Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI với việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài vào cuối năm 1987, FDI trở thành khu vực phát triển năng động
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG THU HÚT NGUỒN VỐN
FDI CỦA VIỆT NAM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS Nguyễn Lan Anh SINH VIÊN THỰC HIỆN: Nguyễn Minh Trang
Hà Nội – Tháng 04 Năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG THU HÚT NGUỒN VỐN
FDI CỦA VIỆT NAM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS Nguyễn Lan Anh GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN:
SINH VIÊN THỰC HIỆN: Nguyễn Minh Trang
Hà Nội – Tháng 04 Năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 15
1.1 Cơ sở lý luận về chiến tranh thương mại 15
1.1.1 Khái niệm về chiến tranh thương mại 15
1.1.2 Các hình thức của chiến tranh thương mại 16
1.1.2.1 Chiến tranh tiền tệ 16
1.1.2.2 Chiến tranh thuế quan 17
1.1.2.3 Cấm vận kinh tế 17
1.1.2.4 Chiến tranh kinh tế 18
1.1.3 Tác động của chiến tranh thương mại đến nền kinh tế thế giới 19
1.2 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 21
1.2.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 21
1.2.2 Phân loại các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 22
1.2.2.1 Theo tỷ lệ sở hữu vốn của chủ đầu tư 23
1.2.2.2 Theo mục đích đầu tư 25
1.2.2.3 Theo chiến lược đầu tư 26
1.2.2.4 Theo động lực đầu tư 28
1.2.3 Các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 29
1.2.3.1 Các yếu tố hút 29
1.2.3.2 Các yếu tố đẩy 31
Trang 4CHƯƠNG 2: DIỄN BIẾN CUỘC CHIẾN THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG 2018 36
2.1 Khái quát nền kinh tế, thương mại của Mỹ và Trung Quốc trước năm 2018 36
2.1.1 Tình hình kinh tế và thương mại của Mỹ trước năm 2018 36
2.1.1.1 Tình hình kinh tế của Mỹ 36
2.1.1.2 Tình hình thương mại của Mỹ 37
2.1.2 Tình hình kinh tế và thương mại của Trung Quốc trước năm 2018 45
2.1.2.1 Tình hình kinh tế của Trung Quốc 45
2.1.2.2 Tình hình thương mại của Trung Quốc 47
2.2 Quan hệ thương mại song phương giữa Mỹ và Trung Quốc trước năm 2018 50
2.2.1 Về phía Mỹ 52
2.2.2 Về phía Trung Quốc 57
2.3 Diễn biến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung 2018 58
2.3.1 Nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung 2018 58
2.3.2 Những cột mốc chính trong cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung 2018 60
2.3.3 Một số kịch bản của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung 2018 70
2.4 Một số nhận định về chiến tranh thương mại Mỹ - Trung 2018 72
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG 2018 ĐẾN HOẠT ĐỘNG THU HÚT NGUỒN VỐN FDI CỦA VIỆT NAM 76
3.1 Bối cảnh quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2019 76
3.2 Tình hình thu hút nguồn vốn FDI của Việt Nam trước chiến tranh thương mại Mỹ - Trung 2018 79
3.2.1 Thực trạng thu hút vốn FDI của Việt Nam theo quy mô vốn đầu tư 79
3.2.2 Thực trạng thu hút vốn FDI của Việt Nam theo ngành kinh tế 88
3.2.3 Thực trạng thu hút vốn FDI của Việt Nam theo đối tác đầu tư 92
3.3 Tình hình thu hút nguồn vốn FDI của Việt Nam trong chiến tranh thương mại Mỹ - Trung 2018 97
3.3.1 Thực trạng thu hút vốn FDI của Việt Nam theo quy mô vốn đầu tư 97
Trang 53.3.2 Thực trạng thu hút vốn FDI của Việt Nam theo ngành kinh tế 103 3.3.3 Thực trạng thu hút vốn FDI của Việt Nam theo đối tác đầu tư 105 3.4 Tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung 2018 đến hoạt động thu hút nguồn vốn FDI của Việt Nam 109 CHƯƠNG 4: HÀM Ý CHÍNH SÁCH THU HÚT NGUỒN VỐN FDI VÀO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG 2018 118 4.1 Cơ hội và thách thức đối với thu hút nguồn vốn FDI vào Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung 2018 118 4.1.1 Cơ hội 118 4.1.1.1 Có thể đón nhận làn sóng đầu tư nước ngoài mới trên quy mô lớn 118 4.1.1.2 Thuế suất cao đánh vào hàng Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ làm tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Mỹ, từ đó thu hút vốn FDI vào các ngành xuất khẩu 121 4.1.1.3 Cơ hội mua hàng hóa trung gian của Trung Quốc là đầu vào sản xuất với chi phí thấp 122 4.1.1.4 Mở ra cơ hội để Việt Nam tiếp cận những dự án trong các ngành nghề và lĩnh vực như: điện, điện tử, cơ khí chế tạo, dệt may 123 4.1.1.5 Tận dụng thành công từ cuộc chiến chống dịch Covid-19 của Việt Nam để thu hút vốn ĐTNN 125 4.1.2 Thách thức 126 4.1.2.1 Tác động tiêu cực tới hoạt động thương mại của Việt Nam, qua đó gián tiếp tác động lên dòng vốn FDI 126 4.1.2.2 Việt Nam phải cạnh tranh với các quốc gia khác trong ASEAN trong việc thu hút dòng vốn FDI rời khỏi Trung Quốc 129 4.1.2.3 Nguy cơ gia tăng những dòng vốn đầu tư kém chất lượng với công nghệ lạc hậu và ô nhiễm môi trường từ Trung Quốc 130
Trang 64.2 Một số hàm ý chính sách thu hút nguồn vốn FDI vào Việt Nam trong bối cảnh chiến
tranh thương mại Mỹ - Trung 2018 131
4.2.1 Hàm ý cho Chính phủ 131
4.2.2 Hàm ý cho doanh nghiệp 135
KẾT LUẬN 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa tiếng Việt
ASEAN
Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
lần
Châu Âu
Trang 815 EU European Union Liên minh Châu Âu
Free Trade Agreement
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU
and Protection Agreement
Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư
Kông mở rộng
27 KFW Kreditanstalt für Wiederaufbau Ngân hàng Tái thiết Đức
Promotion Agency
Văn phòng Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc
Trang 932 ODA Official Development
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
37 R&D Research & Development Nghiên cứu và Phát triển
42 UNCTAD United Nations Conference on
Trade and Development
Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển
Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Các nhóm hàng và sản phẩm xuất khẩu chủ lực của
Mỹ giai đoạn 2012 – 2017 (đơn vị: tỷ USD) 39
2 Bảng 2.2 Các nhóm hàng và sản phẩm nhập khẩu chủ lực của
Mỹ giai đoạn 2012 – 2017 (đơn vị: tỷ USD) 41
3 Bảng 2.3 Các mặt hàng xuất khẩu chính của Trung Quốc giai
4 Bảng 2.4 Các mặt hàng nhập khẩu chính của Trung Quốc giai
5 Bảng 2.5 Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Mỹ sang Trung
Quốc giai đoạn 2012 – 2017 (đơn vị: tỷ USD) 54
6 Bảng 2.6 Các sản phẩm nhập khẩu chủ lực của Mỹ từ Trung
Quốc giai đoạn 2012 – 2017 (đơn vị: tỷ USD) 55
7 Bảng 3.1 Tình hình hợp tác quốc tế của Việt Nam giai đoạn
8 Bảng 3.2 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
9 Bảng 3.3 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam theo từng giai đoạn từ năm 1988 – 2017 83
10 Bảng 3.4 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép
phân theo ngành kinh tế (Lũy kế tính đến 20/12/2017) 89
Trang 1112 Bảng 3.6 Danh sách 10 quốc gia đứng theo nguồn vốn FDI vào
13 Bảng 3.7 Số dự án và vốn đăng ký theo hình thức đầu tư giai
14 Bảng 4.1 Lợi thế cạnh tranh của Singapore và Thái Lan trong
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 1.1 Các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 35
2 Hình 2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ giai đoạn
3 Hình 2.2 Tình hình xuất - nhập khẩu hàng hóa của Mỹ giai
4 Hình 2.3 Cán cân thương mại của Mỹ với các đối tác thương
mại giai đoạn 2000 – 2017 (đơn vị: triệu USD) 44
5 Hình 2.4 Các thị trường xuất - nhập khẩu hàng hóa lớn nhất
6 Hình 2.5 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc
7 Hình 2.6 Tình hình xuất - nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc
giai đoạn 1990 – 2017 (đơn vị: tỷ USD) 48
8 Hình 2.7 Tình hình xuất - nhập khẩu của Mỹ với Trung Quốc
giai đoạn 1990 – 2017 (đơn vị: triệu USD) 51
10 Hình 2.9 Các mốc chính trong cuộc chiến thương mại Mỹ -
11 Hình 2.10 Các mốc chính trong cuộc chiến thương mại Mỹ -
Trang 1312 Hình 3.1 Xu hướng thu hút đầu tư trực tiếp trực tiếp nước
ngoài của Việt Nam giai đoạn 1988 – 2017 88
13 Hình 3.2 Cơ cấu số dự án FDI vào Việt Nam phân theo ngành
14 Hình 3.3 Cơ cấu tổng vốn đăng ký FDI vào Việt Nam phân
theo ngành kinh tế giai đoạn 1988 – 2017 92
18 Hình 3.7 Cơ cấu số dự án FDI vào Việt Nam theo hình thức
19 Hình 3.8 Cơ cấu vốn đăng ký FDI vào Việt Nam theo hình
20 Hình 3.9 Tình hình thu hút vốn FDI theo ngành kinh tế giai
21 Hình 3.10 Tỷ trọng vốn FDI của Việt Nam theo ngành kinh tế
22 Hình 3.11 Tình hình thu hút vốn FDI vào Việt Nam theo khu
vực đầu tư giai đoạn 2018 – 2019 (đơn vị: triệu USD) 106
23 Hình 3.12 Tỷ trọng vốn FDI của Việt Nam theo khu vực đầu tư
Trang 1424 Hình 3.13 Tổng vốn FDI một số đối tác đầu tư chính của Việt
Nam giai đoạn 2018 – 2019 (đơn vị: triệu USD) 109
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ lâu, thương mại quốc tế đã được coi là “động lực tăng trưởng” của nhiều quốc gia qua nhiều thế kỷ, trong đó, mối quan hệ thương mại giữa hai cường quốc Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng không phải ngoại lệ Kể từ khi hai nước bắt đầu quan hệ ngoại thương vào thế kỷ XIX cho tới bây giờ, việc giao thương giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào nhau Các sản phẩm nhập khẩu chủ yếu của Mỹ từ Trung Quốc là chất bán dẫn, thiết bị y tế, di động, …; còn Trung Quốc lại nhập khẩu máy bay, đậu tương và các sản phẩm tự động của Mỹ Mặc dù vậy, cán cân thương mại lại cho thấy sự chênh lệch giữa hai quốc gia, khi phía Hoa Kỳ liên tục chịu tình trạng thâm hụt thương mại nặng nề với Trung Quốc trong vài năm trở lại, đến cuối năm 2018 giá trị thâm hụt đã đạt khoảng 419 tỷ USD (Binh Ngo, 2019) Sau sự kiện Donald Trump đắc cử Tổng thống
Mỹ, vấn đề này đã được ông chú ý Kết quả, vào ngày 22/03/2018, Tổng thống D Trump tuyên bố áp mức thuế 50 tỷ USD lên hàng hóa Trung Quốc vào Mỹ, khơi ngòi cho cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung bùng nổ Cho tới cuối năm 2019, cuộc chiến này vẫn chưa
có dấu hiệu dừng lại, mặc dù hai bên bước đầu đã có động thái nhượng bộ
Trong khi đó, Mỹ và Trung Quốc là hai quốc gia có quy mô nền kinh tế đứng đầu thế giới hiện nay, với tổng GDP ước tính chiếm khoảng 40,01% quy mô GDP toàn cầu năm 2018 (theo IMF) Thêm vào đó, hai quốc gia này cũng là hai bạn hàng thương mại lớn nhất của Việt Nam và có tốc độ tăng trưởng kim ngạch thương mại song phương cao trong giai đoạn gần đây Tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc và Mỹ năm 2018 đạt khoảng 89 tỷ USD (chiếm 36,5% tổng kim ngạch xuất khẩu), trong đó riêng xuất khẩu sang Mỹ đạt 47,5 tỷ USD (tăng 14,2% so với năm 2017), xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đạt 41,3 tỷ USD (tăng 16,6% so với năm 2017) (theo Tổng cục Hải quan) Chính vì vậy, tranh chấp thương mại Mỹ - Trung sẽ có ảnh
Trang 162019) Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018), trong điều kiện căng thẳng thương mại tiếp tục kịch bản áp thuế bổ sung 25% với 250 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc thì có khả năng làm giảm tăng trưởng GDP của nước ta là 0,29% vào năm 2019 và 0,28% vào năm 2022 Trong trường hợp Mỹ áp thuế cao hơn lên tất cả hàng hóa của Trung Quốc, tác động tiêu cực tới nền kinh tế Việt Nam sẽ lớn hơn Ảnh hưởng của cuộc chiến đối với Việt Nam còn diễn ra trên quy mô rộng, trên mọi khía cạnh của kinh tế, trong đó khu vực vốn ĐTNN của Việt Nam cũng phải chịu tác động từ cuộc thương chiến này
Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài vào cuối năm 1987, FDI trở thành khu vực phát triển năng động, ngày càng phát huy vai trò quan trọng và có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam: (i) Đóng góp lớn vào tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và đã trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; (ii) Ngày càng có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và nguồn thu ngân sách quốc gia; (iii) Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và lãnh thổ ở Việt Nam; (iv) Thúc đẩy và mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, chuyển đổi cơ cấu hàng hóa ngoại thương, từng bước đưa Việt Nam tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; (v) Thực hiện chuyển giao công nghệ ở một số ngành, lĩnh vực và có tác động lan tỏa công nghệ nhất định tới khu vực doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ; (vi) Tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2018) Vì thế, vị thế và vai trò của khu vực FDI tiếp tục được xác định là hết sức quan trọng trong giai đoạn tới, đồng thời hoạt động thu hút FDI cũng đặt ra yêu cầu phải
có những điều chỉnh phù hợp với bối cảnh mới của thế giới và Việt Nam, cụ thể là trong tình hình chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia
Bên cạnh những ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thương mại, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung còn được nhận định là sẽ tạo ra ảnh hưởng gián tiếp tới dòng vốn FDI
Trang 17vào các quốc gia thứ ba không tham chiến, trong đó khu vực ASEAN (đặc biệt là Việt Nam) được đánh giá sẽ hưởng lợi nhiều từ cuộc chiến (Nguyễn Sơn, 2018) Ảnh hưởng tiêu cực của thuế quan lên hàng hóa xuất khẩu từ Trung Quốc được dự báo là sẽ làm chuyển hướng nguồn vốn FDI khi các nhà đầu tư Trung Quốc và các nhà ĐTNN tại Trung Quốc dịch chuyển một phần sản xuất sang các nước thứ ba, chủ yếu là tới các nước thuộc khu vực ASEAN Với lợi thế về sự tăng trưởng vượt trội về GDP, chi phí sản xuất tương đối thấp so với thế giới, chất lượng cơ sở hạ tầng ngày càng phát triển và quy mô thị trường khu vực rộng lớn, những quốc gia trong khu vực ASEAN đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà đầu tư Trong đó, Việt Nam là một trong những điểm đến đầu tư đầy tiềm năng với mạng lưới FTA lớn mạnh và nhiều chính sách ưu đãi thu hút ĐTNN Tuy nhiên, vấn đề đặt ra cho Việt Nam là làm sao để thu hút có hiệu quả làn sóng FDI mới này dưới tác động của mâu thuẫn thương mại Mỹ - Trung Trước những diễn biến khó lường từ cuộc chiến, việc đánh giá tác động lên hoạt động thu hút vốn ĐTNN của Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn và còn chưa rõ ràng Chính vì những
lý do cấp thiết này, khóa luận với đề tài: “TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG THU HÚT NGUỒN VỐN FDI CỦA VIỆT NAM” hy vọng có thể cung cấp toàn cảnh ảnh hưởng của tranh chấp thương mại Mỹ - Trung tới tình hình thu hút vốn FDI của Việt Nam, qua đó gợi mở những hàm ý chính sách cho Việt Nam nhằm thu hút có hiệu quả nguồn vốn này trong bối cảnh mới
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của khóa luận là đánh giá tác động của chiến tranh thương mại Mỹ
- Trung đến hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam, qua đó đề xuất một số hàm ý chính sách cho chính phủ và doanh nghiệp nhằm tận dụng tối đa những lợi thế mà Việt Nam được hưởng từ cuộc chiến này
Từ việc xác định mục đích nghiên cứu, khóa luận chủ yếu đi sâu vào giải quyết các
Trang 18Thứ nhất, phân tích mối quan hệ kinh tế - thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, chỉ
ra nguyên nhân và mô tả diễn biến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung tính đến tháng 01/2020, sau đó xây dựng một số kịch bản có thể xảy ra đối với thương chiến này
Thứ hai, tổng quan tình hình quan hệ kinh tế quốc tế cũng như hoạt động thu hút
vốn FDI của Việt Nam trước và trong chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, từ đó phân tích tác động của tranh chấp thương mại Mỹ - Trung đến hoạt động thu hút vốn FDI của Việt Nam
Thứ ba, từ những phân tích về tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung,
khóa luận cũng sẽ đề cập tới những cơ hội và thức thách của Việt Nam đối với việc thu hút nguồn vốn FDI trong bối cảnh thương chiến Mỹ - Trung, đồng thời đề xuất những giải pháp để chính phủ và doanh nghiệp nước ta có thể tận dụng thời cơ và giảm bớt khó khăn phát sinh từ cuộc chiến này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đến hoạt động thu hút nguồn vốn FDI của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Việt Nam, Mỹ và Trung Quốc
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu phân tích thực trạng thu hút vốn FDI vào Việt Nam
từ năm 1988 đến năm 2019, tức là tính từ 1 năm sau khi Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam ra đời
4 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục đích và tính cấp thiết, khóa luận tập trung vào làm rõ câu hỏi nghiên cứu chính là: “Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung sẽ có tác động như thế nào đến hoạt động thu hút nguồn vốn FDI của Việt Nam?”
Trang 19Ngoài ra, để củng cố thêm luận điểm cho câu hỏi chính này, khóa luận cũng sẽ giải quyết những câu hỏi phụ khác như sau:
Thứ nhất, nguyên nhân và diễn biến chính của cuộc tranh chấp thương mại Mỹ -
Trung là gì?
Thứ hai, hoạt động thu hút vốn FDI của Việt Nam trước và trong cuộc chiến thương
mại Mỹ - Trung có thay đổi như thế nào?
Thứ ba, cơ hội và thách thức đặt ra cho Việt Nam khi thu hút nguồn vốn FDI trong
bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung là gì?
Thứ tư, chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để tận dụng tốt nhất những
cơ hội mà chiến tranh thương mại Mỹ - Trung tạo ra cho Việt Nam trong việc thu hút vốn FDI?
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Để phù hợp với mục đích nghiên cứu đã đề ra, khóa luận sẽ tập trung vào 2 nhóm nghiên cứu, bao gồm:
- Nhóm bài nghiên cứu về tác động của chiến tranh thương mại đến kinh tế
- Nhóm bài nghiên cứu về các nhân tố tác động đến nguồn vốn FDI
5.1 Nhóm bài nghiên cứu về tác động của chiến tranh thương mại đến kinh tế
Tìm hiểu về tác động của tranh chấp thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc lên kinh
tế và hoạt động thương mại giữa hai nước này, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra những tác động tiêu cực của cuộc chiến đối với cả hai nước tham chiến Về tác động trực tiếp, chiến tranh thương mại thực sự đã làm giảm thâm hụt cán cân thương mại của Mỹ và gia tăng sản xuất nội địa của nước này đối với những ngành chịu ảnh hưởng từ thuế nhập khẩu cao, đúng như kỳ vọng của Tổng thống D Trump khi phát động cuộc chiến (Monique Carvallo & cộng sự, 2019) Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra trong ngắn hạn Nếu chiến tranh thương mại kéo dài, nền kinh tế của hai quốc gia tham chiến đều sẽ chịu
Trang 20khẩu, tổn hại hoạt động thương mại song phương (Ken Itakura, 2019; Monique Carvallo
& cộng sự, 2019; Antoine Berthou & cộng sự, 2020); suy giảm tổng GDP hai nước (Satoru Kumagai & cộng sự, 2019; Ken Itakura, 2019) và làm chậm tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc (Mari Panstu, 2019; Gordon H Hanson, 2020) Mặc dù việc tiếp tục cuộc chiến thương mại đều gây ra những khoản mất trắng xã hội của hai nước tham chiến do việc tái định vị hiệu suất giữa các ngành sản xuất khi thuế tăng (Monique Carvallo & cộng sự, 2019), song mức độ ảnh hưởng của thương chiến đối với Mỹ và Trung Quốc lại khác nhau Để đo lường mức độ này, Chunding Li & cộng sự (2018) đã
sử dụng mô hình cân bằng tổng thể đa quốc gia nhằm dự đoán những tác động có thể xảy ra dựa trên việc giả lập những kịch bản của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Kết quả cho thấy, phía Hoa Kỳ có thể có lợi từ những biện pháp trừng phạt đơn phương, nhưng sẽ bị thiệt hại nếu Trung Quốc có động thái đáp trả Ngoài ra, Trung Quốc cũng
sẽ bị tổn thương nặng nề từ thương chiến và mức độ thiệt hại của Trung Quốc lớn hơn
so với Mỹ Trong trường hợp hai nước có thể đi đến hòa giải, Mỹ sẽ hưởng lợi nhiều hơn Trung Quốc - chứng tỏ Mỹ có sức mạnh thỏa thuận lớn hơn Nhìn chung, chiến tranh thương mại đều dẫn tới tổn thương về kinh tế cho cả hai bên, trong đó thiệt hại của Mỹ
là do người tiêu dùng phải chịu mức giá hàng hóa cao hơn, còn Trung Quốc bị tổn thất
về xuất khẩu (UNCTAD, 2019) Không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế giữa hai nước tham chiến, các nghiên cứu của Chunding Li & cộng sự (2018), Mari Pangestu (2019), Nguyen Hoang Tien & cộng sự (2020) và Gordon H Hanson (2020) nhận định rằng, cho
dù tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung rất khó dự đoán, nhưng về mặt dài hạn đều khiến cho tốc độ tăng trưởng GDP và thương mại toàn cầu chững lại, thậm chí
có xu hướng sụt giảm Theo nghiên cứu của IMF (2019), chiến tranh thương mại Mỹ - Trung có thể khiến tổng GDP toàn cầu giảm 455 tỷ USD đến năm 2020
Hầu hết các nghiên cứu trước đây bàn về vấn đề ai có thể hưởng lợi từ chiến tranh thương mại dựa trên lý thuyết trò chơi đều thống nhất rằng: “Không có người thắng cuộc trong một cuộc chiến thương mại” (Glenn W Harrison & cộng sự, 2016; KPMG, 2018)
Trang 21Trên thực tế, việc đo lường tác động của chiến tranh thương mại tới các bên thứ ba không tham gia vào cuộc chiến là khá phức tạp Vì thế, nhiều công trình nghiên cứu gần đây đã tập trung khai thác vấn đề này, chủ yếu đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung lên các quốc gia có quan hệ thương mại sâu sắc với hai nước tham chiến này, bao gồm EU và một số nước thuộc khu vực Châu Á (trong đó ASEAN
là tâm điểm nghiên cứu) Những nghiên cứu này nhìn chung đều thống nhất quan điểm, cho rằng chiến tranh thương mại Mỹ - Trung thực sự đã tạo cơ hội cho một vài ngành sản xuất của các nước Châu Á, đặc biệt là ASEAN Satoru Kumagai & cộng sự (2019)
đã đề xuất mô hình giả lập cân bằng tổng thể IDE-GSM nhằm đo lường tác động kinh tế của thương chiến với kịch bản khi hai nước “đối đầu toàn diện” (đều cùng áp mức thuế
bổ sung 25% đối với tất cả các hàng hóa nhập khẩu) Kết quả tính toán cuối cùng cho thấy, mặc dù kịch bản này khiến cho nền kinh tế của Mỹ và Trung Quốc giảm trung bình 0,5% nhưng một số quốc gia trong Châu Á lại hưởng lợi từ cuộc chiến này Cụ thể, ngành CNTT có Malaysia và Việt Nam hưởng lợi; với ngành hàng may mặc có Bangladesh, Việt Nam và Ấn Độ; ngành tự động hóa thì có Malaysia và Thái Lan Cũng đưa ra kết luận tương tự, Mohamed Aslam (2019) cho rằng nhờ sự tranh chấp thương mại giữa Mỹ
và Trung Quốc, các nước ASEAN có thể tận dụng thời cơ trở thành đối tác thương mại với Hoa Kỳ thay thế cho nguồn hàng nhập khẩu từ Trung Quốc hiện nay đã giảm, đồng thời cũng nhân cơ hội này gia tăng thương mại song phương ASEAN – Trung Quốc Một nghiên cứu khác từ Joergen O Moeller (2018) nhận định rằng một số ngành sản xuất ở Đông Nam Á có thể gặp khó khăn ban đầu, song về trung và dài hạn, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung lại có tính tích cực đối với các quốc gia này Tuy nhiên, nghiên cứu của Kamran & Seyed (2019) lại có kết quả trái ngược hẳn khi cho rằng cuộc chiến này có ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế khu vực ASEAN Tác giả cho rằng, vì ASEAN là một trong những đối tác thương mại lớn của cả Mỹ và Trung Quốc nên đây là những nước dễ bị tổn thương hơn cả trong cuộc chiến Trong trường hợp này, hội nhập kinh tế
Trang 22đã được tiến hành để xem xét cụ thể về ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại này tới một vài nước thuộc ASEAN.Lấy Thái Lan làm đối tượng nghiên cứu chính, Bhanupong Nidhiprabha (2019) đã sử dụng mô hình tự hồi quy vector, qua đó cho biết sự leo thang của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung làm giảm sản lượng xuất khẩu của Thái Lan tới các thị trường trọng điểm Trái ngược với trường hợp của Thái Lan, nghiên cứu của Ting K.Y (2020) nhận định hoạt động xuất khẩu của Malaysia sẽ tăng trưởng mạnh khi trở thành thị trường thay thế cho Trung Quốc, đặc biệt là ở lĩnh vực xuất khẩu khí gas tự nhiên và hợp kim Ngoài ra, thương chiến giữa Mỹ và Trung Quốc cũng đem lại tác động tích cực trong việc thu hút nguồn vốn FDI của nước này
Không nằm ngoài xu hướng chung của khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được cho
là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung (Seah, 2018) Nhận thấy được thực trạng này, một vài nghiên cứu đã khai thác những tác động có thể xảy ra đối với nền kinh tế Việt Nam cũng như đề xuất hàm ý chính sách trong bối cảnh
sự tranh chấp thương mại đang ngày càng leo thang giữa hai cường quốc này Khi cuộc chiến mới trải qua giai đoạn đầu, các nghiên cứu của Tuan Ho & cộng sự (2018), Do Tien Sam (2018) đã nêu ra cái nhìn toàn cảnh về những cơ hội và khó khăn mà Việt Nam phải đối diện trước cuộc thương chiến Hai bài viết đều đồng tình khi dự đoán rằng trong ngắn hạn Việt Nam có thể hưởng lợi từ cuộc chiến khi trở thành thị trường xuất khẩu thay thế cho Trung Quốc và là điểm đến mới của đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, Việt Nam cũng không thể không đề phòng trước những xu hướng tiêu cực mà cuộc chiến có thể gây ra trong dài hạn Vì thế, các tác giả gợi ý rằng Việt Nam cần có những chiến lược lâu dài để đối phó với những tình huống bất lợi và hướng đến phát triển bền vững Cũng
đề cập đến rủi ro kinh tế của Việt Nam trước ảnh hưởng của thương chiến Mỹ - Trung, Nguyen Hoang Tien & cộng sự (2020), Pham Hoang Tu Linh & Trinh Thi Nhuan (2020) còn nêu lên việc Trung Quốc có thể lợi dụng việc chuyển sản xuất sang Việt Nam để tránh thuế quan, cũng như khả năng nhà sản xuất trong nước sẽ chịu áp lực cạnh tranh nặng nề hơn khi hàng xuất khẩu Trung Quốc chuyển hướng vào thị trường Việt Nam
Trang 23Ngoài ra còn có nghiên cứu của Binh Ngo (2019) đã tiếp cận tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung dưới góc độ của một doanh nghiệp cụ thể Kết quả được phân tích cụ thể bằng cách thu thập dữ liệu và phỏng vấn giám đốc công ty Seditax VN, cho thấy cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung khiến công ty gặp khó khăn trong khâu quản lý chất lượng và dịch vụ tư vấn Từ nhận xét này, bài viết còn đưa ra một số hàm ý để các doanh nghiệp khác trong khu vực Đông Nam Á có chính sách phù hợp thích nghi với những diễn biến phức tạp của cuộc chiến
5.2 Nhóm bài nghiên cứu về các nhân tố tác động đến nguồn vốn FDI
Về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một quốc gia, nhiều nghiên cứu tiền nhiệm đã tiếp cận vấn đề này bằng nhiều phương thức và góc độ khác nhau Đa số các nghiên cứu đều đưa ra kết luận rằng GDP thực tế (đại diện cho độ lớn thị trường) là nhân tố quan trọng, vừa đóng vai trò là yếu tố hút, vừa
là yếu tố đẩy (Nunnenkamp, 2002; Kyrkillis & cộng sự, 2003; Nasser, 2007; Kumari & cộng sự, 2015) Bên cạnh đó, những nghiên cứu này cũng đưa ra một số nhân tố khác cụ thể với từng trường hợp của các quốc gia Với tư cách là nước đi đầu tư, các nhà đầu tư
từ EU có xu hướng đầu tư vào các yếu tố con người, trong khi đó, các nước ngoài EU chủ yếu tập trung vào các FDI có hàm lượng công nghệ cao (Kyrkillis & cộng sự, 2003) Trong trường hợp của các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi, nghiên cứu của Nasser (2007) và Kumari & cộng sự (2015) còn nhận định được một số yếu tố khiến các nước này trở nên hấp dẫn với các nhà đầu tư (không tính tổng GDP thực tế), bao gồm: lạm phát, tỷ giá hối đoái, tốc độ tăng trưởng GDP, độ mở thương mại, chất lượng cơ sở hạ tầng, … Tiếp cận vấn đề theo một phương pháp khác, Nunnenkamp (2002) đã đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố nghiên cứu đến việc thu hút dòng vốn FDI trong thời kỳ cuối những năm 1980 trước bối cảnh toàn cầu hóa phát triển Điểm khác biệt của nghiên cứu này là tác giả đã chia các yếu tố nghiên cứu thành hai nhóm:
Trang 24phi truyền thống (rào cản thương mại, giá cả, các nhân tố sản xuất bổ sung, ….) Kết quả cuối cùng đã cho thấy, các yếu tố truyền thống vẫn đóng vai trò nổi bật trong quá trình thu hút FDI, còn các yếu tố phi truyền thống chỉ thực sự có tác động khi xu hướng toàn cầu hóa phát triển mạnh
Nhiều nghiên cứu khác còn tập trung vào đánh giá tác động của thương mại tới dòng vốn FDI vào một quốc gia An-loh Lin (1995) đã kiểm tra ảnh hưởng của hoạt động thương mại tới dòng vốn FDI vào và ra, với trường hợp của Đài Loan trong mối quan hệ giao thương với 4 quốc gia thuộc khu vực ASEAN, gồm: Indonesia, Malaysia, Phlippines và Thái Lan Kết quả hồi quy cho biết thương mại có tác động cùng chiều tới dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của Đài Loan, nhưng với dòng vốn từ nước khác vào Đài Loan lại không có kết quả rõ ràng Tuy nhiên, nghiên cứu của Soo Khoon Goh (2013) khi lấy Malaysia làm đối tượng nghiên cứu lại cho kết quả trái ngược với An-loh Lin Bằng việc sử dụng phương pháp ước lượng Hausman – Taylor, tác giả đã nhận định rằng hoạt động xuất - nhập khẩu có mối quan hệ bổ sung với tình hình thu hút FDI của Malaysia, còn với dòng vốn đầu tư ra nước ngoài lại không thu được kết quả cụ thể Bên cạnh đó, còn có nghiên cứu của Jyothi Pantulu & Jessie P.H.Poon (2003) cũng đi vào kiểm định liệu dòng vốn FDI có mối quan hệ bổ trợ hay thay thế cho thương mại quốc
tế Qua việc phân tích tình hình đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản và Hoa Kỳ tới lần lượt 29 và 30 quốc gia trong giai đoạn 1996 – 1999, nghiên cứu đã bác bỏ những luận điểm từ các nghiên cứu tiền nhiệm khi cho rằng FDI có xu hướng thay thế thương mại, Thay vào đó, FDI tạo ra thương ra thương mại với mức độ khác nhau tùy vào từng quốc gia Ngoài ra, một trong những yếu tố thường được xem xét đánh giá tác động tới việc thu hút dòng vốn FDI của nước chủ nhà là độ mở thương mại Độ mở thương mại được định nghĩa là tỷ lệ phần trăm của tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu với tổng GDP của một quốc gia Xu hướng mở rộng thương mại là kết quả của việc giảm hàng rào thuế quan thông qua các chính sách thương mại, hướng dần đến thị trường thế giới tự do và thống nhất Bàn về tầm quan trọng của yếu tố độ mở thương mại đến dòng vốn FDI vào
Trang 25một quốc gia, Aldo F Ponce (2006) tập trung đánh giá công tác thu hút vốn FDI của chính phủ các nước Mỹ Latin thông qua các công cụ chính sách thương mại, qua đó nhấn mạnh vai trò của độ mở thương mại nền kinh tế Mẫu nghiên cứu được xây dựng từ việc thu thập dữ liệu của 17 quốc gia thuộc khu vực Mỹ Latin trong giai đoạn 1985 – 2003 Ngoài biến độ mở thương mại, mô hình còn xem xét các yếu tố khác như: độ lớn nền kinh tế nước chủ nhà, lạm phát, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, cán cân tài khoản vãng lai, tính tư nhân hóa dịch vụ viễn thông và tổng giá trị FDI toàn cầu Tuy nhiên, sau khi cân nhắc các yếu tố này, tác giả kết luận rằng mối quan hệ giữa thương mại và đầu tư trực tiếp rất phức tạp và khó kiểm chứng Vì thế, mức độ mở của nền kinh tế không thực
sự có tác động mạnh tới lượng vốn FDI trong trường hợp của các nước Mỹ - Latin Ngoài
ra, nghiên cứu của Nasser (2007) đã đề cập ở trên cũng cho ra kết luận tương tự khi nhận xét giữa lượng vốn FDI và độ mở thương mại mặc dù mang mối quan hệ đồng biến, song cũng không có ảnh hưởng quá mạnh
Liên quan đến tác động của thương mại tới FDI, một số chuyên gia cũng tập trung nghiên cứu tác động của việc ký kết FTA (một hình thức ưu đãi về thương mại) tới dòng vốn FDI song phương Yeyati (2003) nghiên cứu tác động của các cam kết hội nhập khu vực (RIA) đến việc lựa chọn nước đầu tư thông qua dữ liệu đầu tư song phương của 20 nước OECD với 60 nước chủ nhà từ năm 1982 đến 1999 Dựa trên cơ sở lý thuyết về mô hình Tri thức - Vốn và mô hình trọng lực, tác giả cho biết sự khác biệt trong tỷ lệ các nhân tố sản xuất càng cao thì quốc gia tiếp nhận đầu tư càng được hưởng lợi nhiều, đồng thời yếu tố độ lớn nền kinh tế cùng với hội nhập khu vực cũng giúp quốc gia đó trở nên hấp dẫn hơn với các nhà ĐTNN Tuy nhiên, nghiên cứu của Yeyati chưa kiểm định được trường hợp nước chủ nhà là các nước đang phát triển Khắc phục điểm yếu này, Jaumotte (2004) cũng kiểm định tác động của hội nhập khu vực tới việc thu hút FDI của 71 nước đang phát triển trong khoảng từ 1980 – 1999 Cũng như Yeyati, nghiên cứu của Jaumotte ủng hộ việc xúc tiến để đạt được cam kết hội nhập khu vực nhằm thu hút nguồn vốn FDI
Trang 26lợi từ quá trình hội nhập với cùng mức độ, mà nó còn phụ thuộc vào trình độ lao động tương đối và tính ổn định tài chính của nước chủ nhà Cùng tiếp cận vấn đề bằng phương pháp tương tự, Jongchol Moon (2009) lại đánh giá tác động của FTA đối với cả FDI theo chiều dọc và FDI theo chiều ngang Qua việc thu thập và xử lý số liệu từ OECD, tác giả tán thành giả thiết ban đầu về chiều hướng tác động của FTA đối với cả hai loại hình FDI Ngoài ra, nhiều đề tài khác cũng nghiên cứu các trường hợp đã ký kết FTA như: Felis & cộng sự (2008) nghiên cứu về trường hợp của NAFTA; Maurice Krugler (2009) nghiên cứu về vai trò của AFTA khi thu hút đầu tư FDI; Tony Yu (2012) về FTA Trung Quốc – New Zealand Nhìn chung, cả ba nghiên cứu này đều cho thấy FTA thực sự có ảnh hưởng tích cực tới nguồn vốn FDI vào các nước chủ nhà, cùng với một số yếu tố khác như đã đề cập ở những nghiên cứu trên
5.3 Khoảng trống nghiên cứu và dự kiến đóng góp của khóa luận
Thực tiễn tổng quan các nghiên cứu tiền nhiệm cho thấy, hiện nay, việc phân tích tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung chủ yếu mới đề cập đến các chỉ số phát triển chung của nền kinh tế và về thương mại chứ chưa đề cập tới hoạt động thu hút vốn FDI của Việt Nam Chiến tranh thương mại giữa hai cường quốc thế giới là Mỹ và Trung Quốc cho thấy ảnh hưởng trên phạm vi rộng, với nhiều đối tượng và tới nhiều vấn đề kinh tế, trong đó Việt Nam là một trong số những quốc gia chịu tác động nhiều từ cuộc chiến này (Vossen, 2019) Bên cạnh thương mại thì hoạt động thu hút nguồn vốn nước ngoài của Việt Nam được dự đoán là sẽ có nhiều biến động trước diễn biến phức tạp của cuộc chiến, cả những biến động mang tính tích cực lẫn tính tiêu cực Chính vì vậy, thông qua việc thực hiện khóa luận, sinh viên muốn làm rõ sự thay đổi trong hoạt động thu hút FDI của Việt Nam trước và sau chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, từ đó xác định các tác động của cuộc chiến tới tiềm năng thu hút vốn nước ngoài của đất nước Bên cạnh
đó, cũng từ việc phân tích này, sinh viên hy vọng có thể đưa ra hàm ý chính sách có ích,
Trang 27mang tính thực tiễn cao, phù hợp với tình hình hiện tại của Việt Nam trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung nổ ra
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chính mà khóa luận sử dụng sau đây là phương pháp định tính Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết; phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu; phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phương pháp này được thực hiện
thông qua việc tổng hợp lý thuyết để làm rõ cơ sở lý luận về chiến tranh thương mại và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Những lý luận này được tổng hợp dựa trên việc thu thập các tài liệu nghiên cứu quốc tế và tài liệu chuyên khảo có uy tín về hai vấn đề nêu trên
Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu: Phương pháp này sử dụng các nguồn
thông tin thứ cấp từ các tài liệu nghiên cứu chuyên ngành, các báo cáo, phân tích về diễn biến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung và hoạt động thu hút nguồn vốn FDI của Việt Nam trước và sau cuộc chiến Những số liệu này được thu thập từ Phòng Thương mại của Hoa Kỳ và Trung Quốc, từ Tổng cục thống kê Việt Nam, Cục Đầu tư nước ngoài và qua báo chí, tạp chí Các số liệu này được tổng hợp và biểu diễn qua phương pháp thống
kê mô tả, phân bố dữ liệu cần thiết để thiết kế các bảng biểu một cách phù hợp Ngoài
ra, số liệu FDI hàng tháng giai đoạn 2018 – 2019 được sinh viên tính toán bằng cách lấy
số liệu thu hút FDI lũy kế của tháng sau trừ số liệu FDI lũy kế tháng trước, đồng thời chia nhóm FDI theo ngành và theo khu vực Tất cả số liệu FDI của Việt Nam đều được thu thập từ “Báo cáo Tình hình thu hút vốn FDI” của Cục Đầu tư nước ngoài
Phương pháp so sánh: Dựa trên những tài liệu đã có và các phân tích về thực trạng
thu hút vốn FDI của Việt Nam trước và sau cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung để đưa
ra nhận xét, đánh giá, so sánh biến động, so sánh số liệu qua các năm, lĩnh vực, … Từ
sự so sánh đó, bài viết sẽ tổng kết tác động của cuộc chiến tới việc thu hút FDI của Việt
Trang 28và chính phủ Việt Nam để có thể tận dụng thời cơ và giảm thiểu tối đa những rủi ro trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung kéo dài
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo thì cấu trúc khóa luận gồm 4 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến tranh thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Chương 2: Diễn biến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung 2018
- Chương 3: Tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung 2018 đến hoạt động thu hút nguồn vốn FDI của Việt Nam
- Chương 4: Hàm ý chính sách thu hút nguồn vốn FDI vào Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung 2018
Trang 29CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN TRANH THƯƠNG
MẠI VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 Cơ sở lý luận về chiến tranh thương mại
1.1.1 Khái niệm về chiến tranh thương mại
Chiến tranh thương mại xảy ra khi một quốc gia đánh thuế nhập khẩu hoặc các công cụ hạn chế nhập khẩu như hạn ngạch, thiết lập các tiêu chuẩn kỹ lên quốc gia khác Kết quả là quốc gia còn lại cũng sử dụng những cách thức tương tự với mục đích trả đũa Động thái này không chỉ gây tổn hại cho nền kinh tế hai bên mà còn cả các quốc gia khác không tham gia vào cuộc chiến thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay Chiến tranh thương mại còn hàm ý một sự đổ vỡ trong quan hệ hợp tác thương mại, hoặc trong liên minh giữa các nước (Eddy Bekkers & cộng sự)
Chiến tranh thương mại được coi là một hình thức bảo hộ thương mại, khi nó làm tăng đáng kể sự bảo hộ của hàng loạt các sản phẩm nội địa (Eddy Bekkers & cộng sự) Trong ngắn hạn, chính sách bảo hộ thương mại có tác động tích cực tới các nhà sản xuất nội địa cũng như gia tăng việc làm của lao động trong nước Tuy nhiên, khi xét đến tác động trong dài hạn, chính sách này lại gây hại cho chất lượng việc làm và nền thương mại tổng thể cùng với sự tăng trưởng của tất cả các quốc gia có liên quan Cụ thể, việc
áp đặt mức thuế quan lớn sẽ làm tăng giá hàng hóa nội địa, từ đó gây nên lạm phát kinh
tế Nếu một nước tiếp tục tăng thuế và nước khác cũng trả đũa bằng cách tương tự, chiến tranh thương mại sẽ leo thang, đồng thời tạo căng thẳng cho nền kinh tế toàn cầu Thương mại lúc này lại là yếu tố chịu nhiều thiệt hại nhất vì khi thuế quan hay hạn ngạch gia tăng, lượng hàng hóa nhập khẩu/xuất khẩu của nước đó sẽ giảm đáng kể Chiến tranh thương mại leo thang tạo ra rào cản trong việc vận chuyển hàng hóa và hàng tiêu dùng trên khắp thế giới (Naila Iqbal Khan, 2019)
Trang 301.1.2 Các hình thức của chiến tranh thương mại
Trong thực tế chiến tranh thương mại có thể xảy ra trên 4 hình thức, bao gồm: chiến tranh tiền tệ, chiến tranh thuế quan, cấm vận kinh tế và chiến tranh kinh tế
1.1.2.1 Chiến tranh tiền tệ
Chiến tranh tiền tệ được biết đến như một hình thức của chiến tranh thương mại, xảy ra khi có sự phá giá tiền tệ mang tính cạnh tranh Khi đó, các mối quan hệ quốc tế được đặt trong trạng thái cạnh tranh với nhau để đạt được mức tỷ giá hối đoái tương đối thấp cho đồng tiền của họ Khi giá trị đồng tiền của một nước giảm, giá cả hàng xuất khẩu của nước đó cũng sẽ giảm Tuy nhiên, hàng hóa nhập khẩu lúc này trở nên đắt đỏ hơn Điều này sẽ kích thích nhu cầu về hàng hóa và lao động trong nước từ thị trường nội địa lẫn thị trường nước ngoài Tuy nhiên, về dài hạn, sự tăng lên về giá nhập khẩu
có thể gây hại đến sức mua của người tiêu dùng cũng như dẫn tới những hành động trả đũa bởi các quốc gia khác, cuối cùng gây thiệt hại đến thương mại quốc tế và nền kinh
tế toàn cầu (Andreev, E & Shasuro, A., 2015)
Việc phá giá nội tệ mang tính cạnh tranh hiếm khi xảy ra trong lịch sử do các nước thường muốn giữ cho giá trị đồng nội tệ cao Chính phủ các quốc gia có xu hướng để thị trường tự điều tiết tỷ giá, hoặc tham gia vào chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý Tuy vậy, một trường hợp ngoại lệ được biết đến nhiều nhất trong lịch sử là chiến tranh thương mại vào những năm 1930 Khi các nước bắt đầu từ bỏ chế độ Bản vị Vàng sau cuộc Đại Khủng hoảng thì bên phía chính phủ các nước này đã quyết định sử dụng chính sách phá giá đồng nội tệ nhằm thúc đẩy nền kinh tế Tuy nhiên, chính sách này lại tạo ra
áp lực thất nghiệp ở nước ngoài Điều này đã dẫn đến những hành động trả đũa từ những đối tác thương mại của quốc gia đó Kết quả là, động thái này gây ra tác động tiêu cực đến nền kinh tế và làm giảm hoạt động thương mại toàn cầu (Andreev, E & Shasuro, A., 2015)
Trang 311.1.2.2 Chiến tranh thuế quan
Chiến tranh về thuế quan là một loại xung đột về kinh tế giữa hai hay nhiều quốc gia Sự xung đột này bắt đầu xảy ra khi một nước tăng thuế quan với một vài hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, dẫn tới những hành động trả đũa với cách thức tương tự từ nước khác
Một minh chứng lịch sử về một cuộc chiến thuế quan là giữa Mỹ và các đối tác thương mại của mình vào những năm 1920s sau Chiến tranh Thế giới thứ I Mâu thuẫn bắt đầu vào tháng 09/1922 khi Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Warren G Harding ký sắc lệnh thông qua Đạo luật Thuế Fordney – McCumber (Rothgeb, 2001, p.30-32) Kết quả, đạo luật này đã nâng mức thuế giá trị trung bình của Mỹ lên 38% Động thái này từ Mỹ khiến các đối tác thương mại phản đối gay gắt, đặc biệt là những quốc gia chịu nhiều thiệt hại bởi Thế chiến thứ I Những nước này mang trên mình gánh nặng từ khoản nợ lớn từ Mỹ, và cách duy nhất để họ có thể thanh toán khoản nợ là thông qua việc xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Hoa Kỳ Vì vậy, để bù đắp những thiệt hại trong xuất khẩu, 5 năm sau khi Đạo luật Thuế của Mỹ được thông qua, các đối tác thương mại của
Mỹ cũng lần lượt tăng thuế nhập khẩu của họ lên mức đáng kể Cụ thể, Pháp tăng thuế
ô tô từ 45% lên 100%, Tây Ban Nha tăng thuế đánh vào hàng hóa từ Mỹ thêm 40%, còn Đức và Ý đánh thêm thuế vào lúa mì (Rothgeb, 2001, p.32-33) Cuộc chiến thuế quan này được xem là nguyên nhân chính dẫn cuộc Đại Khủng hoảng kéo dài từ năm 1929 đến cuối thập niên 30 của thế kỷ XX
Đến năm 1995, WTO ra đời với mục đích chính là hạn chế những cuộc chiến tranh thuế quan có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu
1.1.2.3 Cấm vận kinh tế
Cấm vận kinh tế là một hình phạt thương mại và tài chính của một hoặc nhiều quốc gia áp dụng nhằm vào một chính phủ, một tổ chức hay một cá nhân (Lin, 2016) Cấm
Trang 32phục vụ những mục đích khác về chính trị, quân sự và xã hội, với mục đích quốc gia và
cả thế giới (Whang, Taehee, 2011) Những hình phạt thường được thực hiện dưới rất nhiều dạng thức, như thông qua các rào cản thương mại, thuế quan hay những hạn chế
về luân chuyển dòng tiền (Haidar, 2015)
Mặc dù hình thức trừng phạt chủ yếu nhắm vào những yếu tố kinh tế nhưng mục đích của việc cấm vận kinh tế đa số là vì mục đích chính trị Theo dữ liệu nghiên cứu của Hufbauer và cộng sự (2009), 39% tổng số trường hợp áp dụng cấm vận là về vấn đề chính trị, cụ thể là với mục đích thay đổi chế độ cai trị Cũng theo nghiên cứu này, 34%
số trường hợp đã thực sự cho thấy hiệu quả của các chính sách cấm vận nhằm đạt được những mục tiêu chính trị
Trường hợp thực hiện cấm vận kinh tế dài nhất trong lịch sử là giữa Mỹ và Cuba Vào ngày 14/03/1958, Hoa Kỳ lần đầu tiên áp đặt lệnh cấm vận đối với Cuba, khi này đang được điều hành dưới chế độ Fulgencio Batista Ban đầu, lệnh cấm vận chỉ áp dụng cho việc buôn bán vũ khí Sau đó, vào ngày 07/02/1962, danh sách cấm vận được mở rộng, bao gồm tất cả các hàng nhập khẩu khác và hạn chế hầu hết các giao dịch (NARA, 2016) Tuy nhiên, rất ít đồng minh của Hoa Kỳ chấp nhận điều này và dường như lệnh cấm vận này ít có tác động đến các chính sách của Cuba (Daniel Hanson & cộng sự, 2013) Mặc dù vậy, đây vẫn là trường hợp cấm vận kinh tế lâu nhất trong lịch sử khi nó vẫn còn tồn tại đến ngày nay (Eric Weiner, 2007) Vào tháng 7/2015, mối quan hệ giữa
Mỹ - Cuba đã có chiều hướng tích cực, giảm bớt căng thẳng khi hai nước bắt đầu tái thiết lập quan hệ ngoại giao, ký kết hợp đồng thương mại về viễn thông và dịch vụ hàng không,
mở rộng hợp tác về pháp luật và bảo vệ môi trường
1.1.2.4 Chiến tranh kinh tế
Chiến tranh kinh tế được hiểu là một chiến lược kinh tế dựa trên việc sử dụng các biện pháp (bao vây, cấm vận) nhằm làm suy yếu nền kinh tế của nước khác Trong các hoạt động quân sự, chiến tranh kinh tế là một phần trong một cuộc chiến toàn diện, bao
Trang 33gồm chiến tranh bằng vũ trang, quân sự và hủy hoại kinh tế của đối thủ, có thể diễn ra trong hoặc trước thời kỳ chiến tranh (Robert Deakin, 2003) Mục đích của chiến tranh kinh tế là để gây thiệt hại cho nền kinh tế, làm tổn hại trực tiếp đến khả năng chiến đấu của kẻ thù
Các chính sách và biện pháp thường được sử dụng trong chiến tranh kinh tế có thể gồm: phong tỏa, đưa vào danh sách đen, mua chặn hoặc kiểm soát tài sản và nguồn cung ứng của đối thủ, phân biệt thuế quan, cấm vận, đình chỉ các khoản viện trợ, đóng băng tài sản, cấm đầu tư và các dòng vốn khác, hay chiếm đoạt tài sản (David A Balwin, 1985) Lịch sử các cuộc chiến kinh tế xảy ra trong suốt Thế chiến thứ I và Thế chiến thứ
II, và hiện tại là cấm vận của Mỹ - Cuba, Mỹ - Iran
1.1.3 Tác động của chiến tranh thương mại đến nền kinh tế thế giới
Trước hết, chiến tranh thương mại ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thương mại và
kim ngạch xuất - nhập khẩu của nước tham chiến thông qua sự gia tăng thuế quan và các rào cản thương mại Việc áp đặt các biện pháp thuế quan và phi thuế quan giúp các nước điều chỉnh được lượng hàng nhập khẩu, từ đó cân bằng cán cân thương mại quốc gia, giảm thâm hụt Trong thực tế, thâm hụt thương mại chính là nguyên nhân chính khiến
Mỹ khơi mào cuộc chiến với Trung Quốc (Chứng khoán Bảo Việt, 2018) Theo U.S Census Bureau, cuộc chiến này đã thực sự cải thiện được mức độ thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Trung Quốc, khi giá trị thâm hụt năm 2019 là 345,6 tỷ USD, giảm 18%
so với mức thâm hụt năm 2018 là 419,5 tỷ USD Tuy nhiên, việc phát động một cuộc thương chiến lại gây ra nhiều tổn thất cho hoạt động thương mại giữa hai nước tham chiến Thực tế, căng thẳng của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung leo thang đã khiến cho Trung Quốc tổn thất 25% sản lượng xuất khẩu (tương đương 35 tỷ USD) của nước này tại thị trường Mỹ trong nửa đầu năm 2019 (UNCTAD, 2019)
Thứ hai, không chỉ ảnh hưởng đến thương mại giữa hai nước tham chiến, chiến
Trang 34sự có hiệu quả đối với nước phát động vì việc áp thuế đã giúp cho hàng hóa nội địa đạt được lợi thế so sánh về giá cả, đồng thời tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động trong nước Tuy nhiên, xét về dài hạn, nó lại gây ra nhiều hệ lụy do lạm phát ảnh hưởng
từ sự tăng giá hàng nhập khẩu (Naila Iqbal Khan, 2019)
Thứ ba, chiến tranh thương mại tạo ra gánh nặng cho người tiêu dùng của nước
tham chiến cũng như người tiêu dùng trên toàn thế giới Khi các nước đánh thuế vào những ngành hàng thuộc các ngành chủ đạo thương mại giữa các nước, giá cả hàng hóa
sẽ tăng khiến cho người tiêu dùng phải chịu gánh nặng lớn, nguồn cung từ những doanh nghiệp nội địa nhập khẩu hàng hóa cũng giảm sút Tình trạng này kéo dài trong dài hạn gây ra lạm phát cho nền kinh tế Thật vậy, trong cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ
và Nhật Bản năm 1987, Chính phủ Mỹ đã thực hiện việc tăng thuế nhập khẩu lên gấp đôi đối với 300 triệu USD hàng điện tử: máy tính, thiết bị điện, TV và ô tô xuất xứ từ Nhật Bản Biện pháp này dùng để trả đũa việc Nhật không tuân thủ thỏa thuận cho phép hàng hóa Mỹ vào thị trường Kết quả, việc áp đặt thuế quan này không thực sự làm giảm thâm hụt thương mại của Mỹ mà còn khiến cho người tiêu dùng Mỹ gánh thêm 53 tỷ USD gây ra bởi thuế
Thứ tư, chiến tranh thương mại bùng nổ có thể tạo ra những cơ hội mới cho những
quốc gia khác trên thế giới Các quốc gia khác có thể tận dụng sự đối đầu về thương mại giữa hai quốc gia để bù đắp cho lượng hàng nhập khẩu bị giảm sút giữa các nước này Các nước khác có thể hưởng lợi để mở rộng và thâm nhập sâu rộng hơn vào những thị trường tiềm năng mới
Thứ năm, mặc dù những tranh chấp thương mại lấy việc đảm bảo lợi ích kinh tế
quốc gia làm cơ sở phát sinh, song thực tế cho thấy những cuộc chiến này không chỉ khiến cho tốc độ tăng trưởng của các quốc gia tham chiến suy giảm, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng của toàn thế giới Theo tính toán từ Ngân hàng Phần Lan, tính đến tháng 11/2019, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đã làm chậm tốc độ tăng trưởng GDP ở Trung Quốc (giảm xuống hơn 1 điểm phần trăm) và cả Hoa Kỳ (xuống còn 0,9
Trang 35điểm phần trăm) Ngoài ra, mâu thuẫn thương mại Mỹ - Trung thực tế đã làm suy yếu khả năng tăng trưởng toàn cầu Cũng trong nghiên cứu của Ngân hàng Phần Lan (2019), nếu cuộc chiến vẫn tiếp tục chuyển biến xấu, thuế liên tục tăng sẽ làm chậm tăng trưởng GDP toàn cầu 0,7 điểm phần trăm OECD (2019) cũng đưa ra dự báo, trong trường hợp thương chiến tiếp tục đà leo thang, nền kinh tế toàn cầu sẽ chỉ còn 0,6 điểm phần trăm đến cuối năm 2021
1.2 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là quá trình mà công dân ở một nước, cụ thể là nước chủ nhà, đạt được quyền sở hữu các tài sản nhằm mục đích kiểm soát việc sản xuất, phân phối và những hoạt động khác của một doanh nghiệp đặt tại quốc gia khác (hay có thể hiểu là nước tiếp nhận đầu tư) (Imad A Moosa, 2002) Cùng bàn về khái niệm này, theo IMF (1993): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được lợi ích lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mà mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự đối với doanh nghiệp đó” Ngoài ra, trong Báo cáo Đầu tư thế giới của UNCTAD (1999), FDI được định nghĩa là ‘sự đầu tư bao hàm một mối quan hệ kèm theo lợi ích lâu dài và quyền kiểm soát của một pháp nhân cư trú trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp thuộc nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư (còn biết đến là doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp liên kết hoặc liên kết nước ngoài)’ Mối quan hệ lâu dài còn hàm ý một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong việc quản lý doanh nghiệp đó Đầu tư trực tiếp liên quan đến
cả giao dịch ban đầu giữa hai thực thể và mọi giao dịch vốn tiếp theo giữa chúng và giữa các công ty con, dù có tư cách pháp nhân hay không có tư cách pháp nhân (OECD, 1996)
Về góc độ luật pháp Việt Nam, mục 3 Điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 giải
Trang 36Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này”
Điểm khác biệt của FDI so với hình thức đầu tư gián tiếp (FPI) trước hết nằm góc
độ thời gian, khi FDI có tính dài hạn như đã đề cập trong các định nghĩa nêu trên, còn FPI thường chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn và nguồn doanh thu chủ yếu là từ việc đầu tư chứng khoán hay trái phiếu Điểm khác nhau thường thấy giữa hai hình thức này còn ở ‘sự kiểm soát’ và ‘quyền kiểm soát’ (Imad A Moosa, 2002) Trong khi đầu tư gián tiếp chỉ là khoản đầu tư với mục đích sinh lời, không có quyền kiểm soát doanh nghiệp hay đầu tư vì lợi ích lâu dài, đầu tư trực tiếp hướng đến việc kiểm soát các tài sản của doanh nghiệp Theo IMF, nếu chủ đầu tư nắm giữ từ 10% giá trị tài sản của doanh nghiệp thì họ được tính là nhà đầu tư trực tiếp Tuy nhiên, điều này vẫn chỉ mang tính tương đối, bởi vì trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền trực tiếp điều hành quản
lý doanh nghiệp, trong khi đó có nhiều trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản của chủ đầu tư lớn hơn 10% nhưng họ vẫn chỉ là những nhà đầu tư gián tiếp (IFC 1997, p.9)
Như vậy, những hoạt động đầu tư nước ngoài được xếp vào hình thức FDI khi bao gồm các đặc điểm: (i) có sự kiểm soát thông qua việc doanh nghiệp đầu tư sở hữu tỷ lệ
cổ phần đáng kể đối với doanh nghiệp nhận đầu tư; (ii) có việc chuyển giao một phần tài sản, sản xuất hoặc bán lẻ của công ty đầu tư sang công ty nước chủ nhà
1.2.2 Phân loại các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân chia dựa trên các tiêu chí khác nhau, chủ yếu bao gồm: tỷ lệ sở hữu vốn của chủ đầu tư nước ngoài, mục đích thực hiện đầu tư, chiến lược đầu tư và theo lợi ích đầu tư
Trang 371.2.2.1 Theo tỷ lệ sở hữu vốn của chủ đầu tư
Xét về phương diện tỷ lệ sở hữu vốn, FDI thường được thực hiện dưới các dạng như: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, BOT, …
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngooài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước sở tại, tự quản
lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh (Phùng Xuân Nhạ, 2001) Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thường được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật tại nước sở tại, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư Với hình thức này, doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải chịu sự kiểm soát của pháp luật tại nước
sở tại Nhà đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm cũng như hưởng toàn bộ quyền lợi từ hoạt động đầu tư Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường thực hiện đầu tư trực tiếp theo hình thức này bằng cách thành lập một công ty con tại nước chủ nhà
Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước chủ nhà trên cơ
sở hợp đồng liên doanh do các doanh nghiệp nước ngoài và nước chủ nhà cùng góp vốn kinh doanh, lợi nhuận và rủi ro được chia sẻ theo tỷ lệ góp vốn Hình thức này có những đặc điểm chính bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo luật pháp của nước chủ nhà; mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi vốn góp của mình và vốn pháp định (Phùng Xuân Nhạ, 2001)
Các hình thức khác
Ngoài hai hình thức cơ bản trên còn có có một số hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài khác (sử dụng chủ yếu đối với các công trình xây dựng), như:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract – BCC)
Theo khoản 9 Điều 3 Luật Đầu tư 2014 thì: “Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau
Trang 38kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế” Đây là hình thức đầu tư khá phổ biến ở những nước đang phát triển, bao gồm các đặc điểm: các bên cùng nhau hợp tác kinh doanh trên cơ sở phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng; không thành lập pháp nhân mới; mỗi bên thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nước chủ nhà theo những quy định riêng (Phùng Xuân Nhạ, 2001)
- Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh - Chuyển giao (BOT)
Căn cứ vào khoản 3 Điều 3 Nghị định 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, khái niệm BOT được định nghĩa như sau: “Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BOT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình
hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư, doanh nghiệp
dự án chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền” Hình thức này mang những đặc trưng quan trọng gồm: cơ sở pháp lý là hợp đồng, vốn đầu tư của nước ngoài, hoạt động dưới hình thức các doanh nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài; chuyển giao không bồi hoàn cho nước chủ nhà, đối tượng hợp đồng là các công trình cơ
sở hạ tầng (Phùng Xuân Nhạ, 2001)
- Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO)
Khoản 4 Điều 3 Nghị định 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công
ty cũng giải thích về khái niệm của hình thức BTO, cụ thể: “Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao – Kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTO) là hợp đồng được ký giữa
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định” Hình thức này được ra đời lần đầu vào năm 1987, do ba nước Úc, Anh và Mỹ ký kết hợp đồng giúp Thổ Nhĩ Kỳ xây dựng nhà máy điện nguyên tử để giúp giải quyết vấn đề năng lượng ở quốc gia này (Phùng Xuân Nhạ, 2001)
Trang 39- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT)
Cũng trong Nghị định 63/2018/NĐ-CP, ở khoản 5 Điều 3 có giải thích về hình thức
BT như sau: “Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp
dự án (nếu có) để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu
tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất, trụ sở làm việc, tài sản kết cấu hạ tầng hoặc quyền kinh doanh, khai thác công trình, dịch vụ để thực hiện Dự án khác” Hợp đồng BT cũng có sự tương đồng với hợp đồng BOT và BTO, chỉ khác nhau ở điểm là sau khi xây dựng xong, dự án sẽ được bàn giao ngay cho nước nhận đầu tư và được chính phủ nước nhận đầu tư trả chi phí liên quan cũng như một tỷ lệ thu nhập thích hợp (Phùng Xuân Nhạ, 2001)
1.2.2.2 Theo mục đích đầu tư
Về mục đích đầu tư, FDI được chia thành hai loại: đầu tư theo chiều ngang (Horizontal integration) và đầu tư theo chiều dọc (Vertical intergration)
Đầu tư theo chiều ngang (HI)
Đầu tư theo chiều ngang là hình thức đầu tư mà một doanh nghiệp áp dụng các hoạt động đã có ở nước mình với cùng chuỗi giá trị tương đương vào nước nhận đầu tư thông qua FDI Hình thức đầu tư này thường được sử dụng khi chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh trong sản xuất một loại sản phẩm nào đó, từ đó, họ tận dụng lợi thế này để thu lợi nhuận cao hơn khi chuyển dây chuyền sản xuất sang nước ngoài (Phùng Xuân Nhạ, 2001) Sự khác biệt về sản phẩm chính là yếu tố then chốt quyết định cấu trúc thị trường cho FDI theo chiều ngang Nhìn chung, mục đích chính của đầu tư theo chiều ngang là để mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường cũng như tận dụng những lợi thế độc quyền hoàn toàn hoặc độc quyền nhóm (Imad A Moosa, 2002) Trong thực tế, hình thức này được thực hiện chủ yếu giữa các nước phát triển với nhau
Trang 40Đầu tư theo chiều dọc là hình thức đầu tư mà một doanh nghiệp thực hiện hoạt động gia tăng giá trị từng bộ phận thông qua nguồn vốn FDI tại nước nhận đầu tư Khác với hình thức FDI chiều ngang, khi tiến hành đầu tư ra nước ngoài, các chủ đầu tư thường chú ý đến khai thác lợi thế cạnh tranh của các yếu tố đầu vào trong từng khâu sản xuất của một sản phẩm, sau đó, sản phẩm cuối cùng sẽ được lắp ráp ở nước chủ nhà và có thể được nhập khẩu về nước đầu tư hoặc xuất khẩu sang nước khác (Phùng Xuân Nhạ, 2001) Hoạt động này được thực hiện nhằm mục đích khai thác nguồn nguyên liệu thô hoặc để đến gần hơn với người tiêu dùng thông qua việc mua lại các kênh phân phối trên thị trường tiêu thụ (Imad A Moosa, 2002)
Đặc điểm của hình thức FDI chiều dọc được trình bày lần đầu tiên bởi Helpman (1984) và Helpman & Krugman (1985) qua việc nghiên cứu chiến lược của các doanh nghiệp có thực hiện phân đoạn sản xuất thành từng phần ở các quốc gia khác nhau Theo
đó, những doanh nghiệp này quyết định lựa chọn địa điểm phù hợp cho từng khâu sản xuất của họ dựa trên sự khác biệt trong mức độ dồi dào nhân tố và nhân tố giá cả giữa các quốc gia Nghiên cứu này còn nhận định rằng, các doanh nghiệp đa quốc gia có xu hướng đặt công ty mẹ ở quốc gia có sự dồi dào một cách tương đối về lao động có trình
độ cao, còn các khâu sản xuất sẽ được đặt ở những nước dồi dào một cách tương đối về lao động trình độ thấp Chính vì vậy, FDI theo chiều dọc thường diễn ra chủ yếu giữa những quốc gia có sự khác biệt về sự dồi dào nhân tố và trình độ phát triển kinh tế, cụ thể là giữa nước phát triển với nước đang phát triển
1.2.2.3 Theo chiến lược đầu tư
Dựa trên chiến lược đầu tư của các công ty, FDI được phân thành hai loại: Đầu tư mới (Greenfield Investment) và Mua lại và sáp nhập (Merger & Acquisition)
Đầu tư mới (GI)
Đầu tư mới là hình thức đầu tư mà các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới hoặc các xưởng sản xuất, nhà máy, tòa