhà trường bằng phương pháp sư phạm đặc biệt nhằm trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học và kỹ năng vận dụng vào thực tiễn Dạy học bao hàm trong đó sự học và sự dạy gắn bó với nhau, dạy không chỉ là sự truyền thụ, giảng dạy kiến thức kỹ năng cho học sinh mà còn là sự tổ chức, chỉ đạo

và điều khiển hoạt động học (nghĩa hẹp) Dạy học là con đường giáo dục tích cực, chủ động ngắn nhất và có hiệu quả nhất giúp thế hệ trẻ tránh được những

mò mẫm, vấp váp trong cuộc đời

Quá trình dạy học là một quá trình hoạt động thống nhất giữa giáo viên

và học sinh trong đó dưới tác động chủ đạo (tổ chức, điều khiển) của giáo viên học sinh tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đã đặt ra

Hoạt động dạy có chức năng tổ chức các dạng hoạt động học cho học sinh tham gia, qua tham gia các dạng hoạt động học khác nhau, người học tiếp cận với đối tượng học và lĩnh hội được nội dung học tập theo mục tiêu đặt ra Hoạt động dạy có chức năng thực hiện cơ chế di sản xã hội ở người Chức năng này thể hiện vai trò quan trọng của hoạt động dạy đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người vì cơ chế di truyền và cơ chế di sản xã hội là hai giá đỡ đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

Trang 24

Hoạt động học có chức năng tái tạo các giá trị của xã hội loài người trong mỗi cá nhân Nó thực hiện chức năng di sản xã hội ở người Trong khi hoạt động, người học tiếp thu những kinh nghiệm xã hội - lịch sử của loài người, tạo ra năng lực hoạt động để có thể tiếp tục duy trì sự tồn tại và phát triển Chính vì vậy, để hoạt động học có hiệu quả, người học phải tích cực tham gia các phương thức hoạt động (như nhận thức, xã hội, văn hoá, liên nhân cách), tiếp cận đối tượng học (nội dung tài liệu học) và chuyển hoá chúng từ cái khách quan thành các giá trị chủ quan trong bản thân người học Người học không học được gì hết, nếu không phải trải qua sự chiếm lĩnh bằng hoạt động Không có hoạt động thì trí tuệ không thể phát triển tốt được Trí tuệ có bản chất hoạt động Trí tuệ được hình thành dần trong mỗi hoạt động của cá nhân

Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm trong bất cứ loại hình nhà trường nào, dưới góc độ của giáo dục học Dạy học là một quá trình toàn vẹn

có sự thống nhất giữa hai mặt của các chức năng hoạt động dạy và hoạt động học

Hoạt động dạy và hoạt động học luôn gắn bó, không tách rời nhau thống nhất và biện chứng cho nhau tạo thành hoạt động chung Dạy điều khiển học, học tuân thủ dạy Tuy nhiên, việc học phải chủ động, cách học phải thông minh, có phương pháp sáng tạo

1.2.3.2.Quản lý hoạt động dạy học

Quản lý hoạt động dạy học, chính là quản lý cách thức làm việc của thầy và trò trong việc chuyển tải nội dung dạy học.Việc quản lý ở đây không chỉ là quản lý việc sử dụng hợp lý các phương pháp giảng dạy – học tập, để nâng cao hiệu quả quá trình đào tạo mà phải thường xuyên tổng kết, đánh giá

và cập nhật các cách thức làm việc giữa thầy và trò sao cho tối ưu nhất, thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng và nhà cung cấp Bằng việc cập nhật các cách thức làm việc mới, hiệu quả, người thầy đóng vai trò là người tổ chức,

Trang 25

thiết kế, kiến tạo, trò là người chủ động tiếp nhận, tìm tòi và thử nghiệm để

rút ra kết luận và kết quả nghiên cứu

Quản lý quá trình dạy học thực chất là những tác động của chủ thể quản

lý đối với các hoạt động dạy học nhằm đạt mục tiêu quản lý

Tóm lại: Quản lý hoạt động dạy học là sự tác động có kế hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý (hiệu trưởng nhà trường) đến khách thể quản lý (HS, đội ngũ GV công nhân viên nhà trường và các lực lượng giáo dục khác) nhằm huy động tối đa các nguồn lực giáo dục trong và ngoài nhà trường để xây dựng

và phát triển nhân cách của người học

1.2.3.3.Quản lý hoạt động học

Học tập là hoạt động nhận thức chỉ khi có nhu cầu nhận thức, nhu cầu hioeẻu biết mới tích cực hoặc tập Nhu cầu hiểu biết đó chính là động cơ nhận thức của học sinh trong học tập, học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể trong hoạt động dạy học Vì vậy quản lý hoạt động học chính là quản lý tổ chức, điều khiển cách tiếp cận những tri thức mới, những hoạt động chiếm lĩnh khoa học của học sinh

Quản lý hoạt động học của học sinh đặt ra với người quản lý không phải chỉ trên bình diện khoa học giáo dục mà còn ý nghĩa tinh thần trách nhiệm của nhà quản lý giáo dục đối với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ Thể hiện qua một số việc sau:

- Tổ chức xây và thực hiện nội quy học tập

- Phát động phong trào thi đua học tập

- Phối hợp giữa các nhà sư phạm với các lực lượng giáo dục khác

Tổ chức kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của học sinh bảo đảm tính khoa học, khách quan, thường xuyên, có hệ thống đảm bảo tính phát triển của học sinh đáp ứng được mục tiêu giáo dục

Như vậy quản lý hoạt động học là sự tác động có mục đích, có kế hoạch

Trang 26

1.2.4 Phương pháp dạy học

PPDH là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy học vì nó quyết định trực tiếp đến chất lượng cũng như hiệu quả của quá trình này Cùng một nội dung dạy học trong những hoàn cảnh, điều kiện tương tự nhau nhưng sự hứng thú học tập, tính tự giác, tích cực của HS có thể không giống nhau vì còn phụ thuộc vào PPDH

Theo tác giả Trần Khánh Đức: “PPDH là cách thức tiêu chuẩn các hoạt động của người dạy (thầy giáo) người học (trò) nhằm hình thành và phát triển

ở trường học các kiến thức kỹ năng nghề nghiệp và phát triển nhân cách nghề nghiệp trong quá trình đào tạo” [9,tr.199]

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “PPDH là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của GV và HS, trong đó phương pháp dạy chỉ đạo phương pháp học, nhằm giúp HS chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học

và hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo thực hành sáng tạo” [31,tr.93]

Theo tác giả Thái Duy Tuyên các định nghĩa về PPDH có thể tóm tắt dưới ba dạng sau đây:

- Theo quan điểm điều khiển học, PPDH là cách thức tổ chức hoạt động nhận thức của HS và điều khiển hoạt động này

- Theo quan điểm lôgíc, PPDH là những thủ thuật lôgíc được sử dụng để giúp

HS nắm kiến thức kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác

- Theo bản chất của nội dung, PPDH là sự vận động của nội dung dạy học [29]

Từ những định nghĩa trên ta có thể hiểu PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của người dạy và người học trong những điều kiện nhất định nhằm đạt được mục đích dạy học

1.2.5 Đổi mới phương pháp dạy học

Theo quan điểm chung, đổi mới PPDH là đưa các PPDH mới vào trong nhà trường để phát huy tính sáng tạo, tích cực và tự giác học tập của HS, giúp

Trang 27

HS nâng cao khả năng tự học và biết cách vận dụng những tri thức đã lĩnh hội được vào trong thực tiễn cuộc sống Đổi mới PPDH không phải là thay đổi hoàn toàn PPDH cũ bởi những PPDH mới mà đó là sự thay đổi trên cơ sở có chọn lọc, kế thừa và phát huy các ưu điểm của PPDH trước đây

Mục đích cuối cùng của việc đổi mới PPDH đó là hướng tới hoạt động chủ động, chống lại thói quen dạy học thụ động của GV Tăng cường dạy cách tự học, tự tìm tòi sáng tạo cho HS

Như chúng ta đã biết, quá trình dạy học là một chỉnh thể thống nhất bao gồm nhiều nhân tố, các nhân tố của quá trình dạy học quy định, chế ước lẫn nhau Chẳng hạn: mục đích dạy học quy định nội dung dạy học, nội dung dạy học quy định PPDH, đến lượt mình PPDH lại quy định các hình thức tổ chức

và các phương tiện dạy học… Vì vậy khi tiến hành đổi mới PPDH cần phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với các nhân tố của quá trình dạy học

1.2.6.Công nghệ, công nghệ thông tin

1.2.6.1 Khái niệm công nghệ

Công nghệ, theo gốc Latinh, được ghép từ Technic (kỹ thuật hay công

cụ vật liệu) và từ Logic (trình tự, các cách tiếp cận khác nhau để giải quyết vấn đề)

TheoTừ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội 1995 Khái niệm công nghệ được hiểu: “ Là môn khoa học ứng dụng nhằm vận dụng các quy luật tự nhiên

và các nguyên lý khoa học,đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần con người” hoặc “ là tập hợp các cách thức, các phương pháp dựa trên cơ sở khoa học và được sử dụng vào sản xuất trong các ngành sản xuất khác nhau để tạo

ra các sản phẩm dịch vụ”.[30]

Theo điều 2 luật Khoa học – Công nghệ năm 2000 : “ Là tập hợp các phương pháp, quy trình kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm ” [ 9,tr 202]

Theo quan điểm truyền thống: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, kỹ thuật, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn

Trang 28

lực thành sản phẩm”

Theo quan điểm hiện đại: Công nghệ là tổ hợp của bốn thành phần có tác động qua lại với nhau, cùng thực hiện bất kỳ quá trình sản xuất và dịch

vụ nào:

- Phần trang thiết bị, bao gồm: các thiết bị, máy móc, nhà xưởng, đây là

“phần cứng ”của công nghệ Thiếu thiết bị kỹ thuật thì không có công nghệ, nhưng cũng rất lầm lẫn khi đồng nhất công nghệ với thiết bị kỹ thuật

- Phần con người: bao gồm đội ngũ nhân lực để vận hành, điều khiển

và quản lý day chuyền thiết bị Phần này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ học vấn chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo và tay nghề của từng người hoặc của từng nhóm người

- Phần thông tin: Bao gồm tư liệu, dữ kiện, bản thuyết minh, mô tả sáng chế, các bí quyết, các quá trình, các phương pháp, các dữ liệu, các bản thiết

kế

- Phần quản lý - tổ chức: Bao gồm các hoạt động, các liên hệ phân bố nguồn lực, tạo lập mạng lưới sản xuất, tuyển dụng, trả lương, chính sách khích lệ bố trí, tiếp thị Với phần này công nghệ được hiện thận trong thể chế

và khoa học quản lý dã trở thành nguồn lực

1.2.6.2 Khái niệm công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin: là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin Như vậy,

“CNTT là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa,… của con người”

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Công nghệ thông tin (tiếng Anh là: Information Technology gọi tắt là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, là ngành sử dụng máy tính và phần mềm

Trang 29

máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu nhập thông tin

Theo luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 điều 4 giải thích: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số

Theo các tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin phong phú và

tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội ” [17, tr.90]

Việc sử dụng máy vi tính, phương tiện truyền thông và Internet… trong giáo dục hiên nay đã phát triển nhanh chóng góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy học hết sức đa dạng và phong phú Công nghệ thông tin đã giúp con người có thêm khả năng trong hoạt động trí tuệ chứ không phải thay thế con người trong hoạt động trí tuệ ấy

Trong nền giáo dục hiện đại, không chỉ đòi hỏi người học biết thêm nhiều tri thức, mà còn phải có năng lực tìm kiếm tri thức và tạo ra tri thức mới cho bản thân Vì vậy, để công nghệ thông tin được ứng dụng hiệu quả vào dạy học trong điều kiện của xã hội tri thức, khi mà khối lượng tri thức tăng lên nhanh chóng, mà thời gian học tập trong trường có hạn thì giáo viên là người hướng dẫn cho học sinh những phương pháp tư duy, khám phá, khai thác, tiếp cận tìm kiếm và phát hiện tri thức chứ không nhất thiết là tri thức và kỹ năng

cụ thể của mình

1.2.7 Biện pháp quản lý

Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành một vấn đề cụ thể nào đó Biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành cụ thể của chủ thể ( nhà quản lý ) sử dụng để tác động đến đối tượng quản lý nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục đích của nhà quản lý Người quản lý sử dụng các chức năng quản lý, công cụ quản lý một cách linh hoạt đem lại hiệu quả cao

nhất trong quá trình quản lý vận hành đạt được mục tiêu mà chủ thể đã đề ra

Trang 30

1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.3.1 Môi trường học tập đa phương tiện

Thuật ngữ ĐPT được dịch ra từ cụm từ Multimedia Theo từ điển Anh - Việt: Multi có nghĩa là nhiều, đa chiều và Media có nghĩa là phương tiện truyền thông Vì thế ta có thể hiểu Multimedia có nghĩa là tổ hợp của nhiều phương tiện truyền thông gộp lại Và môi trường học tập ĐPT là môi trường học tập được trang bị, lắp đặt các phương tiện truyền thông (Multimedia) và các điều kiện đảm bảo cho các phương tiện đó hoạt động tốt Ở đó diễn ra sự tương tác đa chiều:

Tương tác hai chiều giữa GV với HS

Tương tác hai chiều giữa phương tiện với HS

Tương tác hai chiều giữa GV với phương tiện

Chiều thứ ba bao gồm: những tác động qua lại giữa GV và mối quan hệ HS – phương tiện, giữa HS và mối quan hệ GV - phương tiện, giữa phương tiện với mối quan hệ GV - HS

Theo các chuyên gia thiết bị giáo dục của Việt Nam: TBDH là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người dạy sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của người học Còn đối với người học thì TBDH là nguồn tri thức, là các phương tiện giúp họ lĩnh hội các khái niệm, định luật, lý thuyết khoa học hình thành ở họ các kỹ năng, kỹ xảo đảm bảo phục vụ mục đích dạy học

TBDH bao gồm TBDH dùng chung (Phương tiện kỹ thuật dạy học) và TBDH

2 Máy chiếu qua đầu

3 Máy chiếu đa năng

Trang 31

4 Bảng thông minh / Bảng kỹ thuật số

Thiết bị dạy học bộ môn gồm:

1 Tranh ảnh giáo khoa

2 Bản đồ, biểu đồ, biểu bảng giáo khoa, sơ đồ tư duy thiết kế bằng tay

3 Mô hình, mẫu vật, vật thật

4 Dụng cụ, hóa chất, đồ dùng dạy học bộ môn

5 Phim đèn chiếu

6 Bản trong dùng cho máy chiếu qua đầu

7 Băng, đĩa ghi âm

8 Băng, đĩa ghi hình

9 Phần mềm dạy học

10 Website dạy học

11 GADHTC có ứng dụng CNTT, GADHTC điện tử

12 Phòng thí nghiệm ảo

13 Mô hình dạy học điện tử

14 Thư viện điện tử/ Thư viện ảo

15 Sơ đồ tư duy thiết kế bằng phần mềm tin học

16 Bản đồ giáo khoa điện tử

Trong 16 loại hình TBDH đã nêu ở trên thì 4 loại hình TBDH đầu được gọi là TBDH truyền thống với các đặc điểm sau:

+ TBDH truyền thống đã được GV và HS sử dụng từ rất lâu ngay từ khi nghề dạy học phát triển

+ Giá thành các TBDH truyền thống không đắt nên có thể trang bị đại trà cho các trường

+ GV và HS dễ sử dụng và dễ bảo quản

Các loại hình TBDH từ 5 đến 16 là các thiết bị mang thông tin (Khối mang thông tin) có đặc điểm chung và khác biệt là muốn khai thác lượng

Trang 32

thông tin chứa đựng trong từng thiết bị đơn lẻ phải sử dụng cùng với các máy

móc chuyên dùng tương ứng (Khối chuyển tải thông tin tương ứng)

Những thiết bị mang thông tin và những thiết bị chuyển tải thông tin

tương ứng tạo thành hệ thống TBDH ĐPT (TBDH hiện đại)

So với TBDH truyền thống thì TBDH hiện đại có một số điểm khác:

+ Mỗi TBDH hiện đại bao gồm 2 khối: Khối mang thông tin và khối

chuyển tải thông tin tương ứng

Khối mang thông tin Khối chuyển tải thông tin tương ứng

Phim Slide, phim chiếu bóng Máy chiếu Slide, máy chiếu phim

Bản trong Máy chiếu qua đầu

Băng, đĩa ghi âm Radio Cassette, đầu đĩa CD

Băng, đĩa ghi hình Đầu Video, đầu đĩa hình

Phần mềm dạy học Máy tính, máy chiếu đa năng, màn

chiếu, bảng kỹ thuật số/ Bảng thông minh

GADHTC có ứng dụng

CNTT, GADHTC điện tử

Máy tính, máy chiếu đa năng Màn chiếu, bảng kỹ thuật số Website dạy học Máy tính, máy chiếu đa năng, màn

chiếu, bảng kỹ thuật số Phần mềm dạy học Máy tính, máy chiếu đa năng, màn

chiếu, bảng kỹ thuật số

Mô hình dạy học điện tử Máy tính

Thư viện ảo/ Thư viện điện tử Máy tính

+ Để sử dụng được các phương tiện truyền thông phải có điện lưới

+ Đắt tiền hơn rất nhiều so với các TBDH truyền thống

+ Phải có trình độ sử dụng và bảo quản tốt

+ Phải có phòng chuyên biệt để lắp đặt, sử dụng và bảo quản

Trang 33

Nếu xét về chức năng thì TBDH truyền thống hay TBDH hiện đại đều được sử dụng nhằm tích cực hóa quá trình nhận thức của người học Tuy nhiên TBDH hiện đại với nhiều chức năng quan trọng mà TBDH truyền thống không thể có được chẳng hạn như : đem đến cho người học nhiều thông tin, kiến thức phong phú, vượt qua giới hạn thời gian và không gian Nhờ phương tiện nghe nhìn trong khoảnh khắc người học có thể quan sát từ đối tượng này sang đối tượng khác Người học có thể quan sát được các thí nghiệm hoặc các hiện tượng tự nhiên mà họ không thể đến gần được như các phản ứng của các chất độc hại, các vụ nổ hạt nhân, các thảm họa thiên tai (sóng thần, núi lửa đang phun trào)… Từ đó cho thấy nếu người dạy sử dụng các TBDH hiện đại một cách hợp lí trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học thì chắc chắn sẽ làm cho các giờ dạy của mình trở nên sinh động hơn, làm giảm bớt được tính trừu tượng của nội dung kiến thức cần truyền đạt đến với người học, trên cơ

sở đó phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học, đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản của việc đổi mới PPDH

Việc tiếp thu kiến thức sẽ trở nên có hiệu quả hơn khi HS nhận được lượng thông tin từ nhiều nguồn tri giác khác nhau và trong hoạt động riêng của mình, tổng hợp và chọn lọc những nguồn tin đó Tác dụng của mỗi giác quan ở HS cũng có sự khác nhau

Từ những nhận định trên cho thấy TBDH hiện đại đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức hoạt động dạy học ở các cơ sở giáo dục và đào tạo,

nó là công cụ hỗ trợ cho GV giảng dạy Khi các TBDH hiện đại được tích hợp vào trong các phòng học để tạo ra môi trường học tập ĐPT cho HS việc nâng cao chất lượng giảng dạy của các trường Cao đẳng nghề sẽ khả thi hơn

Theo các tác giả Phó Đức Hòa và tác giả Ngô Quang Sơn: “ Sử dụng ĐPT trong dạy học mang lại cho đối tượng người học nguồn thông tin phong phú và sinh động, mỗi giờ dạy sẽ trở nên trực quan hơn, giảm bớt tính trừu tượng của các nội dung kiến thức, thu hút sự tập trung, niềm say mê, hứng thú của người học, làm cho người học hiểu bài hơn và nhớ lâu hơn”.[17] ĐPT

Trang 34

giúp người dạy có thể cung cấp nội dung kiến thức cho người học bằng nhiều con đường khác nhau Việc tiếp thu kiến thức sẽ trở nên có hiệu quả hơn khi người học nhận được lượng thông tin từ nhiều nguồn tri giác khác nhau

Ứng dụng CNTT trong môi trường dạy học ĐPT đã trở thành một yếu

tố quan trọng, là một công cụ hữu hiệu để đổi mới PPDH nhằm nâng cao CLDH Nó làm tăng tính tích cực, chủ động của người học trong quá trình tư duy lĩnh hội tri thức mới

1.3.2.Phần mềm dạy học

Phần mềm máy tính là toàn bộ các chương trình dùng để vận hành một máy vi tính Muốn khai thác các tính năng của phần cứng máy tính thì buộc phải có phần mềm ứng dụng tương ứng Khi khoa học công nghệ về máy tính càng phát triển thì các phần mềm, đặc biệt là các phần mềm ứng dụng xuất hiện ngày càng nhiều, giúp cho máy vi tính trở nên vô cùng hữu dụng Cho đến nay, có thể nói các tính năng của máy vi tính đã được ứng dụng trong mọi mặt của đời sống xã hội Khi CNTT bùng nổ, lượng tri thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng làm cho các PPDH truyền thống trước đây đã không còn phù hợp, đòi hỏi các nhà giáo dục phải nghiên cứu tìm ra các PPDH phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại Đó là các PPDH tích cực, đặc trưng của các PPDH tích cực là tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Để xây dựng được PPDH thỏa mãn các đặc trưng trên thì việc sử dụng các phần mềm ứng dụng vào trong quá trình dạy học là hết sức cần thiết Hiện nay đã có rất nhiều phần mềm được xây dựng với mục đích là hỗ trợ quá trình dạy học Các phần mềm có thể hỗ trợ cho GV soạn giáo án, thiết kế các đoạn phim, các bức ảnh tĩnh, bức ảnh động, tạo ra các hình ảnh 3D, mô phỏng thí nghiệm, tạo ra phòng thí nghiệm ảo … Các phần mềm có những chức năng kể trên được gọi chung là phần mềm dạy học Trong số những phần mềm dạy học có những phần mềm được ứng dụng vào trong dạy học cho hầu hết các môn học như phần mềm Office, phần mềm Macromedia Flash (dùng để soạn thảo văn bản

Trang 35

và trình chiếu văn bản); phần mềm Total Video Converter 3.12 dùng để thiết

kế các đoạn Video; Phần mềm Proshow Gold 4.51 dùng để thiết kế và trình chiếu các bức ảnh, các Video Clip… Cũng có một số phần mềm ứng dụng được xây dựng để ứng dụng cho từng môn học riêng biệt, như phần mềm Cabri, Mapble, Geometer’s Sketchpad … được ứng dụng trong dạy học môn Toán; Phần mềm Study English 1.0 được ứng dụng trong dạy học môn Tiếng Anh; Phần mềm Crocodile Physics 605 được ứng dụng trong dạy học mônVật Lý; phần mềm Macromedia Flash, Automachine của Bosh ứng dụng dạy trong nghề Công nghệ ô tô ; Phần mềm Electronic Desgn Automation ứng dụng dạy nghề Điện - Điện tử

Một trong những mục tiêu của việc ứng dụng CNTT trong dạy học là làm cho mỗi giờ dạy của GV trở nên sinh động, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của của HS Để thực hiện được mục tiêu này, thì việc sử dụng những tính năng của các phần mềm dạy học là hết sức cần thiết Với đặc tính của mình, các phần mềm dạy học có thể tạo ra những nguồn thông tin phong phú và đặc biệt là rất trực quan, sống động So với các bức ảnh tĩnh có trong sách giáo khoa thì những bức ảnh động, những Video Clip sẽ giúp học sinh tiếp nhận kiến thức của bài học một cách chân thực hơn, giúp HS hiểu bài sâu sắc hơn Thậm chí còn có một số phần mềm dạy học cho phép HS tương tác với máy tính Để HS không chỉ được nghe thấy, được nhìn thấy mà còn có thể được trực tiếp thao tác trên máy vi tính, tự mình khám phá tìm ra nguồn tri thức mới cho bản thân Điều này là hết sức quan trọng Theo ngạn ngữ Việt Nam: ‘‘Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm’’, hoặc câu phương ngôn của Trung Hoa : ‘‘Tôi nghe tôi quên, tôi nhìn tôi nhớ, tôi làm tôi hiểu” và thêm “Tôi nói lại cái tôi đã làm, thì cái đó mới

là của tôi’’

Hơn nữa khi sử dụng một cách hợp lý những tính năng các phần mềm dạy học còn giúp GV tránh được tình trạng lạm dụng CNTT trong dạy học do

Trang 36

chỉ quá chú trọng đến việc chạy chữ trên màn hình, nặng về trình chiếu, làm phân tán nội dung chính của bài học…

Vậy quản lý việc sử dụng các phần mềm dạy học vào quá trình tổ chức hoạt động dạy học của GV là một trong những nhiệm vụ quan trọng của CBQL nhà trường trong việc quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học

1.3.3 Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin và giáo án dạy học tích cực điện tử

1.3.3.1 Giáo án

Giáo án - kế hoạch bài học (Lesson Plan) là dàn ý lên lớp của GV bao gồm đề bài của giờ lên lớp, mục đích giáo dục và giáo dưỡng, nội dung, phương pháp, thiết bị, những hoạt động cụ thể của thầy và trò, khâu kiểm tra đánh giá…tất cả được ghi ngắn gọn theo trình tự thực tế sẽ diễn ra trong giờ lên lớp Giáo án được giáo viên biên soạn để chuẩn bị lên lớp và quyết định phần lớn sự thành công của bài học

1.3.3.2 Giáo án dạy học tích cực

Theo tác giả Ngô Quang Sơn: “GADHTC là giáo án (kế hoạch bài học) được thiết kế theo hướng tích cực hóa quá trình dạy học; biến quá trình dạy học thành quá trình dạy học tích cực; tích cực hóa quá trình nhận thức, quá trình tư duy của HS

Cấu trúc của một GADHTC bao gồm :

- Mục đích, yêu cầu theo kiến thức, kỹ năng, thái độ

- Chuẩn bị thiết bị giáo dục: TBDH truyền thống và TBDH có ứng dụng CNTT (TBDH hiện đại hay TBDH nghe, nhìn và tương tác)

- Những phương pháp, biện pháp sẽ được phối hợp sử dụng trong quá trình giảng dạy

- Tiến trình dạy học : Giải quyết các nhiệm vụ của nhận thức (Mục tiêu kiến thức)

Chia thành các hoạt động để lĩnh hội kiến thức cơ bản

Hoạt động nhận thức1: Nội dung hoạt động để thực hiện mục tiêu kiến thức 1

Trang 37

- Thao tác định hướng của GV

- Thao tác thi công của HS

- Thao tác định hướng của GV

- Thao tác thi công của HS

Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ nhận thức 1 này

Hoạt động nhận thức 2: Nội dung hoạt động để thực iện mục tiêu kiến thức 2

- Thao tác định hướng của GV

- Thao tác thi công của HS

- Thao tác định hướng của GV

- Thao tác thi công của HS

Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ nhận thức 2 này’’.[17,tr.159-160]

GADHTC thiết kế được phải thể hiện những đặc trưng cơ bản của các PPDH tích cực, đó là:

- Người học được đặt vào trong các tình huống có vấn đề, được trực tiếp quan sát, làm thí nghiệm, thảo luận để giải quyết vấn đề theo suy nghĩ của bản thân Từ đó không những nắm được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn nắm được cách thức và con đường đi tới tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ấy

- Tạo cho người học động cơ hứng thú học tập, rèn kỹ năng, thói quen ý chí tự học để khơi dậy nội lực vốn có ở họ

- Nâng cao khả năng học tập hợp tác ở người học trong hoạt động học tập theo nhóm, bằng việc tạo ra các tình huống học tập có vấn đề mà để giải quyết các tình huống có vấn đề này phải có sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm

- Phát triển ở người học kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập của bản thân, từ đó hình thành được kỹ năng tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình

1.3.3.3 Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin

Trong thực tế, nhiều GV đã có quan niệm sai là coi bản trình chiếu được

Trang 38

được thiết kế trên phần mềm trình diễn MS PowerPoint chính là giáo án điện

tử, họ thiết kế giáo án dạy học trên các phần mềm trình diễn có sẵn mà không chú ý đến việc tích hợp được các phương pháp, biện pháp sư phạm vào trong giáo án Sử dụng cả tiết học để trình chiếu nội dung dạy học thông qua hệ thống dạy học đa phương tiện (Máy tính – Máy chiếu đa năng – Màn chiếu), không có sự linh hoạt trong việc sử dụng các bảng tĩnh (bảng truyền thống, bảng phụ), bảng động…Với hình thức dạy học như trên, không những không đem lại hiệu quả mà thậm chí còn làm giảm chất lượng của các giờ dạy Để khắc phục nhược điểm này, CBQL cần giúp GV hiểu rõ bản chất của

GADHTC có ứng dụng CNTT

Tác giả Ngô Quang Sơn đã quan niệm: “ Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT là kế hoạch bài học, là kịch bản sư phạm đã được giáo viên chuẩn bị chi tiết trước khi lên lớp, thể hiện được mối quan hệ sư phạm tương tác giữa GV và HS, HS và HS (Giáo án dạy học tích cực) và một số nội dung kiến thức, kỹ năng quan trọng cần hình thành cho HS trong quá trình dạy học lại quá trìu tượng đối với các em mà các loại hình TBDH truyền thống (tranh ảnh giáo khoa, bản đồ, biểu đồ, mô hình, mẫu vật, thí nghiệm thật ) không thể hiện nổi thì sẽ được số hoá (ứng dụng CNTT) và trở thành các thí nghiệm

ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình mô phỏng đơn giản hay các Video Clip để trình chiếu trong một thời gian rất ngắn cho HS, đảm bảo phù hợp với nhu cầu nhận thức của HS, giúp cho HS tự mình chiếm lĩnh các kiến thức

và kỹ năng mới”[28, tr.92]

Chúng ta có thể hiểu GADHTC có ứng dụng CNTT trước hết đó phải

là một GADHTC, thể hiện được đầy đủ những đặc trưng cơ bản của một GADHTC Ngoài ra trong GADHTC có ứng dụng CNTT còn phải tích hợp thêm được các bức ảnh tĩnh, ảnh động, các Video Clip… khi có nhu cầu thực

sự cần thiết

Để phát huy hiệu quả của GADHTC có ứng dụng CNTT thì GV nên

Trang 39

giảng dạy trong môi trường học tập ĐPT Vì trong môi trường học tập ĐPT tạo ra được sự tương tác giữa GV và HS, giữa GV và các phương tiện truyền thông, giữa HS và các phương tiện truyền thông tạo nhiều thuận lợi để GV thực hiện bài giảng

Sơ đồ 1.2 Dạy học bằng GADHTC có ứng dụng CNTT

Theo chuyên gia UNESCO PROAP:

GADHTC có ứng dụng CNTT= GADHTC + ứng dụng CNTT ở mức cơ bản

1.3.3.4 Giáo án dạy học tích cực điện tử

Trong quá trình thiết kế và sử dụng GADHTC nếu GV ứng dụng CNTT ở mức nâng cao, tức là không chỉ dừng lại ở việc tích hợp được các ảnh tĩnh, ảnh động, Video Clip như một GADHTC có ứng dụng CNTT mà còn là một giáo án có tính “mở”, cho phép người học trực tiếp tương tác với các nội dung kiến thức có trong giáo án, để có thể tự mình khám phá, tìm hiểu những nội dung kiến thức ấy Ví dụ: Khi GV khoa Nông - Lâm dạy về ảnh hưởng tác động của môi trường (đất rừng, khí hậu, lượng mưa ) đối với cây rừng bằng GADHTC điện tử thì GV có thể sử dụng phần mềm Macromedia Flash để thiết kế được một thí nghiệm mô phỏng (tư liệu điện tử) mô tả về sự ảnh hưởng của môi trường đối với mức độ sinh trưởng và phát triển của cây rừng Trong tư liệu điện tử về sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng cho phép HS tương tác được với tư liệu điện tử này, tức là khi HS thay đổi những thông số về nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, đất rừng khác nhau thì sẽ cho những kết quả sinh trưởng mật độ, tầng lớp của rừng là khác nhau

Môi trường học tập ĐPT

TBDH: bao gồm TBDH truyền thống và TBDH hiện đại

Người dạy

Trang 40

Tác giả Ngô Quang Sơn quan niệm: “GADHTC điện tử (Electronic Ative Teaching Learning Plan) là kế hoạch bài học, là kịch bản sư phạm đã được giáo viên chuẩn bị chi tiết trước khi lên lớp, thể hiện được mối quan hệ sư phạm tương tác giữa GV và HS, HS và HS (giáo án dạy học tích cực) và một

số nội dung kiến thức, kỹ năng quan trọng cần hình thành cho HS trong quá trình dạy học lại quá trìu tượng đối với các em mà các loại hình TBDH truyền thống (tranh ảnh giáo khoa, bản đồ, biểu đồ, mô hình, mẫu vật, thí nghiệm ) không thể hiện nổi thì sẽ được số hoá (ứng dụng CNTT) và trở thành các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình mô phỏng (tư liệu điện tử) và tạo được sự tương tác của HS với các tư liệu điện tử này HS có thể thay đổi các thông số đưa vào nội dung tư liệu điện tử để thu được những kết quả nghiên cứu khác nhau Các tư liệu điện tử này tạo được sự tương tác của HS với máy tính đã giúp HS tự mình phát hiện kiến thức và hình thành kỹ năng mới”.[28] Xét về hình thức, GADHTC điện tử cũng giống như GADHTC có ứng dụng CNTT vì chúng đều là những GADHTC có tích hợp thêm yếu tố công nghệ thông tin, tư liệu điện tử Song ở hai mức độ khác nhau về khả năng thiết kế lĩnh hội đối với các nội dung, tư liệu điện tử đã được tích hợp vào giáo án Khi nội dung tư liệu điện tử tạo cho học sinh nghe – nhìn được tích hợp vào GADHTC thì ta có GADHTC có ứng dụng CNTT Khi nội dung tư liệu điện

tử tạo cho học sinh nghe - nhìn - tương tác được tích hợp vào GADHTC thì

ta có GADHTC điện tử Như vậy đối với GADHTC có ứng dụng CNTT, học sinh được nghe - nhìn còn đối với GADHTC điện tử, học sinh được nghe nhìn - tương tác

Để phát huy hiệu quả của GADHTC điện tử thì GV cũng cần giảng dạy trong môi trường học tập ĐPT Sự tương tác trong quá trình dạy học (GV-HS; HS-HS; HS- Máy tính; GV- Máy tính) bằng GADHTC điện tử thông qua môi trường học tập ĐPT cũng diễn ra như khi giảng dạy bằng GADHTC có ứng dụng CNTT song ở mức độ cao hơn

Ngày đăng: 16/03/2021, 21:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w