Tuy nhiên, công tác quản lý dạy học trực tuyến ở Học viện Công nghệ BCVT vẫn còn tồn tại một số vấn đề như: Vấn đề nhận thức chung về DHTT trong Học viện còn chưa có sự đồng nhất; Học vi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀO QUANG CHIỂU
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN
TẠI HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ 21, loài người đã và đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức, cùng với công nghệ thông tin và truyền thông và xu thế toàn cầu hoá Điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến mọi hoạt động của đời sống xã hội ở tất cả các quốc gia trên thế giới, đòi hỏi con người phải có nhiều kỹ năng đặc thù và thái
độ tích cực để tiếp nhận và làm chủ tri thức, làm chủ thông tin một cách sáng tạo Vì vậy, việc tăng cường quy mô, nâng cao hiệu quả, đảm bảo chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Số lượng người học ngày càng tăng nhanh trong khi đó cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên của các cơ sở đào tạo chưa thể tăng kịp để đáp ứng được nhu cầu của xã hội Nhu cầu tự học, tự nghiên cứu của người học ngày càng đa dạng Dạy học trực tuyến (DHTT) chính là giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này Ngày nay công nghệ DHTT đã góp phần đổi mới cả phương thức dạy và học DHTT đã đáp ứng những tiêu chí giáo dục mới mà từ trước
tới nay chưa từng được áp dụng đó là: có thể học mọi nơi, học mọi lúc, học
theo sở thích, học suốt đời,… DHTT không chỉ dùng cho đào tạo từ xa (ĐTTX)
qua mạng mà sẽ tồn tại cùng với hình thức dạy học truyền thống và bổ sung, bổ trợ cho hình thức dạy học truyền thống
DHTT đã trở thành một xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức và đã tạo
ra một cuộc cách mạng về dạy học DHTT mang lại hiệu quả kinh tế cao và đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nước trên thế giới Nhiều trường đại học có danh tiếng trên thế giới đã chọn DHTT như một chiến lược định hướng phát triển Chỉ với một giáo viên hoặc một chuyên gia giỏi có thể giảng dạy cho một số lượng lớn người học Với mỗi khóa DHTT có thể dễ dàng mời giáo viên, chuyên gia nước ngoài giảng dạy từ xa nên giảm được chi phí đi lại, ăn ở,… Như vậy, DHTT góp phần mở rộng quy mô đào tạo, hỗ trợ các phương thức giáo dục đào tạo truyền thống, làm giảm bất bình đẳng về cơ hội học tập giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị, giúp giáo dục Việt Nam hội nhập với nền giáo dục thế giới
Ngày nay, DHTT thay đổi cách tiếp cận và lĩnh hội tri thức so với mô hình học tập truyền thống Các hoạt động học tập, nghiên cứu, thảo luận, chia
sẻ kiến thức trên mạng mang lại cho người học sự hứng thú, sáng tạo và chủ động
Ở nước ta, DHTT đã và đang được triển khai, thử nghiệm ở một số trường Đại học như ở Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Viện đại học mở
Trang 3Hà Nội, Trường Đại học CNTT- ĐHQG TP.HCM, Trường ĐHSP Hà Nội, và cũng đã thu được những kết quả nhất định, song vẫn còn có những khó khăn: thiết kế và sử dụng học liệu điện tử; tổ chức dạy học trực tuyến; kiểm tra đánh giá kết quả học tập trực tuyến; công tác quản lý đào tạo, giáo vụ, v.v…
Ở Học viện Công nghệ BCVT, trong những năm gần đây đã từng bước thực hiện các hoạt động ĐTTX, DHTT Trong đó có hoạt động dạy học trực tuyến và đã thu được những kết quả bước đầu Sinh viên ngoài các buổi tập trung tại Học viện nghe hướng dẫn học đầu kỳ, cuối kỳ có thể truy cập vào cổng công tin điện tử; có thể đăng ký tham dự các buổi giảng qua hội nghị truyền hình, dự các buổi học trực tuyến Như vậy, ngoài thời gian học tập trên lớp, sinh viên có thể tự học, tự nghiên cứu, trao đổi và chia sẻ thông tin học tập thông qua cổng thông tin điện tử và các diễn đàn môn học trên Website Tuy nhiên, công tác quản lý dạy học trực tuyến ở Học viện Công nghệ BCVT vẫn còn tồn tại một số vấn đề như:
Vấn đề nhận thức chung về DHTT trong Học viện còn chưa có sự đồng nhất; Học viện chưa có đầy đủ các quy định về tổ chức, quản lý hoạt động DHTT; chưa xây dựng được kế hoạch hoạt động DHTT chung cho các hệ và hình thức đào tạo; CSVC chưa đáp ứng đủ các yêu cầu của hoạt động dạy học trực tuyến; đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên chưa được đào tạo bài bản và thiếu kinh nghiệm về tổ chức dạy học trực tuyến,
Để góp phần giải quyết những tồn tại trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu
“Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến tại Học
viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông"
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác dạy học trực tuyến; đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến; góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo tại Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông
3 Phạm vi nghiên cứu
Vì thời gian nghiên cứu hạn chế, nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở
lý luận về quản lý dạy học trực tuyến; những vấn đề có liên quan tới thực trạng quản lý công tác dạy học trực tuyến và các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học trực tuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Trang 44 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học trực tuyến và quản lý nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến
4.2 Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông; phân tích những ưu điểm, nhược điểm trong công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến
4.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý nâng cao chất lượng dạy học trực
tuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
5.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất
lượng dạy học trực tuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông
6 Giả thuyết khoa học
Nếu chọn lựa và đề xuất được một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao
chất lượng dạy học trực tuyến phù hợp với yêu cầu và điều kiện tổ chức đào tạo
thực tế của Học viện thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy học trực tuyến và góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo tại Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu Luật Giáo dục, các văn kiện của Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển giáo dục, đào tạo và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong giáo dục, đào tạo
- Nghiên cứu các văn bản pháp quy của Bộ GD-ĐT; các quy định quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, quản lý hoạt động dạy học trực tuyến tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
- Nghiên cứu các tài liệu quản lý, báo cáo khoa học có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 5- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp chuyên gia để tham khảo ý kiến của các nhà quản lý, các chuyên gia giáo dục, các giảng viên và sinh viên
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi ý kiến và phỏng vấn, toạ đàm
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm
7.3 Những phương pháp hỗ trợ khác
Sử dụng các công thức toán học để thống kê, xử lý và phân tích các số liệu khảo sát
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần: mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học
trực tuyến
Chương 2: Thực trạng quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực
tuyến tại Học viện
Chương 3: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học
trực tuyến tại Học viện
Trang 6Đối với hình thức dạy học truyền thống, lớp học được cố định ở một chỗ
và người học phải có mặt trên lớp để học Do nhu cầu học tập ngày càng đa dạng, người học có nhu cầu học tập ở mọi nơi, mọi lúc, kể cả trong khi đang đi
du lịch, đi công tác Người học không nhất thiết phải có mặt trên lớp học nhưng vẫn chủ động lĩnh hội được tri thức Từ những yêu cầu mới này của người học
mà hình thức đào tạo từ xa (ĐTTX) đã bắt đầu ra đời Có thể nói, ý tưởng về ĐTTX đã được vạch ra bởi kỹ thuật in ấn Từ rất sớm, việc in ấn đã trở thành phương thức thúc đẩy học tập, người học có thể tự học theo kế hoạch riêng của mình mà không có sự trợ giúp của người hướng dẫn Sự tự giúp đỡ bản thân
đơn giản này là một trong những ví dụ về ĐTTX [36]
Có thể nói mốc thời gian được ghi nhận đầu tiên về ĐTTX trên thế giới
đó là việc giảng dạy cho giáo sỹ nhà thờ bằng gửi thư từ những năm 50-60 sau công nguyên Trong lịch sử hiện đại mốc thời gian được ghi nhận bởi Isaac
Pitman dạy phương pháp ghi tốc ký bằng gửi thư ở Anh năm 1840 [40]
Qua những năm tháng phát triển, tên của lĩnh vực này đựợc thay đổi cho phù hợp với mục đích của nó như: học tại nhà, học qua thư từ, học ngoại khóa, học độc lập (tự học) và học mở rộng Tất cả các hình thức này đều liên quan đến việc truyền giảng (các hình thức giảng dạy) và cách thức học (sự thích hợp
về thời gian và nơi học) Trải qua thời gian, diện mạo và cách thức ĐTTX được hình thành với sự tham gia của các công nghệ như công nghệ in ấn (học qua thư từ), cho tới công nghệ phát thanh, điện đài, và trải qua thời kỳ sản xuất công nghiệp, cuối cùng tới truyền thông đa phương tiện và liên lạc điện tử vào những năm 90, tiếp đó là mạng Internet và công nghệ Web Và tới ngày nay là
hệ thống học tập điện tử (E-learning System) và các công nghệ dạy học trực tuyến (Interractive, Online) được đề cập tới ở hầu hết các cấp học
Trong những năm gần đây, với sự phát triển của công nghệ E-Learning, khả năng tổ chức một lớp học ảo và một môi trường học tập ảo (VLE: Virtual
Trang 7Learning Environment) đã dần phá vỡ tồn tại của những quan niệm cũ chưa thực sự coi trọng ĐTTX khi chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống sang E-Learning với sự trợ giúp đắc lực của máy tính và hệ thống công nghệ thông tin
và truyền thông
Theo tổ chức Thomson NETg [44], các làn sóng phát triển của
E-Learning được chia thành các giai đoạn như sau:
Hình 1.1: Các làn sóng của E-Learning
Trước năm 1983: Kỷ nguyên giảng viên làm trung tâm
Trước khi máy tính được sử dụng rộng rãi, phương pháp giáo dục “Lấy
giảng viên làm trung tâm” là phương pháp phổ biến nhất trong các trường học
Học viên chỉ có thể trao đổi tập trung quanh giảng viên và các bạn học Đặc điểm của loại hình này là chi phí tổ chức đào tạo thấp
Giai đoạn 1984-1993: Kỷ nguyên đa phương tiện
Hệ điều hành Windows 3.1, Máy tính Macintosh, phần mềm trình diễn powerpoint, v.v… đây là các công nghệ cơ bản trong kỷ nguyên đa phương tiện Nó cho phép tạo ra các bài giảng tích hợp hình ảnh và âm thanh học trên máy tính sử dụng công nghệ đào tạo nhờ máy tính (CBT: Computer Based Training) phân phối nội dung giảng dạy qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm Vào bất kỳ thời gian nào, ở đâu, người học cũng có thể mua và học Tuy nhiên, sự hướng dẫn của giảng viên là rất hạn chế
Giai đoạn : 1994-1999 Làn sóng E-learning thứ nhất
Khi công nghệ Web được phát minh, các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục, đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiếp phương pháp giáo dục bằng công nghệ này Sự kỳ vọng vào E-mail, Website, Trình duyệt, HTML, Media player,
Làn sóng thứ 2 /E-Learning /Với sự hỗ trợ của Internet băng thông rộng (Sau 2000)
Trang 8truyền Audio/Video tốc độ thấp và ngôn ngữ JAVA bắt đầu trở lên phổ dụng
và đơn giản hơn đã làm thay đổi bộ mặt của đào tạo bằng đa phương tiện Người thầy thông thái đã dần lộ rõ thông qua các phương tiện: E-mail, CBT qua Intranet với text và hình ảnh đơn giản, đào tạo bằng công nghệ Web với hình ảnh chuyển động tốc độ thấp đã được triển khai trên diện rộng
Giai đoạn sau năm 2000 Làn sóng E-learning thứ hai
Các công nghệ tiên tiến bao gồm JAVA và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy nhập mạng di động 3G và băng thông Internet được nâng cao, các công nghệ thiết kế Web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo để hình thành các hệ thống dạy học trực tuyến (DHTT) Ngày nay thông qua DHTT giảng viên có thể hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học, nâng cao chất lượng giảng dạy Ngày qua ngày, công nghệ DHTT đã chứng tỏ có khả năng mang lại hiệu quả cao trong giáo dục đào tạo, cho phép đa dạng hoá các môi trường học tập (trao đổi thông tin, giảng dạy, học tập, kiểm tra đánh giá) Tất cả những điều đó tạo
ra một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo với giá thành rẻ, chất lượng cao
và hiệu quả Đó chính là làn sóng thứ 2 của E-learning, và hiện nay chúng ta đang ở trong giai đoạn của làn sóng này
1.1.2 Ở Việt Nam
”Giáo dục từ xa” ở bậc đại học được biết đến từ những năm đầu thập kỷ
60 của thế kỷ trước, đó là những khoá học hàm thụ theo hình thức gửi thư của Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 1 Với hệ đào tạo này, đã bước đầu hình thành ở Việt Nam các thuật ngữ về phương pháp tự học, vừa học vừa thực hành, học tập suốt đời trong giáo dục, đào tạo Tuy nhiên về sau do khó khăn
về kinh tế, về chiến tranh, hình thức học hàm thụ, học bằng cách gửi thư không được tiếp tục phát triển
Có thể nói tới trước thời kỳ đổi mới, thuật ngữ giáo dục từ xa còn được biết đến một cách rất hạn chế, chủ yếu do Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 1 thực hiện và cũng chỉ được thực hiện duy nhất ở bậc đại học Việc nghiên cứu
về giáo dục từ xa không được thực hiện một cách liên tục và toàn diện, do đó nhận thức về giáo dục từ xa nói chung còn chưa rõ nét, cũng như việc nhìn nhận kết quả giáo dục từ xa còn chưa được xã hội coi trọng
“Đào tạo từ xa” được biết đến như là một hình thức giáo dục- đào tạo mới
xuất hiện trong công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta,
mà bắt đầu từ việc thành lập 2 trường Đại học Mở Hà Nội (3/11/1993) và Đại
Trang 9Học Mở – Bán công TP Hồ Chí Minh (26/7/1993) Hai Trung tâm này được coi là hạt nhân của hệ thống đào tạo từ xa của Việt Nam Cho tới nay hai trường đại học này có quy mô đào tại khoảng 30-40.000 sinh viên/năm Sau 2 Trường đại học trên, hiện có trên 12 trường Đại học đã được Bộ GD&ĐT cho
phép tổ chức đào tạo đại học từ xa có cấp văn bằng [24]
Ngoài các Trường đại học, từ năm 1993, Đài tiếng nói Việt Nam (VOV)
và Đài Truyền hình Việt Nam (VTV2) đã thực hiện hàng trăm chương trình hướng dẫn học tập bao gồm cả cấp và không cấp văn bằng, chứng chỉ trên sóng VOV và VTV Các chương trình này đã phục vụ hàng triệu người khắp toàn quốc hiện đang có nhu cầu bồi duỡng, cập nhật kiến thức những môn học và những vấn đề mà họ quan tâm Năm 2003, Bộ GD&ĐT cùng phối hợp với VTV2 có đề án nghiên cứu việc thiết lập một kênh truyền hình riêng cho giáo
dục [21]
Nhiều công ty cũng đã bắt đầu nghiên cứu và tiến hành thử nghiệm kinh doanh hoạt động ĐTTX; DHTT, như sản xuất các băng hình, băng Audio, CD-ROM, Năm 2002 được ghi nhận là năm đầu tiên hoạt động thương mại DHTT dưới tư cách là một hình thức đào tạo độc lập trong lĩnh vực đào tạo trên mạng INTERNET trở thành hiện thực với việc ra đời Webiste: truongthi.com.vn
Tới năm 2009, đa số các cơ sở đào tạo đã xây dựng Website và cung cấp dịch vụ ĐTTX, DHTT thông qua hội nghị truyền hình (Video Conferencing), qua mạng Internet để đào tạo cấp chứng chỉ, cấp văn bằng tốt nghiệp hoặc hỗ trợ đào tạo truyền thống Trong lĩnh vực DHTT, có hàng trăm công ty, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo triển khai cung cấp dịch vụ dạy học trực tuyến, điển hình
có nhiều người biết đến như: www.truongtructuyen.com, www.elearningvn.org, el.edu.net.vn, www.hocmai.vn, www.dayhoctructuyen,
Trong lĩnh vực nghiên cứu liên quan tới ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và quản lý giáo dục, có thể kể đến một số đề tài gần đây như: năm 2005, học viên Nguyễn Thị Thu Thủy đã bảo vệ thành công luận văn thạc
sỹ QLGD với đề tài: “Đổi mới quản lý học viên hệ đào tạo từ xa bằng ứng
dụng công nghệ thông tin – truyền thông tại Khoa Công nghệ Tin học, Viện Đại học Mở Hà nội”
Năm 2007, học viên Nguyễn Đăng Châu đã bảo vệ thành công luận văn
thạc sỹ QLGD với đề tài: “Một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng
trang Web học tập trong môi trường dạy học đa phương tiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội”
Trang 10Năm 2008, học viên Lê Khắc Quyền đã bảo vệ thành công luận văn thạc
sỹ QLGD với đề tài: “Biện pháp quản lý công tác đánh giá kết quả học tập của
học viện trong đào tạo trực tuyến ở Trường đại học sư phạm Hà Nội”
Có thể nói ĐTTX, DHTT qua mạng thông tin (Internet), truyền thông đã dần không phải là điều còn mới lạ trong hệ thống giáo dục Việt Nam Tuy nhiên, DHTT là hình thức đào tạo mới đƣợc đƣa vào và phát triển tại các cơ sở giáo dục trong vài năm trở lại đây Đặc biệt, công tác quản lý hoạt động ĐTTX nói chung; DHTT nói riêng còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng trong các cơ sở giáo dục Cho đến nay chƣa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý nâng cao chất lƣợng DHTT
1.2 Một số khái niệm cơ bản
Có thể tiếp cận khái niệm quản lý, theo những cách sau:
Theo quan niệm truyền thống: “Quản lý là quá trình tác động có ý thức
của chủ thể vào một bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác
định” [18]
Theo tác giả Mai Quang Huy: “Thuật ngữ quản lý gồm hai quá trình tích
hợp nhau: Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái
ổn định; quá trình “lý” là sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế phát triển" [9]
“Quản lý phải làm cho hệ thống ở trạng thái cân bằng động, vận động
phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài Như vậy, quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong tổ chức, làm cho tổ chức đó vận động và đạt được mục tiêu của tổ chức”
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [12]
Trang 11Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Quản lý là quá trình tác động của chủ
thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua các công cụ, phương tiện để đạt được mục tiêu quản lý”
Theo F.Taylor “ Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người
khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất“ [5]
Theo Harold Koonzt “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo
phối hợp những nổ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất “ [37]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Đó là tác động có
định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành
và đạt được mục đích của tổ chức [2]
Nói cách khác hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra Người quản lý (Manager) là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích Cũng theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch hóa (Planning), Tổ chức (Organizing), Chỉ đạo - Lãnh đạo (Leading) và Kiểm tra (Controlling)
Kế hoạch hóa (Planning): Đó là xác định mục tiêu, mục đích cho những
hoạt động trong tương lai của tổ chức và xác định các biện pháp, cách thức để đạt được mục đích đó
Tổ chức (Organizing): Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần
phải chuyển hóa những ý tưởng ấy thành những hoạt động hiện thực.Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Người quản lý phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức
Lãnh đạo (Chỉ đạo) - (Leading) : Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu
bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Đó là quá trình liên kết, liên hệ với người khác,
Trang 12hướng dẫn và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt động quản lý
Kiểm tra (Controlling): Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành
quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết
Ở mỗi cấp quản lý khác nhau, sự phân phối về thời gian và công sức cho các chức năng quản trị của các cấp được thể hiện trong bảng sau:
Stt Cấp quản lý Kế hoạch Tổ chức Điều khiển Kiểm tra Ghi chú
Bảng 1.1 Phân phối thời gian và công sức cho các
chức năng quản trị của các cấp [8]
Tóm lại: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có lựa chọn các
tác động phù hợp với đối tượng và môi trường nhằm hướng đối tượng trong thế vừa ổn định, vừa phát triển theo mục tiêu đề ra Quản lý được thực hiện thông qua các hoạt động: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm QLGD là khái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó, đặc biệt
là quản lý trường học)
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch,
hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế
hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [12]
Trang 13Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động
dạy học Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [6]
QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm QLGD chứa đựng những nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô là quản
lý của nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, Phòng Giáo dục, ở tầm
vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà trường, quản lý của trưởng Khoa, trưởng
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn
bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau và sinh thành ra nhau, sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác (cộng đồng và hợp tác), trong đó hoạt động dạy đóng vai trò chủ đạo” [13]
Theo quan điểm của lý luận dạy học hiện đại, nói quá trình dạy học tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các thành tố cơ bản: mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện dạy học, kết quả dạy học, hoạt động của giáo viên, của học sinh sinh viên Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau trong môi trường xã hội-chính trị và môi trường khoa học, kỹ thuật nhất định
Trong quá trình dạy học: Người thầy luôn giữ vai trò trong việc định hướng tổ chức, điều khiển và thực hiện các hoạt động truyền thụ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đến người học một cách khoa học Người học sẽ có ý thức tiếp
Trang 14thu một cách tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo hệ thống kiến thức, kỹ năng kỹ xảo, nhằm hình thành năng lực và nhân cách cho bản thân
Qua đó có thể hiểu QTDH là một hệ toàn vẹn, nó bao gồm hoạt động dạy
và hoạt động học
Cấu trúc của QTDH được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Hình 1.2: Cấu trúc chức năng của QTDH [12]
Dạy và học là quá trình tương tác, cộng tác giữa thầy và trò Chủ thể hoạt động dạy là thầy giáo, chủ thể hoạt động học là học sinh
Quá trình vận động tích cực, chủ động, sáng tạo của những chủ thể này làm phát triển và hoàn thiện năng lực không chỉ của học sinh và còn cả ở thầy giáo
Quá trình cộng tác hành động của thầy giáo và học sinh càng nhịp nhàng,
ăn ý, càng làm tăng kết quả của quá trình dạy học, càng làm trưởng thành nhanh mỗi cá nhân trong quá trình đó
Quá trình dạy học là một quá trình xã hội gắn liền với hoạt động của con người, hoạt động này phải nhằm mục đích nhất định, trên cơ sở hình thành những nhiệm vụ nhất định: Thầy và Trò, những phương tiện và phương pháp hoạt động nhất định và phải đạt được kết quả mong muốn
KHÁI NIỆM KHOA HỌC
Tác
Trang 15Quản lý quá trình dạy học
Quản lý QTDH là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý bằng các giải pháp phát huy tác dụng của các phương tiện quản lý như chế định giáo dục đào tạo, bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học, thông tin và môi trường dạy học nhằm đạt được mục tiêu quản lý dạy học Quản lý QTDH là phải quản lý đồng
bộ và thống nhất các mặt hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu dạy học
Mục tiêu quản lý trường học là quản lý chất lượng sản phẩm giáo dục Muốn có sản phẩm giáo dục đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội thì trước hết nhà trường phải tổ chức, điều khiển và kiểm soát tốt quá trình tổ chức hoạt động dạy và học, vì hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường nhằm hình thành và phát triển nhân cách của học sinh - sản phẩm giáo dục của nhà trường
Hoạt động dạy học là hoạt động đặc trưng cho bất kỳ loại hình hoạt động của nhà trường nào, vì vậy nó là con đường giáo dục tiêu biểu nhất Với nội dung và tính chất của nó dạy học là con đường tốt nhất giúp cho người học với
tư cách là chủ thể nhận thức có thể lĩnh hội mọi hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo chuyển thành phẩm chất và năng lực của bản thân “Các tổ chức xã hội cần
đảm bảo cho mọi người học nhận thức sự nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe, sự hỗ trợ chung cho thể chất và tình cảm mà người học cần có để tham gia một cách tích cực vào quá trình giáo dục và tận hưởng được lợi ích của giáo dục”[10]
Quản lý QTDH là quản lý quá trình truyền thụ kiến thức của đội ngũ giáo viên và quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh và quản lý các điều kiện vật chất, kỹ thuật, phương tiện phục vụ hoạt động dạy học Quản
lý QTDH là quản lý việc thực hiện chương trình, nội dung dạy học, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá quá trình lĩnh hội kiến thức của học sinh
1.2.4 Chất lượng, chất lượng dạy học
Chất lượng
Chất lượng là “Tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự
việc), làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [35]
Chất lượng là “Cái làm nên phẩm chất; là cái tạo nên bản chất của sự
vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” [35]
Trang 16Theo tác giả Nguyễn Gia Quí “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá
trị của một người, một sự vật, sự việc Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của một sự vật, phân biệt nó với sự vật khác ” [14]
Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng trong đời sống xã hội, nhất là trong
giáo dục Chất lượng có hàng loạt định nghĩa khác nhau Ví dụ: Chất lượng là
sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó là cái tốt nhất; Chất lượng là sự phù hợp với tiêu chuẩn; Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường đại học…
Chất lượng giáo dục
Chất lượng là một khái niệm trừu tượng và khó định nghĩa, thậm chí khó nắm bắt Trong một nghiên cứu khá nổi tiếng của Harvey và Green (1993) [38] nhằm tổng kết những quan niệm chung của các nhà giáo dục, chất lượng được định nghĩa như tập hợp các thuộc tính khác nhau như: chất lượng là sự xuất sắc; chất lượng là sự hoàn hảo; chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu,
Chất lượng giáo dục là chất lượng thực hiện các mục tiêu giáo dục Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng
về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể
Các nhà giáo dục Việt Nam cũng đưa ra một số định nghĩa khác nhau, nhưng các định nghĩa này thường trùng với các định nghĩa của nước ngoài Tác giả Nguyễn Đức Chính [3, 4], có đưa ra định nghĩa về chất lượng của giáo dục
Việt Nam như sau: “Chất lượng giáo dục được đánh giá qua mức độ trùng
khớp với mục tiêu định sẵn” Định nghĩa này tương đồng với quan niệm về chất
lượng của hầu hết các nhà giáo dục khác và các tổ chức đảm bảo chất lượng trên thế giới
Chất lượng dạy học
“Chất lượng dạy học chính là chất lượng của người học hay tri thức phổ
thông mà người học lĩnh hội được Vốn học vấn phổ thông, toàn diện và vững chắc ở mỗi người là chất lượng đích thực của dạy học” [15]
Chất lượng dạy học là chất lượng của việc dạy và việc học Sự phát huy tối đa nội lực dạy của thầy và năng lực học của học sinh, để sau khi ra trường thì học sinh có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng được yêu cầu của xã hội, của thực tế cuộc sống Chất lượng dạy bao gồm các công việc của người thầy đó là:
Trang 17chuẩn bị giáo án, thực hiện giáo án, đánh giá kết quả và điều chỉnh phương pháp dạy Chất lượng học là kết quả học tập của học sinh trong nhà trường: chuẩn bị bài ở nhà, tiếp thu kiến thức ở trên lớp, tự đánh giá kết quả và tự điều chỉnh phương pháp học Chất lượng dạy học ở trường đào tạo (THCN, CĐ, ĐH) được đánh giá chủ yếu về hai mặt là kiến thức người học lĩnh hội được và
kỹ năng nghề nghiệp người học đạt được Chất lượng dạy học liên quan chặt chẽ đến yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sản phẩm của dạy học được xem là có chất lượng cao nếu nó đáp ứng tốt nhất mục tiêu giáo dục mà yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra đối với giáo dục đào tạo Chất lượng dạy học là một bộ phận quan trọng hợp thành của chất lượng giáo dục và được quan tâm như là kết quả giảng dạy và học tập
1.3 Ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục
1.3.1 Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục
Chúng ta bước vào thế kỷ 21 với sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ cao: công nghệ sinh học (công nghệ gen, tế bào, vi sinh…), công nghệ vật liệu (công nghệ vật liệu Composit, vật liệu siêu dẫn…), công nghệ năng lượng (năng lượng mặt trời, năng lượng nguyên tử… ) và công nghệ thông tin [1]
Trong các công nghệ trên thì công nghệ thông tin (CNTT) có tốc độ phát triển nhanh nhất và giữ vai trò là công cụ phổ biến để làm việc, để thu thập, lưu trữ, truyền và xử lý thông tin; để nghiên cứu triển khai các thành tựu của các công nghệ khác vào sản xuất và đời sống Tới nay, sự hội tụ của CNTT và các công nghệ truyền thông (TT) đã hình thành lên thuật ngữ CNTT&TT
Những thành tựu mới của khoa học công nghệ nửa cuối thế kỷ 20 đang làm thay đổi hình thức và nội dung các hoạt động kinh tế, văn hoá và xã hội của loài người Một số quốc gia phát triển đã bắt đầu chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh thông tin Các quốc gia đang phát triển tích cực áp dụng những tiến bộ mới của khoa học công nghệ, đặc biệt là CNTT&TT để phát triển và hội nhập CNTT&TT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại
CNTT&TT đã trở thành một yếu tố then chốt làm thay đổi các hoạt động kinh tế và xã hội của con người, trong đó có giáo dục Nhờ có việc ứng dụng
1
Công nghệ thông tin (CNTT): là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số (theo điều 4, Luật CNTT của nước CHXHCN Việt Nam năm 2006)
Trang 18công nghệ thông tin, đa phương tiện và học tập điện tử (E-Learning) đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học ở nhiều nước trên thế giới Ứng dụng và phát triển CNTT&TT trong giáo dục và đào tạo sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình cập nhật kịp thời và thường xuyên các tiến bộ khoa học và công nghệ trong nội dung chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh để nâng cao chất lượng dạy học
Vai trò của CNTT&TT đối với giáo dục và đào tạo là rất to lớn Ngày nay, do những ưu việt của nó, CNTT&TT được sử dụng rộng rãi đến mức khó
có thể thiếu được trong việc thu thập, xử lý, trao đổi, lưu trữ, tra cứu và sử dụng thông tin quản lý Với những ưu việt của việc ứng dụng CNTT&TT trong quản lý, ngày nay đã có một ngành khoa học được gọi là MIS (Management Information System), được nghiên cứu về khoa học thu thập, phân tích và xử lý
hệ thống thông tin quản lý cho các ngành kinh tế-xã hội, trong đó có giáo dục Ngày nay, xã hội đã, đang và sẽ phải đối diện với cái gọi là “văn hoá Internet, văn hóa mạng, văn hóa Blog”, điều đó cho thấy nếu giáo dục và đào tạo không bắt kịp với sự những ứng dụng của CNTT&TT sẽ khó có thể đáp ứng được yêu cầu của xã hội về vai trò giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội Hạ tầng CNTT&TT phải đi trước và đủ mạnh đáp ứng việc ứng dụng và phát triển CNTT&TT trong giáo dục và đào tạo
1.3.2 Ứng dụng CNTT&TT trong dạy học
Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, các thiết bị dạy học ngày càng đa dạng như:
- Phim đèn chiếu
- Bản trong dùng cho máy chiếu qua đầu
- Băng, đĩa ghi âm
- Mô hình dạy học điện tử
- Thư viện điện tử, thư viện ảo
…
Trang 19Các loại hình thiết bị dạy học trên đều có đặc điểm chung và khác biệt là muốn khai thác lượng thông tin chứa đựng trong từng thiết bị phải có thêm các máy móc chuyên dùng tương ứng Tất cả các hệ thống đó người ta quen gọi là
hệ thống dạy học đa phương tiện
So với các thiết bị dạy học truyền thống thì các hệ thống dạy học đa phương tiện có một số đặc điểm khác [17], đó là:
1 Mỗi hệ thống dạy học đa phương tiện bao gồm 2 khối: Khối mang thông tin và Khối chuyển tải thông tin tương ứng
Khối mang thông tin Khối chuyển tải thông tin tương ứng
Phim Slide, phim chiếu bóng > Máy chiếu Slide, máy chiếu phim
Bản trong > Máy chiếu qua đầu
Băng, đĩa ghi âm > Radio Cassette, Đầu đĩa CD, Máy tính Băng, đĩa ghi hình > Video, Đầu đĩa hình, Máy tính, Máy
đa năng, Màn chiếu
Phần mềm dạy học > Máy tính, Máy chiếu đa năng,
Màn chiếu, Bảng kỹ thuật số
Giáo án điện tử/Giáo án
kỹ thuật số, Bài giảng điện tử,
Trang Web học tập > Máy tính, Máy chiếu đa
năng, Màn chiếu, Bảng kỹ thuật số
2 Phải có điện lưới quốc gia
3 Đắt gấp nhiều lần các thiết bị dạy học truyền thống
4 Phải có trình độ sử dụng và bảo quản tốt
5 Phải có phòng ốc chuyên biệt để lắp đặt, sử dụng và bảo quản
Cơ sở của việc cải tiến phương pháp dạy học là sự lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp cho từng bài học Sau đó là việc nghiên cứu áp dụng những phương pháp và phương tiện thích hợp để dạy và học
Sử dụng hệ thống đa phương tiện trong dạy học mang lại cho chúng ta nguồn thông tin phong phú và sinh động, bài giảng trở nên trực quan hơn, giảm bớt tính trừu tượng, bài giảng sống động hơn, thu hút sự tập trung, niềm say mê hứng thú của người học, làm cho người học dễ hiểu và nhớ lâu
Trang 20Việc sử dụng hệ thống đa phương tiện vào dạy học góp phần chống dạy chay và học chay trong điều kiện cơ sở vật chất, và thiết bị phòng thí nghiệm, phòng thực hành còn thiếu thốn và lạc hậu như hiện nay
Ngày nay, ứng dụng CNTT&TT trong môi trường dạy học đa phương tiện
đã trở thành một yếu tố quan trọng, là một công cụ hữu hiệu để góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học Nó làm tăng tính tích cực, chủ động của người học trong quá trình lĩnh hội tri thức mới
1.3.3 Ứng dụng CNTT&TT trong Dạy học trực tuyến
Nền giáo dục đại học đang gặp phải thách thức đó là phải đáp ứng được
sự đa dạng hóa của nhu cầu học tập và sự tăng nhanh về số lượng học viên Các nhà giáo dục đang tìm kiếm một mô hình dạy học bao gồm việc sử dụng công nghệ và các phương thức dạy học khác để hỗ trợ mô hình giáo dục truyền thống Các mô hình ĐTTX đã lần lượt ra đời sau đó đã đáp ứng được nhu cầu đào tạo ĐTTX chỉ thực sự có chất lượng khi áp dụng tối đa những thành tựu của CNTT&TT và khi đó mô hình DHTT dần được hình thành và phát triển,
mà cốt lõi là kho tư liệu số hóa, và các bài giảng điện tử [11]
Một mô hình DHTT dựa trên nền tảng của công nghệ Web được ứng dụng phổ biến trong kỷ nguyên trước đã góp phần tác động quan trọng đến quá trình dạy và học trong môi trường đào tạo qua mạng Internet [39]
Ngày nay, cùng với sự phát triển và ứng dụng của CNTT&TT vào giáo dục và đào tạo, học tập điện tử (E-Learning) đã trở nên quen thuộc và thuận tiện với nhiều đối tượng người học Tuy vậy, E-Learning không thể thay thế hoàn toàn phương thức học tập truyền thống Chúng ta phải biết kết hợp cả hai phương thức học tập: E-Learning và giáo dục truyền thống để có thể đem lại hiệu quả cao nhất
1.4 Đào tạo từ xa
1.4.1 Công nghệ giáo dục, công nghệ dạy học
Khái niệm công nghệ giáo dục theo nghĩa hẹp [1], thường đồng nhất với việc sử dụng trong giáo dục các phát minh, các sản phẩm công nghệ hiện đại và các phương tiện kỹ thuật dạy học
Khái niệm công nghệ giáo dục theo nghĩa rộng, thường được hiểu là khoa học về giáo dục và có phạm vi rất rộng Ví dụ, theo tổ chức UNESCO, tại hội
thảo ở Giơnevơ từ 10-16/5/1970 đã đưa ra định nghĩa như sau: ”Công nghệ
Trang 21giáo dục là khoa học về giáo dục, nó xác lập xác nguyên tắc hợp lý của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình đào tạo cũng như xác lập các phương pháp và phương tiện có kết quả nhất để đạt mục đích đào tạo đề ra, đồng thời tiết kiệm được sức lực của thầy và trò”
Một ví dụ khác, theo Janskieviz (Balan, 1971): “ Công nghệ dạy học là hệ
thống các chỉ dẫn sử dụng các phương pháp, phương tiện hoạt động, mà kết quả là phải đào tạo được những người tốt nghiệp theo mong muốn trong thời gian ngắn nhất có thể được, với sự chi phí phương tiện một cách tối ưu” [1]
Theo nhiều học giả trên thế giới thì “Giáo dục từ xa là một quá trình giáo
dục - đào tạo mà trong đó phần lớn hoặc toàn bộ quá trình giáo dục - đào tạo
có sự tách biệt giữa người dạy và người học về mặt không gian hoặc/và thời gian” [20]
Nhìn chung, để giáo dục từ xa thực sự có hiệu quả đòi hỏi người học phải
ở một mức độ tự nhận thức nhất định Chính vì vậy, thuật ngữ đào tạo từ xa thường được sử dụng hơn khi nói về các hoạt động giáo dục, đào tạo liên quan
Đào tạo từ xa (ĐTTX)
Không có một định nghĩa chính xác về ĐTTX Tuy nhiên một cách tổng
quát, ĐTTX là hoạt động dạy học diễn ra một cách gián tiếp theo phương pháp
dạy học từ xa ĐTTX được hiểu bao hàm các yếu tố dưới đây:
1 Giảng viên và học viên ở một khoảng cách xa (tức là có sự ngăn
cách về mặt không gian: khoảng cách này là tương đối, có thể là cùng trường học nhưng khác phòng học hoặc khác nhau về vị trí địa lý, có thể vài kilomet hoặc hàng ngàn kilomet)
2 Nội dung dạy học trong quá trình dạy học được truyền thụ, phân phối tới cho học viên chủ yếu thông qua các hình thức thể hiện
gián tiếp như văn bản in, âm thanh, hình ảnh hoặc số liệu máy tính
Trang 223 Sự liên hệ, tương tác giữa giảng viên và học viên (nếu có) trong
quá trình dạy học có thể được thực hiện tức thời hoặc trễ sau một
khoảng thời gian nào đó (có sự ngăn cách về mặt thời gian)
Tuỳ theo phương thức phân phối các nội dung dạy học và sự liên hệ, tương tác giữa giảng viên và học viên mà có các hình thức tổ chức, thực hiện ĐTTX khác nhau Về cơ bản người ta phân loại đào tạo từ xa dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa giảng viên và học viên trong quá trình dạy học, đó là Đào tạo
từ xa không tương tác [40] và Đào tạo từ xa tương tác (nay được gọi một cách phổ dụng là đào tạo từ xa trực tuyến)
1.4.3 Đào tạo từ xa không tương tác
ĐTTX không tương tác (Non-Interactive/Asynchronous), có nghĩa là không có sự tương tác theo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và học viên trong quá trình dạy học Trong ĐTTX không tương tác, có các phương thức được sử dụng điển hình như:
- Tài liệu, bài giảng in (Print): Đây là công nghệ cổ điển, truyền thống
nhất, dễ thực hiện nhất và đặc biệt là rẻ tiền nhất Loại hình tài liệu, bài giảng
in sẽ tồn tại lâu dài dù cho trong tương lai có các công nghệ ĐTTX tiên tiến nào khác sẽ được sử dụng
- Băng/đĩa hình, băng/đĩa tiếng (Audio/Video Tape, Disk): Đây cũng là
một công nghệ ĐTTX được sử dụng phổ biến trong những thập niên trước, trong tương lai công nghệ này sẽ không phát triển nhiều, hoặc nếu có chỉ được
sử dụng là một hình thức bổ trợ cho các công nghệ khác
- Các chương trình máy tính, các công cụ mô phỏng (đĩa mềm, CD-ROM,
Multimedia ): Công nghệ này dựa vào các ứng dụng mô phỏng của kỹ thuật máy tính để triển khai các bài giảng hoặc các tài liệu huấn luyện
- Phương tiện phát thanh, truyền hình quảng bá (Broadcasting): Công
nghệ này sử dụng các đài phát thanh, truyền hình để thực hiện ĐTTX Ưu điểm của công nghệ này là cùng lúc có thể giảng dạy cho số lượng rất lớn học viên Khả năng tiếp cận của người học cũng rất phong phú, tiện lợi
- Mạng Intranet, Internet (Web, Mail, E-learning ): Đây được coi là
công nghệ đào tạo từ xa của thế kỷ 21 Sự kết hợp của công nghệ này với các công nghệ đào tạo tương tác dưới đây sẽ hình thành nên các hệ thống học tập điện tử (E-learning) đang được nói phổ biến hiện nay
Trang 231.4.4 Đào tạo từ xa tương tác, đào tạo từ xa trực tuyến
ĐTTX tương tác (Interactive/Synchronous) có nghĩa là có sự tương tác theo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và học viên trong quá trình dạy học Trong đào tạo từ xa trực tuyến (ĐTTT), có một số phương thức tổ chức đào tạo sử dụng các công nghệ điển hình như ở dưới đây:
- Radio hai chiều; điện thoại hội nghị : Công nghệ này được dùng nhiều
cho các chương trình giáo dục phổ cập hơn là đào tạo cho người trưởng thành
Nó cũng được dùng nhiều như là hình thức bổ trợ cho các công nghệ đào tạo khác, ưu điểm nổi bật là giá thành rẻ
- Cầu truyền hình: Sử dụng các bộ mã hóa và giải mã truyền hình (Tivi
Codec) hoạt động ở tốc độ cao (hàng Mbit/s), như các cầu truyền hình mà chúng ta vấn thường xem trong các dịp lễ tết trong những năm qua, giá thành của công nghệ này là đắt, thường chỉ sử dụng cho nghiên cứu, cho các hoạt động truyền hình cần có chất lượng âm thanh và hình ảnh rất cao
- Hội nghị truyền hình (Video Conferencing): Sử dụng kết hợp công nghệ
máy tính, viễn thông và truyền hình Vấn đề trọng tâm của hội nghị truyền hình
là các bộ mã hoá âm thanh và hình ảnh với hệ số nén rất cao Giá thành của công nghệ này phụ thuộc vào yêu cầu chất lượng hình ảnh, âm thanh Nhưng nhìn chung là phù hợp với các doanh nghiệp, hoặc cá nhân có khả năng tài chính nhất định
- Mạng Intranet, Internet (Chat, Webcam, ): ĐTTX tương tác sử dụng
mạng Intranet, Internet thường phù hợp với hình thức tổ chức đào tạo cho cá nhân hoặc nhóm nhỏ Công nghệ này rất rẻ và đang phổ biến trong lĩnh vực ĐTTX hiện nay
Trên cơ sở các phương thức ĐTTX vừa nêu, có thể diễn giải một cách
tổng quát về ĐTTT như sau: “ Đào tạo trực tuyến là một phương thức giáo
dục - đào tạo dựa trên cơ sở của kỹ thuật nghe nhìn, CNTT&TT; quá trình tương tác giữa giảng viên và người học được thực hiện theo thời gian thực thông qua các phương tiện CNTT&TT”
1.4.5 Học tập điện tử (E-learning)
Khái niệm E-Learning hiện nay đang được sử dụng rộng rãi Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về E-Learning Theo Website từ điển bách
khoa toàn thư mở: “Học tập trực tuyến (Hay còn gọi là E-Learning) là phương
thức học ảo thông qua một máy vi tính nối mạng đối với một máy chủ ở nơi
Trang 24khác có lưu giữ sẵn giáo trình và phần mềm cần thiết để có thể hỏi/yêu cầu/ra
đề cho học viên học trực tuyến từ xa Hoặc giáo viên có thể truyền tải hình ảnh
và âm thanh qua đường truyền cáp quang; băng thông rộng (ADSL) hoặc kết nối không dây (WiFi, WiMAX), mạng nội bộ (LAN) v.v…Mở rộng ra, các cá nhân hay các tổ chức đều có thể tự lập ra một trường học trực tuyến (E- School), mà nơi đó vẫn nhận đào tạo học viên, đóng học phí và có các bài kiểm tra như các trường học khác” [41]
Dưới đây sẽ trích ra một số định nghĩa về E-Learning tiêu biểu [42]:
- Theo William Horton, E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập
- Theo Compare Infobase Inc, E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông
- Theo MASIE Center, E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục
- Theo Sun Microsystems Inc, E-Learning là việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử, việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, Tivi, Video Tape, các hệ thống giảng dạy thông minh và việc đào tạo dựa trên máy tính
- Theo http://www.e-learningsite.com, E-Learning là việc truyền tải các hoạt động, quá trình, sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, Intranet, Extranet, CD-ROM, Video Tape, DVD, Tivi và các thiết bị cá nhân
- Theo định nghĩa của Lance Dublin, hướng tới E-Learning trong doanh nghiệp, "E-Learning chính là việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các
dữ liệu có giá trị, thông tin, học tập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển khả năng cá nhân”
Hình vẽ dưới đây mô tả kiến trúc của một hệ thống E-Learning:
Trang 25Hình 1.4: Kiến trúc hệ thống E-Learning
Từ kiến trúc hệ thống E-Learning cho chúng ta thấy:
- Học tập sẽ dựa trên mạng Internet là chủ yếu, thông qua World Wide Web (WWW)
- Hệ thống E-Learning sẽ được tích hợp vào Portal của trường học hoặc doanh nghiệp Như vậy hệ thống E-Learning sẽ phải tương tác tốt với các hệ thống khác trong trường học như hệ thống quản lý sinh viên, hệ thống quản lý giáo viên, lịch giảng dạy…
- Một thành phần rất quan trọng của hệ thống chính là hệ thống quản lý học tập (LMS: Learning Management System), gồm nhiều Module khác nhau, giúp cho quá trình học tập trên mạng được thuận tiện và dễ dàng phát huy hết các điểm mạnh của mạng Internet như:
+ Diễn đàn để trao đổi ý kiến giữa các thành viên của một lớp hoặc giáo viên đưa câu hỏi lên diễn đàn và yêu cầu các học viên trả lời + Module khảo sát lấy ý kiến của mọi người về một vấn đề nào đó
+ Module kiểm tra và đánh giá
+ Module Chat trực tuyến: giáo viên giảng giải một vấn đề gì đó cho các học viên thông qua Chat
Forum Survey Quiz
Kết nối điện tử Các công cụ
Trang 26+ Module Video và Audio trực truyến: giáo viên giảng giải một vấn
đề gì đó cho các học viên dựa trên các phần mềm hỗ trợ chuyển tải hình ảnh và âm thanh
+ Module Flash: lưu trữ các bài giảng, đoạn phim dưới dạng hình ảnh động theo diễn tiến của quá trình dạy học
+ Video Conferencing: giáo viên giảng giải một vấn đề gì đó cho các học viên dựa trên các phần mềm hỗ trợ truyền hình hội nghị Ngày nay, khi bàn tới E-learning, người ta thường lưu ý tới một số khái niệm và thuật ngữ thường được sử dụng như sau:
Hệ thống quản lý học tập (LMS: Learning Management System): Là
một phân hệ thuộc hệ thống học tập điện tử (E-Learning) có chức năng quản lý học liệu và người học khi sử dụng mạng máy tính để giảng dạy và học tập
Hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS: Learning Content
Management System): Là hệ thống dùng để tạo, lưu trữ, tổng hợp và phân phối nội dung E-Learning dưới dạng các đối tượng học tập
Hệ thống hội nghị truyền hình tương tác: Là hình thức trao đổi trực
tuyến 2 chiều hoặc đa chiều bằng hình ảnh (Video) và âm thanh (Voice) thông qua mạng tin học-viễn thông (như Webcam, Video Conferencing)
Lớp (phòng) học ảo (Virtual Classroom): Là môi trường mô phỏng lớp
học mặt-giáp-mặt nhờ ứng dụng tiến bộ của kỹ thuật CNTT&TT Nơi cung cấp tài nguyên mạng, giúp ta có nhiều lựa chọn và phương pháp trao đổi thông tin
Học liệu in: là học liệu được thể hiện dưới dạng ấn phẩm in trên giấy
hoặc trên một số vật liệu in chuyên dụng khác
Học liệu điện tử: là học liệu được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử
(Data), sử dụng trên cơ sở ứng dụng CNTT&TT trên thiết bị máy tính hoặc các thiết bị di động cần tay
Sách điện tử (E-Book): Là các định dạng điện tử có thể đọc trên màn
hình máy tính (có thể là các định dạng doc, html, pdf, ) của học liệu in
Trang trình chiếu: Là nội dung trình chiếu ở các định dạng điện tử, để
phục vụ quá trình trình diễn, giảng dạy, diễn giảng của giáo viên Trang trình chiếu có thể được xây dựng trên cơ sở công cụ trình bày PowerPoint trong bộ phần mềm văn phòng của Microsoft hoặc các công cụ biên soạn trình chiếu cao cấp khác như Acrobat, Macromedia Authorware, Flash,
Trang 27Bài giảng điện tử:
Là tổ hợp tổ hợp các trang trình chiếu và lời giảng của giáo viên, được thực hiện theo một trật tự nhất định (giáo án, hay kịch bản màn hình: nó mô tả các nội dung, cách thức, thời gian xuất hiện của nội dung diễn giảng trên một trang màn hình trình chiếu), thể hiện được mối quan hệ sư phạm giữa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học, đặc biệt là và một số nội dung kiến thức, kỹ năng quan trọng cần hình thành cho học sinh trong quá trình dạy học lại quá trìu tượng đối với người học mà các loại hình thiết bị dạy học truyền thống (tranh ảnh giáo khoa, bản đồ, biểu đồ, mô hình, mẫu vật, thí nghiệm thật ) không thể hiện được thì sẽ được số hoá (ứng dụng CNTT&TT) và trở thành các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình mô phỏng hay các đoạn Video Clip để trình chiếu trong một thời gian rất ngắn, đảm bảo phù hợp với nhu cầu nhận thức của học sinh, giúp cho học sinh tự mình lĩnh hội các kiến thức và kỹ năng mới thông qua các phương tiện CNTT&TT [7]
Theo ý kiến nhiều nhà nghiên cứu, cần lưu ý rằng E-learning luôn được
hiểu gắn với quá trình Học hơn là với quá trình dạy học Lý do thật đơn giản đó
là theo thời gian người ta đã thay đổi từng bước cách nhìn trong mối quan hệ
giữa Dạy và Học: Lấy người Thầy làm trung tâm (Dạy) → Tạo sự bình đẳng
giữa Thày và Trò (Dạy - Học) → Lấy học Trò làm trung tâm (Học)
Tóm lại E-learning có thể hiểu một cách tổng quát nhất là Quá trình học tập của học sinh được hỗ trợ bởi các phương tiện CNTT &TT
1.5 Quản lý nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến
1.5.1 Dạy học trực tuyến (DHTT)
Như trên đã trình bày, dạy học có thể hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt động dạy học, là quá trình tương tác, cộng tác giữa thầy và trò trong quá trình lên lớp, và ở một nghĩa rộng hơn là quá trình dạy học là toàn bộ một hệ thống gồm các thành tố cơ bản: mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện dạy học, kết quả dạy học, hoạt động của thầy giáo, của người học
Dạy học trực tuyến hiểu theo nghĩa hẹp là một hình thức tổ chức các buổi
giảng dạy qua các phương tiện CNTT&TT, mà ở đó có sự tương tác theo thời gian thực giữa thầy và trò Ví dụ như :
- Các buổi giảng dạy qua âm thanh 2 chiều (Radio, điện thoại)
- Các buổi giảng dạy qua hội nghị truyền hình, qua webcam
Trang 28- Các buổi giảng dạy qua hệ thống Online Chatting hoặc kết hợp giữa Online Chatting với Webcam trên mạng Internet công cộng
- Các buổi giảng dạy qua hệ thống phần mềm lớp học ảo chuyên dụng (Virtual Classroom)
Dạy học trực tuyến hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ quá trình dạy học
được tổ chức thực hiện kết hợp một phần hoặc toàn bộ qua hệ thống các phương tiện CNTT&TT, mà ở đó sự trao đổi, tương tác giữa cơ sở đào tạo và người học có thể theo thời gian thực (Realtime, Online) hoặc không theo thời gian thực (Offline) Như vậy, theo nghĩa này, DHTT là quá trình cơ sở đào tạo
tổ chức thực hiện các hoạt động dưới đây trong môi trường điện tử, thông qua các phương tiện truyền thông điện tử, mạng Internet:
- Quá trình tạo lập nội dung dạy học, quản lý đào tạo được thể hiện dưới dạng truyền thông điện tử, đa phương tiện, qua mạng Internet Ví dụ: Lịch học, lịch thi được tạo lập trên một hệ phần mềm quản lý, một đoạn bài giảng về quy trình lập dự án đầu tư viết bằng phần mềm trình diễn Flash, một File tài liệu hướng dẫn sử dụng máy photocopy được tạo lập bằng phần mềm Adobe pdf, một bài giảng dựa trên công nghệ Web viết bằng phần mềm công cụ Toolbook, Html,
- Quá trình phân phối (dạy học theo nghĩa hẹp) nội dung dạy học, quản lý đào tạo được thực hiện qua các phương tiện truyền thông điện tử, qua mạng Internet, Việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Ví dụ: lịch học, lịch thi thông báo trên Webiste, được chuyển cho học viên qua điện thoại di động, một số buổi giảng được thực hiện qua mạng Internet, tài liệu được gửi cho học viên bằng E-mail, học viên học trên Website, học qua đĩa CD-ROM Multimedia,…
- Quá trình quản lý: quá trình quản lý học tập, đào tạo được thực hiện nhờ phương tiện truyền thông điện tử, qua mạng Internet Ví dụ như việc đăng ký học qua mạng, đăng ký học phần bằng bản tin nhắn SMS, việc theo dõi tiến độ học tập (điểm danh), hoạt động kiểm tra đánh giá có thể được thực hiện qua mạng Internet,
- Quá trình trao đổi, thảo luận, giải đáp thắc mắc: sự hợp tác, trao đổi của
cơ sở giáo dục, của giảng viên và người học trong quá trình học tập cũng được thông qua phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc trao đổi thảo luận thông qua E-mail, Chatting, Forum trên mạng,…
Trang 29Như vậy, ở đây có thể có sự khác biệt khá lớn khi phân biệt khái niệm DHTT, hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình tương tác giữa thày và trò trong quá trình dạy học thông qua các phương tiện CNTT&TT và ở nghĩa rộng hơn là một phần hay toàn bộ quá trình tổ chức dạy học, đào tạo của nhà trường được thực hiện thông qua các phương tiện CNTT&TT
1.5.2 Chất lượng dạy học trực tuyến
Như ở phần trên đã trình bày, chất lượng dạy học là chất lượng của việc dạy và việc học DHTT là quá trình tổ chức việc dạy và việc học thông qua một phần hay toàn bộ các phương tiện CNTT&TT
Như vậy, từ các quan niệm về chất lượng dạy học và DHTT nêu trên, có thể thấy chất lượng DHTT về bản chất không có gì khác biệt nhiều so với chất lượng dạy học, vì mục đích của việc dạy học là không thay đổi theo các môi trường hoặc phương tiện dạy học
Hiểu theo nghĩa hẹp của hoạt động DHTT, chất lượng DHTT bao hàm: chất lượng tổ chức các buổi giảng trực tuyến; chất lượng kỹ thuật của các buổi giảng trực tuyến (âm thanh, hình ảnh, đảm bảo chất lượng kỹ thuật); sự chuẩn
bị và thực hiện bài giảng của giáo viên đạt kết quả; sự tham dự tích cực và tiếp thu kiến thức, kỹ năng của học viên trong buổi giảng đáp ứng được yêu cầu của bài giảng, môn học
Một cách tổng quát hơn, chất lượng DHTT là chất lượng của các quá trình: tạo lập, phân phối, quản lý và trao đổi nội dung dạy học, quản lý học tập của nhà trường thông qua một phần hoặc toàn bộ các ứng dụng CNTT&TT, phù hợp với mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng CNTT&TT vào mọi mặt hoạt động của nhà trường với chi phí về phương tiện CNTT&TT một cách tối ưu
1.5.3 Nội dung quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến
Ở nước ta, quản lý công tác DHTT của nhà trường là một nội dung quản
lý còn khá mới mẻ trong quản lý nhà trường nói chung và ở các cơ sở có triển khai DHTT nói riêng Nhiều cơ sở đào tạo, doanh nghiệp mặc dù đã triển khai DHTT nhưng thực chất là ứng dụng CNTT&TT để hỗ trợ hình thức ĐTTX hoặc các hình thức đào tạo khác trong một phần của quá trình đào tạo Hơn nữa, hiện chưa có một quy chế, quy định hay hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước về DHTT để tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho các cơ sở đào tạo trong nước thực hiện về DHTT
Trang 30Theo tác giả, trước hết quản lý DHTT cũng như các hoạt động quản lý khác trong nhà trường bao gồm các nội dung: Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo;
và Kiểm tra, giám sát Như vậy, để tổ chức DHTT thành công trong nhà trường, nhà quản lý (hiệu trưởng nhà trường) phải phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, tổ chức, chỉ dẫn và giám sát sự vận hành của hệ thống để hoạt động DHTT có hiệu quả và đạt được mục tiêu đề ra
Do trong thực tế, quản lý DHTT còn mới mẻ, nên sự khác biệt của các nội dung của quản lý nhằm nâng cao chất lượng DHTT và quản lý DHTT có thể chưa được phân định rõ Tuy nhiên, tác giả cho rằng các nội dung về quản lý nhằm nâng cao chất lượng DHTT bao gồm một số nội dung chính sau:
về đào tạo từ xa qua mạng [20], nhưng đến nay, quy định này cũng chưa được ban hành Do vậy xét về mặt chính sách ở cấp vĩ mô, các hoạt động DHTT vẫn chỉ mang tính tự phát và chưa được thừa nhận, điều chỉnh bởi các chính sách ở cấp độ của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục
Ở cấp vi mô, cấp nhà trường: các chính sách về DHTT bao gồm một loạt các quy định có liên quan về: cung cấp thông tin đào tạo trên mạng, biên soạn bài giảng, học liệu điện tử, tổ chức giảng dạy, trao đổi, giải đáp trên mạng, kiểm tra đánh giá và chi phí cho việc DHTT qua mạng Có thể chính sách ở cấp
vĩ mô chưa được ban hành, song theo yêu cầu phát triển của DHTT hiện nay trong các nhà trường, thì theo tác giả việc ban hành các cơ chế, chính sách ở cấp nhà trường là hết sức cần thiết
Một ví dụ cho việc cần thiết phải xây dựng chính sách ở cấp nhà trường là: một giảng viên lên lớp 1 tiết học để hướng dẫn sinh viên ôn tập sẽ được tính giờ chuẩn, trả thù lao rất rành mạch với đầy đủ các quy định để quản lý, tham chiếu, Nhưng một giảng viên dành 1 giờ sử dụng máy tính, mạng Internet để
Trang 31trả lời, hướng dẫn sinh viên học tập qua E-mail, qua diễn đàn, qua Chatting thì không biết căn cứ vào quy định nào để quản lý công việc và thanh toán chi phí
1.5.3.2 Kế hoạch hóa công tác DHTT
Xác định mục tiêu, mục đích của DHTT: việc xác định mục tiêu, mục đích
để tổ chức công tác DHTT có ý nghĩa quyết định cho vì nó chỉ đạo hành động, cung cấp cho nhà trường những điều để nhà trường hướng nỗ lực vào đó, và nó có thể được sử dụng như một tiêu chuẩn đánh giá để đo lường mức độ thành công của việc DHTT
Có 2 cấp độ mà mục tiêu của DHTT cần hướng tới: ở cấp độ tổng thể: mục tiêu của DHTT là việc ứng dụng CNTT&TT trong quá trình giáo dục nhằm mở rộng phạm vi, quy mô đào tạo và nâng cao hiệu quả của các phương thức, cơ sở giáo dục truyền thống; ở cấp độ cụ thể, mục tiêu cụ thể là việc đẩy mạnh một cách hợp lý việc triển khai ứng dụng CNTT&TT trong đổi mới phương pháp dạy và học [23]
Xác định quy trình, nội dung triển khai DHTT: quy trình, nội dung triển
khai cần được xây dựng phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực tế của nhà trường trong việc triển khai DHTT
Xác định và đảm bảo các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu DHTT: các
nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu DHTT bao gồm đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, kỹ thuật viên, cơ sở vật chất kỹ thuật của mạng CNTT&TT, nguồn kinh phí, các cơ chế chính sách liên quan tới DHTT trong nhà trường
1.5.3.3 Tổ chức, chỉ đạo triển khai công tác DHTT
Sau khi lập kế hoạch công tác DHTT của nhà trường, các kế hoạch này cần phải được triển khai, chỉ đạo để thực hiện Tổ chức là quá trình hình thành các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một nhà trường nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu đã đề ra Người quản lý phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn nhân lực của nhà trường Trong quá trình tổ chức, chỉ đạo triển khai công tác DHTT, người quản lý cần quan tâm đến các nội dung sau:
- Đầu tư nâng cấp cho hạ tầng DHTT: Hệ thống phần cứng, hệ thống
phần mềm Việc đầu tư xây dựng cho hạ tầng DHTT cũng có nhiều phương án lựa chọn để phù hợp với các pha của quá trình triển khai DHTT
Trang 32- Xây dựng các chính sách quản lý DHTT trong nhà trường: quy định
quản lý và cung cấp thông tin trên mạng Internet, các chế độ quản lý, thanh toán chi phí trong DHTT,
- Bồi dưỡng nguồn nhân lực cho DHTT: đội ngũ giảng viên, cán bộ quản
lý, các kỹ thuật viên và đội ngũ cộng tác viên
- Xây dựng công cụ đánh giá chất lượng DHTT: các tiêu chí đánh giá,
biên soạn học liệu điện tử, quản lý giảng dạy và học tập trực tuyến
- Thiết lập mạng lưới giữa cơ sở đào tạo và các trung tâm vệ tinh (cơ sở
liên kết đào tạo) đối với các hình thức DHTT qua mạng hội nghị truyền hình
- Phổ biến và hướng dẫn học sinh, sinh viên sử dụng hệ thống học tập trực
tuyến để học tập, tiếp nhận và trao đổi thông tin và thực hiện các hoạt động nghiên cứu, tự nghiên cứu trên cơ sở ứng dụng CNTT&TT
1.5.3.4 Kiểm tra đánh giá công tác DHTT
Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả DHTT và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Đó cũng chính là quá trình tự điều chỉnh diễn ra theo chu kỳ:
- Đặt ra các chuẩn mực thành công của DHTT
- Đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành công so với chuẩn mực
- Tiến hành điều chỉnh những sai lệch
- Hiệu chỉnh sửa chữa lại những chuẩn mực nếu cần
Cần quản lý, giám sát công tác DHTT, các biện pháp quản lý DHTT có vai trò then chốt trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng DHTT Thông qua việc thực hiện các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động DHTT, từ đó đề ra các mục tiêu, tiêu chí, xây dựng quy trình DHTT làm chuẩn cho hoạt động này Các biện pháp quản lý công tác DHTT được coi là kim chỉ nam, là xương sống của hoạt động DHTT Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý thích hợp với các điều kiện cụ thể của nhà trường và theo từng giai đoạn sẽ nâng cao được chất lượng công tác DHTT của nhà trường
Tiểu kết chương 1
Qua tổng quan về vấn đề nghiên cứu, một số khái niệm: quản lý, quản lý giáo dục, chất lượng dạy học, ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục, dạy học trực tuyến,… và tình hình nghiên cứu, triển khai đào tạo từ xa, dạy học trực
Trang 33tuyến ở trong và ngoài nước, về quản lý nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến, từ đó tác giả đã rút ra một số kết luận như sau:
1 Dạy học trực tuyến đã trở thành một xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức và đã tạo ra một cuộc cách mạng về dạy học nhờ việc ứng dụng các phương tiện CNTT&TT DHTT thay đổi cách tiếp cận và lĩnh hội tri thức so với mô hình học tập truyền thống, hỗ trợ và bổ sung mô hình học tập truyền thống trong việc đáp ứng nhu cầu học tập ngày một to lớn và đa đạng trong thế
kỷ 21
2 Dạy học trực tuyến hiểu theo nghĩa hẹp là một hình thức tổ chức các buổi giảng dạy qua các phương tiện CNTT&TT, mà ở đó có sự tương tác theo thời gian thực giữa thầy và trò Dạy học trực tuyến hiểu theo nghĩa rộng là toàn
bộ quá trình dạy học được tổ chức thực hiện kết hợp một phần hoặc toàn bộ qua hệ thống các phương tiện CNTT&TT, mà ở đó sự trao đổi, tương tác giữa
cơ sở đào tạo và người học, giữa thầy giáo và học trò có thể theo thời gian thực hoặc không theo thời gian thực thông qua các phương tiện CNTT&TT
Để triển khai tốt việc ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục, cần hiểu DHTT theo nghĩa rộng
3 Việc triển khai công tác dạy học trực tuyến có thể được thực hiện với nhiều hình thức và mức độ khác nhau: phát triển học liệu, cung cấp thông tin đào tạo, tổ chức giảng dạy, kiểm tra đánh giá, thông qua các ứng dụng CNTT&TT
4 Nội dung công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến bao gồm: xây dựng chính sách, lập kế hoạch, tổ chức triển khai và kiểm tra đánh giá kết quả công tác dạy học trực tuyến
5 Để phát huy tối đa những ưu điểm, lợi thế của dạy học trực tuyến trong thời đại bùng nổ ứng dụng CNTT&TT và hội nhập giáo dục quốc tế hiện nay thì các biện pháp quản lý việc dạy học trực tuyến trong nhà trường có vai trò hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định
Trang 34CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN TẠI HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
2.1 Đặc điểm về dạy học trực tuyến tại Học viện Công nghệ BCVT
2.1.1 Sơ lược về Học viện Công nghệ BCVT
2.1.1.1 Thông tin chung về Học viện Công nghệ BCVT
Học viện Công nghệ BCVT được thành lập theo quyết định số TTg, ngày 11/7/1997 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sắp xếp lại 4 đơn vị trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam, đó là: Viện Khoa học Kỹ thuật Bưu điện, Viện Kinh tế Bưu điện, Trung tâm Đào tạo Bưu chính Viễn thông I, II nhằm triển khai mô hình 3 gắn kết : Nghiên cứu khoa học (NCKH) - Đào tạo - Sản xuất kinh doanh (SXKD)
516/QĐ-Các thông tin chung về Học viện Công nghệ BCVT [26, 27] như sau:
- Tên trường: Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Tên viết tắt: Học viện Công nghệ BCVT (hoặc Học viện)
- Tên tiếng Anh: PTIT (Post & Telecommunications Institute of Technology)
- Cơ quan chủ quản: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)
- Địa chỉ: 122, Ðường Hoàng Quốc Việt, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
- Loại hình trường: Công lập
- Năm thành lập: 1997 (thực tế, Học viện có lịch sử phát triển từ Trường đại học Bưu điện – Vô tuyến điện từ năm 1953)
- Thời gian bắt đầu đào tạo khóa I: năm 1998
- Thời gian cấp bằng tốt nghiệp cho khoá I: 2002
- Website: http://www.ptit.edu.vn; www.ptithcm.edu.vn
Trang 352.1.1.2 Mô hình tổ chức, ngành nghề, quy mô đào tạo (năm học 2009-2010)
Là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc doanh nghiệp, do vậy tổ chức của Học viện được chi phối bởi các quy định của Nhà nước đối với các tổ chức đào tạo công lập và tổ chức của đơn vị sự nghiệp có thu nằm trong doanh nghiệp Nhà nước Cơ cấu tổ chức hiện nay của Học viện bao gồm:
- Khối Quản lý (Cơ quan Học viện): gồm Ban Giám đốc Học viện và Bộ
máy giúp việc (phòng, ban chức năng ) vừa làm chức năng điều hành quản lý toàn bộ mọi mặt hoạt động của Học viện theo yêu cầu bộ máy quản lý của một đơn vị sự nghiệp có thu nằm trong doanh nghiệp Nhà nước, vừa tổ chức điều hành các hoạt động đào tạo theo yêu cầu bộ máy quản lý của một trường Đại học
- Khối Giáo dục và Đào tạo gồm 02 cơ sở đào tạo dài hạn tại Hà Nội (Cơ
sở đào tạo Hà Đông) và Cơ sở HV tại tp Hồ Chí Minh; 02 Trung tâm đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn là Trung tâm Đào tạo BCVT I ( tại Hà nội ) và Trung tâm Đào tạo BCVT II ( tại Thành phố Hồ Chí Minh ), trong đó:
Cơ sở đào tạo Hà đông: 06 khoa đào tạo với 18 bộ môn, 03 Trung tâm cung ứng dịch vụ đào tạo phi chính quy là Trung tâm đào tạo tại chức và Trung tâm đào tạo từ xa, Trung tâm Đào tạo quốc tế, 02 Trung tâm và 01 Trạm y tế cung ứng các dịch vụ phục vụ, hỗ trợ là Trung tâm Cơ sở vật chất & Dịch vụ
và Trung tâm Internet Plaza Hai Trung tâm đào tạo phi chính quy, Trung tâm
Cơ sở vật chất & Dịch vụ và Khoa Quốc tế và Đào tạo sau đại học là các đơn vị hạch toán riêng
Cơ sở Học viện tại TP Hồ Chí Minh : có 05 khoa đào tạo với 16 bộ môn,
08 phòng, tổ trực thuộc giúp việc, là cơ sở đào tạo của Học viện, có con dấu riêng, có tài khoản riêng, có Phó Giám đốc Học viện phụ trách Cơ sở với nhiệm vụ tổ chức quản lý và đào tạo các hệ dài hạn thuộc các chuyên ngành ĐTVT, CNTT, QTKD với chỉ tiêu kế hoạch do Giám đốc Học viện giao
Hai cơ sở đào tạo dài hạn của Học viện tại Hà đông và thành phố Hồ Chí Minh là hai đơn vị thực hiện cung ứng dịch vụ giáo dục đại học tại Học viện Trung tâm đào tạo BCVT I và Trung tâm đào tạo BCVT II là hai đơn vị
sự nghiệp có thu (có con dấu, tài khoản, kế hoạch hoạt động), thực hiện nhiệm
vụ cung ứng dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn
- Khối Khoa học và Công nghệ: gồm 03 đơn vị nghiên cứu trực thuộc là
Viện Khoa học kỹ thuật Bưu điện, Viện Kinh tế Bưu điện và Trung tâm Công nghệ thông tin; là các đơn vị sự nghiệp có thu (có con dấu, tài khoản, kế hoạch
Trang 36hoạt động riêng) thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học theo đặt hàng của VNPT; tham gia giảng dạy và thực hiện các hợp đồng chuyển giao khoa học công nghệ trên mạng lưới Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin
Mô hình tổ chức của Học viện cho ở hình 2.1 dưới đây
CÁC TỔ CHỨC
CTXH & ĐOÀN THỂ
HỘI ĐỒNG K.HỌC & Đ.TẠO CÁC HỘI ĐỒNG
6 Khoa Viễn thông I
7 Khoa Kỹ thuật Điện tử I
2 Trung tâm Công nghệ Thông tin
3 Trung tâm Thông tin thư viện
2 Phòng
Tổ chức Cán bộ
10 Khoa Cơ bản II
11 Khoa Viễn thông II
12 Khoa Kỹ thuật Điện tử II
13 Khoa QTKD BCVT II
14 Khoa CNTT II
1 Tổ Văn phòng
3 Phòng Quản lý Đào tạo &TTTL
15 Trung tâm ĐT BCVT II
5 Phòng Kế hoạch - Đầu tư
6 Phòng Kế toán Thống kê -TC
-8 Tổ quản lý NCKH&HTQT
4 Phòng CT HS SV
7 Phòng Hành chính Quản trị
4 Trung tâm Cơ sở vật chất và dịch vụ
BAN GIÁM ĐỐC
14 Trung tâm ĐT BCVT I
Hình 2.1 Sơ đồ mô hình tổ chức của Học viện Công nghệ BCVT
13 Trung tâm ĐT Quốc tế
Trang 37Tổng số cán bộ giảng viên, cán bộ nghiên cứu và cán bộ, nhân viên của Học viện (năm 2008) là: 1.078 người, trong đó giảng viên cơ hữu có 433 giảng viên, tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học là 67,6%
Là một cơ sở đào tạo - nghiên cứu ở bậc đại học, về năng lực đào tạo Học viện có 4 cấp đào tạo (Tiến sỹ, Thạc sỹ, Đại học, Cao Đẳng), 3 hình thức đào tạo (chính quy, tại chức và từ xa), với tổng số 23.746 học viên, sinh viên (9/2009) Học viện đang đào tạo 5 chuyên ngành: Kỹ thuật Điện- Điện tử, Điện tử-viễn thông, Công nghệ thông tin, Quản trị kinh doanh và Kế toán Tất cả các chuyên ngành giảng dạy đều có giáo trình, hệ thống tài liệu giảng dạy, nghiên cứu và học tập cho giảng viên và học viên, sinh viên [26, 27]
2.1.1.3 Mục tiêu phát triển của Học viện (giai đoạn 2010-2015)
- Lĩnh vực đào tạo: Học viện phấn đấu trở thành một trong những trường
đại học có uy tín của quốc gia về đào tạo Viễn thông và CNTT và một số chuyên ngành khác với nhiều cấp bậc đào tạo khác nhau như: đào tạo đại học
và sau đại học, đào tạo cao đẳng theo chương trình chuẩn quốc gia và quốc tế Đồng thời, các hình thức đào tạo của Học viện cũng luôn được đa dạng hóa và đổi mới phù hợp với nhiều đối tượng học viên, sinh viên như đào tạo tập trung, phi tập trung, đào tạo liên thông, đào tạo từ xa,… Bên cạnh đó, Học viện phấn đấu trở thành một Trung tâm đào tạo bồi dưỡng thường xuyên, nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ ở nhiều cấp độ cho người lao động đang hoạt động trong lĩnh vực CNTT&TT
- Lĩnh vực nghiên cứu: Học viện thực hiện đi tắt đón đầu trong việc
nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hiện đại, đưa công nghệ cao vào lĩnh vực CNTT&TT Học viện là một trong số ít đơn vị Việt nam đi đầu nghiên cứu, chế tạo ra được các sản phẩm về CNTT&TT Học viện đã tổ chức nghiên cứu về chiến lược, quy hoạch phát triển, mạng và dịch vụ BCVT và CNTT, cung cấp các dịch vụ tư vấn về công nghệ, giải pháp và phát triển dịch vụ, thực hiện đo kiểm, tư vấn thẩm định các công trình, dự án BCVT và CNTT cũng như tổ chức nghiên cứu các vấn đề về kinh tế và quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực BCVT
- Gắn kết Đào tạo- Nghiên cứu- Sản xuất kinh doanh: Thực hiện thí điểm
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đào tạo và nghiên cứu Tạo ra một mô hình mới trong việc huy động nguồn lực (cả kinh tế và môi trường thực tiễn…) từ các doanh nghiệp mạnh của Nhà nước cho nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo đáp ứng nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và của xã hội trong điều kiện ngân sách Nhà nước dành cho nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo còn hạn
Trang 38hẹp cũng như khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu, đào tạo của các đơn vị nghiên cứu, đào tạo công lập vào thực tiễn chưa cao
2.1.2 Cơ sở pháp lý cho việc triển khai DHTT tại Học viện
Luật Giáo dục sửa đổi (được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam Khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005), theo điều 5,
khoản 2, "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên" Theo điều
45, khoản 2: ”Các hình thức thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên để
lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: a) Vừa làm vừa học; b) Học từ xa; c) Tự học có hướng dẫn”; và khoản 4 có ghi “Phương pháp giáo dục thường xuyên phải phát huy vai trò chủ động, khai thác kinh nghiệm của
người học, coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, sử dụng phương tiện
hiện đại và CNTT để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học”
Luật Công nghệ thông tin ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển công nghệ thông tin
và truyền thông đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về đổi mới
cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020: " Triển
khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học; phát huy tính chủ động của người học; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học Khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở và nguồn
tư liệu trên mạng Internet”
Quyết định số 164/2005/QĐ-TTg ngày 04 tháng 7 năm 2005 về việc Phê duyệt Đề án “Phát triển GDTX giai đoạn 2005 – 2010”, với 1 trong 3 mục tiêu
của đề án là “Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập thông qua việc áp
dụng các phương tiện thông tin và truyền thông” và 1 trong các nhiệm vụ là
“phát triển phương thức giáo dục từ xa ở các trường đại học, cao đẳng Phấn
đấu đến năm 2010 có ít nhất 20% sinh viên học tập theo phương thức giáo dục
từ xa”
Chỉ thị 58/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin
trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012, trong đó có nội dung: “đẩy mạnh
một cách hợp lý việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy và học ở từng cấp học”, nhằm triển khai áp dụng CNTT&TT
trong dạy và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng
Trang 39CNTT&TT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học; xây dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục; phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet của người học; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; xoá bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý đem lại
Quy chế về tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra, cấp chứng chỉ văn bằng tốt nghiệp theo hình thức giáo dục từ xa do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo Quyết định số 40/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 08/08/2003
Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy (ban hành kèm theo Quyết định số 25/2006/QĐ-BGDĐT ngày 26 tháng 6 năm 2006 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hình thức vừa làm vừa học (ban hành kèm quyết định số 36/2007/QĐ-BGDĐT)
Cùng với sự phát triển của mạng Internet, cơ sở hạ tầng CNTT&TT và cơ
sở pháp lý về quản lý nội dung trên mạng Internet ngày càng hoàn thiện với sự
ra đời của các văn bản như:
- Nghị định 98/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về Về quản
lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet
- Thông tư số 05/2008 ngày 12/11/2008 của Bộ Thông tin – Truyền thông
về việc hướng dẫn một số điều của Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet đối với dịch vụ Internet
Như vậy, việc triển khai các hoạt động đào tạo từ xa, dạy học trực tuyến tại Học viện đều được thực hiện và tuân thủ các quy định hiện hành nhằm tạo
ra một quá trình ứng dụng CNTT&TT một cách toàn diện trong hoạt động đào tạo theo các quy chế đào tạo tương ứng và yêu cầu ngày càng cao về ứng dụng CNTT&TT trong mọi hoạt động của nhà trường
2.1.3 Quá trình phát triển hoạt động DHTT tại Học viện
Tới nay, một giải pháp tổng thể về DHTT đã được Học viện triển khai trong nhiều năm qua đó là sử dụng DHTT bằng phương pháp kết hợp các hình
Trang 40thức, công nghệ ĐTTX khác nhau, hay gọi là DHTT kết hợp Quá trình hình thành và phát triển DHTT tại Học viện đã trải qua một giai đoạn khá dài
2.1.3.1 ĐTTX qua băng hình dạy học
Bắt đầu từ năm 1995, Tổng Cục Bưu điện (tiền thân của Bộ Thông tin –
Truyền thông hiện nay) đã đưa ra Đề cương dự án thí điểm ĐTTX trong ngành
Bưu điện [34] Để cụ thể hoá dự án thí điểm này, cũng trong năm 1995, Học
viện Công nghệ Bưu chính viễn thông (trước đây là Trung tâm đào tạo Bưu chính viễn thông 1) đã xây dựng dự án ĐTTX của mình Phương thức ĐTTX
mà Học viện lựa chọn và đã được sử dụng cho ĐTTX là: Gửi tài liệu bài giảng, băng hình dạy học tới cho học viên kết hợp với việc truyền các chương trình
giảng dạy trực tiếp qua mạng viễn thông để tổ chức các khoá đào tạo
Kết quả sau 5 năm (1995-1999), Đào tạo từ xa bằng băng hình và tài liệu kết hợp với giải đáp thắc mắc qua các phương tiện viễn thông (chủ yếu là điện thoại đấu qua tăng âm, một số nơi sử dụng điện thoại thấy hình (Videophone), Học viện đã thu được một số kết quả cụ thể:
- Xây dựng được 10 chương trình ĐTTX bằng băng hình và tài liệu
- Mở được trên 30 lớp với gần 1.000 học viên theo học
Sau năm 1999, với việc mở ra nhiều loại hình ĐTTX khác có hiệu quả hơn, Học viện đã chủ trương không phát triển loại hình ĐTTX này
2.1.3.2 ĐTTX qua cầu truyền hình
Bắt đầu từ cầu truyền hình Hà Nội - Nam Định, ngày 29/10/1995 với nội dung về vấn đề " Đào tạo từ xa" Học viện Công nghệ BCVT đã bắt đầu từng bước triển khai, thí điểm các hoạt động ĐTTX tương tác qua cầu truyền hình Phương thức ĐTTX này cho phép cập nhật và cung cấp các chương trình đào tạo một cách nhanh nhất kèm theo hình thức hỏi đáp và trao đổi trực tuyến ngay trong các giờ học Vấn đề khó khăn là giá thành và chi phí cho thiết bị và đường truyền, không phải bất kỳ đâu, bất kỳ nơi nào và bất kỳ ai cũng có thể tham gia vào các khoá đào tạo Cho tới nay phương thức ĐTTX qua cầu truyền hình cũng không được tiếp tục phát triển
2.1.3.3 ĐTTX qua máy tính
Học viện bắt đầu được nghiên cứu triển khai từ năm 1996-1997, từ các chương trình đào tạo nhờ máy tính sử dụng bộ phần mềm Toolbook 1.0, một số