1.1.3 Khối vào ra [11,12] Các khối vào/ra thường được viết tắt là IOB input Output Block, cấu hình cung cấp giao diện giữa các chân bên ngoài và các tín hiệu logic bên trong.. Cũng như
Trang 1Mục lục
Mở ĐầU ……… ……… … 5
Ch-ơng 1: Tổng quan về công nghệ FPGA……… … 7
1.1 Cấu trúc FPGA……… … 7
1.1.1 Các logic block……… ….……… 8
1.1.2 Các nguồn kết nối……… ……… 10
1.1.3 Khối vào ra……… … 12
1.2 Phân loại FPGA……… ……….13
1.3 Công nghệ lập trình FPGA……….14
1.3.1 Công nghệ phản cầu chì Antifuse……….….14
1.3.2 Công nghệ SRAM……… 17
1.4 Họ Chip Flex 8000 của hãng Altera ……… 19
1.4.1 Các tính chất của họ Flex 8000……… 19
1.4.2.Mô tả tổng quát……… ………… 21
1.4.3 Mô tả chức năng……… ………… 24
Ch-ơng 2: Giới thiệu về vệ tinh GMS, MT-SAT Nhật Bản và hệ thu ảnh vệ tinh……… ………… 29
2.1 Vệ tinh GMS, MT-SAT của Nhật Bản……… 29
2.1.1 Các thông số kỹ thuật của vệ tinh GMS- 5………29
2.1.2 Cấu trúc khung dữ liệu ảnh vệ tinh GMS - 5 ……… 29
2.1.3 Các đặc tính tín hiệu phát ảnh phân giải cao của vệ tinh GMS-5 33
Trang 22.1.4 Vệ tinh MT – SAT (Nhật Bản) 36
2.2 Giới thiệu khái quát về hệ thu ảnh vệ tinh khí t-ợng .36
Ch-ơng 3: Thiết kế, chế tạo module điện tử khối đồng bộ khung ảnh của hệ thu ảnh vệ tinh 39
3.1 Khối tạo mã giải ngẫu nhiên PN ……… 39
3.2 Khối nhận dạng đầu khung ảnh 40
3.3 Khối giải mã PN 41
3.4 Khối chuyển đổi chuỗi bit nối tiếp thành song song 42
Ch-ơng 4: Thực nghiệm và các kết quả 43
4.1 Các b-ớc thực hiện một project trên FPGA 43
4.1.1 Tạo một project 45
4.1.2 Sử dụng Graphic Editor 45
4.1.3 Tổng hợp mạch từ sơ đồ 53
4.1.4 Thực hiện mô phỏng chức năng 54
4.1.5 Sử dụng Message Processor để định vị và sửa các lỗi 61
4.2 Những kết quả……….………62
Kết Luận ….……… 67
Tài liệu tham khảo……… …….……… 70
Trang 3NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
ASIC Application Specific Integrated Circuit
CPLD Complex Programmable Logic Device
CLB Configurable Logic Block
DES Data Encryption Standard
DRAM Dynamic Random Access Memory
FIFO First In First Out
FPGA Field Programmable Gate Array
JTAG Joint Test Advisory Group
IOB input Output Block
LAB Logic array block
LPM library of parameterized module
PAL Programmable Array Logic device
PLA Programmable Logic Array
PLD Programmable Logic Device
PROM Programmable Read Only Memory
EPROM Erasable Programmable Read Only Memory
Trang 4ROM Read Only Memory
SPLD Simple Programmable Logic Device
SRAM Static Random Access Memory
VHDL VHISC High Level Description Language
VHSIC Very High Speed Integrated Circuit
Trang 5
MỞ ĐẦU
Năm 1985 hãng Xilinx (Mỹ) giới thiệu trên thị trường một dòng linh kiện mới thuộc chủng loại linh kiện điện tử khả trình (PLD) với tên gọi là FPGA (Field Programmable Gate Array) và ngay lập tức nhận đã được sự hưởng ứng cao từ phía khách hàng Từ đó đến nay các hãng sản xuất chip FPGA không ngừng cải tiến phát triển các họ sản phẩm mới ngày càng hoàn thiện hơn
Thiết kế mạch điện tử sử dụng FPGA là điều không còn mới mẻ trên thế giới, ở Việt Nam công nghệ FPGA cũng đã được du nhập khoảng 5-7 năm trở lại đây và đã có khá nhiều đề tài khoa học-công nghệ của các Viện nghiên cứu, các Trường đại học thậm chí các đơn vị sản xuất trong lĩnh vực này Sinh viện của một số trường đại học kỹ thuật cũng đã được học những giáo trình về FPGA Sử dụng các chip FPGA trong thiết kế mạch điện tử cho phép chúng ta rút ngắn được đáng kể thời gian và công sức trong việc tạo ra các mạch mẫu thử nghiệm, giảm một cách đáng kể kích thước của các bo mạch điện tử, tiết kiệm được tối đa chi phí làm mạch in, cho phép cập nhật nhanh tới các linh kiện điện tử mới trên thị trường thế giới và đặc biệt rất linh hoạt trong việc thay đổi các phương án thiết kế
Do những đặc điểm trên, công nghệ FPGA thường được sử dụng trong một số lĩnh vực sau:
- Thiết kế sản phẩm mẫu
- Các hệ thống đa chức năng và cần thay đổi linh hoạt khi sử dụng
Trang 6- Các hệ thống đặc biệt đơn chiếc như trong công nghệ vũ trụ và quốc phòng
- Các hệ thống sử lý tín hiệu thời gian thực và các hệ thống nhúng
Các sản phẩm chip FPGA trên thị trường thế giới chủ yếu là của các hãng nổi tiếng của Mỹ như: Xilinx, Actel, Altera Hiện nay trên thế giới cũng
đã xuất hiện các chíp khả trình bao gồm các phân tử xử lý tín hiệu tương tự FPAA (Field Programmable Analog Array), các chip khả trình xử lý được đồng thời cả tín hiệu số và tương tự (mix-signal), sự kết hợp các công cụ trên còn tạo ra khả năng thiết kế các hệ system-on-chip, thậm chí Lab-on-chip (trong đó có cả các sensor)
Do các đặc tính lổi bật của chip FPGA nói trên, trong luận văn này đã sử dụng chip FPGA vào hệ thông thu ảnh vệ tinh khí tượng Nhằm nâng cao tinh
ổn định và nhỏ gon của hệ thu ảnh phân giải cao kỹ thuật số cho vệ tinh khí tượng phục vụ dự báo thòi tiết cũng như phát hiện theo dõi các bién động của khí hậu
Trang 7Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ FPGA
1.1 Cấu trúc FPGA
Trước đây phần lớn các loại linh kiện điện tử logic sau khi được chế tạo là
cố định về cấu trúc và chức năng không lập trình được như các IC logic họ
74, còn các loại linh kiện lập trình đơn giản như EPROM, EEPROM, PLD
Để thuận tiện cho việc thiết kế, thử nghiêm, tạo mẫu, phát triển ứng dụng, sản suất ở quy mô nhỏ, người ta đã chế tạo ra các linh kiện logic khả trình PLD (Programmable Logic Device) có nghĩa là linh kiện logic có khả năng cấu hình lại nhiều lần cho các ứng dụng khác nhau mà không cần phải thay đổi mạch
Hình 1: Cấu trúc tổng quát của FPGA
Trang 8Linh kiện khả trình gồm hai loại chính là CPLD (Complex Programmable Logic Device) và FPGA (Field Programmable Gate Array) Trên hình 1 chỉ ra cấu trúc tổng quát của một FPGA Một FPGA gồm một mảng các ô (cell)
logic, các ma trận kết nối, và các chuyển mạch [11]
1.1.1 Các logic block [11]
Cấu trúc và nội dung của logic block được gọi là kiến trúc của nó Kiến trúc của logic block có thể được thiết kế theo nhiều cách khác nhau Một số logic block có thể chỉ đơn giản là các cổng AND hai ngõ nhập Các logic block khác có cấu trúc phức tạp hơn như các bộ quét động (multiplexer) hoặc các bảng tìm kiếm (look-up table) Trong một số loại FPGA, các logic block
có thể có cấu trúc hoàn toàn giống PAL Hầu hết các logic block chứa một số loại flip-flop để hỗ trợ cho việc thực hiện các mạch tuần tự
Hình 2: Cấu trúc của Logic Block
Trang 9Các phần tử CLB (Configurable Logic block) cơ bản được thể hiện trong hình 2 Mỗi một phần tử CLB bao gồm 2 flip-flop và 2 khối chức năng độc lập 4 đầu vào Các khối chức năng này có tính mềm dẻo cao bởi vì hầu hết các chức năng lôgic kết hợp cần ít hơn 4 đầu vào Mười ba đầu vào và bốn đầu ra của CLB cung cấp đường dẫn tới các flip-flop chức năng Các CLB tiến hành hầu hết các logic trong một FPGA Các phần tử CLB chủ yếu được biểu diễn trong hình 2 Hai khối chức năng 4 đầu vào (F và G) tạo ra các chức năng đa dạng Hầu hết các chức năng logic kết hợp cần 4 đầu vào hoặc ít hơn Tuy nhiên, một chức năng thứ ba (H) thì được cung cấp Khối chức năng H có
3 đầu vào Hai đầu vào này có thể là đầu ra của F và G, đầu vào thứ ba thì từ phía bên ngoài CLB Vì vậy CLB có thể thực hiện các chức năng lên tới 9 đầu vào, giống như kiểm tra tính chẵn lẻ của số nguyên hoặc sự so sánh đồng nhất thức được khai triển của hai tập hợp của bốn đầu vào
Mỗi CLB bao gồm hai flip - flop có thể được sử dụng để lưu trữ các đầu
ra khối chức năng Tuy nhiên, các khối flip - flop và chức năng cũng có thể được sử dụng một các độc lập DIN có thể được sử dụng như một đầu vào trực tiếp tới một trong hai flip - flop H1 có thể chạy tới flip - flop thông qua khối chức năng H Các đầu ra khối chức năng cũng có thể được tiếp cận từ phía bên ngoài CLB, sử dụng hai đầu ra độc lập của đầu ra flip - flop Tính chất đa dụng này làm tăng tỷ trọng logic và làm đơn giản hoá định hướng (routing) Mười ba đầu vào và bốn đầu ra CLB cung cấp đường dẫn tới các khối chức năng và các flip-flop Các đầu vào và đầu ra này nối với các nguồn nối liền với nhau có thể lập trình được ở bên ngoài block
Bốn đầu vào độc lập được cung cấp tới một trong hai khối chức năng (F1-F4 và G1-G4) Các khối chức năng này, các khối mà đầu ra của nó được gán là F' và G’, có khả năng thực hiện bất kỳ hàm Boole xác định của 4 đầu
Trang 10vào một cách tuỳ tiện Các khối chức năng được thực hiện như các bảng tìm kiếm bộ nhớ Vì vậy sự trì hoãn phổ biến thì độc lập với chức năng được thực hiện Khối chức năng thứ ba, được gán là H', có thể thực hiện bất kỳ hàm Boole nào của ba đầu vào của nó Hai trong số các đầu vào này có thể lựa chọn là các đầu ra khối chức năng F' và G' Như một sự lựa chọn, một hoặc cả hai đầu vào này có thể tới từ bên ngoài CLB (H2, H0) Đầu vào thứ ba phải tới từ bên ngoài block (H1)
1.1.2 Các nguồn kết nối [11]
Hình 3: Cấu trúc của các kết nối
Cấu trúc và nội dung của các nguồn kết nối trong FPGA được gọi là kiến trúc routing (routing architecture) Kiến trúc routing gồm các đoạn dây nối và các chuyển mạch lập trình được Các chuyển mạch lập trình được có thể có nhiều cấu tạo khác nhau như: pass-transistor được điều khiển bởi cell RAM, các cầu chì nghịch (anti-fuse), EPROM tranzito và EEPROM tranzito Giống như logic block, có nhiều cách khác nhau để thiết kế các kiến trúc routing
Trang 11Một số FPGA cung cấp nhiều kết nối đơn giản giữa các logic block, một số khác cung cấp ít kết nối hơn nên routing phức tạp hơn
Tất cả các đường nối bên trong thì bao gồm các đoạn kim loại với các điểm nối có thể lập trình được để thực hiện định hướng (routing) mong muốn Sự phong phú các nguồn routing khác nhau được cung cấp để đạt được routing tự động có hiệu quả Số kênh routing được sắp xếp theo kích cỡ của mảng; nó tăng với kích cỡ mảng Các đầu vào và đầu ra CLB được phân bố trên tất cả 4 mặt của block, tạo ra sự linh hoạt routing
Có bốn loại liên kết chủ yếu, ba loại được phân biệt bởi độ dài tương đối của các đoạn của chúng: các đường dài đơn, đường dài đôi và đường dài (Chú ý: Số lượng các kênh routing được biểu diễn trong bảng dưới đây chỉ là
mô tả, số lượng thực của các kênh routing thay đổi với kích cỡ mảng) Thêm vào đó, tám buffer toàn bộ chạy nhanh, mạng lưới độ lệch thấp thường sử dụng cho clock hoặc các tín hiệu điều khiển toàn bộ.
1.1.3 Khối vào ra [11,12]
Các khối vào/ra thường được viết tắt là IOB (input Output Block), cấu hình cung cấp giao diện giữa các chân bên ngoài và các tín hiệu logic bên trong Mỗi IOB điều khiển một chân và có thể được xác định cho đầu vào, đầu ra hay các tín hiệu hai chiều Hình 6 biểu diễn biểu đồ một khối vào ra Các tín hiệu đầu vào, hai đường, được gọi là I1 và I2, mang các tín hiệu đầu vào tới mảng Các đầu vào cũng nối với một điện trở đầu vào cái mà có thể lập trình được như một flip – flop lật trạng thái theo sườn xung hay một mạch chốt (latch) Lựa chọn bằng cách đặt gốc thích hợp từ thư viện biểu tượng Các đầu vào có thể được cấu hình toàn bộ cho các điểm đi vào TTL (1,2V) hoặc CMOS (2,5V)
Trang 12Hình 4: Cấu trúc khối vào ra
Hai điều chỉnh toàn bộ của điểm bắt đầu đầu vào và mức độ đầu ra là độc lập với nhau Có một hiện tượng trễ nhỏ khoảng 300mV Các tín hiệu clock riêng biệt được cung cấp cho các thanh ghi đầu vào và đầu ra; các clock này có thể đảo ngược, sinh ra Cũng như với trường hợp các thanh ghi CLB, một tín hiệu set/reset toàn bộ có thể được sử dụng để set hay xoá các thanh ghi đầu vào và đầu ra bất cứ khi nào mạng Reset tồn tại
Các đầu vào được ghi, các tín hiệu I1 và I2 thoát block có thể mang các tín hiệu đầu vào trực tiếp hay ghi lại Các phần tử lưu trữ đầu vào hay đầu ra trong mỗi IOB có một đầu vào có thể clock chung, cái mà qua cấu hình có thể hoạt hoá một cách riêng lẻ cho flip - flop đầu vào hay đầu ra hoặc cả hai Clock này có thể vận hành chính xác như chân EC trên CLB XC4000E Nó không thể đảo ngược trong IOB
Trang 131.2 Phân loại FPGA [12]
Các loại FPGA của nhiều công ty khác nhau có các đặc tính riêng, tuy nhiên chúng có thể được chia làm 4 loại chính: cấu trúc mảng đối xứng (symetrical array), cấu trúc hàng (row-based), cấu trúc PLD phân cấp (hierarchical PLD) và cấu trúc đa cổng (sea-of-gates)
Hình 5: Bốn loại cấu trúc FPGA trên thực tế
1.3 Công nghệ lập trình FPGA [11]
1.3.1 Công nghệ phản cầu chì antifuse
Một amorphous-silicon antifuse có thể được gắn trên cầu nối (via) hoặc trên khoảng cách giữa lớp kim loại như được chỉ ra trên hình 6 Trong một ma trận cổng semi-custom, các lớp trên và lớp dưới của kim loại tạo nên một đường dẫn trực tiếp qua một metal interconnect via Trong một FPGA dựa trên silic vô định hình, hai lớp kim loại được cách biệt bằng silic vô định hình tạo thành sự cách điện Một xung khoảng 10V-12V trong một khoảng thời gian cần thiết có thể được dùng bắc qua via, làm cho các lớp trên và dưới của
Trang 14kim loại nối với nhau gây nên một đường dẫn (với điện trở khoảng 50 om), như chỉ ra trên hình 6 Bởi vì kích thước của một amorphous-silicon antifuse
là giống như của một đường nối kim loại tiêu chuẩn, các bộ phận lập trình được có thể đặt rất dầy đặc và chỉ bị giới hạn bởi kích thước của metal-line pitch, như hình 7 Sau khi đã được lập trình, một antifuse sẽ không thể bị xoá hoặc tái lập trình
Hình 6: Một phần tử phản cầu chì
Hình 7: Mảng mặt nạ phần tử phản cầu chì
Để lập trình được một antifuse, một sự khác biệt về thế phải được dùng giữa các thành phần antifuse Mỗi thành phần antifuse được cách biệt bởi một tranzito và do vậy các thành phần khác nhau không thể bị lập trình một cách tình cờ Những tranzito này,
Trang 15cũng như là các logic có liên quan cho việc đảm bảo vị trí của các antifuse, lập thành bộ mạch có thể lập trình được ở trên
Các sản phẩm Actel FPGA dùng Oxide-Nitride-Oxide (ONO) antifuse
Hình 8: Phần tử phản cầu chì ONO (ONO antifuse)
Những cái này bao gồm 3 lớp trên hinh 8
- Lớp trên: là một lớp dẫn điện làm từ polysilicon nối mạch tới một lớp của tấm kim loại
- Lớp giữa là một tổ hợp ONO và là một lớp cách điện
- Lớp cuối là môt lớp dẫn điện của negatively doped diffusion
Khi không được lập trình, ONO antifuse cách điện lớp đầu tiên và lớp cuối cùng của tấm kim loại Cầu chì được lập trình theo cách tuần tự như là cho một amorphous-silicon antifuse: Một thế được sử dụng, làm cho lớp cách điện ở giữa bị penetraded (bao phủ/mất tác dụng) bởi hai tấm ở trên và ở dưới tạo thành một đường nối mạch với điện trở thấp (300 ôm)
Trang 16Hình 9: Cấu trúc routing của một ví dụ trên thiết bị Cypress pASIC380
Bởi vì các thành phần antifuse được đặt rất sát nhau, những FPGAs sử dụng công nghệ này thường có kết cấu hệ thống linh hoạt cho phép các dây nối có thể được dùng ở mọi điểm giao Hình 9 miêu tả một thiết kế hệ thống của một antifuse FPGA Các hộp mở tại các điểm giao hiển thị các antifuse lập trình được Đầu ra và vào của tế bào logic có thể nối với bất kì dây đứng nào (ngoại trừ cấu trúc đồng hồ, trong hình vẽ này chỉ được nối với đồng hồ, cơ cấu và cơ cấu lại của flip-flop) Các dây dẫn trong một cột thẳng đứng có thể nối với các dây ở hàng ngang tại những điểm giao nhau Một vài dây thành phần dài hơn chỉ độ 1 tế bào logic Những cái này có thể nối với các dây dẫn ở bộ phận ở trên hoặc ở dưới nhưng trên cùng một lố kim loại thông qua một antifuse lập trình được, được gọi là các pass link, được biển thị bởi một dấu x trong hình Một thiết kế hệ thống được làm hoàn toàn bằng dây có thể cung cấp độ linh hoạt lớn nhất Tuy nhiên, dùng
Trang 17các dây thành phần cho các đường dẫn dài sẽ đòi hỏi nhiều antifuse cần được lập trình, mỗi cái lại thêm một giá trị điện trở vào đường dẫn Điện trở lớn làm chậm quá trình hoạt động Do vậy, các dây khác cho phép tăng chiều dài (bốn tế bào logic hoặc toàn bộ chiều dài chiều rộng của ma trận)
có thể được tối ưu hoá trong cả cấu trúc ở cục bộ địa phương và rộng
để lái các đầu vào của thể đa thành phần nhằm chọn một trong số nhiều tín hiệu được truyền tải trên một đường dẫn nhất định
Một tế bào bộ nhớ SRAM bao gồm 5 transistor (hình 11): hai cái dùng cho mỗi cái cầu giao và một cái dùng để định địa chỉ (dùng để chọn tế bào
bộ nhớ cho chương trình) Một tế bào SRAM có thể được tái lập trình, không giống như các thành phần antifuse, và bị thay đổi hình dạng sau khi được lập trình Tuy nhiên, các tế bào SRAM là không ổn định, tức là trạng thái của các tế bào bộ nhớ sẽ bị mất đi khi ngắt điện Các FPGA dựa trên SRAM cần phải được lập trình mỗi khi mạch được đóng điện Việc này cũng giống như là các thành phần antifuse cần phải được định địa chỉ và tải
dữ liệu khi lập trình cho mạch
Trang 18Hình 10: Tế bào SRAM sử dụng trạng thái điều khiển của Pass transitors
Một tế bào SRAM và pass tranzito kèm theo lớn hơn đáng kể so với một thành phần antifuse và tranzito lập trình kèm theo Các thành phần lập trình này không thể được đặt sát nhau như cho các thành phần antifuse SRAM FPGA do vậy không có cấu trúc dây dẫn mà trong đó có thành phần lập trình
ở hầu hết các điểm nối làm tăng khoảng cách giữa các kim loại, giảm mật độ, tăng giá thành và làm chậm khả năng hoạt động Thay thế vào đó, các thành phần lập trình được lắp đặt mang tính thủ thuật hơn để có thể đem lại sự cân
Trang 19bằng trong chọn lựa giữa tính truyền tải, mật độ và công suất Đối với các antifuse FPGA, một số dây dẫn có thể được làm dài thêm bởi một tế bào logic
và nhưng cái khác có thể được làm dài hơn nữa nhằm đáp ứng độ linh hoạt trong truyền dẫn mà vẫn có thể đảm bảo được mật độ và công suất
1.4 Họ chip Flex 8000 của hãng Altera [12]
- Hỗ trợ giao diện vào ra nhiều điện áp I/O cho phép thiết bị chạy ở mức
5 V, trong khi các chân I/O thoả mãn với các mức lôgic 5 và 3,3 V
Trang 20- Nguồn năng lượng thấp (đặc trưng tiêu biểu là 0,5 mA hoặc thấp hơn trong chế độ standby)
Liên kết nối linh hoạt
- Cấu trúc định tuyến liên tục liên kết nối FastTrack cho ta các trì hoãn liên kết nối nhanh có thể đoán trước
- Chuỗi nhớ (carry chain) chuyên dụng thực hiện các hàm số học như là các bộ cộng nhanh, các bộ đếm, các bộ so sánh (tự động được sử dụng bởi các công cụ phần mềm và các hàm lớn)
- Chuỗi nối tầng (cascade chain) chuyên dụng thực hiện các hàm logic tốc độ cao, fan-in lớn (tự động được sử dụng bởi các công cụ phần mềm và các hàm lớn)
- Mô phỏng 3- trạng thái thực hiện các bus 3 trạng thái nội (bên trong chip)
Các chân I/O đa năng
- Điều kiện cho phép ngõ ra 3 trạng thái riêng rẽ đối với mỗi chân
- Tuỳ chọn cực máng hở (open-drain) trên mỗi chân
- Điều khiển tốc độ chuyển trạng thái ngõ ra lập trình được mable output slew-rate control) để giảm nhiễu (do) chuyển mạch (switching noise)
(program Bộ ghi (register) ngoại vi có trì hoãn từ ngõ vào xung clock đến ngõ ra hay gọi tắt là trì hoãn clock- ngõ ra (clock-to-output delay) và trì hoãn thiết lập (setup delay) nhanh
- Tuỳ chọn vỏ linh hoạt tử 84 đến 304 chân xem trong bảng 2
- Hỗ trợ phần mềm thiết kế và định vị trí và định tuyến (place-and-route)
tự động, được cung cấp bởi các hệ thống phát triển (development system) MAX PIus II của Altera cho các PC dựa trên Windows và các trạm làm việc SunSPARCstation, HP 9000 họ 700/800
Trang 21Bảng 2 loại chân và số chân được sử dụng cho chức năng I/O
- Hỗ trợ thêm nhập thiết kế và mô phỏng thiết kế, được cung cấp bởi các tập tin netlist 200 và 300 của EDIF, thư viện các mô-đun biểu hiện bằng thông số LPM (library of parameterized module), các thành phần Design Ware, Verilog HDL, VHDL và các giao diện khác cho các công cụ EDA phổ biến từ các nhà sản xuất như Cadence, Exemplar Logic, Mentor Graphics, OrCAD, Synopsys, Synplicity, VeriBest và ViewLogic
1.4.2 Mô tả tổng quát [9,12]
Họ FLEX của Altera kết hợp các tính năng hữu ích của cả EPLD và FPGA Họ Flex 8000 lý tưởng cho các ứng dụng khác nhau bởi vì nó kết hợp cấu trúc fine-grained và các nét đặc trưng về thanh ghi của FPGA với thời gian trễ liên kết tốc độ cao và đoán trước được của EPLD Lôgic được thực hiện trong LE bao gồm 4 đầu vào của khối LUT và các thanh ghi lập trình được Sự thực hiện cao được cung cấp bởi một hệ thống liên tục, nhanh của nguồn định tuyến
Các thiết bị FLEX 8000 cung cấp một số lượng lớn phần tử lưu trữ cho các ứng dụng khác nhau ví dụ như xử lý tín hiệu số DSP, đường truyền số liệu băng rộng và sự truyền dữ liệu Các thiết bị này là sự lựa chọn tuyệt vời cho các giao diện bus, phối hợp TTL, các hàm xử lý và các quá trình điều khiển
Trang 22tốc độ cao Các loại vỏ chip nhiều chân có thể phối hợp bus 32 bit vào cùng một thiết bị Bảng 3 mô tả sự thực hiện FLEX 8000 và các yêu cầu của LE cho các ứng dụng tiêu biểu
Bảng 3: Mô tả FLEX 8000
Tất cả gói thiết bị FLEX 8000 cung cấp 4 đầu vào chuyên dụng cho các tín hiệu điều khiển đồng bộ với hệ số phân đầu ra rộng Mỗi chân I/O có một thanh ghi hỗ trợ trên thiết bị ngoại vi Như các đầu ra, các thanh ghi này cung cấp fast clock-to-output times, như các đầu vào, chúng cung cấp thời gian tiến hành nhanh
Sự liên kết và lôgic trong cấu trúc FLEX 8000 thì được cấu hình với các phần tử CMOS SRAM Các thiết bị FLEX 8000 được cấu hình với hệ thống năng lượng với dữ liệu được lưu trữ trong một EPROM song song chuẩn công nghiệp hoặc một seri Altera các thiết bị cấu hình, hoặc với dữ liệu cung cấp bởi một điều khiển hệ thống Altera cung cấp các thiết bị cấu hình EPC1, EPC1213, EPC1064 và EPC 1441, loại mà cấu hình các thiết bị FLEX 8000 thông qua một dòng dữ liệu nối tiếp Dữ liệu cấu hình cũng có thể được lưu trữ trong một chuẩn công nghiệp 32K - 8 bit hoặc thiết bị cấu hình lớn hơn, hoặc lấy từ hệ thống RAM Sau khi một thiết bị FLEX 8000 được cấu hình,
nó có thể được cấu hình lại trong bảng mạch bằng cách khởi động thiết bị và lặp lại dữ liệu mới Bởi vì cấu hình lại yêu cầu thời gian nhỏ hơn 100ms, thay đổi thời gian thực có thể được làm trong suốt quá trình vận hành hệ thống
Trang 23Các thiết bị FLEX 8000 bao gồm một giao diện vi xử lý cái mà cho phép
vi xử lý cấu hình các thiết bị FLEX 8000 nối tiếp, song song, đồng bộ hoặc không đồng bộ Giao diện cũng cho phép vi xử lý khiến cho một thiết bị FLEX 8000 như là một bộ nhớ và cấu hình thiết bị bằng cách ghi vào bộ nhớ
ảo, khiến cho người thiết kế tạo ra phần mềm cấu hình một cách dễ dàng Các chip FLEX 8000 được hỗ trợ bởi các hệ thống phát triển MAX+PLUS II của Altera Các gói tích hợp đơn cung cấp khả năng nhập thiết kế bằng sơ đồ, văn bản (bao gồm AHDL) và dạng sóng, biên dịch và tổng hợp logic, mô phỏng hoàn toàn và phân tích định thời trong trường hợp xấu nhất và cấu hình chip.Phần mềm của Altera cung cấp EDIF 2 0 0 và 3 0
0, LPM, Verilog HDL, VHDL và thêm các giao diện khác để nhập thiết kế và
hỗ trợ mô phỏng từ các công cụ PC chuẩn công nghiệp khác và công cụ EDA dựa trên trạm làm việc UNIX
Phần mềm Altera hoạt động dễ dàng với các công cụ dải cổng phổ biến EDA để tổng hợp và mô phỏng Thí dụ, phần mềm Altera có thể tạo ra các tập tin Verilog HDL để mô phỏng với các công cụ chẳng hạn như Cadence Verilog-XL Ngoài ra phần mềm Altera còn chứa các thư viện EDA sử dụng các tính chất cụ thể của chíp chẳng hạn như chuỗi nhớ, được sử dụng cho các
bộ đếm nhanh và các hàm số học Chẳng hạn như, thư viện Synopsys Design Compile, được cung cấp bởi các hệ thống mở rộng của Altera, chứa các hàm DesignWare được tối ưu hoá cho kiến trúc FLEX 8000
Các hệ thống mở rộng của Altera hoạt động trên các PC dựa trên Windows và SPARCstarion, và các trạm làm việc HP 9000 họ 700/800, IBM RISC System/6000
Trang 241.4.3 Mô tả chức năng
Cấu trúc FLEX 8000 tạo thành một ma trận lớn các khối được gọi là phần tử logic (LE) Mỗi LE bao gồm một LUT 4 lối vào cung cấp khả năng logic kết hợp và một flip-flop cái mà cung cấp khả năng logic liên tục Cấu trúc tinh của LE cung cấp khả năng logic một cách hiệu quả cao
Một LAB bao gồm 8 LE Mỗi LAB là một cấu trúc độc lập với các đầu vào chung, liên kết và các tín hiệu điều khiển Cấu trúc LAB cung cấp một cấu trúc nhớ thô cho việc thực hiện thiết bị cao và định tuyến một cách dễ dàng
Hình 12: Sơ đồ khối của chip FLEX 8000
Trang 25I/O element: phần tử I/O
Logic array block: khối dải logic LAB
Logic element: phần tử logic LE
FastTrack interconnect: liên kết FastTrack
Hình 12 mô tả sơ đồ khối cấu trúc của FLEX 8000 Mỗi một nhóm 8 LE được kết hợp lại thành một LAB; Các LAB được sắp sếp thành hàng và cột Các chân IO được cung cấp bởi các phần tử IO cục bộ ở cuối mỗi dòng hoặc cột Một khối IOE bao gồm một bộ đệm hai hướng và một flip-flop
Sự liên kết tín hiệu trong các thiết bị FLEX 8000 và giữa các chân thiết
bị được cung cấp bởi liên kết FastTrack, một loạt các kênh liên tiếp, nhanh cái mà chạy toàn bộ chiều dài và rộng của thiết bị Các IOE được định vị ở cuối của mỗi dòng (theo chiều ngang) và cột của đường liên kết FastTrac
Khối dải logic
Mỗi một LAB bao gồm 8 LE, các chuỗi nhớ và chuỗi nối tầng kết hợp của chúng, các tín hiệu điều khiển LAB và liên kết nối cục bộ của LAB LAB cung cấp cấu trúc nhớ thô (coarsse-grained structure) cho kiến trúc của FLEX
8000, tạo thuận lợi cho việc định tuyến hữu hiệu cùng với việc sử dụng chip tối ưu và hiệu suất cao hình 13 mô tả sơ đồ khối của khối dải logic
Mỗi một LAB cung cấp 4 tín hiệu điều khiển chao đảo mức logic lập trình được, có thể được sử dụng trong cả 8 LE Hai trong số các tín hiệu này
có thể được sử dụng làm các xung clock; hai tín hiệu còn lại có thể được sử dụng làm tín hiệu điều khiển xoá/đặt trước (clear/preset control) Các xung clock của LAB có thể được kích bởi các chân ngõ vào xung clock chuyên dụng, các tín hiệu toàn cục, các tín hiệu I/O hoặc các tín hiệu bên trong thông qua các liên kết nối cục bộ của LAB
Trang 26Các tín hiệu điều khiển xoá và đặt trước của LAB có thể được kích bởi các tín hiệu toàn cục, các tín hiệu I/O hoặc các tín hiệu bên trong thông qua liên kết cục bộ của LAB Điển hình, các tín hiệu điều khiển toàn cục có thể được sử dụng làm các xung clock, xoá và đặt trước toàn cục do bởi chúng cung cấp điều khiển không đồng bộ có độ lêch rất thấp ngang qua chip Nếu mạch logic yêu cầu một tín hiệu điều khiển, tín hiệu này có thể được tạo ra trong một hoặc nhiều LE trong một LAB bất kỳ được kích vào liên kết nối cục bộ của LAb đích Ngoài ra, các tín hiệu điều khiển toàn cục có thể được tạo ra từ các ngõ của LE
Hình 13: LAB cùa FLEX 8000
Trang 27Dedicated inputs : ngõ vào chuyên dụng
Row interconnect: liên kết nối hàng
LAB local interconnect : liên kết nối cục bộ của LAB
LAB control signals: các tín hiệu điều khiển LAB
Column to row interconnect: liên kết nối từ cột đến hàng
Column interconnect: liên kết nối cột
Carry-in & cascade-in: ngõ vào số nhớ &ngõ vào nối tầng
Carry-in & cascade-out: ngõ ra số nhớ và ngõ ra nối tầng
Phần tử logic
Phần tử logic LE (logic element), đơn vị nhỏ nhất của mạch logic trong kiến trúc FLEX 8000, có kích thước cô đọng cho phép ta sử dụng hiệu quả mạch logic Mỗi một LE chứa một LUT 4 ngõ vào, đây là bộ tạo hàm có thể tính nhanh chóng bất kỳ hàm 4 biến vào Thêm vào đó, mỗi một LE chứa một flipflop lập trình được cùng với tín hiệu cho phép đồng bộ, chuỗi nhớ và chuỗi nối tầng Mỗi một LE kích cả hai, liên kết nối cục bộ và liên kết nối FastTrack hình 14 mô tả phần tử logic LE của FLEX 8000
Hình 14: Phần tử logic LE của FLEX 8000
Trang 28LUT là một hàm có thể tính toán rất nhanh bất kỳ một chức năng nào cho 4 đầu vào Flipflop lập trình được trong LE có thể được cấu hình để hoạt
động như Flipflop D, T, JK hoặc SR Các tín hiệu điều khiển xung clock, xoá
và đặt trước trên flipflop có thể được kích bởi các tín hiệu toàn cục, các chân I/O nhiều mục đích hoặc mạch logic bên trong nào đó Đối với các hàm tổ hợp, flipflop được bỏ qua và ngõ ra của LUT kích ngõ ra của LE
Trang 29Chương 2
GIỚI THIỆU VỀ VỆ TINH GMS,
MT-SAT NHẬT BẢN VÀ HỆ THU ẢNH VỆ TINH
2.1 Vệ tinh GMS và MT-SAT của Nhật Bản [2]
2.1.1 Các thông số kỹ thuật của vệ tinh GMS
Vệ tinh khí t-ợng GMS (Geostationary Meteorological Satellite) còn
đ-ợc gọi là vệ tinh Himawari, là họ vệ tinh địa tĩnh do Cơ quan khí t-ợng Nhật Bản (JMA - Japan Meteorological Agency) và Cơ quan Quốc gia về phát triển vũ trụ của Nhật Bản (NASDA) quản lý Vệ tinh hiện thời đang hoạt động
là GMS-5 đ-ợc phóng lên quĩ đạo năm 1995 ở độ cao 35.800 km nằm trên mặt phẳng xích đạo và kinh tuyến 1400 đông ở độ cao 35.800 km với góc nhìn 170, vệ tinh GMS quan sát đ-ợc phần đông bán cầu từ 600 vĩ Bắc đến 600
vĩ Nam và từ 800 kinh Đông tới 1600 kinh Tây bao gồm 12 quốc gia chủ yếu trong khu vực Châu á Thái Bình D-ơng trong đó có Việt Nam (hình 15)
Vệ tinh GMS đ-ợc trang bị một phổ kế vô tuyến VISSR (Visible and Infra-Red Spin Scan Radiometer) làm việc ở hai dải sóng nhìn thấy (visible)
và hồng ngoại (infra-red) Các tham số của phổ kế đ-ợc cho trong bảng 4
Trang 30Bảng 4: Các thông số kỹ thuật của ảnh phân giải cao vệ tinh GMS
Thông số kỹ thuật ảnh vùng nhìn thấy ảnh vùng hồng ngoại
B-ớc sóng của phổ 0,55-0,80 m IR1 (m) IR2 (m) IR3 (m)
64 mức (6 bít)
5,00 km 2.500 dòng
256 mức (8 bít)
Hoạt động của phổ kế VISSR dựa trên nguyên tắc quét lần l-ợt theo góc quay (spin) và theo dòng đ-ợc tiến hành t-ơng ứng theo kinh độ và vĩ độ Từ bảng 4 nhận thấy rằng, độ phân giải không gian của ảnh ở vùng nhìn thấy cao hơn độ phân giải không gian của ảnh ở vùng hồng ngoại bốn lần, điều này cho thấy ảnh ở vùng nhìn thấy rõ hơn và chi tiết hơn ảnh ở vùng hồng ngoại Vì vậy trên toàn bộ phần trái đất mà vệ tinh quan sát đ-ợc, ảnh ở vùng hồng ngoại có 2.500 dòng quét t-ơng ứng với độ phân giải không gian là 5km còn
ảnh ở vùng nhìn thấy có 10.000 dòng quét t-ơng ứng với độ phân giải không gian là 1,25km và thời gian để quét đ-ợc hết một ảnh là khoảng 25 phút Tín hiệu của phổ kế VISSR đ-ợc biến đổi thành tín hiệu video, sau đó đ-ợc số hoá với các điểm ảnh ở vùng nhìn thấy đ-ợc l-ợng tử hóa 64 mức (6 bít) và các
điểm ảnh ở vùng hồng ngoại đ-ợc l-ợng tử hóa là 256 mức (8 bít) Các tín hiệu ảnh sau khi đã đ-ợc số hoá sẽ đ-ợc truyền về trạm mặt đất trung tâm CDAS (Command and Data Acquisition Station) tại JMA
Trang 31
Vệ tinh GMS
CDAS
(Command and Data Acquisition Station)
Hình 15: Vùng nhìn thấy của vệ tinh khí t-ợng GMS
Tại Trung tâm JMA, tín hiệu đ-ợc xử lý sơ bộ, tạo thành tín hiệu S-VISSR (có format đ-ợc trình bầy ở bảng 5) đ-ợc truyền trở lại vệ tinh và phát quảng bá tới các trạm thu ở tần số 1687,1 MHz tốc độ truyền là số liệu 660 kbit/s, sơ
đồ mô tả toàn bộ quá trình thu nhận số liệu, xử lý sơ bộ và phân phát số liệu
đ-ợc minh hoạ trong hình
Trang 322.1.2 Cấu trúc khung dữ liệu của tìn hiệu ảnh
phân giải cao vệ tinh GMS-5 [8]
Vệ tinh GMS phát ảnh theo lịch đã đ-ợc thông báo tr-ớc trong các bản tin đ-ợc phát kèm theo từng ảnh Cấu trúc dạng tín hiệu ảnh phân giải cao S-VISSR của tín hiệu vệ tinh GMS đ-ợc mô tả nh- bảng 5
Từ cấu trúc khung dữ liệu ta nhận thấy có hai loại dữ liệu ảnh: dữ liệu
ảnh thuộc vùng hồng ngoại (ảnh IR) với độ phân giải không gian là 5 km và
256 mức l-ợng tử (8 bít) trên một điểm ảnh, dữ liệu ảnh thuộc vùng nhìn thấy (ảnh VIS) với độ phân giải không gian là 1,25 km và 64 mức l-ợng tử (6 bít) trên một điểm ảnh Thời gian truyền một khung dữ liệu này là 500 ms với tốc
độ truyền dữ liệu là 660 Kbit/s
Cấu trúc một khung số liệu ảnh của vệ tinh GMS-5 nh- sau:
- Các bít đồng bộ khung (dòng) gồm 20.000 bít đầu khung
- Các thông tin về chỉ tiêu, thông số cho ảnh nh- lịch phát ảnh gồm 20.408 bít
- IR1 là dữ liệu ảnh kênh hồng ngoại 1 (10,3-11,3 m) gồm 2291 điểm
Trang 342.1.3 Các đặc tính tín hiệu phát ảnh phân giải cao của vệ tinh GMS-5 [8]
Bảng 6: Các thông số kĩ thuật của tín hiệu vệ tinh GMS5
Tốc độ truyền số liệu 660 Kbit/sec
Kiểu mã hóa số liệu ảnh Đảo byte số liệu và trộn với mã giả
ngẫu nhiên PN
Độ dài của khung ảnh 396.000 bít bao gồm cả mã đồng
bộ (20.000 bít) Thứ tự bít MSB (D0 là bít có trọng số lớn
Trang 352.1.4 Vệ tinh MT-SAT (Nhật Bản) [8]
Vệ tinh MT-SAT (Multi-functional Transport Satellite) là thế hệ mới nhằm thay thế cho họ vệ tinh GMS, có nhiều -u điểm hơn có thể kể ra một số -u điểm chính nh- sau:
Các thông tin của MT-SAT đ-ợc tăng c-ờng thêm về kênh phổ, cụ thể sẽ
có các kênh phổ nh- sau: một kênh vùng nhìn thấy (VIS) và bốn kênh hồng
ngoại (IR): IR1 (10,5 m), IR2 (11,5 m), IR3 (6,7 m), IR4 (3,7 m)
Độ phân giải không gian đ-ợc tăng đến 1 km đối với ảnh VIS và 4 km
đối với ảnh IR
Độ phân giải mức l-ợng tử đ-ợc tăng đến 10 bít cho ảnh IR
2.2 Giới thiệu khỏi quỏt về hệ thu ảnh vệ tinh khớ tượng [2]
Tr-ớc khi truyền phát ảnh phân giải cao S-VISSR, dữ liệu ảnh phân giải cao S -VISSR điều chế bằng ph-ơng pháp PCM/PSK Tín hiệu lối ra của sensor sau khi phối hợp mức đ-ợc số hoá bằng các xung mã Việc xử lý này
đ-ợc gọi là điều chế xung mã PCM (Pulse Code Modulation) Trong PCM, tín hiệu liên tục đ-ợc lấy mẫu với tần số lấy mẫu theo định lý SANNON và sau
đó đ-ợc l-ợng tự hoá thành các mức và đ-ợc mã hoá thành các xung
Một chuỗi xung trên đ-ợc mã hoá đ-ờng truyền bằng mã NRZ (Non Return to Zero) Mã NRZ là mã hoá tín hiệu theo mức, có nghĩa là nó giữ một mức trong cả khoảng bít hay không chuyển về 0 trong suốt thời gian bit
Để truyền đ-ợc dữ liệu từ vệ tinh về trái đất, dữ liệu phải đ-ợc điều chế vào sóng mang ở đây đ-ợc dùng ph-ơng pháp điều chế pha, với kiểu hai pha BPSK (Binary Phase Shifl Keying) Dùng pha 0o và 180o để đại diện cho bit
"0" và "1"