ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN VÂN ANH ẢNH HƯỞNG CỦA NĂNG LỰC THÔNG TIN ĐẾN CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ NGHIÊN CỨU TẠI MỘT SỐ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN VÂN ANH
ẢNH HƯỞNG CỦA NĂNG LỰC THÔNG TIN ĐẾN CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ (NGHIÊN CỨU TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SỸ
ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN VÂN ANH
ẢNH HƯỞNG CỦA NĂNG LỰC THÔNG TIN ĐẾN CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KHOA HỌC TRẺ (NGHIÊN CỨU TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC
Mã số: 8140115
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Quý Thanh
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học mà tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nghiên cứu của công trình là trung thực, rõ ràng, có nguồn gốc, trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định
Tác giả
Trần Vân Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến GS TS Nguyễn Quý Thanh - người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Quản trị chất lượng đã tận tâm giảng dạy, hướng dẫn giúp đỡ, chia sẻ các kinh nghiệm trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn đội ngũ cán bộ khoa học trẻ của Học viện
X, Học viện Y, Đại học Z đã giúp đỡ trong quá trình khảo sát và có những ý kiến đóng góp quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
Chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện và khuyến khích động viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Trần Vân Anh
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU i
MỤC LỤC CÁC MÔ HÌNH ii
MỤC LỤC CÁC BẢNG iii
MỤC LỤC CÁC BIỂU ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 3
4.2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4.3 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Phạm vi, thời gian nghiên cứu 5
Chương 1 - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu về NLTT 6
1.1.2 Các nghiên cứu về NCKH và các chỉ số NCKH 9
1.1.3 Các nghiên cứu về mối tương quan của NLTT với NCKH 11
1.2 Các khái niệm 13
1.2.1 Năng lực thông tin 13
1.2.2 Đội ngũ cán bộ khoa học trẻ 16
Trang 61.2.4 Nghiên cứu khoa học và các chỉ số nghiên cứu khoa học 17
1.3 Mối quan hệ giữa NLTT và các chỉ số NCKH của đội ngũ CBKHT 22
1.3.1 Tiêu chí đánh giá Năng lực thông tin 22
1.3.2 Mối quan hệ giữa NLTT và NCKH 22
Chương 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Bối cảnh nghiên cứu 34
2.2 Phương pháp và trình tự nghiên cứu 35
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.2 Trình tự nghiên cứu 36
2.3 Phương pháp chọn mẫu/cỡ mẫu 38
2.4 Thiết kế công cụ khảo sát và thang đo 39
2.4.1 Thiết kế công cụ khảo sát 39
2.4.2 Thang đo 43
2.5 Cách quy đổi điểm cho các chỉ số Nghiên cứu khoa học 43
2.6 Khảo sát thử nghiệm và đánh giá độ tin cậy của công cụ đo lường 45
2.6.1 Mẫu khảo sát thử nghiệm 45
2.6.2 Phân tích số liệu khảo sát thử nghiệm 45
2.7 Điều chỉnh lại bộ công cụ 49
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
3.1 Quy trình thu thập số liệu 51
3.2 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 51
3.3 Độ tin cậy bảng hỏi 52
3.4 Phân tích nhân tố khám phá - EFA 56
3.5 Đánh giá của cán bộ khoa học trẻ về NLTT 58
3.5.1 Đánh giá khả năng Nhận diện nhu cầu tin 58
Trang 73.5.2 Đánh giá khả năng Tìm kiếm thông tin 59
3.5.3 Đánh giá khả năng Đánh giá thông tin 60
3.5.4 Đánh giá khả năng Quản lý thông tin thu thập được và thông tin phát sinh 62
3.5.5 Sử dụng, chia sẻ, trao đổi thông tin phù hợp đạo đức, pháp luật 63
3.6 Đánh giá sự ảnh hưởng của NLTT đối với các chỉ số NCKH 64
3.6.1 Phân tích tương quan 65
3.6.2 Hồi quy đa biến 67
3.6.3 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 70
3.6.4 Kiểm định một số giả thuyết khác 71
3.7 Kết quả khảo sát về ảnh hưởng của NLTT đến các chỉ số NCKH 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 87
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
NLTT: Năng lực thông tin NCKH: Nghiên cứu khoa học CBKHT: Cán bộ khoa học trẻ
Trang 9MỤC LỤC CÁC MÔ HÌNH
Mô hình 1-1: NLTT (KTTT) 07 Trụ (SCNUL, 2007) 23
Mô hình 1-2: Triển khai một nghiên cứu 30
Mô hình 1-3: Khung lý thuyết 32
Trang 10MỤC LỤC CÁC BẢNG
Bảng 2- 1: Trình tự nghiên cứu 37
Bảng 2-2: Mẫu nghiên cứu 38
Bảng 2-3: Quy đổi điểm cho các chỉ số NCKH 44
Bảng 2-4: Kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha theo từng nhóm nhân tố của khảo sát thử nghiệm 46
Bảng 2-5: Các nhóm nhân tố 49
Bảng 3-1: Tổng hợp phiếu khảo sát đạt yêu cầu 51
Bảng 3-2: Thống kê tỉ lệ nam, nữ 51
Bảng 3-3: Thống kê Học hàm/Học vị 52
Bảng 3-4: Thống kê tổng điểm các chỉ số NCKH của đội ngũ CBKHT 52
Bảng 3-5: Kết quả phân tích Crobach’s Alpha từng nhóm nhân tố 53
Bảng 3-6: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett 56
Bảng 3-7: Phương sai trích của các nhân tố 56
Bảng 3-8: Ma trận xoay nhân tố 57
Bảng 3-9: Đánh giá khả năng Nhận diện nhu cầu tin 59
Bảng 3-10: Đánh giá khả năng Tìm kiếm thông tin 60
Bảng 3-11: Đánh giá khả năng Đánh giá thông tin 61
Bảng 3-12: Đánh giá khả năng Quản lý thông tin thu thập được và thông tin 62 Bảng 3-13: Đánh giá sử dụng, chia sẻ, trao đổi thông tin phù hợp đạo đức, pháp luật 63
Trang 11Bảng 3-14: Bảng tên biến 65
Bảng 3-15: Kết quả phân tích tương quan 65
Bảng 3-16: Kết quả phân tích hồi quy đa biến 68
Bảng 3-17: Kết quả kiểm định Independent Sample T-test 71
Bảng 3-18: Kết quả kiểm định ANOVA 72
Bảng 3-19: Phỏng vấn sâu mức độ thực hiện và sự ảnh hưởng của Khả năng quản lý thông tin thu thập được và thông tin phát sinh……… 73
Trang 12MỤC LỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3-1: Đánh giá khả năng Nhận diện nhu cầu tin 58 Biểu đồ 3-2: Đánh giá khả năng Tìm kiếm thông tin 59 Biểu đồ 3-3: Đánh giá khả năng Đánh giá thông tin 60 Biểu đồ 3-4: Đánh giá khả năng Quản lý thông tin thu thập được và thông tin phát sinh 62 Biểu đồ 3-5: Đánh giá sử dụng, chia sẻ, trao đổi thông tin phù hợp đạo đức, pháp luật 63
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cuộc cách mạng thông tin đã làm thay đổi sâu sắc mọi lĩnh vực đời sống xã hội và hình thành xã hội thông tin Sự phát triển mạnh mẽ các nguồn tin, công nghệ viễn thông cho phép việc trao đổi thông tin trở nên thuận lợi và nhanh chóng, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp xã hội truy cập thông tin rộng rãi Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ, hiện tượng
“Bùng nổ thông tin” đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu cho nên người dùng tin có thể dễ dàng tìm thấy rất nhiều thông tin cho một vấn đề mà họ cần bằng nhiều cách, nhiều phương tiện khác nhau (cả truyền thống và hiện đại) nhưng cũng đồng thời gặp không ít khó khăn trong việc tiếp nhận và sử dụng thông tin hiệu quả cho công việc Một vấn đề lớn đặt ra làm thế nào để có thể kiểm định chất lượng và độ tin cậy của thông tin cho người sử dụng? Trong bối cảnh ấy, khả năng nhận diện nhu cầu tin, tìm kiếm, đánh giá và sử dụng thông tin phù hợp đạo đức, pháp luật được xem là yêu cầu then chốt đối với mỗi cá nhân Nói cách khác, họ phải làm chủ được lĩnh vực mà mình quan tâm và có khả năng trình bày các nội dung cụ thể Đây có thể xem như là một lợi thế quan trọng của cán bộ nghiên cứu, những người đã trải qua các khóa học bài bản về phương pháp nghiên cứu, đồng thời họ là những chuyên gia trong từng lĩnh vực cụ thể Tuy nhiên, muốn có được một quyết định nghiên cứu đúng đắn, ngoài khả năng chuyên môn, nhà nghiên cứu cần phải có thông tin đầy
đủ và khách quan về lĩnh vực mà mình muốn tìm hiểu Kinh nghiệm bản thân khó mà đem lại cho họ hiệu quả cao trong hoạt động nghiên cứu Họ cần có một công cụ để khai thác, đánh giá và sử dụng thông tin một cách chính xác
và hợp pháp Đó chính là năng lực thông tin
Mặt khác trong nghiên cứu khoa học ngày nay chính là xu thế liên ngành khiến cho nhà nghiên cứu phải tiếp xúc với rất nhiều nguồn thông tin
Trang 14khác nhau ở nhiều lĩnh vực khác nhau Các nhà nghiên cứu sẽ phải đối diện với sự lựa chọn lượng thông tin phức tạp sao cho phù hợp công việc của họ, nhất là những nguồn thông tin trực tuyến Họ sẽ phải dành nhiều thời gian để tìm thông tin tin cậy và có giá trị, xử lý thông tin, tổ chức và sử dụng chúng một cách hợp lý Qua các nguồn thông tin và tài liệu mà tôi nghiên cứu được như: Development of Information Literacy through School Libraries in South-East Asian Countries (IFAP Project 461RAS5027); Vai trò của năng lực thông tin đối với cán bộ nghiên cứu khoa học (Nghiêm Xuân Huy, 2010); Impact of academic culture on information literacy development in higher education in Vietnam (Nghiêm Xuân Huy, 2014); NLTT của sinh viên Việt Nam - Yếu tố quyết định đến sự thành công của việc sử dụng và xây dựng học liệu mở Kỷ yếu hội thảo khoa học “Xây dựng nền tảng học liệu mở cho giáo dục đại học Việt Nam (Trần Thị Quý, 2015); Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên đại học ở Việt Nam (Trương Đại Lượng, 2015) và nhiều nghiên cứu khác Các nghiên cứu đã cung cấp cách nhìn tổng quan và khái niệm về NLTT đồng thời cho thấy công việc của người làm nghiên cứu gắn bó hết sức chặt chẽ với kỹ năng khai thác, phân tích, đánh giá, tổng hợp, và sử dụng thông tin, như là mối quan hệ hữu cơ máu thịt, không thể tách rời Điều này chứng minh NLTT là một năng lực rất cần thiết, quyết định đến năng suất nghiên cứu khoa học của đội ngũ làm khoa học, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học trẻ trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay Tuy nhiên các nghiên cứu đều chưa nói rõ được mối tương quan và ảnh hưởng của NLTT đối với các chỉ số nghiên cứu khoa học
Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng đối với hoạt động nghiên cứu khoa
học của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ, tác giả quyết định chọn đề tài “Ảnh
hưởng của năng lực thông tin đến các chỉ số nghiên cứu khoa học của đội
Trang 15ngũ cán bộ khoa học trẻ (nghiên cứu tại một số trường đại học trên địa bàn
Hà Nội)”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích chính của đề tài là nghiên cứu khảo sát mối quan hệ giữa NLTT đối với các chỉ số nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ Từ đó giúp cho các trường đánh giá và có những cải tiến để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học bằng cách phát triển năng lực thông tin cho đội ngũ cán bộ khoa học trẻ
3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài xác định, đánh giá sự ảnh hưởng của NLTT đến kết quả nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ tại một số trường đại học trên địa bàn Hà Nội (3 trường)
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
NLTT của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ ảnh hưởng như thế nào đến các chỉ số nghiên cứu khoa học?
Giả thuyết nghiên cứu
NLTT càng cao thì các chỉ số nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ càng cao
4.2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: NLTT của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ
Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ cán bộ khoa học trẻ
Trang 164.3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thiết kế theo dạng nghiên cứu khảo sát dựa trên phương pháp chính là phương pháp nghiên cứu định lượng (thông qua phiếu khảo sát để thu thập thông tin) và kết hợp thêm phương pháp nghiên cứu định tính (nghiên cứu lý thuyết và phỏng vấn sâu)
Với phần lý thuyết, tác giả thực hiện thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như: Các tạp chí chuyên ngành, các đề tài nghiên cứu khoa học và các tài liệu liên quan đến đề tài về NLTT và các chỉ số nghiên cứu khoa học, qua đó phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa nguồn tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
Số liệu thu thập được thông qua phiếu khảo sát dành cho đội ngũ cán
bộ khoa học trẻ, xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS Số liệu được phân tích theo trình tự sau:
- Kiểm tra độ tin cậy của phiếu khảo sát
- Thống kê các chỉ số NCKH của đội ngũ CBKHT
- Thống kê, mô tả kết quả đội ngũ cán bộ khoa học trẻ tự đánh giá NLTT của họ theo các tiêu chuẩn
- Kiểm định mối liên hệ giữa NLTT và kết quả nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ, đồng thời lượng hóa mối liên hệ giữa chúng bằng hệ số tương quan Pearson(r)
- Chạy nhân tố và hồi quy để xây dựng mô hình tuyến tính giữa các nhân tố thuộc về NLTT (được xem là biến độc lập) và các chỉ số nghiên cứu khoa học (được xem là biến phụ thuộc)
Trang 175 Phạm vi, thời gian nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Lấy ý kiến khảo sát của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ tại một số trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: 10 tháng từ tháng 1/2018 đến tháng 11/2018
6 Cấu trúc của luận văn
Luận văn bao gồm:
- Phần mở đầu
- Chương I: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận
- Chương II: Phương pháp nghiên cứu
- Chương III: Kết quả nghiên cứu
- Kết luận và kiến nghị
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu về Năng lực thông tin
Trước sự bùng nổ của thông tin, nhất là trong thời đại công nghiệp 4.0 đang diễn ra thì vai trò của NLTT ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết đối với những người nghiên cứu khoa học NLTT không còn là vấn đề mới
mẻ với các học giả trong nước và trên thế giới
Thuật ngữ NLTT - Information Literacy được các nước phát triển trên thế giới sử dụng nhiều và xuất hiện lần đầu tiên ở Hoa Kỳ vào những năm 70 của thế kỷ 20, được sử dụng ở một số nước phát triển khác như Australian, New Zealand Khái niệm này gắn liền với việc giải quyết những vấn đề khủng hoảng và bùng nổ thông tin, được mô tả như một tập hợp các kỹ năng thu thập
và xử lý thông tin
Tiêu biểu có một số công trình nghiên cứu lý luận như sau: “Định nghĩa
về NLTT” của nhóm tác giả Eisenberg, M.B., Lowe, C.A và K.L Spitzer;
“Thông tin là gì? Và NLTT là gì?” của tác giả Moore, P
Nội hàm về khái niệm NLTT có ý nghĩa rộng và khá toàn diện NLTT
là một kỹ năng học tập, học cách học (learn how to learn) và trang bị cho người học những nền tảng phục vụ mục tiêu học tập suốt đời ALIA - Hiệp hội Thông tin Thư viện Australia (Australian Library and Information Association, 2006) nhấn mạnh vào tầm quan trọng của NLTT là giúp tạo ra tri thức mới bên cạnh mục tiêu học tập suốt đời IFLA - Hội liên hiệp Thư viện Thế giới đã đề xuất chính phủ các nước và các tổ chức liên chính phủ theo bám chính sách và đồng thời triển khai các chương trình thúc đẩy nâng cao việc học tập suốt đời và NLTT cho người học (Horton, 2008)
Trang 19Mỗi tác giả đưa ra một cách định nghĩa khác nhau nhưng đều có điểm chung coi NLTT là năng lực cần thiết đối với mọi người trong thời đại bùng
nổ thông tin như hiện nay Vì thế, ngày càng nhiều tác giả nghiên cứu về NLTT nhằm phát triển cho sinh viên trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học, đưa ra một số chuẩn về NLTT như: Mô hình bảy trụ cột NLTT của Hiệp hội Thư viện Đại học, Cao đẳng và Thư viện Quốc gia Anh (SCONUL,
1999, 2007), Chuẩn NLTT của Hội Thư viện Đại học và Nghiên cứu Hoa Kỳ (ACRL, 2000), Khung NLTT của Viện NLTT Úc và New Zealand (ANZIIL, 2004)
Sự thay đổi công nghệ, đặc biệt là các thay đổi được hỗ trợ và được tăng cường bằng cách sử dụng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tiên tiến và công cụ truyền thông, đã ảnh hưởng đến cách cá nhân đối phó với nhu cầu thông tin của họ Những thay đổi này đã dẫn đến sự biến đổi các chương trình phát triển NLTT cho mỗi cá nhân Một trong những phương pháp phổ biến để cung cấp NLTT là thực hiện các khóa học hướng dẫn trực tuyến thông qua các trang web đại học hoặc thư viện (Yang 2008; McClure, Cooke & Carlin 2011)
Ngoài ra ảnh hưởng của nền văn hóa ở mỗi quốc gia đến sự phát triển NLTT trong giáo dục đại học cũng được quan tâm và được báo cáo bởi nhiều học giả (Campbell 2004; Gendina 2004; Gorman & Dorner 2006; Walter 2007; UNESCO 2008; Godwin2007, 2009)
Ở Việt Nam “Information literacy” dịch theo nhiều tên gọi khác nhau
Một số tác giả Trần Thị Quý (2006), Mai Hà (2006), Trần Mạnh Tuấn (2006),
Lê Văn Viết (2008), Trương Đại Lượng (2015) gọi là “kiến thức thông tin”, Hoàng Thị Hồng Nhung (2011), Huỳnh Thị Xuân Phương (2011) gọi là “kỹ năng thông tin”, Cao Minh Kiểm (2006) gọi là “hiểu biết thông tin” Tất cả
các tên gọi đều được chấp nhận và đều đưa ra những khái niệm và quan điểm
Trang 20như nhau về “Information literacy” Gần đây, nhiều tác giả Việt Nam đã
nghiên cứu và gọi là “Năng lực thông tin”, Nghiêm Xuân Huy (2009), trong
bài báo này tác giả đã làm rõ NLTT là gì? Từ đó phân tích ảnh hưởng của các chính sách giáo dục đối với việc phát triển NLTT và việc tích hợp NLTT vào khung chương trình đào tạo như thế nào? Tác giả cũng đã đưa ra kết luận quan trọng giúp cho chính sách giáo dục có thể thay đổi Nhiều bài báo và nghiên cứu khác cũng gọi là “Năng lực thông tin” như Nghiêm Xuân Huy (2014), Trần Dương (2016), Trịnh Vân Khánh (2017)
Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo khoa học Các nghiên cứu tập trung tìm hiểu nội dung khái niệm, vai trò của NLTT và trình bày kinh nghiệm phát triển NLTT ở các thư viện cụ thể Tiêu biểu là Vũ Thị Nha (lược dịch) (2007), Trương Đại Lượng (2013), Phạm Ngọc Cường (2014), Trần Thị Quý (2015)
Một vài tác giả Huỳnh Thị Trúc Phương (2011), Nghiêm Xuân Huy (2011), Vũ Dương Thúy Ngà (2012), Trần Dương (2017) cũng đã đưa ra những giải pháp để phát triển NLTT cho sinh viên, cho độc giả tại thư viện các trường đại học Từ đó lại có những nghiên cứu liên quan đến vai trò của thư viện, của các thủ thư trong công tác phát triển NLTT của một vài tác giả như Trương Đại Lượng (2009), Dương Thúy Hương (2012), Vũ Văn Sơn (2013)
Đặc biệt có một số luận án nghiên cứu về NLTT (hay gọi là Kiến thức thông tin) trong các trường đại học ở Việt Nam của các tác giả Nghiêm Xuân Huy và Trương Đại Lượng Luận án Nghiêm Xuân Huy (2014) đi sâu phân tích những ảnh hưởng của di sản Nho giáo đối với phát triển NLTT trên cơ sở khảo sát 02 lãnh đạo trường đại học, 04 cán bộ thư viện, 09 giáo viên và 706 sinh viên thuộc Đại học quốc gia và Đại học Sư phạm Hà Nội Luận án khái quát được một số cơ sở lý luận về NLTT; những điểm khác biệt về văn hóa
Trang 21đại học ở các nước phương Tây và phương Đông; trình độ ngoại ngữ, tin học, điều kiện của sinh viên thành thị và nông thôn có ảnh hưởng đến phát triển NLTT cho sinh viên Đồng thời tác giả cho thấy sự ảnh hưởng của Nho giáo tới động cơ học tập, cách học và mối quan hệ giữa giáo viên và sinh viên Tuy nhiên, luận án chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa tới việc phát triển NLTT cho sinh viên và chưa đề xuất được mô hình phát triển NLTT cho sinh viên ở Việt Nam Luận án Trương Đại Lượng (2015), tác giả nghiên cứu phát triển định nghĩa về NLTT phù hợp với bối cảnh giáo dục đại học ở Việt Nam; làm rõ vấn đề phát triển NLTT cho sinh viên đại học với khái niệm, nội dung, phương thức và phương tiện phát triển NLTT; phân tích một số yếu tố có ảnh hưởng đến phát triển NLTT cho sinh viên đại học; nêu đặc điểm của giáo dục đại học ở Việt Nam; phân tích vai trò của NLTT với sinh viên đại học ở Việt Nam; thành công trong luận án là tác giả đã xây dựng mô hình phát triển NLTT cho sinh viên đại học ở Việt Nam;
và đề xuất các giải pháp hiện thực hóa mô hình phát triển NLTT cho sinh viên đại học ở Việt Nam
1.1.2 Các nghiên cứu về NCKH và các chỉ số NCKH
Các xu hướng phát triển nhanh mạnh của cách mạng công nghiệp 4.0
đã và đang đặt ra những yêu cầu vô cùng cấp bách cho sự nghiệp đổi mới toàn diện giáo dục, đào tạo và NCKH NCKH luôn gắn liền và đi đôi với chất lượng đào tạo Theo Rowland (1966) cho rằng việc giảng dạy và NCKH là sự kích thích và hỗ trợ lẫn nhau, nên cùng tồn tại song song với nhau Katz và Coleman (2001) còn cho rằng việc tham gia NCKH cải thiện sự tự tin cho giảng viên, góp phần phát triển nghề nghiệp và sự thăng tiến trong công việc NCKH có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển và phổ biến kiến thức, hoạt động kiến thức dẫn đến sự phát triển của kiến thức mới cũng như củng cố kiến thức đã có
Trang 22Tại Việt Nam, nhiều tác giả như Trần Hồ Thảo (2006), Phan Thị Tú Nga (2011), Nguyễn Đình Hậu (2012) và Phùng Văn Hiển (2017) và nhiều tác giả khác đã rất trăn trở làm thế nào để có thể nâng cao hiệu quả NCKH và
họ đã đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả NCKH
Liên quan đến các chỉ số nghiên cứu khoa học (NCKH) như số lượng
đề tài, số lượng các sản phẩm khoa học rất nhiều tác giả trên thế giới như Hirsch, J E (2005), Gonzalez-Brambila, C., & Veloso, F M (2007) nghiên cứu Ở Việt Nam cũng có Hồ Tú Bảo (2010), Tạ Cao Minh (2012) đã quan tâm đến việc đánh giá định lượng kết quả NCKH, chất lượng NCKH nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng NCKH cho nước nhà
Nguyễn Thái Ngọc Hà (2012) đã khảo sát 157 sinh viên năm thứ 3, thứ
4 và tất cả các sinh viên đang thực hiện đề tài NCKH các cấp thuộc 6 khoa đang theo học bậc đại học chính quy (Khoa NN - TNTN, Khoa KT - QTKD Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Khoa Kỹ thuật - Công nghệ - Môi trường, Khoa Sư phạm, Khoa Văn học nghệ thuật, Khoa Lý luận chính trị); 48 sinh viên, 18 cán bộ giảng viên và 5 cán bộ quản lý thuộc các phòng, ban có liên quan tham gia vào phỏng vấn sâu để xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến
sự tham gia NCKH của sinh viên Trường Đại học An Giang, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH của sinh viên Trường Đại học An Giang
Huỳnh Thanh Nhã (2016) tác giả đã khảo sát 125 giảng viên tại các trường đại học Cao đẳng công lập của thành phố Cần Thơ và sử dụng phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) để kiểm định và xây dựng các thang đo, phương pháp hồi quy tuyến tính bội sử dụng để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia NCKH của giảng viên các trường cao đẳng công lập ở thành phố Cần Thơ
Trang 23Theo Hồ Tú Bảo (2017) mục đích của nghiên cứu (research) là việc tìm
ra các tri thức mới và có giá trị, góp phần làm phong phú thêm những hiểu biết của con người, hoặc góp phần vào việc làm ra của cải vật chất cho xã hội
Vì vậy, công bố những nghiên cứu là cách phổ biến nhất để đánh giá tính mới
mẻ và giá trị của kết quả nghiên cứu
Một nghiên cứu mới được xuất bản của Nguyễn Văn Tuấn (2018) giúp cho những cán bộ khoa học trẻ hay những sinh viên mới bắt đầu làm nghiên cứu khoa học thấy được hành trình trước mắt để chuẩn bị Với 21 tiêu đề gợi
mở như: Tại sao nghiên cứu khoa học?; Thế nào là “cái mới” trong khoa học?; Cách thiết kế bộ câu hỏi; Trị số P trong nghiên cứu khoa học; Khoa học Việt Nam đang ở đâu; Những vấn đề thời sự…, thành một quy trình
nghiên cứu khoa học từ lúc hình thành ý tưởng, thu thập dữ liệu qua thí nghiệm, đến cách soạn bài báo khoa học bằng tiếng Anh và công bố kết quả khoa học
1.1.3 Các nghiên cứu về mối tương quan của NLTT với NCKH và các chỉ số NCKH của đội ngũ CBKHT
Nghiêm Xuân Huy (2010) đã phân tích đặc thù công việc của cán bộ nghiên cứu trong mối tương quan với NLTT, thấy được sự ảnh hưởng tích cực của NLTT tin đối với cán bộ nghiên Từ đó tác giả cũng cho chúng ta thấy rõ vai trò quan trọng của NLTT đối với cán bộ nghiên cứu và đưa ra những kiến nghi, đề xuất nhằm phát triển NLTT cho cán bộ nghiên cứu
Trương Đại Lượng (2015, tr.48) cho rằng NCKH là thu thập, phân tích thông tin để hiểu biết về một hiện tượng Đây là một điều tra với thông số và mục tiêu rõ ràng: Khám phá, sáng tạo tri thức và xây dựng học thuyết Vì thế, NCKH là một quá trình vận dụng gồm nhiều kỹ năng của một nhà nghiên cứu, mà chính NLTT giúp người học xây dựng và rèn luyện những kỹ năng
Trang 24đó Với định nghĩa vừa nêu trên, để tiến hành NCKH, sinh viên trước hết cần phải trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng về NLTT như sau:
1 Nhận biết thông tin: Khi nào cần thông tin, đặt giả thuyết cho vấn đề
2 Khả năng định vị: Xác định nguồn cung cấp những thông tin và tìm được các nguồn tin cần có
3 Đánh giá thông tin: Thẩm định sự chính xác của thông tin
4 Khả năng phê phán: Tư duy nhận xét, bình luận trước các vấn đề, hiện tượng
5 Khả năng sáng tạo: Đặt ra những câu hỏi với những kiến thức, lý thuyết được đúc kết để tìm ra hướng đi mới
6 Tổ chức thông tin: Chọn lọc và tổ chức thông tin một cách phù hợp
7 Khả năng ứng dụng: Vận dụng hiệu quả những thông tin đó vào thực tế
Vậy NLTT chính là hành trang không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học, trong nền kinh tế tri thức, giúp sinh viên hòa nhập và phát triển bền vững trong xã hội thông tin
Trần Dương (2016) đã luận giải “NLTT là gì” Tác giả cũng cho chúng
ta thấy được sự ảnh hưởng của NLTT đối với sinh viên đại học trong học tập, trong NCKH, trong việc phát triển các kỹ năng mềm và sự hiểu biết về các lĩnh vực NLTT là một trong số những công cụ hỗ trợ hiệu quả và đắc lực giúp công tác nghiên cứu khoa học diễn ra một cách thuận lợi và thường xuyên, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu, rút ngắn quá trình ứng dụng khoa học vào thực tiễn
Heather Brodie Perry (2017) cho rằng các nhà quản lý thư viện cần thông tin đáng tin cậy để phục vụ nhu cầu giảng dạy cho các sinh viên đại học
Trang 25năm cuối trong việc tìm kiếm và sử dụng thông tin Nghiên cứu này thông qua các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc đối với giảng viên giảng dạy khoa học ở một
số trường đại học ở Boston Kết quả phỏng vấn chỉ ra rằng giảng viên quan tâm nhiều hơn sự hoàn thiện kỹ năng trí tuệ đánh giá thông tin để tìm ra những nguồn tốt nhất thay vì tập trung về kỹ năng thực hiện tìm kiếm của sinh viên Các giảng viên cũng chỉ ra một số lĩnh vực mà các nhà quản lý thư viện có thể hỗ trợ sự phát triển năng lực thông tin của sinh viên trong quá trình họ học tập và NCKH
Ta thấy rằng cả tác giả trong và ngoài nước đều cho thấy rằng NLTT và NCKH có sự gắn kết với nhau, việc tìm kiếm, đánh giá, quản lý và sử dụng thông tin một cách hợp pháp và có đạo đức giúp cho công việc NCKH tốt hơn, chất lượng hơn
1.2 Các khái niệm
1.2.1 Năng lực thông tin
NLTT là một khái niệm có nhiều khía cạnh khác nhau hay còn gọi là một thuật ngữ đa chiều Điều này làm cho NLTT có thể được hiểu khác nhau
ở những đối tượng khác nhau như cá nhân, tổ chức, xã hội hay toàn cầu
Shirley J Behrens (1994) cho biết rằng NLTT được nghiên cứu từ những năm 1970 và khái niệm này bắt nguồn từ các nước phương Tây Khái niệm NLTT được giới thiệu đầu tiên bởi Paul Zurkowski - Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp thông tin Mỹ vào năm 1974 Khái niệm này nhằm giải quyết vấn
đề về khủng hoảng và bùng nổ thông tin, được coi như là một tập hợp các kỹ năng thu thập và xử lý thông tin Từ khái niệm đầu tiên đó, khái niệm NLTT bắt đầu được mở rộng từ năm 1987 và được xem như một khái niệm về "cách thức học tập" cùng với sự ra đời một số khung lý thuyết và mô hình tiêu biểu như: Big 6 (Eisenberg and Berkowitz phát triển từ năm 1988), đặc biệt Hiệp hội thư viện đại học và thư viện nghiên cứu Hoa Kỳ (ACRL) đề xuất khái
Trang 26niệm NLTT năm 1988 là hướng tới nội dung "học tập suốt đời" và "cách thức học tập"
Từ năm 1989 đến nay, xuất hiện rất nhiều định nghĩa khác nhau về NLTT Theo Hiệp hội Các thư viện chuyên ngành và các trường đại học Hoa
Kỳ (ACRL, 1989), người có NLTT là người đã học được cách thức để học, nắm được phương thức tổ chức tri thức, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin và những người khác có thể học tập được từ họ Bản thân những cá nhân này luôn tìm được những thông tin cần thiết cho bất kỳ nhiệm vụ hoặc quyết định nào một cách chủ động, tích cực và được chuẩn bị cho khả năng học tập suốt đời
Doyle C S (1992, tr.8) cho rằng NLTT bao gồm 9 khả năng như: 1 Nhận diện thông tin chính xác và hoàn chỉnh; 2 Nhận diện nhu cầu tin mình cần; 3 Nhận diện các nguồn tài nguyên thông tin tiềm năng; 4 Phát triển thành công các chiến lược tìm kiếm thông tin; 5 Truy cập một cách hiệu quả các nguồn thông tin bao gồm cả các nguồn thông tin điện tử; 6 Đánh giá thông tin; 7 Tổ chức thông tin cho những ứng dụng thực tiễn; 8 Tích hợp thông tin mới với thông tin đã biết; 9 Sử dụng thông tin một cách có bình luận, nhận xét và có kỹ năng giải quyết vấn đề
Tóm lại, theo Doyle C.S (1992) thì NLTT gồm các khả năng: 1 Thu thập thông tin; 2 Xử lý thông tin (gồm cả định tính và định lượng); 3 Sử dụng/vận dụng thông tin
Bruce (1997) phân tích khái niệm NLTT theo bảy khía cạnh: 1 Công nghệ thông tin; 2 Nguồn thông tin; 3 Quá trình thông tin; 4 Kiểm soát thông tin; 5 Xây dựng tri thức; 6 Mở rộng tri thức; 7 Sự khôn ngoan
Tìm thấy trong tất cả các định nghĩa và mô tả về NLTT, Boekhors (2003) cho rằng NLTT được tóm tắt thành ba khái niệm cụ thể như sau:
Trang 27+ Dưới góc độ khái niệm công nghệ thông tin và truyền thông: NLTT
là khả năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để tra cứu và phổ biến thông tin
+ Dưới góc độ khái niệm các nguồn thông tin: NLTT là khả năng tìm
và sử dụng thông tin một cách độc lập hoặc với sự trợ giúp của trung gian
+ Dưới góc độ khái niệm tiến trình thông tin: NLTT là tiến trình nhận dạng nhu cầu tin, tra cứu, đánh giá, sử dụng và phổ biến thông tin theo yêu cầu hoặc mở rộng kiến thức
Tổng hợp lại Boekhors cho chúng ta thấy rằng NLTT là khả năng tra cứu, đánh giá, xử lý và phổ biến thông tin để ra các quyết định nhằm tồn tại
Theo UNESCO (2005, tr.10) “NLTT là sự kết hợp của kiến thức, sự hiểu biết, các kỹ năng và thái độ mà mỗi cá nhân cần hội tụ đầy đủ trong xã hội thông tin Khi mỗi thành viên có NLTT tốt thì họ sẽ phát triển khả năng lựa chọn, định giá, sử dụng và trình bày thông tin một cách hiệu quả”
Hiện nay, để bắt kịp xu hướng của thời đại, nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức đã cập nhật và làm mới khái niệm về NLTT Hiệp hội SCONUL (Society of College, National and University Libraries) - Hiệp hội Thư viện các trường đại học quốc gia và cao đẳng cho rằng người có NLTT là những người có nhận thức và khả năng tập hợp, sử dụng, quản lý, tạo ra dữ liệu và thông tin một cách có đạo đức, hợp pháp một cách có hiệu quả Hiệp hội Thư viện nghiên cứu và đại học Mỹ (Association of College & Research Libraries
- ACRL) thì lại đưa ra khái niệm NLTT là tổng hợp sự tìm kiếm, đánh giá, làm sáng tỏ, quản lý và sử dụng thông tin để trả lời các câu hỏi và phát triển câu hỏi mới NLTT nhằm tạo ra những tri thức mới thông qua sự hợp tác có yếu tố đạo đức trong những cộng đồng học tập, học tập và thực tiễn Đây là
Trang 28một khái niệm và một mô hình mới được biết đến như là khung NLTT dành cho giáo dục đại học (Framework for information literacy for higher education)
Ở Việt Nam, theo tiếp cận dưới góc độ thư viện học và giáo dục học, Trương Đại Lượng (2015, tr17) dịch “Information Literacy” là kiến thức thông tin và tác giả đã khái niệm kiến thức thông tin là tập hợp kiến thức và
kỹ năng thông tin bao gồm: Nhận dạng nhu cầu tin, tìm kiếm thông tin, đánh giá và khai thác thông tin, tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề và sự hiểu biết về các vấn đề đạo đức, kinh tế, pháp lý, xã hội có liên quan đến truy cập, sử dụng và trao đổi thông tin
Trần Dương (2017) cho rằng NLTT là khả năng nhận diện nhu cầu thông tin, khả năng định vị, tìm kiếm, định giá, sử dụng thông tin cũng như thái độ sẵn sàng chia sẻ thông tin với mọi người
Tóm lại, tiếp cận theo nhu cầu sử dụng NLTT trong nghiên cứu khoa học thì NLTT là khả năng nhận biết nhu cầu tin, khả năng tìm kiếm thông tin, khả năng đánh giá thông tin, sử dụng và quản lý thông tin một cách hiệu quả, phù hợp với đạo đức và pháp luật
1.2.2 Đội ngũ cán bộ khoa học trẻ
Đội ngũ cán bộ khoa học trẻ (CBKHT) hay còn gọi là trí thức khoa học trẻ Theo Trần Cao Sơn (2014) trí thức khoa học trẻ là trí thức còn trẻ về tuổi đời và tuổi nghề Các trí thức trẻ sau khi tốt nghiệp các trường đại học về làm việc tại các viện nghiên cứu khoa học chuyên ngành hoặc các trường đại học, cao đẳng cần phải có một quá trình hàng chục năm để học tập, trau dồi kiến thức, kỹ năng Các thế hệ trước đây cũng vào độ tuổi 35- 40 mới thực sự quen công việc Vì vậy, chúng ta có thể tạm gọi những người ở độ tuổi dưới 40 trong các cơ quan nghiên cứu khoa học và các trường đại học, cao đẳng là trí thức khoa học trẻ
Trang 29Cán bộ khoa học trẻ là đội ngũ kế thừa xây dựng và phát triển tương lai các trường đại học, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy của các trường đại học cả hiện tại và tương lai Đội ngũ cán bộ khoa học được xác định thuộc nhóm đội ngũ trí thức Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì tiêu chí đầu tiên để đánh giá người trí thức là người đó buộc phải có trình độ cử nhân Nhưng học vấn đại học mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là phải sử dụng có hiệu quả tri thức trong đời sống
xã hội, phục vụ dân sinh Vậy, CBKHT là những người có trình độ cử nhân trở lên, làm việc liên quan đến hoạt động có tính trí tuệ, có sự sáng tạo hay còn gọi là công tác khoa học tạo ra những công trình nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Tóm lại, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ là những người có trí thức, là những cán bộ có tuổi đời còn trẻ, làm nhiệm vụ tại các viện nghiên cứu chuyên ngành hoặc giảng dạy hoặc đang trong quá trình đào tạo để trở thành cán bộ nghiên cứu, giảng dạy của các trường đại học Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về độ tuổi để xác định là cán bộ khoa học trẻ, nhưng đại đa số đều thống nhất là độ tuổi dưới 40 hoặc đang trong độ tuổi sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
1.2.3 Nghiên cứu khoa học và các chỉ số nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học
Theo từ điển khoa học Lefrançois (1991, tr 147; trích lại của Trần Thanh Ái, 2014), “NCKH là mọi hoạt động có hệ thống và chặt chẽ bao hàm một phương pháp luận phù hợp với một hệ vấn đề nhằm tìm hiểu một hiện tượng, giải thích hiện tượng và khám phá một số quy luật NCKH là nơi đối chiếu giữa những tiền giả định lý thuyết và thực tế như nó được cảm nhận” Với quan điểm của Vũ Cao Đàm (1999) thì NCKH là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết hoặc là phát hiện
Trang 30bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới: Tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013: "NCKH là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các sự vật, hiện tượng, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn"
Tóm lại, NCKH là quá trình tìm kiếm tri thức mới, áp dụng các ý tưởng, phương pháp khoa học, phương tiện kỹ thuật để giải thích và khám phá tri thức đó nhằm ứng dụng vào thực tiễn
Kết quả nghiên cứu khoa học
Kết quả NCKH hay còn gọi là sản phẩm NCKH là kiến thức mới Những kiến thức mới này được sử dụng theo 2 cách: 1 Kiến thức mới chính là lý thuyết nền tảng cho các nghiên cứu sau; 2 Kiến thức mới là sự ứng dụng các kiến thức đó vào hoạt động sản xuất, xã hội góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước
Các sản phẩm NCKH được thể hiện thông qua:
+ Các bài báo công bố trên các tạp chí khoa học có uy tín trong và ngoài nước, các báo cáo nghiên cứu, báo cáo tại hội nghị chuyên ngành Các bài báo cáo nhằm truyền bá kiến thức mới được tạo ra từ những hoạt động nghiên cứu cho toàn xã hội nói chung và giới khoa học kỹ thuật nói riêng
+ Các bằng sáng chế (patent) và bản quyền trong và ngoài nước, sách (ấn phẩm khoa học)
Năng suất NCKH
(Witzel, 1999) khẳng định năng suất là thước đo hiệu quả một hoạt động của một quá trình sản xuất, là tỉ lệ giữa sản phẩm đầu ra và các nguyên liệu đầu vào, hoặc được tính bằng mức tiêu thụ trong cùng thời gian Vì sản
Trang 31phẩm của việc NCKH là các công bố mang tính học thuật Print & Hatie (1997) định nghĩa năng suất nghiên cứu là tổng số các nghiên cứu mang tính học thuật tại các trường đại học trong một khoảng thời gian xác định
Các quan điểm khác như Jocobs và etg, 1986; Kurz & etg, 1989 cho rằng năng suất nghiên cứu là một thước đo các nỗ lực trong hoạt động của giới học thuật Gaston (1970) chỉ ra khái niệm này bao gồm hai yếu tố cấu thành: Sự sáng tạo tri thức (tính bằng số nghiên cứu và sự phân phối tri thức (tức là mức độ phổ biến của tri thức nghiên cứu được) (Creswell, 1986) thì cho rằng năng suất nghiên cứu được thực hiện thông qua số lượng các công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành; viết sách; kỷ yếu hội thảo; hướng dẫn luận văn hoặc các nghiên cứu của học viên cao học, nghiên cứu sinh; chịu trách nhiệm chủ nhiệm đề tài; được các thừa nhận của giới nghiên cứu ; nhận các bằng sáng chế và bản quyền; thực hiện các khảo sát chuyên sâu; phát triển các thiết kế, thí nghiệm ra thực tế; tham gia bình luận chuyên môn và các hội thảo
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm năng suất nghiên cứu, bởi vậy cách thức đo lường năng suất nghiên cứu cũng khác nhau Tuy nhiên để
đo lường năng suất nghiên cứu, cần thực hiện trên cả 2 phương diện: số lượng
và chất lượng nghiên cứu
Trong đề tài này, tác giả muốn nói đến các chỉ số nghiên cứu khoa học sau: 1 Số lượng đề tài; 2 Số lượng các công bố khoa học
Số lượng đề tài
Theo Nguyễn Thiện Thắng (2012, tr4-5) đề tài NCKH nói chung (đề tài khoa học): Là một vấn đề khoa học có chứa một nội dung thông tin chưa biết, cần phải nghiên cứu làm sáng tỏ
Trang 32+ Theo loại hình bao gồm nghiên cứu cơ bản; nghiên cứu ứng dụng; nghiên cứu triển khai; nghiên cứu dự báo
+ Theo tính chất bao gồm đề tài lý thuyết; đề tài thực nghiệm; đề tài kết hợp
+ Theo trình độ đào tạo bao gồm khóa luận (cử nhân); luận văn (thạc sỹ); luận án (tiến sỹ)
+ Theo cấp quản lý bao gồm đề tài cấp cơ sở; đề tài cấp tỉnh; đề tài cấp bộ; đề tài cấp nhà nước
Trong đề tài này tác giả tập trung vào số lượng đề tài phân cấp theo cấp quản lý gồm những loại đề tài sau:
1 Đề tài cấp cơ sở
2 Đề tài cấp bộ
3 Đề tài cấp Nhà nước
Số lượng các công bố khoa học
1 Sách tham khảo, chuyên khảo
Theo Quyết định 37/2018/QĐ-TTg (2018) sách tham khảo là công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành có nội dung phù hợp chương trình đào tạo, bồi dưỡng được cơ sở giáo dục đại học dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên và người học;
Sách chuyên khảo là công trình khoa học trình bày kết quả nghiên cứu chuyên sâu và tương đối toàn diện về một vấn đề khoa học chuyên ngành;
2 Các tham luận in trong kỷ yếu hội thảo khoa học được xuất bản Theo Nguyễn Thiện Thắng (2012) kỷ yếu hội thảo là tuyển tập in các bài báo cáo gửi tới cuộc hội thảo quốc gia hay chuyên ngành Tập kỷ yếu này
Trang 33đăng cả những bài đã trình bày hoặc chưa trình bày tại hội thảo và có giá trị như một bài báo cáo khoa học
3 Các bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nước Các bài viết đó phải được công bố trên một trong những tạp chí khoa học chuyên ngành đã được quy định Cụ thể đó là các tạp chí uy tín do các Hội đồng chức danh giáo sư ngành, liên ngành chọn lựa và đề nghị thường trực Hội đồng nhà nước về chức danh giáo sư quyết định
Theo Nguyễn Văn Tuấn (2005) bài báo khoa học đóng một vai trò hết sức quan trọng để có thể đánh giá khả năng chuyên môn và năng suất khoa học của nhà nghiên cứu
4 Các bài viết đăng trên tạp chí quốc tế có chỉ số ISI hoặc Scopus hoặc ISSN
Theo Trần Văn Nhung (2018) tạp chí quốc tế là tạp chí được trích dẫn trong các cơ sở dữ liệu khoa học công nghệ uy tín ISI và Scopus hoặc ISSN Ngoài ra, ở mỗi chuyên ngành, một số cơ sở dữ liệu riêng cũng được thành lập và được chấp nhận rộng rãi như Pubmed (chuyên ngành y sinh), Embase (chuyên ngành y sinh)…
Web of Science (ISI) là một sản phẩm của Thomson Reuters, công cụ mạnh và đầy đủ để tìm kiếm, theo dõi, đo lường và hợp tác trong khoa học Tạp chí đạt bộ tiêu chuẩn của Web of Science (ISI) sẽ được liệt kê vào danh mục MasterJournal List Sau đó, tạp chí sẽ được chọn tiếp vào các cơ sở dữ liệu của Web of Science Core Collection và/hay một số cơ sở dữ liệu liên kết với Web of Science khác như Biological Abstract, Zoological Record,…
Scopus cũng là một nguồn dữ liệu uy tín đối với các nghiên cứu khoa học, và có Hội đồng cố vấn, thẩm định nội dung của Scopus (Content Selection and Advisory Board - CSAB) được thành lập năm 2005 Đối với
Trang 34Scopus, các tạp chí mới liên tục được thẩm định để được đưa vào cơ sở dữ liệu
5 Giáo trình môn học
Theo Quyết định 37/2018/QĐ-TTg (2018) giáo trình là tài liệu giảng dạy, học tập có nội dung phù hợp với chương trình đào tạo, bồi dưỡng được người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học lựa chọn hoặc được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt
1.3 Mối quan hệ giữa NLTT và NCKH của đội ngũ CBKHT
1.3.1 Tiêu chí đánh giá Năng lực thông tin
Từ khái niệm về NLTT, nhiều tác giả đã nghiên cứu đưa ra bộ tiêu chí đánh giá NLTT (hay còn gọi là kiến thức thông tin) Nhiều trường đại học tự xây dựng riêng một bộ tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá dựa trên cơ sở tham khảo các khung tiêu chuẩn đánh giá mà hiệp hội thư viện các nước Australia,
Mỹ, Anh đã xây dựng Khung đánh giá của Viện nghiên cứu NLTT Australia
- New Zealand nhấn mạnh vào các chuẩn, các nguyên tắc và hướng dẫn triển khai lồng ghép NLTT trong lĩnh vực giáo dục Bộ hướng dẫn này rất hữu ích,
đã giúp các trường xây dựng mục tiêu các khóa học, chuẩn đầu ra về học tập, tiêu chí đánh giá và rộng hơn là phát triển chính sách và đánh giá hiệu quả hoạt động đào tạo NLTT Alan Bundy (2004, tr3) đưa ra sáu tiêu chí về đánh giá NLTT như sau: 1 Nhận dạng nhu cầu thông tin và xác định được phạm vi của thông tin mà mình cần; 2 Khai thác thông tin hiệu quả; 3 Thẩm định thông tin và nguồn thông tin một cách tích cực và hiệu quả; 4 Biến nguồn thông tin được chọn lựa thành cơ sở tri thức mới; 5 Quản lý nguồn thông tin thu thập được và phát sinh; 6 Am hiểu được các khía cạnh về kinh tế, pháp luật, chính trị và văn hóa trong việc sử dụng thông tin
Trang 35ALA - Hiệp hội Thư viện Mỹ ban hành Khung đánh giá NLTT áp dụng cho bậc giáo dục đại học năm 2000 và đã áp dụng một cách rộng rãi ở các trường đại học tại Mỹ (Jackson & Durkee, 2008) ALA chỉ ra rằng NLTT như một yêu cầu bắt buộc với mỗi công dân sao cho thích ứng với những thay đổi nhanh về mặt công nghệ và sự bùng nổ thông tin
Bộ tiêu chuẩn đánh giá NLTT tại Anh được mô hình hóa, tập trung vào quá trình hỗ trợ cho người học liên tục từ trình độ căn bản đến nâng cao (SCNUL, 2007)
Trang 36Ở Việt Nam, tác giả Trần Thị Quý (2015, tr 335) đã đưa ra 4 tiêu chuẩn cần phải trang bị NLTT cho sinh viên Việt Nam: “1 Cần phải có kiến thức, kỹ năng để nhận diện nhu cầu tin; 2 Kỹ năng tìm kiếm thông tin; 3 Kỹ năng đánh giá và khai thác thông tin; 4 Hiểu biết những vấn đề về đạo đức, pháp luật trong việc sử dụng và chia sẻ thông tin với người khác”
Trương Đại Lượng (2015) đã khảo sát đánh giá thực trạng năng lực thông tin của sinh viên Việt Nam về cơ bản còn hạn chế và không đồng đều ở các nhóm Tác giả cho thấy thực trạng NLTT của sinh viên Việt Nam theo 4 tiêu chuẩn như sau: 1 Khả năng nhận dạng nhu cầu tin; 2 Khả năng tìm kiếm thông tin; 3 Khả năng đánh giá và khai thác thông tin; 4 Hiểu biết về pháp lý
và đạo đức liên quan đến truy cập, sử dụng và chia sẻ thông tin
Trần Mạnh Tuấn (2014) nhận định theo quan điểm của UNESCO, người có NLTT là người có khả năng dựa trên cơ sở ba yếu tố cấu thành là: Truy cập và tìm kiếm, Hiểu biết và đánh giá, sáng tạo và sử dụng
Trong nghiên cứu này, tác giả dựa trên các khung tiêu chuẩn đánh giá năng lực thông tin của các tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu đưa ra khung tiêu chuẩn đánh giá năng lực thông tin cho đội ngũ cán bộ khoa học trẻ như sau:
a Khả năng nhận dạng nhu cầu thông tin
Để có thể tiến hành nghiên cứu và tìm kiếm thông tin một cách hiệu quả, đúng mục tiêu nghiên cứu thì đội ngũ cán bộ khoa học cần phải nhận dạng được nhu cầu thông tin của mình qua các bước như sau:
Xác định phạm vi nhu cầu tin:
Là kỹ năng rất quan trọng đối với người nghiên cứu, tìm kiếm thông tin nếu không xác định đúng phạm vi thông tin thì sẽ mất định hướng khi nghiên cứu hoặc sẽ tìm được thông tin nhiều quá hoặc ít quá Việc xác định phạm vi
Trang 37nhu cầu tin phụ thuộc vào mục đích sử dụng thông tin và thời gian tìm kiếm
thông tin
Xác định tính chất thông tin:
Trước khi bắt tay vào tìm kiếm thông tin, người dùng tin cần xác định
rõ tính chất thông tin: Hiểu được sự khác nhau giữa các giá trị, các nguồn thông tin tiềm năng; hiểu được sự khác nhau giữa nguồn thông tin cấp một và nguồn thông tin cấp hai, hiểu cách sử dụng chúng với mỗi chủ đề
Xác định loại hình thông tin
Các loại hình thông tin bao gồm bách khoa thư, từ điển các loại, danh
bạ, sách, tạp chí phổ thông (magazine), tạp chí chuyên ngành (journal), số liệu thống kê, luận án, luận văn, kỷ yếu hội thảo, tiêu chuẩn, phát minh sáng chế Tương ứng với các loại hình thông tin khác nhau sẽ có các nguồn cung cấp thông tin khác nhau Bởi vậy các nhà khoa học cần phân biệt, xác định rõ ràng các loại hình thông tin khác nhau để đưa ra những quyết định tìm kiếm phù hợp Việc lựa chọn nguồn thông tin phụ thuộc vào chủ đề tìm kiếm cũng như hướng tiếp cận
Đánh giá lại bản chất nhu cầu tin
Kiểm tra lại nhu cầu tin lúc đầu để làm rõ hơn, thu gọn hơn câu hỏi tìm kiếm, sử dụng và liên kết các tiêu chuẩn để tạo ra các lựa chọn, các quyết định
về thông tin
b Khả năng tìm kiếm thông tin
Xây dựng chiến lược tìm tin
* Xác định các khái niệm chính: Cần phải xác định khái niệm chính mô
tả nhu cầu thông tin đó để xây dựng chiến lược tìm tin
Trang 38* Xác định ngôn ngữ tìm tin: Cần liệt kê danh sách càng nhiều càng tốt,
các từ đồng nghĩa và từ liên quan của mỗi khái niệm Nếu chúng tà càng liệt
kê được nhiều từ đồng nghĩa và từ liên quan thì cơ hội tìm được các tài liệu phù hợp sẽ lớn hơn Nếu chưa nắm rõ các thuật ngữ liên quan đến chủ đề đang quan tâm, hãy xuất phát từ các danh bạ mạng và các từ điển thuật ngữ chuyên ngành, bộ thuật ngữ chuyên đề (thesaurus) Ví dụ như OPAC, CSDL thư mục thường sử dụng ngôn ngữ tư liệu (đề mục chủ đề, ký hiệu phân loại,
từ khóa có kiểm soát) trong khi đó máy tìm tin sử dụng ngôn ngữ tự nhiên
* Xây dựng biểu thức tìm tin: Để trình bày mối quan hệ giữa các khái niệm chính và các từ đồng nghĩa, từ liên quan cần sử dụng toán tử Boolean và các dấu Toán tử AND và NOT được sử dụng để hạn chế kết quả tìm kiếm, toán tử OR được sử dụng để mở rộng kết quả tìm kiếm và dấu ngoặc được sử dụng để nhóm các từ đồng nghĩa và từ liên quan
Lựa chọn công cụ tìm tin phù hợp
Hiện nay có nhiều công cụ tìm tin khác nhau và phổ biến nhất là OPAC/mục lục thư viện, cơ sở dữ liệu (CSDL) và internet Để tìm tin hiệu quả, người tìm tin phải hiểu sự khác nhau giữa các công cụ này và cách thức
sử dụng chúng Nhiều năm trước đây mục lục thư viện là công cụ chỉ cho phép truy cập các tài liệu truyền thống trong thư viện như: sách, tên tạp chí, luận án, luận văn, băng video, bản đồ, Ngày nay, mục lục truy cập công cộng trực tuyến (OPAC) cung cấp khả năng truy cập các nguồn tài nguyên điện tử đã được thư viện lựa chọn Đặc biệt, nhiều OPAC cho phép người dùng tin xem hình ảnh bìa tài liệu, mục lục của tài liệu CSDL có nhiều loại khác nhau: CSDL thư mục, CSDL số liệu thống kê, CSDL hình ảnh CSDL thư mục cho phép tìm các bài trích báo, tạp chí Trong một số trường hợp người dùng tin tìm thấy cả các bài báo, tạp chí toàn văn Internet là mạng máy tính khổng lồ cho phép người dùng tin truy cập tất cả các loại thông tin
Trang 39Sử dụng công cụ tìm tin
Để tìm kiếm thông tin hiệu quả, người dùng tin cần nắm được đặc điểm
và cơ chế hoạt động của mỗi loại công cụ tìm tin cụ thể và phân tích được nhu
cầu thông tin của mình, từ đó lựa chọn các điểm truy cập phù hợp
c Khả năng đánh giá thông tin
Đánh giá thông tin là một khâu quan trọng trong quá trình tìm kiếm thông tin Đối với mục tiêu học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học, đánh giá thông tin càng cần phải được xem xét ở mức độ chính xác, khoa học
Đánh giá những nguồn thông tin hữu ích, có liên quan: Đánh giá sự
phù hợp và chất lượng kết quả tìm kiếm và sử dụng công cụ tìm kiếm thông tin phù hợp; Nhận diện, xác định các lỗ hổng của thông tin và thay đổi chiến lược tìm kiếm; Sử dụng chiến lược tìm kiếm mới hoặc thực hiện tìm kiếm lại nếu cần
Xác định và đánh giá theo các chuẩn đánh giá thông tin:
Cần đánh giá và so sánh thông tin từ các nguồn khác nhau
Chú trọng đến quá trình tìm kiếm thông tin và thay đổi chiến lược tìm kiếm nếu cần thiết
d Khả năng quản lý thông tin thu thập được và thông tin phát sinh
Ghi chép lại thông tin và nguồn thông tin tìm được: Quản lý nội dung
cơ bản của thông tin bằng bảng ghi nhớ, gạch đầu dòng hoặc bản nháp; Trích dẫn nguồn thông tin và quản lý các nguồn thông tin một cách có hệ thống; Ghi lại toàn bộ thông tin phù hợp nhằm phục vụ mục đích tham khảo, tra cứu
Tổ chức thông tin (sắp xếp, phân loại, lưu trữ…), biên soạn, sửa tài liệu
tham khảo theo dạng thư mục; xây dựng hệ thống quản lý, tổ chức thông tin được bằng các phần mềm như Endnote…
Trang 40e Sử dụng, chia sẻ, trao đổi thông tin phù hợp với pháp luật và đạo đức
Có kỹ năng phổ biến, chia sẻ thông tin, tri thức và sáng tạo tri thức mới một cách có hiệu quả
Biết tiếp cận, khai thác các nguồn kiến thức cũ nhằm xác định giá trị còn lại, các mâu thuẫn hay những đặc điểm mới mẻ của thông tin
Công nhận quy ước, quy định liên quan tới việc truy cập và sử dụng thông tin: Hiểu cách trích dẫn và mô tả tài liệu tham khảo; Hiểu biết về bản quyền sở hữu trí tuệ
Trích dẫn và mô tả tài liệu tham khảo
* Trích dẫn tham khảo
Trích dẫn tham khảo là một câu hay đoạn văn được rút ra từ một tài liệu khác để minh hoạ, bảo vệ quan điểm, ý kiến trong bài viết của mình Và điều bắt buộc khi trích dẫn tham khảo một thông tin là phải dẫn ra nguồn cung cấp thông tin đó Điều bắt buộc này không có ngoại lệ cho bất cứ nguồn thông tin nào: sách, bài báo, bách khoa thư, tài liệu nghe nhìn, các trang web, v.v cũng như các loại thông tin: ý kiến, nhận xét, thảo luận, kết luận, hình ảnh, bảng số liệu Khi soạn thảo tài liệu khoa học, đặc biệt là trong bài báo cáo kết quả nghiên cứu, nhà nghiên cứu rất cần dựa trên các kết quả nghiên cứu, ý tưởng, học thuyết đã biết để bảo vệ quan điểm của mình Trích dẫn tham khảo trong việc sử dụng thông tin khoa học của người khác trong bài viết của mình nhằm tôn trọng tác quyền của tài liệu gốc đã được sử dụng để dẫn ra thông tin; hạn chế nạn "đạo văn" giúp người đọc có thể xác định dễ dàng các nguồn tài liệu đã sử dụng (thông qua danh mục tham khảo)
* Mô tả tài liệu tham khảo:
Khác với trích dẫn tham khảo, danh mục tài liệu tham khảo cung cấp các thông tin chi tiết về các tài liệu đã tham khảo và có trích dẫn trong bài