Ví dụ như vật liệu sắt từ được hình thành từ những đômen, trong lòng một đômen, các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song song với mô- men
Trang 1Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐỂ ỨNG DỤNG TRONG Y SINH HỌC
Chuyên ngành: Vật liệu và Linh kiện Nanơ
Mã số: (Chuyên ngành đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học PGS TS Trần Hồng Hải Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
Trang 2
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 01
CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT VỀ TỪ HỌC, VẬT LIỆU TỪ VÀ CÁC HẠT NANÔ ÔXIT SẮT SIÊU THUẬN TỪ Fe 3 O 4 04
1.1. CƠ SỞ TỪ TÍNH TRONG CÁC LOẠI VẬT LIỆU TỪ……… ….04
1.1.1.Mômen từ quĩ đạo của điện tử……… 04
1.1.2.Mômen từ spin của điện tử……… 05
1.1.3.Mômen từ nguyên tử……… 06
1.1.4.Các khái niệm cơ bản……… 06
1 2 ĐƯỜNG CONG TỪ TRỄ VÀ PHÂN LOẠI CÁC VẬT LIỆU TỪ……….08
1.2.1 Chu trình từ trễ trong vật liệu sắt từ và feri từ……… 08
1.2.2.Vật liệu thuận từ……… 09
1.2.3.Vật liệu nghịch từ……… 09
1.2.4.Vật liệu sắt từ……… 09
1.2.5.Vật liệu phản sắt từ……… … 10
1.2.6.Vật liệu feri từ (ferit) 10
1.3 TÍNH CHẤT SIÊU THUẬN TỪ VÀ HẠT NANÔ ÔXIT SẮT TỪ Fe3O4……… 11
1.3.1 Bản chất đơn đômen và tính chất siêu thuận từ……… 11
1.3.2 Siêu thuận từ……… 12
1.3.3 Hạt nanô Ôxit sắt từ Fe3O4……… 14
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LỎNG TỪ (MAGNETIC FLUIDS)…… 18
2.1 KHÁI NỆM……… 18
2.2.ĐẶC TRƯNG CỦA CHẤT LỎNGTỪ……… 18
2.2.1.Sự cân bằng nồng độ hạt từ……… 18
2.2.2 Độ ổn định……… 19
2.2.3.Từ độ của chất lỏng từ……… 20
2.2.4.Khối lượng riêng của chất lỏng từ………20
2.2.4.Khối lượng riêng của chất lỏng từ………20
2.2.5.Độ nhớt của chất lỏng từ……… 21
2 3.TƯƠNG TÁC TRONG CHẤT LỎNG TỪ……….22
2.3.1.Tương tác giữa những hạt từ - sự hình thành chuỗi……… 22
2.3.2 Tương tác giữa các thành phần của chất lỏng từ……… 23
Trang 3Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
CHƯƠNG 3 NGUYÊN LÝ CHỤP ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ MRI VÀ CÁC ỨNG DỤNG
CỦA HẠT NANÔ ÔXIT SẮT TỪ TRONG Y SINH HỌC……….25
3.1 NGUYÊN LÝ CHỤP ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ………25
3.1.1 Cộng hưởng từ hạt nhân……… 25
3.1.2 Cấu tạo và hoạt động của máy chụp ảnh cộng hưởng từ MRI……… 30
3.2 ỨNG DỤNG CỦA HẠT NANÔ ÔXIT SẮT TỪ Fe3O4 VÀ CHẤT LỎNG TỪ TRONG LĨNH VỰC Y SINH HỌC……….34
3.2.1.Tăng tính tương phản cho ảnh cộng hưởng từ………34
3.2.2 Phân tách và chọn lọc tế bào……… 37
3.2.3 Dẫn truyền thuốc……… 38
3.2.4 Nâng thân nhiệt cục bộ……… 40
3.2.5.Vá mô……….41
3.2.6 Dùng hạt nanô từ để khử độc……… 41
CHƯƠNG 4 CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP VÀ PHÂN TÍCH HẠT NANÔ TỪ VÀ CHẤT LỎNG TỪ ……….………42
4.1 CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP HẠT NANO TỪ VÀ CHẤT LỎNG TỪ ……… 42
4.1.1 Phương pháp nghiền bi……….42
4.1.2 Phương pháp ngưng tụ……….42
4.1.3 Phương pháp sol-gel……….43
4.1.4 Phương pháp vi nhũ tương……… 43
4.1.5 Phương pháp đồng kết tủa hạt……… 44
4.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HẠT NANO TỪ VÀ CHẤT LỎNG TỪ ………44
4.2.1 Nhiễu xạ tia X……… 44
4.2.2 Từ kế mẫu rung……….46
4.2.3 Kính hiển vi điện tử truyền qua………47
4.2.4 Kính hiển vi điện tử quét……… 48
4.2.5 Máy đo phổ hấp thụ hồng ngoại: FT-IR ……… 50
CHƯƠNG 5 THỰC NGHIỆM - CHẾ TẠO CÁC HẠT NANÔ ÔXIT SẮT SIÊU THUẬN TỪ VÀ CHẤT LỎNG TỪ……… 51
5.1.MỤC ĐÍCH………51
Trang 4Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
5.2 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM ……… 51
5.2.1 Thiết bị……… 51
5.2.2 Hóa chất ……… 51
5.2.3 Quá trình thực nghiệm……… 53
CHƯƠNG 6 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ BIỆN LUẬN……….62
6.1 KHẢO SÁT CẤU TRÚC PHA VÀ KÍCH THƯỚC HẠT CỦA CÁC HẠT NANÔ ÔXIT SẮT TỪ VÀ CHẤT LỎNG TỪ ……… 62
6.2 KHẢO SÁT TÍNH CHẤT TỪ CỦA CÁC HẠT NANÔ ÔXIT SẮT TỪ VÀ CHẤT LỎNG TỪ ……… 65
6.3 PHỔ HẤP THỤ HỒNG NGOẠI FT-IR………68
6.4 PHÂN TÍCH HÌNH DẠNG HỌC, KÍCH THƯỚC HẠT VÀ PHÂN BỐ HẠT……… 69
6.5 KIỂM TRA QUÁ TRÌNH LÃO HÓA CỦA CÁC CHẤT LỎNG TỪ ………72
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI ……….74
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN……… 76
Tài liệu tham khảo 78
PHỤ LỤC………80
Trang 5Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1.1 : Quĩ đạo chuyển động của điện tử xung quanh hạt nhân 04
Hình 1.2 Chu trình từ trễ của vật liệu sắt từ……….08
Hình 1 3 Mô hình về cấu trúc mômen từ của chất thuận từ……… 09
Hình 1.4 Cấu trúc từ của vật liệu phản sắt từ……… 10
Hình 1.5 Trật tự mômen từ của các chất (a) nghịch từ, (b) thuận từ, (c) sắt từ, (d) phản sắt từ, (e) feri từ……… 11
Hình 1.6 Bảng phân loại từ tính theo các nguyên tố……… 11
Hình 1.7 Đường biểu diễn lực kháng từ HC theo kích thước hạt……… 13
Hình 1.8: Đường cong từ hóa của vật liệu siêu thuận từ……… 14
Hình 1.9: Cấu trúc tinh thể ferit thường gặp……… 15
Hình 1.10 Sự sắp xếp các spin trong một phân tử sắt từ Fe3O4……… 16
Hình 1.11 Sự định hướng của các hạt siêu thuận từ khi có từ trường và khi từ trường bị ngắt……… 17
Hình 3.1 Giản đồ của hạt nhân hydrogen trước và sau khi đặt từ trường B0 26
Hình 3.2 Giản đồ mô tả đặc tính của vector từ độ M khi đặt trong xung RF 27
Hình 3.3 Quá trình hồi phục ngang và dọc của spin hạt nhân………28
Trang 6Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Hình 3.4 Ảnh MRI của não 30
Hình 3.5 Máy chụp ảnh cộng hưởng từ MRI 31
Hình 3.6: Ảnh MRI của tuỷ sống và não 31
Hình 3.7 Thiết kế cơ bản của một máy MRI 32
Hình 3.8 Sơ đồ phân tách tế bào đơn giản 38
Hình 3.9 Thuốc được định vị tại nơi cần điều trị 39
Hình 4.1 Máy đo phổ nhiễu xạ tia X 45
Hình 4.2 Mô hình từ kế mẫu rung 46
Hình 4.3 Kính hiển vi điện tử truyền qua 48
Hình 4.4 Sơ đồ nguyên lý cấu tạo của SEM 49
Hình 4.5 Kính hiển vi điện tử quét………49
Hình 4.6 Máy đo phổ hấp thụ hồng ngoại FT-IR 50
Hình 5.1 Bột Dextran ……… 52
Hình 5.2 Sơ đồ chế tạo các hạt nanô ôxit sắt từ Fe3 O 4 54
Hình 5.3 Qui trình chế tạo các hạt nanô ôxit sắt siêu thuận từ Fe3 O 4 55
Hình 5.4: Mô hình biểu diễn sự gắn kết Dextran lên bề mặt hạt nanô Fe3O4 57
Hình 5.5 Sơ đồ chế tạo chất lỏng từ sau quá trình tạo hạt .57
Hình 5.6 Qui trình tổng hợp chất lỏng từ từ các hạt Fe3 O 4 đã chế tạo trước đó 58
Trang 7Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Hình 5.7 Sơ đồ chế tạo chất lỏng từ song song với quá trình tạo hạt Fe3 O 4 59
Hình 5.8 Qui trình chế tạo chất lỏng từ song song với quá trình tạo hạt Fe 3 O 4 60
Hình 6.1 Giản đồ nhiễu xạ tia X của các mẫu hạt trần Fe3 O 4 62
Hình 6.2 Giản đồ nhiễu xạ tia X của các mẫu chất lỏng từ LD2 và LD4 64
Hình 6.3 Đường cong từ hóa của các mẫu hạt trần Fe3O4 66
Hình 6.4 Độ từ hóa của các mẫu chất lỏng từ 67
Hình 6.5 Phổ hấp phụ hồng ngoại của các mẫu chất lỏng từ 68
Hình 6.6 Ảnh SEM của mẫu LH2 69
Hình 6.7 Ảnh SEM của mẫu LDH4 69
Hình 6.8 Ảnh SEM của mẫu LH1 70
Hình 6.9 Ảnh SEM của mẫu LD2 70
Hình 6.10 Ảnh TEM mẫu LDH2 71
Hình 6.11 Ảnh TEM mẫu LD1 71
Hình 6.12 Ảnh MRI chụp gan thỏ tại Bệnh viện Chợ RẪY 73
Trang 8Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các đại lượng từ và các hệ số chuyển đổi giữa 2 hệ SI và CGS 07
Bảng 5.1: Các mẫu hạt Fe3 O 4 được tổng hợp theo các điều kiện khác nhau 56
Bảng 5.2 Các mẫu chất lỏng từ chế tạo theo qui trình 1 ở các điều kiện thí nghiệm khác nhau 59
Bảng 5.3 Các mẫu từ lỏng được tổng hợp theo qui trình 2 ở các điều kiện thí nghiệm khác nhau 61
Bảng 6.1 Kích thước hạt tính theo công thức Scherrer của các mẫu hạt trần Fe3O4 .63
Bảng 6.2 Kích thước hạt của các mẫu chất lỏng từ LD 65
Bảng 6.3 Kích thước hạt và độ từ hóa của các mẫu LH 66
Bảng 6.4 Độ từ hóa của các mẫu chất lỏng từ 67
Bảng 6.5 Kích thước của các hạt trần Fe3O4 căn cứ theo các hình SEM 70
Bảng 6.6 Kích thước của các mẫu chất lỏng từ căn cứ theo các hình SEM 71
Bảng 6.7 Giá trị từ hóa bão hòa và sự kết tụ của các mẫu từ lỏng theo thời gian 72
Bảng 6.8 Kết quả kiểm tra độ độc tố của các mẫu chất lỏng từ trên chuột 73
Trang 9Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
MỞ ĐẦU
Khoa học và công nghệ vật liệu nanô với những đặc tính kì lạ đã và đang thâm nhập vào toàn bộ lĩnh vực đời sống và kinh tế của thế giới Với kích thước nano các loại vật liệu này có thể can thiệp đến từng phân tử -nguyên tử, điều này đặc biệt quan trọng trong ứng dụng y-sinh học
Theo định nghĩa thì vật liệu nanô là vật liệu có cấu trúc khoảng từ 1nm đến dưới 100nm Ở kích thước đó, nhiều tính chất về sinh học, hoá học và vật lý được tăng cường, thay đổi hoặc khác hoàn toàn so với vật liệu khối tương ứng Nhờ vậy mà chúng có những tính chất kỳ diệu mà ở vật liệu khối không có được Ví dụ như vật liệu sắt từ được hình thành từ những đômen, trong lòng một đômen, các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song song với mô- men từ của nguyên tử ở một đômen khác Giữa hai đômen có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đômen Độ dày của vách đômen phụ thuộc vào bản chất của vật liệu
mà có thể dày từ 10-100 nm Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng
độ dày vách đômen thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đômen này tác động lên nguyên tử ở đômen khác Do
đó vật liệu nano từ tính ngày nay có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong lĩnh vực sinh học để dùng trong việc chẩn đóan cũng như điều trị những căn bệnh ung thư và bệnh nan y ở người
Như chúng ta đã biết thì đối với các bệnh ung thư hay nan y, việc chẩn đoán chính xác bệnh có tính chất quyết định đến sự sống còn của bệnh nhân và vì vậy con người không ngừng cải thiện các phương pháp chẩn đoán bệnh Hiện nay thực trạng tỷ lệ người dân mắc các bệnh ung thư trong nước ngày càng gia tăng Công bố mới nhất của hội ung thư Tp HCM con số này tăng với khoảng vài triệu bệnh nhân mỗi năm Theo các nhà nghiên cứu, sự gia tăng này liên quan đến chế độ ăn uống, sự thay đổi của khí hậu, môi trường sống Như vậy bệnh ung thư đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe người bệnh và có tỉ lệ tử vong rất cao khi những khối u ác tính thường tiến triển chậm và biểu hiện của bệnh thường diễn ra âm thầm hàng năm trời trước khi được phát hiện bằng những chẩn đoán lâm sàng Hầu hết các loại bệnh ung thư đều có khả năng được chữa lành với xác xuất lớn nếu như bệnh được phát hiện sớm Nếu có các triệu chứng của bệnh rồi mới đi tìm bệnh thì có thể bướu đã lớn và di căn sang chỗ khác, và việc chữa trị bằng thuốc men hay giải phẫu sẽ không dứt hẳn bệnh Do đó tất cả cố gắng của y học là làm thế nào chẩn đoán bệnh càng sớm thì khả năng trị dứt hẳn bệnh càng cao
Trang 10
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Trong y học ngày nay, những thiết bị kỹ thuật cao đã được sử dụng phổ biến nhằm
hỗ trợ cho quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh và đã mang lại những kết quả nhanh
chóng và chính xác Trong đó, kỹ thuật chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI - Magnetic
Resonance Imaging) được xem là một trong những kỹ thuật tiên tiến nhất vì nó có
khả năng phát hiện những mầm bệnh tiềm ẩn trong cơ thể trên cả vùng mô mềm lẫn
Trên thế giới trong các cơ sở chuẩn đoán y khoa bằng hình ảnh MRI, người ta thường sử dụng chất tương phản thuận từ là những vật liệu nền Gd như: Gd-DTPA (Magnevist), Gd - DOTA (Dotarem), Gd - DTPA - BMA (Ommiscan), Gd - DOBA (Prohance), Gd - BOPTA (Multihance) Còn ở nước ta, Gd - DPTA (Magnevist) đang được sử dụng Những vật liệu này (Magnevist, Eovist) đều có khả năng tạo tương phản tương đối và không gây ảnh hưởng cho bệnh nhân Tuy nhiên, khả năng tăng cường độ tương phản của những vật liệu này vẫn còn tương đối thấp hơn nhiều so với vật liệu siêu thuận từ Đối với nhiều bệnh lý, nếu sử dụng chất tương phản siêu thuận từ thì khả năng nghiên cứu giải phẫu và điều trị sẽ đạt mức độ thành công cao hơn Những hạt siêu thuận từ kích thước lớn khoảng 10-25nm với lớp phủ polymer đã được sản xuất và đưa vào sử dụng trên thế giới như: AMI – 25 (lớp phủ ferumoxid), SHU – 555A (lớp phủ ferucarbontran), ENDO – REM®, RESOVIST® (lớp phủ Dextran), SPIO Feridex®,…Nhưng giá nhập khẩu của các chất tăng cường tương phản cho ảnh chụp cộng hưởng từ này khá đắt (200 USD cho một liều dùng)
Hiện tại, những chất tăng cường tương phản đang được sử dụng tại Việt Nam đều là chất tương phản thuận từ và được mua từ nước ngoài với một mức giá tương đối cao,
vì thế rất khó cho bệnh nhân lao động nghèo có thể sử dụng những kỹ thuật hiện đại để chẩn đoán các bệnh hiểm nghèo
Từ những đòi hỏi cấp thiết như vậy chúng tôi dự định nghiên cứu và tổng hợp các tác nhân tăng cường tính tương phản cho ảnh MRI có kích thước nano và tính tương thích sinh học dựa trên các hạt nano ôxít sắt Fe3O4 siêu thuận từ Nghiên cứu tổng hợp các tác nhân tăng cường tính tương phản cho ảnh cộng hưởng từ có kích thước đủ nhỏ
để có thể đi sâu vào các tế bào mà không có độc tính, không làm ảnh hưởng đến chức năng của các cơ quan có ý nghĩa thực tiễn rất cao và là một cách tiếp cận rất tiên tiến
Từ đó chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu để đưa ra qui trình tổng hợp hoàn chỉnh có tính khả thi cao và phù hợp với hoàn cảnh ở Việt nam
Trang 11
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Như vậy nghiên cứu của chúng tôi mang tên “Tổng hợp các hạt Nanô từ có các
lớp phủ Polymer tương thích sinh học để ứng dụng trong y sinh học” là một
nghiên cứu có khả năng ứng dụng hoàn toàn mới tại Việt Nam Vật liệu chế tạo là những tác nhân tăng cường tính tương phản dựa trên những hạt từ nanô Fe3O4 siêu
thuận từ được phủ bởi lớp polymer tương hợp sinh học (Dextran) có khả năng ứng
dụng rất lớn trong lĩnh vực y sinh do bởi tính không độc tố, có khả năng tự đào thải và đặc biệt là nó có một độ từ cảm khá lớn
Chất lỏng từ có tính tương hợp sinh học và kích cỡ nano có tính khả thi cao nhất để dùng làm các tác nhân tăng cường tính tương phản trong MRI Đề tài là một giải pháp hữu hiệu trong việc nâng cao hiệu quả chẩn đoán các bệnh hiểm nghèo với giá thành hợp lý, rất phù hợp với điều kiện trong nước hiện nay
Mục đích của đề tài là :
1 Nghiên cứu về vật liệu siêu thuận từ (đặc trưng ,tính chất ), công nghệ tổng
hợp các hạt nanô từ và các ứng dụng của chúng trong y sinh học
2 Nghiên cứu về cộng hưởng từ hạt nhân (nguyên lý , hoạt động ) và các tác
nhân tương phản siêu thuận từ cho ảnh cộng hưởng từ
3 Chế tạo các hạt ôxít sắt từ Fe3O4 có kích thước nano với độ tinh khiết cao
4 Tổng hợp chất lỏng từ có tính tương thích sinh học dựa trên các hạt nano
Fe3O4 siêu thuận từ được phủ polymer tương hợp sinh học để làm các tác nhân tăng cường tính tương phản trong MRI
5 Nghiên cứu các đặc tính từ, đặc tính cơ lý và tính tương hợp sinh học của
các tác nhân trên
6 Nghiên cứu để tối ưu hóa các tính chất của các tác nhân tương phản từ đó
đưa ra qui trình chế tạo hoàn chỉnh Tiến tới thay thế các sản phẩm ngoại nhập bằng sản phẩm trong nước được chế tạo phù hợp với hoàn cảnh Việt nam
Nội dung của đề tài này gồm có các phần chính:
♣ Tổng quan về các hạt nanô ôxit sắt siêu thuận từ Fe3O4 và chất lỏng từ
♣ Thực nghiệm tổng hợp các hạt nanô từ Fe3O4 và tác nhân tương phản
♣ Kết quả và biện luận
♣ Kết luận và hướng phát triển của đề tài trong tương lai
Trang 12
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ TỪ HỌC, VẬT LIỆU TỪ VÀ CÁC HẠT NANÔ ÔXIT SẮT SIÊU THUẬN TỪ Fe O 3 4
1.1.CƠ SỞ TỪ TÍNH TRONG CÁC LOẠI VẬT LIỆU TỪ
Nguồn gốc cơ bản của hiện tượng từ ở trong vật liệu là do chuyển động quĩ đạo và chuyển động spin của các điện tử Tương ứng với hai kiểu chuyển động này sẽ có hai loại mômen từ tương ứng là mômen từ quĩ đạo và mômen từ spin
1.1.1 Mômen từ quĩ đạo của điện tử [6]
Chuyển động của điện tử trên quĩ đạo tròn bán kính r với vận tốc dài v và vận tốc
góc ω xung quanh hạt nhân (Hình 1.1)có mômen cơ (mômen động lượng):
Trang 13Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Theo cơ học lượng tử, giá trị của L1 có thể được biểu diễn qua số lượng tử l như sau
Manhêtôn Borh thường được sử dụng như là một đơn vị đo từ độ của các nguyên tử
1.1.2 Mômen từ spin của điện tử [6]
Điện tử không chỉ chuyển động xung quanh hạt nhân mà còn tự quay xung quanh trục của nó Chuyển động quay này liên quan đến một mômen spin nội tại Có thể tưởng tượng rằng, một điện tử như một hình cầu có điện tích phân phối trên toàn bề mặt Sự quay của các điện tích này sinh ra các dòng điện và do đó sinh ra mômen từ hướng dọc theo trục quay
Tương tự như trong trường hợp của chuyển động quĩ đạo có thể biểu diễn được mối
liên hệ giữa các mômen cơ spin (mômen xung lượng spin) L và mômen từ spin m s s
Tuy nhiên, trong trường hợp này, hệ số từ hồi chuyển spin γ có giá trị lớn gấp đôi γs 1
Trang 14
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
1.1.3 Mômen từ nguyên tử
Mômen từ của nguyên tử gồm tổng các mômen từ của các điện tử và mômen từ của hạt nhân nguyên tử Nhưng vì mômen từ của hạt nhân nguyên tử nhỏ hơn hàng nghìn lần tổng các mômen từ của các điện tử nên khi xét đến tính chất từ của vật liệu ta có thể không xét đến mômen từ của hạt nhân nguyên tử
Như vậy, mỗi điện tử trong nguyên tử có thể xem như một nam châm vĩnh cửu nhỏ
có mômen từ quỹ đạo và mômen từ spin Trong mỗi nguyên tử cô lập, mômen từ quỹ đạo cũng như mômen từ spin triệt tiêu lẫn nhau Mômen từ của một nguyên tử chính là tổng mômen từ của các điện tử trong nguyên tử, bao gồm cả mômen từ quỹ đạo và mômen từ spin
1.1.4 Các khái niệm cơ bản [9]
Cường độ từ trường (H)
Từ trường là khoảng không gian trong đó một cực từ chịu tác dụng của một lực Từ trường có thể gây ra bởi một cực từ khác hoặc bởi một dòng điện Cường độ từ trường biểu thị độ mạnh yếu của từ trường, không phụ thuộc vào môi trường xung quanh, thường kí hiệu là H Trong hệ đơn vị chuẩn SI, cường độ từ trường H có đơn vị là Ampe–vòng/mét (A/m) Ngoài ra, khi nghiên cứu từ học, vì sự liên quan giữa hoá học, vật lý và khoa học vật liệu nên người ta hay sử dụng một hệ đơn vị khác là hệ CGS Trong hệ này, đơn vị của H là Oesterd (Oe)
Độ từ hoá (M)
Vật liệu từ khi đặt trong từ trường đều bị từ hoá, hoặc nhiều hoặc ít Độ từ hoá M
(magnetization) hay độ nhiễm từ (intensity of magnetization) là mômen từ của vật liệu
từ tính trên một đơn vị thể tích Đó là một vectơ hướng từ cực nam đến cực bắc của một thanh nam châm Đơn vị của độ từ hoá M là Wbm/m3 = Wb/m2 (Tesla)
Như vậy, hệ số chuyển đổi từ hệ SI sang hệ CGS của cảm ứng từ B và độ từ hoá M
là khác nhau Đối với B ta có: 1Wb/m2 =104 Gauss
Trang 15
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Một số đại lượng khác
Bên cạnh đó, các đại lượng độ từ cảm (magnetic susceptibility) và độ từ thẩm (magnetic permeability) của vật liệu từ cũng là những thông số quan trọng cho biết loại vật liệu từ (thuận từ, nghịch từ, …) và độ mạnh của hiệu ứng từ liên quan đến vật liệu từ riêng biệt
Độ từ cảm χ là tỉ số của độ từ hoá M và từ trường H:
Bảng 1.1 Các đại lượng từ và các hệ số chuyển đổi giữa 2 hệ SI và CGS
Ký hiệu
Hệ số chuyển đổi
nguyên
Độ từ thẩm μ Henry/m (H/m) ––
Không thứ nguyên
Độ từ cảm χ emu.cm-3.Oe-1 4π
Độ từ thẩm chân
không
Không thứ nguyên
–7Henry/m (H/m) 4π.10μo
1.2 ĐƯỜNG CONG TỪ TRỄ VÀ PHÂN LOẠI CÁC VẬT LIỆU TỪ[1,5]
Trang 16
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
1.2.1 Chu trình từ trễ trong vật liệu sắt từ và feri từ
Đường cong từ trễ cung cấp các thông tin về từ tính của vật liệu như lực kháng từ (Hc), từ độ bão hòa (Ms) và độ từ dư (Mr) (hay cảm ứng từ dư Br) Chu trình từ trễ được tạo ra do khi cung cấp từ trường và sau đó bị ngắt, vật liệu còn giữ lại một ít độ
từ hóa, được gọi là độ từ dư Để độ từ hóa trở về không, từ trường cung cấp phải có hướng ngược lại cho đến khi không còn độ từ hóa Giá trị cường độ từ trường cần thiết
để làm việc này gọi là lực kháng từ HC Nếu từ trường cung cấp đã bão hòa trong hướng ngược lại và bị ngắt, sau đó cung cấp từ trường một lần nữa theo hướng dương, chu trình từ trễ được hình thành (Hình 1.2)
Lực kháng từ
Độ từ dư
Hình 1.2 Chu trình từ trễ của vật liệu sắt từ
Vật liệu thể hiện tính trễ có thể được phân loại thành từ cứng và từ mềm Từ cứng
có lực kháng từ lớn Do đó nó có một vùng diện tích lớn trong chu trình từ trễ Nó được gọi là từ cứng vì độ từ hóa khó đạt đến bão hòa và lực kháng từ khó giảm về không Từ mềm có lực kháng từ thấp Điều đó có nghĩa là để đạt đến độ từ hóa bão hòa thì cần từ trường nhỏ hơn nhiều so với trường hợp từ cứng
Ngoài cách phân loại dựa theo giá trị của lực kháng từ, việc phân loại các vật liệu
từ còn được tiến hành dựa vào hệ số từ hóa χ
1.2.2.Vật liệu thuận từ
Trang 17
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
-4 Chất thuận từ là chất có độ cảm từ χ > 0 nhưng rất nhỏ, cỡ 10 Các chất thuận từ khi chưa bị từ hóa đã có mômen từ nguyên tử nhưng do chuyển động nhiệt các mômen này sắp xếp hỗn loạn và mômen từ tổng cộng của toàn khối bằng không (Hình 1.3) Khi đặt chất thuận từ vào từ trường ngoài thì các mômen từ trong chúng định hướng song song, cùng chiều với từ trường ngoài và do đó chúng có độ từ hóa dương tuy rất nhỏ
Ở phần lớn các chất thuận từ, độ cảm từ phụ thuộc nhiệt độ theo định luật Curie:
1.2.4.Vật liệu sắt từ
Sắt từ có độ cảm từ có giá trị rất lớn, cỡ 106 Sắt từ là vật liệu từ mạnh, trong chúng luôn tồn tại các mômen từ tự phát, sắp xếp một cách có trật tự ngay cả khi không có từ trường ngoài
Trong trạng thái khử từ (H = 0) mômen từ tổng cộng của sắt từ bằng không là do trong vật chia thành những vùng vi mô riêng lẻ, gọi là các đômen Bên trong mỗi vùng, mômen từ của các nguyên tử hướng song song với nhau nhưng mômen từ của các vùng khác nhau hướng khác nhau nên tổng các mômen từ của cả vật bằng không
Trang 18Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Trong quá trình từ hóa vật liệu, từ trường ngoài chỉ có tác dụng định hướng mômen từ của các đômen Điều này giải thích vì sao chỉ cần một từ trường nhỏ cũng có thể từ hóa bão hòa sắt từ Có thể coi sắt từ là vật liệu có trật tự từ
1.2.5.Vật liệu phản sắt từ
Phản sắt từ có χ ∼ 10-4 nhỏ Tương tự như sắt từ, phản sắt từ là các chất được cấu tạo từ những đômen từ, có trật tự từ và từ tính rất mạnh Ở phản sắt từ các mômen từ nguyên tử có giá trị bằng nhau nhưng định hướng đối song song với nhau từng đôi một nên mômen từ tổng cộng của vật luôn luôn bằng không khi không có từ trường ngoài
Hình 1.4 Cấu trúc từ của vật liệu phản sắt từ
1.2.6.Vật liệu feri từ (ferit)
Ferit có độ cảm từ có giá trị khá lớn, gần bằng của sắt từ (∼ 104) và cũng tồn tại các mômen từ tự phát Tuy nhiên cấu trúc tinh thể của chúng gồm hai phân mạng mà ở đó các mômen từ spin (do sự tự quay của điện tử tạo ra) có giá trị khác nhau và sắp xếp phản song song với nhau, do đó từ độ tổng cộng khác không ngay cả khi không có từ trường ngoài tác dụng, trong vùng nhiệt độ T < TC
Trang 19
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
1.3 TÍNH CHẤT SIÊU THUẬN TỪ VÀ HẠT NANÔ ÔXIT SẮT TỪ Fe3O4 1.3.1 Bản chất đơn đômen và tính chất siêu thuận từ [6,7, 28]
Sự phân chia thành đômen là tính chất hết sức độc đáo của vật liệu từ Nguyên nhân của sự phân chia thành đômen như vậy là do sự giảm năng lượng tự do của vật thể bằng cách giảm trường phân tán ở ngoài mặt của vật thể Tuy nhiên, sự phân chia đômen lại làm tăng năng lượng tự do của hệ, bằng dạng năng lượng ở vách đômen Kết quả là sự phân chia sẽ dừng lại ở cấu hình nào mà năng lượng tự do của hệ đạt cực tiểu
Hình 1.5 Trật tự mômen từ của các chất (a) nghịch từ, (b)
thuận từ, (c) sắt từ, (d) phản sắt từ, (e) feri từ
Trang 20Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Trong những hạt có kích thước đủ nhỏ thì sự phân chia thành đômen lại làm tăng
năng lượng tự do của hệ Vì vậy, khi kích thước hạt được thu nhỏ dần thì số lượng các
đômen từ cũng giảm theo Đến một giới hạn nào đó thì không còn thích hợp để tồn tại
nhiều vách đômen nữa Mỗi hạt là một đômen duy nhất, gọi là hạt đơn đômen Lúc
này, sự sắp xếp của các mômen từ khi có từ trường ngoài không còn bị cản trở bởi các
vách đômen, nên thực hiện dễ dàng hơn
Đường kính tới hạn của hạt được cho bởi công thức :
(1.13) 2 2
35( )
Với:
DC là đường kính tới hạn của hạt (m)
K là mật độ năng lượng dị hướng từ (J.m–3)
A là mật độ năng lượng trao đổi (J.m–3)
MS là độ từ hoá bão hoà (A.m-1)
Một vật liệu sắt từ được cấu tạo bởi một hệ các hạt (thể tích V), các hạt này tương
tác và liên kết với nhau Giả sử nếu ta giảm dần kích thước các hạt thì năng lượng dị
hướng KV giảm dần, nếu ta tiếp tục giảm thì đến một lúc nào đó KV<< kT, năng
lượng nhiệt sẽ thắng năng lượng dị hướng và vật sẽ mang đặc trưng của một chất thuận
từ
Thông thường, lực liên kết bên trong vật liệu sắt từ làm cho các mômen từ trong
nguyên tử sắp xếp song song với nhau, tạo nên một từ trường bên trong rất lớn Đó
cũng là điểm khác biệt giữa vật liệu sắt từ và vật liệu thuận từ Khi nhiệt độ lớn hơn
nhiệt độ Curie (hay nhiệt độ Néel đối với vật liệu phản sắt từ), dao động nhiệt đủ lớn
để thắng lại các lực liên kết bên trong, làm cho các mômen từ nguyên tử dao động tự
do Do đó không còn từ trường bên trong nữa, và vật liệu thể hiện tính thuận từ Trong
một vật liệu không đồng nhất, người ta có thể quan sát được cả tính sắt từ và thuận từ
của các phân tử ở cùng một nhiệt độ, tức là xảy ra hiện tượng siêu thuận từ
1.3.2 Siêu thuận từ
Khi giảm kích thước của hạt xuống dưới một giới hạn nhất định, độ từ dư không
còn được giữ theo các định hướng xác định bởi dị hướng hình dạng hoặc dị hướng từ
tinh thể của hạt nữa Trong trường hợp này, ở ngay nhiệt độ phòng, năng lượng nhiệt
đã đủ để làm cho các mômen từ thay đổi giữa hai định hướng cân bằng của từ độ
0 S C
Trang 21Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Đây chính là trạng thái liên tục từ tính của chuyển động Brown Các chuyển động nhiệt của các phân tử là hỗn độn và bù trừ nhau khi xét đối với toàn hệ (trên toàn không gian) hoặc đối với một hạt khi xét trên toàn thời gian Điều này có nghĩa là : vận tốc <v> x hoặc t = 0 và từ độ M x hoặc t = 0 Tuy nhiên, khi xét trong một vùng vi mô (vài hạt từ tính) và trong một khoảng thời gian xác định, vẫn hoàn toàn có thể quan sát thấy hiệu ứng của chuyển động phân tử v ≠ 0 và M ≠ 0
Nói chung, các hạt từ tính trở thành siêu thuận từ khi bán kính giảm xuống dưới 25
nm Tính chất từ trở nên thú vị khi bán kính của hạt nằm trong khoảng giới hạn của siêu thuận từ và đơn đômen Siêu thuận từ là hiện tượng các vật liệu từ có tính thuận từ ngay cả khi nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ Curie (hay nhiệt độ Néel) Hiện tượng này xảy
ra ở các hạt có kích thước rất nhỏ, khi mà năng lượng cần để thay đổi hướng của các mômen từ nhỏ hơn năng lượng dao động nhiệt Năng lượng cần để thay đổi hướng của các mômen từ trong tinh thể gọi là năng lượng dị hướng của tinh thể và phụ thuộc vào tính chất của vật liệu cũng như kích thước của tinh thể Kích thước của tinh thể giảm thì năng lượng đó cũng giảm
Hình 1.7 Đường biểu diễn lực kháng từ HC theo kích thước hạt
Hai đặc trưng cơ bản của các chất siêu thuận từ là:
• Đường cong từ hóa không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ
• Không có hiện tượng từ trễ, có nghĩa là lực kháng từ HC bằng 0
Trang 22
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Hình 1.8: Đường cong từ hóa của vật liệu siêu thuận từ
Các chất siêu thuận từ đang được quan tâm nghiên cứu rất mạnh, dùng để chế tạo các chất lỏng từ (magnetic fluid) dành cho các ứng dụng y sinh Đối với vật liệu siêu thuận từ, từ dư và lực kháng từ bằng không, và có tính chất như vật liệu thuận từ, nhưng chúng lại nhạy với từ trường hơn, có từ độ lớn như của chất sắt từ Điều đó có nghĩa là, vật liệu sẽ hưởng ứng dưới tác động của từ trường ngoài nhưng khi ngừng tác động của từ trường ngoài, vật liệu sẽ không còn từ tính nữa, đây là một đặc điểm rất quan trọng khi dùng vật liệu này cho các ứng dụng y sinh học
1.3.3 Hạt nanô Ôxit sắt từ Fe3O4
Cấu trúc của tinh thể magnetite (Fe 3 O 4 ) [17, 19]
Fe3O4 là một oxít hỗn hợp FeO.Fe2O3 có cấu trúc tinh thể spinel ngược, thuộc nhóm ceramic từ, được gọi là ferit (công thức chung là MO.Fe2O3, trong đó M có thể
là Fe, Ni, Co, Mn…) Các ferit có cấu trúc spinel thường (thuận) hoặc spinel ngược Trong mỗi ô đơn vị của cấu trúc spinel thường, những iôn hóa trị 3 chiếm các vị trí bát diện còn những iôn hóa trị 2 chiếm các vị trí tứ diện Cấu trúc spinel ngược được sắp xếp sao cho một nửa số ion Fe3+ ở vị trí tứ diện, một nửa số ion Fe3+ còn lại và tất cả
số ion Fe2+ ở vị trí bát diện
Mỗi vị trí bát diện có 6 ion O2- lân cận gần nhất sắp xếp trên các góc của khối bát diện, trong khi đó ở vị trí tứ diện có 4 ion O2- lân cận gần nhất sắp xếp trên các góc của khối tứ diện
Trang 23
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Hình 1.9: Cấu trúc tinh thể ferit thường gặp
Oxy
B-Vị trí bát diện A-Vị trí tứ diện
từ tổng cộng là do tổng mômen từ của các iôn Fe2+ ở vị trí bát diện gây ra Vậy mỗi phân tử Fe3O4 vẫn có mômen từ của các spin trong ion Fe2+ ở vị trí bát diện gây ra và
có độ lớn là 4μ (Bohr magneton) Vì vậy, tinh thể FeB 3O4 tồn tại tính dị hướng từ (tính chất từ khác nhau theo các phương khác nhau) Vật liệu thể hiện tính siêu thuận từ khi vật liệu có kích thước nanô đủ nhỏ và ta xem mỗi hạt Fe3O như hạt đơn đômen 4 Tinh thể Fe3O4 có cấu trúc lập phương, có độ từ hóa bão hòa Ms ~92 A.m2.kg-1 và nhiệt độ Curie khoảng 5800C
Trang 24
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Oxit sắt từ được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, Đặc biệt, khi ở kích thước nano, hạt Fe3O4 được xem như các hạt đơn đômen và có tính siêu thuận từ phục vụ chủ yếu cho lĩnh vực y sinh học, như là tác nhân làm tăng độ tương phản cho ảnh cộng hưởng từ, làm phương tiện dẫn truyền thuốc…
Sự biến đổi và ổn định của magnetite
Magnetite dễ bị oxi hoá trong không khí thành maghemite (γ-Fe2O3) theo phương trình:
Magnetite dễ bị oxi hoá trong không khí thành maghemite (γ-Fe2O3) theo phương trình:
4 Fe3O4 + O2 6 γ-Fe 2O3
Ở nhiệt độ lớn hơn 3000
4 Fe
C, magnetite bị oxi hoá thành hematite (α- Fe2O3) Khi khảo sát các tính chất và ứng dụng của các hạt nano từ thì các tính chất vật lý và hoá học ở bề mặt có ý nghĩa rất lớn Trong các dung dịch có nước các nguyên tử Fe kết hợp với nước, các phân tử nước này dễ phân ly để tách nhóm OH trên bề mặt ôxit sắt
Các nhóm OH bề mặt là lưỡng tính và có thể phản ứng lại với cả axit hoặc bazơ [28]
Ở nhiệt độ lớn hơn 300
Khi giảm kích thước của các hạt ôxit sắt Fe3O4 thì chúng sẽ là những hạt đơn đômen vì với kích thước đó nhỏ hơn rất nhiều độ rộng của vách đômen nên không đủ thời gian để các vách đômen có thể hình thành trong hạt Ngay cả trong trường hợp vật liệu có tính dị hướng vuông góc rất lớn, có thể thiết lập các vách đômen có độ dầy cỡ vài nano mét thì việc hình thành các đômen như vậy sẽ tốn năng lượng rất lớn
Khi giảm kích thước của các hạt ôxit sắt Fe
Khi đó năng lượng dao động nhiệt không đủ mạnh để thắng lực liên kết giữa các phân
tử kề nhau nhưng đủ mạnh để thay đổi hướng của mômen từ trong toàn bộ tinh thể
Khi đó năng lượng dao động nhiệt không đủ mạnh để thắng lực liên kết giữa các phân
tử kề nhau nhưng đủ mạnh để thay đổi hướng của mômen từ trong toàn bộ tinh thể Kết quả là có một sự sắp xếp ngẫu nhiên hướng mômen từ trong tinh thể khi không có
từ trường ngoài Do đó mômen từ trong toàn tinh thể bằng không
Kết quả là có một sự sắp xếp ngẫu nhiên hướng mômen từ trong tinh thể khi không có
từ trường ngoài Do đó mômen từ trong toàn tinh thể bằng không
3O4 + O2 6 γ-Fe 2O3
0C, magnetite bị oxi hoá thành hematite (α- Fe2O3) Khi khảo sát các tính chất và ứng dụng của các hạt nano từ thì các tính chất vật lý và hoá học ở bề mặt có ý nghĩa rất lớn Trong các dung dịch có nước các nguyên tử Fe kết hợp với nước, các phân tử nước này dễ phân ly để tách nhóm OH trên bề mặt ôxit sắt
Các nhóm OH bề mặt là lưỡng tính và có thể phản ứng lại với cả axit hoặc bazơ [28]
3O4 thì chúng sẽ là những hạt đơn đômen vì với kích thước đó nhỏ hơn rất nhiều độ rộng của vách đômen nên không đủ thời gian để các vách đômen có thể hình thành trong hạt Ngay cả trong trường hợp vật liệu có tính dị hướng vuông góc rất lớn, có thể thiết lập các vách đômen có độ dầy cỡ vài nano mét thì việc hình thành các đômen như vậy sẽ tốn năng lượng rất lớn
Trang 25
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Hiện tượng này làm hạn chế khả năng ghi lại môi trường từ của những hạt từ nhỏ bởi vì siêu thuận từ sẽ làm cho hạt từ mất đi bộ nhớ từ [17] Điều đó có nghĩa là khi có
sự tác động của từ trường ngoài thì các mômen từ nhanh chóng sắp xếp theo chiều của
từ trường và tồn tại một độ từ hóa riêng Khi từ trường ngoài ngừng tác động, các mômen từ của hạt lại sắp xếp và định hướng ngẫu nhiên như lúc đầu, vật liệu sẽ không còn từ tính nữa Khi đó độ từ hóa và lực kháng từ bằng 0 ( Hình 1.11 )
Không từ trường
Từ trường
Hình 1.11 Sự định hướng của các hạt siêu thuận từ khi có từ trường và khi từ trường bị ngắt
Trang 26
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LỎNG TỪ (MAGNETIC FLUIDS)
2.1 KHÁI NIỆM [6]
Chất lỏng từ là một khái niệm chỉ một dung dịch bao gồm các hạt có từ tính lơ lửng trong một chất lỏng mang Chất lỏng từ gồm ba thành phần chính là: hạt từ tính (chất rắn), chất bao phủ về mặt (còn gọi là chất hoạt hóa bề mặt, là chất rắn hoặc chất lỏng)
và dung môi (là môi trường chứa hạt từ và chất bao phủ bề mặt)
Trong các thành phần trên thì hạt từ tính là thành phần quan trọng nhất trong chất lỏng từ, tính chất đặc biệt của chất lỏng từ phụ thuộc chủ yếu vào tính chất của hạt từ Hạt từ có kích thước từ vài nm (nanômet) đến vài chục nm Các hạt từ tính là có thể là sắt từ hoặc siêu thuận từ Hạt từ tính thường được dùng nhất là hạt ôxít sắt γ-Fe2O3 (maghemite), Fe3O4 (magnetite)
Chất hoạt hóa bề mặt có tác dụng làm cho hạt nanô phân tán trong dung môi, tránh các hạt kết tụ lại với nhau ngay cả khi có mặt của từ trường Chất hoạt hóa bề mặt còn
có tác dụng che phủ hạt nanô khỏi sự phát hiện của hệ thống bảo vệ cơ thể (hệ miễn dịch) và dễ dàng tạo mối liên kết hóa học với các phân tử khác
Nếu từ tính của chất lỏng từ do hạt từ quyết định thì tính lỏng của nó do dung môi quyết định Dung môi có thể là các chất phân cực như nước, cồn… hoặc các chất không phân cực như dầu, dung môi hữu cơ Dung môi có thể có độ nhớt rất khác nhau hoặc có khả năng bay hơi dưới điều kiện bình thường cũng khác nhau Tùy thuộc vào các ứng dụng cụ thể mà người ta dùng dung môi thích hợp Các ứng dụng sinh hóa thường dùng dung môi là nước vì nước có tính tương hợp sinh học
2.2 ĐẶC TRƯNG CỦA CHẤT LỎNG TỪ
2.2.1.Sự cân bằng nồng độ hạt từ
Chất lỏng từ là một môi trường đa thành phần (gồm hạt từ rắn, chất bao, chất lỏng mang) tương tác hoàn toàn với nhau Khi các thành phần trong chất lỏng từ hòa quyện với nhau thành một thể keo tạo nên sự cân bằng nồng độ hạt từ trong keo
Các yếu tố ảnh hưởng đến trạng thái cân bằng nồng độ keo là hình dạng, kích thước hạt từ, nồng độ hạt, sự tương tác giữa các hạt (có yếu tố lực hấp dẫn và lực từ của hạt),
độ nhớt chất lỏng, nhiệt độ môi trường, khả năng khuếch tán của hạt…
Coi các hạt từ có dạng hình cầu, đường kính dh , khi được từ hóa trong một từ trường H không đổi có thể đạt được sự cân bằng nồng độ hạt sau khoảng thời gian là:
τ ∼ 3KTπηdh (μomG)2 (2.1)
Trang 27
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
- Độ ổn định đối với lực trọng trường
- Độ ổn định đối với gradient của từ trường: các hạt từ không bị lắng đọng, vón cục ở vùng có cường độ từ trường mạnh
- Độ ổn định đối với sự kết tụ của các hạt do hiệu ứng của tương tác lưỡng cực hoặc tương tác Van der Waals
Các điều kiện ổn định này trước hết được quyết định bởi kích thước hạt Hạt phải
đủ nhỏ để chuyển động nhiệt và chuyển động Brown chống lại được sự kết tụ của các hạt dưới tác dụng của từ trường μ0H Kích thước của các hạt có thể xác định bằng cách
so sánh với các loại năng lượng tham gia vào hiện tượng đó:
- Năng lượng chuyển động nhiệt : kBT B
- Thế năng : ΔρVgl
- Năng lượng tĩnh từ : μ0MpHV
trong đó k B là hằng số Boltzman, T là nhiệt độ, Δρ là hiệu số khối lượng riêng của hạt
từ và chất lỏng, V là thể tích của hạt, g là gia tốc trọng trường, l là độ cao của chất lỏng và Mp là từ độ của hạt
Đối với một chất lỏng từ thực thụ thì điều kiện ổn định luôn luôn là một đòi hỏi khắt khe Điều này có nghĩa là các hạt không kết đám hoặc bị tách phase kể cả khi được đặt trong từ trường lớn
Trang 28Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Phần thể tích của hạt từ trong chất lỏng tương ứng theo tỉ lệ:
2.2.4.Khối lượng riêng của chất lỏng từ
Khối lượng riêng của chất lỏng từ được xác định theo biểu thức sau:
ρ= ρsϕs + ρ a( ϕ h - ϕ s ) + ρ f ( 1 - ϕ h) (2.4)
trong đó, ρ ρs, a , ρf : mật độ khối lượng của pha rắn, chất phủ bề mặt và chất lỏng
mang ϕs và ϕh : Tỷ phần thể tích các hạt từ chưa phủ và đã phủ chất họat tính bề mặt Mật độ khối lượng phụ thuộc nhiệt độ:
: Hệ số dãn nở nhiệt tương đối của các hạt từ β
T: Khoảng biến thiên nhiệt độ Δ
Trang 29
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Khi độ xoáy của chất lỏng song song với từ trường cung cấp, hạt từ có thể quay tự do
và độ nhớt không còn bị ảnh hưởng bởi từ trường Ngược lại, nếu từ trường và tốc độ trực giao nhau, độ nhớt sẽ tăng lên vì từ trường là lớn nhất
Độ nhớt của chất lỏng từ khi không có từ trường ngoài
Độ nhớt của một chất lỏng phụ thuộc nhiều vào tiền sử của mẫu và tốc độ trượt Khi khảo sát độ nhớt của một mẫu chất lỏng, ta cần phải quan tâm nhiều đến những yếu tố đặt trưng trong quá trình chế tạo mẫu Nếu chất lỏng chứa một lượng đáng kể những hạt thô thì đó chính là nguyên nhân làm cho độ nhớt và những tính chất vật lý khác trở nên phức tạp hơn Khi tách những hạt thô này bằng cách ly tâm chất lỏng thì mật độ của chất lỏng và độ từ hóa bão hòa sẽ thay đổi một ít, tuy nhiên, tính chất của
độ nhớt sẽ thay đổi một cách đáng kể, sự phụ thuộc độ nhớt lên thời gian lưu trữ của một mẫu sẽ biến mất
Khi không có trường ngoài, độ nhớt của chất lỏng từ gây ra do sự hiện diện của những hạt keo đã làm gia tăng ma sát nội tại khi nó đang chuyển động theo dòng Độ nhớt của chất keo gia tăng khi ma sát của hạt gia tăng Bên cạnh đó, sự tương tác của thủy động lực học kết hợp với sự tồn tại của tương tác từ của hạt tác động đến chuyển động tương đối của chúng Vì thế, độ nhớt của chất lỏng từ được xác định dựa trên mức độ của tương tác này
Độ nhớt của chất lỏng từ khi có từ trường ngoài
Độ nhớt của một chất lỏng từ được quyết định bởi độ nhớt của chất lỏng mang Như vậy khả năng chọn các dung môi khác nhau (như nước, dầu… ) cho phép thay đổi
độ nhớt của chất lỏng từ Sự có mặt của các hạt từ trong chất lỏng cũng làm giảm độ nhớt ban đầu của chúng, ngay cả khi không có từ trường tác dụng Độ nhớt của chất lỏng từ phụ thuộc vào từ trường Sự phụ thuộc này gây ra do từ trường tác động lên chuyển động của mômen từ và hậu quả là tác động lên trên một hạt liên quan với chất lỏng
Khi không có từ trường, một hạt từ quay tự do trong một mặt phẳng trượt với một vận tốc góc ω Khi áp một từ trường ngoài vào, hạt chịu tác dụng của mômen của lực làm thay đổi tốc độ quay của hạt Kết quả là ma sát của hạt và chất lỏng xuất hiện Nếu trường đủ lớn định hướng các hạt ( =0) độ nhớt thu được giá trị cực đại ω
Khi từ trường đặt vào, các hạt có xu hướng định hướng theo từ trường và gradient của vận tốc trong phần chất lỏng ở xung quanh các hạt và do đó độ nhớt tổng cộng sẽ tăng lên Khi các xoáy của chất lỏng song song với từ trường, các hạt có thể quay một cách tự do và từ trường không ảnh hưởng lên độ nhớt Ngược lại, nếu từ trường và các xoáy vuông góc nhau, độ nhớt của chất lỏng từ sẽ lớn hơn rất nhiều
Trang 30
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Tác động có hướng của từ trường bị chậm đi bởi cả hai yếu tố lực thủy động lực học và chuyển động nhiệt (~ kT) Vì để một chất keo ổn định, tác động bất định hướng chủ yếu lên mômen từ của hạt là chuyển động quay Brown
= ⎢⎣ ⎡ − 5 ⎥⎦ ⎤
2 1 3
2 1 0 dip
r
r) r)(m (m 3 r
m m 4π
μ
Trong đó:
.10-7 (H/m)
µ0 : Độ từ thẩm của chân không = 4π
r : Vectơ nối hai mômen từ
2 p 0 dip =−với Mp: Độ từ hóa của hạt từ
So sánh năng lượng nhiệt và năng lượng tương tác lưỡng cực cho một hạt, 24kBT/µoM2pV, cho phép ta xác định kích thước của các hạt theo giá trị từ độ đã biết sao cho chuyển động nhiệt có thể chống lại sự kết tụ do tương tác lưỡng cực Kích thước tới hạn của các hạt xác định bằng cách này đảm bảo các hạt có thể đẩy nhau ra
xa một khoảng cách ngắn khi không có tác dụng của từ trường Trong mọi trường hợp các hạt thường có khả năng kết tụ thành các chuỗi ngắn Khi có từ trường đặt vào, các mômen từ có xu hướng quay theo từ trường, các hạt kết tụ nối tiếp nhau tạo thành một chuỗi dài và hướng dọc theo phương từ trường Khi từ trường cao hơn, chuỗi dài hơn
Sự hình thành chuỗi trong từ trường là thuận nghịch, chuỗi bị đứt khi từ trường trở về không [19]
Trang 31
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
2.3.2 Tương tác giữa các thành phần của chất lỏng từ [16, 25]
Để đảm bảo sự ổn định của chất lỏng từ, năng lượng chuyển động nhiệt trong chất lỏng từ phải lớn hơn lực hấp dẫn giữa các hạt Trong suốt chuyển động nhiệt, từ trường
tác dụng với hạt từ và truyền năng lượng cho hạt từ, hạt từ tương tác với phân tử của
chất lỏng mang, truyền năng lượng cho chất lỏng mang và ngược lại Năng lượng
tương tác giữa hạt từ và chất lỏng mang là UT ~ KT (K: Hằng số Boltzmann, T: Nhiệt
độ tuyệt đối)
Toàn bộ hệ chất keo thể hiện sự đồng nhất liên tục hưởng ứng với từ trường ngoài
Sự ổn định của chất lỏng từ phụ thuộc vào sự tương tác của các hạt từ Nếu thế năng tương tác này nhỏ hơn KT, hạt từ không thể kết tụ lại và chất lỏng từ sẽ ổn định
Lực hấp dẫn giữa những hạt từ xấp xỉ bằng lực từ giữa các phân tử Khi các hạt từ tiếp xúc nhau, điện tích được cảm ứng vào trong chúng mà phát sinh lực hấp dẫn (lực
24s
26
Từ biểu thức trên, ta thấy khi hạt từ được kéo gần lại với nhau, UV →∞ Tuy nhiên
lực Vander Waals giảm một cách đáng kể khi hạt từ ở một khoảng cách nhất định
trong khi lực tương tác từ giữa các hạt từ giảm chậm hơn rất nhiều Lực từ có một
khoảng cách tác dụng lớn hơn cho cả trường hợp có mặt và không có mặt của từ
trường ngoài Năng lượng tương tác từ phụ thuộc mạnh mẽ vào kích thước hạt từ Điều
này có ảnh hưởng đáng kể tới sự ổn định của hệ keo từ
Khi hạt từ được phủ một lớp của chất kích hoạt bề mặt có chuỗi phân tử dài tạo sức căng bề mặt, lực đẩy Steric xuất hiện để cắt chuỗi phân tử dài đó làm cho các phân
tử của chất kích hoạt bề mặt bị biến dạng Áp suất thẩm thấu ở lớp vỏ cũng tăng lên có
tác dụng ngăn hạt từ kết tụ lại với nhau Để cắt chuỗi phân tử dài trên, lực đẩy Steric phải có năng lượng và năng lượng này được cho bởi biểu thức sau:
với x < 2 δ
khi x > 2 δ
0
)2
x2δ2
3d()2
xπΓKT(δ3
2PV
s
=
++
Trang 32Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Trang 33
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
CHƯƠNG 3 : NGUYÊN LÝ CHỤP ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ MRI VÀ CÁC ỨNG DỤNG CỦA HẠT NANÔ ÔXIT SẮT TỪ TRONG Y SINH HỌC
3.1 NGUYÊN LÝ CHỤP ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ
Chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI) là một kỹ thuật chụp ảnh y khoa chủ yếu được dùng để xem cấu trúc và chức năng của cơ thể Chúng cung cấp ảnh chi tiết hai chiều hoặc ba chiều của cơ thể ở bất kỳ mặt phẳng nào MRI có độ tương phản mô mềm nhiều hơn do vậy làm cho chúng đặc biệt hữu dụng trong ngành thần kinh, tim mạch
và ảnh ung thư Không giống như CT nó không dùng bức xạ ion hóa nhưng dùng từ trường mạnh để sắp xếp độ từ hóa hạt nhân của các nguyên tử hydrogen của nước trong cơ thể Trường RF được dùng để thay đổi có hệ thống sự sắp xếp của độ từ hóa này làm cho hạt nhân hydrogen sản sinh ra một từ trường xoay mà có thể phát hiện ra bởi máy quét Tín hiệu này có thể được điều khiển bằng từ trường thêm vào để tạo nên thông tin đầy đủ và có thể xây dựng được hình ảnh của cơ thể
Như vậy ảnh cộng hưởng từ được phát triển từ kiến thức nghiên cứu về cộng hưởng
từ hạt nhân Trong đó những hạt nhân hydrogen đóng vai trò chính trong MRI
Những năm gần đây kỹ thuật này được xem như là ảnh cộng hưởng từ hạt nhân (NMRI) Tuy nhiên cụm từ “Hạt Nhân” làm cho con người liên hệ tới bức xạ ion hóa
do đó được gọi đơn giản là MRI
Trang 34Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
trong đó
γ là tỉ số hồi chuyển phụ thuộc vào mỗi nguyên tố đồng vị
ωL được gọi là tần số cộng hưởng hay tần số Larmor, và nằm trong khoảng tần số vô tuyến (tần số RF: 10kHz-100GHz)
1 Với hạt nhân nguyên tử hiđrô H, tỉ số từ hồi chuyển γ = 2,6x108 Rad.s-1.T , tần số -1tuế sai Larmor sẽ tương ứng với tần số sóng vô tuyến và có giá trị là 42,57 MHz
Hình 3.1 : Giản đồ của hạt nhân hydrogen trước và sau khi đặt từ trường B0 Ở trên : hạt nhân định hướng ngẫu nhiên trước khi có từ trường B0 Sau khi đặt vào từ trường B0, chúng sẽ tiến động theo B tại tần số Larmor, ω 0 L Ở dưới : những spin yếu chiếm giữ trạng thái năng lượng thấp và gây nên một vector từ
độ M
Với spin ½ các hạt nhân hydrogen chỉ có hai hướng là cho phép lượng tử Hai hướng này tương ứng với các mức năng lượng của hạt nhân Một hạt nhân có thể chuyển trạng thái năng lượng, nhưng để di chuyển lên mức năng lượng cao hơn cần cung cấp một năng lượng phát xạ điện từ Phát xạ điện từ nằm trong dải RF (tần số
radio), với tần số là (h/2p)ω là năng lượng chính xác để khởi tạo phát xạ này L
Trang 35
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Ở mức độ khối những spin hạt nhân proton được phân bố giữa hai trạng thái theo phân bố Boltzmann, cái mà phụ thuộc vào nhiệt độ và các mức năng lượng khác nhau giữa các trạng thái này Đối với hydrogen, hai mức năng lượng này là spin ‘up’ và spin
‘down’ Phân bố Boltzmann cho thấy nhiều spin yếu chiếm chỗ mức năng lượng thấp
dẫn tới một vector mạng lưới từ độ, M , đó là tổng của tất cả các spin, xung RF được
cung cấp để tạo ra một từ trường vuông góc với BBO Xung RF này tạo ra một từ trường
B 1 làm cho spin lệch khỏi trục z và sinh ra các thành phần x,y (Hình 3.2) Theo qui
ước, từ trường B OB sắp xếp theo trục z Sự tiến động này theo trục z trong mặt phẳng xy
phát sinh ra một trường RF thay đổi có thể nhận thấy được
Và khi chúng ta ngưng cung cấp xung RF thì từ trường BB1 ngưng tồn tại và spin hạt
nhân trở về trạng thái ban đầu của chúng đồng thời tương tác với môi trường xung quanh Qúa trình này được gọi là qúa trình hồi phục Khi những spin sắp xếp lại theo
Hình 3.2 : Giản đồ mô tả đặc tính của vector từ độ M khi đặt trong xung RF Xung RF phát ra một từ trường B1 làm cho M bị bật khỏi trục z và quay tròn quanh B0 trên mặt phẳng xy
Sự hồi phục được mô tả bằng hai phần : hồi phục spin-mạng và hồi phục spin-spin Trong hồi phục spin-mạng thành phần z của M trở lại cân bằng được mô tả bởi một
hằng số thời gian T 1 trong khi hồi phục spin-spin, thành phần x và y của M trở về zero
được mô tả bằng hằng số thời gian T 2 Sự hồi phục spin-mạng và spin-spin được đề
cập tương ứng như là sự hồi phục T 1 và T 2
Trang 36
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Hình 3.3 Quá trình hồi phục ngang và dọc của spin hạt nhân
Sự hồi phục T 1 xuất hiện nhờ vào sự thăng giáng của từ trường ở tần số Larmor do
bởi sự chuyển động ngẫu nhiên của các phân tử trong môi trường xung quanh Những phân tử này khi chuyển động sẽ có mômen từ và sự di chuyển của những mômen này gây ra một tiếng ồn từ trường chứa đựng một dãi rộng bao gồm cả tần số Larmor Tiếng ồn từ trường ở tần số Larmor sẽ kích thích chuyển xuống trạng thái năng lượng thấp hơn
Sự hồi phục dọc hay sự hồi phục spin - mạng T1: là thời gian thay đổi của độ từ hóa dọc Mz về lại giá trị cân bằng M0 theo trục z
1 T t 0 z
Trong đó:
Mz(t) : độ từ hóa dựa vào thời gian hồi phục T1 tại thời điểm t
Mz(t0) : độ từ hóa ở giá trị cân bằng ở thời điểm chưa cấp xung
T1 là thời gian hồi phục spin-mạng, vì nó thể hiện cơ chế tương tác của hệ spin hạt nhân và các dao động mạng Cơ chế hồi phục này còn gọi là sự hồi phục dọc vì nó làm suy giảm thành phần độ từ hoá dọc theo trục của từ trường ngoài B0 T1 của hạt nhân
có mômen lượng tử I=1/2 nằm trong khoảng 0,5 giây đến vài giây T1 của hạt nhân có
I >1/2 thường khá ngắn (khoảng vài miligiây)
Trang 37
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Sự hồi phục T 2 xuất hiện do sự thăng giáng của từ trường gây bởi sự chuyển động
ngẫu nhiên của các phân tử cộng hưởng ở tần số tương tự Sự thăng giáng trong những spin proton riêng làm mất sự gắn kết phase trong mặt phẳng xy mà không mất mạng năng lượng của hệ thống Sự phục hồi spin-spin bị tác động thêm bởi sự lệch phase gia tăng từ sự không tương ứng số lượng trong BO
Sự hồi phục spin_spin T2 liên quan với tương tác giữa những mômen từ hạt nhân, hoặc giữa mômen từ hạt nhân và mômen từ của các lớp vỏ điện tử Sự hồi phục ngang xác định sự lệch pha giữa các spin đã được kết hợp khi có xung trước đó Vì sự lệch pha trong spin không gây ra bất kì biến đổi nào ở mật độ trạng thái nên không làm thay đổi năng lượng hệ thống Sự hồi phục T2 chỉ là một quá trình entropy (quá trình làm gia tăng sự hỗn loạn của hệ, đưa hệ về trạng thái tự do không kết hợp) T2 được xem như sự hồi phục spin_spin và T2 có giá trị nhỏ hơn T1
T2 cho biết độ từ hóa ngang đã suy giảm 1/e theo thời gian so với giá trị banđầu:
2 T t 0 xy
Mxy(t) : độ từ hóa dựa vào thời gian hồi phục T2 ở thời điểm t
Mxy(t0) : độ từ hóa trong mặt phẳng ngang khi chưa hồi phục
Quá trình tiến động của spin trở về trục z xảy ra chậm theo quỹ đạo xoắn ốc cho đến khi về lại vị trí ban đầu với độ từ hóa M0
Trong quá trình chụp ảnh cộng hưởng từ MRI, để tạo được một ảnh của những mẫu
dị thể, thông tin không gian được giải mả bằng tín hiệu dùng gradient từ trường biến thiên theo thời gian để thay đổi cường độ từ trường và cho phép đưa ra sơ đồ của những điểm không gian Chuyển đổi toán học được sử dụng để tạo ra ảnh từ những dữ liệu mã hóa không gian này
Sự tương phản trong MRI đạt được dựa trên sự khác nhau của các T 1 và T 2 và mật
độ proton trong mẫu Dùng chuỗi xung RF khác nhau, ta có được mật độ ảnh tương
ứng với T 1 , mật độ proton hoặc T 2
Sự tương phản vốn có có thể được cải thiện bằng cách dùng các tác nhân tương
phản thuận từ hoặc siêu thuận từ Hầu hết các tác nhân tương phản làm suy giảm T 2 và
T 1 Những tác nhân tương phản được phân loại theo T 1 nếu chúng làm ngắn T 1 hơn so
với T 2 và phân loại theo T 2 nếu chúng ảnh hưởng tới T 2 nhiều hơn so với T 1 Khả
năng làm suy giảm thời gian hồi phục T 1 và T 2 được mô tả bởi giá trị hồi phục chuẩn
hóa mật độ r 1 và r 2
Trang 38
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Hình 3.4.Ảnh MRI của não:(a)ảnh theo T1, (B)ảnh thông thường, (c)ảnh theo T2
MRI có thể phân biệt giữa các phần khác nhau của mẫu dựa trên sự khác nhau của
tương phản sẽ cải thiện chất lượng ảnh Trong những ảnh MRI nhận được từ sự thay
đổi T 1, những vùng mà liên hệ với tác nhân tương phản sẽ gia tăng cường độ tín hiệu
so với những vùng không liên hệ với tác nhân tương phản Và ngược lại đối với T 2
những vùng liên hệ với tâm siêu thuận từ (chẳng hạn các hạt oxide sắt) sẽ làm giảm
cường độ tín hiệu trong ảnh MRI so với vùng không có tác nhân tương phản T 2 gây
bởi các hạt siêu thuận từ phát sinh do sự không đồng nhất của từ trường cục bộ liên quan đến môment từ lớn của những hạt này
Việc sử dụng các hạt sắt siêu thuận từ có thể giúp phân biệt nhiều cấu trúc bên trong khác nhau (các khối u, phù) và có thể phát hiện sớm trạng thái phát triển của các
u dùng các hạt oxide sắt để phát hiện ung thư trong các đốt bạch huyết cũng rất thành công
Các hạt oxide sắt từ cũng hứa hẹn trong việc chẩn đoán ung thư gan Người ta ước tính rằng 25% bệnh nhân bị di căn gan sẽ được điều trị kịp thời nếu phát hiện sớm bằng ảnh
Những hạt nano oxide sắt từ cũng giúp chẩn đoán nhiều loại bệnh ung thư khác, trong đó những hạt nano từ bọc dextran rất hữu dụng để phát hiện và mô tả rất nhiều loại khối u ác tính
3.1.2 Cấu tạo và hoạt động của máy chụp ảnh cộng hưởng từ MRI
Từ khi ra đời, kỹ thuật chụp cộng hưởng từ được xem là một phát minh tối quan trọng trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị bệnh Nó giúp ghi lại hình ảnh của tất cả các
bộ phận cơ thể, đặc biệt là não bộ và tủy sống Về cơ bản, kỹ thuật này đã biến các nguyên tử hydro trong mô cơ thể thành những bộ máy truyền sóng radio siêu việt Chúng hiện diện ở mọi ngóc ngách trong cơ thể, do nguyên tử hydro có trong vô số
Trang 39
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
phân tử nước ở khắp các nội tạng Bằng việc truy tìm vị trí của các nguyên tử hydro, máy chụp MRI có thể ghi lại hình ảnh của tất cả các cơ quan
Thiết kế cơ bản của một máy MRI tất cả nằm trong một khối hình lập phương lớn
Hệ thống lập phương điển hình là 7 feet cao, 7 feed rộng và 10 feed dài (2m x 2m x 3m) Hiện tại có nhiều mẫu mới nhỏ gọn hơn Máy có một ống ngang chạy dọc theo
từ trường từ đầu tới cuối, ống này được hiểu như là ống nòng của nam châm Bệnh nhân, nằm ngửa, được đưa vào nòng trên một bàn đặc biệt
Trang 40
Luận văn Thạc sĩ BÙI ĐỨC LONG
Bệnh nhân hoặc được đưa đầu vào trước hay chân vào trước, cũng như đưa vào bao xa trong từ trường sẽ được xác lập bởi hình thức thực hiện kiểm tra Máy quét MRI có nhiều kích cỡ và hình dáng Những kiểu mới hơn có độ mở tứ phía, nhưng về thiết kế cơ bản thì tương tự Phần cơ thể con người cần scan sẽ ở tâm hoặc đẳng tâm của từ trường mà ở đó việc scan có thể tiến hành
Hình 3.7 Thiết kế cơ bản của một máy MRI
Các thành phần chính trong máy MRI
Nam châm:
Bộ phận quan trọng nhất và lớn nhất trong hệ thống MRI là “nam châm” Nam
châm trong hệ thống MRI được đánh giá bằng đơn vị đo lường là Tesla Một đơn vị
khác thường dùng với nam châm là Gauss (1 tesla = 10,000 Gauss) Nam châm được dùng trong MRI ngày nay khoảng từ 0.5 đến 2 tesla, hay từ 5000 đến 20000 gauss Từ trường lớn hơn 2 tesla không được dùng để chụp ảnh y khoa Với từ trường mạnh-trên
60 tesla- thường được dùng trong nghiên cứu So sánh với từ trường trái đất 0.5 gauss, bạn khó tưởng tượng đến độ lớn không nghờ của từ trường này
Có 3 loại nam châm được dùng trong hệ thống MRI :
* Nam châm có điện trở bao gồm nhiều cuộn hoặc vòng dây kim loại quấn quanh một ống trụ hoặc một cái nòng và dòng điện được chạy qua và phát sinh ra một từ trường Nếu ngắt dòng điện thì từ trường cũng mất Những nam châm này có giá thấp hơn để chế tạo máy so với nam châm siêu dẫn nhưng đòi hỏi một lượng lớn điện năng để vận hành (trên 50 kW) do bởi dây kim loại có điện trở tự nhiên Để tạo ra 3 tesla đối với loại nam châm này thì sẽ vô cùng đắt