Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi từ lớp 10 đến lớp 12, rèn kĩ năng tìm hiểu đề và lập dàn ý cho bài văn nghị luận cho học sinh giỏi. Chuyên đề chuyên sâu, gồm kiến thức lí thuyết và bài tập thực hành, kèm theo đáp án, phù hợp với giáo viên và học sinh THPT.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 5
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5
II MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU CỦA ĐỂ TÀI 6
1 Mục đích của chuyên đề 6
2 Yêu cầu của chuyên đề 6
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
IV CẤU TRÚC CỦA CHUYÊN ĐỀ 8
B NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN I THẾ NÀO TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý CHO BÀI VĂN HSG QUỐC GIA? 8
1 Khái lược về văn nghị luận 8
a Khái niệm văn nghị luận 8
b Đặc trưng của văn nghị luận 9
2 Tìm hiểu đề văn nghị luận 10
3 Lập dàn ý cho đề văn thi HSG Quốc gia 11
II VÌ SAO CẦN TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý CHO ĐỀ VĂN THI HSG QUỐC GIA? 1 Vai trò của việc tìm hiểu đề 11
2 Vai trò của việc lập dàn ý 12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý
CHO ĐỀ VĂN THI HSG QUÔC GIA HIỆN NAY
I THỰC TRẠNG VIỆC TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý
CHO ĐỀ VĂN THI HSG QUÔC GIA CỦA HỌC SINH
Trang 21.Thực trạng việc tìm hiểu đề của học sinh 13
2.Thực trạng của việc lập dàn ý cho đề văn thi HSGQG của học sinh 15
II THỰC TRẠNG VIỆC RÈN KĨ NĂNG TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý CỦA GIÁO VIÊN DẠY CÁC ĐỘI TUYỂN HSG QUỐC GIA MÔN VĂN 16
CHƯƠNG 3: RÈN KĨ NĂNG TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý CHO ĐỀ VĂN THI HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA I RÈN KĨ NĂNG TÌM HIỂU ĐỀ CHO HSG THI QUỐC GIA MÔN VĂN 17
1.Kĩ năng đọc đề 17
2.Kĩ năng xác định vấn đề nghị luận 18
3.Kĩ năng xác định phạm vi tư liệu, dẫn chứng cần sử dụng trong bài văn 22
4.Kĩ năng xác định các thao tác lập luận cần sử dụng trong bài văn 23
II RÈN KĨ NĂNG LẬP DÀN Ý CHO ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI 25
1.Kĩ năng lập dàn ý cơ bản cho bài văn nghị luận 25
2.Kĩ năng lập dàn ý cho đề văn nghị luận xã hội 26
Kĩ năng lập dàn ý cho đề văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lý 27
a Các bước lập dàn ý 27
b Luyện tập 29
Kĩ năng lập dàn ý cho đề văn nghị luận về hiện tượng đời sống 33
a Các bước lập dàn ý 33
b Luyện tập 34
Kĩ năng lập dàn ý cho đề văn nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học (câu chuyện ngụ ngôn, bài thơ/ đoạn thơ) 37
a Các bước lập dàn ý 37
b Luyện tập 38
III RÈN KĨ NĂNG LẬP DÀN Ý CHO ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC 41
1.Kĩ năng lập dàn ý cho đề văn nghị luận về một vấn đề lí luận văn học 41
Các bước lập dàn ý 41
Trang 3Luyện tập 42
2.Kĩ năng lập dàn ý cho đề văn nghị luận cảm thụ văn học 47
Các bước lập dàn ý 47
Luyện tập 48
3 Kĩ năng lập dàn ý cho đề văn nghị luận so sánh văn học 52
Các bước lập dàn ý 52
Luyện tập 53
CHƯƠNG 4: CÁC ĐỀ VẬN DỤNG I ĐỀ VẬN DỤNG SỐ 1 55
II ĐỀ VẬN DỤNG SỐ 2 61
C KẾT LUẬN 67
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 4I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI A MỞ ĐẦU
Trang 51 Kĩ năng tìm hiểu đề và lập dàn ý là một trong những kĩ năng cơ bản, quan trọng bậcnhất đối với việc làm văn của HS hiện nay Đã qua rồi thời kì viết văn theo cảm hứng, nghĩ gìviết nấy, chỉ cần “đầu xuôi” là “đuôi lọt”, viết xong mà không nhớ mình đã viết những ý gì,triển khai bài văn ra sao Với học sinh giỏi văn, yêu cầu được trang bị hệ thống kĩ năng cơ bảnđối với các kiểu bài lại càng trở nên cần thiết và quan trọng hơn Để viết được những bài vănđúng, hay, ấn tượng, có kiến thức sâu rộng và phong phú thôi chưa đủ mà còn cần thành thạo
về kĩ năng Thiếu kĩ năng, các em sẽ không thể phát huy được kiến thức lĩnh hội từ thầy cô để
có thể linh hoạt để xử lý tất cả các tình huống được đặt ra trong đề bài, từ dễ đến khó, từ nhữngdạng bài đơn giản đến phức tạp
2 Làm văn là một công việc đầy sáng tạo và khó nhọc, không chỉ đòi hỏi ở người viết
sự am hiểu chữ nghĩa, năng lực tư duy, vốn hiểu biết mà còn thử thách trình độ tạo lập văn bản
và cả nhân cách, cá tính của người cầm bút Đọc bài văn có thể hiểu được trình độ và năng lựccủa người viết Trong đó, tìm hiểu đề và lập dàn ý là những thao tác, kĩ năng quan trọng làmnên trình độ tạo lập văn bản của người làm văn, phát triển tư duy khoa học của người viết khitiếp xúc và giải quyết vấn đề đặt ra trong đề văn
3 Tìm hiểu đề và lập dàn ý giúp cho HS có định hướng rõ ràng khi viết và triển khai ýtrong một bài văn, tránh tình trạng lạc đề, xa đề, lệch đề vốn là hiện tượng rất phổ biến trongbài làm văn của HS hiện nay, trong đó có đối tượng HSG quốc gia Bởi “sai một li đi mộtdặm”, nếu không tìm hiểu đề và lập dàn ý trước khi viết, HS rất có thể mắc sai lầm này
4 Những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra chủ trương đổi mới phươngpháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá các môn khoa học xã hội, trong đó có môn Ngữ văn
theo tinh thần: “ nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tăng cường ra các câu hỏi
mở, gắn với thời sự quê hương đất nước để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội” (Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH, năm 2013) Do đó,
bên cạnh việc dạy kiến thức cơ bản cho HS thì việc rèn kĩ năng làm văn cho HS là một trongnhững yêu cầu thiết thực, hàng đầu của quá trình dạy và học Ngữ văn trong trường phổ thônghiện nay
5 Vấn đề tìm hiểu đề và lập ý cho bài văn nghị luận đã được dạy trong chương trìnhNgữ văn lớp 7 Xuyên suốt chương trình Ngữ văn THPT, các yêu cầu cụ thể của việc tìm hiểu
đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận được trình bày thành các bài học cụ thể Như vậy, vấn đềtìm hiểu đề và lập dàn ý cho bài văn nghị luận đã được hướng dẫn cơ bản từ chương trình Ngữvăn THCS đến chương trình Ngữ văn THPT, tuy nhiên, để thành một chuyên đề chuyên sâudành cho HSG thì chưa có tài liệu cụ thể, phù hợp Do đó, đây vẫn là một vấn đề cần đượcnghiên cứu tìm hiểu kĩ lưỡng
6 Tìm hiểu đề và lập dàn ý không chỉ có ý nghĩa với HSG môn Ngữ văn mà còn có ýnghĩa với những giáo viên dạy, bồi dưỡng HSG môn Ngữ văn Bởi lẽ, do đặc thù môn học,đứng trước cùng một vấn đề nhưng đôi khi mỗi giáo viên lại có những định hướng khácnhau, cách
Trang 6giải quyết khác nhau, và không tránh khỏi những tình huống khó khăn khi hướng dẫn HS tìmhiểu đề và lập dàn ý cho các đề văn HSG.
Trên đây là những động lực thúc đẩy chúng tôi tiến hành chuyên đề: Rèn kĩ năng tìm
hiểu đề và lập dàn ý cho đội tuyển HSG quốc gia môn Ngữ văn.
II MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU CỦA ĐỂ TÀI
- Là tư liệu thiết thực để GV bồi dưỡng các đội tuyển HSG thi Quốc gia môn Ngữ văn
2 Yêu cầu
- Chuyên đề được trình bày ngắn gọn, khoa học, phần cơ sở lí luận được trình bày ngắn gọn,chủ yếu hướng đến phần thực hành kĩ năng tìm hiểu đề và lập dàn ý thông qua các đề luyện tập
cụ thể trên cả hai dạng bài: Nghị luận xã hội và Nghị luận văn học
- Các đề luyện tập đa dạng, cả NLXH và NLVH để rèn cho HSG những kĩ năng tổng hợp vàthiết thực khi tham dự các kì thi HSG môn Văn
- Phần tìm hiểu đề và lập dàn ý là hai kĩ năng độc lập nhưng không tách rời, giữa chúng có mốiliên hệ mật thiết và được thực hiện song song trong các đề luyện tập
- Ngoài phần nội dung, chuyên đề sẽ cung cấp 2 đề thi được biên soạn sát với đề thi HSG Quốcgia môn Ngữ văn với đáp án - hướng dẫn chấm chi tiết, khoa học
III PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Trong chuyên đề này, chúng tôi lựa chọn và sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm
Trong đó, phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân tích tổng kếtkinh nghiệm thực tiễn (thực tiễn dạy và học) là hai phương pháp quan trọng nhất giúp chúng tôihoàn thành được nhiệm vụ của đề tài
Trang 7IV.CẤU TRÚC CỦA CHUYÊN ĐỀ
Chuyên đề gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận
Phần nội dung chuyên đề có cấu trúc 4 phần như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng việc tìm hiểu đề và lập dàn ý cho đề văn thi HSGQG hiện nay Chương 3: Kĩ năng tìm hiểu đề và lập dàn ý cho đề văn thi HSGQG hiện nay
Chương 4: Đề vận dụng
Trang 8B NỘI DUNG
I THẾ NÀO TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý CHO BÀI VĂN HSG QUỐC GIA?
* Từ yêu cầu của chuyên đề, chúng tôi xác định bài văn thi HSG quốc gia là văn nghị luận Do đó, phần lí luận và thực tiễn đều dựa trên thực tế yêu cầu tìm hiểu đề và lập dàn ý của bài văn nghị luận dành cho kì thi HSG Quốc gia hằng năm, trong đó bao gồm bài Nghị luận xã hội và bài Nghị luận văn học.
1 Khái lược về văn nghị luận
a Khái niệm văn nghị luận
Văn nghị luận là thể văn xuất hiện từ rất lâu đời, đặc biệt là ở phương Đông, văn nghịluận đã có từ thời Khổng Tử Trải qua hàng ngàn năm với chế độ khoa cử phong kiến, khi kháiniệm Văn - Sử - Triết bất phân thì văn nghị luận trở thành thể văn chính thống trong các cuộcthi chọn nhân tài cho nhà nước Hiện nay, các bài thi ngoại ngữ cũng đều có phần thi viết luận(bắt buộc), trong đó người viết phải bày tỏ được quan điểm, chính kiến của mình về một vấn đềnào đó liên quan đến đời sống, văn hóa, xã hội được đặt ra trong đề bài Do đó, văn nghị luận từxưa đến nay vẫn được đánh giá là thể văn quan trọng, có thể phát huy đầy đủ nhất chất trí tuệ,vốn hiểu biết, vốn sống, vốn ngôn ngữ của người viết Đó cũng là lí do vì sao trong các kì thiHSG môn Văn, các bài thi đểu sử dụng hình thức thi tự luận và các bài văn nghị luận
Về khái niệm văn nghị luận, có nhiều ý kiến, song đều gặp gỡ ở sự kết hợp giữa lí lẽ vàdẫn chứng, ở tính chặt chẽ, thuyết phục người đọc người nghe trong quá trình lập luận củangười viết
SGK Ngữ văn lớp 7 đã nêu ra khái niệm: “Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó Muốn thế, văn nghị luận phải
có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục” (Ngữ văn 7, tập hai, tr.9)
SGK Ngữ văn lớp 10 (Nâng cao) cũng viết: Văn nghị luận là bài văn trình bày tư
tưởng, quan điểm của người viết về một vấn đề (Ngữ văn 10, tập hai, tr.96)
GS Nguyễn Đăng Mạnh đã định nghĩa trong công trình nghiên cứu Muốn viết được
bài văn hay: “văn nghị luận nói chung là dùng lí lẽ, lập luận, bàn bạc làm sáng tỏ một vấn đề
nào đó để thuyết phục người đọc, người nghe (Nguyễn Đăng Mạnh, 1998, tr.7)
Tác giả Nguyễn Quốc Siêu trong cuốn “Rèn kĩ năng làm văn nghị luận” đã trình bày
hàm nghĩa của văn nghị luận như sau: “Văn nghị luận là thể loại văn chương nghị sự, luận chứng, phân tích lí lẽ Nó là tên gọi chung của một thể văn vận dụng các hình thức tư duy lô gic như khái niệm, phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày lí lẽ, phân biệt đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng khoa khọc đối với khách quan và quy luật bản chất của sự vật, từ đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương, ý kiến, quan điểm tác giả” (tr.7)
Trang 9PGS.TS Đỗ Ngọc Thống định nghĩa trong Giáo trình Làm văn: “Văn nghị luận là loại
văn trong đó người viết đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho người đọc hiểu, tin và tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất (Đỗ Ngọc Thống, 2007, tr.37) Do đó, có thể xác định văn
nghị luận là một kiểu bài văn mà người viết đưa ra lí lẽ dẫn chứng, bàn bạc để làm sáng tỏ mộtvấn đề Văn nghị luận mang tính chặt chẽ, lôgic, thuyết phục người nghe, người đọc theo quanđiểm, lập trường của người viết
b Đặc trưng của văn nghị luận
Là một thể văn có từ xa xưa, văn nghị luận là một trong những thể văn hay và phức tạpnhất đối với người làm văn từ trước đến nay Không phải ngẫu nhiên mà hiện nay nhiều quốcgia trên thế giới, đặc biệt là các nước Phương Đông vẫn lấy một bài văn nghị luận đề làm đề thiHSG hoặc tuyển sinh vào các trường Đại học danh tiếng của quốc gia mình Viết được một bàinghị luận hay, đặc sắc, thuyết phục không phải là điều dễ dàng, đòi hỏi người viết phải bámchắc vào các đặc trưng cơ bản của văn nghị luận
Văn nghị luận có các đặc trưng cơ bản sau:
- Tính lập luận chặt chẽ:
Văn nghị luận về cơ bản là sự kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng tạo thành các lập luận vừamang tính lô gic chặt chẽ, vừa mang dấu ấn chủ quan của người viết Do đó, từng yếu tố trongcác luận cứ, luận chứng có mối quan hệ mật thiết với nhau, được tổ chức lớp lang, tất cả đềunhằm làm sáng tỏ luận điểm, sáng tỏ vấn đề nghị luận
Tính chặt chẽ của bài văn nghị luận còn nằm trong các hành văn, cách chuyển ý, cáchđưa dẫn chứng phù hợp với từng luận cứ, luận điểm trong bài
- Tính thuyết phục cao:
+ Đây là đặc trưng quan trọng nhất của văn nghị luận Bởi sự chặt chẽ của lập luận phảiđem lại hiệu quả là sự thuyết phục đối với người đọc người nghe tin theo quan điểm, cách nhìnnhận, cách cảm, cách nghĩ, cách lập luận của người viết
+ Tính thuyết phục của văn nghị luận được tạo ra từ sự sắp xếp lô gic các luận điểm,cách triển khai luận điểm thành các luận cứ, cách sử dụng dẫn chứng, cách hành văn, sử dụngcác thao tác lập luận, những liên hệ và bài học được rút ra…
- Tính trang trọng, công khai:
+ Đây là một đặc trưng không thể thiếu của văn nghị luận Đặt chung với đặc trưng tínhchặt chẽ và tính thuyết phục cao, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng: Nếu không công khai thì liệu
có đủ sức để thuyết phục? Thuyết phục đâu chỉ với một người, một nhóm người mà là rất rấtnhiều nguời Chính vì thế cần có một sự công khai nhất định trong văn nghị luận, công khai vềdẫn chứng, lập luận, lí lẽ…
Trang 10+ Tính công khai đi đôi với tính trang trọng, vì để thuyết phục người đọc, người nghethì bản thân người viết cần có một sự trang trọng nhất địnhb trong khi hành văn Tính trangtrọng được biểu hiện trong thái độ lập luận và thuyết phục, trong việc sử dụng ngôn ngữ đểnghị luận Khi lập luận để thuyết phục cần có một thái độ lắng nghe và trao đổi, không nên ápđặt suy nghĩ của mình lên suy nghĩ của người nghe, người đọc Khi hành văn cần sử dụng ngônngữ bác học, ngôn ngữ viết tránh lối ngôn ngữ nói, không nên dùng khẩu ngữ, cần có sự trauchuốt ngôn từ.
- Tính truyền cảm:
+ Văn nghị luận không chỉ chặt chẽ, thuyết phục mà còn có khả năng truyền cảm mạnh
mẽ đến người đọc, người nghe Không có khả năng truyền cảm thì bài văn khó có khả năngthuyết phục Do đó, tính thuyết phục và tính truyền cảm trong văn nghị luận có mối quan hệmật thiết với nhau
+ Tính truyền cảm của văn nghị luận được tạo nên từ cách lập luận, cách hành văn, cách
sử dụng ngôn từ của người viết, những câu văn giàu hình ảnh, đậm tính triết lí, giàu cảm xúc vàtâm huyết của người viết sẽ có sức truyền cảm mạnh mẽ tới người đọc Tính truyền cảm cũng
có thể được tạo nên từ những câu chuyện, những dẫn chứng thực tế được sử dụng trong bài văn
- Tính cá thể hóa:
+ Viết văn vừa là một quá trình luyện tập những kiến thức kĩ năng đã học, vừa là mộtquá trình sáng tạo, thể hiện bản thân của người viết Nếu trong sáng tác “Đọc một câu thơ, tabắt gặp một tâm hồn con người” thì trong viết văn, đọc một bài văn cũng có thể bắt gặp đượctâm hồn một con người “Văn tức là người”, viết văn là một cách bộc lộ kiến thức, kĩ năng, vốnsống, vốn hiểu biết, vốn ngôn từ, cách cảm, cách nghĩ, bản lĩnh… của người viết Do đó, tính
cá thể hóa trong quá trình viết văn, đặc biệt là văn nghị luận là một trong những đặc trưng tấtyếu
+ Tính cá thể hóa trong văn nghị luận được thể hiện trong cách xác định vấn đề nghịluận rộng hay hẹp, sâu hay nông; cách triển khai giải quyết vấn đề, cách lập luận, đưa dẫnchứng, cách hành văn, cách sử dụng ngôn ngữ diễn đạt, cách viết mở bài, kết bài… Mỗi bài vănđều in dấu ấn cá thể của người viết Chính sự cá thể hóa ấy làm tăng sức hấp dẫn cho bài văn,
sự độc đáo ấn tượng với người đọc người nghe
Việc nắm chắc các đặc trưng cơ bản của văn nghị luận sẽ giúp cho giáo viên và học sinh
có thể thực hành tốt kĩ năng tìm hiểu đề và lập dàn ý cho bài văn thi HSG quốc gia hiện nay
2 Tìm hiểu đề văn nghị luận
Trong bài “Đề văn nghị luận và việc lập ý cho bài văn nghị luận”, các tác giả SGK
Ngữ văn lớp 7 đã trình bày những kiến thức sơ lược đầu tiên về đề văn nghị luận và việc lập ýcho bài văn nghị luận Cụ thể khâu tìm hiểu đề văn nghị luận, các tác giả đã đặt ra các câu hỏicho HS như:
Trang 11- Đề nêu lên vấn đề gì?
- Đối tượng và phạm vi nghị luận ở đây là gì?
Trang 12- Khuynh hướng tư tưởng của đề là khẳng định hay phủ định?
- Đề này đòi hỏi người viết phải làm gì?
Khâu lập ý cho bài văn nghị luận được trình bày với 3 bước:
- Xác lập luận điểm
- Tìm luận cứ
- Xây dựng lập luận
SGK Ngữ văn 10 trong bài “Đề văn nghị luận” đã xác định các nhiệm vụ cơ bản
của HS khi tìm hiểu một đề văn nghị luận như sau:
- Xác định nội dung trọng tâm cần bàn bạc và làm sáng tỏ trong đề văn
- Xác định loại đề văn nghị luận và các thao tác lập luận chính sẽ vận dụng trong bài viết
- Xác định phạm vi tư liệu cần huy động, trích dẫn trong bài viết.
Như vậy, tìm hiểu đề bước đầu tiên trong quá trình làm văn của người học sinh khi Đó
là quá trình người viết lần đầu được tiếp xúc với đề bài, thông qua hoạt động đọc, xác địnhdạng đề, vấn đề nghị luận, phạm vi dẫn chứng và các thao tác lập luận cần sử dụng trong bàiviết Từ đó mà người viết định hình những yếu tố cơ bản nhất trong bài văn của mình
3 Lập dàn ý cho đề văn thi HSG Quốc gia
Lập ý cho bài văn nghị luận là xác định luận điểm, cụ thể hóa luận điểm chính thành các luận điểm phụ, tìm luận cứ và cách lập luận cho bài văn (SGK Ngữ văn 7, Đề văn nghị
luận và việc lập dàn ý cho bài văn nghị luận)
Lập dàn ý là công việc lựa chọn và sắp xếp những nội dung cơ bản dự định triển khai vào bố cục ba phần của văn bản (SGK Ngữ văn 10, Lập dàn ý bài văn nghị luận - tr.89)
Lập dàn ý cho bài văn HSG Quốc gia không chỉ đơn thuần là lựa chọn và sắp xếp cácnội dung cơ bản dự định triển khai trong bố cục ba phần của bài văn, mà còn là sự sắp xếp cóchủ đích các luận điểm, luận cứ, luận chứng sao cho phát huy hiệu quả thuyết phục nhất lậpluận của người viết trong bài văn Cần tập trung vào định hình dàn ý dưới hình thức tự đặt cáccâu hỏi: Ý nào cần đưa lên trước, ý nào đưa xuống sau? ý nào là trọng tâm, ý nào là bổ trợ? ýnào cần triển khai kĩ lưỡng, ý nào có thể điểm qua? dẫn chứng nào là dẫn chứng chính, dẫnchứng nào là dẫn chứng phụ?
Do đó, có thể hiểu công việc lập dàn ý giống như quá trình phác thảo xương sống củabài văn, như quá trình xây thô một ngôi nhà vậy
II VÌ SAO CẦN TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý CHO ĐỀ VĂN THI HSG QUỐC GIA?
1 Vai trò của việc tìm hiểu đề
Trang 13SGK Ngữ văn 7 đã chỉ ra: yêu cầu của việc tìm hiểu đề là xác định đúng vấn đề, phạm
vi, tính chất của bài văn nghị luận để bài làm khỏi sai lệch
Đối với người làm văn, tìm hiểu đề được ví như là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa người viếtvới đề văn, do đó, nó có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lí và định hướng bài văn của thí sinh.Việc tìm hiểu đề là khâu quan trọng, có tính chất định hướng cho toàn bộ bài viết của thí sinhkhi làm bài văn Tìm hiểu đề giúp xác định đúng yêu cầu của đề, xác định đúng dạng đề, đúngvấn đề cần bàn luận đồng thời định hướng các thao tác lập luận cần sử dụng, tránh được việc
HS bị xa đề, lạc đề, lệch đề… khi làm bài văn HSG Quốc gia Bởi sai một li đi một dặm, chỉcần xác định không đúng trọng tâm vấn đề, thì bài thi HSG Quốc gia của các em cũng sẽ khôngđạt kết quả như mong muốn
Tìm hiểu đề là kĩ năng cần được rèn luyện nhuần nhuyễn, thành thục, giúp tránh đượctâm lí hoang mang, sợ hãi, khủng hoảng của thí sinh gặp những đề văn lạ sẽ có tính đột phá,mới mẻ Thí sinh sẽ có tâm lí vững vàng và chủ động, linh hoạt ứng phó và xử lí các dạng đềthi nếu nắm chắc kĩ năng tìm hiểu đề này
2 Vai trò của việc lập dàn ý
SGK Ngữ văn 10 đã khẳng định: Việc lập dàn ý bài văn nghị luận giúp người viết baoquát được những nội dung chủ yếu, những luận điểm, luận cứ cần triển khai, phạm vi và mức
độ nghị luận… nhờ đó mà tránh được tình trạng xa đề, lạc đề hoặc lặp ý; tránh được việc bỏ sóthoặc triển khai ý không cân xứng
Hơn nữa, có dàn ý người viết sẽ phân phối thời gian làm bài hợp lí, tránh được tìnhtrạng “dầu voi đuôi chuột” như đã thấy trong khá nhiều bài làm văn ở nhà trường hiện nay
Đó cũng là những vai trò đặc biệt quan trọng của việc lập dàn ý trong bài văn thi HSGQuốc gia
Trang 14CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý
CHO ĐỀ VĂN THI HSG QUÔC GIA HIỆN NAY
I THỰC TRẠNG VIỆC TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý CHO ĐỀ VĂN THI HSG QUÔC GIA CỦA HỌC SINH
1 Thực trạng việc tìm hiểu đề của học sinh
Mặc dù việc tìm hiểu đề là một khâu quan trọng đối với HS khi làm bài thi Quốc giamôn Văn nhưng không phải thí sinh nào cũng có thói quen này, mặc dù các em thuộc các độituyển thi HSG của các tỉnh đã được các thầy cô giáo hướng dẫn, rèn luyện kĩ lưỡng trong thờigian ôn luyện đội tuyển thi HSGQG
Thực tế nhiều năm dạy đội tuyển HSGQG môn Ngữ văn, bản thân tôi nhận thấy thựctrạng việc HS tìm hiểu đề văn khi làm bài thi như sau:
- Thứ nhất, đọc không kĩ đề:
+ Nhiều em có thói quen chỉ đọc đề 1 lần đã “mặc định” trong đầu đó là vấn đề gì, có đúng sởtrường hoặc vấn đề mình quan tâm hay không Nếu có dính dáng đến vấn đề (đặc biệt là bàiNghị luận văn học) mà mình “đoán” trước khi thi thì coi như “trúng đề”, và mặc định làm theonhững gì được học, được rèn luyện khi còn học đội tuyển Khi đó, thí sinh không quan tâmcách đề cập vấn đề, câu lệnh, cách hỏi và các yếu tố thông tin khác trong đề bài, ngoài đề bài.+ Nhiều em có đọc kĩ hơn 1 lần, có gạch chân từ khóa nhưng lại “mặc định” vào một trongnhững đề đã được học, được chữa tương tự, hoặc có chứa những từ khóa đó, khiến cho khâutìm hiểu đề trở thành quá trình tái hiện lại đề đã được chữa, không có tính linh hoạt và sáng tạonữa
+ Nhiều em đọc đề nhận thấy đề “không trúng tủ” như mình “đoán” nên tâm lí hoang mang,thậm chí không ngắt đúng chỗ các vế câu trong nhận định của đề bài
Ví dụ như đề văn HSGQG năm 2018-2019, câu Nghị luận xã hội: “Hãy để tâm đến tiếng nói nội tâm nhỏ bé nhưng bền vững trong bạn hơn là những tiếng nói ồn ào, náo loạn từ bên ngoài”.
Có em HS đã ngắt vế nhận định trong đề thi như sau:
Vế 1: “Hãy để tâm đến tiếng nói nội tâm nhỏ bé”
Vế 2: “nhưng bền vững trong bạn hơn là những tiếng nói ồn ào, náo loạn từ bên ngoài”.
Thực trạng đó đã dẫn đến hệ quả là HS bị lệch đề, lạc đề, xa đề khi làm bài văn, khôngxác định được trọng tâm của vấn đề, hoặc bị ảnh hưởng tâm lí khiến bài thi không đạt kết quảnhư mong muốn Đó không phải là “học tài thi phận” như nhiều người vẫn nghĩ, mà do quátrình tìm hiểu đề, đặc biệt là đọc đề của HS chưa tốt
Trang 15- Thứ hai: xác định vấn đề nghị luận không đúng, không trúng
Trang 16+ Việc xác định vấn đề nghị luận đúng và trúng là vô cùng quan trọng, giống như người
đi đúng đường, sai một li có thể đi một dặm Tuy vậy, vẫn có nhiều HS không xác định đượcđúng và trúng vấn đề khi tìm hiểu đề Nguyên nhân trước hết do đọc đề không kĩ, do “mặcđịnh” vào những vấn đề đã học, hoặc xác định đề một cách vội vã, sợ không đủ thời gian đểviết bài
+ Xác định không đúng và trúng vấn đề sẽ ảnh hưởng đến việc xác định phạm vi tư liệu
và dẫn chứng cần huy động, đặc biệt là những vấn đề có liên quan đề văn học sử hoặc lí luậnvăn học trong bài Nghị luận văn học (câu 12 điểm) trong đề thi
Ví dụ đề văn HSGQG năm 2016, câu Nghị luận văn học - Marcel Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập” Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời” Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy bình luận những nhận định trên.
Thí sinh cần huy động kiến thức về phong cách văn học, bao gồm cả phong cách nghệthuật của nhà văn và phong cách của thời đại, từ đó huy động những trải nghiệm văn học đểbình luận các ý kiến Tuy nhiên, có thí sinh chỉ xác định vấn đề PCNT của nhà văn là chính,không chú trọng đến ý kiến của Tô Hoài, khiến bài văn bị thu hẹp hoặc thiếu tính cân đối, hàihòa, phạm vi dẫn chứng cũng vì thế mà hạn chế hơn
+ Một trong những thực trạng phổ biến hiện nay khi các em xác định vấn đề nghị luận
là “nhìn thấy cây mà không thấy rừng”, sa vào tiểu ý mà không thấy được đại ý, khiến bài văn
bị thu hẹp, “tự bó chân mình”, không viết được hay, không thể hiện được sâu vốn kiến thức đãhọc, không liên hệ và mở rộng được vấn đề
Ví dụ đề Nghị luận văn học: “Thơ khởi sự từ tâm hồn, vượt lên bằng tầm nhìn và đọng lại nhờ tấm lòng người viết”.
Khi cho HS luyện tập đề này, một số em chỉ xác định vấn đề nghị luận ở vế đầu tiên
hoặc cuối cùng: “ thơ khởi sự từ tâm hồn” (“thơ là tiếng nói của những trái tim”) hoặc “thơ đọng lại nhờ tấm lòng người viết” (“văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ”) mà bỏ
qua các vế thứ hai hoặc hai ý còn lại Điều đó khiến cho các em không nhìn được tổng thể vấn
đề, không đáp ứng được yêu cầu của đề bài và bị bó bút khi viết
- Thứ ba: Xác định không đúng phạm vi tư liệu, dẫn chứng cần huy động và sử dụng
Những năm gần đây, do xu hướng các đề văn HSGQG thường ra các đề nghị luận xãhội và nghị luận văn học theo hướng mở, câu lệnh và phạm vi tư liệu, dẫn chứng rất rộng,không bó hẹp vào một tác phẩm hoặc thể loại nên người viết cần huy động tối đa lượng kiếnthức về đời sống và kiến thức văn học đã được tích lũy Song điều này cũng dẫn tới nhiều hạnchế:
+ HS huy động quá nhiều kiến thức, tư liệu, dẫn chứng khiến bài văn bị bộn dẫn chứng,
sa vào liệt kê dẫn chứng, không kịp phân tích, bình luận… HS không xác định được dẫn chứngnào đưa vào vấn đề nào là đắt giá, là phù hợp nhất Ngược lại, có những HS “tủ” những dẫn
Trang 1718chứng, khiến bài văn nào cũng “từng ấy khuôn mặt” được điểm danh.
Trang 18+ HS chưa biết sắp xếp tư liệu, dẫn chứng cho phù hợp với từng luận điểm, luận cứ.Tình trạng sắp xếp lộn xộn, không khoa học và không phát huy được hiệu quả của tư liệu, dẫnchứng được đưa vào cũng làm cho bài văn giảm sức thuyết phục.
+ Tình trạng HS học dẫn chứng và tư liệu “lơ mơ”, “mang máng” khiến việc giải thích,phân tích bằng kiến thức lí luận, kiến thức văn học sử sơ sài, chung chung; việc lựa chọn dẫnchứng để phân tích sâu, tạo điểm nhấn gặp khó khăn; các kiến thức xã hội
- Thứ tư: Xác định chưa đúng chưa phù hợp các thao tác lập luận (thao tác nghị luận) cần
sử dụng
Thao tác tư duy có thể có nhiều, song thao tác lập luận chủ yếu có các loại sau: giảithích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ Những thao tác này cần được sử dụng
và phối hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt trong từng đề văn
Tuy nhiên, thực tế, việc HS xác định thao tác nghị luận nào là chính, thao tác nào là bổtrợ, những thao tác nào là phù hợp nhất cho một đề văn vẫn còn khó khăn, lúng túng Điều đódẫn đến việc không vận dụng được những thế mạnh, sở trường khi làm bài của thí sinh, hoặcbài văn thiếu điểm nhấn và những lập luận sắc sảo, thuyết phục
2 Thực trạng của việc lập dàn ý cho đề văn thi HSGQG của học sinh
Việc lập dàn ý có ý nghĩa rất quan trọng trong việc dựng lên khung xương cho bài văn,định hướng tư duy và tránh việc thiếu ý, lặp ý, sót ý cho thí sinh trong quá trình làm bài, địnhhướng việc sắp xếp ý và phân bố thời gian hợp lí hơn
+ Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều thí sinh không có thói quen này Nhiều em chỉ chú tâmvào việc viết mở bài cho hay, cầu kì; sau đó là cứ “tùy theo cảm hứng” để viết những phần tiếptheo của thân bài và kết bài
+ Nhiều thí sinh ngay cả khi học và đi thi đều coi nhẹ việc lập dàn ý, hoặc nếu có thì chỉgạch vài ý rất sơ sài Điều này cũng có thể do tâm lí lo sợ hết thời gian viết bài, nhưng chủ yếu
là chưa có kĩ năng thuần thục mà thôi
Việc không lập dàn ý hoặc gạch ý sơ sài ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của bàivăn, cả về nội dung và hình thức như: tính hệ thống, tính khoa học, tính chỉnh thể, điểm nhấn
và lướt, tính thuyết phục trong lập luận, …
+ Bên cạnh đó, nhiều thí sinh lại rơi vào tình trạng lập dàn ý quá chi tiết, mất nhiều thờigian, cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc hoàn thành bài văn, khiến cho bài văn “đầu voi đuôichuột”, thiếu ý hoặc không hết ý
Thực trạng của việc tìm hiểu đề và lập dàn ý của thí sinh ở trên đây đã phản ánh phầnnào những hạn chế của các em khi làm bài văn thi HSGQG, dẫn đến kết quả không được nhưmong muốn
Trang 19Thực tế cho thấy, GV chủ nhiệm đội tuyển nào cũng lo lắng về việc rèn kĩ năng cho HSkhi thành lập các đội tuyển cấp tỉnh Bởi nếu chú trọng kĩ năng làm văn mà không ôn tập lạiđược đầy đủ các mảng kiến thức văn học từ Văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiệnđại, văn học nước ngoài, văn học sử, lí luận văn học… đến các mảng kiến thức nghị luận xã hộithì lại lo HS bị hổng kiến thức, không huy động được trải nghiệm văn học khi làm bài Còn nếungược lại, không dành nhiều thời gian cho việc rèn kĩ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý (hiểu nôm na
là “luyện đề”) thì kĩ năng làm bài của thí sinh lại thiếu nhuần nhuyễn, thiếu linh hoạt
Nhiều đội tuyển ở các tỉnh, có các em HS lớp 11 tham dự với các em HS lớp 12 cùngtrong một đội tuyển, áp dụng một chương trình dạy, thì những khó khăn lại càng chồng chấthơn do các em lớp 11 có thể chưa kịp học hết chương trình phổ thông, chưa có thời gian ôn tập,chưa có thời gian rèn kĩ năng, nhận thức và vốn sống, vốn hiểu biết còn non nớt… Trong đó,thiếu kĩ năng là một hạn chế lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng bài viết của thí sinh,tâm lí sẵn sàng và bản lĩnh của các em khi tham dự kì thi HSGQG
Trang 20CHƯƠNG 3: RÈN KĨ NĂNG TÌM HIỂU ĐỀ VÀ LẬP DÀN Ý
CHO ĐỀ VĂN THI HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
I RÈN KĨ NĂNG TÌM HIỂU ĐỀ CHO HSG THI QUỐC GIA MÔN VĂN
Quá trình tìm hiểu đề được chia thành các bước nhỏ: đọc đề, xác định vấn đề nghị luận,xác định phạm vi tư liệu, dẫn chứng; xác định các thao tác lập luận cần sử dụng
Cần trả lời các câu hỏi:
+ Nghị luận xã hội hay Nghị luận văn học?
+ Với câu Nghị luận xã hội thì đó là dạng nghị luận về một tư tưởng đạo lý hay mộthiện tượng đời sống? Là vấn đề xã hội đặt ra trong một câu chuyện văn học, một đoạn thơ / bàithơ hay là một ý kiến, nhận định, danh ngôn, tục ngữ….?
+ Với câu Nghị luận văn học thì đó là bàn về vấn đề văn học sử, lí luận văn học hay tácphẩm văn học? Là dạng đề tổng hợp (giữa lí luận và cảm thụ, giữa lí luận và so sánh, giữa cảmthụ và so sánh) hay dạng đề đơn (Là dạng đề lí luận hay dạng đề cảm thụ, dạng đề so sánh?);
Là dạng đề bình luận hay dạng đề chứng minh? …
- Bước 2: Đọc chậm để không bỏ sót từ ngữ, hình ảnh, chi tiết, vế câu.
+ Đọc kĩ và gạch chân các từ khóa quan trọng (phục vụ cho phần giải thích), gạch châncác quan hệ từ (để tìm hiểu các mối quan hệ giữa các ý, các vế trong đề bài), đọc kĩ các vế của
đề bài (nếu có)
+ Đọc kĩ câu chuyện/ bài thơ (nếu đề bài là câu chuyện hoặc bài thơ), gạch chân từkhóa, hình ảnh, câu thơ quan trọng có thể giúp định hình hiểu nội dung, thông điệp của câuchuyện hoặc bài thơ
- Bước 3: Đọc kĩ câu lệnh của đề bài
Đề bài đôi khi đề không có câu lệnh cụ thể, ví dụ: “Thiếu tôi thì chợ vẫn đông sao?”,
“Phải chăng, sống là tỏa sáng?”… nhưng đa phần các đề thi HS giỏi môn Văn đều có câu lệnh
cụ thể:
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào?
Trang 21Hãy bình luận ý kiến trên
Từ câu nói/ nhận định A, anh/chị hãy phác thảo phương châm sống của riêng
mình Bài học cuộc sống mà anh/ chị rút ra được sau khi đọc câu chuyện trên?
Từ ý kiến/ câu chuyện trên/ bài thơ trên, anh/chị hãy viết một bài văn với chủ đề
A Anh/chị có suy nghĩ gì về quan niệm A? (đưa ra 1 ý kiến, một quan niệm)
2 Kĩ năng xác định vấn đề nghị luận
a Vai trò:
Đây là khâu quan trọng nhất trong kĩ năng tìm hiểu đề, bởi không xác định trúng vấn đềnghị luận thì người viết sẽ không thể viết bài văn đúng hướng, giống như một người đi đườngkhông xác định được mình sẽ đi về đâu Sai một li sẽ đi một dặm, dẫn đến tình trạng lạc đề, xa
đề, lệch đề của thí sinh Việc xác định đúng và trúng vấn đề nghị luận quyết định đến việc triểnkhai toàn bộ bài viết, các luận điểm, luận cứ, luận chứng trong bài
b Kĩ năng xác định vấn đề nghị luận trong đề thi HSG Quốc gia môn Ngữ văn:
- Bước 1: Tìm hiểu ý nghĩa của các từ khóa đã được gạch chân ở bước đọc đề
Cần tìm hiểu cả nghĩa đen và nghĩa bóng của các từ khóa, các vế câu, mối quan hệ của chúng khi đặt trong nhận định hoặc giữa các vế câu của đề bài
- Bước 2: Kết nối các vế câu, các quan hệ từ trong đề bài để tìm hiểu xem vế câu nào, ý nào là trọng tâm của đề bài (sức nặng của đề nghiêng về vế nào của đề bài?)
Ví dụ 3: Nghị luận văn học
Thơ có thay hình đổi dạng bao lần hay lang thang lạc bước đến phương trời nào đi nữa
nó cũng phải trở về, trở về nơi nó xuất phát: con người, trong ngôi nhà của nó: ngôn ngữ Lang thang đi tìm hình dạng ngôi nhà thích hợp cho con người cư trú là bổn phận của thơ.
Trang 22Với đề bài trên, cần xác định trọng tâm của vấn đề nghị luận nằm ở câu sau: Lang thang
đi tìm hình dạng ngôi nhà thích hợp cho con người cư trú là bổn phận của thơ Do đó, vấn đề nghị luận là đề cập đến những vấn đề cơ bản của thơ: đối tượng của thơ là con người, hình thức thể hiện của thơ là ngôn ngữ và bổn phận của thơ là nơi cư trú của con người - nơi con người
bộc lộ mình một cách sâu sắc nhất
+ Nếu đề bài là câu chuyện, cần đọc kĩ câu chuyện, kết nối các nhân vật, chi tiết, hìnhảnh, lời thoại, đặc biệt là phần cuối truyện thường chứa thông điệp cần bàn luận
Ví dụ 1: Đề thi HSGQG năm 2010 - Câu 1 (8 điểm)
Trong những trang ghi chép cuối cùng của đời mình, nhà văn Nguyễn Minh Châu có kểlại một sự việc ông đã chứng kiến:
“…lúc bấy giờ mới khoảng năm giờ sáng Sân ga Hàng Cỏ còn mờ mờ tỏ tỏ trong sương nhưng người đã chật ních Có những dãy người xếp hàng ba hàng tư dài dằng dặc, như rồng rắn Người nào cũng khoác đầy hành lý trên mình, đang chuẩn bị vào phía trong ga để lên tàu Chung quanh cái dây người xếp hàng là bạt ngàn những người đang ngồi giữa hàng đống, hàng núi hàng hóa, có lẽ lần đầu tiên tôi chứng kiến một buổi sáng tinh mơ mà khách đi tàu ở sân ga đông đến như thế Và giữa cảnh đông đúc, chen chúc như vậy có một người đàn
bà hãy còn trẻ, y như một kẻ mất trí, một người điên, cứ hét váng cả sân ga: “Các ông các bà
có ai thương cứu tôi với” Người đàn bà kêu đến khản cả giọng mà chung quanh chẳng ai đoái hoài Người ta chỉ quay mặt lại nhìn một cách thờ ơ, vả lại ai cũng chất xung quanh mình hàng đống hành lý, lại mệt đứt hơi, ai cũng chỉ đủ sức lo cho mình.
Thì ra thế này: người đàn bà xuống tàu trong đêm với hai đứa con, đứa ba tuổi, đứa mới nửa tuổi Mẹ con ngồi chờ sáng Lúc trời vừa tảng sáng, mẹ bảo con ngồi đây trông em, mẹ đi giặt
tã cho em một lúc Người mẹ đi đến vòi nước gần nhà xí công cộng, cũng khá xa, chen chúc mới giặt giũ được, giặt xong quay về thì mẹ mìn chỉ chìa cái bánh đa đã dỗ được đứa con lớn
đi theo, chỉ còn đứa nhỏ nửa tuổi nằm giữa sân ga một mình.
Nghe xong chuyện tôi chạy đến trước mặt một đồng chí công an, đề nghị: các đồng chí nói loa
đi, yêu cầu hành khách thấy ai khả nghi thì giữ lại, đứa dụ đứa trẻ thế nào cũng có vẻ khả nghi…Biết đâu nó còn quanh quẩn quanh đây Yêu cầu mọi người giúp người ta Đồng chí công an chẳng nói chẳng rằng, chẳng trả lời tôi lấy một lời Còn hàng ngàn con người thì vẫn
dửng dưng trong một vẻ ngái ngủ hoặc sợ mất cắp Người đàn bà vẫn kêu gào giữa sân ga
Hàng Cỏ như kêu gào giữa sa mạc”.
(Rút từ tập Trang giấy trước đèn, NXB Khoa học Xã hội, 1994, tr.140-141)
Câu chuyện trên gợi anh/chị suy nghĩ gì về lòng nhân ái và sự vô cảm của con người trong cuộc sống?
Giữa câu văn cuối của đoạn trích trong câu chuyện của nhà văn Nguyễn Minh Châu vàcâu lệnh của đề bài có sự tương đồng về vấn đề nghị luận Giả thử, đề bài không có câu lệnh và
Trang 23chủ đề cụ thể, dạng như: Anh/chị có suy nghĩ như thế nào sau khi đọc câu chuyện trên? thì câu
văn cuối vẫn có sức gợi ý nhiều nhất cho người viết khi xác định vấn đề nghị luận
Ví dụ 2:
Đọc câu chuyện sau: NGƯỜI ĐẦU TIÊN
Trong hai nhà du hành vũ trụ đầu tiên đặt chân lên mặt trăng, ngoại trừ Neil Alden Armstrong mà ai cũng biết, còn một người nữa là Edwin Eugene Aldrin Chuyến du hành của hai ông là chuyến đi vĩ đại của lịch sử loài người “Bước chân nhỏ của riêng tôi nhưng là bước
đi lớn của nhân loại” Câu nói bất hủ này của Armstrong đã trở thành danh ngôn được mọi người truyền tụng.
Trong cuộc họp báo chúc mùng chuyến đổ bộ lên mặt trăng thành công, có nhà báo hỏi Aldrin một câu khá nhạy cảm: “Ông có cảm thấy tiếc nuối không khi để cho Armstrong trở thành người đầu tiên bước chân lên mặt trăng?”
Câu hỏi gây được sự quan tâm đặc biệt cho cả khán phòng Trước sự chú ý của mọi người, Aldrin đã tỏ ra rất phong độ, đĩnh đạc trả lời: “Thưa quý vị, các vị nên nhớ, khi trở về Trái Đất, chính tôi là người đầu tiên bước ra khoang tàu vũ trụ đấy” Ai nấy im lặng, lấy làm khó hiểu không biết ông định nói gì Ông ngừng một lát, nhìn khắp lượt rồi cười xòa, hóm hỉnh
tiếp: “vì thế tôi là người đầu tiên từ hành tinh khác bước chân lên Trái Đất chứ còn gì
nữa!”
Mọi người cười vang và vỗ tay hoan hô nồng nhiệt.
(Trích từ “Điểm rơi của tâm hồn” - NXB Văn hóa Sài Gòn)
Anh/chị có suy nghĩ gì về “người đầu tiên” trong câu chuyện trên ?
Câu trả lời của nhà du hành Aldrin trong câu chuyện trên là gợi ý quan trọng để địnhhướng vấn đề nghị luận “người đầu tiên” trong bài viết Không phải ai cũng có thể trở thànhngười đầu tiên, thành người nổi tiếng, bởi thế vấn đề nghị luận cần xác định là: danh tiếng làđiều cần thiết, nhưng bản lĩnh, nhân cách và lối ứng xử nhân văn của con người trước danhtiếng mới là điều quan trọng
+ Xác định đúng và trúng vấn đề nghị luận: Về khái niệm đúng và trúng, GS Nguyễn
Đăng Mạnh trong cuốn “Muốn viết được bài văn hay” đã dẫn tích Giả Đảo bên Trung Quốc, từ
đó khẳng định: “trúng” có nghĩa là đúng một cách tuyệt đối, không thể có chữ nào đúng hơn,hay hơn được Văn phải “trúng” mới hay Viết văn phả như Giả Đảo, không bằng lòng với cáiđúng
, phải tiến lên cái “trúng”, có thể mới đạt tới văn hay Câu chuyện trên đúng với sáng tác, đúngvới văn nghị luận Văn đạt tới trình độ “trúng” thì có nghĩa là đạt tới sự thống nhất cao độ,tuyệt đối giữa nội dung và hình thức, giữa ý và từ diễn đạt ý, giữa khái niệm và tên gọi của kháiniệm Chẳng hạn nói về trường hợp nhân vật Chí Phèo, một nông dân lương thiện bị xã hộithực dân nửa phong kiến biến thành một tên lưu manh hung dữ với bộ mặt gớm guốc đầy vếtsẹo ngang sẹo dọc, có nhà phê bình gọi đó là con người đã bị tước đoạt cả “nhân hình” lẫn
Trang 24“nhân tính” Văn viết như vậy là rất trúng.
Trang 25Xác định vấn đề đúng đã khó, nhưng xác định trúng vấn đề càng khó hơn Nó đòi hỏi sựtinh nhạy, thông minh của người viết, bắt trúng được điểm quan trọng nhất trong yêu cầu của
đề bài, từ đó bài viết có điểm nhấn và độ sắc sảo trong tư duy và lập luận
- Bước 3: Đọc lại câu lệnh và các thông tin khác có liên quan trong đề bài (nguồn trích dẫn câu nói, nhận định; các thông tin về thời gian, về tác giả nếu có…)
Việc đọc lại câu lệnh của đề bài rất quan trọng để xác định lại chắc chắn một lần nữayêu cầu của đề bài, dạng đề và vấn đề nghị luận Vì đôi khi, trong câu lệnh chứa cả vấn đề nghịluận và thao tác nghị luận chính cần sử dụng trong bài, cả phạm vi dẫn chứng và tư liệu cần sửdụng
Ví dụ 1: Đề nghị luận xã hội
Ta mắc nợ mùa thu Bài thơ lá rụng sương mù
Ta mặc nợ ai bao năm rồi chưa trả nổi Một nụ cười má lúm đồng xu Chúng mình mắc nợ mẹ hiền lời ru Mắc nợ thầy cô một dấu chấm câu đặt không đúng chỗ Mắc nợ bạn bè một lần vẫy tay cuối phố
Mà một đời trả mãi chắc chi xong.
(Mắc nợ - Nguyễn Văn Thiên)
Bài thơ trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về những điều chúng ta mắc nợ trong cuộc sống?
Với câu lệnh của đề bài trên, thí sinh cần xác định yêu cầu của đề là bàn về nhữngđiều chúng ta mắc nợ trong cuộc sống được gợi ý từ bài thơ của Nguyễn Văn Thiên, chứ không phải phân tích bài thơ của Nguyễn Văn Thiên
Ví dụ 2: Đề nghị luận văn học
“Người đọc thơ muốn rằng thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể càng độc đáo, càng hay” (Xuân Diệu)
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng việc phân tích một số bài thơ đã học trong chương trình, anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên.
Với đề bài trên, câu lệnh có ba phần rõ rệt: giải thích ý kiến, phân tích một số bài thơ đãhọc trong chương trình và bình luận ý kiến của Xuân Diệu Nếu đọc không kĩ, thí sinh dễ bỏ sótmột trong những yêu cầu của đề bài
Trang 26Như vậy, có thể nói một cách ngắn gọn việc xác định vấn đề nghị luận cần: thông quacác từ khóa, các vế câu, các quan hệ từ được người ra đề sử dụng, câu lệnh và các thông tinkhác có liên quan trong đề bài, người viết bắt đầu định hình vấn đề cần bàn đến trong bài văn làgì?
3 Kĩ năng xác định phạm vi tư liệu, dẫn chứng cần sử dụng trong bài văn
* Vai trò:
Đây là khâu quan trọng định hướng những tư liệu, dẫn chứng sẽ sử dụng làm luậnchứng trong bài văn thi HSG Quốc gia Việc xác định đúng tư liệu, phạm vi dẫn chứng sẽ trựctiếp quyết định đến việc cần huy động những kiến thức thuộc mảng nào (lí luận, văn học sử, tácphẩm văn học…) hay lĩnh vực nào của đời sống xã hội (giáo dục, khoa học, đạo đức, môitrường, văn hóa…) để phục vụ cho bài viết của thí sinh
Người viết văn không thể chỉ nói lí thuyết suông, cần “nói có sách mách có chứng” Vìthế, xác định phạm vi tư liệu, dẫn chứng chính xác, phù hợp là điều kiện không thể thiếu để cóbài văn hay Không xác định được phạm vi tư liệu cần sử dụng, người viết sẽ hoang mang, hoặclấy bộn bề dẫn chứng, hoặc không biết chọn dẫn chứng chính (khi đề bài yêu cầu chứng minhqua một hoặc một vài tác phẩm tiêu biểu) … Điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức thuyếtphục của bài viết
* Kĩ năng xác định phạm vi tư liệu, dẫn chứng:
- Căn cứ vào yêu cầu của đề bài:
Với bài văn Nghị luận xã hội, thường phạm vi dẫn chứng không giới hạn cụ thể, mà tùythuộc vào từng vấn đề nghị luận mà người viết cần huy động dẫn chứng ở lĩnh vực nào cho phùhợp, sát với thực tế và yêu cầu của đề bài Đôi khi có những đề bài có giới hạn lĩnh vực đời
sống, văn hóa, xã hội (ví dụ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do học vấn” ) nhưng thông thường dẫn chứng, phạm vi tư liệu cho bài NLXH là rất phong phú, phụ
thuộc vào sự tích lũy vốn sống của người viết
Với bài Nghị luận văn học, phạm vi tư liệu, dẫn chứng sẽ được định hình cụ thể hơn tùyvào yêu cầu của từng đề bài Đó có thể là phạm vi một vấn đề lí luận văn học (đặc trưng vănhọc, chức năng văn học, nhà văn và quá trình sáng tác, mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống,tác phẩm văn học, đặc trưng thơ, đặc trưng truyện, phong cách nghệ thuật của nhà văn, tiếpnhận văn học hay đơn thuần là cảm thụ tác phẩm văn học…) Đó có thể là một phạm vi dẫnchứng cụ thể qua một hoặc một vài tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn THPT, thậmchí giới hạn hẹp chỉ ở một hoặc một vài hình tượng trong tác phẩm văn học cụ thể
Ví dụ 1: Đề nghị luận văn học
“Trong tác phẩm văn học, sáng tạo nghệ thuật quan trọng, đặc sắc nhất, nhiều khi không phải ở hình tượng con người mà ở hình tượng đồ vật, sự vật: Một thứ thuốc chữa bệnh quái lạ (Thuốc - Lỗ Tấn), một bức thư pháp đẹp và quý (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân) một
Trang 27công trình kiến trúc kỳ vĩ, tinh xảo (Vũ Như Tô - Nguyễn Huy Tưởng), một cây đàn huyền thoại (Đàn ghi ta
Trang 28của Lor-ca - Thanh Thảo)… Đó là những đồ vật, sự vật mang ý nghĩa biểu trưng cho nhận thức, nhân cách, ý chí, khát vọng, số phận… của con người”.
Ý kiến của anh chị về nhận định trên? Hãy phân tích hai trong những hình tượng đồ
vật, sự vật đã nêu để làm sáng tỏ ý kiến của mình” (Đề thi HSG Quốc gia môn Ngữ văn
2013)
Với đề bài trên, phạm vi kiến thức lí luận cần huy động là hình tượng nghệ thuật trongtác phẩm văn học, đó không chỉ là con người mà còn là những sự vật, đồ vật mang ý nghĩa biểutrưng cho con người Phạm vi dẫn chứng chính là hai trong số những sự vật, đồ vật được nêu
trong đề bài (Một thứ thuốc chữa bệnh quái lạ (Thuốc - Lỗ Tấn), một bức thư pháp đẹp và quý (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân) một công trình kiến trúc kỳ vĩ, tinh xảo (Vũ Như Tô - Nguyễn Huy Tưởng), một cây đàn huyền thoại (Đàn ghi ta của Lor-ca - Thanh Thảo)… Ngoài ra có thể
huy động thêm những dẫn chứng khác là các sự vật, đồ vật giàu ý nghĩa biểu tượng trong cáctác phẩm văn học đã được học hoặc được đọc trong vốn hiểu biết của thí sinh: hình tượng cái
bao (Người trong bao - Sê khốp), hình tượng đoàn tàu (Hai đứa trẻ - Thạch Lam)
- Xác định phạm vi mảng kiến thức cần huy động, xác định dẫn chứng phụ và dẫn chứng chính.
Những năm gần đây, xu hướng mở rộng phạm vi tư liệu dẫn chứng trong bài Nghị luận
văn học chiếm ưu thế Các đề văn từ 2014 đến nay đều đưa ra câu lệnh: Bằng trải nghiệm văn học của mình, anh/chị hãy làm sáng tỏ vấn đề trên hoặc Bằng hiểu biết văn học của mình, anh/ chị hãy bình luận ý kiến trên… Với yêu cầu này, người viết cần huy động tối đa những hiểu
biết văn học của bản thân Tuy vậy, cũng không thể dàn trải, phô trương theo bề rộng, mà vẫnphải có dẫn chứng mang tính chiều sâu, để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận hoặc bày tỏ quan điểm
cá nhân của người viết
Dẫn chứng phụ: là dẫn chứng sử dụng trong quá trình giải thích, phân tích vấn đề, mang
tính chất minh họa cho từng ý nhỏ và tăng tính thuyết phục trong lập luận của bước giải thích,phân tích vấn đề
Dẫn chứng chính: là dẫn chứng được lựa chọn trong phần chứng minh, làm sáng tỏ vấn
đề Đây là những dẫn chứng quan trọng của bài văn, cần được lựa chọn và phân tích thấu đáo,sâu sắc, để làm sáng tỏ vấn đề và thuyết phục người đọc người nghe khi bình luận ý kiến Việclựa chọn dẫn chứng chính phụ thuộc vào yêu cầu của đề bài (nếu đề bài giới hạn phạm vi dẫnchứng), hoặc phụ thuộc vào sở trường của người viết (yêu thích hoặc am hiểu sâu sắc về mộttác phẩm, hình tượng trong văn học hoặc nhân vật, sự kiện nào đó trong đời sống…) Lựa chọndẫn chứng chính phù hợp, sát với yêu cầu của đề bài là một trong những yếu tố quyết định sựthành công của bài văn
4 Kĩ năng xác định các thao tác lập luận cần sử dụng trong bài văn
* Khái niệm:
Thao tác nghị luận là một tập hợp lí lẽ nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận Những lí
Trang 29lẽ này được hình thành bởi các thao tác tư duy Như vậy, thao tác nghị luận có liên quan mậtthiết
Trang 30với các thao tác tư duy nhưng không đồng nhất với thao tác tư duy (Nguyễn Đăng Mạnh , Muốnviết được bài văn hay)
Thao tác tư duy có thể có nhiều, nhưng thao tác nghị luận chủ yếu có các loại sau: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ
* Vai trò:
Sau khi đã xác định được dạng đề, vấn đề nghị luận, phạm vi tư liệu và dẫn chứng cầnhuy động, người viết cần phải xác định các thao tác lập luận sẽ sử dụng trong quá trình viếtvăn Mỗi thao tác lập luận là một bước của quá trình lập luận, tạo nên tính thống nhất chặt chẽcho bài văn nghị luận Theo GS Nguyễn Đăng Mạnh, “đã là văn nghị luận thì mục đích cuốicùng là dùng lí lẽ và chứng cứ để làm sáng tỏ được vấn đề được đưa ra bàn bạc nhằm thuyếtphục người đọc người nghe”
* Kĩ năng xác định thao tác lập luận cần sử dụng trong bài văn:
- Căn cứ vào dạng đề:
Các dạng đề văn nghị luận thi HSG Quốc gian đều cần sử dụng các thao tác lập luận cơbản: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ Nhưng không phải đề vănnào cũng sử dụng đầy đủ 6 thao tác lập luận trên, mà mỗi đề văn lại sử dụng những thao tác lậpluận chính và những thao tác lập luận bổ trợ Điều đó có nghĩa là thao tác chính đó phải kết hợpvới những thao tác khác trong quá trình lập luận Tuy nhiên, nghị luận phân tích thì cuối cùngcũng phải hướng mọi thao tác vào mục đích phân tích, còn nghị luận giải thích, bình luận haychứng minh thì phải hướng mọi thao tác vào mục đích giải thích, bình luận hay chứng minh Cụthể một số định hướng xác định thao tác lập luận theo dạng đề như sau:
+ Với dạng đề nghị luận đưa ra một ý kiến thì thường sử dụng các thao tác: giải thích,phân tích, chứng minh, bình luận…
+ Với dạng đề nghị luận đưa ra 2 ý kiến thì thường sử dụng thì thường sử dụng các thaotác: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ
+ Với dạng đề cảm thụ văn học thì thì thường sử dụng các thao tác: phân tích, chứngminh, bình luận, so sánh… trong đó thao tác phân tích là thao tác chính
+ Với dạng đề lí luận văn học thì thường sử dụng các thao tác: giải thích, phân tích,chứng minh, bình luận… tùy từng yêu cầu của đề bài mà thao tác chứng minh hoặc bình luận sẽ
là thao tác chính
+ Với dạng đề so sánh văn học thì thường sử dụng các thao tác: phân tích, chứng minh,
so sánh, bình luận… trong đó thao tác so sánh là thao tác chính
- Căn cứ vào yêu cầu (câu lệnh) của đề bài:
+ Trong câu lệnh của đề bài thường xuất hiện các yêu cầu cụ thể: Anh/ chị hãy giải thích hoặc bình luận ý kiến trên; bằng trải nghiệm văn học hãy bình luận / làm sáng tỏ ý kiến
Trang 31trên…
Trang 32Khi đề bài nêu rõ : hãy chứng minh (làm sáng tỏ), hãy giải thích, hãy phân tích, bình luận …thìnhư vậy đề đã xác định cho người viết thao tác chính bắt buộc.
Đó là những định hướng rõ rệt cho việc xác định thao tác lập luận chính trong bài văncủa HS Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, thao tác chính này phải phối hợp với các thao táclập luận khác thì lập luận mới chặt chẽ, bài văn mới có sức thuyết phục
Ví dụ: “Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực sự sống bằng
tâm trí của người đọc” Bằng tri thức và trải nghiệm văn học của mình, bạn hãy bình luận ý
kiến trên (Đề thi HSGQG 2015)
+ Mặc dù đề văn trên chỉ yêu cầu bình luận ý kiến trên, nhưng trên thực tế thí sinh làm
bài vẫn phải sử dụng các thao tác: giải thích (giải thích ý kiến), phân tích (lí giải vì sao Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực sự sống bằng tâm trí của người đọc?), chứng minh (qua những tri thức, trải nghiệm văn học) và cuối cùng mới đưa ra
bình luận về ý kiến (thao tác chính)
+ Tuy nhiên, ở một số dạng đề “mở”, người ra đề thường không xác định thao tác lậpluận chủ yếu, mà để mở cho người viết được tự do hơn Và như vậy, người viết sẽ phải linhhoạt vận dụng các thao tác lập luận để bài văn trở nên chặt chẽ và thuyết phục hơn
Ví dụ:
“Phải chăng, sống là tỏa sáng?” (Đề văn thi HSGQG năm 2014)
Là thanh niên thế hệ hôm nay, anh/chị hãy suy nghĩ và phác họa một châm ngôn sống
cho chính mình (Đề văn thi HSGQG năm 2012)
Suy nghĩ của anh/chị về quan niệm: Sống tức là thay đổi (Đề thi HSGQG 2018)
Thời đại ngày nay, con người phải đối mặt với những áp lực trong đời sống tinh thần
Liệu văn học có giúp con người hóa giải những áp lực đó? (Đề thi HSGQG năm 2019-2020)
II KĨ NĂNG LẬP DÀN Ý CHO ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
1 Kĩ năng lập dàn ý cơ bản cho bài văn nghị luận
SGK Ngữ văn 10 trong bài “Lập dàn ý cho bài văn nghị luận” đã khẳng định:
- Muốn lập dàn ý bài văn nghị luận, cần nắm chắc yêu cầu của đề bài để tìm hệ thống luận điểm, luận cứ rồi sắp xếp, triển khai chúng theo thứ tự hợp lí, có trọng tâm
- Dày ý bài văn nghị luận gồn ba phần: Mở bài (giới thiệu và định hướng triển khai vấn đề), Thân bài (triển khai lần lượt các luận điểm, luận cứ) và Kết bài (nhấn mạnh hoặc mở rộng vấn đề)
Từ đó, SGK Ngữ văn 10 đưa ra những định hướng cơ bản để lập dàn ý cho một bài văn
Trang 33* Bước 1: Tìm ý cho bài văn
Tìm ý là tìm hệ thống luận điểm, luận cứ cho bài văn Việc tìm ý gồm có
- Xác định luận đề: Bài văn cần làm sáng tỏ vấn đề gì? Quan điểm của chúng ta về vấn đề đónhư thế nào?
- Căn cứ vào đề bài, vào yêu cầu của bài văn và huy động những hiểu biết của mình để trả lời các câu hỏi có liên quan đến vấn đề
- Tìm luận cứ cho các luận điểm trong bài
* Bước 2: Lập dàn ý - sắp xếp các luận điểm, luận cứ đã xác định được vào bố cục ba phần của bài văn
- Mở bài:
+ Nên mở bài trực tiếp hay gián tiếp?
+ Làm thế nào để nêu được vấn đề và phương hướng nghị luận cho toàn bài?
- Thân bài:
+ Sắp xếp các luận điểm theo trình tự nào cho hợp lí?
+ Sắp xếp các luận cứ cho từng luận điểm ra sao?
+ Cần triển khai luận điểm và luận cứ nào nhiều nhất? Tại sao?
+ Cần lựa chọn và sử dụng các kí hiệu gì đặt trước các đề mục để dàn ý được rõ ràng,minh bạch?
- Kết bài:
+ Nên kết bài theo kiểu đóng hay kiểu mở?
+ Khẳng định những nội dung nào?
+ Mở ra những nội dung nào để người đọc tiếp tục suy nghĩ?
Trên đây là những định hướng cơ bản, hữu ích giúp cho chúng tôi hình thành những kĩnăng đầu tiên cho HS khi tìm hiểu đề và lập dàn ý cho bài văn nghị luận nói chung, bài văn thiHSGQG nói riêng Từ nền tảng đó, cùng với quá trình giảng dạy, chúng tôi đã tích lũy và mởrộng thêm thành các kĩ năng chuyên sâu cho đội tuyển HSGQG môn Ngữ văn
2 Kĩ năng lập dàn ý cho đề văn NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Các dạng đề nghị luận xã hội thường gặp:
- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Trang 34- Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong một tác phẩm văn học
Kĩ năng lập dàn ý cho đề văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
Có hai cách mở bài thường gặp: trực tiếp hoặc gián tiếp
+ MB trực tiếp: đi thẳng vào vấn đề nghị luận bằng cách bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc, hiểubiết của người viết về vấn đề nghị luận
Ví dụ: Mỗi chúng ta sinh ra không thể nằm ngoài thời gian và không gian Thời gian đời người
là hữu hạn so với dòng chảy vô thủy vô chung của thời gian tạo hóa Bởi vậy, cha ông ta đã
nhắc nhở: Thời gian là vàng để nói về giá trị quý báu của thời gian đối với mỗi con người.
+ MB gián tiếp: Là mở bài không đi thẳng vào vấn đề mà dẫn dắt qua một ý kiến, mộtcâu chuyện, một câu danh ngôn, tục ngữ … có liên quan đến vấn đề, từ đó dẫn vào vấn đề
Ví dụ: Có ai đó đã từng nói: “Trong cuộc đời, có ba thứ trôi qua không lấy lại được, đó là thời gian, lời nói và cơ hội” Tuy nhiên, lời nói sai còn có thể sửa, cơ hội này mất đi có thể còn cơ
hội khác đến, nhưng thời gian đã trôi qua không bao giờ lấy lại được nữa Có lẽ vì thế mà thờigian là yếu tố được xếp đầu tiên, bởi tính chất quý giá của nó Cũng bàn về vấn đề này, cha ông
ta có câu: Thời gian là vàng để nói về sự quý giá của thời gian đối với cuộc đời mỗi con người.
Một số cách mở bài gián tiếp:
Lấy một ý kiến, nhận định khác có liên quan đến vấn đề nghị luậnLấy một dẫn chứng điển hình có liên quan đến vấn đề (Thực tế + sách)Chia sẻ trải nghiệm của bản thân
Luận bàn về những hình ảnh, những vấn đề liên quan đến vấn đề nghị luận
* Thân bài: cần đảm bảo các bước sau
Trang 35+ Giải thích những từ khóa quan trọng đã gạch chân khi tìm hiểu đề, cả nghĩa đen và nghĩa bóng
+ Giải thích theo vế câu của nhận định:
Giải thích nội dung ý kiến:
+ Kết nối ý nghĩa các từ khóa, các vế câu để tìm ra thông điệp của ý kiến
+ Giới hạn và khẳng định vấn đề nghị luận để cập đến trong ý kiến, nhận định
- Bước 2: Phân tích, lí giải (trả lời các câu hỏi vì sao?)
+ Vì sao vế 1 ?
+ Vì sao vế 2 ?
(Dựa vào những hiểu biết thực tế, vốn sống, các quy luật, hiện tượng xã hội, kinh nghiệm dângian của ông cha, những chân lí hiển nhiên của đời sống… để phân tích và lí giải cho từng vếcủa ý kiến Mỗi phần lí giải cần có lập luận và dẫn chứng thuyết phục)
+ Đưa ra quan điểm, thái độ của bản thân về vấn đề
+ Mở rộng vấn đề: từ ý kiến có gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về những vấn đề khác của đờisống có liên quan không?
- Bước 4: Bài học nhận thức và hành động
+ Ý kiến giúp ta nhận thức được điều gì về cuộc sống, về con người,về chính bản thânmình?
+ Từ nhận thức đó, chúng ta phải hành động như thế nào?
Phê phán, lên án mặt trái, mặt tiêu cực của vấn đề
Đề cao, ủng hộ, biểu dương mặt tốt, tích cực
Làm thế nào để hạn chế mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực của vấn đề?
*Kết bài: Liên hệ đời sống, bản thân
Trang 36b Luyện tập
Đề luyện số 1:
Bạn sinh ra là một nguyên bản, đừng chết như một bản sao (John Mason)
Anh/chị có suy nghĩ gì về ý kiến trên?
GỢI Ý LÀM BÀI
I Yêu cầu về kĩ năng
- Biết cách làm bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống
- Lập luận chặt chẽ, bố cục rõ ràng
- Văn viết trong sáng mạch lạc, có cảm xúc, sáng tạo, hạn chế tối đa các lỗi về chính tả, dùng từ, ngữ pháp
II Yêu cầu về kiến thức
Có thể có những cách triển khai bài viết khác nhau, tuy nhiên, về cơ bản, học sinh cần đáp ứng được một số ý chính sau:
1 Mở bài: Dẫn dắt – nêu được vấn đề nghị luận
2 Thân bài
a Giải thích
- Nguyên bản: bản gốc, bản đầu tiên, bản duy nhất.
- Bản sao: bản chép lại, copy, giống với các bản khác
- Mỗi người sinh ra là một nguyên bản: mỗi người sinh ra là một cá thể riêng biệt, duy nhất,
độc đáo
- Đừng chết như một bản sao: đừng lặp lại, bắt chước, nói theo, nghĩ theo để trở thành bản sao
của người khác, cho đến cuối đời, hãy đừng là cái bóng của người khác
-> Nội dung ý kiến: Khuyên mỗi người cần biết trân trọng bản thân, tôn trọng sự khác biệt và cần giữ được bản sắc riêng của mình trong suốt hành trình cuộc sống
Trang 37(VD: Người hát hay phát huy năng khiếu âm nhạc, người có hình thể đẹp phát huy khả nănglàm người mẫu, người khéo tay chọn những công việc tỉ mỉ công phu, người khỏe mạnh chọnnhững công việc xốc vác, người dũng cảm chọn những công việc mạo hiểm )
* Vì sao không nên trở thành bản sao? (1,5)
- Trở thành bản sao của người khác đồng nghĩa với việc ta đánh mất chính bản thân mình: mặctheo người khác, nói theo người khác, làm theo người khác, suy nghĩ theo người khác
- Người bắt chước, làm theo người khác thì không thể tốt hơn, giỏi hơn, hay hơn người khác, đaphần là trở thành bản sao bị lỗi Ví dụ: phẫu thuật thẩm mĩ để có gương mặt, ngoại hình giốngthần tượng; ăn mặc, đi lại, nói năng giống thần tượng nhưng không bao giờ ta trở thành bản gốcthần tượng đó được
- Trong cuộc sống, nếu mọi người đều nói, đều làm, đều nghĩ giống nhau thì cuộc sống sẽ mất
đi sự phong phú, đa dạng và trở nên buồn tẻ, đơn điệu Hơn nữa, lối tư duy “dập khuôn” sẽ gâynên những ảnh hưởng tiêu cực với xã hội và con người
* Luận: Sống là một nguyên bản có đồng nghĩa với tư tưởng cực đoan cá nhân?
- Quá đề cao cái tôi, coi thường người khác, coi thường lợi ích chung của tập thể sẽ trở thànhngười tự phụ, sa vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan, không phải là điều mà John Mason muốnkhuyên mỗi người
- Giữ gìn bản sắc riêng là sự phát huy tận độ những ưu thế, những thế mạnh của bản thân nhằmkhẳng định giá trị của mình, cống hiến và làm đẹp, làm phong phú cho đời chứ không phải là
cố gắng tỏ ra nổi bật hơn thiên hạ bằng những hành động lố lăng, quá khích, cũng không thể vìcái riêng của mình mà ảnh hưởng đến cái chung của mọi người
- Phê phán những người chạy theo thời đại mà đánh mất bản sắc của mình và những ngườichưa biết cách thể hiện cái riêng của mình
- Có ý thức phát huy sở trường, thế mạnh của bản thân để khẳng định bản sắc riêng của mình,đồng thời cần biết khiêm nhường, học hỏi, cầu tiến để hoàn thiện nhân cách và tài năng
(Lưu ý: thí sinh cần có dẫn chứng phù hợp, làm sáng rõ từng luận điểm)
3 Kết bài: Khẳng định vấn đề, liên hệ bản thân
Đề luyện số 2:
“Người ta yêu những người cố mở đường mà thất bại, yêu những người biết thất bại
mà dám mở đường” (Văn Cao).
Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về những người mở đường trong cuộc sống.
Trang 38GỢI Ý LÀM BÀI
I Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách làm bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống
- Lập luận chặt chẽ, bố cục rõ ràng
- Văn viết trong sáng mạch lạc, có cảm xúc, sáng tạo, hạn chế tối đa các lỗi về chính tả,dùng từ, ngữ pháp
II Yêu cầu về kiến thức:
Có thể có những cách triển khai bài viết khác nhau, tuy nhiên, về cơ bản, học sinh cầnđáp ứng được một số ý chính sau:
1 Giải thích
- Mở đường: có thể hiểu với hai nghĩa:
+ Tìm ra con đường mới chưa có bàn chân của người đi trước Đó là sự khám phá tìm ramột cái mới, có thể là một tư tưởng mới, một học thuyết mới, một phát minh sáng chế mới…
Nó là sự đột phá so với tư duy thông thường, hướng đến sự phát triển của nền văn minh.+ Tìm ra một hướng đi mới trên con đường đã quen thuộc, đã cũ Đó là sự phát hiệnmột cách đi mới, nhanh hơn, hiệu quả hơn, tốt hơn so với những hướng đi trước đó
- Thất bại: có thể là thất bại trong việc tìm ra cái mới (do năng lực bản thân hoặc do
những yếu tố khác), cũng có thể là thất bại khi cái mới vừa ra đời đã bị phủ nhận, có khi khiếnngười đã sáng tạo ra nó phải trả giá
- Yêu: hiểu, cảm thông, chia sẻ, trân trọng.
- Cách diễn đạt: 2 vế câu, sắp xếp theo trình tự tăng tiến, nhấn mạnh lòng yêu dành cho những người cố mở đường và dám mở đường.
→ Nội dung ý kiến: đề cập đến một tư tưởng Hiện tượng đời sống xã hội: những người
mở đường, khai sáng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống (như khoa học, nghệ thuật, văn hóa,…)ban đầu đều gặp nhiều khó khăn trở ngại, chịu nhiều thiệt thòi, đau khổ thậm chí phải trả giáđắt vì thường không được mọi người đương thời thấu hiểu, đồng tình và ủng hộ ngay Nhưng
với bản lĩnh, niềm tin, khát vọng cống hiến, đặc biệt là khả năng sáng tạo, những người mở đường thường vẫn đạt được thành công, được ghi nhận xứng đáng và đóng góp to lớn cho cộng
đồng, cho nhân loại
2 Phân tích và chứng minh
- Vì sao những người mở đường thường thất bại?
+ Khi đặt những bước chân đầu tiên trên con đường mới, những người mở đườngthường đơn độc Họ ko được ủng hộ, tin tưởng, thậm chí nhận phải sự kì thị của cộng đồng, họcho rằng những người mở đường là lập dị
D/c: Galile, an hem nhà Wright, G.Lork, Bá Dương, Nguyễn Minh Châu…
Trang 39+ Trên con đường tìm ra cái mới, họ bao giờ cũng gặp những vấp váp, khó khăn, thửthách bởi cuộc sống không đơn giản chỉ là màu hồng, ko phải chỉ có những cánh cửa cơ hộiđược mở ra mà còn chứa đựng đầy những cạm bẫy, rủi ro mà con người ko lường hết được
- Vì sao những người biết thất bại mà dám mở đường?
+ Những người mở đường là những con người tài năng, ý chí, họ cố mở đường bằngnhững nỗ lực của bản thân để chinh phục những đỉnh cao, mở đường để khẳng định năng lựccủa bản thân, để lập danh với đời
+ Dù biết có thể vấp ngã, thất bại những họ ko dễ dàng bỏ cuộc bởi trên tất cả, họ đượcsống hết mình với khát vọng và niềm đam mê sáng tạo, được theo đuổi đến cùng niềm tin củamình Đó là động lực để giúp cho họ “biết thất bại mà dám mở đường”
- Vì sao người ta yêu những người mở đường?
+ Bởi trước tiên, họ là những con người kiên trì và dũng cảm, dám nghĩ và dám làm, cókhát vọng vươn lên, họ đáng được trân trọng
+ Không phải khi nào cái mới và những người mở đường cũng được chấp nhận, thậmchí họ phải trả giá đắt – sự hi sinh ấy của họ thật đáng trân trọng
+ Họ là những người tiên phong của nhân loại, tạo ra những bước ngoặt mới trong lịch
sử văn minh nhân loại, tạo nên sức ảnh hưởng lâu dài đến những thế hệ sau Họ đáng đượcngưỡng mộ và trân trọng
3 Bình luận
- Đánh giá ý kiến của Văn Cao:
Câu nói của Văn Cao thể hiện một quan điểm, cách nhìn nhân văn và tiến bộ đối với những người mở đường trong cuộc sống, có ý nghĩa khuyến khích, động viên mọi người.+ Có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo
+ Nỗ lực trong công việc của mình để không ngừng chinh phục đỉnh cao
+ Có bản lĩnh dám đương đầu và vượt qua mọi khó khăn thử thách
+ Có tư duy mở, luôn sẵn sàng tiếp nhận những cái mới và tôn trọng những người mở đường đã sáng tạo ra nó.
- Luận (mở rộng vấn đề):
+ Không phải khi nào người cố mở đường và dám mở cũng thất bại Sự thất bại của họ
có thể là tạm thời, đó là nền tảng, là động lực để họ đi đến thành công (Các nhà phát kiến địa
lý, các nhà khoa học, các kĩ sư lập trình công nghệ thông tin, những doanh nhân trẻ khởinghiệp…) Niềm tin vào bản thân, vào con đường mình đã chọn; thái độ sống cống hiến, đặcbiệt là khả năng sáng tạo giúp họ thành công, được ghi nhận xứng đáng và đóng góp to lớn chocộng đồng
+ Trong cuộc sống, bạn không nhất thiết phải cố mở đường, dám mở đường mới đượcmọi người yêu quý, tôn trọng Chỉ cần bạn sống một cuộc đời có ý nghĩa, học tập và lao độnghết mình, giúp đỡ những người xung quanh mình và cống hiến cho cộng đồng, bạn cũng sẽđược mọi người yêu quý và tôn trọng
4 Bài học nhận thức và hành động
- Từ quan niệm của cố nhạc sĩ Văn Cao, cần nhận thức được: những người tiên phong mởđường luôn là những người dũng cảm Đó là những con người dám nghĩ, dám làm, dám đương
Trang 40đầu với khó khăn và thử thách để khẳng định bản thân Họ xứng đáng được trọng, yêu quý