LỜI CẢM ƠN Tôi xin được chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Công tác Sinh viên của trường Đại học Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các cán bộ, giảng viên đã giả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN NGỌC HÀ
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BƯỚC CHUẨN BỊ
ĐỂ TRIỂN KHAI ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN NGỌC HÀ
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BƯỚC CHUẨN BỊ
ĐỂ TRIỂN KHAI ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Phạm Viết Vượng
HÀ NỘI - 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Công tác Sinh viên của trường Đại học Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các cán bộ, giảng viên đã giảng dạy, hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn khoa học này
Đặc biệt, tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của PGS TS Phạm Viết Vượng, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn khoa học của mình
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp trong cơ quan, các bạn học đã cùng chung sức, góp ý kiến trong suốt quá trình tôi thực hiện nghiên cứu luận văn
Cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô trong Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các đơn vị đào tạo của trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Cảm ơn sự cộng tác, giúp đỡ của các cán bộ quản lý, giảng viên và các
em sinh viên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong quá trình thực hiện luận văn của tôi
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn này vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả mong nhận được ý kiến chỉ bảo của các thầy cô, các nhà khoa học, đóng góp của bạn bè đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Ngọc Hà
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trường Đại học Sư phạm Hà
Nội
36
Bảng 2.1 Kết quả điều tra về thực trạng công tác tuyên truyền bồi
Bảng 2.2 Thực trạng công tác kế hoạch chuẩn bị thực hiện đào tạo
theo tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 45 Bảng 2.3 Kết quả điều tra thực trạng công tác bồi dưỡng cho cán
bộ giảng viên và sinh viên về các vấn đề của đào tạo
theo tín chỉ
47
Bảng 2.4 Kết quả điều tra tình hình cơ sở vật chất phục vụ cho
đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 50 Bảng 2.5 Kết quả điều tra tình hình chỉ đạo đổi mới phương pháp
dạy học cho giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 52 Bảng 2.6 Kết quả điều tra ý kiến về công tác thanh kiểm tra đối với
quá trình chuẩn bị để thực hiện đào tạo theo tín chỉ 55 Bảng 2.7 Kết quả điều tra đánh giá về đổi mới của Phòng đào tạo
và của các khoa theo yêu cầu của đào tạo theo tín chỉ 57 Bảng 3.1 Mô tả quỹ thời gian sử dụng môn học trong học kỳ
Bảng 3.2 Mô tả quỹ thời gian sử dụng môn học trong học kỳ sau
Bảng 3.4 Các tiêu chí đánh giá ý nghĩa và tính khả thi của các
Bảng 3.6 Kết quả đánh giá tính khả thi của các biện pháp
Trang 6MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Mục đích nghiên cứu 10
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 10
5 Giả thuyết khoa học 11
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
7 Phương pháp nghiên cứu 11
8 Cấu trúc luận văn 12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BƯỚC CHUẨN BI ̣ ĐỂ TRIỂN KHAI ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 13 1.1 Tổng quan vấn đề tổ chức đào ta ̣o theo ho ̣c chế tín chỉ 13
1.2 Các khái niệm công cụ 17
1.2.1 Tín chỉ - Credit 17
1.2.2 Đào tạo theo học chế tín chỉ 19
1.2.3 Quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ 21
1.3 Tính tất yếu của việc triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ 27
1.3.1 Đào tạo theo niên chế và những hạn chế của nó 27
1.3.2 Ưu, nhược điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ 28
1.4 Điều kiện để triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ và vai trò của quản lí trong quá trình chuẩn bị đào tạo theo học chế tín chỉ 32
1.4.1 Điều kiện để thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ 32
1.4.2 Quản lí cơ sở giáo dục đại học 33
1.4.3 Vai trò của quản lí đến quá trình chuẩn bị để triển khai đào tạo theo tín chỉ 35
Tiểu kết chương 1 37
Trang 7Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ ĐỂ TRIỂN
KHAI ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI
HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 38
2.1 Khái quát về trường Đại học Sư phạm Hà Nội 38
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 38
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 40
2.1.3 Hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 43
2.1.4 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 45
2.2 Thực trạng công tác chuẩn bị để triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 45
2.2.1 Thực trạng công tác tuyên truyền, bồi dưỡng cho cán bộ, giảng viên và sinh viên về đào tạo theo học chế tín chỉ 46
2.2.2 Thực trạng các biện pháp quản lý để chuẩn bị đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 49
2.4 Nhận xét về thực trạng 64
2.4.1 Những mặt mạnh 64
2.4.2 Những hạn chế 65
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 66
2.4.4 Bài học kinh nghiệm 66
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BƯỚC CHUẨN BỊ ĐỂ TRIỂN KHAI ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 71
3 1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 71
3.1.1 Nguyên tắc tính kế thừa 71
Trang 83.1.2 Nguyên tắc tính toàn diện 72
3.1.3 Nguyên tắc tính hiệu quả 73
3.1.4 Nguyên tắc tính khả thi 73
3.2 Các biện pháp quản lý bước chuẩn bị để triển đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 74
3.2.1 Bồi dưỡng, huấn luyện nhằm nâng cao nhận thức và kỹ thuâ ̣t tổ chức đào tạo theo tín chỉ cho cán bộ, giảng viên và sinh viên 74
3.2.2 Xây dựng mô hình tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ 79
3.2.3 Khuyến khích đổi mới phương pháp dạy ho ̣c 87
3.2.4 Tăng cường cơ sở chất phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ 88
3.2.5 Quản lý chă ̣t chẽ việc kiểm tra, đánh giá theo học chế tín chỉ 91
3.3 Khảo nghiê ̣m tính khả thi của các biện pháp đề xuất 97
3.3.1 Khái quát về khảo nghiệm 97
3.3.2 Kết quả khảo nghiê ̣m 100
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104
Kết luận 104
Khuyến nghị 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ
về “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2020” đã đă ̣t ra mô ̣t nhiê ̣m vu ̣ quan tro ̣ng cho các trường đại học và cao đẳng
2006-là phải: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ
thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài”, tiếp đó Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế
đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, theo Quyết định số 43/2007/Bộ GD&ĐT ngày 15/8/2007
Chỉ thị số 53/CT ngày 17/9/2007 của Bộ GD&ĐT yêu cầu các trường đại học phải tập trung triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ và phải hoàn thành vào năm 2010 Như vậy, việc chuyển từ hình thức đào ta ̣o theo niên chế sang học chế tín chỉ hiện nay là nhiê ̣m vu ̣ cấp bách yêu cầu các trường đại học, cao đẳng phải gấp rút chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức thực hiê ̣n
Về mă ̣t lý thuyế t quản lý đào tạo đại học theo học chế tín chỉ phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
1 Khai thác triê ̣t để các thành tố của quá trình đào tạo phục vụ cho mục tiêu của học chế tín chỉ
2 Vận hành tốt bô ̣ máy quản lý đào tạo để đáp ứng được các yêu cầu của học chế tín chỉ
3 Mọi cá nhân và bộ phận tham gia vào quá trình đào tạo phải được trang bị tốt về lí thuyết và kĩ năng thực hành quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
Trang 10Từ các yêu cầu trên đây cho thấy, để tổ chức đào tạo theo tín chỉ, các trường đại học phải có sự chuẩn bị chu đáo về mo ̣i mă ̣t và phải phát huy tốt vai trò của các bộ phận và cá nhân tham gia quản lí đào ta ̣o
Cũng như một số các trường đại học khác , từ năm học 2009 – 2010, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ cho gần 2.500 sinh viên khóa 59 của nhà trường Song song với những kết quả cơ bản đã đa ̣t được , nhà trường đã gă ̣p những khó khăn, với nhiều tình huống phức tạp nảy sinh, tạo nên những luồng ý kiến khác nhau trong giảng viên và sinh viên
Do thiếu kinh nghiê ̣m tổ chức thực hiê ̣n, nên bô ̣ phâ ̣n quản lý đào ta ̣o của nhà trường có những lúng túng trong bước triển khai, dù sao công viê ̣c đã bắt đầu nên phải tìm mọi cách để khắc phu ̣c, vượt qua Trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay trường Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m Hà Nô ̣i coi đây là nhiệm vụ chuyên môn quan trọng bâ ̣c nhất
Xuất phát từ thực tế nêu trên, là một chuyên viên của Phòng Đào tạo
chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý bước chuẩn bị để triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội“ làm đề tài
luận văn cao ho ̣c, với mong muốn góp một phần nhỏ bé công sức của mình vào viê ̣c nâng cao chất lượng quản lý đào tạo theo ho ̣c chế tín ch ỉ ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý đào tạo tại các trường đại học, luận văn đề xuất các biện pháp quản lí đào tạo nhằm góp phần triển khai có hiệu quả quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học
Trang 113.2 Đối tượng nghiên cứu
Biê ̣n pháp q uản lí đào tạo theo theo yêu cầu của học chế tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Các số liệu thống kê được giới hạn trong 3 năm học gần đây
5 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm
Hà Nội gă ̣p nhiều khó khăn, bất cập, do nhiều nguyên nhân , trong đó có nguyên nhân thuô ̣c về công tác quản lý đào tạo , nếu ta đề xuất được và sử dụng đồng bộ các biện pháp hướng vào các thành tố tham gia của quá trình đào tạo thì có thể nâng cao được chất lượng đào tạo của nhà trường
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá các tài liệu lí luận và pháp lý về quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường đại học
- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Đề xuất các biện pháp quản lí bước chuẩn bi ̣ để triển khai đào tạo theo
học chế tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu lý luận và các văn bản pháp quy, các quy định của nhà nước về quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
Trang 127.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, điều tra, khảo sát để xác định những khó khăn khi thực hiện đào tạo theo tín chỉ và những tồn tại trong quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Phân tích, tổng kết kinh nghiệm quản lí đào tạo của trường Đại học Sư phạm Hà Nội và của một số trường đại học đã thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ
- Lấy ý kiến các chuyên gia, giảng viên, cán bộ quản lí, sinh viên về các biê ̣n pháp quản lý bước chuẩn bi ̣ để triển khai đào ta ̣o theo học chế tín chỉ
7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ
Sử dụng toán thống kê, chương trình phần mềm SPSS để xử lý số liệu thu được từ các phương pháp khác nhau
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn có cấu trúc gồm
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BƯỚC CHUẨN BI ̣
ĐỂ TRIỂN KHAI ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
1.1 Tổng quan vấn đề tổ chức đào ta ̣o theo ho ̣c chế tín chỉ
Vào cuối thế kỉ 19, ở Hoa Kỳ số lượng học sinh tốt nghiê ̣p bâ ̣c trung học phổ thông ghi tên vào học tại các trường đại học ngày mô ̣t tăng, đã tạo ra áp lực lớn cho viê ̣c tuyển sinh của các trường đại học Hệ thống tín chỉ ra đời để ghi lại năng lực học tập của học sinh trung học, giúp các trường đại học có căn cứ để xét tuyển sinh viên theo yêu cầu của nhà trường đặt ra
Do hiê ̣u quả của nó , hệ thống tín chỉ dần dần thâm nhập vào các trường đại học, lúc đầu chỉ để ghi lại kết quả học tập các môn học mà sinh viên lựa chọn, sau đó là để theo dõi các bước phát triển năng lực học tập của sinh viên,
và cuối cùng là để ghi nhâ ̣n hiệu quả đào tạo của nhà trường Từ đó hệ thống tín chỉ được mở rộng ra tất cả các môn học có trong chương trình đào ta ̣o ở tất
cả các trường đại học và dần dần trở thành phương thức đào tạo chính thức, thay thế cho phương thức đào tạo truyền thống mà các trường đại học ở Hoa
Kỳ mang từ châu Âu sang
Có thể phân lịch sử phát triển hệ thống đào ta ̣o theo tín chỉ ở Hoa Kỳ thành ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1 từ năm 1873 đến năm 1908 là giai đoạn giải quyết áp lực xuất phát từ các kỳ tuyển sinh vào các trường đại học và giải quyết mối quan
hệ liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục đại học
- Giai đoạn 2 từ năm 1908 đến năm 1910 là giai đoạn đề xuất và thực hiê ̣n các tiêu chuẩn học tập cho các môn học ở các trường phổ thông, để làm căn cứ tuyển sinh vào các trường đại học
- Giai đoạn 3 từ 1910 đến nay là giai đoạn áp dụng học chế tín chỉ mô ̣t cách đa ̣i trà vào tất cả các chương trình trung học và đại học
Trang 14Hệ thống đào tạo theo tín chỉ ở Hoa Kỳ hình thành từ ba nguyên nhân:
- Mô ̣t là do phải xử lý sự đa dạng về nhu cầu ho ̣c tâ ̣p và sự gia tăng về số lượng học sinh trung học phổ thông ghi tên vào các trường đại học trong khi vẫn phải duy trì những chuẩn mực chung về chất lượng giáo dục
- Hai là do muốn có một cuộc cải cách giáo dục đại học với những chương trình “mở”, trong đó phải đào ta ̣o những môn học mà xã hội cần, có tính “mềm dẻo” để người học có thể lựa chọn vào những chuyên ngành phù hợp và những môn học họ thấy cần thiết, để phục vụ cho viê ̣c phát triển nghề nghiệp của họ trong tương lai
Chương trình đào ta ̣o theo ho ̣c chế tín chỉ về cơ bản khác với chương trình đào tạo truyền thống với những đặc điểm “đóng”, trong đó người học vào trường và ra trường đồng loạt, không có thêm bất kì sự lựa chọn, hoă ̣c thay đổi nào khác về chuyên ngành và về các môn học
- Ba là do yêu cầu của nhà nước , của các nhà tài trợ, của các cơ sở sử dụng nhân lực về chất lượng đào ta ̣o, buộc các trường đại học phải thiết kế ra những đơn vị đo chất lượng đào ta ̣o mô ̣t cách tường minh và có trách nhiệm hơn
Đến nay học chế đào tạo theo tín chỉ đã được phát triển và trở thành một
hệ thống đào tạo, như một công cu ̣ đo lường trong giáo dục đại học ở Hoa Kỳ Vượt ra ngoài biên giới Hoa Kỳ, đào tạo theo học chế tín chỉ đã được áp dụng rô ̣ng rãi ở châu Âu từ những năm 1960 Hơn 40 quốc gia có các cơ sở đào tạo đại học, vì vậy việc áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ cũng có những khác nhau
Ở các nước Bắc Âu các chương trình đào ta ̣o được xây dựng giống như những gì được mô tả trong các chương trình đại học ở Hoa Kỳ [28]
Ở Phần Lan thời lượng của các chương trình đào ta ̣o được tính theo tín chỉ (“opintoiikko”, nghĩa là “tuần học tập”) Một tín chỉ (mô ̣t “tuần học tập”) gồm khoảng 40 giờ học, bao gồm các hoạt động như học lý thuyết, thảo luận,
Trang 15thực hành làm bài tập, xêmina, tự học v.v Tổng số tín chỉ mà sinh viên phải tích lũy để được cấp bằng cử nhân là 120
Ở Thụy Điển hệ thống điểm tín chỉ (poang) dựa trên hệ thống điểm tín chỉ của Hoa Kỳ, trong đó một tín chỉ bao gồm khoảng 40 giờ học và số lượng tín chỉ một sinh viên phải tích lũy để được cấp bằng cử nhân là 120 – 140
Hệ thống tín chỉ ở các nước như Hà Lan, Na Uy khối lượng học tập của sinh viên trên một học kì được tính theo đơn vị tín chỉ (“vettall”)
Ở Pháp, sử dụng đơn vị tín chỉ (unite de valeur – nghĩa là đơn vị giá trị)
để đo khả năng hoàn thành công việc học tập của sinh viên theo học kì cho cả những môn học bắt buộc và những môn học tự chọn
Ở Anh, người ta còn đi xa hơn nữa, một mặt họ áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ, mặt khác họ chủ trương module hóa toàn bộ chương trình đào tạo ở bậc đại học
Ở các nước còn lại như Italia, Tây Ban Nha Đức và Bồ Đào Nha và khối Đông Âu cũng đã bắt đầu chuyển phương thức đào tạo truyền thống sang phương thức đào tạo theo tín chỉ [28]
Ở Châu Âu chủ trương đa dạng hóa giáo dục đại học, khuyến khích sự di chuyển ngành nghề học tập của sinh viên và sự trao đổi kiến thức giữa các trường đại học
Để tạo điều kiện cho việc đào ta ̣o theo tín chỉ , năm 1992 Hệ thống chuyển đổi tín chỉ Châu Âu (European Credit Transfer System – ECTS) được thiết kế và thí điểm trong 6 năm, thu hút sự tham gia của 145 trường đại học, tập trung vào 5 lĩnh vực: quản trị kinh doanh, hóa học, lịch sử, cơ khí, và y học Sau 6 năm, ECTS phát triển mạnh đã thu hút sự tham gia của nhiều trường đại học, đến nay số lượng thành viên tham gia vào hệ thống ECTS đã lên đến hàng nghìn
Trang 16Ở Châu Á, học chế tín chỉ cũng đã được áp dụng rô ̣ng rãi ở Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Phillipine, Trung Quốc
Phương thức đào tạo theo tín chỉ cũng được áp dụng tại các nước thuộc khối Liên hiệp Anh ở Nam Thái Bình Dương như Australia, New Zealand v.v…
Việc áp dụng hệ thống đào tạo theo học chế tín chỉ phản ánh quan điểm
“da ̣y ho ̣c lấy người học làm trung tâm”, người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tìm tòi kiến thức, nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động xã hội Nó cho phép sinh viên lựa chọn những môn học có trong chương trình, nếu những môn học đó có thể thay thế được cho nhau và hữu ích như nhau
Ở nước ta, trước năm 1975 một số trường đại học đã áp dụng học chế tín chỉ như Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức…
Từ năm học 1993 -1994 các trường đại học Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học dân lâ ̣p Thăng Long; Đại học Xây dựng Hà Nội,… đã thí điểm đào tạo theo học chế tín chỉ
và bước đầu đã thu được những kết quả nhất định
Nhâ ̣n thức được vai trò và hiệu quả của cách thức đào tạo này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chỉ thị yêu cầu các trường đại học triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ và phải hoàn thành vào năm 2010 [2] Tính đến ngày 15/08/2010 cả nước mới có hơn 40/407 trường đại học, cao đẳng chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ [1] Con số đạt được như vậy là rất khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 10%, điều đó đồng nghĩa với viê ̣c triển khai đào ta ̣o theo học chế tín chỉ ở các trường đại học, cao đẳng nước ta đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cần nghiên cứu để tháo gỡ
Thực hiện chủ trương của Bô ̣ Giáo dục và Đào tạo , trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã cử nhiều đoàn cán bộ đi học hỏi kinh nghiệm chuyển đổi, tổ
Trang 17chức đào tạo theo tín chỉ ở các trường đại học trong nước và ngoài nước, đồng thời từng bước chuẩn bị các công việc cần thiết cho việc chuyển đổi này Qua gần 2 năm chuẩn bi ̣ và thực hiê ̣n phương thức đào tạo mới cho thấy mô hình quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường có nhiều bất câ ̣p như: giảng đường, hệ thống lớp ho ̣c, lớp trưởng, hệ thống tính điểm, chương trình đào tạo, môn học tiên quyết, hủy lớp, đăng kí học lại cho sinh viên, tính giờ giảng cho giáo viên, chưa có cách giải quyết cụ thể
Về mă ̣t lý thuyết cho đến nay ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu về đào ta ̣o theo ho ̣c chế tín chỉ, nếu có thì chủ yếu chỉ là bài viết mang tính hướng dẫn, các báo cáo tại các hội thảo hay tổng kết kinh nghiê ̣m thực tiễn
Do vâ ̣y, chúng tôi thấy cần phải tiến hành mô ̣t công trình nghiên cứu toàn diện, cơ bản về cả hai phương diê ̣n lý thuyết và thực tiễn , để tìm ra các biê ̣n pháp quản lí có hiệu quả , góp phần nâng cao chất lượng đào ta ̣o nguồn nhân lực cho đất nước
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Tín chỉ - Credit
Trong các tài liệu hiê ̣n nay có nhiều định nghĩa khác nhau về tín chỉ, các định nghĩa nhấn ma ̣nh các khía cạnh như: định tính, định lượng, chuẩn đầu ra của sinh viên tốt nghiê ̣p, mục tiêu của chương trình đào ta ̣o
Theo các tài liê ̣u của Đại học Quốc Gia Hà Nội: “Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: học tập trên lớp, học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên); và tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài v.v…” Như vâ ̣y t ín chỉ là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn (ĐHQGHN 2006: 1) [28]
Trang 18Theo trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh: “Tín chỉ là một đơn vị dùng để lượng hoá khối lượng làm việc bắt buộc đối với một sinh viên để đạt được các yêu cầu của các hoạt động giảng dạy và học tập Một tín chỉ được quy định bằng một giờ lý thuyết trong một tuần trong suốt học kỳ, hoặc 2 đến 3 giờ bài tập, thực hành và thời gian tự học cần thiết theo ước lượng chung của trường’’[9, tr 15]
Học viện Tài chính Hà Nội định nghĩa: “Tín chỉ là đại lượng xác định khối lượng kiến thức, kĩ năng (trung bình) mà sinh viên tích lũy được từ học phần trong 15 giờ tín chỉ (cùng loại hoặc khác loại), được thực hiện mỗi tuần
01 giờ tín chỉ và kéo dài trong một học kì gồm 15 tuần” [19]
Tại Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ban hành kèm theo quyết định số 2895/QĐ-ĐHSPHN ngày 30/09/2009 của Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội thì khái niệm về tín chỉ được định nghĩa: “Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được qui định bằng 15 tiết chuẩn, cụ thể như sau: Một tiết chuẩn tương đương với 01 tiết lí thuyết hoặc 02 tiết bài tập, thực hành hoặc 03 tiết thảo luận Tỉ lệ số tiết lí thuyết, bài tập, thực hành và thảo luận đối với từng học phần do trưởng khoa đề xuất và được Hiệu trưởng phê duyệt Đối với các học phần có cả lý thuyết, thảo luận và thực hành: tổng số tiết lên lớp sau khi quy đổi là 20 tiết Đối với các học phần khoa học Mác Lênin: tuân theo quy định số 52/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18/09/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Để tiếp thu 01 tín chỉ sinh viên cần 30 giờ tự học, tự nghiên cứu”
Một định nghĩa được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam đó là của học giả người Mĩ gốc Trung Quốc là James Quann thuộc Đại học Washington như sau: “Tín chỉ là đại lượng đo toàn bộ thời gian của một người học để hoàn thành một môn học cụ thể, bao gồm thời gian lên lớp; thời gian làm viê ̣c trong phòng thí nghiệm, thực hành, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu và thời gian dành cho tự ho ̣c , tự nghiên cứu, giải quyết
Trang 19vấn đề, viết tiểu luâ ̣n hoặc chuẩn bị bài Đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài ) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học thực hành , thí nghiệm, ít nhất
là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là
3 giờ làm việc trong một tuần” (Bản dịch của Bộ giáo dục và Đào tạo) [5] Theo Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày
15/08/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì: “Tín chỉ được sử dụng để tính
khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học
lý thuyết; 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được 1 tín chỉ, sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân”[3]
Như vậy, từ các đi ̣nh nghĩa trên cho thấy tín chỉ là một đơn vị chuẩn
dùng để lượng hoá khối lượng làm việc bắt buộc của sinh viên bao gồm 3 thành tố: thời gian học lý thyết trên lớp (giờ lý thuyết); thời gian thực hành (làm bài tập, thí nghiệm ), thời gian tự học của mỗi sinh viên cho một môn học
1.2.2 Đào tạo theo học chế tín chỉ
sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Về
cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục nhân cách” [27, tr 289]
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức,
Trang 20kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền
đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và có hiệu quả.” [6, tr 45]
Theo tác giả Pha ̣m Viết Vượng thì “Đào tạo là quá trình triển khai các chương trình huấn luyện chuyên môn, nghiệp vụ, nhằm giúp cho người học nắm vững hệ thống kiến thức chuyên môn , hình thành hệ thống kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để đáp ứng các yêu cầu hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ sau khoá học” [30, tr.18]
Như vâ ̣y, đào tạo là khái niệm liên quan đến quá trình chuẩn bi ̣ nguồn nhân lực xã hô ̣i , được tiến hành ở các cơ sở giáo dục theo một chương trình được xây dựng cho các lĩnh vực chuyên môn nhất đi ̣nh, trong đó đào ta ̣o ở các trường đa ̣i ho ̣c, cao đẳng giữ vai trò quan tro ̣ng
1.2.2.2 Đào tạo theo học chế tín chỉ
Đào tạo theo học chế tín chỉ là cách đào tạo cho phép sinh viên chủ động học tâ ̣p theo điều kiện và năng lực của mình Những sinh viên giỏi có thể học theo đúng hoặc học vượt kế hoạch học tập toàn khóa, kế hoạch học tập từng học kỳ theo gợi ý của nhà trường, để tốt nghiệp theo đúng thời gian chuẩn của chương trình hoặc sớm hơn Những sinh viên bình thường và yếu có thể kéo dài thời gian học tập trong trường và tốt nghiệp muộn hơn
Vì thế, sinh viên phải tự lập kế hoạch học tập toàn khóa và từng học kỳ cho phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của bản thân dưới sự giúp đỡ của giáo viên chủ nhiệm hay cố vấn học tập Toàn bộ hệ thống quản lý đào tạo, quản lý sinh viên vì thế phải vận hành theo yêu cầu riêng của từng sinh viên làm cho quá trình quản lý trở nên hết sức phức tạp so với đào tạo theo học phần - niên chế
Chương trình đào tạo của tất cả các ngành được mô đun hóa thành những học phần; lịch trình giảng dạy phải thực hiện hết sức chính xác, không được đổi giờ hoặc bỏ giờ; mỗi giảng viên, mỗi sinh viên đều có thời khóa
Trang 21biểu riêng v.v Vì thế, nếu trước kia sinh viên phải “chạy” theo kế hoạch của nhà trường thì bây giờ nhà trường phải “chạy” theo kế hoạch riêng của mình Khi triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ, trong học kỳ thứ nhất và thứ hai, các nhà trường đều gặp phải những khó khăn nhất định, đó cũng là điều tất yếu, vì đào tạo theo học chế tín chỉ yêu cầu một hệ thống quản lý khoa học, chặt chẽ, linh hoạt và mềm dẻo Đào tạo theo tín chỉ còn đòi hòi cả người dạy
và người học phải thay đổi phương pháp dạy và học, chuyển từ bị động sang chủ động một cách nghiêm túc
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ, chỉ có thể thành công, đi vào thế ổn định
và phát triển, khi có sự chỉ đạo rất kiên quyết và khoa học của Ban giám hiệu, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Hiệu trưởng, sự phối hợp đồng bộ giữa các đơn vị trong trường, đội ngũ giảng viên nhận thức được trách nhiệm và tham gia vào quá trình đào tạo một cách tự giác, bằng cả tấm lòng của người thầy
1.2.3 Quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ
1.2.3.1 Quản lý
Trong mọi hoạt động của con ngưới thì quản lý là một trong những hình thức lao động quan trọng nhất, vì nó điều khiển các hoạt động lao động khác Hoạt động của con người càng đa dạng bao nhiêu thì các biện pháp quản lý càng phong phú bấy nhiêu
Khái niệm “quản lý” đã được các nhà triết học, các nhà khoa học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào phương pháp tiếp cận
Theo F.W Taylor: Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm
và sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất [18, tr 12]
H Koontz thì khẳng định: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) [18, tr 12]
C Mác nhận định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
Trang 22chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một
sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng ”
[18, tr 12]
Khái quát các nghiên cứu trên, tác giả luận văn thống nhất với quan
niệm: Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ
chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động [23]
Quan niệm này nhấn mạnh những khía cạnh sau đây của quản lí:
- Quản lí có hình thức thực thể là những hoạt động do chủ thể quản lí thực hiện thông qua các chức năng quản lí: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Điều đó có nghĩa không có những hoạt động này, chưa có hoạt động quản
lí trên thực tế, chưa có cơ sở để khẳng định hoạt động quản lí đã xảy ra
- Quản lí thể hiện tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể quản lí Điều này được thể hiện ở những tác động hướng đích có chủ định do chủ thể quản lí thực hiện và những mục tiêu mà chủ thể quản lí xác định Tuy nhiên, những tác động này của chủ thể chỉ có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở nhận thức của chủ thể về các qui luật khách quan trong lĩnh vực hoạt động của mình
- Quản lí đồng nghĩa với sự thay đổi có chủ định cho tổ chức và bằng những tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí cũng như trong việc khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực của tổ chức
1.2.3.2 Quản lí đào tạo
Quản lí đào tạo là quá trình cơ sở đào ta ̣o xây dựng mục tiêu, kế hoạch đào ta ̣o, tổ chức, chỉ đạo giảng viên và sinh viên thực hiện chương trình và
Trang 23kiểm tra đánh giá các kết quả học tập của sinh viên theo yêu cầu chuẩn mực đã được đề ra trong chương trình
- Mục tiêu của quản lí đào tạo là đảm bảo quyền cho người học được học theo trình độ đào tạo đúng chỉ tiêu, tiêu chuẩn và đảm bảo chỉ tiêu, chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường
- Nội dung của quản lí đào tạo bao gồm:
+ Quản lí hoạt động dạy và giáo dục của người dạy, bao gồm các vấn
đề như: Mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và giáo dục, kết quả dạy học và giáo dục (được kiểm tra, được đánh gía); công tác chuẩn bị và thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục của người dạy
+ Quản lí hoạt động học của người học, bao gồm các vấn đề như: Ý thức thực hiện các nhiệm vụ học tập, các hoạt động do người học thực hiện trong học tập và các hoạt động giáo dục khác do người dạy tổ chức, kết quả học tập, giáo dục (được kiểm tra, được đánh giá)
+ Quản lí các điều kiện hoạt động, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính phục vụ hoạt động dạy học và giáo dục
+ Phát triển tập thể sư phạm đủ và đồng bộ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đời sống cho đội ngũ nhà giáo
+ Phát triển và hoàn thiện các mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội để làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ thông qua hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục khác
1.2.3.3 Quản lí đào tạo theo tín chỉ
Quản lí đào tạo theo tín chỉ là quá trình mà các chủ thể quản lí xây dựng mục tiêu, kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá các kết quả của hoạt động đào tạo nhằm tạo ra mức độ mềm dẻo trong việc cho phép người học chọn tiến độ hoàn tất chương trình đào tạo theo khả năng mình trong việc lựa chọn ngành học, môn học theo nguyện vọng của bản thân
Trong quản lí đào tạo theo tín chỉ, có các yếu tố sau đây:
Trang 24+ Cố vấn học tập
Kể từ khi bước chân vào trường, mỗi sinh viên nhận được sự giúp đỡ của một cố vấn học tập trong suốt thời gian học tại trường Hệ thống cố vấn học tập được thành lập tại các khoa đào tạo nhằm giúp đỡ sinh viên trong việc chọn lựa các môn học, thích hợp với năng lực và hoàn cảnh cá nhân, theo một hướng chuyên môn chính nào đó
+ Đăng ký môn học
Mỗi đầu học kỳ, nhà trường tổ chức cho sinh viên đăng ký các môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của sinh viên và phù hợp với quy định chung của trường nhằm đạt được kiến thức theo một ngành chuyên môn chính nào đó mà sinh viên đã chọn trước
Việc đăng ký môn học của sinh viên phải được cố vấn học tập xác nhận
+ Học phần
Là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích lũy trong quá trình học tập Phần lớn học phần có khối lượng từ 2-4 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong 1 học kì Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế
và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặ được kết cấu dưới dạng
tổ hợp từ nhiều môn học Từng học phần phải được kí hiệu bằng một mã số riêng do từng trường quy định [14]
Tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội qui định cách đánh mã học phần như sau: Mã học phần học gồm 7 kí tự, trong đó 4 kí tự đầu là kí tự chữ là tên viết tắt (bằng tiếng Anh) của khoa phụ trách chương trình, kí tự thứ 5 là kí tự
số thể hiện cấp độ đào tạo, 2 kí tự còn lại thể hiện số thứ tự của học phần trong cấp độ đào tạo đó (nhưng có quy định từ 1-10 là môn chung do trường quản lí; từ 11-99 là môn chuyên ngành do khoa quản lý) Ví dụ: Môn Toán Cao cấp có mã môn: MATH 241 được hiểu là môn học này do khoa Toán phụ trách chương trình, cấp độ 2 và là môn chuyên ngành của khoa [13]
Trang 25+ Điểm học phần
Là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần (gồm điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần) nhân với trọng số tương ứng, sau đó được chuyển thành điểm chữ như bảng 1.1 sau:
Bảng 1.1: Mức điểm đối với môn học
(Nguồn: Quy chế 43 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) + Môn học bắt buộc
Là một môn học của chương trình đào tạo, mà tất cả các sinh viên đều bắt buộc phải theo học và phải đạt yêu cầu
+ Môn học tiên quyết
Các môn học tiên quyết đối với môn học A là các môn học mà sinh viên phải theo trước (và có thể phải đạt yêu cầu) mới được theo học môn học A
Trang 26+ Lớp học phần
Bao gồm các sinh viên học cùng một học phần, có cùng một thời khoá biểu của học phần đó Mỗi lớp học phần được gán một mã số riêng Nếu số lượng sinh viên đăng ký học thấp hơn chuẩn tối thiểu quy định, lớp học sẽ không được tổ chức Những sinh viên này phải đăng ký chuyển sang học những lớp học phần khác có mở lớp nếu chưa đủ qui định về số tín chỉ tối thiểu phải đăng ký của học kỳ
+ Lớp hành chính: Là lớp học bao gồm các sinh viên được tổ chức theo
đơn vị lớp cố định theo khóa tuyển sinh do nhà trường sắp xếp ngay từ đầu khóa học
+ Khoá học
Là thời gian được qui định để sinh viên hoàn tất một chương trình đào tạo Khoá học theo một chương trình đào tạo được qui định số học kỳ chính hay thành số tín chỉ tối thiểu phải tích luỹ Tuỳ theo khả năng, sinh viên có thể rút ngắn hoặc kéo dài thời gian học tập ở trường nhưng không được quá thời gian qui định
+ Năm học
Trong học chế tín chỉ, năm học thường được chia ra 3 học kỳ, gồm 2 học
kỳ chính và 1 học kỳ hè Học kỳ hè không phải là học kỳ bắt buộc học cho mọi sinh viên
+ Học kỳ
Là một khoảng thời gian nhất định gồm một số tuần dành cho các hoạt động giảng dạy, học tập và 1 số tuần dành cho việc đánh giá các kiến thức (kiểm ra, thi, bảo vệ luận văn khoá luận tốt nghiệp…) Theo quy định tại quy chế đào tạo theo học chế tín chỉ ban hành theo quyết định số 43/QĐ-BGD ĐT ngày 15/08/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì: “Một năm học có 2 học kì chính, mỗi học kì có ít nhất 15 tuần thực học và 3 tuần thi,…”
Trang 27+ Điểm trung bình chung học tập
Là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng kí học trong học kì đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần
+ Điểm trung bình chung tích luỹ
Là điểm trung bình của tất cả các học phần và được đánh giá bằng các điểm chữ A, B, C, D (không tính điểm F) mà sinh viên đã tích lũy được, tính
từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét và lúc kết thúc mỗi học kì Điểm trung bình chung tích luỹ được tính theo thang điểm 4 và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân Đối với các môn học được sinh viên đăng ký học lại thì kết quả cao nhất trong các lần thi được chọn để tính điểm trung bình tích luỹ
4 năm; 90 tín chỉ đối với khóa cao đẳng 3 năm; 60 tín chỉ đối với khóa cao đẳng 2 năm
1.3 Tính tất yếu của việc triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ
1.3.1 Đào tạo theo niên chế và những hạn chế của nó
Trong đào tạo theo niên chế, chương trình đào tạo, lịch thi, phân lớp đều được nhà trường chuẩn bị sẵn Các lớp sinh viên được biên chế cố định ngay
từ ngày nhập trường và ít khi có sự biến động Sinh viên phải học theo tất cả những gì mà nhà trường sắp đặt, không phân biệt sinh viên có điều kiện, năng lực tốt, hay sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, năng lực yếu Sinh viên chấp
Trang 28hành tốt các lịch học, lịch thi, các quy định, quy chế của nhà trường, tích cực học tập và rèn luyện thì sẽ đạt kết quả tốt Điều này tạo ra những hạn chế lớn của đào tạo theo niên chế, cụ thể là:
Sinh viên không hình dung và định lượng ra tất cả các yêu cầu đối với bản thân trong từng giai đoạn cũng như trong suốt quá trình học tập của mình trong nhà trường;
Sinh viên không thể chủ động lên kế hoạch và thực hiện việc học tập dựa vào năng lực và điều kiện của mình về thời gian và công việc của bản thân;
Tính mềm dẻo và linh hoạt của chương trình không cao, sinh viên bị mất đi những mảng kiến thức và kỹ năng đã tích lũy nếu như việc học của họ
bị gián đoạn;
Tính liên thông bị hạn chế: Sinh viên khó có thể chuyển đổi từ khoá đào tạo này sang khoá đào tạo khác trong cùng một hệ thống hay khác hệ thống
1.3.2 Ưu, nhược điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ
Đào ta ̣o theo học chế tín chỉ có nhiều ưu điểm, trong đó có các ưu điểm chính như sau:
Có hiệu quả đào tạo cao
Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích luỹ kiến thức
và kỹ năng của sinh viên để dẫn đến văn bằng, nó cho phép sinh viên chủ động xây dựng kế hoạch học tập thích hợp nhất, ngắn hạn cũng như dài hạn, đối với riêng bản thân họ
Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận cả những kiến thức và kỹ năng tích luỹ được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích việc học chủ động của sinh viên, tạo cơ hội cho các sinh viên từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học đại học một cách thuận lợi Về phương diện này có
Trang 29thể nói hệ tín chỉ là một trong những công cụ quan trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa (elitist) thành nền đại học mang tính đại chúng (mass)
Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao
Với học chế tín chỉ sinh viên có thể chủ động ghi tên học theo các học phần khác nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức Nó cho phép xây dựng một cơ chế tạo điều kiện cho sinh viên học tập để tiến tới đại được 1 văn bằng theo tốc độ và nhịp điệu riêng của họ, bằng cách khuyến khích theo đuổi giáo dục đại học trên cơ sở bán thời gian, bố trí xen kẽ các giai đoạn làm việc và học tập, và ngừng lại ở trong hoặc ngoài giáo dục đại học khi thấy phù hợp
Học chế tín chỉ tạo nên sự mềm dẻo để sinh viên có thể thay đổi ngành chuyên môn của chính họ ở nửa chừng tiến trình học Thay cho việc sinh viên phải học lại chương trình từ đầu, hệ thống tín chỉ ghi nhận các công việc trước kia dẫn đến 1 văn bằng, chỉ đòi hỏi những công việc bổ sung cần thiết để hoàn tất tri thức của ngành chuyên môn và các đòi hỏi liên quan
Trong học chế tín chỉ, sáng kiến đề xuất một môn học mới trở nên dễ dàng thực hiện so với niên chế - có chương trình giảng dạy được quy định cứng nhắc – điều đó làm cho các trường đại học có thể nhanh chóng đáp lại thị trường trong việc cải thiện chương trình đào tạo cho thích hợp Tính thích ứng đó được tăng cường hơn nữa do khả năng làm cân bằng yêu cầu của sinh viên, tránh được việc giảm nhanh số lượng Các trường đại học, cao đẳng có
thể phân phối các nguồn lực cho các khoa/ngành “hợp thời trang” và cắt bỏ
bớt những môn học giảng dạy ở các khoa mà ít sinh viên có nhu cầu học tập
So với hệ thống quản lý đào tạo truyền thống cũ, bản chất mềm dẻo của học chế tín chỉ cũng tạo điều kiện cho việc cải cách chương trình giảng dạy một cách liên tục
Một sức mạnh khác của học chế tín chỉ là nó chấp nhận sự di chuyển sinh viên giữa các trường đại học với nhau, tạo điều kiện cho mọi cá nhân
Trang 30phát triển hết khả năng của mình bằng cách cho phép họ chuyển từ một trường đại học đến một trường đại học khác tùy theo khả năng và sở thích của
họ Học chế tín chỉ cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ chung, tạo
thuận lợi cho sinh viên khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài nước
Việc sử dụng học chế tín chỉ cho phép phát triển trong các trường đại học, cao đẳng các chương trình đào tạo sóng đôi và các chương trình liên thông chuyển tiếp
Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo
Trong học chế tín chỉ, thành tích học tập của sinh viên được do trên cơ
sở từng môn học Việc hỏng một môn học không ảnh hưởng nhiều trong việc ngăn cản quá trình học tập, vì sinh viên có thể học lại môn học đó hoặc có thể chọn học một môn học thay thế khác Việc hỏng đó không bị xem như hỏng
cả năm học, như vậy sinh viên không buộc phải học lại cả năm học hoặc phải
bỏ học Do đó, học chế tín chỉ có hiệu quả hơn trong việc giảm giá thành đào tạo và về lý thuyết, học chế này có khả năng làm giảm số lượng sinh viên bị học lại lớp và bỏ lớp so với hệ thống tổ chức đào tạo truyền thống có 1 đầu vào và 1 đầu ra
Nếu triển khai học chế tín chỉ trong một trường học đa lĩnh vực thì có thể tổ chức những học phần chung cho sinh viên nhiều khoa, tránh các học phần trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra sinh viên có thể học những học phần lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách tổ chức nói trên cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng học phần
Kết hợp với học chế tín chỉ, nếu trường đại học tổ chức thêm những kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học tích luỹ được bên ngoài nhà trường hoặc bằng con đường tự học để cấp cho họ một số tín chỉ tương đương, thì sẽ tạo thêm cơ hội cho họ đạt văn bằng đại học Qua đó, giá thành đào tạo cho 1 cử nhân được giảm một cách đáng kể Ở Mỹ trên 1.000 trường
Trang 31đại học chấp nhận cung cấp tín chỉ cho những kiến thức và kỹ năng mà người học đã tích luỹ được trong cuộc sống [5]
Học chế tín chỉ vừa là thước đo khả năng học tập của người học, vừa là thước đo hiệu quả và thời gian làm việc của giáo viên; nó là cơ sở để các trường đại học tính toán ngân sách chi tiêu, nguồn nhân lực, có lợi không những cho tính toàn ngân sách nội bộ mà còn cả cho việc tính toán để xin tài trợ từ nguồn ngân sách nhà nước và các nhà tài trợ khác; nó là cơ sở để báo cáo số liệu của các trường đại học cho cơ quan cấp trên và các đơn vị liên quan: một khi thước đo giờ tín chỉ được phát triển và kiện toàn một cách thống nhất trong các trường đại học, cao đẳng, việc sử dụng nó như một phương tiện để giám sát bên ngoài, để báo cáo và làm cho việc quản lý đào tạo thuận lợi và hiệu quả hơn [28]
Bên cạnh những ưu điểm rõ nét kể trên thì học chế tín chỉ còn có những mặt hạn chế riêng của nó như: kiến thức bị cắt vụn; làm giảm giá trị các hoạt động khoa học; méo mó động cơ học tập của người học; khó khăn trong việc quản lý sinh viên (vì kết cấu lớp hành chính bị phá vỡ, công tác quản lý sinh viên, công tác đoàn thanh niên, hội sinh viên khó triển khai), Tuy nhiên, các mặt hạn chế này, tác giả cho rằng có thể khắc phục được nếu chúng ta nhận biết trước được các nhược điểm của học chế tín chỉ và từ đó có những bước chuẩn bị để khắc phục Chúng ta không thể phủ nhận những thành tích
về chất lượng giáo dục đại học to lớn mà một số quốc gia đạt được khi áp dụng học chế tín chỉ vào giáo dục đại học của họ Những bước chuyển mình lớn về giáo dục; những nguồn nhân lực chất lượng cao với số lượng lớn sản sinh từ những quốc gia này là một minh chứng rõ nét nhất ưu thế của đào tạo theo học chế tín chỉ Do đó, để có thể nâng cao chất lượng giáo dục đại học nước ta và hội nhập giáo dục với bè bạn quốc tế thì việc áp dụng hệ thống đào tạo mở như học chế tín chỉ trong đào tạo giáo dục đại học không chỉ là xu thế thời đại mà còn là một tất yếu đáp ứng yêu cầu của xã hội của nước ta
Trang 321.4 Điều kiện để triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ và vai trò của quản lí trong quá trình chuẩn bị đào tạo theo học chế tín chỉ
1.4.1 Điều kiện để thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, để đào tạo theo học chế tín chỉ các trường đại học, cao đẳng cần có các điều kiện sau [4]:
- Đã thiết kế hoàn chỉnh chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ Mỗi ngành đào tạo phải có nhiều học phần (môn học) tự chọn để sinh viên có thể lựa chọn theo định hướng phát triển nghề nghiệp
- Có đủ các hướng dẫn về đào tạo, chương trình đào tạo toàn khoá của từng ngành đào tạo, chương trình chi tiết các học phần, số học phần sẽ bố trí giảng dạy trong từng học kỳ và lịch trình giảng dạy để cung cấp cho sinh viên
- Có đủ số lượng giảng viên có trình độ chuyên môn để giảng dạy về lý thuyết, thực hành, thực tập theo yêu cầu chuyên môn
- Có đội ngũ giảng viên tham gia làm chủ nhiệm lớp để giúp đỡ sinh viên trong học tập
- Có đủ sách tham khảo, tài liệu học tập
- Cán bộ, giảng viên phải có trình độ sử dụng công nghệ thông tin ở mức tương đối tốt Trường cần có “Cổng thông tin tích hợp” phục vụ các nhu cầu hiện tại của trường như đưa tin, diễn đàn, tra cứu tài nguyên, …Cần tích hợp dần các chức năng quản lí các hoạt động của trường vào cổng thông tin và yêu cầu giáo viên, nhân viên và sinh viên tích cực sử dụng
- Cơ sở vật chất: Khi học theo tín chỉ, sinh viên sẽ ở lại trường nhiều giờ trong ngày vì có nhiều giờ trống xen giữa những giờ học Vì vậy, trường phải
có nhiều nơi đủ cho sinh viên sử dụng các giờ trống đó, đặc biệt là thư viện phải rộng và nhiều tài liệu, cantin phải thuận lợi cho sinh viên
- Đội ngũ cố vấn học tập: Phải có đội ngũ cố vấn học tập Cố vấn học tập phải nắm vững tình hình của sinh viên mình phụ trách, tư vấn cho sinh
Trang 33viên chọn chương trình và tiến trình học phù hợp và giúp cho sinh viên đăng
ký học từng học kỳ Cố vấn học tập có thể kiêm luôn nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm Trong điều kiện hiện nay, mỗi cố vấn học tập có thể phụ trách từ
30 đến 60 sinh viên Có thể sử dụng sinh viên giỏi của năm cuối làm cố vấn học tập
1.4.2 Quản lí cơ sở giáo dục đại học
Quản lí cơ sở giáo dục đại học (trường đại học, cao đẳng - sau đây gọi tắt là nhà trường) là thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng (trong phạm vi trách nhiệm) trong việc thực hiện các hoạt động khai thác, sử dụng, tổ chức, thực hiện các nguồn lực và những tác động của chủ thể quản lí đến các thành
tố của quá trình giáo dục diễn ra trong nhà trường, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục - mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ, với từng sinh viên
Khái niệm trên cho thấy:
- Mục tiêu của quản lí nhà trường là vận hành quá trình giáo dục để duy trì, ổn định và phát triển hệ thống giáo dục sao cho đáp ứng cao nhất với nhu cầu học tập của mọi tầng lớp nhân dân, đáp yêu cầu phát triển nhân cách toàn diện cho người học ở mọi cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
- Chủ thể quản lí nhà trường là chủ thể kép Điều đó có nghĩa, nhà trường (theo đó là) quá trình giáo dục được quản lí bởi các chủ thể quản lí ngoài nhà trường và của các chủ thể quản lí trong (của) nhà trường Mỗi chủ thể quản lí quá trình giáo dục với nội dung xác định
- Đối tượng của quản lí nhà trường là các thành tố cấu thành nhà trường vận động xung quanh trục quá trình giáo dục Do đó, xét đến cùng, đối tượng quản lí nhà trường chình là các thành tố cấu thành quá trình giáo dục và những nguồn lực được huy động, sử dụng cho quá trình đó
- Nội dung của quản lí nhà trường được xác định cho từng loại chủ thể quản lí như sau:
Trang 34- Các chủ thể quản lí bên ngoài nhà trường
Các chủ thể quản lí ngoài nhà trường là các cấp quản lí, quản lí nhà trường theo trách nhiệm và phạm vi quyền hạn của mình, trong đó các chủ thể quản lí chủ yếu, là các chủ thể nằm trong cơ cấu dọc của bộ máy quản lí giáo dục theo phân cấp quản lí
Các chủ thể quản lí này thực hiện các nội dung quản lí sau:
- Xác định mục tiêu giáo dục cho hệ thống giáo dục và từng phân hệ của hệ thống đó một cách cụ thể với từng cấp, bậc học làm cơ sở cho việc hoạch định chương trình giáo dục tương ứng
- Hoạch định chương trình giáo dục với tư cách là chuẩn trong giáo dục
để các phân hệ của hệ thống giáo dục và các nhà trường/cơ sở giáo dục của mỗi phân hệ có cơ sở phát triển chương trình và kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục của mình Ví dụ ở đại học, sau khi có chương trình khung của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, căn cứ vào khung chương trình, các trường xây dựng chương trình cho các ngành đào tạo và lập kế hoạch để triển khai chương trình đó Tuy nhiên, xu hướng gia tăng khả năng của các trường vào quá trình phát triển chương trình giáo dục sẽ được quan tâm triển khai trong tương lai
- Khai thác, sử dụng tổ chức thực hiện các nguồn lực hỗ trợ nhà trường/cơ sở giáo dục trong việc triển khai chương trình giáo dục thông qua
hệ thống công cụ như chính sách, các nguồn viện trợ theo dự án, theo chương trình mục tiêu v.v
- Giám sát và đánh giá việc thực hiện chương trình giáo dục ở nhà trường và cơ sở giáo dục
- Các chủ thể quản lí trong nhà trường
Đây là các chủ thể có vai trò trực tiếp trong quản lí quá trình giáo dục ở
cơ sở Với các chủ thể này, nhà trường trở thành khách thể quản lí đối với hoạt động quản lí của họ Chất lượng, hiệu quả của chương trình giáo dục,
Trang 35chất lượng của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng quản lí quá trình giáo dục của các chủ thể này
Nội dung quản lí nhà trường của các chủ thể quản lí trong nhà trường được xác định với những vấn đề chính sau:
1/ Đảm bảo chất lượng của quá trình giáo dục thông qua 3 hình thức: học tập trên lớp, hoạt động ngoài giờ lên lớp và hoạt động xã hội
2/ Sử dụng, xây dựng và bảo quản cơ sở vật chất nhà trường, quản lí tài chính, tổ chức các hoạt động kinh tế phù hợp nhằm đảm bảo hoạt động dạy và học của giảng viên và sinh viên
3/ Xây dựng tập thể giảng viên và sinh viên, các đoàn thể của nhà trường đảm bảo 2 mặt chế độ và chính sách nhằm thực hiện nâng cao đời sống vật chất và nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho giảng viên
4/ Thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá của các cấp nhằm đánh giá kịp thời chất lượng các bộ môn văn hoá của sinh viên, chất lượng các hoạt động lao động, kết quả hoạt động rèn luyện sức khoẻ, chất lượng giảng dạy của giảng viên, chất lượng giáo dục, tư tưởng, giáo dục sinh viên
Chủ thể quản lí trong nhà trường bao gồm: Lãnh đạo nhà trường (Ban giám hiệu nhà trường mà đại diện là Hiệu trưởng), Trưởng các đơn vị trong nhà trường, Trưởng bộ môn và các nhà giáo Mỗi chủ thể nói trên khác nhau
về vị trí, vai trò trong bộ máy quản lí của nhà trường nên họ quản lí quá trình giáo dục với nội dung khác nhau
1.4.3 Vai trò của quản lí đến quá trình chuẩn bị để triển khai đào tạo theo tín chỉ
Từ mục tiêu nội dung của quản lí trường đại học ta thấy quản lí có những tác động tích cực đến quá trình chuẩn bị để triển khai đào tạo theo tín chỉ như sau:
- Tác động đến nhận thức và thái độ của giảng viên và sinh viên về đào tạo theo tín chỉ, hình thành các kĩ năng cần thiết cho các đối tượng để thực
Trang 36hiện đào tạo và quản lí đào tạo theo tín chỉ Dưới tác động này, cán bộ phòng đào tạo, giảng viên và sinh viên sẽ có nhận thức đầy đủ về đào tạo theo tín chỉ
và tích cực thực hiện những công việc chuẩn bị cho việc triển khai mô hình đào tạo này
Đội ngũ giảng viên phải được tập huấn về phương pháp giảng dạy theo
kĩ thuật của chương trình tín chỉ và đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là bộ phận trực tiếp quản lý đào tạo phải được tập huấn về quy trình quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ đã được xác định trước một cách chặt chẽ Sinh viên từ khi bước chân vào trường phải được khuyến cáo thay đổi căn bản về phương pháp học tập phù hợp với việc tổ chức, quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
- Chỉ đạo các khoa đào tạo thiết kế hoàn chỉnh chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ Mỗi ngành đào tạo phải có nhiều học phần (môn học) tự chọn
để sinh viên có thể lựa chọn theo định hướng phát triển nghề nghiệp
- Chỉ đạo phòng đào tạo và các khoa xây dựng các hướng dẫn về đào tạo, chương trình đào tạo toàn khoá của từng ngành đào tạo, chương trình chi tiết các học phần, số học phần sẽ bố trí giảng dạy trong từng học kỳ và lịch trình giảng dạy để cung cấp cho sinh viên
- Chuẩn bị về nhân sự cho các đơn vị để có đủ năng lực triển khai đào tạo theo tín chỉ Cụ thể, các khoa được đáp ứng đủ số lượng giảng viên có trình độ chuyên môn để giảng dạy về lý thuyết, thực hành, thực tập theo yêu cầu chuyên môn; có đội ngũ giảng viên tham gia làm chủ nhiệm lớp để giúp
đỡ sinh viên trong quá trình học tập
- Chuẩn bị các nguồn lực phục vụ đào tạo theo tín chỉ Các ngành đào tạo phải có đủ sách tham khảo, tài liệu học tập Nhà trường phải được trang bị
hệ thống mạng máy tính đủ mạnh, có các hệ phần mềm quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ (quản lý và sắp xếp: thời khoá biểu đăng ký môn học, phần công giảng dạy, tính khối lượng giảng dạy theo học chế tín chỉ, tính điểm trung bình chung tích luỹ, số tín chỉ tích luỹ ) và có các chuyên gia vừa am
Trang 37hiểu về quản lý theo học chế tín chỉ vừa có kiến thức vững vàng về tin học để kịp thời xử lý những phát sinh hay sự cố trong quá trình điều hành quản lý học vụ theo học chế tín chỉ
Tiểu kết chương 1
1 Mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ là mô hình đào tạo có nhiều ưu thế đáp ứng yêu cầu đ ổi mới phương pháp giáo dục hướng vào viê ̣c phát huy năng lực sáng tạo của sinh viên
2 Đào tạo theo học chế tín chỉ phù hợp với xu thế xây dựng một xã hội học tập trong đó lấy vịêc học tập suốt đời làm nền tảng, phù hợp cho những người lớn tuổi muốn được tiếp tục học tập và mang tại lợi ích thiết thực cho các sinh viên học tập ngắn hạn, xây dựng một cơ chế tạo điều kiện cho sinh viên làm việc để tiến tới đạt được một văn bằng theo tốc độ và nhịp điệu riêng của họ, phù hợp với bối cảnh toàn cầu hoá, trong xã hội bùng nổ thông tin
3 Để triển khai đào tạo theo tín chỉ tại, các cơ sở đào tạo đại học phải thoả mãn những điều kiện nhất định Những điều kiện này được xác lập dưới tác động của công tác quản lí trong các trường đại học, cao đẳng Cụ thể là:
- Tác động đến nhận thức và thái độ của giảng viên và sinh viên về đào tạo theo tín chỉ, hình thành các kĩ năng cần thiết cho các đối tượng để thực hiện đào tạo và quản lí đào tạo theo tín chỉ
- Chỉ đạo các khoa đào tạo thiết kế hoàn chỉnh chương trình đào tạo, đề cương môn học theo học chế tín chỉ và xây dựng các hướng dẫn về đào tạo theo tín chỉ
- Chuẩn bị về nhân sự cho các đơn vị để có đủ năng lực triển khai đào tạo theo tín chỉ
- Chuẩn bị các nguồn lực phục vụ đào tạo theo tín chỉ
Trang 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ
ĐỂ TRIỂN KHAI ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
2.1 Khái quát về trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (tên giao dịch bằng tiếng Anh là: Hanoi National University of Education; viết tắt là HNUE; website: www.hnue.edu.vn) được thành lập ngày 11 tháng 10 năm 1951 theo Nghị định số 276 của Bộ Quốc gia Giáo dục Ngày 10/12/1993 theo Nghị định số 97/CP của Chính phủ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội I là một trường thành viên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội Theo Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 12/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ, Trường Đại học Sư phạm tách khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội thành Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Những điểm mốc lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển của Trường:
1951 - 1956: trường Sư phạm Cao cấp
1956 - 1967: trường Đại học Sư phạm Hà Nội
1967 - 1976: trường Đại học Sư phạm Hà Nội I và trường Đại học Sư phạm Hà Nội II
1976 - 1993: trường Đại học Sư phạm Hà Nội I
1994 - 1999: trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
Từ 1999 đến nay: trường Đại học Sư phạm Hà Nội - một trong hai trường Đại học Sư phạm trọng điểm của cả nước
Trang 39Là một trong những trường đại học trọng điểm của cả nước, trường Đại học Sư phạm Hà Nội có sứ mạng đào tạo nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài cho hệ thống giáo dục quốc dân và xã hội; nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học giáo dục và khoa học ứng dụng đạt trình độ tiên tiến; cung cấp dịch vụ giáo dục và khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
Chức năng:
Làm nòng cốt của hệ thống các trường sư phạm trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn chương trình, giáo trình;
Tổ chức triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học giáo dục, khoa học ứng dụng công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào triển khai các đề án, các quy trình công nghệ;
Tư vấn cho các cấp quản lí xây dựng chính sách giáo dục, đào tạo giáo viên, đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, cải cách giáo dục;
Đào tạo giáo viên có chất lượng cao cho các cấp học, ngành học, giáo dục đặc biệt, cán bộ quản lí giáo dục có học vị cao
Nhiệm vụ:
Đào tạo giáo viên các cấp học từ mầm non đến đại học, các chuyên gia giáo dục, quản lí giáo dục, các cán bộ nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học giáo dục có trình độ đại học, sau đại học; bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học; bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo viên các cấp; phát huy vai trò của trường trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng sư phạm của cả nước bằng việc nghiên cứu, triển khai các chủ trương, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục mầm non; đào tạo giáo viên;
Trang 40 Đào tạo giáo viên, cán bộ khoa học cho các nước khác trong khu vực
và trên thế giới;
Nghiên cứu khoa học giáo dục, khoa học cơ bản và các lĩnh vực liên quan khác, nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Theo kế hoạch chiến lược, đến năm 2020 trường Đại học Sư phạm Hà Nội
sẽ trở thành trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực, có uy tín trong khu vực Trường Đại học Sư phạm Hà Nội sẽ phát triển theo hướng đại học nghiên cứu; là trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học hàng đầu của quốc gia; là nơi tập trung các chuyên gia, giảng viên có trình độ cao; trang bị kinh nghiệm cho người học phục vụ thiết thực cho cộng đồng
Thực hiện chủ trương cải cách giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
từ năm học 2009 -2010, trường Đại học Sư phạm Hà Nội tiến hành chuyển đổi phương thức đào tạo sang đào tạo theo học chế tín chỉ Việc chuyển đổi sang phương thức đào tạo mới đã được quán triệt từ Đảng ủy, Ban Giám hiệu đến toàn thể cán bộ, giảng viên, và sinh viên trong toàn trường Đây là một cơ hội để bảo đảm rằng Nhà trường đã sẵn sàng cho những thử thách của thế kỉ 21 về nâng cao chất lượng giáo dục đại học và hội nhập quốc tế, đặt trọng tâm vào người học, hướng vào người học và mở ra cơ hội học tập suốt đời cho mọi người
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Bộ máy của trường Đại học Sư phạm Hà Nội ngoài Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên; phần còn lại bao gồm:
21 Khoa và 02 Bộ môn trực thuộc trường chịu trách nhiệm trực tiếp tham gia đào tạo;
12 phòng, ban chức năng;
8 đơn vị phục vụ đào tạo;
3 đơn vị nghiên cứu khoa học;
2 trường phổ thông