ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM HỒNG MAI BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỦY SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM HỒNG MAI
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC MÔN TIẾNG ANH
TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỦY SƠN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG VĂN CÚC
HÀ NỘI – 2011
Trang 2DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 3DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.2: Kết quả khảo sát thực trạng các hoạt động giảng dạy của
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát thực trạng về phương pháp học tập của HS 48 Bảng 2.7 : Khảo sát ý kiến của HS về hoạt động tự học môn Tiếng
Bảng 2.8: Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy- học môn
Bảng 2.9: Khảo sát nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng
Bảng 2.10 :Thực trạng QL thực hiện chương trình giảng dạy của GV 55
Bảng 2.11 :Thực trạng quản lý công tác chuẩn bị bài lên lớp của GV 57 Bảng 2.12:Thực trạng quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học
Bảng 2.13: Thực trạng quản lý nề nếp lên lớp của GV và vận dụng
Bảng 2.14: Thực trạng quản lý hoạt động tự bồi dưỡng nâng cao
Bảng 2.15: Thực trạng QL hoạt động học môn Tiếng Anh trên lớp
Bảng 2.16: Thực trạng quản lý hoạt động tự học môn Tiếng Anh 67 Bảng 2.17: Thực trạng quản lý các hoạt động ngoại khóa hỗ trợ
Bảng 2.18: Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy- học môn
Bảng 3.1 Mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phạm vi đề tài nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cúu 6
1.2.1 Quản lý, biên pháp quản lý 6
1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 11
1.2.3 Hoạt động dạy - học và quản lý hoạt động dạy - học ở trường THPT 16
1.3 Hoạt động dạy - học Tiếng Anh và quản lý hoạt động dạy - học Tiếng Anh trong nhà trường THPT 20
1.3.1 Hoạt động dạy - học Tiếng Anh trong nhà trường THPT 20
1.3.2 Quản lý hoạt động dạy - học Tiếng Anh trong nhà trường THPT 24
1.4 Đặc trưng của hoạt động dạy - học ngoại ngữ, dạy - học Tiếng Anh 26
1.5 Vị trí, vai trò của môn Tiếng Anh trong nhà trường THPT 30
1.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy-học môn Tiếng Anh trong nhà trường THPT 32
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY- HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THUỶ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 36
2.1 Khái quát về tình hình chung ở khu vực trường THPT Thuỷ Sơn thành phố Hải Phòng 36
Trang 52.2.Vài nét về trường THPT Thuỷ Sơn - Thành phố Hải Phòng 37
2.2.1.Lịch sử nhà trường 37
2.2.2.Cơ cấu tổ chức của nhà trường 38
2.2.3 Chất lượng giáo dục toàn diện 39
2.2.4 Đặc điểm học sinh 40
2.3.Thực trạng về hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh ở trường THPT Thuỷ Sơn- Thành phố Hải Phòng 41
2.3.1.Thực trạng hoạt động giảng dạy môn Tiếng Anh của giáo viên 41
2.3.2.Thực trạng hoạt động học tập môn Tiếng Anh của học sinh 47
2.3.3.Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy- học môn Tiếng Anh 50
2.4 Thực trạng về quản lý hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh ở trường THPT Thuỷ Sơn- Thành phố Hải Phòng 53
2.4.1.Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy môn Tiếng Anh của giáo viên 53
2.4.2.Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn Tiếng Anh của học sinh 64
2.4.3.Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy- học môn Tiếng Anh 71
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy – học môn Tiếng Anh ở trường THPT Thủy Sơn thành phố Hải Phòng 72
Tiểu kết chương 2 74
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY- HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THUỶ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 76
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý 76
3.1.1 Nguyên tắc tính hệ thống 76
3.1.2 Nguyên tắc tính thực tiễn 76
3.1.3 Nguyên tắc tính hiệu quả 76
3.1.4 Nguyên tắc tính đồng bộ 77
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Tiếng Anh ở trường THPT Thủy Sơn, thành phố Hải Phòng 77
3.2.1 Nhóm biện pháp giáo dục nâng cao nhận thức của GV, HS và cha mẹ HS về tầm quan trọng của Tiếng Anh 78
Trang 63.2.2.Nhóm biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy môn Tiếng
Anh của GV 82
3.2.3 Nhóm biện pháp đổi mới quản lý hoạt động học môn Tiếng Anh của HS 90
3.2.4.Nhóm biện pháp nâng cao năng lực cho GV Tiếng Anh 94
3.2.5 Nhóm biện pháp tăng cường kiểm tra đánh giá hoạt động dạy và học môn Tiếng Anh 98
3.2.6 Nhóm biện pháp đầu tư và quản lý sử dụng có hiệu quả CSVC, thiết bị phương tiện trong D- H Tiếng Anh 102
3.3 Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp quản lý 105
3.4.Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý 106
Tiểu kết chương 3 108
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
1 Kết luận 109
2 Khuyến nghị 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới, đánh dấu một bước phát triển mới trên con đường hội nhập quốc tế theo xu hướng toàn cầu hoá.Việt Nam đang đứng trước thách thức to lớn có tính chất sống còn trong lịch sử là phải tìm ra con đường sáng tạo để có thể hội nhập vào khu vực và thế giới , xây dựng và phát triển đất nước trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin.Trong bối cảnh đó yếu tố con người - nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế Tiếng Anh đã có một vai trò, vị trí mới về chất Nó thực sự trở thành công cụ giao tiếp cần thiết, phương tiện thông tin nhạy bén và phong phú Tiếng Anh được nâng lên như vai trò của một năng lực phẩm chất cần thiết về nhân cách của con người Việt Nam hiện đại Ngoại ngữ nói chung và Tiếng Anh nói riêng có vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục đào tạo
và trong sự phát triển của đất nước
Từ nhu cầu phát triển nhân lực của xã hội theo xu thế hội nhập, nâng cao chất lượng dạy học nói chung và dạy học môn Tiếng Anh nói riêng là nhiệm vụ cơ bản và thường xuyên của các nhà trường vì đây chính là điều kiện để nhà trường tồn tại và phát triển Xã hội đặt hàng cho ngành giáo dục nguồn nhân lực có khả năng sử dụng được Tiếng Anh thành thạo trong công việc cũng như tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới Môn Tiếng Anh ở trường phổ thông cung cấp cho học sinh một công cụ giao tiếp mới để tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hoá
đa dạng và phong phú trên thế giới, dễ dàng hội nhập với cộng đồng quốc tế Môn Tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường phổ thông Chính vì vậy quản lý tốt hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh có ý nghĩa rất quan trọng đối việc nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường
Trang 8Hiện nay vấn đề chất lượng dạy- học môn Tiếng Anh ở các trường THPT nói chung và trường THPT Thuỷ Sơn, thành phố Hải Phòng nói riêng tuy đã được quan tâm nhưng chưa thực sự đáp ứng được mục tiêu của ngành
đề ra Trong kì thi tốt nghiệp THPT 3 năm gần tỉ lệ học sinh đạt trên trung bình môn Tiếng Anh của trường THPT Thuỷ Sơn thấp nhất so với các môn khác Biểu hiện của học sinh yếu kém về môn Tiếng Anh phổ biến nhất là vốn
từ nghèo nàn, không nắm vững ngữ pháp, phát âm không chuẩn, kĩ năng tạo lập văn bản chưa đạt yêu cầu và yếu nhất là kĩ năng nghe Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này: Việc quản lý các hoạt động dạy-học môn Tiếng Anh còn mang nặng tính hình thức và chưa đồng bộ về các giải pháp; việc đầu tư và khai thác trang thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy còn hạn chế; tầm quan trọng của môn Tiếng Anh trong tương quan với các môn học khác chưa được nhà trường quan tâm đúng mức
Xuất pháp từ những lý do trên đây tôi đã lựa chọn đề tài: “Các biện pháp quản lý hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh tại trường THPT Thuỷ Sơn, thành phố Hải Phòng” với mong muốn sẽ góp phần làm sáng tỏ về
phương diện lý luận trong khoa học quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường THPT nói chung và hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh nói riêng Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các nhà quản lý giáo dục hoàn thiện những giải pháp thiết thực trong quản lý hoạt động dạy- học Tiếng Anh ở bậc học phổ thông; từng bước nâng cao chất lượng môn Tiếng Anh đáp ứng được mục tiêu giáo dục, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và quá trình hội nhập quốc tế
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Tiếng Anh tại trường THPT Thuỷ Sơn, thành phố Hải Phòng
Trang 93 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy - học môn Tiếng Anh tại trường
THPT Thuỷ Sơn thành phố Hải Phòng
Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy- học môn
Tiếng Anh tại trường THPT Thuỷ Sơn thành phố Hải Phòng
4.Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy - học, quản lý hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh trong nhà trường THPT
4.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng việc quản lí hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh tại trường THPT Thuỷ Sơn thành phố Hải Phòng
4.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Tiếng Anh tại trường THPT Thuỷ Sơn thành phố Hải Phòng
5 Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh ở trường THPT Thuỷ Sơn – Thành phố Hải Phòng còn có những hạn chế Nếu thực hiện các biện pháp quản lý một cách khoa học, đồng bộ dựa trên những luận cứ lý thuyết và thực tế xác đáng thì chất lượng dạy - học môn Tiếng Anh sẽ từng bước được nâng cao, đáp ứng được mục tiêu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Tiếng Anh tại trường THPT Thuỷ Sơn thành phố Hải Phòng trong 5 năm trở lại đây
7 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lí luận
+ Phương pháp hệ thống hoá lí thuyết
Trang 107.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
+ Phương pháp phỏng vấn
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lí giáo dục
+ Phương pháp hỏi ý kiến các chuyên gia
7.3.Nhóm các phương pháp dùng các thuật toán, thống kê
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh ở
trường trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy - học môn Tiếng Anh ở trường
trường trung học phổ thông Thuỷ Sơn thành phố Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh ở trường
trường trung học phổ thông Thuỷ Sơn thành phố Hải Phòng
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hoá thì vai trò của Tiếng Anh ngày càng được khẳng định Trong bậc học THPT, việc dạy và học môn Tiếng Anh như thế nào nhằm đảm bảo mục tiêu hội nhập quốc tế đã được đề cập đến trong quá trình thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa từ năm học 2005- 2006 Bộ giáo dục đã ban hành nhiều văn bản và tài liệu hướng dẫn, tổ chức các hội thảo ở nhiều cấp độ về đảm bảo chất lượng môn ngoại ngữ trong nhà trường THPT, nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng Anh, đổi mới phương pháp giảng dạy
Vấn đề kinh nghiệm dạy học ngoại ngữ ở một số nước trên thế giới và trong khu vực trong đó có công tác quản lý đã được đề cập đến khá chi tiết
trong “Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” Hà Nội, 2008 Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: “Teaching English Cambridge University Press, 1995” của Adrian Doff;
“Những vấn đề cơ bản về dạy học ngoại ngữ” , NXB ĐHQG Hà Nội, 2005
Ở Việt nam, có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường THPT Tiếng Anh không đứng tách rời các môn học khác nên phần lớn các biện pháp quản
lý dạy học nói chung đều có thể áp dụng được khi nghiên cứu biện pháp quản
lý hoạt động dạy -học môn Tiếng Anh Có thể đề cập đến các công trình
nghiên cứu sau: Nguyễn Trọng Hậu Đại cương khoa học quản lý giáo dục,
Bài giảng cho cao học quản lý giáo dục, Hà Nội, 2009; Nguyễn Quốc Chí -
Nguyễn Thị Mỹ Lộc Đại cương khoa học quản lý, 2010; Trần Khánh Đức, Quản
lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM , 2004; Đặng
Trang 12Quốc bảo Những vấn đề về lãnh đạo – quản lý và sự vận dụng vào điều hành
nhà trường, Bài giảng cho học viên cao học quản lý giáo dục, 2010
Nhiều đề tài luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục đã nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động dạy- học trong nhà trường THPT Liên quan trực tiếp đến đề tài tác giả đang nghiên cứu có một số công trình sau đây: Tuyển
tập các bài báo khoa học Những vấn đề cơ bản về dạy học ngoại ngữ, 2005; Nguyễn Thị Thu Phương Các biện pháp quản lý quá trình đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Anh tại các trường trung học phổ thông thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục, 2007; Nguyễn Thị Bình Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông quận Lê Chân thành phố Hải Phòng, Luân văn thạc sỹ quản lý giáo dục, 2009; Lê Vũ Huy Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn,
1995-Luận Văn thạc sỹ quản lý giáo dục, 2010
Các công trình nghiên cứu trên đây đều đã đạt được những thành tựu nhất định về lý luận cũng như thực tiễn Tuy nhiên việc áp kết quả nghiên cứu sẽ còn phụ thuộc phần lớn vào điều kiện thực tế của các nhà trường Cho đến nay việc nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh ở trường THPT Thuỷ Sơn thành phố Hải Phòng chưa có ai thực hiện Khi tác giả lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài này sẽ kế thừa những kết quả các công trình nghiên cứu đã đề cập tới và tiếp tục đề xuất một số giải pháp khả thi mới để quản lý hoạt động dạy- học môn Tiếng Anh tại trường THPT Thuỷ Sơn thành phố Hải Phòng
1.2 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quản lý, biện pháp quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội
Trang 13Quản lý là một việc cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và
là một nhân tố của sự phát triển xã hội Lý luận về quản lý vì vậy được hình thành và phát triển qua các thời kỳ và trong các lý luận về chính trị, kinh tế xã hội Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần hình thành các “lý thuyết quản lý” Từ khi F.W.Taylor phát biểu các nguyên lý về quản lý thì quản lý nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính
sự nghiệp, đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn, bao giờ cũng có hai phân hệ: người quản lý và đối tượng bị quản lý
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau:
K.Markx cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiệ những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”[ 23, tr.480]
Như vậy K.Marx đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động
để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung
Tác giả H Knoontz cũng nhấn mạnh: “ Quản lý là một hoạt động thiết
yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm ( tổ chức ) Mục đích của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành môi
Trang 14trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời
gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [ 17, tr 33 ]
Các tác giả Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học
quản lý và khái niệm quản lý được giải trình từ nhiều góc độ
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung
là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”
[25,tr.35]
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “Hoạt
động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ
chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [8, Tr 9]
Tác giả Phạm Văn Kha khẳng định: “ Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ
chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và
việc sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục đích đã định”[21, Tr.6]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song tựu chung các định
nghĩa trên đều thống nhất:
Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố:
chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị
quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi,
cây trồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể
quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết,
thỏa thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối
quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
1.2.1.2 Biên pháp quản lý
Nghiên cứu về khoa học quản lý, tác giả Trần Quốc Thành nêu ra bốn
biện pháp quản lý chính, đó là: Biện pháp thuyết phục, biện pháp hành chính-
tổ chức, biện pháp kinh tế, biện pháp tâm lý - giáo dục
Trang 15Biện pháp thuyết phục: Là cách tác động của chủ thể quản lý vào đối
tượng quản lý bằng lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu này Đây là biện pháp cơ bản để giáo dục con người Biện pháp thuyết phục gắn với tất cả các biên pháp quản lý khác và phải được người quản lý sử dụng trước tiên vì nhận thức là bước đi đầu tiên trong hoạt động của con người
Biện pháp hành chính- tổ chức : Là cách tác động của chủ thể quản lý
vào đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ quyền lực tổ chức, quyền hạn hành chính Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật của tổ chức, bởi lẽ bất cứ một hệ thống nào cũng có quan hệ tổ chức Trong đó người ta sử dụng quyền
uy và sự phục tùng trong bộ máy này Khi sử dụng biện pháp hành chính – tổ chức, chủ thể quản lý phải nắm chắc các văn bản pháp lý, biết rõ giới hạn, quyền hạn trách nhiệm, phỉa kiểm tra và nắm được các thông tin phản hồi
Biện pháp kinh tế: Là cách tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng
quản lý thông qua lợi ích kinh tế Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật kinh tế, thông qua nó để tác động vào tâm lý đối tượng Nội dung của biên pháp này là nhà quản lý đưa ra các nhiệm vụ, kế hoạch … tương ứng với các mức lợi ích kinh tế Đối tượng bị quản lý có thể lựa chọn phương án thích hợp
để vừa đạt được mục tiêu của tập thể vủa đạt được lợi ích kinh tế của cá nhân Khi sử dụng biện pháp này cần tránh dẫn đến chủ nghĩa thực dụng hay sự mất đoàn kết nếu thiếu công bằng
Biện pháp tâm lý- giáo dục: Là cách tác động vào đối tượng quản lý
thông qua tâm lý, tình cảm, tư tưởng con người Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật tâm lý và chức năng tâm lý con người Nội dung của biện pháp là kích thích tinh thần tự giác, sự say mê của con người Muốn quản lý thành công nhà quản lý cần phải hiểu rõ tâm lý của bản thân mình và đối tượng quản lý
Trang 161.2.1.3.Các chức năng quản lý
Qua nghiên cứu lý luận và thực tế công tác quản lý nói chung, có thể tóm lược rằng: quản lý bao gồm bốn chức năng cơ bản là kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá
Chức năng kế hoạch hóa : là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ
thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó Kế hoạch là nền tảng của quản lý, lập kế hoạch bao gồm: Xác định chức năng, nhiệm vụ và các công việc của đơn vị, dự báo, đánh giá triển vọng, đề ra mục tiêu, chương trình, xác định tiến độ, xác định ngân sách, xây dựng các nguyên
tắc tiêu chuẩn, xây dựng các thể thức thực hiện
Chức năng tổ chức: là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền
hành và quyền lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả Xây dựng các cơ cấu, nhóm, tạo sự hợp tác liên kết, xây dựng các yêu cầu, lựa chọn, sắp xếp bồi
dưỡng cho phù hợp, phân công nhóm và cá nhân
Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo, điều khiển): là quá trình tác động đến các
thành viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu của tổ chức.Trong chỉ đạo chú ý sự kích thích động viên,
thông tin hai chiều đảm bảo sự hợp tác trong thực tế
Chức năng kiểm tra: là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá
và xử lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức Xây dựng định mức
và tiêu chuẩn, các chỉ số công việc, phương pháp đánh giá, rút kinh nghiệm và
điều chỉnh
Ngoài 4 chức năng cơ bản trên đây, cần lưu ý rằng, trong mọi hoạt
động của QLGD, thông tin QLGD đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được
coi như “mạch máu” của hoạt động QLGD Chính vì vậy nhiều nghiên cứu gần đây đã coi thông tin như một chức năng trung tâm liên quan đến các chức năng quản lý khác Nếu thiếu hoặc sai lệch thông tin thì công tác quản lý gặp
Trang 17nhiều khó khăn, tạo nên những quyết định sai lầm, khiến công tác quản lý kém hiệu quả hoặc thất bại Vì vậy, có thể biểu diễn sơ đồ đầy đủ về mối quan hệ giữa các chức năng quản lý với vai trò đặc biệt của thông tin quản
lý như sau:
Sơ đồ 1.1: Thông tin trong QLGD
Nguồn:Công nghệ thông tin trong QLGD - Ngô Quang Sơn, [ 26, Tr.13]
Quá trình quản lý nói chung, quá trình QLGD nói riêng là một thể thống nhất trọn vẹn Sự phân chia thành các giai đoạn chỉ có tính chất tương đối giúp cho người quản lý định hướng thao tác trong hoạt động của mình Trong thực tế, các giai đoạn diễn ra không tách bạch rõ ràng, thậm chí có chức năng
diễn ra cả ở một số giai đoạn khác nhau trong quá trình đó
1.2.2 Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường
1.1.2.1 Quản lý giáo dục
Khoa học quản lý là một khoa học liên ngành sử dụng tri thức của nhiều lĩnh vực: Tâm lý học, Xã hội học, Triết học v.v
Kiểm tra, đánh giá
Tổ chức
Kế hoạch
Thông tin
Chỉ đạo
Trang 18Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục, nhưng là một khoa học tương đối độc lập
Quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội bởi lẽ Giáo dục là một hiện tượng xã hội, một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác, cũng giống như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng cần phải quản lý dưới góc độ coi giáo dục là một hoạt động chuyên biệt thì quản lý giáo dục là quản lý các hoạt động của một cơ sở giáo dục như trường học,các đơn vị phục vụ đào tạo Dưới góc độ xã hội, quản lý giáo dục là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về lý thuyết QLGD và thực tế cho thấy cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, có thể kể đến một số quan điểm chủ yếu sau:
Theo P.V.Khuđôminxki (nhà lý luận của Liên xô trước đây) thì:
QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống GD (từ bộ đến trường) nhằm nục đích đảm bảo việc GD Chủ nghĩa cộng sản và đảm bảo phát triển toàn diện, hài hòa cho thế hệ trẻ
Tác giả M.I.Kônđacốp, một chuyên gia GD khác của Liên xô cũ cho
rằng: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (
từ bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy tắc chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình GD, của sự phát triển tâm thế và tâm lý trẻ em
Ở Việt Nam, QLGD cũng là một lĩnh vực được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khó VIII khẳng định: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ
Trang 19thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống
giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [28, tr.50]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý giáo dục là
khái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân
hệ của nó, đặc biệt là quản lý trường học): “Quản lý giáo dục là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý
nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng,
thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà
tiêu điểm hội tụ là quá trình DH – giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục
tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”[25, tr.35]
Tác giả Phạm Minh Hạc cũng khẳng định:“Quản lý giáo dục là tổ chức
các hoạt động DH Có tổ chức được các hoạt động DH, thực hiện được các tính
chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo
dục, tức là cụ thể hoa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành
hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [13, tr.9]
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục,
trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng quản lý quan trọng nhất
Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận: QLGD là
hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể
quản lý đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài
nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định,
nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ công tác
giáo dục thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội Trong QLGD, quan hệ cơ
bản là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học, ngoài ra còn
các mối quan hệ khác như quan hệ giữa các cấp bậc khác, giữa GV với HS ,
giữa nhân viên phục vụ với công việc liên quan đến hoạt động giảng dạy và
học tập
Trang 201.1.2.2 Quản lý nhà trường
Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường
là cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là tổ chức cơ sở mang tính Nhà nước – xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp
những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự cơ Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [25, tr.43]
Còn theo tác giả Phạm Viết Vƣợng thì “Quản lý trường học là lao
động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của GV, HS
và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD&ĐTtrong nhà trường” [29, tr.205]
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng “ Quản lý nhà trường ở Việt Nam là
thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [13, tr.71]
Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của
nó Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình DH, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa
là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là
Trang 21nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận
Mục đích của quản lý nhà trường: là đưa nhà trường từ trạng thái đang phát triền lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào việc phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục
Nội dung công tác quản lý giáo dục trong nhà trường bao gồm:
+ Quản lý toàn bộ cơ sở vât chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HS
+ Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước đồng thời thực hiện xã hội hóa giáo dục, động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và DH + Quản lý đội ngũ các thầy giáo , cán bộ công nhân viên và tập thể HS thực hiện tốt các nhiệm vụ trong trương chình công tác của nhà trường
+ Quản lý tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình giáo dục của Bộ GD & ĐT
+ Quản lý tốt việc học tập của HS; bao hàm cả quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần và thái độ và phương pháp học tập
+ Quản lý việc kiểm tra và đánh giá
+ Quản lý việc chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tập thể
GV, công nhân viên của nhà trường
Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường
Trang 221.2.3 Hoạt động dạy - học và quản lý hoạt động dạy - học ở trường THPT
1.2.3.1 Hoạt động dạy - học ở trường THPT
Hoạt động dạy - học bao gồm hai hoạt động thống nhất biên chứng, hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS
“Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm
xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân”[ 14, tr.18]
Theo tác giả Phạm Viết Vƣợng “ Nói đến dạy học là nói đến hoạt
động dạy và học của thầy và trò trong nhà trường, với mục tiêu là giúp học sinh nắm vững ”hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo và thái độ tích cực đối với học tập và cuộc sống” [ 30, tr.110]
Hoạt động dạy: Dạy là điều khiển quá trình trò chiếm lĩnh khái niệm
khoa học, bằng cách đó phát triển, hình thành nhân cách trò Hoạt động dạy giúp trò lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học của trò, giúp trò nắm được kiến thức, hình thành kĩ năng, thái độ Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển Nội dung, chương trình dạy học theo một quy định bắt buộc và được thống nhất trong mỗi cấp học Để đạt được mục đích, người dạy và người học đều phải phát huy các yếu tố chủ quan của cá nhân để xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, tìm kiếm các hình thức, các phương tiện dạy - học phù hợp
Hoạt động học: Học là quá trình trong đó dưới sự định hướng của
người dạy, người học tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm
từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện Cũng như hoạt động dạy, hoạt động học có hai chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ
hệ thống khái niệm của môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học,
Trang 23KHÁI NIỆM DẠY HỌC
HỌC DẠY
và hình thành thái độ, đạo đức,nhân cách và lý tưởng sống
Mối quan hệ giữa hoạt động dạy – học
Hoạt động dạy- học mang tính chất hai chiều, gồm hoạt động dạy và hoạt động học, đó là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại và bổ sung cho nhau, phối hợp chặt chẽ thống nhất với nhau giữa người dạy và người học Hoạt động dạy - học diễn ra trong những điều kiện xác định, trong
đó đóng vai trò chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo, nhằm đạt hiệu quả
theo mục tiêu giáo dục đã xác định.“Chỉ trong sự tác động qua lại giữa thày
và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy – học Sự phá vỡ mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi sự toàn vẹn đó” [27,Tr.23]
Sơ đồ 1.2: Quá trình dạy học
Hoạt động D-H là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động khác trong nhà trường Hoạt động D-H làm cho HS nắm vững tri thức khoa học một
Tự điền khiển
Lĩnh hội
HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC
Trang 24cách có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và đời sống Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của HS, hình thành ở
HS thế giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc, yêu CNXH, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của HS
1.2.3.2 Quản lý hoạt động dạy -học
Quản lý hoạt động D-H là quản lý một quá trình xã hội, một quá trình
sư phạm đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố như: Mục đích và nhiệm vụ D-H, nội dung D-H, phương pháp D-H và phương tiện D-H, thày với hoạt động dạy, trò với hoạt động học tập và kiểm tra - đánh giá kết quả D-H để điều chỉnh cho hiệu quả ngày càng tốt hơn Quản lý hoạt động D-H là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
+ Cụ thể hóa mục tiêu D-H qua các nhiệm vụ D-H nhằm nâng cao tri thức, kỹ năng, bồi dưỡng thái độ và hình thành phát triển những năng lực, phẩm chất tốt đẹp cho người học
+ Quản lý việc xây dựng và thực hiện nội dung D-H Nội dung D-H phải đảm bảo bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người học cần phải nắm vững trong quá trình học
+ Quản lý hoạt động giảng dạy của GV (Biên soạn giáo trình, giáo án, chuẩn bị đồ dùng D-H, lên lớp, kiểm tra HS học tập)
+ Quản lý hoạt động học tập của HS (nề nếp, thái độ, kết quả học tập) + Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động D-H
*Quản lý hoạt động dạy
Quản lý hoạt động này bao gồm: Quản lý việc thực hiện chương trình D-H, quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, quản lý giờ lên lớp của GV, quản lý việc dự giờ và phân tích bài học sư phạm, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS Trong quá trình GD & ĐT, GV vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể quản lý của hoạt động giảng dạy Quản lý hoạt động giảng dạy bao gồm một số nội dung quản lý cơ bản:
Trang 25+ Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy (nội dung, tiến trình) + Quản lý giờ lên lớp và vận dụng PP, sử dụng phương tiện dạy học Hình thức dạy và học trên lớp hiện nay vẫn được coi là một trong các hình thức cơ bản và chủ yếu của quá trình dạy học Vì vậy chất lượng của hoạt động dạy học phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các giờ lên lớp của thày
+ Quản lý việc thực hiện quy chế kiểm tra, đánh giá chất lượng Kiểm tra đánh giá là khâu quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động dạy học Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của trò là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của người học, trên cơ sở đó đề
ra những biện pháp phù hợp giúp họ học tập tiến bộ
+ Quản lý hồ sơ chuyên môn của các GV: là phương tiện giúp người quản lý nắm chắc được tình hình thực hiện nhiệm chuyên môn của các GV là một trong những cơ sở pháp lý đánh giá việc thực hiện nề nếp chuyên môn của họ
Tóm lại: Quản lý hoạt động dạy của thầy là quản lý một quá trình chủ đạo của người thầy trong quá trình D-H, đòi hỏi người quản lý nhà trường phải hiểu nội dung, yêu cầu cần quản lý để đưa ra những quyết định quản lý vừa mang tính nghiêm chỉnh, chính xác, nhưng lại vừa là mềm dẻo linh hoạt
để đưa hoạt động dạy của thầy vào nề nếp kỷ cương nhưng vẫn phát huy được khả năng sáng tạo khoa học của GV trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình
* Quản lý hoạt động học của trò
Hoạt động học tập của HS là một hoạt động song song tồn tại cùng với hoạt động dạy của thày giáo Quản lý hoạt động học tập của người học là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập Người học vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể quản lý
Trong quản lý hoạt động học tập cần lưu ý tính phức tạp và tính trừu tượng về sự chuyển biến trong nhân cách, do tác động đồng thời của nhiều yếu tố chủ thể và khách thể, làm cho kết quả học tập của họ bị hạn chế
Trang 26Quản lý hoạt động học tập có nội dung, yêu cầu cụ thể, vì vậy cần phải tăng cường việc KT-ĐG các hoạt động học tập của người học và hoạt động giảng dạy của người thày Quản lý hoạt động học tập bao gồm: Quản lý học trên lớp, hoạt động tự học và các hoạt động ngoai khóa
* Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học
Cơ sở vật chất là điều kiện tiên quyết cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động, là điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Cơ sở vật chất - kỹ thuật dạy và học của nhà trường
Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho dạy và học đảm bảo được
3 yêu cầu liên quan mật thiết với nhau đó là:
+Đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học
+ Sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật trong việc dạy và học +Tổ chức quản lý tốt cơ sở vật chất - kỹ thuật trong nhà trường
Nội dung quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học trong nhà trường bao gồm:
+Quản lý trường lớp, phòng học, bàn ghế, bảng
+ Quản lý các trang thiết bị phục vụ D-H, hoạt động của các phòng bộ môn, phòng chức năng
+Quản lý thư viện trường học với các sách báo, tài liệu
+Quản lý nguồn kinh phí, xây dựng nội quy và kế hoạch sử dụng trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ hoạt động D-H
1.3 Hoạt động dạy - học Tiếng Anh và quản lý hoạt động dạy - học Tiếng Anh trong nhà trường THPT
1.3.1 Hoạt động dạy - học Tiếng Anh trong nhà trường THPT
1.3.1.1 Mục tiêu dạy học Tiếng Anh trong trường Trung học phổ thông
Mục tiêu dạy và học Tiếng Anh ở trường phổ thông là giúp HS sử dụng được Tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ phổ thông thông qua việc hình thành các kĩ năng giao tiếp: nghe, nói, đọc, viết trên cơ sở nắm vững
Trang 27hệ thống ngôn ngữ Tiếng Anh cơ bản qua đó tìm kiếm, thu nhập thông tin nhằm nâng cao trình độ văn hóa chung, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và phát triển tư duy Dạy và học Tiếng Anh ở trường phổ thông giúp HS:
+ Sử dụng Tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết
+ Có kiến thức cơ bản, tương đối hệ thống và hoàn chỉnh về ngôn ngữ Tiếng Anh, phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí lứa tuổi
+ Có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hóa của một số nước nói Tiếng Anh, từ đó có tình cảm và thái độ tốt đẹp đối với đất nước, con người, nền văn hóa và ngôn ngữ của các nước nói Tiếng Anh; biết
tự hào, yêu quí và tôn trọng nền văn hóa và ngôn ngữ dân tộc mình
+ Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, phát triển tư duy và hình thành phương pháp học tập mới
Mục tiêu chung của D-H ngoại ngữ là: “Thực hiện đổi mới toàn diện việc dạy – học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đảm bảo đến năm 2015 nâng cao rõ rệt trình độ ngoại ngữ của một số đối tượng ưu tiên, đồng thời triển khai chương trình dạy – học ngoại ngữ đối với các cấp học và trình độ đào tạo, tọa điều kiện để đến năm 2020 tăng đáng kể tỷ lệ thanh thiếu niên Việt Nam có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ một cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ, đa văn hóa phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”[3,Tr.8]
1.3.1.2 Nội dung dạy – học Tiếng Anh trong trường Trung học phổ thông
Trước đây sách giáo khoa của HS được coi là nguồn duy nhất chứa đựng nội dung dạy và học Tiếng Anh,là phương tiện tiềm ẩn chứa đựng các phương pháp dạy của GV và phương pháp học của HS Sách giáo khoa cũng
là nền tảng của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Quan điểm dạy mới cho rằng toàn bộ hoạt động dạy và học trong nhà trường được thể hiện qua
Trang 28chương trình môn học là tổ hợp các kinh nghiệm và hoạt động được tổ chức trong một môi trường sư phạm nhất định nhằm hình thành và phát triển ở HS những năng lực trí tuệ đạo đức và thẩm mỹ cần thiết cho HS
Chương trình Tiếng Anh ở trường phổ thông được biên soạn theo 6 chủ
đề , được lặp lại và có mở rộng từ lớp 6 đến lớp 12 Dưới chủ đề ( theme) là các chủ điểm (topic) Hệ thống chủ đề và chủ điểm là cơ sở hình thành và phát triển các khả năng ngôn ngữ như ngữ âm ,từ vựng và ngữ pháp
1.3.1.3 Phương pháp dạy – học Tiếng Anh trong trường Trung học phổ thông
Để hình thành và phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết thông qua luyện tập các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng ngữ pháp, cần quán triệt các phương pháp D - H cơ bản sau :
GV tổ chức và hướng dẫn HS tham gia tích cực vào quá trình học tập thông qua các hoạt động cá nhân, theo cặp và nhóm GV cần kết hợp hài hòa các phương pháp và kỹ thuật D - H, sử dụng hiệu quả các thiết bị đồ dùng DH
và các tài liệu hỗ trợ nhằm tạo hứng thú học tập cho HS GV cần sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách hợp lý và có hiệu quả trong quá trình dạy học
HS là chủ thể của hoạt động học tập HS tham gia học tập và hoạt động giao tiếp tích cực, chủ động, sáng tạo và với tinh thần hợp tác cao HS cần luyện tập thực hành giao tiếp một cách có ý thức trong hoạt động học tập trên lớp
và tự học
Việc lựa chọn phương pháp D - H cần phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình, đối tượng đào tạo Phải kết hợp nhiều phương pháp và luôn sáng tạo để phù hợp với từng tiết dạy GV phải tìm cách dẫn dắt HS thâm nhập vào môi trường ngôn ngữ, nhận thức các hiện tượng và hành vi ngôn ngữ để từ đó hình thành các kỹ năng nói, nghe, đọc, viết và dịch
1.3.1.4 Kiểm tra và đánh giá khi dạy – học Tiếng Anh trong trường THPT
Trong quá trình D - H ngoại ngữ, kiểm tra đánh giá có một ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt giáo dục lẫn giáo dưỡng Kiểm tra trước hết đảm
Trang 29bảo mối liên hệ ngược trong quá trình điều khiển hoạt động dạy và học và giúp cho thầy trò nắm được chính xác kết quả của từng khâu, từng giai đoạn,
từ đó có được những biện pháp điều khiển kịp thời để hoạt động đúng mục tiêu và đem lại kết quả cao việc đánh giá học tập sau mỗi lần kiểm tra có tác dụng nâng cao ý thức trách nhiệm, duy trì sự yêu thích thường xuyên với môn học Để kiểm tra đánh giá cần tuân thủ các yêu cầu sau:
+ Đánh giá phải căn cứ vào mục tiêu để có phương pháp đánh giá phù hợp,đồng thời mới xác định được nội dung KT-ĐG
+ Đánh giá phải đảm bảo tính thường xuyên, hệ thống và toàn diện trong quá trình học ngoại ngữ phải sử dụng loại hình kiểm tra đánh giá vào các thời điểm khác nhau: kiểm tra dầu vào, thường kỳ đầu ra
+ Đánh giá phải đảm bảo tính khách quan, chính xác kết quả học tập của HS Xây dựng một đề kiểm tra ngoại ngữ thì phải chú ý: bài kiểm tra phải tương ứng với toàn bộ vấn đề cần đánh giá Độ dài của bài kiểm tra phải phù hợp với thời gian làm bài, tránh quá dài hoặc quá ngắn
+ Mục tiêu, yêu cầu của mỗi bài kiểm tra cần phải xác định theo chuẩn kiến thức, kỹ năng tại thời điểm kiểm tra
+ Lựa chọn và sử dụng các loại câu hỏi một cách hợp lý Có nhiều cách xếp loại câu hỏi sử dụng trong KT-ĐG Thông thường xếp loại theo cách chấm, người ta phân biệt 2 loại câu hỏi: câu hỏi trắc nghiệm khách quan và câu hỏi trắc nghiệm tự luận Cả 2 loại này đều có khả năng khảo sát thành tích của người học, tuy nhiên cần sử dụng cả 2 trong kiểm tra ngoại ngữ vì mỗi loại đều có mặt ưu, nhược điểm Hiện nay đang có xu thế sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong KT-ĐG
Hoạt động này trong quá trình đào tạo luôn là công việc chính của các
GV đứng lớp Chính các GV là người tự ra đề kiểm tra trong lớp học, tự thực hiện chấm điểm cũng là người tự quản lý, sử dụng kết quả kiểm tra để phản hồi cho người học và cải thiện quá trình giảng dạy
Trang 301.3.2 Quản lý hoạt động dạy- học Tiếng Anh trong nhà trường THPT
1.3.2.1 Quản lý hoạt động dạy của giáo viên
Sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy: Quản lý hoạt động giảng
dạy của GV là một trong những yếu tố quan tâm hàng đầu đối với đào tạo THPT như việc thiết kế các giáo án điện tử, việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy – học, sử dụng phương tiện dạy - học hiện đại, ứng dụng vào D-H Tiếng Anh
Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy: quản lý GV dạy
đúng, dạy đủ các bài, đúng tiến độ và kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của HS theo đúng phân phối chương trình của bộ Giáo dục và theo đúng lịch từ đầu năm học Quản lý giờ lên lớp và vận dụng phương pháp, sử dụng phương tiện D - H trong giảng dạy ngoại ngữ, thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo đường hướng lấy người học làm trung tâm Phát huy tính tích cực học tập của HS Dành nhiều thời gian cho luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc,viết) Tăng dần giảng bằng tiếng nước ngoài ở các lớp cuối Phát huy hình thức luỵên tập cá nhân, cặp nhóm GV giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn HS tự học và làm bài tập ở nhà
Quản lý việc đánh giá kết quả học tập của HS: để việc quản lý kiểm tra -
đánh giá kết quả học tập của HS đạt mục đích, cần xác định trình độ ngoại ngữ của HS so với mục tiêu đề ra; xem xét nội dung chương trình học có phù hợp với HS hay không để có kế hoạch điều chỉnh; phát hiện những lỗi HS hay mắc phải khi học ngoại ngữ để giúp họ khắc phục; điều chỉnh cách dạy của HS cho phù hợp với yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ D - H
Quản lý hồ sơ chuyên môn của GV: là phương tiện giúp cán bộ quản lý
nắm chắc được tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các GV trong tổ
bộ môn, đồng thời hồ sơ chuyên môn của các GV là một trong những cơ sở pháp lý đánh giá việc thực hiện nề nếp chuyên môn của họ
Trang 31Quản lý hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV: Một yếu tố không
kém phần quan trọng là quản lý hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV, giúp
GV nâng cao trình độ Nội dung của bồi dưỡng là cập nhật kiến thức, hướng dẫn GV việc đổi mới, áp dụng phương pháp D - H mới và các hình thức D - H
có hiệu quả cao
Tổ, nhóm trưởng chuyên môn lập kế hoạch để các thành viên trình bày trước tổ, nhóm các nội dung bồi dưỡng, lên lớp minh họa, sẵn sàng trình bày, lên lớp trước hội giảng quận huyện hay thành phố khi cần thiết
1.3.2.2 Quản lý hoạt động học của học sinh
Việc quản lý hoạt động học tập của HS là một trong những yếu tố không nhỏ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Hoạt động học tập của HS song song cùng tồn tại với hoạt động dạy của GV Quản lý hoạt động học tập của HS là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp và việc thực hiện các bài tập ở nhà Quản lý `họat động học tập của HS cần đạt được những yêu cầu sau:
Xây dựng động cơ học tập cho HS: Động cơ là nhân tố thúc đẩy,định
hướng và duy trì hoạt động tự học của HS Theo thuyết nhu cầu được xếp từ thấp tới cao: nhu cầu cơ bản sinh học ; nhu cầu về an toàn, nhu cầu về được thừa nhận, nhu cầu về sự thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện động cơ học tập của HS cũng có nhiều thứ bậc khác nhau Bắt đầu từ nhu cầu phải hoàn thành các nhiệm vụ học tập, tự khẳng định mình, cơ hội có việc làm và công danh sự nghiệp, nhu cầu học để biết, để khẳng định, để thể hiện mình Động cơ là tiền đề là điều kiện cho việc học Tiếng Anh của HS Việc xây dựng động cơ tích cực học tập cho HS là nội dung cơ bản, rất quan trọng của công tác quản lý hoạt động học Tiếng Anh của HS Phải làm cho
HS có động cơ và thái độ đúng đắn trong học tập và có ý thức tự giác tìm tòi, nghiên cứu, chủ động lĩnh hội kiến thức
Trang 32Quản lý PP học tập ngoại ngữ của HS: Phương pháp học tập có vai
trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập và đáp ứng được mục tiêu của giáo dục phổ thông Ngoài hướng dẫn HS tự học, tự nghiên cứu, động viên HS và giúp học HS tham gia vào các hoạt động giao tiếp tích cực, chủ động, sáng tạo và với tinh thần hợp tác cao GV cần hỗ trợ HS luyện tập thực hành giao tiếp một cách có ý thức trong hoạt động học tập trên lớp và tự học
1.3.2.3.Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động day- học ngoại ngữ của HS
việc xây dựng kế hoạch, thực hiện mua sắm và sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật hiện đại trong dạy - học ngoại ngữ sẽ thu hút, kích thích HS tham gia học ngoại ngữ tốt hơn Để tăng cường hiệu quả học tập phải đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất như: lớp học, phòng tự học, thư viện, tài liệu tham khảo và các trang thiết bị cho HS tự học ngoại ngữ như: đài cát xét, đầu video, băng dạy – học Tiếng hình…
1.4 Đặc trƣng của hoạt động dạy - học ngoại ngữ, dạy- học Tiếng Anh
1.4.1 Bản chất của ngôn ngữ và dạy học ngoại ngữ
Các nhà ngôn ngữ học thừa nhận rằng ngôn ngữ là một trong những phương tiện hay công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người và bản chất của ngôn ngữ là thực hiện chức năng giao tiếp Hiện nay trên thế giới có nhiều ngôn ngữ khác nhau đang cùng tồn tại Mặc dù mỗi ngôn ngữ có những đặc điểm riêng về âm thanh, chữ viết, hình thức bên ngoài hay cấu trúc bên trong song tất cả các ngôn ngữ đều có chung một bản chất là làm công cụ giao tiếp cho dù ngôn ngữ đó có ít hay nhiều người sử dụng
Dạy và học ngoại ngữ thực chất là dạy HS cách sử dụng một ngôn ngữ mới ngoài tiếng mẹ đẻ làm công cụ giao tiếp Bản chất của công cụ giao tiếp được thể hiện trong dạy và học ngoại ngữ qua những yếu tố:
+ Mục đích dạy và học ngoại ngữ là hình thành và phát triển một ngôn ngữ mới như một công cụ giao tiếp
+ Nội dung là dạy và học một công cụ giao tiếp bằng tiếng nước ngoài
Trang 33+ PP dạy và học là giúp HS chiếm lĩnh một công cụ giao tiếp mới + Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là xem xét, đánh giá khả năng sử dụng ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp
1.4.2.Quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói
Ngôn ngữ, với tư cách là phương tiện giao tiếp của con người, là sự thống nhất chặt chẽ giữa ngôn ngữ (language) và lời nói (speech) Ngôn ngữ
và lời nói là hai mặt của một hiện tượng, trong đó ngôn ngữ chỉ một hiện thực khách quan và có tính chung toàn xã hội; còn lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ chung của mỗi cá nhân vào các tình huống giao tiếp cụ thể do đó nó mang tính chất cá thể Ngôn ngữ và lời nói hợp thành một thể thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng
Ngôn ngữ là một hệ thống gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và luôn mang tính chất tĩnh và ổn định; lời nói là sự kết hợp các nội dung ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp như nghe, nói, đọc, viết và mang tính chất động và biến đổi thường xuyên tùy theo từng tình huống giao tiếp cụ thể
Ngôn ngữ và nền văn hóa của cộng đồng nói ngôn ngữ đó luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau Ngôn ngữ vừa là phương tiện biểu đạt vừa là phương tiện tàng trữ những giá trị văn hóa của dân tộc sản sinh ra ngôn ngữ
ấy Điều này có nghĩa là dạy và học ngoại ngữ phải nhằm đạt hai mục đích: trang bị cho HS một công cụ giao tiếp mới đồng thời thông qua việc sử dụng công cụ giao tiếp đó HS tiếp thu những giá trị văn hóa của các dân tộc sử dụng ngôn ngữ đang học bao gồm những hiểu biết về đất nước, con người, phong tục, tập quán, khoa học, kĩ thuật,
Nói cách khác, dạy và học ngoại ngữ phải mang mục đích kép là vừa hình thành và phát triển một công cụ giao tiếp mới vừa thông qua đó để tiếp thu những giá trị văn hóa của dân tộc có ngôn ngữ đang học Trong hai mục đích đó thì mục đích thứ nhất vừa là mục đích dạy và học ngoại ngữ vừa là cách thức hay con đường nhằm đạt được mục đích lâu dài hơn là mục đích
Trang 34thứ hai Điều này giúp cho quá trình dạy và HS động hơn, hấp dẫn hơn, dễ dàng hơn và do vậy kết quả dạy và học sẽ nhanh hơn và bền vững hơn
Mục tiêu D-H ngoại ngữ là người học có thể phát triển khả năng hiểu
và sử dụng ngôn ngữ được học Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ được chia làm 2 loại: kỹ năng thu nhận gồm kỹ nghe, đọc và kỹ năng tái tạo bao gồm kỹ năng nói, viết Người dạy cần phải phân biệt yêu cầu của từng kỹ năng để có PP dạy thích hợp và người học có PP học tương ứng
1.4.3 Nội dung dạy học ngoại ngữ
+ Nội dung kỹ năng giao tiếp
Tiếng Anh cũng như bất kỳ ngoại ngữ nào đều có chức năng là công cụ giao tiếp Nội dung kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Anh bao gồm bốn dạng hoạt động giao tiếp là: nghe, nói, đọc, viết Cả bốn nội dung này đều xuất hiện thường trực đan xen vào nhau trong suốt quá trình dạy học Tiếng Anh Nội dung kỹ năng thực hành giao tiếp được thể hiện dưới dạng hệ thống các bài tập tương ứng với yêu cầu hình thành kỹ năng nghe, nói,đọc hiểu, viết
+ Nội dung tri thức văn hóa
Nội dung tri thức văn hóa của bộ môn ngoại ngữ gồm hai phần: tri thức ngôn ngữ và tri thức đất nước học
+ Nội dung tư tưởng đạo đức
Là một bộ môn văn hóa cơ bản, ngoại ngữ có khả năng góp phần hình thành thế giới quan và nhân sinh quan tiến bộ cho thế hệ trẻ thông qua các bài học với những nội dung hết sức đa dạng và phong phú giúp HS xây dựng cho mình thói quen đạo đức và hành vi văn minh cần thiết nhất trong đời sỗng xã hội, những quan điểm chính kiến khoa học về tự nhiên, về xã hội, về lối sống cao đẹp của con người
1.4.4 Phương pháp dạy học ngoại ngữ
Ngày nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, việc D - H ngoại ngữ đều theo đường hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp Nó đáp ứng được
Trang 35những nhu cầu giao tiếp bằng ngoại ngữ qua hai kênh khẩu ngữ (nghe và nói)
và bút ngữ (đọc và viết)
+ Phương pháp DH nghe hiểu:
Có hai quan điểm về quá trình nghe hiểu: nghe từ dưới lên (nghĩa là, người nghe quan tâm đến thông điệp từ những đơn vị nhỏ nhất - âm đến hơn vị lớn nhất - văn bản) và quan điểm nghe hiểu từ trên xuống (nghĩa là, việc sử dụng kiến thức trong đầu hay là kiến thức không được nhập mã trực tiếp trong ngôn từ) Ngày nay cả hai quan điểm này đều được công nhận rộng rãi và phải được tích hợp lại và sử dụng trong giảng dạy thì mới có thể nâng cao khả năng
và hiệu quả nghe của HS Tuy nhiên, lúc nào sử dụng mô hình này nhiều hơn hay mô hình kia phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể Đường hướng ngôn bản chính là nơi hai hình thức nghe từ dưới lên và nghe từ trên xuống gặp nhau và
là nơi xử lí cùng một lúc thông tin nền, thông tin ngôn cảnh và thông tin ngôn ngữ cho phép quá trình nghe hiểu và giải thích xảy ra Để kỹ năng nghe được dạy có hiệu quả, cần phải chia bài nghe làm ba giai đoạn: a) Giai đoạn trước khi nghe; b) Giai đoạn trong khi nghe; c) Giai đoạn sau khi nghe
+ Phương pháp DH nói:
Học ngoại ngữ nói chung và Tiếng Anh nói riêng, nói dường như là kĩ năng quan trọng nhất và khó phát triển nhất Chính vì vậy mà các hoạt động phát triển khả năng tự diễn đạt của người học thông qua nói dường như là một thành phần quan trọng nhất trong việc học ngoại ngữ Giống như kĩ năng nghe, kĩ năng nói cũng được chia ra làm ba giai đoạn: a) Giai đoạn trước khi nói; b) Giai đoạn trong khi nói; c) Giai đoạn sau khi nói
+Phương pháp DH đọc:
Giao tiếp không chỉ qua các kênh khẩu ngữ (nghe và nói) mà còn qua các kênh bút ngữ (đọc và viết) nữa.Trong học ngoại ngữ, đọc có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó cung cấp kiến thức về ngôn ngữ và xã hội cho các kĩ năng khác như viết, nói và nghe Có nhiều kiểu đọc và các kiểu đọc này được
Trang 36phân chia dựa vào hai thông số chính: đọc theo phong cách và theo mục đích Đọc theo phong cách bao gồm đọc to và đọc thầm Đọc theo mục đích bao gồm đọc rộng, đọc sâu, đọc lướt, đọc quét
Để đọc có hiệu quả, kĩ năng đọc hiểu được chia làm ba giai đoạn: a) Giai đoạn trước khi đọc; b) Giai đoạn trong khi đọc; c) Giai đoạn sau khi đọc
+ Phương pháp DH viết:
Viết là một kĩ năng vô cùng phức tạp Trong khi viết, người viết phải
có kiến thức và phải quan tâm đến nhiều nội dung như cú pháp (cấu trúc câu, danh giới câu, lựa chọn văn phong), ngữ pháp (thì, thể, thức, và thái của động
từ, sự hòa hợp giữa chủ ngữ, và động từ, mạo từ, đại từ), nội dung bài viết (lấy ý, bắt đầu viết, viết nháp, viết lại …), độc giả (ai sẽ là người đọc bài viết?) mục đích viết (viết để làm gì?), chọn từ ngữ, tổ chức bài viết, các khía cạnh cơ học Có một số đường hướng dạy viết như: viết từ kiểm soát đến tự
do, viết tự do, viết theo mẫu đoạn văn, viết theo tổ chức ngữ pháp – cú pháp, viết theo đường hướng giao tiếp, viết theo quá trình
Phương pháp thực hành dạy viết Tiếng Anh là sự kết hợp của nhiều đường hướng trong đó có đường hướng viết giao tiếp và đường hướng viết theo quá trình được xem là chủ đạo Đường hướng này được dựa trên bốn điểm quan trọng như: tại sao lại viết?; người ta viết để giao tiếp với độc giả; người ta viết để hoàn thành những mục đích cụ thể; viết là một quá trình phức tạp Với quan điểm này, viết được xem như là một hành động giao tiếp
1.5 Vị trí, vai trò của môn Tiếng Anh trong nhà trường THPT
Trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập với khu vực và quốc tế Trong những điều kiện cần thiết để hội nhập phát triển thì ngoại ngữ là điều kiện tiên quyết, là công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu Biết ngoại ngữ có thể giúp được chúng ta học hỏi kinh nghiệm hay của các nước đi trước, rút ngắn quãng đường tiếp cận với khoa học công nghệ tiên tiến, tránh lặp lại nhưng bước đi không cần thiết trong tiến
Trang 37trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặt khác cũng tạo ra cơ hội cho từng người dân có thể lựa chọn, tìm kiếm việc làm trong nước và ngoài nước, giúp con ngươig phát triển những giá trị nhân văn, giá trị văn hóa, đặc biệt
là tạo cơ hội cho thế hệ trẻ của nước ta có thể theo học, nghiên cứu mở mang kiến thức ở bất cứ nơi đâu hứa hện tương lai tốt đẹp cho cá nhân và những cống hiến thực sự cho đất nước Để hòa nhập vào sự phát triển chung của xã hội, tìm cho mình một chỗ đứng thực sự trong xã hội ngày nay, chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến việc dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách của thực tiễn, Đảng và Chính phủ
đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết đẩy mạnh việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta nhằm phuc vụ tích cực hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ngày 11/4/1968 thủ tướng chính phủ đã ra chỉ thị số 43/TT về phương hướng nhiệm vụ dạy và học ngoại ngữ ở các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và các trường PTTH
Ngày 7/9/1972 Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 521/TT về việc cải tiến và tăng cường công tác dạy học ngoại ngữ trong các trường phổ thông
Ngày 11/5/2011 Bộ giáo dục và Đào tạo đã ra thông tư số 3668/VP về “
Kế hoạch triển khai nghị quyết số 40/2000.QH 10 của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông”, và giao cho Viện Khoa học giáo dục (Nay là Viên chiến lược và Chương trình giáo dục) chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ dự thảo đề án “Giảng dạy học tập ngoại ngữ trong trường phổ thông”
Ngày 30 tháng 9/2008 Bộ giáo dục và Đào tạo đã ra quyết định số 1400/ QĐ- TTg phê duyệt “ Đề án giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2008 -2020”
Trang 38Ngoại ngữ được qui định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ sử phổ biến trong giao dịch quốc tế Ở trường THPT thì ngoại ngữ là môn học bắt buộc Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường phải đảm bảo để người học được học liên tục và có hiệu quả, hoạt động dạy và học ngoại ngữ là một hoạt động phức tạp, người học cần phải tái tạo lại một ngôn ngữ cụ thể
Trình độ văn hóa bao gồm trình độ học vấn bộ môn và năng lực tư duy
Bộ môn ngoại ngữ có mục đích nâng cao hiểu biết của người học trong hai lĩnh vực chủ yếu là ngôn ngữ học và đất nước học đồng thời góp phần nâng cao năng lực tư duy của họ
Sau khi hoàn thành chương trình học lớp 12, học sinh phải sử dụng được Tiếng Anh thể hiện qua việc đọc hiểu các tài liệu như sách, báo phù hợp với trình độ được học, có khả năng giao tiếp bằng tiếng nước ngoài trong các tình huống hàng ngày góp phần hỗ trợ cho việc học tập các môn học khác, phát triển trí tuệ cần thiết để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động
1.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy-học môn Tiếng Anh ở trường THPT
1.6.1 Bối cảnh chung
Trong thời đại hội nhập ngày nay, ngoại ngữ và tin học là đôi cánh để con người bay vào tương lai Ngoại ngữ là phương tiện hữu hiệu để chúng ta giao tiếp với các quốc gia khác, để chúng ta hiểu biết họ, tiếp thu những nền khoa học kỹ thuật tiến bộ, cảm thụ cái hay trong văn hóa của họ, từ đó chúng
ta có thể học hỏi, hợp tác với thế giới trong mọi lĩnh vực
Xuất phát từ tư thể sẵn sàng hội nhập, theo “ Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008- 2020” mục tiêu chung của dạy và học ngoại ngữ là: “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một
Trang 39bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
Mục tiêu cụ thể của cấp học phổ thông: “ Triển khai thực hiện chương trình giáo dục 10 năm, bắt đầu từ lớp 3 môn ngoại ngữ bắt buộc ở các cấp học phổ thông Từ năm 2010 – 2011 triển khai dạy ngoại ngữ theo chương trình mới cho khoảng 20% số lượng học sinh lớp 3 và mở rộng dần quy mô để đạt khoảng 70% vào năm học 2015 – 2016; đạt 100% vào năm 2018 – 2019;”
Tóm lại, trong thời đại ngày nay nếu không biết ngoại ngữ thì đồng nghĩa với tụt hậu Chính vì vậy việc dạy học môn Tiếng Anh trở nên thuận lợi trong sự quan tâm của xã hội nhưng mặt khác nó cũng đòi hỏi trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên ngày càng phải nâng cao để đáp ứng được nhu cầu của người học
1.6.2 Người dạy
Đội ngũ giáo viên dạy Tiếng Anh ở các trường THPT là những đã được đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ đạt trình độ cử nhân Họ được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm, được cung cấp những tri thức tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học dạy học phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn Trong quá trình giảng dạy, giáo viên mang chức năng chỉ đạo, hướng dẫn học sinh Chất lượng giảng dạy của GV quyết định chất lượng các giờ lên lớp
1.6.3 Người học
Học sinh THPT ở lứa tuổi từ 14- 15 đến 17- 18, các em học chương trình lớp 10 đến lớp 12 Ở lứa tuổi này các em đang trưởng thành về thể lực cũng như về tâm sinh lý Vì thế có thể nhận thấy từ khi các em vào lớp 10 cho
Trang 40đến lớp 12 cơ thể các em đang trưởng thành và dần hoàn thiện, phát triển chiều cao, cân nặng, sức vóc tăng dần Về tâm sinh lý cũng chuyển sang những nét tâm sinh lý của người lớn Các em ý thức được bản thân nhiều hơn,
có nhu cầu tự khẳng định cá nhân ngày càng cao
Hoạt động học tập của các en dần được nâng cao cả về lượng kiến thức
và phương pháp học tập Ở cấp THPT đòi hỏi các em phải có tính tự giác, độc lập cao trong học tập thì mới đáp ứng được yêu cầu về kiến thức của cấp học
1.6.4 Sự quan tâm và tổ chức quản lý của nhà trường đối với bộ môn Tiếng Anh
1.6.4.1 Sự quan tâm của nhà trường
Nhà trường phải luôn quan tâm và giáo dục cho giáo viên và học sinh nhận thức được tầm quan trọng của Tiếng Anh trong bối cảnh xã hội hiện nay
Sự quan tâm của nhà trường nên thể hiện ở một số mặt cụ thể sau:
Giáo viên Tiếng Anh được biên chế vào một tổ là tổ ngoại ngữ và Nhà trường phân công một phó Hiệu trưởng phụ trách tổ ngoại ngữ
Nhà trường cung cấp đủ sách giáo khoa, sách bài tập, sách hướng dẫn, sách tham khảo cho giáo viên và học sinh học Tiếng Anh cũng như bổ sung thường xuyên các đầu sách mới cho thư viện nhà trường
Nhà trường tạo điều kiện đến mức tối đa thiết bị và phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy và học Tiếng Anh
Các giáo viên Tiếng Anh được tham dự đầy đủ các lớp bồi dưỡng chuyên môn do Bộ giáo dục, Sở giáo dục tổ chức Nhà trường động viên tạo điều kiện cho giáo viên Tiếng Anh tiếp tục học trên chuẩn
Nhà trường chỉ đạo và yêu cầu tổ ngoại ngữ tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hội thảo, các câu lạc bộ phù hợp với đặc trưng môn Tiếng Anh
1.6.4.2 Tổ chức quản lý của nhà trường đối với bộ môn Tiếng Anh
Cùng với các bộ môn khác trong nhà trường THPT, bộ môn Tiếng Anh được tổ chức quản lý như sau: