Các phương thức giao dịch liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu rất đa dạng và đều có lợi thế nhất định, song giao dịch thông qua bên trung gian là một trong những hình thức ngày càng p
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SỬ DỤNG TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN TIẾN DŨNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐÀO THỊ HỒNG NHUNG
Hà Nội 4, 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SỬ DỤNG TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN:
Trang 3LỜI CẢM ƠN VÀ CAM KẾT
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận văn và kết thúc khóa học, với tình cảm chân thành, em xin được gửi lời biết ơn sâu sắc tới trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho em có một môi trường học tập tốt trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường
Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Tiến Dũng đã giúp
đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành
đề tài luận văn tốt nghiệp này Đồng thời em xin bày tỏ lòng cảm ơn đối với thầy cô trong khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước về trung gian thương mại 2
2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam 3
2.3 Điểm kế thừa và khoảng trống nghiên cứu 6
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Dự kiến đóng góp của đề tài 7
7 Bố cục bài viết 8
CHƯƠNG 1 Khái quát về trung gian thương mại 9
1.1 Tổng quan về trung gian thương mại 9
Cơ sở hình thành và quá trình phát triển của trung gian thương mại 9
Khái niệm và đặc điểm của trung gian thương mại 10
Các loại hình trung gian thương mại 12
Các điều kiện để trở thành trung gian thương mại ở Việt Nam 17
1.2 Các loại hợp đồng trung gian thương mại 18
Hợp đồng môi giới 18
Hợp đồng đại lý 19
Hợp đồng với nhà phân phối 20
Hợp đồng nhượng quyền thương mại 21
1.3 Vai trò của hoạt động trung gian thương mại 21
Vai trò của hoạt động trung gian thương mại đối với nền kinh tế 21
Vai trò của trung gian thương mại đối với hoạt động xuất nhập khẩu 22
Vai trò của trung gian thương mại đối với các ngành dịch vụ 22
CHƯƠNG 2 Thực trạng trong việc sử dụng trung gian thương mại vào
Trang 5Tình hình xuất khẩu hàng hóa 23
Tình hình nhập khẩu hàng hóa 28
Đánh giá thực trạng các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 30 2.2 Thực trạng trong việc sử dụng trung gian thương mại vào hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp ngoại thương 31
Các quy định liên quan đến việc sử dụng trung gian thương mại của các doanh nghiệp ngoại thương 31
Thách thức và khó khăn trong việc áp dụng trung gian thương mại 42
2.3 Những bất cập trong việc tổ chức và quản lý hoạt động của trung gian thương mại ở Việt Nam thời gian qua 43
Mô hình tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp làm trung gian thương mại 44
Quản lý hoạt động của trung gian thương mại ở Việt Nam 48
CHƯƠNG 3 Một số giải pháp khi sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam 50
3.1 Nhu cầu sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam 50
Phương hướng phát triển ngoại thương 50
Xu hướng sử dụng trung gian thương mại trong xuất nhập khẩu 51
3.2 Các giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả trung gian thương mại 52
Các giải pháp về phía nhà nước 52
Các giải pháp về phía doanh nghiệp 56
KẾT LUẬN 58
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt
2 2.2 Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2016-2019 17
DANH MỤC BẢNG
1 2.1 Kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng chính năm 2016-2019 14
2 2.2 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ở một số
thị trường lớn giai đoạn 2016-2019 16
3 2.3 Kim ngạch nhập khẩu của một số nhóm hàng
chính của Việt Nam giai đoạn 2016-2019 17
4 2.4 Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam ở một
số thị trường lớn giai đoạn 2016-2019 18
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang 7
DANH MỤC VIẾT TẮT
STT Kí hiệu viết
tắt
Nguyên nghĩa Tiếng Anh Nguyên nghĩa Tiếng Việt
2 GATT General Agreement on
Tariffs and Trade
Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
3 FIATA International Federation of
Freight Forwarders Associations
Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Vận tải Quốc tế
4 VIFFAS Vietnam Freight Forwarders
Association
Hiệp hội giao vận kho nhận Việt Nam
8 M.TO Multimodal Transport
Operator
Vận tải đa phương thức
Enterprise
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
10 WTO The World Trade
Organization
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của con người qua các thời đại luôn có những nhà ngoại giao đóng vai trò cầu nối để giữ gìn mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau Không chỉ trong lĩnh vực ngoại giao mà bất kì lĩnh vực nào cũng cần những người như vậy đặc biệt là hoạt động kinh doanh thương mại bởi nó đóng vai trò cốt lõi trong việc phát triển một đất nước Ông cha ta có câu: “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”, chính vì vậy, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện đại hóa như hiện nay cùng với sự cạnh tranh khốc liệt để chiếm lĩnh thị trường, các công ty chỉ nên chuyên về một hoặc một số lĩnh vực, ngành nghề
mà mình có lợi thế, từ đó tập trung phát triển sản phẩm, nâng cấp thiết bị máy móc, đáp ứng nhu cầu khách hàng Từ đó, các ngành nghề liên quan đến trung gian thương mại ra đời và ngày càng khẳng định tầm quan trọng của mình đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội
Tại Việt Nam hiện nay, sau quá trình mở cửa hội nhập nền kinh tế, mở rộng thị trường, hướng đến giao thương với các quốc gia trên thế giới thì hoạt động xuất nhập khẩu đóng vai trò cốt lõi trong việc phát triển kinh tế nước nhà cũng như thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị với các nước Các phương thức giao dịch liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu rất đa dạng và đều có lợi thế nhất định, song giao dịch thông qua bên trung gian là một trong những hình thức ngày càng phổ biến và được lựa chọn nhiều nhất bởi lẽ việc tìm hiểu thị trường mới hay mua bán một số sản phẩm, mặt hàng sẽ đem lại thành công và hiệu quả cao hơn nếu các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng trung gian thương mại
Hoạt động trung gian thương mại tuy đã trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi nhưng không phải công ty nào cũng am hiểu cũng như có thể sử dụng một cách hợp lý và đúng đắn đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp mới thành lập, chưa có kinh nghiệm trên thương trường Thực
tế đã chứng minh, có một số doanh nghiệp Việt Nam đã thất bại trong việc đầu tư kinh doanh, phát triển thị trường gây tổn thất và lãng phí Nhận thấy tầm quan trọng cũng như giúp các doanh nghiệp trong nước hiểu thêm về hoạt
động trung gian thương mại, em đã chọn đề tài: “Sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp
Trang 92 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu mang lại lợi ích rất lớn đối với các doanh nghiệp về cả chi phí, doanh thu hay thời gian
và công sức Chính vì vậy những lý thuyết và thực tế về sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trên cả nước
2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước về trung gian thương mại
Trên thế giới đã có một số bài nghiên cứu về việc sử dụng trung gian
thương mại Điển hình là bài nghiên cứu: “The Role of Intermediaries in
Facilitating Trade” của nhóm tác giải Jabin Ahn, Amit K.Khandelwal,
Shang-Jin Wei năm 2011 Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình công ty không đồng nhất để dự đoán phương thức xuất khẩu của các công ty từ đó dự đoán rằng các phương thức trung gian thương mại sẽ trở nên quan trọng hơn khi các doanh nghiệp xâm nhập vào những thị trường mới và khó hơn
Đề tài “International Trade Intermediaries and The Transfer of Marketing
Knowledge in Transition Economies” của tác giả Pau D.Ellis năm 2009 đã
xem xét vai trò của trung gian thương mại trong việc chuyển giao kiến thức tiếp thị xuyên biên giới Các dữ liệu trong đề tài đã cho thấy giá trị của kiến thức tiếp thị được chuyển giao phụ thuộc vào hiệu suất trung gian của các dịch vụ tiếp thị xuất khẩu và khả năng thay thé trung gian
Đề tài “Characteristics of International Trade Intermediaries and Their
Location in the Supply Chain” của tác giả Hale Utar năm 2017 đưa ra lập luận
rằng so với các công ty sản xuất thương mại quốc tế, các công ty bán buôn kinh doanh quốc tế tập trung vào ít quốc gia hơn với nhiều sản phẩm hơn, giá trị đơn vị thấp hơn cũng như sự khác nhau của các loại hình công ty
Đề tài “Intermediaries in International Trade: Products and Destination”
của nhóm tác giả Andrew B.Bernard, Marco Grazzi, Chiara Tomasi năm 2015
đã xem xét các yếu tố làm phát sinh các trung gian trong xuất khẩu và khám phá những tác động đối với thương mại Các bên trung gian thương mại sẽ đóng vai trò là nhà bán buôn phục vụ các thị trường khác nhau và xuất khẩu các sản phẩm khác nhau Các nhà buôn phổ biến hơn ở các thị trường có chi phí cố định thể theo điểm đến đồng thời tập trung vào các sản phẩm ít phân biệt hơn Xuất khẩu đến các điểm đến có tỷ trọng xuất khẩu gián tiếp cao sẽ ít phản ứng với những thay đổi của tỷ giá hối đoái hơn là xuất khẩu sang các thị trường phục vụ chủ yếu bởi các nhà nhập khẩu trực tiếp
Trang 10Đề tài “A Theory of Intermediaries in International Trade” của tác giả
Megan Haasbroek năm 2018 đã chỉ ra lý thuyết về trung gian thương mại trong buôn bán quốc tế Tác giả đã nêu ra lợi thế của sử dụng trung gian thương mại là nguồn lực có sẵn mà các nhà xuất khẩu có thể phải mất nhiều năm để tự mình phát triển
Đề tài “Trade Intermediaries, Incomplete Contracts and The Choice of
Export Modes” của nhóm tác giả Gabriel J Felbermayr, Benjamin Jung năm
2008 đã phát triển một mô hình nơi các nhà sản xuất có sự khác nhau về lợi thế cạnh tranh Tỷ lệ tương đối của trung gian thương mại càng cao thì khả năng chiếm quyền ở nước ngoài càng lớn và mức độ nghiêm trọng của các xung đột trong hợp đồng thương mại càng nhiều dẫn đến sự không đồng nhất giữa các nhà sản xuất
Đề tài “Intermediaries in International Trade” của nhóm tác giả Elin
Christiansson, Hanna Eliasson năm 2014 đã chỉ ra rằng trung gian thương mại xuất hiện giữa nhà sản xuất và khách hàng nhằm giúp kết nối cũng như giải quyết những tình huống gây khó khăn, tốn thời gian và không đem lại lợi nhuận Họ đóng vai trò là một cầu nối giữa nhà sản xuất, khách hàng và đồng thời được sử dụng phổ biến tại thị trường mà nhà trung gian am hiểu nhất
Đề tài “Network Intermediaries in International Trade” của tác giả Jame
E.Rauch năm 2004 đã xây dựng một mô hình cân bằng chung để phân tích, so sánh giữa các công ty có mạng lưới ở nước ngoài để từ đó chỉ ra rằng Chính phủ nên có những biện pháp tích cực để khuyến khích hơn nữa sự phát triển của các công ty lớn và tiềm năng
Đề tài “Who uess Intermediaries in International Trade” của tác giả
Jennifer Abel-Koch năm 2013 sẽ chúng ta cái nhìn tổng quát hơn về phạm vi
và đối tượng sử dụng trung gian thương mại đồng thời đánh giá cao vai trò của việc sử dụng trung gian thương mại trong việc thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế
2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, có rất ít công trình nghiên cứu về sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu mà chỉ đơn thuần nghiên cứu về hoạt động xuất nhập khẩu nói chung về các ngành nghề hoặc nghiên cứu sâu
về trung gian thương mại Sau đây là một trong số những công trình hiếm hoi
được công bố trong nước: “Trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập
Trang 11khẩu ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của nhóm tác giả Phạm Duy
Liên, Dương Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Toàn, Dương Văn Hùng, Đặng Hải Hà, Ngô Minh Hải năm 2005 Tác giả đã đưa ra đầy đủ cơ sở lý thuyết về hoạt động sử dụng trung gian thương mại trong xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp hiệu quả giúp các doanh nghiệp Việt Nam có được những kinh nghiệm để phát triển
Luận văn: “Trung gian thương mại trong hoạt động xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ vào Hoa K” của tác giả Nguyễn Thị Luyện năm 2014 đã đưa
ra đầy đủ cơ sở lý thuyết về hoạt động sử dụng trung gian thương mại trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam sang một thị trường lớn như Hoa
Kì Từ đó, đưa ra các giải pháp hiệu quả giúp các doanh nghiệp Việt Nam có được những kinh nghiệm khi xâm nhập vào cùng một thị trường trong bài viết
Đề tài: “ Vấn đề về trung gian thương mại” của tác giả Nguyễn Văn Học
năm 2016 đã nêu ra các vấn đề mấu chốt về đặc điểm của trung gian thương mại gồm có ba đặc điểm chính Thứ nhất, trung gian thương mại là một loại hoạt động cung ứng dịch vụ do chủ thể trung gian thực hiện Thứ hai, trong hoạt động dịch vụ trung gian thương mại, bên trung gian thương nhân, có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ và bên thứ ba
Đề tài: “Các hoạt động trung gian thương mại, thực hiện pháp luật trong
hoạt động trung gian thương mại, tình huống và giải thích” của nhóm tác giả
Nguyễn Hoàng Công Danh, Võ Văn Sang, Hoàng Trọng Đại, Nguyễn Văn
Tứ, Lê Trung Tiến, Phùng Thị Ngọc Thành, Trần Hữu Việt, Nguyễn Trọng Hưởng, Nguyễn Thị Ngọc Dung năm 2014 đã nếu rõ được tầm quan trọng của bên trung gian thông qua các tình huống cùng những lời giải thích, kinh nghiệm rút ra Trong hoạt động giao dịch thương mại, bên trung gian thực hiện các dịch vụ nhằm tạo điều kiện để bên có nhu cầu bán hàng, sử dụng dịch vụ… hoặc thông qua bên này mà hàng hóa , dịch vụ sẽ đến được với bên thứ ba
Luận văn: “Pháp luật về dịch vụ thương mại và các hình thức trung gian
thương mại – Một số vấn đề thực tiễn” của tác giả Mai Phương năm 2013 đã
đưa ra đầy đủ dẫn chứng và lập luận để các doanh nghiệp có thể hiểu rõ về pháp luật về dịch vụ thương mại qua đó không trở nên thất thế trên trường quốc tế Các hình thức trung gian thương mại cũng được tác nêu ra cùng một
số vấn đề thực tiễn trong mốc thời gian 2013 trở lại
Trang 12Luận văn: “Pháp luật về dịch vụ trung gian thương mại (Đại diện, Môi
giới, Ủy thác và Đại lý) của tác giả Trương Hồng Diễm năm 2008 không chỉ
nêu tổng quan về dịch vụ trung gian thương mại và pháp luật về dịch vụ trung gian thương mại mà tác giả còn tìm hiểu sâu về bốn loại hình trung gian thương mại là Đại diện, Môi giới, Ủy thác và Đại lý Pháp luật về dịch vụ trung gian ra đời khá muộn và khái niệm ít được nghiên cứu trong khoa học pháp luật Việt Nam Do đó sẽ dẫn đến việc pháp luật hiện hành không điều chỉnh kịp thời trong khi hoạt động trung gian thương mại ngày càng diễn ra
đa dạng, phức tạp Do đó cần phải nhận biết đúng đắn về hoạt động trung gian thương mại để hạn chế những thiệt hại đáng tiếc có thể xảy ra
Bài nghiên cứu: “Vai trò của hoạt động trung gian thương mại trong xu
thế toàn cầu hóa thương mại” của Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử năm
2014 đã chỉ ra vai trò quan trọng của hoạt động trung gian thương mại đối với
xu thế toàn cầu hóa thương mại Đầu tiên, hoạt động trung gian thương mại mang lại hiệu quả lớn cho các thương nhân trong quá trình tổ chức mạng lưới phân phối, tiêu thụ hàng hóa Tiếp đến, hoạt động trung gian thương mại cũng góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa Tuy nhiên hoạt động trung gian thương mại cũng có nhược điểm là bên thuê dịch vụ sẽ không liên hệ trực tiếp với thị trường mà hoạt động thông qua trung gian
Đề tài: “Các phương thức giao dịch trong thương mại quốc tế và tình hình
ứng dụng các phương thức giao dịch đó tại Việt Nam” của tác giả Phạm Anh
năm 2014 đã nếu ra các phương thức giao dịch trong thương mại quốc tế trong đó đặc biệt quan tâm đến vai trò của việc sử dụng trung gian thương mại cũng như tầm quan trọng của nó vì đây là giao dịch chủ yếu, là giao dịch
mà người bán (mua), quy định các điều kiện mua bán phải thông qua người thứ ba (người trung gia)
Đề tài: “Xuất nhập khẩu của Việt Nam hiện nay – Thực trang và giải
pháp” của tác giả Nguyễn Đoàn Thắng năm 2011 đã nêu ra được vai trò của
xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay là điều hòa quá trình tái sản xuất xã hội, thúc đẩy Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, mở rộng thị trường cũng như nêu
ra được các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều là những công trình nghiên cứu với những số liệu đã cũ, không phù hợp với sự phát triển của bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay cũng như sự thay đổi về cả quy mô và số lượng các doanh nghiệp Việt Nam tham gia và hoạt động sử dụng trung gian
thương mại Do vậy, bài nghiên cứu: “Sử dụng trung gian thương mại trong
Trang 13hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” sẽ đưa ra
một cái nhìn tổng quan cùng những số liệu và nhận xét mới nhất để phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội, giúp các doanh nghiệp hiện nay bắt kịp với xu hướng phát triển của thế giới
2.3 Điểm kế thừa và khoảng trống nghiên cứu
Qua những nghiên cứu được đề cập ở trên, khóa luận đã rút ra được thực trạng sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam còn nhiều lỗ hổng và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh
tế đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay Chính vì vậy, đề tài
“Sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt
Nam - Thực trạng và giải pháp” đã được em nghiên cứu lựa chọn với mục
đích hệ thống hóa rõ ràng các cơ sở lý luận về trung gian thương mại trong các công trình trước đây; đồng thời đặt nó làm trọng tâm nghiên cứu và áp dụng nó để phân tích, đánh giá các kinh nghiệm của các doanh nghiệp giúp đưa ra những giải pháp phát triển hoạt động sử dụng trung gian thương mại tại Việt Nam một cách có hiệu quả trong giai đoạn mới, phù hợp với sự phát triển của đất nước Đây chính là điểm đảm bảo tính kế thừa nhưng cũng là điểm mới của bài nghiên cứu so với những nghiên cứu trước đây Thông qua bài nghiên cứu này, em hy vọng sẽ cung cấp được các bài học kinh nghiệm quý báu cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc sử dụng trung gian thương mại và đề xuất các hàm ý giúp cải thiện môi trường phát triển cho hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chung của khóa luận là hệ thống hóa lại lý thuyết và nêu ra những kinh nghiệm thực tế trong việc sử dụng trung gian thương mại tại các doanh nghiệp ở Việt Nam, từ đó rút ra bài học và đưa ra giải pháp giúp phát triển hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài nghiên cứu phải làm rõ các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, khóa luận cần được thiết lập hệ thống cơ sở lý luận về việc sử
dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Thứ hai, khóa luận cần đo lường và khảo sát được tình hình phát triển của
các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay thông qua việc phân tích, đánh giá môi trường phát triển của hoạt động trung gian
Trang 14Thứ ba, thông qua kinh nghiệm từ các doanh nghiệp đi trước, khóa luận
cần rút ra được bài học cho các doanh nghiệp Việt Nam và đưa ra được biện pháp hiệu quả giúp các doanh nghiệp trong nước nâng cao lợi thế cạnh tranh, giảm chi phí và sử dụng trung gian thương mại một cách hiệu quả nhất
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung vào việc nghiên cứu hoạt động xuất nhập khẩu và thực tiễn sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt nam trong lĩnh vực nói trên
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong quá trình thực hiện nghiên cứu là phương pháp biện chứng duy vật, xét trên quan điểm thực tiễn
về tính ứng dụng của đề tài nghiên cứu, quan điểm hệ thống khi xem xét sự vật chỉnh thể; và kết hợp phương pháp định tính và định lượng để phân tích
và tổng hợp
Các phương pháp nghiên tổng quát được sử dụng cụ thể như sau:
Phân tích và tổng hợp lý thuyết: nghiên cứu các văn bản, tài liệu lý luận khác từ doanh nghiệp sử dụng trung gian thương mại
Phương pháp quan sát khoa học và thống kê: sử dụng để thu thập đầy đủ thông tin về đối tượng cần nghiên cứu: phân loại, hệ thống hóa, tính toán một cách khoa học các thông số Kết hợp phương pháp so sánh để nhìn nhận rõ những thay đổi về quy mô, mức độ về mặt thời gian So sánh kỳ này với kỳ trước để đánh giá sự tăng giảm quy mô của hiện tượng
Phương pháp phân loại và hệ thống hóa: sắp xếp các số liệu, tài liệu, sự kiện thành một hệ thống logic trên cơ sở mô hình lý thuyết
đã chọn, cân đối và phân tích tỷ lệ để khai thác có hiệu quả những
số liệu
Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm: khóa luận nghiên cứu thực trạng sử dụng trung gian thương mại của các doanh nghiệp ở Việt Nam để từ đó rút ra những bài học nói chung cho Việt nam và đưa ra những giải pháp mang tính khả thi hơn
6 Dự kiến đóng góp của đề tài
Trang 15Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ góp phần giúp các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đặc biệt là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ nắm rõ hơn về quy trình cũng như có thêm kinh nghiệm trong việc sử dụng trung gian thương mại vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
7 Bố cục bài viết
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận chia làm 3 chương:
Chương I: Khái quát về trung gian thương mại
Chương II: Thực trạng trong việc sử dụng trung gian thương mại vào hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp khi sử dụng trung gian thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1 Khái quát về trung gian thương mại 1.1 Tổng quan về trung gian thương mại
Cơ sở hình thành và quá trình phát triển của trung gian thương mại
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngoài, trung gian thương mại đã xuất hiện từ rất sớm nhờ vào quá trình trao đổi hàng hóa và phân công lao động của các tầng lớp thương nhân cùng với các hoạt động thương mại Ban đầu, phương thức giao dịch trực tiếp giữa người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ, người bán hàng và người mua hàng được sử dụng rộng rãi và phổ biến Tuy nhiên, theo thời gian khi xã hội con người ngày càng phát triển, cách thức giao dịch này trở nên hạn chế và kém hiệu quả khi các giao dịch không còn đơn thuần là giao dịch trong nước mà khoảng cách địa lý ngày càng xa Mặt khác, hoạt động kinh doanh trực tiếp đã xảy ra nhiều trường hợp gây ra những rủi ro lớn cho thương nhân như bị lừa đảo, gian lận trong kinh doanh, chi phí lớn trong việc tìm hiểu tìm kiếm đối tác cũng như điều tra thị trường mới và cuối cùng là thực hiện phân phối hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng Chính vì vậy, nhu cầu hợp tác giữa các thương nhân trở nên cần thiết và tất yếu để phát triển hoạt động kinh doanh một cách bền vững và đem lại lợi nhuận ở mức tối đa Từ đó, phương thức giao dịch qua người trung gian đáng tin cậy, có tầm hiểu biết về mua bán, tiêu thụ hàng hóa được hình thành và là một trong những hình thức phát triển kinh doanh xuất hiện sớm nhất
Theo sự phát triển của kinh tế xã hội, từ một hình thức tự phát do nhu cầu của thương nhân, hoạt động trung gian thương mại đã mở rộng thành các ngành nghề kinh doanh đa lĩnh vực như: môi giới mua bán hàng hóa, môi giới hàng hải, môi giới chứng khoán, ủy thác mua bán hàng hóa hưởng hoa hồng, đại lý bảo hiểm, đại lý tàu biến…
Một trong những lĩnh vực mà hoạt động trung gian thương mại phát triển mạnh mẽ chính là giao nhận vận tải Họ đã tập hợp cùng nhau để thành lập những Hiệp hội, Hãng riêng và dần dà trở thành một ngành kinh doanh riêng biệt, độc lập Do vị trí địa lý cũng như nhu cầu của các thương nhân cùng sự cạnh tranh mạnh mẽ của các công ty giao nhận dẫn đến các Liên đoàn quốc tế được thành lập như: Liên đoàn những người giao nhận Hà Lan, Mỹ….và nổi bật hơn cả là “Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận quốc tế”- FIATA
Trang 17(International Federation Forwarder Association) Đây là Hiệp hội giao nhận vận tải lớn nhất trên thế giới bởi sự tham gia của hơn 150 quốc gia và khoảng
40000 thành viên Đây là một tổ chức phi chính phủ với mục đích chính là tăng cường và bảo vệ lợi ích của người giao nhận trong phạm vi quốc tế cũng như nâng cao chất lượng giao nhận, liên kết nghề nghiệp, đào tạo nghiệp vụ ở trình độ quốc tế, tăng cường mối quan hệ phối hợp với các tổ chức giao nhận… Đặc biệt, cho đến thời điểm hiện tại, nhiều công ty giao nhận ở Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của FIATA như Sotrans, VLI… Ngoài ra, lĩnh vực bảo hiểm môi giới cũng được phát triển vô cùng mạnh
mẽ đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường như hiện nay khi mà nhu cầu bảo hiểm của các cá nhân và tổ chức hết sức đa dạng Tuy vậy, họ lại gặp khó khăn trong việc tìm hiểu và đánh giá các loại bảo hiểm phù hợp với nhu cầu của mình cũng như so sánh các lợi ích, mức giá giữa các loại bảo hiểm Chính
vì vậy, các tổ chức môi giới bảo hiểm ra đời Họ là những người đại diện quyền lợi cho người mua bảo hiểm để lựa chọn, thu xếp cũng như ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp cung cấp bảo hiểm Sau khi hợp đồng ký kết, người môi giới có thể được bên mua ủy quyền theo dõi việc thực hiện hợp đồng, đòi hỏi các quyền lợi như bồi thường hợp đồng nếu xảy ra trường hợp ngoài ý muốn
Khái niệm và đặc điểm của trung gian thương mại
1.1.2.1 Khái niệm
Theo khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại 2005 ở Việt Nam: “Hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại”
Xét về khía cạnh luật quốc tế thì trung gian thương mại là hoạt động mà
“Đại diện là người đại lý, nhân viên công ty hoặc hiệp hội, người được ủy thác trông nom, người thực hiện, người quản lý tài sản và bất kì người nào được trao quyền hành động hộ người khác” (Theo điều 1201 Luật thương mại Hoa Kỳ) Cũng theo điều 2210 quy định về vấn đề ủy thác: “Một bên có thể thực hiện hay với bổn phận của mình thông qua một sự ủy thác, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc bên khác có những quyền ưu tiên trong việc giữ nguyên bản việc thực thi thỏa thuận, thực hiện các hành vi trong hợp đồng”
Trang 181.1.2.2 Đặc điểm của trung gian thương mại
Hoạt động trung gian thương mại gồm có 4 đặc điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, hoạt động trung gian thương mại được coi là cầu nối giữa người
mua và người bán cũng như giữa sản xuất và tiêu dùng Vì nhiều lý do như khoảng cách địa lý, sắp xếp thời gian hay các vấn đề về chi phí dẫn đến việc người bán và người mua không thể giao dịch trực tiếp với nhau mà bắt buộc phải thông qua bên thứ ba để ký kết và thực hiện hợp đồng Điều này giúp tiết kiệm hơn về cả mặt thời gian, chi phí cũng như tránh được những rủi ro đáng
kể mà hai bên không mong muốn
Thứ hai, bên thứ ba hay còn được gọi là bên trung gian là những người
đưa ra các quyết định hay hành động theo sự ủy thác ghi trên hợp đồng Người trung gian đại diện sẽ dựa trên sự ủy quyền mà hoạt động nhằm mang lại lợi ích cho người ủy thác đồng thời nhận được tiền thù lao như trong hợp đồng quy định
Thứ ba, khi đã liên quan đến bên thứ ba là trung gian thương mại, hai bên
sẽ có tính chất phụ thuộc lẫn nhau Trong kinh doanh quốc tế, những thông tin
về thị trường, giá cả lẫn khách hàng… đều rất quan trọng và cần thiết với người mua và bán để có thể đưa ra các chính sách phù hợp nhất với từng thị trường Tuy nhiên, sẽ rất khó và tốn kém để có được những thông tin này vì nhiều yếu tố môi trường và con người Chính vì vậy, những người trung gian thương mại đóng vai trò vô cùng quan trọng Chất lượng những thông tin mà
họ đem đến sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các chiến lược marketing cũng như phát triển của công ty sau này Lấy ví dụ như nếu một công ty châu Âu muốn tiến vào thị trường mới như một đất nước đạo Hồi mà không am hiểu những phong tục, tập quán cũng như thói quen tiêu dùng của họ sẽ khó tồn tại lâu được
Mặt khác, bên trung gian thương mại cũng cần những thông tin chính xác
về sản phẩm như bao bì, chi phí… để họ có thể hiểu rõ và tiến hành thực hiện các quyết định như mua hay bán sản phẩm
Thứ tư, một điều tất yếu khi có sự xuất hiện của trung gian thương mại
chính là lợi nhuận của sản phẩm sẽ bị chia sẻ được gọi là tiền thù lao hay tiền hoa hồng Đây chính là một phần được trích ra trong khoản lợi nhuận mà bên
ủy thác có được từ thương vụ mua bán này
Trang 19Các loại hình trung gian thương mại
1.1.3.1 Môi giới
Luật pháp của Nhà nước ta quy định khái niệm về môi giới trong trung gian thương mại như sau: “Người môi giới thương mại là thương nhân làm trung gian cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới” (Theo luật thương mại Việt Nam năm 1997, Điều 93 và Điều 150 Luật thương mại năm 2005) Theo điều luật trên thì phạm vi của người môi giới đã được quy định còn những vấn đề khác liên quan đến dịch vụ như giao nhận, mua bảo hiểm, thuê tàu… lại được những đạo luật khác đề cập đến như Luật bảo hiểm, Luật hàng hải… Lĩnh vực thương mại nói chung liên quan đến các hành vi mua bán, trao đổi hàng hóa sẽ khó hoặc không thực hiện được nếu thiếu các dịch vụ giao vận chuyển, giao nhận đến từ các công ty Nói một cách học thuật, hàng hóa
sẽ không thể vận hành và lưu thông trơn tru nếu không có các dịch vụ đi kèm
hỗ trợ Xét trên những khía cạnh đó, Luật mẫu về Trọng tài thương mại, do UNICITRAL (Uỷ ban Liên Hiệp Quốc về Luật thương mại quốc tế) đã được soạn thảo và thông qua ngày 21/6/1985 quy định về thương mại: “'Thương mại phải được giải thích theo nghĩa rộng để bao phủ hết các vấn đề phát sinh
từ tất cả các môi quan hệ cố bản chất thương mại dù có hợp đồng hay không Các quan hệ có bản chất thương mại bao gồm những giao dịch sau: Các giao dịch thương mại để cung cấp, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ, hợp đồng phân phối, chi nhánh hay đại diện thương mại, đại lý, cho thuê, gia công, tư vấn, chuyển giao công nghệ, mua bán sáng chế, đẩu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, hợp đồng khai thác hay nhượng đất, liên doanh, các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặc liên doanh, chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ”
Xã hội ngày càng phát triển hiện đại, các dịch vụ môi giới ngày càng trở nên phổ biến trong mọi lĩnh vực, từ sản xuất tiêu dùng đến đầu tư, bảo hiểm Điều 166 Bộ Luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 quy định: “Môi giới hàng hải là dịch vụ làm trung gian trong việc giao dịch, đàm phán, kỷ kết hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng cho thuê tàu, hợp đồng mua bán tàu, hợp đồng lai dắt, hợp đồng thuê thuyền viên và các hợp đồng khác có liên quan đến hoạt động hàng hải theo hợp đồng môi giới hàng hải” Tương tự, Luật Kinh doanh Bảo hiểm Việt Nam năm 2000 cũng nêu rõ:
Trang 20“Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệp hoạt động môi giới theo quy định của Luật Kinh doanh Bảo hiểm và các quy định của pháp luật có liên quan” Mặc dù làm tư vấn và bảo vệ quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm, nhưng môi giới bảo hiểm lại nhận hoa hồng bảo hiểm từ doanh nghiệp bảo hiểm Tập quán bảo hiểm và Luật bảo hiểm của các nước trên thế giới, khi đề cập đến hoạt động môi giới đều quy định vấn đề này Khoản 1 điều 91 Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam quy định: “Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được hưởng hoa hồng môi giới bảo hiểm Hoa hồng môi giới bảo hiểm được tính trong phí bảo hiểm”
Tuy nhiên, để tránh việc môi giới sử dụng sức ép buộc các doanh nghiệp bảo hiểm phải chấp nhận dịch vụ xấu, phạm vi bảo hiểm rộng và phí bảo hiểm thấp, Nghị định 42/2001/NĐCP ngày 1/8/2001 Chính phủ quy định: "Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm chỉ được tư vấn, giới thiệu cho bên mua bảo hiểm các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm đã được Bộ Tài chính ban hành, phê chuẩn hoặc doanh nghiệp bảo hiểm đã đãng ký với Bộ Tài chính” Tương
tự, Điều 92 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho hoạt động môi giới bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam”
Như vậy hiện nay Chính phủ Việt Nam đã và đang ban hành nhiều quy định giúp các doanh nghiệp hiểu rõ về ngành nghề môi giới tuy nhiên, tùy từng trường hợp cũng như những cách ứng dụng khác nhau mà việc vận dụng, giải thích về cùng một vấn đề chung trong hoạt động thương mại sẽ khác nhau
Môi giới thương mại gồm có các đặc điểm chính như sau:
Thứ nhất, quan hệ giữa người ủy thác và môi giới là quan hệ hợp đồng
ngắn hạn và riêng biệt giữa các lần hợp tác Theo quy định cũng như đã nêu ở trên, người trung gian thương mại là cầu nối giữa bên mua và bên bán và chỉ
có chuyên môn về một lĩnh vực nhất định Họ có thể hợp tác với nhiều khách hàng khác nhau và chỉ hợp tác trong các trường hợp cũng như hoàn cảnh cần thiết Ví dụ, khi cần gấp một số lượng tàu chuyên chở lớn mà không biết tìm
ở đâu, người xuất nhập khẩu có thể tìm đến bên trung gian để thuê cho đủ với
số lượng yêu cầu tuy nhiên không phải lúc nào cũng cần một số lượng tàu nhiều như vậy Chính vì thế, họ sẽ chỉ hợp tác với nhau trong các trường hợp cần thiết và cụ thể
Thứ hai, người môi giới không đại diện quyền lợi cho bên nào Luật pháp
quy định: “Người môi giới là một trung gian đơn thuần giữa 2 bên mua và
Trang 21bán nên họ không đại diện quyền lợi của ai” (Theo Điều 151, Khoản 3, Luật thương mại Việt Nam năm 2005)
Thứ ba, người môi giới chỉ tham gia vào việc thực hiện hợp đồng giữa các
bên khi được bên môi giới cho phép bằng giấy ủy quyền Họ có thể tham gia vào các công việc giao nhận hàng, làm thủ tục hải quan… nếu trong lĩnh vực hàng hải và tương tự với các lĩnh vực khác
1.1.3.2 Đại lý
Theo luật thương mại Việt Nam năm 2005: “Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao” Khác với môi giới thương mại, đại lý thương mại có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, Người đại lý được quyền đứng tên trong hợp đồng Họ có thể
thay mặt người ủy quyền xử lý tất cả những vấn đề có liên quan đến mua bán, trao đổi hàng hóa với khách hàng vì họ đã trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ
Thứ hai, quan hệ giữa người đại lý và người ủy thác là quan hệ hợp đồng
dài hạn Đây chính là điểm khác biệt cơ bản giữa môi giới và đại lý
Thứ ba, bên ủy thác chính là người chủ sở hữu về hàng hóa hay tiền tệ đã
được giao cho người đại lý
Trình tự mua bán qua đại lý thông thường như sau:
Hình 1.1 Mô hình mua bán qua đại lý
Nguồn: Theo Liên minh hỗ trợ xuất khẩu (VESA)
Đại lý trong trung gian thương mại chia làm 4 loại:
Đại lý bao tiêu: Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005: “Đại lý bao tiêu là loại đại lý hoạt động mua bán trọn vẹn một khối lượng hàng hóa hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ Mức thù lao mà người đại lý bao tiêu được hưởng là mức chênh lệch giá giữa giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ cho
Trang 22lý vô cùng phổ biến trên thị trường Việt Nam hiện nay như đại lý xi măng, sắt, xăng dầu…
Đại lý độc quyền: Theo quy định tại Điều 169 Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Đại lý độc quyền là hình thức địa lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định” Tuy nhiên nếu xét về bản chất, đại lý này có thể được coi là đại lý bao tiêu hoặc đại lý hoa hồng tùy vào quyền của người đại lý
Tổng đại lý: Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định rõ: “Tổng địa lý mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ là một hình thức đại lý , theo đó bên đại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bên ủy thác” Trên thực tế, Tổng đại lý được
sử dụng phổ biến nhất tại những thị trường lớn nơi mà những nhu cầu phân tán nhiều hay người ủy thác muốn nắm, quản lý tập trung Tổng đại lý sẽ đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc và những đại lý trực thuộc đó sẽ hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý theo danh nghĩa của tổng đại lý
Các loại đại lý khác tùy theo sự thỏa thuận của các bên: Tùy theo các trường hợp cụ thể mà giao dịch giữa hai bên có thể xuất hiện các trường hợp đại lý khác nhau:
Đại lý gửi bán: Đại lý gửi bán thực chất là một loại đặc biệt của đại
lý hoa hồng Việc gửi bán hàng hóa hiên nay rất thông dụng trong thương mại nội địa cũng như trong thương mại quốc tế
Đại lý giao nhận vận tải: Theo định nghĩa của Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận (FIATA): “Người giao nhận vận tải quốc tế
là người lo toan để hàng hóa được chuyên chở theo hợp dồng ủy thác mà bản thân anh ta không phải là người vận lải Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến giao nhận như bảo quản, lưu kho, làm thủ tục hải quan, kiểm tra hàng hoa ”
Đại lý làm thủ tục hải quan: Loại hình tổ chức kinh doanh dịch vụ này được hình thành vào đầu thế kỷ 19 ở Mỹ và một số quốc gia Châu Âu Nguyên nhân ban đầu là do khó khăn trong khâu tổ chức sắp xếp hàng hoa qua biên giới với sự rườm rà, khắt khe của quy tắc làm thủ tục hải quan, sau đó do chuyên môn hóa nên việc kinh doanh dịch vụ thủ tục hải quan đã tách thành một nghề độc lập, có tính nhà nghề cao Ngày nay kinh doanh dịch vụ thủ tục hải quan
Trang 23không chỉ phái triển trên bình diện quốc gia mà còn được phát triển trên toàn thế giới
Đại lý đặc biệt: Đây là người đại lý chỉ làm mứt công việc cụ thể nhất định như mua hàng với giá đã được xác định
Đại lý toàn quyền: Theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Đại lý toàn quyền là người đại lý thay mặt người ủy thác làm mọi việc có liên quan đến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ: giao dịch ký kết hợp đồng, giao hàng, thanh toán tiền, giải quyết tranh chấp, nứp thuế, đăng ký bảo hứ nhãn hiệu hàng hóa ” Đây là loại đại lý nếu như người ủy thác không biết, giao quyền rứng, có thể sẽ gặp nhiều tai họa, ví dụ như các vụ vi phạm bản quyền thuốc lá, kẹo dừa Bến tre, phồng tôm Sa đéc
1.1.3.3 Uỷ thác mua bán hàng hóa
Định nghĩa về ủy thác mua bán hàng hóa được quy định: “Ủy thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác” (Theo luật thương mại Việt Nam năm 2005)
Đặc điểm của Ủy thác mua bán hàng hóa bao gồm bốn đặc điểm chính:
Thứ nhất, chủ thể là bên ủy thác và bên nhận ủy thác
Thứ hai, cũng theo luật thương mại quy định: “Bên ủy thác có thể là
thương nhân hoặc không phải là thương nhân, nhưng bên nhận ủy thác bắt buộc phải là thương nhân Bên nhận ủy thác sử dụng danh nghĩa của chính bên nhận ủy thác để mua hoặc bán hàng hóa thay cho bên ủy thác Đồng thời, bên ủy thác không được quyền ủy thác lại cho bên thứ ba thực hiện hợp đồng
ủy thác mua bán hàng hóa nếu như không có sự chấp thuận bằng văn bản của bên ủy thác”
Thứ ba, bên nhận ủy thác chỉ thực hiện việc mua bán hàng hóa trong
phạm vi được ủy thác
Thứ tư, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa bắt buộc phải được lập bằng
văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị tương đương
1.1.3.4 Đại diện cho thương nhân
Đây là hình thức trung gian thương mại phổ biến nhất trên thế giới Theo Luật Thương mại năm 2005: “Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện”
Trang 24Hình thức đại diện cho thương nhân gồm các có đặc điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, chủ thể chính bao gồm bên giao đại diện và bên đại diện
Thứ hai, hai bên chủ thể đều phải là thương nhân
Thứ ba, trong quan hệ đại diện, người làm đại diện phải giao dịch với bên
thứ ba trên danh nghĩa của bên giao đại diện và phải hành động theo sự hướng dẫn của bên giao đại diện
Thứ tư, các bên có thể thoả thuận về phạm vi của việc đại diện cũng như
bên đại diện có thể thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện
Thứ năm, hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản hoặc các hình thức
khác có giá trị tương đương
Các điều kiện để trở thành trung gian thương mại ở Việt Nam
Chính phủ nước Việt Nam có những quy định riêng cũng như những điều kiện để trở thành trung gian thương mại như sau:
Trước hết phải là thương nhân theo luật định sau đó phải có đầy đủ năng lực pháp lý cũng như năng lực phạm vi
Bắt buộc phải hoạt động trong phạm vi ngành nghề cho phép
Có trụ sở
Có vắn và tự chịu trách nhiệm về nguồn vắn của mình
Được dùng danh nghĩa của mình trong hoạt động kinh doanh Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 hướng dẫn thực hiện Luật Thương mại năm 1997 có nêu một số điều kiện khi làm đại lý cho nước ngoài:
Nếu nhận ủy thác bán hàng cho nước ngoài thì doanh nghiệp nhận
ủy thác phải mở tài khoản riêng để giao dịch bán hàng của nước ngoài
Nếu nhận ủy thác mua hàng tại Việt Nam cho người mua nước ngoài thì phải có chứng từ chứng minh phía nước ngoài đã gửi tiền vào Việt Nam
Trong các lĩnh vực khác nhau thì điều kiện để trở thành trung gian cung khác nhau Ví dụ, trong lĩnh vực hải quan, muốn trở thành người kinh doanh dịch vụ thủ tục hải quan phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 4
Trang 25khoản 2 Nghị định 79/2005/ NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2005 và Mục II khoản 1 Thông tư 73/2005AT-BTC ngày 5 tháng 9 năm 2005 Các điều kiện
đó là:
Đăng ký kinh doanh theo luật định
Có ngành nghề kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu hoặc dịch vụ khai thuê hải quan ghi tron giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Có ít nhất một nhân viên đại lý hải quan
Đáp ứng điều kiện nối mạng máy tính với cơ quan hải quan Điều này có nghĩa các chứng từ hải quan điện tử phải tuân theo chuẩn dữ liệu của hải quan và hệ thống phần cứng phù hợp Đồng thời, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thủ tục hải quan phải thực hiện được việc truyền số liệu đến cơ quan hải quan và nhận kết quả phản hồi Nhân viên đại lý hải quan phải thặa mãn các điều kiện quy định tại Điều 3 Nghị định 79/2005/NĐ-CP:
Là công dân Việt nam
Bằng từ trung cấp trở lên thuộc cạc ngành kinh tế, luật
Có chứng chỉ về nghiệp vụ khai hải quan
Tương tự, Mục II khoản 3 Thông tư 73/2005ATT-BTC có hướng dẫn chi tiết thêm:
Bằng trung cấp phải là bằng chính quy thuộc các chuyên ngành kinh tế và pháp luật
Các nhân viên của các doanh nghiệp chuyên doanh dịch vụ giao nhận, vận tải và đã trực tiếp làm thử tục hải quan từ 1 năm trở lên nếu có bằng chính quy của các trường từ trung cấp trở lên, cho dù không phải là trường kinh tế và pháp luật thì vẫn coi là đủ điều kiện
1.2 Các loại hợp đồng trung gian thương mại
Hợp đồng môi giới
Theo Luật Thương mại Việt Nam quy định, các bên phải tuân thủ các điều khoản sau của hợp đồng môi giới:
Thứ nhất, bên môi giới thương mại phải có trách nhiệm bảo quản mẫu
hàng, tài liệu và phải hoàn trả lại khi đã hoàn thành đồng thời phải giữ bí mật
Trang 26về thông tin cũng như không được cung cấp những tin có hại đến bên môi giới; không được tham gia vào việc thực hiện hợp đồng trừ trường hợp được yêu cầu
Thứ hai, người được môi giới cũng chính là bên ủy thác có nghĩa vụ phải
cung cấp thông tin, tài liệu cũng như phương tiện cần thiết đồng thời trả thù lao cho người môi giới theo đúng hợp đồng đã ký trước đó
Thứ ba, thanh toán các chi phí phát sinh ngay cả khi việc môi giới không
mang lại nhiều kết quả cho người ủy thác việc môi giới
Trường hợp ngoài ý muốn như các bên không thể quy định được tiền thù lao, Chính phủ Việt Nam có ra quy định: “Tiền thù lao được xác định căn cứ vào giá dịch vụ, nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng, giá dịch vụ không được thỏa thuận về phương pháp xác định cũng như chỉ dẫn, thì theo giá dịch vụ đó trong các điêu kiện thương mại thông thường tại thời điểm giao kết hợp đồng
về phương thức cung ứng dịch vụ, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có liên quan” (Điều 86 Luật Thương mại năm 2005)
Hợp đồng đại lý
Trong hợp đồng đại lý, mối liên quan giữa người ủy thác và người đại lý thường chặt chẽ hơn so với hợp đồng môi giới cũng như mang tính chất dài hạn hơn
Về bố cục của hợp đồng đại lý thường có các nội dung như sau:
Phần giới thiệu: Cơ sở ký kết hợp đồng, các bên liên quan, người đại diện, điện thoại, điện tín, địa chỉ giao nhận, tên ngân hàng…
Ngày hết hạn và ngày hiệu lực của hợp đồng
Sản phẩm
Khu vực lãnh thổ
Quyền của đại lý
Khách hàng trong hợp đồng
Quyền và nghĩa vụ của bên ủy thác
Quyền và nghĩa vụ của bên đại lý
Giá cả
Thù lao và chi phí
Thanh toán
Thanh lý hợp đồng
Trang 27 Chữ ký của các bên
Một số điểm cần lưu ý:
Thứ nhất, về quyền của các bên liên quan, người đại lý có thể là đại lý
thường, đại lý toàn quyền, đại lý độc quyền… mà mức độ quyền hạn và thù lao không giống nhau
Thứ hai, về quyền của nghĩa vụ của các bên trong đó bên ủy thác và bên
đại lý khác nhau Bên ủy thác có quyền chấp nhận các đơn đặt hàng, cung cấp thông tin, bảo vệ quyền của đại lý độc quyền… Còn bên đại lý sẽ bảo vệ lợi ích của bên ủy thác, tuân thủ các điều kiện giao và bán hàng, ngăn cấm cạnh tranh…
Thứ ba, hàng hóa dịch vụ cần phải được quy định chặt chẽ và hợp lý vừa
để đảm bảo quyền lợi của các bên vừa tạo điều kiện thuận lợi để xâm nhập thị trường và tiêu thụ hàng hóa
Thứ tư, thanh toán tiền thù lao sẽ được trả khi việc mua bán hàng hóa,
dịch vụ được người đại lý hoàn thành
Thứ năm, cần lưu ý vấn đề thanh lý hợp đồng
Hợp đồng với nhà phân phối
Theo quy định, Hợp đồng phân phối được định nghĩa là: “Một loại hợp đồng giữa nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp (gọi chung là nhà cung cấp) hàng hóa và nhà phân phối, theo đó nhà phân phối nhân danh chính mình mua hàng hóa của nhà cung cấp để bán lại Nhà phân phối phải chịu trách nhiệm đối với chất lượng của hàng hóa kể từ thời điểm nhà phân phối có quyền sở hữu đối với hàng hóa theo thỏa thuận của các bên Nhà cung cấp hàng hóa có thể chấp thuận chỉ giao hàng hóa cho duy nhất một nhà phân phối trong khu vực địa lý xác định”
Một số điểm khác biệt nổi bật của hợp đồng với nhà phân phối và hợp đồng đại lý là:
Tính cạnh tranh: Thương mại quốc tế phát triển dẫn đến sự ra đời của Luật cạnh tranh Theo Luật cạnh tranh: “Các bên được tự do cạnh tranh bình đẳng với nhau bằng các biện pháp mà luật cho phép”
Sự độc quyền: Sự độc quyền trong kinh doanh sẽ gây ra những hạn chế lớn về tính cạnh tranh hay ngăn cản sự cạnh tranh lành mạnh phát triển
Trang 28 Một sản phẩm đã có nhà cung cấp độc quyền sẽ không thể có các mặt hàng tương tự như vậy xuất hiện trên thị trường dẫn đến môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, giá cả hàng hóa cao, người tiêu dùng không được lợi
Hợp đồng nhượng quyền thương mại
Hợp đồng nhượng quyền thương mại chia là ba loại chính là:
Hợp đồng sản xuất sản phẩm theo hướng dẫn của bên giao quyền thương mại
Hợp đồng theo đó bên nhân quyền tự tổ chức sản xuất rồi bán sản phẩm dưới nhãn hiệu của bên giao quyền thương mại
Hợp đồng phân phối sản phẩm trong đó bên nhận quyền thương mại tự giới hạn việc bán các sản phẩm nhất định trong các cửa hàng mang nhãn hiệu của bên giao quyền thương mại
1.3 Vai trò của hoạt động trung gian thương mại
Vai trò của hoạt động trung gian thương mại đối với nền kinh tế
Trung gian thương mại đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay:
Trung gian thương mại đã mang lại những lợi ích lớn cho các thương nhân trong việc phân phối mạng lưới cũng như phân phối
và tiêu thụ hàng hóa trong và ngoài nước
Trong kinh doanh hay bất kì ngành nghề nào, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa là một vấn đề cốt lõi quyết định việc thành bại của công
ty Chính vì vậy, việc sử dụng trung gian thương mại được coi là một cách tiếp thị có hiệu quả cũng như đạt được hiệu quả kinh tế nhất bởi những lợi ích của nó
Kinh tế thị trường phát triển một phần nhờ vào sự thúc đẩy của các hoạt động trung gian thương mại bởi sự thúc đẩy sản xuất cũng như lưu thông hàng hóa một cách dễ dàng hơn Ví dụ, hoạt động trung gian thương mại phát triển đồng nghĩa với khối lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường tăng lên, sự giao lưu kinh tế giữa các khu vực cũng như các quốc gia được trơn tru, trở nên dễ dàng hơn Hơn nữa, các công ty cũng không cần mất quá nhiều thời gian và nhân lực để tìm hiểu về thị trường bởi các trung gian thương mại có thể giúp họ
Trang 29nắm bắt những thông tin cần thiết một cách kịp thời, chính xác để
từ đó đưa ra được các chính sách marketing cùng những chính sách phát triển đúng đắn giúp công ty đạt được mức lợi nhuận mong muốn
Vai trò của trung gian thương mại đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Đối với xuất nhập khẩu hàng hóa, hoạt động trung gian thương mại đem lại lợi ích vô cùng to lớn:
Tiết kiệm được chi phí nghiên cứu, khảo sát thị trường cũng như đối tượng khách hàng
Bên trung gian thương mại có thể cung cấp các dịch vụ trợ giúp cũng như nguồn tài chính của công ty cho bên ủy quyền
Được phép sử dụng cơ sở vật chất có sẵn của bên trung gian như kho hàng, đội ngũ nhân viên bán hàng…
Giảm thiểu rủi ro phát sinh cũng như những tranh chấp không đáng
có khi tiếp xúc trực tiếp với các khách hàng
Vai trò của trung gian thương mại đối với các ngành dịch vụ
Các ngành dịch vụ có thể kể đến ở đây như vận tải, bảo hiểm… đều là những ngành quan trọng đối với mỗi quốc gia Chính vì vậy sự xuất hiện của trung gian thương mại giúp đẩy mạnh sự phát triển của ngành không chỉ ở phạm vi trong nước
Người kinh doanh sẽ đưa ra các chiến lược cũng như có sự am hiểu
về thị trường hơn nếu như có bên trung gian giúp đỡ tìm hiểu về lĩnh vực đó
Chi phí quảng cáo cũng như các chi phí phát sinh được tiết kiệm
Các ngành nghề sẽ có điều kiện tập hơn để phát triển sản xuất, làm đúng chuyên môn nhằm hoàn thiện sản phẩm mà không cần lo lắng
về vấn đề tìm hiểu thị trường cũng như các tập khách hàng mới
Trang 30CHƯƠNG 2 Thực trạng trong việc sử dụng trung gian thương mại vào
hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam
2.1 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2019
Năm 2016 là một năm đánh dấu mốc quan trọng trong kinh tế thương mại của Việt Nam bởi đây là năm đầu tiên đất nước thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm giai đoạn 2016-2020 diễn ra trong bối cảnh thế giới đang hồi phục nền kinh tế chậm hơn mức dự báo cũng như tăng trưởng thương mại toàn cầu giảm mạnh, hoạt động của thị trường hàng hóa kém sôi nổi, giá cả hàng hóa trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ở mức thấp đến rất thấp Những điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế nước nhà đặc biệt là đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và thu ngân sách nhà nước Dưới đây là những đánh giá về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2019 khi đất nước ta đã đi gần hết chặng đường trong giai đoạn 5 năm Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Tình hình xuất khẩu hàng hóa
2.1.1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng
Tuy đứng trước bối cảnh nền kinh tế toàn cầu gặp khó khăn, hoạt động thương mại của Việt Nam vẫn diễn ra và gặt hái được thành công nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa Có được điều này một phần lớn là nhờ những thành công trong các chính sách hỗ trợ, điều hành của Nhà nước nhằm
hỗ trợ mở rộng thị trường, khuyến khích xuất khẩu, và hạn chế tối đa những bất ổn trong biến động giá cả thế giới Biểu đồ sau sẽ thể hiện rõ hơn về tốc
độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong 4 năm qua
Trang 31Biểu đồ 2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2016-2019
Nguồn: Tổng cục hải quan Nhìn vào biểu đồ trên ta có thể thấy được tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam ngày càng cao, từ mức 176,6 tỷ USD năm 2016 nâng lên 264,19 tỷ USD năm 2019 tức tăng hơn 1,5 lần Điểm sáng hơn cả là xuất khẩu năm 2018 đạt 243,48 tỷ USD tức là tăng 13,2% so với năm 2017,
đã vượt qua chỉ tiêu kế hoạch được cả Quốc hội và Chính phủ Việt Nam giao (chỉ tiêu Quốc hội giao tăng 7-8%; chỉ tiêu Chính phủ giao tăng 8-10% - Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ) Nếu tính theo giá trị tuyệt đối, xuất khẩu năm 2018 tăng thêm 28,36 tỷ USD so với năm 2017 Điều đáng nói đây chính
là năm thứ 3 Việt Nam có xuất siêu và cũng là năm thặng dư cán cân thương mại đạt mức cao nhất cho đến thời điểm ghi nhận Mức thặng dư kỷ lục đạt được năm 2018 là gần 6,8 tỷ USD, gần gấp 3 lần so với thặng dư năm 2017 (2,11 tỷ USD)
Có được những thành quả đáng tự hào này là nhờ vào các yếu tố khách quan và chủ quan tác động Về yếu tố khách quan, kinh tế thế giới đã và đang dần dần phục hồi phát triển chính vì vậy, nhu cầu về hàng hóa nhu yếu phẩm, giải trí dịch vụ cũng tăng cao đồng nghĩa với các đơn hàng nhập khẩu cũng gia tăng Về yếu tố chủ quan, Chính phủ nước ta đã đề ra những chính sách hết sức cụ thể và đúng đắn nhằm thúc đẩy xuất khẩu, mang lại những hiệu quả tích cực đối với sản xuất công-nông-lâm-thủy Hơn thế nữa, nhiều mặt
Trang 32hàng của nước ta cũng đang dần khẳng định những ưu thế và chất lượng trên trường quốc tế như hàng dệt may, gạo, thủ công mỹ nghệ, cà phê,
2.1.1.2 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2016-2019 có nhiều biến động giữa các nhóm ngành Cụ thể sẽ được thể hiện ở bảng như sau:
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng chính năm 2016-2019
Nhóm hàng nông sản (bao gồm hàng rau
quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và
Trang 33Về phía nhóm ngành điện thoại các loại và linh kiện, năm 2019 là một năm đánh dấu cột mốc quan trọng khi lượng xuất khẩu các mặt hàng trong nhóm ngành này đạt kỷ lục mới, tăng 4,4% so với năm 2018 và tăng 1,5 lần
so với năm 2016 Đây là một kết quả đáng mừng cho nền kinh tế Việt Nam cũng như là bước tiến mới của nước nhà trong ngành công nghiệp này
Máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện là nhóm ngành đứng thứ hai sau nhóm ngành điện thoại các loại và linh kiện Nhóm hàng này đã có sự tăng trưởng vượt bậc khi tăng trưởng đến 21,5% so với năm 2018 và gấp 1,9 lần so với năm 2016, 1,3 lần so với năm 2017 Đây tiếp tục là một thành tựu mà Việt Nam cần phải tiếp tục phát huy trong năm 2020 giữa bối cảnh nền kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch Covid-19
Các nhóm ngành dệt may, giày dép, nông sản, thủy sản, gỗ là thế mạnh của Việt Nam bởi nước ta là nước nông nghiệp, có truyền thống cũng như đầy
đủ điều kiện, kinh nghiệm, nhân lực để tiếp tục phát huy, nâng tầm và phát triển những ngành nghề này ra thế giới Hơn hết, Việt Nam là một nước có lợi thế lao động giá rẻ, khéo léo cùng chất lượng khá ổn định và được đánh giá là
có khả năng cạnh tranh với các nước khác trong khu vực
2.1.1.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu
Chính phủ đã đề ra các chiến lược đa dạng hóa và mở rộng thị trường chính vì vậy hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã xuất hiện trên hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ đồng thời dần khẳng định vị thế của mình bằng chính chất lượng và giá thành cạnh tranh
Trang 34Bảng 2.2 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ở một số thị trường lớn giai đoạn
và gia tăng đều qua từng năm Tuy nhiên, thị trường Châu Mỹ đặc biệt là Hoa
Kỳ có sức tăng ấn tượng từ 38,46 tỷ USD năm 2016 tăng lên 61,35 tỷ USD vào năm 2019, gần gấp đôi mức tăng trưởng Điều này chứng minh rằng các chính sách của Chính phủ vô cùng đứng đắn và phù hợp, là bước đệm cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển Hơn thế nữa, năng lực chuyên môn và chất lượng sản phẩm của các mặt hàng đến từ Việt Nam ngày càng tốt, tạo được sự tin tưởng đến từ các khách hàng của thị trường nước ngoài Thị trường Châu
Âu cũng là thị trường tiềm năng đứng thứ 3 khi tỷ trọng xuất khẩu đã tăng từ 37,84 tỷ USD năm 2016 lên 47,27 tỷ USD năm 2019 trong đó 28 nước thành viên của EU chiếm phần lớn lượng hàng hóa tiêu thụ
Nhìn chung lại, cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2019 đều có mức tăng trưởng thậm chí một số ngành nghề còn đạt mức tăng trưởng kỷ lục Đây là một thành tích đáng tự hào mà nước ta cần tiếp tục đẩy mạnh và phát huy trong các giai đoạn tiếp theo
Trang 35Tình hình nhập khẩu hàng hóa
2.1.2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng
Trong giai đoạn 2016-2019, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng tự hào, tăng trưởng qua từng năm chính vì vậy, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa và mua sắm của người tiêu dùng cũng gia tăng, lượng hàng hóa được nhập khẩu cũng tăng trưởng
Biểu đồ 2.2 Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2016-2019
Nguồn: Tổng cục hải quan Nhìn vào biểu đồ trên, nếu như kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam năm
2016 là 174,8 tỷ USD thì năm 2019 là 253,07 tỷ USD, tăng gấp 1,4 lần Mức tăng nhập khẩu đều qua từng năm như vậy phản ánh sự phục hồi trong sản xuất, kinh tế, xã hội, con người cũng như tiêu dùng của cả nước Đây là tín hiệu đáng mừng cùng với sự tăng trưởng đều của kim ngạch xuất khẩu
2.1.2.2 Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu
Nhóm hàng nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2019 nhìn chung cũng tương tự với nhóm hàng xuất khẩu Số liệu cụ thể được trình bày theo bảng sau: