1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính tại bảo hiểm xã hội tp HCMThành phố hồ chí minh

116 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài luận văn thạc sĩ quản lý công nói riêng chưa bao giờ là điều dễ dàng. Đây là sự thật. Hãy thử hỏi một vài người quen của bạn đã trải qua quá trình học thạc sĩ bạn cũng sẽ có được câu trả lời tương tự như vậy. Mặc dù thế, khá nhiều bạn lại không đánh giá đúng tầm quan trọng của việc chọn đề tài. Các bạn không hề biết rằng chọn đề tài vừa thú vị vừa đúng với khả năng, sở thích của mình có ảnh hưởng vô cùng lớn tới kết quả cuối cùng cũng như tấm bằng.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS LƯU KIẾM THANH

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn này đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của khoa Sau đại học – Học viện Hành chính Quốc gia

Học viên

Trần Thị Dinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin được tỏ lòng biết ơn và gửi lời cám ơn chân thành đến PGS.TS Lưu Kiếm Thanh, người trực tiếp hướng dẫn luận văn, đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi tìm ra hướng nghiên cứu, cách trình bày bài viết, phân tích vấn đề… nhờ đó tôi mới có thể hoàn thành luận văn cao học của mình

Ngoài ra, trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi còn nhận được nhiều sự quan tâm, góp ý, hỗ trợ quý báu của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và người thân Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Cha mẹ

và những người thân trong gia đình đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian qua; Quý thầy cô khoa Sau đại học – Học viện Hành chính Quốc gia đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt hai năm học vừa qua; Ban Giám đốc cơ quan Bảo hiểm xã hội Quận 8 và các bạn

bè, đồng nghiệp luôn động viên, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Học viên

Trần Thị Dinh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU trang 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ỨNG DỤNG

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH BẢO HIỂM XÃ HỘI trang 7

1.1 Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành

chính ……….… trang 7

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản ……….… trang 7

1.1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành

chính ……….… trang 13

1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành

chính Bảo hiểm xã hội ……….… trang 20

1.2.1 Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ

tục hành chính bảo hiểm xã hội ……….… trang 20

1.2.2 Sự cần thiết phải ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính bảo hiểm xã hội ……….…… trang 23

1.3 Thủ tục hành chính thực hiện tại Bảo hiểm xã hội Hồ Chí Minh

……….… trang 25

Chương 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG

TIN TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI BẢO HIỂM

XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ……….trang 30

2.1 Khái quát về thủ tục hành chính khi có ứng dụng công nghệ thông tin tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh ……… trang 30

2.1.1 Khái quát về Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh

……….……….……….……….……… trang 30

2.1.2 Quy trình giải quyết thủ tục hành chính khi có ứng dụng công nghệ thông tin tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh … trang

Trang 6

2.2 Đánh giá việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh …… trang 45

2.2.1 Về văn bản pháp lý ….……….…… ……… trang 45 2.2.2 Về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực công nghệ thông tin

….……….…… ………….……….…… ………….…… trang 48

2.2.3 Về hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin ……… trang 53 2.2.4 Về tài chính ….……….…….………….…… trang 59 2.2.5 Về phía người dân và đơn vị sử dụng lao động trang 61

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ỨNG DỤNG

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH

CHÍNH TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HỒ CHÍ MINH……….…… trang 66

3.1 Mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh ………… trang 66

3.1.1 Phương hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính của cơ quan hành chính nhà nước ………… trang 66

3.1.2 Mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh ……… trang 67

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh

3.2.3 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức Bảo hiểm

xã hội Thành phố Hồ Chí Minh ….……….………….…… … trang 78

3.2.4 Phát triển hạ tầng, phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin ….……….………….………….……….………….…….… … trang 81

3.2.5 Giải pháp về tài chính ….……….…… … trang 84

Trang 7

3.2.6 Tổ chức thông tin, tuyên truyền; nâng cao nhận thức của người dân và đơn vị sử dụng lao động ….……….…….… … trang 85

3.3 Một số đề xuất, kiến nghị ……… … trang 88

KẾT LUẬN ……….……….……….………… … trang 92

DANH MỤC TÀI LIỆU ……….……….……… ….….trang 93 PHỤ LỤC ……….……….……….………….….… trang 98

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp

2 BHXH: Bảo hiểm xã hội

3 BHYT: Bảo hiểm y tế

9 TTHC: Thủ tục hành chính

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Các phòng nghiệp vụ trực thuôc BHXH TP

Trang 10

2011-MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

BHXH là một chính sách lớn của Đảng và nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro như bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sảy thai, hết tuổi lao động, qua đời

BHXH là một ngành mới thành lập từ năm 1995 đến nay, trong hơn 20 năm hoạt động có nhiều sự thay đổi để phù hợp với thực tế, vì vậy cải cách hành chính luôn là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong quá trình hoạt động

và phát triển của ngành Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, TTHC trong lĩnh vực BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là về TTHC, nhằm giảm thiểu thủ tục hồ sơ, giấy tờ và những bước công việc không cần thiết, không phù hợp, tạo thuận tiện, nhanh chóng cho công dân và tổ chức có yêu cầu giải quyết chế độ BHXH, xét duyệt hồ sơ cấp sổ, thẻ, thanh toán chi phí khám chữa bệnh là một trong những mục tiêu cơ bản, chủ yếu và xuyên suốt trong chương trình cải cách hành chính của hệ thống BHXH Việt Nam hiện nay

Thực hiện chỉ đạo của BHXH Việt Nam, BHXH TP.Hồ Chí Minh

đã triển khai thực hiện và đạt được những chuyển biến nhất định trong công tác quản lý, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia và hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BHTN Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ ngày càng tăng của ngành thì vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là cải cách TTHC trong các khâu nghiệp vụ của ngành

Trong những năm gần đây, hội nhập kinh tế toàn cầu cùng với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT đang làm thay đổi đời sống kinh tế, xã hội của đất nước Ứng dụng CNTT là giải pháp nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý hành chính nhà nước nhằm giải quyết các TTHC nhanh chóng, rút ngắn thời gian

Trang 11

xử lý hồ sơ, giảm chi phí hoạt động, tăng tính minh bạch trong hoạt động cơ quan hành chính nhà nước, tạo thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp Đối với lĩnh vực BHXH thì việc đưa CNTT vào thực hiện TTHC đã tạo ra một bước ngoặt mới cho ngành BHXH nói chung, BHXH TP.Hồ Chí Minh nói riêng

TP HCM là địa phương có số đối tượng tham gia và thụ hưởng các chế

độ chính sách BHXH, BHYT, BHTN đứng đầu cả nước Đối tượng phục vụ rất lớn và thường xuyên biến động hết sức phức tạp, lượng khách giao dịch nhiều, thường xuyên quá tải BHXH TP.HCM hiện nay quản lý 6.364.816người tham gia BHXH, BHYTvới số thu được là 45.208.319triệu

đồng vàtổng số chi BHXH, BHYT là 26.843.599 triệu đồng.Con số này sẽ

ngày càng tăng vào các năm tiếp theo, với quy mô ngày càng phát triển, khối lượng công việc của BHXH TP Hồ Chí Minh ngày càng tăng nhanh Trước tình hình đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với BHXH TP Hồ Chí Minh là phải cải cách hành chính, phải liên tục tự đổi mới để vừa nâng cao chất lượng phục

vụ, vừa hợp lý hóa các quy trình nghiệp vụ để nâng cao năng suất làm việc

Những năm qua, TP.Hồ Chí Minh có thành tích nổi bật về việc ứng dụng CNTT trong thực hiện các thủ tục BHXH, BHYT, BHTN Nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong thực hiện các TTHC, BHXH TP.Hồ Chí Minh đã không ngừng đẩy mạnh hơn nữa công tác ứng dụng CNTT trong thực hiện các TTHC lĩnh vực hoạt động của mình như:hoàn thiện cơ sở vật chất, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực về CNTT, trang bị các phần mềmứng dụng của lĩnh vực chuyên ngành,

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đó thì việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC vẫn còn một số hạn chế như: Hạ tầng CNTT chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, khả năng sử dụng CNTTtrong giải quyết các TTHCvẫn còn chưa tốt, việc sử dụng phần mềm nghiệp vụchưa hiệu quả và đặc biệt là các phần mềm quản lý chưa đảm bảo chất lượng, còn nhiều lỗi và chưa thực

sự sử dụng thuận lợi, vv…

Trang 12

Để nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu cải cách TTHC trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, BHXH TP HCM cần tập trung, từ việc nâng cao tri thức cho CCVC, hướng dẫn rộng rãi đến người dân, doanh nghiệp đến việc phát triển cơ sở hạ tầng, cung cấp thông tin, hoàn thiện các thủ tục hành chính, hướng tới tập trung xây dựng BHXH TP HCM với công dân, doanh nghiệp thông qua các giao dịch điện tử

Tháng 4/2016, BHXH Việt Nam ban hành Quyết định số BHXH về thực hiện Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của ngành giai đoạn 2016 - 2020 nhằm tin học hóa toàn diện trong các hoạt động quản lý

640/QĐ-và nghiệp vụ của ngành ở tất cả các lĩnh vực; đồng thời liên thông dữ liệu với các Bộ, ngành và các cơ quan liên quan để thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN

Với những vấn đề thực tiễn đã nêu, hướng tới hoàn thiện việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chínhtrong lĩnh vực bảo

hiểm xã hội, cũng như tại BHXH TP HCM, học viên chọn đề tài "Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh"để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ chuyên

ngành Quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

TTHC được lựa chọn là một khâu đột phá của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu của bất kỳ

cơ quan tổ chức nào Mặc dù có nhiều nghiên cứu tổng thể về vấn đề này nhưng cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC tại BHXH TP.Hồ Chí Minh Các nghiên cứu chủ yếu

đề cập đến vấn đề xây dựng chính phủ điện tử với việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung

Ngoài các công trình, khoa học thực hiện tin học hóa quản lý của Đảng

và Chính phủ, trong danh mục các luận văn cao học thạc sỹ hành chính điển hình có một số đề tài liên quan như:

Trang 13

- Tác giả Phạm Thị Quỳnh Nga: Hoàn thiện phương thức quản lý, điều hành của ủy ban nhân dân cấp tỉnh bằng hệ thống thông tin điện tử, từ thực tiễn Thành phố Cần Thơ;

- Tác giả Lê Hoàng Ngọc: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Đồng Nai;

- Tác giả Đào Mai Cương: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính tại Uỷ ban nhân dân cấp xã tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

- Tác giả Đặng Kát Anh: Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước hướng tới phát triển Chính phủ điện tử

- Tác giả Lê Quốc Cường: Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản

lý nhà nước của các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang;

- Tác giả Nguyễn Lâm Thanh Thủy: Xây dựng Chính phủ điện tử từ thực tiển tỉnh Đồng Tháp

Các đề tài đã công bố thường được xem xét dưới góc độ kỹ thuật tin học, ứng dụng phần mềm; cụ thể là dịch vụ hành chính công trực tuyến, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, hệ thống một cửa điện tử Mỗi vấn đề nghiên cứu chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu và đưa

ra giải pháp Tuy nhiên, chưa có giải pháp chung, toàn diện cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính tại Bảo hiểm xã hội

Vì vậy, với cách tiếp cận quản lý nhà nước, dưới góc nhìn của người trực tiếp tiếp nhận hồ sơ bảo hiểm xã hội, tác giả mong muốn thông qua đề tài

Trang 14

hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh" sẽ đưa ra một số nghiên cứu cụ thể về

vấn đề này Và đề tài này không trùng với những đề tài nghiên cứu đã được công bố cho đến thời điểm hiện nay

3 Mục đích nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và pháp lý về ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính bảo hiểm xã hội; từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và pháp lý vềứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC bảo hiểm xã hội tỉnh

- Phân tích, đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC tại BHXH TP HCM

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện ứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC tại BHXH TP HCM

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu

Ứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC tại BHXH TP HCM

- Phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu được thực hiện tại BHXH TP HCM

Thời gian từ năm 2011 đến nay

Nghiên cứu chỉ giới hạn trong việc ứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC giữa người dân và đơn vị sử dụng lao động đối với cơ quan BHXH TP HCM mà không đi sâu vào thủ tục hành chính giải quyết nội bộ của cơ quan BHXH

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận:

Trang 15

Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà nước và kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần gũi với đề tài

- Phương pháp nghiên cứu:

Vận dụng phương pháp thống kê, thu thập, tổng hợp, phân tích số liệu, kết hợp với quan sát thực tiễn, khảo sát tình hình ứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh một cách khách quan, toàn diện về mọi mặt

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận:Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học

tập, nghiên cứu về ứng dụng CNTTtrong thực hiện TTHC bảo hiểm xã hội

Ý nghĩa thực tiễn:Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở lý luận và thực

tiễn để xây dựng những giài pháp hoàn thiện ứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC tại BHXH TP.HCM

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương có nội dung như sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về ứng dụng công nghệ thông tintrong thực hiện thủ tục hành chính Bảo hiểm xã hội

- Chương 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tintrong thực hiện thủ tục hành chính tại Bảo hiểm xã hộiThành phố Hồ Chí Minh

- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 16

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TINTRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính

Quản lý nhà nước cũng giống như bất kỳ một hoạt động có mục đích nào đều phải thực hiện bằng một loạt các hoạt động nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định, nói cách khác nó diễn ra theo một thủ tục nhất định

Theo đó, tương ứng với ba lĩnh vực hoạt động của nhà nước là thủ tục lập pháp, thủ tục hành pháp và thủ tục tư pháp Thủ tục lập pháp là thủ tục làm Hiến pháp và làm luật do Quốc hội tiến hành Thủ tục tư pháp là thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự, định tội, được thực hiện bởi các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử…của các cơ quan tư pháp Còn TTHC là thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước Cần lưu ý rằng, chỉ các hoạt động quản lý HCNN được quy phạm TTHC điều chỉnh mới là thủ tục hành chính, còn tất cả các hoạt động tổ chức tác nghiệp cụ thể nào đó trong hoạt động quản lý HCNN không được các quy phạm TTHC điều chỉnh thì không phải là thủ tục hành chính

Theo các văn kiện của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật thì TTHC được hiểu là tổng thể các hành vi pháp lý cần thiết phải thực hiện theo cách thức, trình tự do pháp luật quy định nhằm tổ chức nhiệm vụ, quyền hạn hay quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong quản lý hành chính nhà nước Đó

là một loại quy phạm pháp luật quy định trình tự về thời gian, không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách thức giải

Trang 17

quyết công việc của các cơ quan nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan,

tổ chức và cá nhân công dân

Thủ tục hành chính gồm những nội dung cơ bản sau:

- Số lượng các hoạt động cụ thể để thực hiện những hoạt động quản lý nhất định;

- Trình tự của các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó;

- Nội dung, mục đích của các hoạt động cụ thể;

- Cách thức tiến hành, thời gian của hoạt động

Các yếu tố cấu thành của TTHC[15]:

- Tên thủ tục;

- Hồ sơ của thủ tục;

- Trình tự thực hiện;

- Cách thức thực hiện;

- Thời hạn giải quyết;

- Đối tượng thực hiện;

- Cơ quan có thẩm quyền giải quyết;

- Kết quả của thủ tục;

- Yêu cầu, điều kiện (nếu có);

- Mẫu đơn, tờ khai (nếu có);

- Phí, lệ phí (nếu có)

 Vị trí của TTHC: TTHC là một bộ phận của thể chế hành chính, là

một loại quy phạm pháp luật mang tính thủ tục TTHC được xem như cầu nối

để chuyển tải các quy định cụ thể về chính sách của nhà nước vào cuộc sống, đảm bảo cho người dân, tổ chức tiếp cận và thực hiện tốt các chính sách, nhất

là thực hiện các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức Các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp hay

ở các văn bản pháp luật khác có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào, về cơ bản, đều phải thông qua TTHC do các cơ quan hành chính nhà

Trang 18

 Vai trò của TTHC: Vai trò TTHC thể hiện ở chỗ nó cụ thể hóa

cách triển khai pháp luật để đưa pháp luật vào đời sống.Quy định TTHC chuẩn mực là cơ sở để đảm bảo chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành

chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý HCNN

Quản lý hành chính luôn luôn được thực hiện trên cơ sở phối hợp 3 yếu tố: Tổ chức, nhân sự và thủ tục điều hành Tổ chức có hợp lý, nhân viên có được sử dụng đúng khả năng và tiêu chuẩn, thủ tục điều hành có đơn giản thì quản lý mới hiệu quả Muốn tổ chức hợp lý phải có CCVC đủ khả năng và đúng tiêu chuẩn cũng như thủ tục điều hành rõ ràng, đơn giản Ngược lại, thủ tục rườm rà sẽ dẫn đến phình to tổ chức, thêm nhiều tầng nấc, CCVC có thêm

cơ hội dựa vào uy quyền của nhà nước để hạch sách gây khó khăn cho nhân dân, làm giảm uy tín của chính quyền

1.1.1.2 Khái niệm công nghệ thông tin

CNTT đã ngày càng đóng vai trò quan trọng, là một nhân tố thúc đẩy đối với thành công trong công cuộc đổi mới của Việt Nam Việt Nam coi CNTT là một trong những lĩnh vực ưu tiên để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước

CNTT là động lực quan trọng phát triển kinh tế tri thức, xã hội thông tin, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế; góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm phát triển nhanh

và bền vững đất nước Ngày nay, với tốc độ phát triển công nghệ như vũ bão việc khái niệm về CNTT có lẽ không còn xa lạ với mỗi người

CNTT (tiếng Anh: Information Technology, viết tắt là IT) được hình

thành từ Khoa học máy tính (Computer Science) Đây là một khái niệm khá rộng, nó bao hàm bên trong nhiều khái niệm khác nhau Một số khái niệm CNTT phổ biến hiện nay như:

- Theo UNESCO: CNTT bao gồm việc sử dụng các ứng dụng máy tính,

công nghệ viễn thông và tin học trong việc truy cập và cung cấp thông tin

Trang 19

riêng và chung Nó cho phép mọi người giao tiếp và trao đổi thông tin giới

hạn trong không gian số, làm việc tại văn phòng ảo và thiết lập một xã hội tri

- Theo Luật CNTT số 67/2006/QH1: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh

và các hoạt động kinh tế xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân CNTT được phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ Điện tử - Tin học - Viễn thông và tự động hoá

Nhìn chung, các quan điểm còn lại cũng đều đồng ý rằng CNTT là ngành nghiên cứu, sản xuất phần mềm và phần cứng máy tính, đồng thời cũng là ngành khoa học và công nghệ về thông tin và xử lý thông tin, sử dụng cụng cụ, phương tiện chủ yếu là máy tính điện tử Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài thì CNTT được hiểu là công nghệ hiện đại dựa trên hệ thống máy tính và viễn thông để khai thác, sử dụng thông tin một cách có hiệu quả nhất

Từ khi CNTT ra đời đã có những chuyển dịch đáng kể về công nghệ Những chuyển dịch này làm cho việc xử lý thông tin tự động hiệu quả hơn, việc sử dụng các thiết bị tin học dễ dàng hơn, năng lực xử lý thông tin mạnh

Trang 20

hơn và tin học, CNTT được ứng dụng rộng rãi hơn vào các lĩnh của đời sống

xã hội

Văn kiện Đại hội XII, lần đầu tiên Đảng ta khẳng định: “Khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu” nghĩa là mọi chủ trương, chính sách phát triển đất nước, phát triển kinh tế - xã hội cũng như bảo vệ Tổ quốc đều phải dựa vào khoa học, công nghệ và thực hiện bằng khoa học, công nghệ; khoa học, công nghệ phải đứng hàng thứ nhất và đi trước một bước trong mọi chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước

 Vị trí, vai trò của công nghệ thông tin

Năm 2000, sự ra đời của Chỉ thị 58, trong đó khẳng định rõ tầm quan trọng của CNTT với công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đã tạo ra luồng sinh khí mới, là kim chỉ nam cho CNTT Việt Nam phát triển mạnh mẽ Tiếp đó, ngày 01/7/2014, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế Việc nâng tầm từ Chỉ thị lên Nghị quyết đã thể hiện sự quan tâm của Bộ Chính trị và sự lãnh đạo của Đảng với công tác ứng dụng, phát triển CNTT; khẳng định vai trò, tầm quan trọng của CNTT trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới

Trong Nghị quyết 36, Bộ Chính trị xác định rõ những mục tiêu ngành CNTT Việt Nam cần đạt được thời gian tới: “CNTT phải được ứng dụng rộng rãi và trở thành một ngành kinh tế có tác động lan tỏa trong phát triển kinh tế-

xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng cuộc sống, chỉ số phát triển con người Việt Nam và nâng cao khả năng phòng thủ quốc gia trong chiến tranh mạng Đến năm 2030, đưa năng lực nghiên cứu, ứng dụng, phát triển, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ CNTT đạt trình độ tiên tiến thế giới; Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT và bằng CNTT”

CNTT giữ một vai trò rất quan trọng tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt tại Việt Nam, công nghệ thông tin được xem là nền tảng vững chắc phục

Trang 21

vụ cho tiến trình phát triển đất nước bền vững Ứng dụng và phát triển CNTT nhằm thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc dân, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, bảo đảm an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Hoạt động của cơ quan HCNN trong thời đại hiện nay cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của CNTT Ứng dụng CNTT giúp cho việc trao đổi thông tin trong hoạt động các cơ quan nhà nước cũng như cung cấp các dịch vụ và dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp sẽ trở nên tốt hơn, hiệu quả hơn, từng bước nâng cao tính minh bạch và bình đẳng

Chính phủ cũng xem việc ứng dụng CNTT là yếu tố cốt lõi để thúc đẩy cải cách hành chính từ Trung ương đến các địa phương, vào từng công đoạn trong công việc hành chính hàng ngày của mỗi một cán bộ, công chức tại cơ quan hành chính, góp nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và tác nghiệp của

cơ quan, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của công dân, tổ chức và là tiền đề quan trọng để tiến đến Chính phủ điện tử

1.1.1.3 Khái niệm dịch vụ công trực tuyến

Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng, gồm có 4 mức:

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: Là dịch vụ bảo đảm cung cấp đầy

đủ các thông tin về thủ tục hành chính và các văn bản có liên quan quy định

về thủ tục hành chính đó

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: Là dịch vụ công trực tuyến mức độ

1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ

Trang 22

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: Là dịch vụ công trực tuyến mức độ

2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: Là dịch vụ công trực tuyến mức độ

3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường Bưu điện đến người sử dụng

1.1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính

1.1.2.1 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính

Ứng dụng CNTT là sử dụng những kết quả của CNTT để hỗ trợ cho các khâu công việc cần thiết và cuối cùng, ở mức cao nhất là hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động và cá nhân tự trao đổi, khai thác thông tin trong môi trường CNTT; cải tiến, đổi mới qui cách làm việc, đạt hiệu quả công việc cao hơn,

đáp ứng được những thay đổi đang diễn ra Đó là việc sử dụng CNTT vào các

hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này

Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước phải được

ưu tiên, bảo đảm tính công khai, minh bạch nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước; tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân, góp phần đổi mới hoạt động của cơ quan nhà nước và chương trình cải cách hành chính

Đảng và nhà nước ta luôn coi CNTT và truyền thông là một trong những phương tiện khoa học, kỹ thuật quan trọng, đồng thời là ngành kinh tế

Trang 23

mũi nhọn để thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, xây dựng xã hội thông tin, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế chính sách và tập trung nguồn lực để phát triển CNTT, trong đó có việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính nói chung, trong cải cách thủ tục hành chính nói riêng

Trong thời gian qua Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về ứng dụng CNTT: Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT”; Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị

về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững

và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử; Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN giai đoạn 2016-2020…

1.1.2.2 Mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn

- Ứng dụng CNTT trong việc giải quyết các TTHC nhằm bảo đảm thông tin về những TTHC đến tổ chức, doanh nghiệp và người dân một cách nhanh nhất, rõ ràng, công khai, đồng thời tạo cơ sở tiến tới mở rộng việc thực hiện cung cấp các dịch vụ công trực tuyến

- Nhằm tạo dựng một phương thức hoạt động mới, phương thức lãnh đạo mới, hướng vào công dân, tạo một môi trường và cơ hội thuận lợi cho công dân trong việc thực hiện các giao dịch với Chính phủ, và các cơ quan nhà nước, góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính, mở rộng tiến trình giao lưu hội nhập quốc tế

- Xây dựng có hiệu quả Chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ cao và trong nhiều lĩnh vực, gắn kết chặt chẽ với triển khai

Trang 24

Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông Tổ chức nhân rộng mô hình tiêu biểu Chính quyền điện tử Tăng cường đánh giá, đôn đốc triển khai công tác ứng dụng CNTT[21]

1.1.2.3 Vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính

- CNTT cùng với sự phát triển của hệ thống interrnet sẽ giúp cho cơ quan HCNN xóa bỏ rào cản về mặt vật lý giữa các hệ thống thông tin dựa trên giấy tờ truyền thống, rút ngắn các quy trình thủ tục, cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp, lắng nghe người dân và cộng đồng cũng như trong việc tổ chức và cung cấp thông tin Việc rà soát, tái lập lại các quy trình và thủ tục để giảm bớt nạn quan liêu, hỗ trợ việc cung cấp dịch vụ, nâng cao năng suất về mặt hành chính và tăng cường tiết kiệm

- Ứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC giúp cho Chính phủ cải tiến mối tác động qua lại giữa ba chủ thể: Chính phủ, người dân và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tiến trình chính trị, kinh tế xã hội, tiến đến xây dựng Chính phủ điện tử Bằng việc tập trung giảm bớt các khâu rườm rà trong thủ tục, chú trọng đến việc cung cấp dịch vụ nhanh chóng và hiệu quả sẽ tạo ra môi trường thúc đẩy kinh doanh, thu hút đầu tư nhiều hơn

- CNTT giúp cho việc tự động hóa hoặc vi tính hóa các quy trình, thủ tục giấy tờ hiện hành Từ đó, sẽ đơn giản hóa các TTHC, tạo ra phong cách lãnh đạo mới, các cách thức mới trong việc xây dựng và quyết định chiến lược, cải tiến các hình thức cung cấp dịch vụ công Kết quả làm tăng tính hiệu quả của quá trình phê duyệt và cung cấp dịch vụ công một cách hiệu quả và kịp thời cho người dân, doanh nghiệp và cả trong hệ thống các cơ quan nhà nước

Có thể nói, CNTT có vai trò hết sức quan trọng trong việc cải cách hành chính và hiện đại hóa nền hành chính, xây dựng một nền hành chính

Trang 25

công hiện đại, tiện ích, kết nối thông suốt các văn bản, dữ liệu điện tử và lấy người dân làm trung tâm phục vụ hướng đến Chính phủ hiện đại mà ngày nay gọi là Chính phủ điện tử

1.1.2.4 Cơ sở pháp lý về ứng dụng công nghệ thông tin

Quốc hội, Chính phủ, các Bộ ban ngành các cấp ban hành nhiều văn bản quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, cụ thể:

Luật Giao dịch điện tử năm 2005

Luật Công nghệ thông tin năm 2006

Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số

Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước

Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg ngày 03/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường sử dụng hệ thống thư điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước

Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020

Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định

về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện

tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước

Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/4/2015 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế

Trang 26

Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ ngày 14/10/2015 về Chính phủ điện tử

Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông”

Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 - 2015

Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020

Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 - 2015

1.1.2.5 Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính

a) Xây dựng Chính sách, văn bản pháp luật:

- Xây dựng hệ thống văn bản pháp luật để điều chỉnh các giao dịch, dịch vụ điện tử Thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu điện tử; chữ ký điện tử, giao dịch điện tử và bảo vệ bí mật thông tin cá nhân

- Hoạch định chính sách, chiến lược xây dựng và phát triển ứng dụng CNTT Xây dựng, lựa chọn các chương trình ưu tiên để đầu tư và sử dụng nguồn lực tối ưu nhất Ban hành văn bản pháp luật cần thiết để tiến hành triển khai thực hiện, kiểm tra giám sát quá trình triển khai thực hiện, định hướng phát triển giai đoạn tiếp theo

Trang 27

b) Xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin:

Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu

Cơ sở hạ tầng thông tin là thành phần cơ bản nhất hỗ trợ cho các hoạt

động ứng dụng CNTT trên môi trường mạng an toàn, hiệu quả

Tùy theo điều kiện tài chính của cơ quan, đơn vị, nhu cầu ứng dụng CNTT mà xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin phù hợp:

- Xây dựng hạ tầng CNTT bao gồm phần cứng, phần mềm máy tính, mạng, thiết bị, an toàn thông tin, cơ sở vật chất để triển khai các ứng dụng CNTT

- Xây dựng thiết bị phần cứng, phần mềm cho người dùng cuối, gồm máy tính cá nhân, máy tính xách tay và thiết bị hỗ trợ cá nhân

- Xây dựng cơ sở hạ tầng mạng gồm mạng diện rộng (WAN, MAN), mạng cục bộ (LAN), mạng riêng ảo (VPN), kết nối Internet

- Xây dựng trung tâm dữ liệu, phòng máy chủ, gồm các máy chủ, thiết

bị mạng, thiết bị lưu trữ, cáp mạng, nguồn điện, thiết bị làm mát, quản lý (môi trường, an ninh, vận hành)

- Xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu phục vụ và đáp ứng nhu cầu của người dân Đó là cơ sở dữ liệu dùng chung trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ sở dữ liệu chuyên ngành đảm bảo thông tin phục vụ cho hoạt động chuyên ngành từng cấp, từng đơn vị, thông tin dữ liệu cung ứng cho người dân, doanh nghiệp và thông tin phản hồi của người dân… Các loại cơ sở dữ liệu phải được phân tích, đánh giá, xây dựng lộ trình, tích hợp chung, chia sẻ thông tin trên cơ sở phân cấp quản lý, phân công chức năng nhiệm vụ tại mỗi

vị trí khác nhau

- Xây dựng cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử cung cấp đầy đủ thông tin về TTHC, các hồ sơ, biểu mẫu cần phải thực hiện, tương

Trang 28

tác trực tuyến để giải quyết các TTHC qua mạng, trong quan hệ giao dịch giữa cơ quan HCNN với cá nhân, tổ chức về các dịch vụ: Đấu thầu, tư vấn, mua sắm hàng hóa, …

c) Xây dựng tổ chức bộ máy, phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho

việc ứng dụng công nghệ thông tin:

- Kiện toàn bộ máy tổ chức hoạt động của chính quyền các cấp từ tỉnh đến xã, bố trí đủ nguồn nhân lực phục vụ công việc, bố trí cán bộ phụ trách CNTT ở mỗi đơn vị

- Trang bị kiến thức về CNTT, kỹ năng sử dụng thiết bị CNTT cho cán

bộ lãnh đạo quản lý và cho người sử dụng, đào tạo đội ngũ những người chuyên về CNTT để đảm bảo việc phát triển và ứng dụng CNTT được ổn định và nâng cấp thường xuyên Đây là nội dung rất quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của việc ứng dụng CNTT

- Xây dựng, thực hiện kế hoạch đào tạo nhằm nâng cao nhận thức, trình độ ứng dụng CNTT của cán bộ, công chức, viên chức

d) Đảm bảo nguồn tài chính phục vụ ứng dụng công nghệ thông tin:

- Chi phí đầu tư cho việc ứng dụng CNTT của các cơ quan, đơn vị cần

sử dụng kinh phí lớn, gồm kinh phí đào tạo nhân sự, đầu tư trang thiết bị, xây dựng cơ sở dữ liệu… Do đó, phải tranh thủ nhiều nguồn vốn Trung ương, địa phương, xã hội hoá, hợp tác công tư, có phân kỳ đầu tư cho từng giai đoạn phù hợp

e) Tổ chức triển khai thực hiện đến người sử dụng thủ tục hành chính:

- Tuyên truyền, phổ biến đến người dân, các doanh nghiệp có nhu cầu thực hiện các TTHC để giải quyết công việc

- Thực hiện các giải pháp hỗ trợ đến người dùng như cử cán bộ hướng dẫn đơn vị sử dụng các phần mềm, hỗ trợ cài đặt…

Trong xu thế phát triển hiện nay, khi có được những nội dung cơ bản nêu trên, ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước các cấp nói chung, trong thực hiện TTHC nói riêng sẽ bắt đầu vào việc cung cấp thông tin cần thiết

Trang 29

trên nhiều lĩnh vực cho nhân dân, doanh nghiệp, công chức; hướng tới việc các cơ quan quản lý giảm phiền hà trong TTHC để phục vụ nhân dân một cách tốt hơn

1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính Bảo hiểm xã hội

1.2.1 Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính bảo hiểm xã hội

Bên cạnh việc thực hiện rà soát, cắt giảm TTHC, BHXH Việt Nam cũng đặc biệt chú trọng quan tâm đầu tư ứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC, thực hiện tin học hóa trong quản lý, giải quyết các chế độ chính sách Trong toàn ngành đã chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ-

CP ngày 06/02/2017 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện những nhiệm

vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020 và Nghị định số 166/2016/NĐ-CP ngày 24/12/2016 quy định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BH thất nghiệp

Theo báo cáo, đến nay BHXH Việt Nam đã cung cấp được 14 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4; tổng số đơn vị đăng ký giao dịch điện tử lên tới hơn 236 nghìn đơn vị; số hồ sơ thực hiện giao dịch điện tử khoảng 2,4 triệu hồ sơ trên tổng số 6,64 triệu hồ sơ giao dịch (tỷ lệ là 36%)

1.2.1.1 Xây dựng chính sách, văn bản pháp luật

- Ban hành và phát triển kiến trúc Chính phủ điện tử ngành BHXH;

- Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản chỉ đạo, điều hành liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật, tổ chức triển khai, khai thác mạng WAN, LAN, các trung tâm dữ liệu; duy trì, vận hành hệ thống cổng thông tin và các ứng dụng,

cơ sở dữ liệu tác nghiệp của ngành

- Xây dựng chính sách thu hút nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT

Trang 30

1.2.1.2 Xây dựng cơ sở hạ tầng

- Nâng cấp, hiện đại hóa trang thiết bị CNTT các cấp thường xuyên

- Xây dựng, nâng cấp, mở rộng mạng WAN, chuẩn hóa mạng LAN

- Xây dựng kho dữ liệu tập trung của BHXH Việt Nam nhằm tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử

- Mua sắm các công cụ quản lý phần mềm và dữ liệu ngành Nâng cấp, tập trung dữ liệu các phần mềm nghiệp vụ đáp ứng các dịch vụ công cấp 3, cấp 4 và các thay đổi theo quy trình nghiệp vụ mới của ngành tạo tiền đề triển khai phần mềm nghiệp vụ lõi trên phạm vi toàn quốc

- Nâng cấp các phần mềm nghiệp vụ và trang bị công cụ quản lý phần mềm, mã nguồn

- Xây dựng quy định về trao đổi dữ liệu giữa BHXH với Thuế và các cơ quan liên quan khác như Bộ Lao động Thương binh xã hội, Bộ Y tế , xây dựng công cụ trao đổi dữ liệu, kết nối CSDL BHXH và các Bộ, Ban, Ngành, các cơ sở khám chữa bệnh

1.2.1.3 Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo

- Xây dựng Khung năng lực cán bộ CNTT của BHXH Việt Nam, áp dụng vào cơ chế tuyển dụng để lựa chọn nhân sự phù hợp cho ngành

- Xây dựng Kế hoạch đào tạo nhân lực CNTT BHXH Việt Nam và tiến hành đào tạo định kỳ

- Đào tạo chuyên sâu về quản trị mạng, quản trị CSDL, an ninh mạng máy tính, an ninh dữ liệu cho cán bộ CNTT của Ngành Hình thức tổ chức là đào tạo tập trung tại trung ương;

- Đào tạo kiến thức, kỹ năng lập trình cho cán bộ của trung tâm tin học theo các chuẩn công nghệ mới Hình thức tổ chức theo các khóa học có chứng chỉ quốc tế do các tổ chức đào tạo trong nước có uy tín tổ chức;

Trang 31

- Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, đảm bảo an toàn, an ninh thông tin; chủ động kết hợp, học hỏi kinh nghiệm của các cơ quan nhà nước, các Bộ, Ban, Ngành liên quan, các đối tác và nhà cung cấp, các hãng công nghệ

1.2.1.4 Đảm bảo nguồn tài chính

Để đảm bảo thực hiện thành công các nhiệm vụ đã đặt ra trong giai đoạn 2016-2020, dự kiến kinh phí theo lộ trình thực hiện được xây dựng như sau:

- Vốn vay Ngân hàng thế giới - Nguồn vốn Ngân hàng thế giới dành cho chương trình hiện đại hóa BHXH Việt Nam

- Vốn trong nước: Nguồn chi ứng dụng công nghệ thông tin của BHXH Việt Nam, Quỹ dự phòng BHYT và các nguồn vốn hợp khác của BHXH Việt Nam

- Thực hiện thuê dịch vụ CNTT theo Quyết định 80 ngày 30/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định thí điểm về thuê dịch vụ CNTT trong cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo khả năng vận hành, khai thác hệ thống CNTT của ngành để giảm bớt áp lực về kinh phí, nhân sự

- Đa dạng hóa và tận dụng tối đa các nguồn vốn trong và ngoài ngành, tăng cường sử dụng nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế;

1.2.1.5 Thông tin tuyên truyền đến người sử dụng

- Xây dựng và thực hiện các Chiến dịch quảng bá về sử dụng dịch vụ công điện tử BHXH Việt Nam tới người dân và doanh nghiệp, đảm bảo tính hiệu quả và phổ biến của các dịch vụ công BHXH được cung cấp qua Internet

- Ứng dụng CNTT phục vụ các công tác khảo sát trực tuyến, khảo sát mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với các dịch vụ, giao dịch

do BHXH Việt Nam cung cấp

Trang 32

1.2.2 Sự cần thiết phải ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan nhà nước thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; thanh tra chuyên ngành việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật

BHXH Việt Nam quản lý đối tượng tham gia và thụ hưởng chính sách rất lớn: Năm 2017, toàn ngành quản lý 13,818 triệu người tham gia BHXH; 11,778 triệu người tham gia BHTN; 79,906 triệu người tham gia BHYT với tổng số thu 289.349 tỷ đồng và giải quyết hưởng chế độ hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng cho 159.595 người

Thông tin quản lý thực hiện theo các nghiệp vụ quản lý chuyên sâu: Quản lý thu BHXH, quản lý giải quyết chính sách, chế độ BHXH và quản lý chi trả chế độ đối với người lao động tham gia và hưởng BHXH đảm bảo các yêu cầu đúng, đủ, kịp thời, chặt chẽ, công bằng theo quy định của pháp luật

Hệ thống BHXH Việt Nam quản lý theo nguyên tắc tập trung, thống nhất nên phải xử lý một khối lượng thông tin khổng lồ với những yêu cầu cao

về nội dung, tính thống nhất, liên tục, tính pháp lý và tính chính xác của thông tin quản lý

Khối lượng công việc của ngành bảo hiểm xã hội ngày càng gia tăng trong khi đó định biên vẫn ổn định nên đã tạo ra nhiều áp lực cho công chức, viên chức Vì vậy, ứng dụng CNTT giảm số đầu mối công việc cho viên chức

là một biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng công việc

Ngành BHXH đang thực hiện 3 hình thức giao dịch với người lao động

và đơn vị sử dụng lao động gồm: Giao dịch trực tiếp tại cơ quan BHXH, giao

Trang 33

dịch qua dịch vụ bưu chính và giao dịch trực tuyến thông qua phần mềm giao dịch điện tử Trong đó, hình thức giao dịch qua dịch vụ bưu chính chiếm phần lớn

Là ngành có giao tiếp rất nhiều với người dân và đơn vị sử dụng lao động, BHXH Việt Nam xác định ứng dụng CNTT, đặc biệt là giao dịch BHXH điện tử là phương thức tối ưu để thực hiện giảm 1/3 số lần và 50% số giờ thực hiện các thủ tục hành chính của người dân và doanh nghiệp

Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 càng đòi hỏi phải phát triển CNTT, cải cách thủ tục hành chính cho nên rất cần đầu tư cơ sở hạ tầng, phương tiện làm việc đáp ứng cải cách mới, nhất là đầu tư phần mềm CNTT

Ngay từ khi đưa vào triển khai áp dụng tại các cơ quan bảo hiểm cũng như các doanh nghiệp trên cả nước, BHXH điện tử đã và đang mang lại nhiều lợi ích thiết thực Có thể kể đến như: tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí đi lại, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tránh được sự phiền hà, rườm rà, tiêu cực…

Ứng dụng CNTT đòi hỏi hệ thống BHXH Việt Nam cần phải thay đổi

tư duy và phương thức quản lý theo kịp yêu cầu của thời kỳ quản lý mới của

kỷ nguyên CNTT; công việc cũng như quy trình quản lý (xử lý nghiệp vụ) buộc phải tổ chức lại phù hợp hơn, khoa học hơn và đồng thời cũng là cơ hội nâng cao năng lực cho cán bộ viên chức của hệ thống liên quan đến việc thu nhập, xử lý và sử dụng thông tin trong thời đại hiện nay

Như vậy, do đặc thù tổ chức quản lý, chức năng nhiệm vụ quản lý cùng đối tượng quản lý và thông tin quản lý trong hệ thống BHXH, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý BHXH, hiện đại hóa thông tin quản lý ngành BHXH trở thành nhu cầu thiết thực và cấp bách Hệ thống thông tin quản lý BHXH được hiện đại hóa sẽ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến hiệu lực và hiệu quả quản lý của hệ thống BHXH Việt Nam

Trang 34

1.3 Thủ tục hành chính thực hiện tại Bảo hiểm xã hội Thành phố

Hồ Chí Minh

Bảo hiểm xã hội TP HCM đã xây dựng, áp dụng Quy trình tiếp nhận và trả hồ sơ theo cơ chế một cửa từ năm 2008 nhằm phục vụ các tổ chức, đơn vị

và người tham gia BHXH, BHYT, BHTN càng tốt hơn, chuyên môn hóa các

bộ phận nghiệp vụ, rút ngắn quy trình và thời gian trả hồ sơ giải quyết các chế

độ, chính sách Kết quả đến nay, có 25/25 đơn vị đầu mối thực hiện Quy trình tiếp nhận và trả hồ sơ theo cơ chế một cửa, đạt 100% các đơn vị triến khai

Bộ phận "một cửa" đóng vai trò là khâu kết nối tất cả các bộ phận nghiệp vụ trong đơn vị, qua đó, xây dựng cơ chế điều hành thống nhất trong

cơ quan, tập trung đầu mối để xử lý nhanh, hiệu quả công việc cho mọi tổ chức, cá nhân khi đến giao dịch được thuận lợi, giảm bớt các khâu trung gian thay vì phải đến trực tiếp từng bộ phận chuyên môn như trước đây

Hiện nay, Bảo hiểm xã hội tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính bằng 3 hình thức: Trực tiếp tại bộ phận Một cửa, qua dịch vụ bưu chính công ích, qua giao dịch điện tử

Với việc đa dạng hóa các phương thức giao dịch đã giúp tạo thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị, người lao động và người dân trong việc giao dịch và thụ hưởng chế độ

Mọi thông tin về TTHC (bộ TTHC) được công khai, minh bạch tại nơi làm việc 25/25 đơn vị đầu mối và trên trang thông tin điện tử của Bảo hiểm xã

hội TP HCM (http://bhxhtphcm.gov.vn)

Trong thực hiện TTHC, BHXH TP HCM đã tuân thủ các nguyên tắc: Hạn chế tối đa việc khai báo của tổ chức, cá nhân trong kê khai BHXH, BHYT, BHTN; đơn giản hóa việc kê khai TTHC theo hướng người kê khai tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai, cơ quan BHXH tăng cường khâu hậu kiểm; hạn chế tối đa việc yêu cầu người kê khai lấy xác nhận

Trang 35

của cơ quan nhà nước nếu xét thấy không cần thiết

Trên phiếu giao nhận hồ sơ tại mỗi thủ tục hành chính đều nên rõ: Trình tự thực hiện, cách thức thực hiện, thành phần hồ sơ, số lượng hồ sơ, thời hạn giải quyết, lệ phí, tên mẫu đơn, mẫu tờ khai

Bảo hiểm xã hội TP HCMđã đơn giản hóa nhiều thủ tục, giảm thời gian chờ đợi liên quan tới cấp sổ BHXH, thẻ BHYT Thời gian cấp mới sổ BHXH, thẻ BHYT, xác nhận sổ BHXH được điều chỉnh từ 7 ngày xuống 5 ngày Thời gian cấp lại sổ BHXH do thay đổi các nội dung trên sổ (họ, tên, ngày, tháng, năm sinh ) không quá 10 ngày, theo quy định trước đây là 15 ngày Việc cấp lại thẻ BHYT, cấp đổi giảm còn 3 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ và nhận ngay trong ngày với trường hợp không thay đổi thông tin

Quy trình mới tiếp tục cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin nhất là việc lấy dữ liệu hộ gia đình làm trung tâm trong việc quản lý đóng, hưởng BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị, doanh nghiệp và người dân tham gia

Bên cạnh đó, việc triển khai giao dịch điện tử trong lĩnh vực thu và cấp

sổ BHXH, thẻ BHYT và việc thực hiện tiếp nhận và trả kết quả, hồ sơ qua bưu điện được đánh giá là bước đột phá Đặc biệt, việc triển khai này đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp Cụ thể, đến nay, doanh nghiệp

đã không phải xếp hàng, chờ lấy số làm thủ tục nộp hồ sơ và nhận kết quả tại

cơ quan BHXH như trước đây Thí dụ, theo tính toán của BHXH TP HCM, phương thức giao dịch điện tử và qua hệ thống bưu điện đã giúp giảm 16 giờ

đi lại, chờ đợi trong việc làm thủ tục tại cơ quan BHXH cho một doanh nghiệp mỗi năm

Hằng năm, Bảo hiểm xã hội TP HCM ban hành Kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính, trong đó trọng tâm là rà soát các TTHC đã ban hành và kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa các văn bản để đánh giá và kịp thời loại bỏ hoặc sửa đổi thủ tục không phù hợp, đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản lý, đồng thời đơn

Trang 36

giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của cá nhân,

tổ chức và doanh nghiệp

Cùng với việc rà soát, đánh giá các thủ tục hành chính, Bảo hiểm xã hội

TP HCM còn kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính, đảm bảo không ban hành thêm các thủ tục, hồ sơ, giấy tờ nằm ngoài quy định của pháp luật

Các quy định, quy trình, thủ tục thuộc tất cả các lĩnh vực nghiệp vụ phải vừa đáp ứng yêu cầu quản lý, vừa đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức cho cá nhân, tổ chức tham gia và thụ hưởng chính sách

Hệ thống giao dịch điện tử trong lĩnh vực đóng bảo hiểm xã hội đến nay đã cơ bản hoạt động ổn định, giúp rút ngắn đáng kể thời gian và tiết kiệm chi phí cho các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị khi thực hiện giao dịch, chất lượng giải quyết các thủ tục hành chính được nâng cao

Ngoài giao dịch điện tử, nhiều TTHC cũng được Bảo hiểm xã hội TP HCMquyết liệt cải cách, rút gọn nhằm tạo thuận lợi cho người tham gia BHXH như: Bỏ quy định ký 2 lần/năm với người nhận lương hưu qua ATM; chuẩn bị giao sổ BHXH cho NLĐ; chi trả tiền BHXH trực tiếp vào tài khoản người thụ hưởng… Đặc biệt, văn hóa ứng xử và phong cách phục vụ của CCVC ngành BHXH đã chuyển biến tích cực theo mục tiêu phục vụ người tham gia và thụ hưởng BHXH, BHYT tốt nhất

Người dân, DN sử dụng dịch vụ bưu chính công ích để làm các TTHC

về BHXH đều được miễn phí toàn bộ Nhờ vậy, thời gian giao dịch BHXH của DN giảm từ 335 giờ (năm 2014) xuống 147 giờ (năm 2017)

Qua quá trình rà soát, cải cách, hiện số thủ tục BHXH giảm xuống còn

28 thủ tục, được phân ra thành 6 lĩnh vực (các thủ tục hồ sơ, biểu mẫu đi kèm

được liệt kê chi tiết trong phần phụ lục):

- Thủ tục hồ sơ Thu BHXH, BHYT, BHTN

Trang 37

- Thủ tục hồ sơ giải quyết chế độ BHXH

- Thủ tục hồ sơ thanh toán BHYT

- Thủ tục hồ sơ sổ BHXH, thẻ BHYT

- Thủ tục chi chế độ BHXH

- Thủ tục hồ sơ sao y

Trang 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1 trình bày những vấn đề lý luận và pháp lý về ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính Bảo hiểm xã hội bao gồm: Thủ tục hành chính, công nghệ thông tin, nội dung ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết thủ tục hành chính của ngành bảo hiểm xã hội… Để cải cách thủ tục hành chính đạt hiệu quả cao thì cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình giải quyết thủ tục hành chính Tuy nhiên, ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết các thủ tục hành chính như thế nào cho hiệu quả là một bài toán khó nhất là đối với cơ quan phát sinh nhiều TTHC như BHXH TP HCM

Từ những nghiên cứu lý luận và pháp lý trên,chương 2 sẽ đi sâu vào tìm hiểu thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan BHXH Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 39

Chương 2:

THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Khái quát về thủ tục hành chính khi ứng dụng công nghệ thông tin tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1 Khái quát về Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh

- BHXH TP Hồ Chí Minh là cơ quan sự nghiệp nhà nước trực thuộc BHXH Việt Nam, được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 6/1995, đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong hệ thống tổ chức của BHXH Việt Nam, có chức năng giúp Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ BHXH, BHYT, BHTN và quản lý quỹ BHXH, BHYT, BHTN

- BHXH Thành phố Hồ Chí Minh chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam và chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn Thành phố của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- BHXH Thành phố Hồ Chí Minh có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng

Cơ cấu tổ chức:

BHXH TP HCM gồm 01 Giám đốc và 04 Phó Giám đốc, 14 phòng nghiệp vụ và 24 BHXH quận, huyện; cơ cấu tổ chức được thể hiện qua sơ đồ sau:

Trang 40

GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

Phòng Quản lý thu

Phòng Khai thác và thu nợ

Phòng Cấp sổ, thẻ

Phòng

Tổ chức cán bộ

Phòng

Kế hoạch - Tài chính

Phòng Kiểm tra

Phòng Công nghệ thông tin

Phòng Tiếp nhận và trả

KQTTHC

Phòng Quản lý

hồ sơ

Văn Phòng

Phòng tuyên truyền

Sơ đồ2.1:Các phòng nghiệp vụ trực thuôc BHXH TP HCM

GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

BHXH QUẬN 4

BHXH QUẬN 5

BHXH QUẬN 6

BHXH QUẬN 8

BHXH QUẬN 9

BHXH QUẬN 10

BHXH QUẬN 11

BHXH QUẬN 12

BHXH QUẬN 7

GÒ VẤP

BHXH QUẬN PHÚ NHUẬN

BHXH QUẬN TÂN BÌNH

BHXH QUẬN TÂN PHÚ

BHXH HUYỆN BÌNH CHÁNH

BHXH HUYỆN CẦN GIỜ

BHXH HUYỆN

CỦ CHI

BHXH HUYỆN HÓC MÔN

BHXH QUẬN THỦ ĐỨC

BHXH HUYỆN NHÀ BÈ

Sơ đồ 2.2: BHXH quận, huyện trực thuộc BHXH TP HCM

2.1.2 Quy trình giải quyết thủ tục hành chínhkhi có ứng dụng công nghệ thông tintại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh

Trước đây, để thực hiện chế độ chính sách liên quan đến BHXH, BHYT, BHTN, các doanh nghiệp đều phải đến cơ quan BHXH để giao dịch trực tiếp Tuy nhiên, từ tháng 7/2015 đến nay, BHXH TP HCM đã thực hiện

mô hình giao dịch qua Bưu điện và giao dịch điện tử trong tiếp nhận, giải

Ngày đăng: 16/03/2021, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w