1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty tài chính hải âu

99 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là thường xuyên tiến hành công tác phân tích tài chính và không ngừng hoàn thiện công tác này, trên cơ sở đó định hướng cho các quyết định nhằm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LẠI THỊ PHƯƠNG

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH HẢI ÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LẠI THỊ PHƯƠNG

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH HẢI ÂU

Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng

Mã số: 60 34 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ KIM OANH

Hà Nội – 2014

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Kết cấu của luận án 6

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC 7

PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 7

1.1 Tổng quan công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 7

1.1.1 Khái niệm và cơ sở lý luận của quy trình công tác phân tích tài chính 7

1.1.2 Mục đích công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 9

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của công tác phân tích tình hình tài chính 9

1.1.4 Các phương pháp sử dụng để phân tích tài chính 11

1.1.5 Quy trình phân tích trong công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 13

1.1.6 Tính khả thi của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 16

1.2 Nội dung phân tích của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 16

1.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 16

1.2.2 Các tỷ số nợ và thanh khoản – Đánh giá năng lực thanh toán 23

1.2.3 Các tỷ số hoạt động – Đánh giá năng lực kinh doanh 25

Trang 4

1.2.4 Các tỷ số lợi nhuận – Đánh giá năng lực thu lợi 28

1.3 Đánh giá công tác phân tích và các quy định tổ chức 30

1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 31

1.4.1 Nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 31

1.4.2 Nhân tố khách quan ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 33

1.5 Kinh nghiệm về công tác phân tích tài chính 34

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH HẢI ÂU 37

2.1 Vài nét về đặc điểm kinh doanh của công ty 37

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 37

2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh của công ty tài chính Hải Âu 38

2.1.3 Đặc điểm tổ chức kinh doanh của công ty tài chính Hải Âu 38

2.2 Công tác phân tích tài chính tại công ty tài chính Hải Âu 41

2.2.1 Phân công phân nhiệm trong công tác phân tích tài chính 41

2.2.2 Tổ chức thu thập thông tin đầu vào trong công tác phân tích tài chính 41

2.2.3 Quy trình thực hiện PTTC tại công ty tài chính Hải Âu 42

2.2.4 Phương pháp phân tích trong công tác phân tích tài chính tại Công ty tài chính Hải Âu 43

2.2.5 Nội dung phân tích tài chính tại Công ty tài chính Hải Âu 44

2.3 Đánh giá công tác PTTC tại Công ty tài chính Hải Âu 59

2.3.1 Một số kết quả đạt được của công tác phân tích tài chính 59

2.3.2 Một số hạn chế của công tác phân tích tài chính tại công ty 60

Trang 5

tài chính Hải Âu 60

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trên 61

2.4 Vấn đề cần được xem xét trong công tác phân tích tài chính tại công ty tài chính Hải Âu 63

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH HẢI ÂU 65

3.1 Định hướng phát triển kinh doanh của công ty tài chính Hải Âu 65

3.2 Những yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý tài chính tại công ty tài chính Hải Âu 66

3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác PTTC của công ty tài chính Hải Âu 67

3.3.1 Hoàn thiện quy trình và phương pháp phân tích 67

3.3.2 Nâng cao chất lượng của hệ thống thông tin phục vụ cho công tác phân tích tài chính 72

3.2.3 Hoàn thiện nội dung phân tích của công tác phân tích tài chính tại công ty tài chính Hải Âu 73

3.2.4 Tổ chức tốt việc sử dụng kết quả phân tích 84

3.2.5 Nâng cao chất lượng nhân lực trực tiếp phục vụ công tác phân tích tài chính 84

3.4 Kiến nghị 87

3.4.1 Kiến nghị với công ty tài chính Hải Âu 87

3.4.2 Một số kiến nghị với các Bộ ngành và Nhà nước 87

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới đã làm cho hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn Năm

2012, có tới hơn 54.000 doanh nghiệp giải thể và ngừng hoạt động, con số cao

kỷ lục trong lịch sử từ trước tới nay Quá trình sàng lọc và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không ngừng diễn ra và để thắng công cuộc cạnh tranh này các doanh nghiệp phải có hoạt động sản xuất kinh doanh thực sự hiệu quả Muốn vậy, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải đưa ra các quyết định tối ưu trên cơ

sở các thông tin tài chính được phân tích đầy đủ và kịp thời

Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là thường xuyên tiến hành công tác phân tích tài chính và không ngừng hoàn thiện công tác này, trên cơ

sở đó định hướng cho các quyết định nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cải thiện tình hình tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính không chỉ có ý nghĩa quan trọng với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị mà các thông tin từ việc phân tích tài chính mang lại còn hữu ích với các nhà đầu

tư, nhà cung cấp, nhà cho vay, người lao động và các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế Thực tiễn đã cho thấy, nếu các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm đúng mức tới công tác phân tích tài chính thì họ sẽ có những quyết định đúng đắn và thành đạt trong kinh doanh, ngược lại họ sẽ khó tránh khỏi những sai lầm và thất bại

Nhận thức rõ được tầm quan trọng đó, Công ty tài chính Hải Âu luôn quan tâm tới công tác phân tích tài chính Nhờ đó, công ty đã đạt được những kết quả nhất định trong hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, những vướng mắc

về nội dung công tác phân tích đang làm hạn chế hiệu quả phân tích tài chính,

Trang 9

dẫn đến những đánh giá thiếu chính xác và kịp thời về tình hình tài chính công ty

Trong bối cảnh đó, hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty tài chính Hải Âu là một điều bức thiết Đề tài “ Hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài chính tại Công ty tài chính Hải Âu” được lựa chọn nghiên cứu nhằm góp phần đáp ứng đòi hỏi trên của thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có rất nhiều nghiên cứu về tài chính và các giải pháp nhằm hỗ trợ tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp, tiêu biểu như:

- Đề tài của học viên: Lê Thị Hải Hạnh năm 2012 với nội dung “Hoàn

thiện chỉ tiêu phân tích tài chính tại các công ty dệt may – tình huống tại Công ty cổ phần May Đáp Cầu” của Trường Đại học Kinh tế Đề tài đã

nghiên cứu và phân tích khá sâu sắc các chỉ tiêu phân tích tài chính tại doanh nghiệp và đề xuất xây dựng các chỉ tiêu mới nhằm đánh giá sát hơn tình hình tài chính của doanh nghiệp

Về mặt lý luận, luận văn đã tổng hợp và hệ thống hoá những cơ sở lý luận về phân tích tài chính trong doanh nghiệp Trên cơ sở phản ánh thực trạng tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần may Đáp Cầu, luận văn đã đưa

ra những ưu điểm và hạn chế, từ đó luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện tình hình tài chính tại công ty

Về mặt thực tiễn, khi đi sâu nghiên cứu thực trạng công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần may Đáp Cầu luận văn đã chỉ ra được những điểm còn bất cập từ cách thức tiến hành phân tích đến những hạn chế của nội dung phân tích và từ đó có những giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty may Đáp Cầu Đây là một điều cần thiết cần xem xét và nghiên cứu với mỗi cá nhân khi tham gia tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng

Trang 10

công tác phân tích tài chính cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, đây là đề tài tập trung vào các doanh nghiệp may, do đó nó phù hợp hơn với các doanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp thương mại cần nghiên cứu thêm các chỉ tiêu đánh giá đặc thù khác

- Đề tài của học viên: Nguyễn Mạnh Cường năm 2013 với nội dung “

Hoàn thiện công tác phân tích tài chính của ngân hàng Thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam” thuộc Đại học Đà Nẵng

Đề tài nghiên cứu công tác phân tích tài chính của các ngân hàng thương mại, mà đặc thù kinh doanh của ngành ngân hàng chính là dùng tiền để vừa làm phương tiện vừa làm mục đích cho nên những nội dung của hoạt động phân tích tài chính cũng sẽ bị ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố này Hơn nữa đây là ngành có tính nhạy cảm cao, nên khi phân tích yêu cầu người phân tích phải nắm vững tất cả các quy định, quy chuẩn của cơ quan quản lý

Có 3 nội dung phân tích lớn mà học viên Nguyễn Mạnh Cường đã nêu ra là: phân tích cấu trúc tài chính, phân tích khả năng thanh toán và phân tích tính hiệu quả Ba nội dung này phù hợp với việc nghiên cứu phân tích cho ngành ngân hàng tuy nhiên với các doanh nghiệp thương mại thì nó cần có một vài điểm khác biệt

Đồng thời, luận văn đã chỉ rõ những mặt đã hoàn thiện và chưa hoàn thiện của các phương pháp, nội dung phân tích, xây dựng và đề xuất các phương pháp hoàn thiện các chỉ tiêu phân tích tài chính ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng Vietcombank nói riêng, đảm bảo tính khoa học, thực thi, toàn diện và phù hợp Tuy nhiên do nghiên cứu riêng cho hệ thống ngân hàng nên những giải pháp đưa ra là nhằm cải thiện công tác phân tích tài chính cho ngành ngân hàng với những đặc thù riêng của nó Do vậy cần phải nghiên cứu thêm về phân tích tài chính tại các doanh nghiệp thương mại

Trang 11

- Mai Thị Xuân Liên (2008), “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính với tăng cường quản lý tài chính tại công ty viễn thông Điện Lực”, Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, Hà Nội

- Trần Thị Thu Thuỷ (2007),“ Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp của công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Bưu Điện”, khoa Tài Chính doanh nghiệp, Học viện tài chính

- Trịnh Thu Hương (2008), “ Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá” , Khoa Tài Chính, Đại học Thương Mại Các nghiên cứu trên đều làm rõ được bản chất, mục tiêu và lợi ích của công tác phân tích tài chính, đồng thời cũng chỉ ra các giải pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn tài chính của từng doanh nghiệp và các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả công tác phân tích tài chính Tuy nhiên các nghiên cứu này chưa thực sự phù hợp để áp dụng cho các doanh nghiệp trong giai đoạn khủng hoảng như hiện nay Cụ thể hơn với Công ty Tài Chính Hải Âu có nhiều đặc thù riêng trong hoạt động kinh doanh “ xe ô tô tải và máy xây dựng”, công ty không chỉ bị ảnh hưởng bởi hàng loạt khó khăn về tài chính, chính sách trong nước mà còn bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi về chính sách thuế, thủ tục hành chính, và các rào cản từ phía các nước nhập khẩu hàng hoá Do vậy đề tài này

sẽ tập trung nghiên cứu và khai thác sâu hơn các khía cạnh ảnh hưởng của công tác phân tích tài chính đến tình hình tài chính, từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện công tác phân tích tài chính cho Hải Âu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là lý thuyết về phân tích tài chính doanh nghiệp và thực tiễn công tác phân tích tài chính tại Công ty tài chính Hải Âu Trên cơ sở đó thấy rõ những mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, nhằm làm

Trang 12

căn cứ để hoạch định phương án hành động, vạch ra những giải pháp hữu hiệu

để hoàn thiện công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác phân tích tài chính của Công ty tài chính Hải Âu trong 3 năm: 2011, 2012, 2013 từ đó sẽ

có những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính trong 5 năm tới từ 2014 – 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện

chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích – tổng hợp: trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp, đề tài khái quát hoá bản chất của công tác phân tích tài chính tại Công ty, trên cơ sở đánh giá đó nhằm đưa ra những giải pháp cần thiết cho việc hoàn thiện công tác này tại Công ty Phương pháp so sánh: Đề tài sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của Công ty qua các năm và trong mối quan hệ với các doanh nghiệp cùng ngành – đây là nội dung quan trọng của công tác phân tích tài chính

Phương pháp phân tích tỷ lệ: Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Phương pháp phân tích tỷ lệ giúp

Trang 13

các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách

có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn

Một số phương pháp khác: Thu thập, xử lý thông tin, sử dụng các bảng biểu, hình vẽ…

6 Kết cấu của luận án

Đề tài với tên gọi: “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty tài

chính Hải Âu”, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,

danh mục các chữ viết tắt và các bảng biểu, luận văn được trình bày thành 3 phần chính như sau:

Chương I: Lý luận cơ bản về công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

Chương II: Thực trạng công tác phân tích tài chính tại Công ty Tài chính Hải

Âu

Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính của Công ty

Tài chính Hải Âu

Trang 14

CHƯƠNG I: Lí LUẬN CƠ BẢN VỀ CễNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan cụng tỏc phõn tớch tài chớnh doanh nghiệp

1.1.1 Khỏi niệm và cơ sở lý luận của quy trỡnh cụng tỏc phõn tớch tài chớnh

Phân tích tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, ph-ơng pháp, công cụ theo một hệ thống nhất định cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán cũng nh- các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đ-a ra những đánh giá chính xác, đúng đắn về tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp nhà quản lý kiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng nh- dự đoán tr-ớc những rủi ro có thể xảy ra trong t-ơng lai để đ-a các quyết định xử lý phù hợp tuỳ theo mục tiêu theo đuổi

Trong cụng tỏc phõn tớch tài chớnh thỡ quy trỡnh thực hiện phõn tớch là một yếu tố rất quan trọng Nú quyết định tớnh chớnh xỏc của cỏc chỉ tiờu tài chớnh

và cung cỏp kịp thời những thụng tin cần thiết cho việc lập chiến lược, kế hoạch phỏt triển sản xuất kinh doanh cho thời gian tới Núi ngắn gọn, phõn tớch tài chớnh là một quỏ trỡnh bao gồm năm khõu cơ bản:

(1) Xỏc định mục tiờu phõn tớch tài chớnh: Giỳp cỏc nhà quản trị doanh nghiệp thấy được toàn diện tỡnh hỡnh tài chớnh và đưa ra cỏc quyết định tài chớnh, yờu cầu phõn tớch phải được tiến hành thường xuyờn và phõn tớch mọi mặt tỡnh hỡnh tài chớnh của doanh nghiệp Căn cứ trờn thời gian phõn tớch và khối lượng cụng việc phõn tớch mà doanh nghiệp bố trớ nhõn sự và phương tiện cần thiết phục vụ hoạt động phõn tớch

(2) Thu thập dữ liệu: Phõn tớch tài chớnh doanh nghiệp sử dụng mọi nguồn thụng tin cú khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chớnh, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thụng tin bờn

Trang 15

trong doanh nghiệp chủ yếu là các báo cáo tài chính, còn các thông tin bên ngoài bao gồm các thông tin về thị trường, chính sách tài chính…

Vì vậy khi tiến hành thu thập thông tin phải quan tâm tới cả thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp

(3) Xác định phương pháp phân tích: Phương pháp phân tích là công cụ được áp dụng để xử lý và phân tích dữ liệu nhằm tạo ra thông tin tài chính Các phương pháp sử dụng như: phương pháp phân tích tỷ số tài chính, phân tích xu hướng, phân tích cơ cấu…

(4) Thực hiện phân tích: Sau khi xử lý các thông tin thu thập được nhận thấy được sự biến động khác biệt của nó người phân tích sẽ tiến hành tìm hiểu để biết nguyên nhân của vấn đề và những nhân tố làm ảnh hưởng tới sự biến động này Từ đó họ tìm cách khắc phục những hạn chế còn tồn tại và phát huy hơn nữa những mặt tốt đã đạt được Đây là một bước quan trọng trong công tác phân tích tài chính, nó đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn cao, sự nhạy cảm trong công việc cũng như ý thức trách nhiệm của cán bộ phân tích

(5) Đánh giá công tác phân tích tài chính và đưa ra quyết định tài chính: Sau khi tiến hành phân tích mỗi đối tượng khác nhau sẽ có những quyết định khác nhau Đối với chủ doanh nghiệp, họ sẽ căn cứ vào kết quả phân tích để đưa ra các quyết định tài chính cần thiết và phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp Còn đối với chủ đầu tư thì kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp họ đưa

ra quyết định có nên đầu tư vào công ty nữa hay không? Nếu có thì đầu tư bao nhiêu là hợp lý?

Trang 16

1.1.2 Mục đích công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

những thông tin hữu ích cho các chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác để họ có thể đánh giá và ra các quyết định về đầu

tư, tín dụng và các quyết định tương tự

nguồn lực kinh tế, vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của các quá trình, các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của công tác phân tích tình hình tài chính

Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Nó giúp các đối tượng quan tâm nắm bắt được tình hình tài chính doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định kịp thời và đúng đắn Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp như: Chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng… kể cả các cơ quan quản lý Nhà nước và người làm công Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các giác độ khác nhau

* Đối với nhà quản trị doanh nghiệp

Hơn ai hết các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tin nhằm thực hiện cân bằng tài chính, nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua để tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp Bên cạnh đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính, quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần

Trang 17

* Đối với các nhà đầu tư

Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và sự rủi ro Vì thế mà họ cần thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp

* Đối với các nhà cho vay

Mối quan tâm của họ hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp Qua việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới

số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, để từ đó có thể so sánh được và biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp

* Đối với cơ quan nhà nước và người làm công

Dựa vào các thông tin tài chính, các cơ quan quản lý của Nhà nước đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và pháp luật quy định không, tình hình hạch toán và thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước như thế nào Đồng thời, qua việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, sẽ đánh giá được năng lực lãnh đạo của ban giám đốc, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước nữa hay không

Người lao động trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là khả năng sinh lời Bởi vì kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có tác động trực tiếp tới tiền lương của người lao động Ngoài ra, trong những doanh nghiệp cổ phần người lao động tham gia góp vốn mua cổ phần, như vậy họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên

có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp

Trang 18

Như vậy ta thấy được tầm quan trọng của phân tích tài chính đối với các thành phần khác nhau có liên quan đến doanh nghiệp Phân tích tài chính giúp người sử dụng thông tin từ các góc độ khác nhau vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp, khái quát lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra những quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp

1.1.4 Các phương pháp sử dụng để phân tích tài chính

- Phương pháp phân tích tỷ số: Phân tích tỷ số tài chính là kỹ thuật phân tích căn bản và quan trọng nhất của phân tích báo cáo tài chính Phân tích các

tỷ số tài chính liên quan đến việc xác định và sử dụng các tỷ số tài chính để

đo lường và đánh giá tình hình hoạt động tài chính của công ty

Có nhiều loại tỷ số tài chính khác nhau:

Dựa vào cách thức sử dụng số liệu để xác định, tỷ số tài chính có thể chia thành ba loại: tỷ số tài chính xác định từ bảng cân đối kế toán, tỷ số tài chính

Trang 19

xác định từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và tỷ số tài chính xác định

từ cả hai báo cáo vừa nêu trên

Dựa vào mục tiêu phân tích, các tỷ số tài chính có thể chia thành: các tỷ

số về khả năng thanh toán, các tỷ số về năng lực hoạt động kinh doanh, các tỷ

số về khả năng sinh lời, …

Tuy nhiên, các tỷ số tài chính tự nó không có ý nghĩa mà chỉ có ý nghĩa khi được so sánh với các tỷ số thực tế trước đây, các tỷ số chuẩn mực đã được định ra trước đó, các số tỷ số bình quân của ngành

- Phân tích xu hướng: Phân tích xu hướng là kỹ thuật phân tích bằng cách

so sánh các tỷ số tài chính của công ty qua nhiều năm để thấy được xu hướng tốt lên hay xấu đi của các tỷ số tài chính Sau khi tính toán các tỷ số, thay vì

so sánh các tỷ số này với bình quân ngành, chúng ta còn có thể so sánh các tỷ

số của các năm với nhau và so sánh qua nhiều năm

- Phân tích cơ cấu: Phân tích là kỹ thuật phân tích dùng để xác định khuynh hướng thay đổi của từng khoản mục trong báo cáo tài chính Đối với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, phân tích cơ cấu được thực hiện bằng cách tính và so sánh tỷ trọng của từng khoản mục so với doanh thu qua các năm để thấy được khuynh hướng thay đổi của từng khoản mục Tương tự trong phân tích cơ cấu bảng cân đối kế toán chúng ta cũng tính toán và so sánh tỷ trọng của từng khoản mục tài sản với tổng tài sản và từng khoản mục của nguồn vốn so với tổng nguồn vốn

Ưu điểm của phân tích cơ cấu là cung cấp cơ sở so sánh từng khoản mục của từng báo cáo hoặc so sánh giữa các công ty với nhau, đặc biệt là khi so sánh giữa các công ty có quy mô khác nhau

…………

Trang 20

1.1.5 Quy trình phân tích trong công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

(1) Xác định mục tiêu phân tích

Đối với mỗi doanh nghiệp ở từng thời kỳ nhất định, mục tiêu phân tích tài chính được xác định một cách khác nhau và trong mỗi vấn đề của hoạt động tài chính như khả năng cân đối vốn, quản lý hàng tồn kho, kiểm soát chi phí và lợi nhuận… thì mỗi vấn đề có mục tiêu riêng, nhưng tựu chung vào hai mục tiêu cơ bản:

- Thứ nhất, rút ra được kết luận về một thực trạng hay một tình hình tài chính Chẳng hặn, mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính là rút ra được kết luận rằng tình hình tài chính của doanh nghiệp như thế nào (tốt hay không tốt), hoạt động của doanh nghiệp ra sao (hoạt động hiệu quả hay không hiệu quả)

- Thứ hai, tạo ra thông tin phục vụ cho việc ra quyết định tài chính Chẳng hạn, phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn trong bảng cân đối kế toán doanh nghiệp, xem tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản, nguồn tài trợ cho từng tài sản như vậy là hợp lý chưa và cần phải điều chỉnh như thế nào để đảm bảo sự phù hợp khi phân bổ nguồn cho các loại tài sản và tăng hiệu quả

sử dụng của từng loại

(2) Thu thập dữ liệu và xử lý thông tin

Dữ liệu là những số liệu hay sự kiện chúng ta có thể thu thập để đưa vào

xử lý và phân tích nhằm tạo ra thông tin tài chính

Nhà phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn dữ liệu có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho việc ra quyết định tài chính Nó bao gồm cả những dữ liệu nội bộ doanh nghiệp đến

Trang 21

những thông tin bên ngoài như các thông tin liên quan đến môi trường kinh tế nói chung, các dữ liệu liên quan đến ngành

Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đó đặt ra Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán,

so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đó đạt được nhằm phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định

(3) Phương pháp phân tích

Phương pháp phân tích là các công cụ được áp dụng để xử lý và phân tích

dữ liệu nhằm tạo ra thông tin tài chính Các phương pháp được sử dụng như: phân tích tỷ số tài chính, phân tích xu hướng, phân tích cơ cấu của các báo cáo tài chính

Phân tích tỷ số

Phân tích tỷ số tài chính là kỹ thuật phân tích căn bản và quan trọng nhất của phân tích báo cáo tài chính Phân tích các tỷ số tài chính liên quan đến việc xác định và sử dụng các tỷ số tài chính để đo lường và đánh giá tình hình hoạt động tài chính của công ty

Phân tích xu hướng

Phân tích xu hướng là kỹ thuật phân tích bằng cách so sánh các tỷ số tài chính của công ty qua nhiều năm để thấy được xu hướng tốt lên hay xấu đi của các tỷ số tài chính Sau khi tính toán các tỷ số, thay vì so sánh các tỷ số này với bình quân ngành, chúng ta còn có thể so sánh các tỷ số của các năm với nhau và so sánh qua nhiều năm

Phân tích cơ cấu

Phân tích cơ cấu là kỹ thuật phân tích dùng để xác định khuynh hướng thay đổi của từng khoản mục trong báo cáo tài chính Đối với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, phân tích cơ cấu được thực hiện bằng cách tính và so sánh tỷ trọng của từng khoản mục so với doanh thu qua các năm để thấy được khuynh hướng thay đổi của từng khoản mục Tương tự trong phân tích cơ cấu

Trang 22

bảng cân đối kế toán chúng ta cũng tính toán và so sánh tỷ trọng của từng khoản mục tài sản với tổng tài sản và từng khoản mục của nguồn vốn so với tổng nguồn vốn

Phân tích Dupont

Phương pháp Dupont là phương pháp phân tích nhằm đánh giá sự tác động tương hỗ giữa các tỷ số tài chính, biến một chỉ tiêu tổng hợp thành một hàm số của một loạt các biến số

Theo phương pháp này, người phân tích có thể tách riêng, phân tích tác động của từng yếu tố (biến số) tới chỉ tiêu tài chính tổng hợp như thế nào là

có lợi hay bất lợi, từ đó có thể đưa ra quyết định tài chính phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp Vì vậy, phương pháp này còn gọi là phương pháp tách đoạn

(4) Tiến hành công tác phân tích tài chính

Công tác phân tích tài chính dựa trên cơ sở các yêu cầu về nội dung, phương pháp phân tích đã đề ra, dựa trên các thông tin và số liệu đã thu thập

và xử lý, sau đó được tiến hành như sau:

Một là, đánh giá chung tình hình tài chính: sử dụng các phương pháp và các chỉ tiêu đã lựa chọn tính toán để đánh giá theo từng chỉ tiêu cụ thể, từ đó tổng kết khái quát toàn bộ xu hướng phát triển và mối quan hệ qua lại giữa các mặt hoạt động của doanh nghiệp

Hai là, xác định các nhân tổ ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đối với đối tượng phân tích Tuỳ theo yêu cầu quản lý và điều kiện cung cấp thông tin để xác định số lượng các nhân tố sử dụng trong phân tích, qua các phương pháp phân tích mà xác định chiều hướng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới đối tượng phân tích

Ba là, tổng hợp kết quả phân tích, rút ra kết luận, nguyên nhân tác động

và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 23

(5) Lập báo cáo phân tích tài chính

Đây là bước cuối cùng trong việc thực hiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Kết quả phân tích phải được viết thành báo cáo gửi cho Ban giám đốc doanh nghiệp, những đối tượng có nhu cầu để phục vụ công tác quản lý doanh nghiệp

1.1.6 Tính khả thi của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

Kết quả của quá trình thu thập và xử lý thông tin sẽ ảnh hưởng nhiều đến tính khả thi của hoạt động phân tích tài chính Về cơ bản khi chúng ta có đầy đủ thông tin và xử lý thông tin một cách chính xác thì kết quả của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ là cơ sở để các nhà đầu tư, hay chủ doanh nghiệp … đưa ra được những ứng xử phù hợp nhất với hoạt động của doanh nghiệp Do vậy công tác phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ có tính khả thi rất cao nếu được ban lãnh đạo quan tâm đúng mức Và công tác này sẽ trở thành một hoạt động thường xuyên, liên tục, không thể thiếu của nhiều doanh nghiệp bởi lợi ích to lớn mà nó đem lại

1.2 Nội dung phân tích của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

1.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp

Phân tích cấu trúc tài chính sẽ thực hiện phân tích hai bộ phận quan trọng trên bảng cân đối kế toán là Sử dụng vốn – Tài sản và nguồn vốn trong mối tương quan chặt chẽ với nhau để thấy được bản chất của sự thay đổi các khoản mục trong tài sản và nguồn vốn

1.2.1.1 Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn

* Phân tích cơ cấu tài sản:

Trang 24

Phân tích cơ cấu tài sản giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của tài sản qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn

từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh,

có phù hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không Ngoài ra, việc phân tích này còn cung cấp cho nhà phân tích nhìn về quá khứ tìm kiếm một xu hướng, bản chất sự biến động tài sản của doanh nghiệp

Khi phân tích cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh sự biến động trên tổng

số tài sản và từng loại tài sản (tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, …) giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phân tích còn tính ra và so sánh tỷ trọng của từng loại tài sản chiếm trong tổng số,

từ đó thấy được xu hướng biến động và mức độ hợp lý của việc phân bổ

tài chính đã sử dụng chỉ tiêu này để phân tích và chỉ ra sự ảnh hưởng của từng

bộ phận tài sản đối với tổng tài sản trong báo cáo tài chính từ đó, hướng dẫn chi tiết cách xử lý và điều chỉnh từng hạng mục sao cho giảm thiểu rủi ro, giảm thiểu tác động tiêu cực của các chỉ tiêu đến tổng tài sản trong những năm tiếp sau

Nhà phân tích có thể lập bảng phân tích theo mẫu sau:

Trang 25

BẢNG 1.1: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN

Tài sản

Kỳ gốc Kỳ phân tích Kỳ PT so với KG Chênh

lệch tỷ trọng (%)

Số tiền Tỷ trọng

(%) Số tiền

Tỷ trọng (%) Số tiền

Tỷ trọng (%)

A Tài sản ngắn hạn

I Tiền và tương đương tiền

II Đầu tư tài chính ngắn hạn

III Phải thu ngắn hạn

III Bất động sản đầu tư

IV Đầu tư tài chính dài hạn

V Tài sản dài hạn khác

Tổng cộng

* Phân tích cơ cấu nguồn vốn:

Phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm giúp nhà phân tích tìm hiểu được sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ Sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực tài chính, tính tự chủ tài chính, khả năng tận dụng, khai thác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt động

Trang 26

sản xuất kinh doanh hay không, cũng như có phù hợp với chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không? Phân tích cơ cấu nguồn vốn cung cấp thông tin cho người phân tích sự thay đổi nguồn vốn, một xu hướng cơ cấu nguồn vốn hợp lý trong tương lai

Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng được tiến hành tương tự như việc phân tích cơ cấu tài sản Cùng với việc so sánh tổng nguồn vốn cũng như từng loại nguồn vốn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phân tích còn tính ra

và so sánh tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số, từ đó thấy được xu hướng biến động, mức độ hợp lý và tính tự chủ tài chính của doanh nghiệp

Khi phân tích có thể lập bảng theo mẫu sau:

BẢNG 1.2: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU NGUỒN VỐN

Nguồn vốn

Kỳ gốc Kỳ phân tích Kỳ PT so với KG Chênh

lệch tỷ trọng (%)

Số tiền Tỷ trọng

(%) Số tiền

Tỷ trọng (%) Số tiền

Tỷ trọng (%)

Trang 27

* Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn

Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Phân tích mối quan hệ này giúp nhà phân tích phần nào nhận thức được sự hợp lý giữa nguồn vốn doanh nghiệp huy động và sử dụng chúng trong đầu

tư, mua sắm, dự trữ, và sử dụng có hợp lý, hiệu quả hay không

Khi phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, nhà phân tích cần tính ra và so sánh các chỉ tiêu sau:

+ Hệ số nợ so với tài sản:

Hệ số nợ so với tài sản = Nợ phải trả

Tài sản (Nguồn: Giáo trình phân tích báo cáo tài chính – PGS.TS Nguyễn Năng Phúc)

Chỉ tiêu này cho biết mức độ doanh nghiệp dùng các khoản nợ đầu tư cho tài sản là bao nhiêu Thông thường các chủ nợ thích hệ số này vừa phải vì khi đó các khoản nợ của họ được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp ưa thích hệ số nợ cao vì

họ muốn gia tăng lợi nhuận nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp Hệ số nợ cao, mức độ an toàn tài chính giảm đi, mức độ rủi ro cao hơn và có thể doanh nghiệp sẽ bị lỗ nặng nếu hoạt động sản xuất kinh doanh không ổn định, nhưng doanh nghiệp cũng có khả năng thu lợi nhuận cao khi điều kiện kinh tế thuận lợi Dù vậy, nếu hệ số này quá cao thì doanh nghiệp sẽ

dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và không thể kiểm soát được hoạt động của mình Vì vậy, để vừa đảm bảo khả năng gia tăng lợi nhuận cao vừa giảm thiểu rủi ro khi đưa ra các quyết định tài chính, doanh nghiệp cần xem xét mức độ cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận

Trang 28

+ Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu:

Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu =

Tài sản Vốn chủ sở hữu (Nguồn: Giáo trình phân tích báo cáo tài chính – PGS.TS Nguyễn Năng Phúc)

Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu càng ít làm cho khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng kém và ngược lại

1.2.1.2 Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh

Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có tài sản bao gồm Tài sản lưu động (TSLĐ) và đầu tư ngắn hạn, Tài sản cố định (TSCĐ) và đầu tư dài hạn Để hình thành hai loại tài sản này phải có các nguồn tài trợ tương ứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn

- Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong khoảng thời gian dưới 1 năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: nợ ngắn hạn, nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác

- Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạt động kinh doanh bao gồm: vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay trung và dài hạn

Nguồn vốn dài hạn trước hết được dùng để hình thành TSCĐ, phần dư của nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư hình thành TSLĐ Chênh lệch giữa vốn dài hạn và TSCĐ hay giữa vốn ngắn hạn với TSLĐ được gọi là vốn lưu động thường xuyên (hay còn gọi là vốn lưu động ròng)

Vốn lưu động thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn – TSCĐ

Hoặc Vốn lưu động thường xuyên = TSLĐ – Nguồn vốn ngắn hạn

Trang 29

Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào mức độ của vốn lưu động thường xuyên

Khi vốn lưu động thường xuyên < 0 nguồn vốn dài hạn không đủ đầu tư cho TSCĐ, doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư một phần TSCĐ TSLĐ của doanh nghiệp không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn

Nếu vốn lưu động thường xuyên > 0, nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào TSCĐ, phần dư thừa đầu tư vào TSLĐ Đồng thời TSLĐ > nguồn vốn ngắn hạn do vậy khả năng thanh toán tốt

Vốn lưu động thường xuyên = 0 có nghĩa là nguồn vốn dài hạn đủ tài trợ cho TSCĐ và TSLĐ đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn, tình hình tài chính như vậy là lành mạnh

Vốn lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cho biết doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không và TSCĐ của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng nguồn vốn dài hạn không Ngoài vốn lưu động thường xuyên nghiên cứu tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh người ta còn sử dụng các chỉ tiêu như nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và vốn bằng tiền

Nhu cầu vốn lưu động

Các khoản phải thu - Nợ ngắn hạn

thường xuyên -

Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp – PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ,

TS.Nguyễn Thị Thà)

Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần để tài trợ cho một phần TSLĐ, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu

Trang 30

Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0 tức là tồn kho và các khoản phải thu> nợ ngắn hạn, tại đây các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các nguồn vốn ngắn hạn, doanh nghiệp phải dùng vốn dài hạn để tài trợ cho phần chênh lệch Ngược lại, nếu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên < 0 nghĩa là các nguồn vốn ngắn hạn dư thừa để tài trợ các sử dụng ngắn hạn, doanh nghiệp không cần nhận vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳ kinh doanh Vốn bằng tiền < 0 xảy ra tình trạng mất cân đối trong nguồn vốn ngắn hạn

và dài hạn hoặc mất cân đối trong đầu tư dài hạn

Như vậy, để bảo đảm nguồn vốn và sử dụng vốn kinh doanh đảm bảo sự lành mạnh về tài chính doanh nghiệp, trước tiên phải có vốn lưu động thường xuyên > 0 Nếu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0 phải tìm cách làm giảm hàng tồn kho, tăng thu từ các khoản phải thu, nếu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên < 0 phải hạn chế vay ngắn hạn từ bên ngoài

1.2.2 Các tỷ số nợ và thanh khoản – Đánh giá năng lực thanh toán

Chất lượng hoạt động tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu phụ thuộc chủ yếu vào tình hình thanh toán của doanh nghiệp Nếu hoạt động tài chính tốt, doanh nghiệp sẽ có ít công nợ, ít bị chiếm dụng vốn và cũng ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại, nếu hoạt động tài chính kém, doanh nghiệp sẽ phải đương đầu với các khoản công nợ kéo dài Phân tích tình hình thanh toán là việc xem xét tình hình thanh toán các khoản phải thu, phải trả của doanh nghiệp, qua đó có thể đánh giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động tài chính

* Chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh

Tài sản lưu động + Đầu tư ngắn hạn

Nợ ngắn hạn (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp – PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ,

TS.Nguyễn Thị Thà)

Trang 31

Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn là công cụ đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Qua thực tiễn thấy rằng hệ số này là 2 thì tốt nhất Tuy nhiên, hệ số này tăng lên chưa hẳn chứng tỏ tình hình tài chính được cải thiện tốt hơn mà có thể do sự gia tăng của hàng tồn kho ứ đọng… Vì vậy, cần phải nghiên cứu tỉ mỉ các khoản mục riêng biệt của tài sản lưu động và nợ ngắn hạn

* Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh

Hệ số khả năng thanh

Tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn

Nợ ngắn hạn (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp – PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ,

TS.Nguyễn Thị Thà)

Chỉ tiêu này khắc phục được nhược điểm của hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn và đánh giá trung thực hơn tình hình tài chính của doanh nghiệp vì hàng tồn kho, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển - những khoản mục không đáp ứng tức thời cho việc thanh toán thì không được đưa vào xem xét Thông thường, hệ số này là 0,5 thì hợp lý, nếu cảng nhỏ hơn 0,5 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn Doanh nghiệp sẽ phải bán gấp sản phẩm, hàng hoá để lấy tiền thanh toán các khoản nợ

* Chỉ tiêu thanh toán tức thời

Hệ số khả năng thanh

Vốn bằng tiền

Nợ ngắn hạn (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp – PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ,

TS.Nguyễn Thị Thà)

Trang 32

Nếu hệ số này lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán của Doanh nghiệp tốt hơn Nếu nhỏ hơn 0,5 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn Tuy nhiên, nếu tỷ lệ này quá cao lại không tốt vì gây tình trạng quay vòng vốn chậm, hiệu quả sử dụng vốn không cao

* Chỉ tiêu khả năng thanh toán lãi vay hay số lần có thể trả lãi:

Hệ số khả năng thanh

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

1.2.3 Các tỷ số hoạt động – Đánh giá năng lực kinh doanh

Năng lực kinh doanh của doanh nghiệp là năng lực tuần hoàn của vốn doanh nghiệp, là một mặt quan trọng đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Vì vốn của doanh nghiệp được sử dụng để đầu tư vào các loại tài sản: tài sản lưu động và tài sản cố định, nên cần phải đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản, và từng bộ phận cấu thành tổng tài sản Nói chung, sự tuần hoàn vốn của doanh nghiệp là sự vận động thống nhất của vốn tiền tệ, vốn sản xuất, vốn hàng hoá – dịch vụ

Vòng quay tiền

Doanh thu thuần

Tiền + Tài sản tương đương tiền bình quân (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp - GS.TS.Ngô Thế Chi –

PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ)

Trang 33

Tiền là khoản mục có tính lỏng cao nhất trong tổng tài sản của doanh nghiệp Việc giữ tiền và các tài sản tương đương tiền đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi thế như chủ động trong kinh doanh, mua hàng trả tiền ngay được hưởng chiết khấu, ngoài ra khi vật tư hàng hoá rẻ doanh nghiệp có thể

dự trữ với khối lượng lớn tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất Tuy nhiên, nếu tiền được lưu trữ ở mức không hợp lý có thể gây ra nhiều bất lợi

Tỷ số này phản ánh số vòng quay của tiền trong năm, cụ thể hơn nó chỉ ra rằng với một lượng tiền nhất định dùng vào sản xuất kinh doanh đã mang lại tổng doanh thu là bao nhiêu trong một năm

Vòng quay hàng tồn kho

Vòng quay hàng tồn kho =

Doanh thu thuần

Giá trị hàng tồn kho bình quân (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp - GS.TS.Ngô Thế Chi –

PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ)

Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu tỷ lệ này cao thì doanh nghiệp sẽ tạo ra khả năng tiêu thụ hàng hoá khả quan Song nếu tỷ lệ này quá thấp thì tốc độ tiêu thụ hàng hoá bị trì trệ, giảm khả năng chi trả và lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh Khi

đó, doanh nghiệp sẽ phải nghiên cứu để đưa ra chiến lược sản phẩm và chiến lược khách hàng thích ứng hơn

Vòng quay các khoản phải thu:

Vòng quay các khoản

Doanh thu thuần

Số dư bình quân các khoản phải thu (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp - GS.TS.Ngô Thế Chi –

PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ)

Trang 34

Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh là tốt, tránh tình trạng doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn

Kỳ thu tiền bình quân

Kỳ thu tiền bình quân =

Các khoản phải thu x 360

Doanh thu thuần (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp - GS.TS.Ngô Thế Chi –

PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ)

Kỳ thu tiền bình quân cho biết thông tin về khả năng thu hồi vốn trong thanh toán, đặc biệt là thu hồi khoản từ bán chịu hàng hoá Nó chịu tác động bởi nhiều yếu tố: Chính sách bán hàng, chu kỳ sản xuất kinh doanh, chính sách tín dụng, nhu cầu xâm nhập hay mở rộng thị trường, tình trạng của nền kinh tế…

PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ)

Chỉ tiêu này cho ta biết một đồng TSLĐ (TSCĐ) của doanh nghiệp tạo

ra được bao nhiêu đồng doanh thu TSLĐ (TSCĐ) ở đây được xác định theo giá trị còn lại đến thời điểm lập báo cáo

Trang 35

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Hiệu suất sử dụng tổng

Doanh thu thuần Tổng tài sản (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp - GS.TS.Ngô Thế Chi –

PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ)

Chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu

1.2.4 Các tỷ số lợi nhuận – Đánh giá năng lực thu lợi

Các tỷ số trên phản ánh hiệu quả từng hoạt động riêng biệt Để phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất – kinh doanh và hiệu năng quản lý, chúng ta cần phải tính toán các tỷ số lợi nhuận Thông qua các tỷ số lợi nhuận, các nhà quản lý đánh giá năng lực thu lợi của doanh nghiệp, là khả năng thu được lợi nhuận của doanh nghiệp Vì lợi nhuận là kết quả cuối cùng trong kinh doanh của doanh nghiệp, thu được lợi nhuận là mục tiêu chủ yếu của sự tồn tại của doanh nghiệp Đây là một mặt quan trọng trong đánh giá thành tích tài chính của doanh nghiệp Các đối tượng liên quan: nhà đầu tư, chủ sở hữu, nhà quản lý,… đều quan tâm đến năng lực thu lợi của doanh nghiệp

Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu: Tỷ số này phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận

ròng và doanh thu nhằm cho biết 1 đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận dành cho cổ đông

Tỷ số lợi nhuận trên

Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp - GS.TS.Ngô Thế Chi –

PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ)

Trang 36

Tỷ số sức sinh lời căn bản: Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời căn bản

của công ty, nghĩa là chưa kể đến ảnh hưởng của thuế và đòn bẩy tài chính

Tỷ số sức sinh lời căn bản =

EBIT

Tổng tài sản (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp - GS.TS.Ngô Thế Chi –

PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ)

Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời trước thuế và lãi vay của công ty, cho nên thường được sử dụng để so sánh khả năng sinh lời trong trường hợp các công ty có thuế suất thu nhập và mức độ sử dụng nợ rất khác nhau

Tỷ số sinh lời trên tài sản –ROA: Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lời

trên 1 đồng tài sản của công ty

Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp - GS.TS.Ngô Thế Chi –

PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ)

Tỷ số sinh lợi trên vốn cổ phần - ROE: Đứng trên góc độ cổ đông, đây là tỷ

số quan trọng nhất vì nó đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của cổ đông

Lợi nhuận sau thuế

Vốn cổ phần (Nguồn: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp - GS.TS.Ngô Thế Chi –

PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ)

Trang 37

Sự khác nhau giữa tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần là do công ty có sử dụng vốn vay Nếu công ty không có vốn vay thì hai tỷ số này sẽ bằng nhau

1.3 Đánh giá công tác phân tích và các quy định tổ chức

Sau khi thực hiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp, bộ phận phân tích tài chính cần đánh giá lại công tác phân tích tài chính trên các mặt:

- Đã xác định đúng mục tiêu phân tích của doanh nghiệp?

- Thông tin sử dụng để phân tích có đảm bảo: đầy đủ, cập nhật, hệ thống và chính xác?

- Phương pháp phân tích có được thực hiện đầy đủ, triệt để và khoa học?

- Nội dung phân tích có đảm bảo: đầy đủ, đồng bộ và chính xác?

Tiếp đó, dựa trên thông tin tài chính là thông tin có ý nghĩa và có giá trị thu được từ dữ liệu sau khi đưa vào phân tích để đưa ra các quyết định tài chính Đứng trên góc độ quản lý tài chính, nhà quản trị phải đưa ra nhiều quyết định khác nhau nhưng nhìn chung trong tài chính có thể tập trung vào các loại quyết định chủ yếu sau: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết phân phối lợi nhuận

Quyết định đầu tư: là quyết định chi tiền ra để mua sắm hoặc đầu tư vào

một loại tài sản nào đó Quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất trong các loại quyết định tài chính vì nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp hoặc cho nhà đầu tư Đối với doanh nghiệp, quyết định đầu tư là những quyết định liên quan đến: (1) tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn) cần có và (2) mối quan hệ cân đối giữa các bộ phận tàisản trong doanh nghiệp Quyết định đầu tư gắn liền với phía bên trái của bảng cân đối tài sản Cụ thể nó bao gồm những quyết định sau:

Trang 38

- Doanh nghiệp cần những loại tài sản nào phục vụ cho sản xuất kinh doanh?

- Mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn nên như thế nào?

- Doanh nghiệp cần đầu tư bao nhiêu vào tài sản ngắn hạn? bao nhiêu vào tài sản dài hạn? Chi tiết hơn doanh nghiệp đầu tư bao nhiêu vào hàng tồn kho, bao nhiêu vào tiền mặt để phục vụ cho hoạt động kinh doanh hàng ngày? Nên mua sắm những tài sản cố định nào?

Quyết định tài trợ: Nếu quyết định đầu tư liên quan đến bên trái thì quyết

định tài trợ liên quan đến bên phải của bảng cân đối tài sản Nó gắn liền với việc quyết định nên lựa chọn loại nguồn vốn nào cung cấp cho việc mua sắm tài sản, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay Nếu lựa chọn nguồn vốn vay thì nên sử dụng nguồn vốn vay ngắn hạn hay nguồn vốn vay dài hạn hoặc lựa chọn giữa vay ngân hàng hay vay trên thị trường vốn Nếu lựa chọn sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu thì nên lựa chọn giữa sử dụng lợi nhuận để lại hay nên phát hành cổ phiếu huy động thêm vốn Đó là những quyết định liên quan đến quyết định tài trợ trong hoạt động của doanh nghiệp

Quyết định phân phối lợi nhuận: Quyết định phân phối lợi nhuận là quyết

định xem nên giữ lợi nhuận lại để tái đầu tư hay phân chia lợi nhuận dưới hình thức chi trả cổ tức, hay chi trả cổ tức bằng tiền hay bằng cổ phiếu

1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

1.4.1 Nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

chính doanh nghiệp chính là con người

Trang 39

Trước hết, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ thực hiện phân tích doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới kết quả của công tác phân tích tài chính Cán bộ phân tích được đào tạo đầy đủ về chuyên môn nghiệp vụ thì phương pháp, nội dung phân tích sẽ đầy đủ, khoa học, đáp ứng được các yêu cầu đặt ra Sau đó, lãnh đạo doanh nghiệp cũng phải quan tâm, đánh giá được tầm quan trọng của công tác tài chính, từ đó mới có sự đầu tư thoả đáng cũng như sự vận dụng triệt để kết quả của phân tích tài chính trong quá trình điều hành doanh nghiệp Việc hoàn thiện công tác tài chính cũng chịu ảnh hưởng bởi tâm lý người sử dụng thông tin Đó không chỉ là đội ngũ lãnh đạo mà còn

có các nhà đầu tư, các nhà cho vay… Khi các đối tượng này đặc biệt quan tâm tới công tác phân tích tài chính cũng kích thích sự phát triển hoàn thiện của công tác này

tốt kỹ thuật, công nghệ vào quá trình phân tích tài chính sẽ đem lại kết quả chính xác, khoa học, tiết kiệm được thời gian, công sức ( ví dụ ứng dụng các phần mềm phân tích tài chính, tra cứu thông tin qua internet, liên kết thông tin giữa các phòng ban thông qua hệ thống mạng…) Việc ứng dụng này không những đảm bảo tính chính xác, khoa học, tiết kiệm mà còn đảm bảo tính toàn diện, phong phú, phù hợp với xu hướng phát triển của công tác phân tích tài chính

toán, thống kê mang lại những số liệu, thông tin thiết yếu nhất phục vụ cho quá trình phân tích tài chính (các báo cáo tài chính, chính sách kế toán, các số liệu liên quan về kế hoạch sản xuất kinh doanh…) Bên cạnh đó, công tác kiểm toán sẽ đảm bảo tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên để việc phân tích tài chính trở nên chính xác, khách quan, tránh định hướng sai lệch cho công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Vì vậy, sự hoàn thiện của công

Trang 40

tác kế toán, kiểm toán thống kê cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới công tác phân tích tài chính

1.4.2 Nhân tố khách quan ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

sách, pháp luật của Nhà nước liên quan tới tài chính doanh nghiệp Đó là các chính sách về thuế, về kế toán, thống kê… ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động tài chính doanh nghiệp Với tư cách là đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước, trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung

và hoạt động tài chính nói riêng, các doanh nghiệp đều phải có nghĩa vụ tuân thủ chính sách, pháp luật Các chính sách này được các nhà phân tích tài chính vận dụng trong quá trình phân tích để đảm bảo tính phù hợp, tính sát thực của công tác phân tích với pháp luật của nhà nước Ngoài ra, các chính sách đó còn có tính định hướng và là động lực cho công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

ngành Công tác phân tích tài chính chỉ thực sự có hiệu quả khi có hệ thống chỉ tiêu trung bình chuẩn của toàn ngành, trên cơ sở đó các doanh nghiệp có thể đánh giá, xem xét tình trạng tài chính để nhận thức vị trí của mình nhằm đưa ra những chính sách đúng đắn, phù hợp, cũng như có hướng phấn đấu, khắc phục Hay nói cách khác, đây có thể được xem như số liệu tham chiếu của doanh nghiệp Tuy nhiên, điều này cũng phụ thuộc vào tính trung thực của các thông tin Nếu thông tin do các doanh nghiệp trong ngành mang lại không chính xác có thể còn có tác dụng ngược lại Vì vậy, trách nhiệm của cơ quan thống kê cũng như các doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin cũng ảnh hưởng không nhỏ

Ngày đăng: 16/03/2021, 16:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w