1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng chính sách huy động vốn của nhtm

33 177 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chính sách huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Láng Hạ
Trường học Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị Ngân hàng
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 154,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

qua hệ thống máy rút tiền tự động ATM- Automatic Teller Machine On_line 24/24 giờ giúp khách hàng giao dịch thuận tiện với ngân hàng.Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế, ngân hàng thực

Trang 1

Thực trạng chính sách huy động vốn của

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Láng Hạ

2.1 Khái quát về Chi nhánh NHNo& PTNT Láng Hạ

2.1.1 Lịch sử hình thành

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, được thành lập theo nghị định số 53-HĐBT ngày 226/3/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) với tên gọi đầu tiên là ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam và qua hai lần đổi tên; lần thư nhất mang tên: Ngân hàng Nông nhiệp Việt Nam; lần thứ hai theo quyết định số 280/QĐ- NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành NHNo& PTNT (NHNo& PTNT VN) (Tên giao dịch quốc tế là Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development; Viết tắt: VBA & RD); hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90

Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng Hạ (Chi nhánh Láng Hạ- CNLH) được thành lập theo quyết định số 334/QĐ-NHNo- 02 của Tổng giám đốc NHNo& PTNT Việt Nam, về việc thành lập Chi nhánh Láng Hạ Là Chi nhánh cấp 1, trực thuộc sự quản lý trực tiếp từ NHNo& PTNT, ngày 17/03/1997 Chi nhánh chính thức đi vào hoạt động, với mục đích

mở rộng hoạt động của hệ thống NHNo& PTNT Việt Nam (NHNo Việt Nam) trong cả nước cũng như tìm kiếm cơ hội vươn ra thị trường bên ngoài

Chi nhánh Láng Hạ, là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền

tệ, với đầy đủ tư cách pháp nhân, có con dấu, có bảng cân đối kế toán, bảng cân đối tài sản riêng Hiện tại trụ sở chính của CNLH là ở số 24 Láng Hạ, Quận Đống Đa- Thành phố Hà Nội

Sau hơn 6 năm thành lập và đi vào hoạt động kinh doanh, CNLH đã có những bước phát triển đáng kể, trên mọi bình diện, đáp ứng mục tiêu của NHNo Việt Nam, cũng như Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam trong việc mở rộng hoạt

Trang 2

động, phát triển cả về chất lượng và quy mô cũng như các hoạt động khác của của toàn Chi nhánh.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của CNLH bao gồm Ban Giám đốc với một Giám đốc, 01 Phó Giám đốc thường trực, 01 Phó Giám đốc phụ trách kinh doanh, và 8 phòng chức năng Cơ cấu tổ chức và điều hành của Chi nhánh được thể hiện trong sơ

đồ sau

Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Láng Hạ

Phòng Tín dụng Phòng K.hoạch Nguồn Vốn Phòng Thanh Toán Quốc Tế phòng TCCB& ĐT phòng Thẩm định

CN Bách khoa Các phòng giao dịch Phó Giám đốc KD Phòng Kiểm soát Phó Giám đốc Các phòng giao dịch Phòng H Chính Quản trị Phòng kế toán

Giám đốc

Các phòng chức năng của Chi nhánh bao gồm; Phòng Kế toán- Ngân quỹ (bao gồmTổ điện toán); Phòng Hành chính- Quản trị, hai phòng này do Phó giám đốc Thường trực trực tiếp quản lý, điều hành; các phòng: Phòng

Trang 3

Thanh toán Quốc tế; Phòng Kế hoạch- Nguồn Vốn; Phòng Tín dụng, do Phó giám đốc phụ trách kinh doanh trực tiếp điều hành và quản lý; Các phòng còn lại do Giám đốc quản lý và chỉ đạo hoạt động là: Phòng Tổ chức Cán bộ và Đào tạo; Phòng Kiểm soát và Phòng Thẩm định; CNLHcó một Chi nhánh cấp

2 trực thuộc đó là Chi nhánh Bách Khoa, và một phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Bách Khoa đó là phòng giao dịch Lò Đúc

Về cơ cấu tổ chức cán bộ của Chi nhánh là, tính đến hết ngày 31/12/2003 Chi nhánh có 183 Cán bộ Viên chức (CBCNV) trong đó Ban Giám đốc có 03 người; Phòng Kế toán- Ngân quỹ (gồm Tổ điện toán) 50 người; Phòng Hành chính Quản trị 13 người; Phòng Thanh toán Quốc tế 15 người; Phòng Tín dụng

25 người; Phòng Tổ chức Cán bộ và Đào tạo 05 người; Phòng Kế hoạch- Nguồn Vốn 05 người; Phòng Thẩm định 03 người;

05 Phòng giao dịch: Số 02 Ngõ Trạm 09 người; Số 03, 36 Doãn Kế Thiện

06 người; Trung Kính (Trung Hoà Cầu Giấy) 06 người; 06 Hàng Mã 06 người;

07 Đào Tấn 06 người; Chi nhánh Bách Khoa 28 người (trong đó 07 người của Phòng giao dịch phố Lò Đúc)

Bảng 1: Trình độ chuyên môn của CBCNV trong Chi nhánh

Trang 4

Trong tổng số CBCNV của Chi nhánh có tới 22,30% mới chỉ qua đào tạo trung sơ cấp và chưa qua đào tạo khác, nguyên nhân này là do Chi nhánh

đã tiếp nhận số CBCNV từ Công ty In ngân hàng 31 người (năm 2001) và từ Công ty Vàng Bạc Đá quý Việt Nam 30 người (năm 2003) hầu hết mới chỉ sơ qua đào tạo; Tuy nhiên gần 80% CBCNV của Chi nhánh có trình độ Cao đẳng, Đai học và trên Đại học, do đó đây là nguồn tiềm lực rồi rào về nhân sự của Chi nhánh trong tương lai

2.1.3 Nghiệp vụ kinh doanh của Chi nhánh Láng Hạ

Trao đổi và mua bán ngoại tệ, Một trong những nghiệp vụ ngân hàng đầu tiên

là trao đổi ngoại tệ Ngân hàng đứng ra mua bán hoặc trao đổi một loại đồng tiền này lấy một loại đồng tiền khác để hưởng chênh lệch giá hoặc thu phí dịch

vụ, thực hiện thanh toán hoặc làm ngân hàng đại lý phục vụ cho hoạt động Xuất- nhập khẩu, và như trao đổi thương mại

Nhận tiền gửi, một trong những nguồn quan trọng hình thành nên nguồn vốn hoạt động của Chi nhánh là các khoản tiền gửi Chi nhánh mở dịch vụ nhận tiền gửi của người có tiền mang tới gửi với cam kết hoàn trả đúng hạn Khách hàng sẽ nhận được một khoản tiền lãi trên khoản tiền gửi của mình tuỳ thuộc vào hình thức và thời hạn của các khoản tiền gửi và mức lãi suất công bố, hoặc thoả thuận giữa ngân hàng với khách hàng

Cho vay, bằng những khoản tiền huy động được ngân hàng sẽ cho các tổ

chức kinh tế và cá nhân vay với lãi suất cao hơn lãi suất huy động Ngân hàng

sẽ nhận được phần chênh lệch để bù đắp những chi phí cho hoạt động và một phần lợi nhuận Đây là nghiệp vụ mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng;

Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, ngân hàng mở tài khoản

cho khách hàng bằng nhiều hình thức Khách hàng sẽ nhận được séc và khi thanh toán khách hàng không cần dùng tiền mặt trực tiếp, việc thanh toán sẽ được ngân hàng thực hiện, hay cũng có thể ngân hàng sẽ thực hiện yêu cầu của khách hàng để thanh toán, chuyển tiền thông qua hệ thống mạng điện tử liên ngân hàng Ngày nay, do sự phát triển của khoa học công nghệ, nên hệ thống ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng dịch vụ rút tiền tự động thông

Trang 5

qua hệ thống máy rút tiền tự động (ATM- Automatic Teller Machine) On_line 24/24 giờ giúp khách hàng giao dịch thuận tiện với ngân hàng.

Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế, ngân hàng thực hiện chuyển tiền, nhờ

thu, mở và thanh toán L/C phục vụ khách hàng trong và ngoài nước, dịch vụ ngân hàng đại lý;

Bảo quản vật có giá, ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản của ngân hàng và thu phí;

Bảo lãnh, ngân hàng có thể đứng ra bảo lãnh cho khách hàng về khả năng thanh toán đối với đối tác của họ nhất là đối tác nước ngoài;

Tài trợ cho các hoạt động của chính phủ;

Cung cấp các dịch vụ và môi giới chứng khoán;

Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm;

Cung cấp các dịch vụ ngân hàng đại lý, cho các ngân hàng thương mại khác trong cả nước, hoặc đại lý cho ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam khi mà nó chưa có Chi nhánh hay văn phòng đại diện tại Việt Nam,;

Thực hiện các chương trình, các dự án của NHNo& PTNT Việt Nam, Như Dự án nâng cấp tổng đài điện thoại của Bộ Bưu chính viễn thông Việt Nam, Cùng một số dự án khác mà có chỉ định hoặc mời tham gia

2.1.4 Một số kết quả kinh doanh chủ yếu trong vài năm trở lại đây

2.1.4.1 Giai đoạn 1997- 2000

Trong 4 năm đầu hoạt động mặc dù gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận, chiếm lĩnh thị phần thị trường Thành thị và tìm kiếm, thu hút khách hàng nhưng Chi nhánh cũng đã đạt được những kết quả rất khả quan Kết qủa năm sau cao hơn hẳn so với năm trước, thậm trí còn cao gấp nhiều lần

Trang 6

Bảng 02: Kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm

Năm Chỉ tiêu 31/12/1997 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000

Nguồn: Lịch sử Chi nhánh NHNo& PTNT Láng Hạ 3/1997-3/2003

Về tổng nguồn vốn, qua bảng trên chúng ta thấy năm 1997 dù chỉ có 7 tháng

hoạt động mà Chi nhánh đã có kết quả huy động vốn khá khả quan, đạt 202 tỷ đồng, sang năm 1999 đạt 685 tỷ đồng gấp hơn 3 lần năm 1997, con số này gần như tăng gần gấp đôi qua các năm 1999, 2000, là 1.131 tỷ đồng và 2.043 tỷ đồng

Về tổng dư nợ, của Chi nhánh chiếm tỷ trọng cao so với tổng nguồn vốn

hoạt động tại thời điểm 31/12 hàng năm, Con số dư nợ đạt 51 tỷ đồng năm 1997 chiếm 25,25% tổng nguồn vốn hoạt động của Chi nhánh, lên 81 tỷ đồng năm

1998 chiếm 11,82% tổng nguồn vốn, tăng58,82% so với cùng kì năm 2001; con

số này là 154 tỷ đồng và 661 tỷ đồng, chiếm 13,62%; 32,35% tổng nguồn vốn hoạt động trong 2 năm 1999 và 2000, mức tăng trưởng so với năm trước là 90,12% và 329,22% ; năm 2001 con số này sang là 1.030 tỷ đồng, tăng 55,82%

so với năm 2000 và chiếm tỷ trọng 39,02% trong tổng nguồn vốn hoạt động Mặc dù trong 2 năm 1999, 2000 tỷ lệ dư nợ của năm 2000 có cao hơn so với năm 1999, điều này cho thấy lượng vốn đầu tư cho trung và dài hạn của Chi

Trang 7

nhánh ngày càng tăng, Chi nhánh đã chú trọng đầu tư vào các dự án có thời gian thu hồi vốn dài, tạo được năng lực sản xuất cho nền kinh tế Đặc biệt trong tổng

dư nợ của Chi nhánh không có nợ quá hạn, nợ xấu

Về công tác Kế toán- Ngân quỹ, tổng doanh số thanh toán qua các năm, từ 5

ngàn tỷ năm 1997, lên 27 ngàn tỷ năm 1998 (gấp 5,4 lần năm trước), năm 1998 con số này là 28 ngàn tỷ, năm 2000 là 53 ngàn tỷ Đặc biệt, hiện nay CNLH là đầu mối thanh toán cho 30 tỉnh thành trong cả nước, riêng doanh số thanh toán

bù trừ đã đạt hàng trăm tỷ một ngày, thậm trí có ngày lên tới hàng nghìn tỷ đồng

Về công tác Thanh toán Quốc tế, mặc dù có nhiều khó khăn khi mới đi vào

hoạt động nhưng Chi nhánh cũng đã có những kết quả đáng mừng qua các năm hoạt động và phát triển sau này Riêng năm 1997 với con số khiêm tốn 2,5 triệu USD (các ngoại tệ quy về giá trị đồng USD); sang năm 1998 con số này tăng lên gấp 33,5 lần với tổng số là 83 triệu USD; năm 1999 là 96 triệu USD; năm

2000 là 125 triệu USD, tăng 30,21% so với năm 1999, và 50,60% so với năm 1998

Doanh số mua bán ngoại tệ, qua các năm cũng là kết quả đáng tự hào; năm

1997 chỉ đạt 2,0 triệu USD, sang năm sau 1998 con số này tăng lên gấp 21 lần tương đương 42 triệu USD; năm 1999 tuy tốc độ tăng không cao như năm 1998 nhưng cũng đạt 64 triệu USD, năm 2000 đạt 146 triệu USD (gấp 2,8 lần năm 1999)

Với những kết quả như trên cho chúng ta thấy khả năng mở rộng quy mô

hoạt động và nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả ngày một cao, đây sẽ là tiền đề vững chắc cho Chi nhánh thực hiện những bước đi mang tính chiến lược trong các năm đầu của thế kỷ XXI

2.1.4.2 Giai đoạn 2001- 2003

Với kết quả đã đạt được trong gần 4 năm thành lập và đi vào hoạt động vừa qua, đã tạo ra cho CNLH một chỗ đứng vững chắc trong lòng Thủ đô Hà Nội Với màng lưới các phòng giao dịch, Chi nhánh trực thuộc Đội ngũ cán bộ viên chức nhiệt tình, năng động, sáng tạo trong công tác Chi nhánh đã đặt quan

Trang 8

hệ rộng lớn với các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh, tại Thủ đô Hà nội

và các địa phương khác trong cả nước, Tất cả đã tạo điều kiện cho Chi nhánh đạt được kết quả cao ngay từ những năm đầu của thế kỷ thứ XXI

a Hoạt động huy động vốn

Trong 3 năm 2001, 2002, 2003 CNLH không ngừng quan tâm tới công tác huy động vốn, luôn coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động của Chi nhánh Với vị trí địa lý thuận lợi, ngay giữa lòng Thủ đô, nơi

mà thu nhập quốc dân bình quân đạt tỷ lệ cao so với cả nước Chi nhánh đã không ngừng quảng cáo, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là các tạp chí chuyên ngành của Ngành Cùng với việc nâng cấp hệ thống

cơ sở hạ tầng và thái độ phục vụ của Cán bộ Viên chức, Chi nhánh đã rất thành công trong hoạt động huy động vốn cũng như thực hiện chính sách huy động vốn Kết quả cụ thể công tác huy động vốn của Chi nhánh trong các năm được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 03 Nguồn vốn hoạt động của Chi nhánh Láng Hạ

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2002, 2003)

Qua bảng trên ta thấy, tính đến hết ngày 31/12/2003 tổng nguồn vốn kinh doanh của Chi nhánh là 4.037 (tỷ đồng- làm tròn số, và các loại ngoại tệ được quy về VND theo tỷ giá tại thời điểm tính) tăng 105,90% so với năm 2002, là 3.812 tỷ đồng Tăng 153,50% so với cùng kỳ năm 2001, tương đương 2.630 (tỷ đồng) Trong tổng nguồn vốn kinh doanh thì nguồn vốn huy động là 3.138 năm

Trang 9

2003, chiến tỷ trọng 73,37% so với tổng nguồn vốn, tăng 105,94% so với năm

2002 (là 2.926 tỷ đồng), và bằng 162,59% của năm 2001 (1.930 tỷ đồng) Nguồn vốn uỷ thác của CNLH qua các năm cũng có sự tăng trưởng cả về số tương đối và số tuyệt đối, năm 2001 là 700 tỷ đồng, năm 2002 lên 850 tỷ đồng tăng 21,43% so với năm trước, năm 2003 con số này là 900 tỷ đồng tăng 5,88%

so với năm 2002, và 28,57% so với năm 2001 Điều này khẳng định rằng uy tín của Chi nhánh ngày càng được nâng cao, hoạt động kinh doanh ngày càng hiệu quả Đồng thời Chi nhánh cũng nắm trong tay danh mục các dự án lớn đang và

sẽ đầu tư, cho nên nhu cầu về vốn là rất lớn, thêm vào đó Chi nhánh cũng thực hiện tài trợ hoặc đồng tài trợ các dự án có quy mô vốn lớn cần sự hợp tác

Ngoài ra trong hoạt động của mình CNLH, đã đảm bảo khả năng thanh khoản, không để tình trạnh thiếu hụt dự trữ hay mất khả năng thanh toán cho khách hàng, điều này thể hiện quan việc Chi nhánh không phải vay vốn của các

tổ chức tín dụng, các NHTM, hay vay của Ngân hàng Nhà Nước để đáp ứng nhu cầu dự trữ hay thanh toán của mình

b Hoạt động Sử dụng vốn

Cũng như các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác, hoạt động của CNLH chủ yếu là hoạt động tín dụng, trong đó hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng Trên một địa bàn tập trung nhiều doanh nghiệp Nhà Nước, và các loại hình doanh nghiệp khác, đã tạo thuận lợi cho Chi nhánh trong việc cấp tín dụng, bởi nó vừa an toàn vừa đảm bảo khả năng thu nợ, cùng các mục tiêu khác của Chi nhánh Tình hình dư

nợ của Chi nhánh qua các năm được thể hiện trong bảng số liệu sau:

Bảng 04 Hoạt động tín dụng của Chi nhánh Láng Hạ

(Đơn vị: tỷ đồng)

+/-Bình quân

31/12/2001 31/12/2002 31/12/2003

Trang 10

Tổng nguồn vốn kinh doanh 2.630 3.812 4.037 703,5

Theo loại hình doanh nghiệp 1.030 1.466 1.515 242,5

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2001, 2002, 2003)

Nhìn một cách tổng thể, mức tăng trưởng tín dụng của Chi nhánh qua các năm đạt tỷ lệ cao, mức tăng trưởng bình quân là 242,5 (tỷ đồng) Trong đó dư

nợ trung và dài hạn có chiều hướng tăng mạnh, điều này cho chứng tỏ Chi nhánh đã tập chung có chiều sâu và các dự án có quy mô lớn, thời gian hoàn vốn dài Đối với DNNN (Doanh nghiệp Nhà Nước) Mặc dù chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn tín dụng nhưng đang có xu hướng giảm xuống, điều này

là do Chi nhánh đã quan tâm hơn tới các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, một thị trường rộng lớn, trong tương lai thì đó là khách hàng chủ yếu của Chi nhánh nói riêng và các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại nói chung Mặt khác cho thấy tỷ lệ cho vay bằng ngoại tệ của Chi nhánh cũng có chiều hướng tăng ngày càng cao, tuy so về số tuyệt đối còn thấp nhưng về tương đối khá cao

Năm 2003 mức độ cho vay tăng không đáng kể 3,34% so với năm 2002, 47,08% so với năm 2002 là do trong năm có một số hợp đồng cấp tín dụng cho các dự án trung và dài hạn nhưng chưa giải ngân Do tách Chi nhánh Bà Triệu (trực thuộc CNLH) về Chi nhánh Đông Hà Nội làm dư nợ của Chi nhánh giảm

146 (tỷ đồng)

Trang 11

c Kết quả hoạt động khác

Bên cạnh các hoạt động trên, CNLH còn tiến hành nhiều hoạt động khác như hoạt động Thanh toán Quốc tế, hoạt động mua bán Ngoại tệ, Công tác Kế toán- Ngân quỹ và cuối cùng là kết quả hoạt động kinh doanh được thể hiện trên tài khoản 946A (Quỹ thu nhập) Số liệu cụ thể được trình bày ở bảng sau:

Bảng 05 Kết quả hoạt động khác của Chi nhánh Láng Hạ

Chỉ tiêu Thực hiện 31/12/2001 31/12/2002 31/12/2003

+/-Kết quả tài chính (tỷ đồng) 37,000 48,000 102,000 32,500

Kế toán- Ngân quỹ (tỷ đồng) 64.009 80.000 132.804 34.397

Thanh toán Quốc tế (triệu USD) 152,172 241,000 527,000 187,41

Mua bán Ngoại tệ (triệu USD) 182,000 266,000 362,000 90,000

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2001, 2002, 2003)

Qua bảng trên, qua các năm kết quả phản ánh đều có xu hướng tăng mạnh, năm sau cao hơn năm trước Trong các chỉ tiêu trên có chỉ tiêu Thanh toán quốc tế và mua bán ngoại tệ đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất Kết quả đó là

do Chi nhánh đã tiến hành thanh toán cho một số hoạt động phục vụ xuất nhập khẩu, mở rộng màng lưới thanh toán (lên 3 Chi nhánh); thứ hai là làm dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng bạn trong và ngoài nước Từ tháng 8 năm

2001 Chi nhánh đã làm đại lý thanh toán kiều hối (đại lý cho ngân hàng ACB và Western Union- cho ngân hàng Industrial Bank và các ngân hành khác) Riêng đối với công tác kế toán ngân quỹ, do Chi nhánh làm đầu mối thanh toán cho hơn 30 ngân hàng trong cả nước (nhất là khu vực Miền bắc) cho nên doanh số thanh toán bình quân qua các năm đạt rất cao, trung bình đạt 66,51%/năm, tương đương 92.271 tỷ đồng

2.2 Thực trạng chính sách huy động vốn của Chi nhánh NHNo& PTNT Láng Hạ

2.2.1 Tình hình chung về công tác huy động vốn

Trang 12

Ngân hàng Thương mại hoạt động không phải bằng nguồn vốn tự có mà chủ yếu bằng nguồn vốn huy động, do vậy mà hoạt động huy động vốn luon được coi là nhiệm vụ trọng tâm và luôn được ưu tiên hàng đầu, bởi nó quyết định đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại CNLH với vị trí địa lý thuận lợi, nằm giữa trung tâm Thủ đô Hà nội, nơi tập trung dân cư đông đúc, tập trung nhiều tổ chức, doanh nghiệp mức thu nhập bình quân đầu người và tốc độ phát triển kinh tế vào hàng nhất nhì trong cả nước Thấy được tầm quan trọng của của mình, cũng như công tác huy động vốn CNLH đã rất quan tâm và trú trọng tới hoạt động huy động vốn, coi nguồn vốn huy động là nguồn chính của Chi nhánh (Chi nhánh không có trong tay lượng vốn chủ sơ hữu mà mình cần mình, mà phần này thuộc sự quản lý và sử dụng của NHNo Việt Nam) Trải qua gần 7 năm hoạt động và phát triển, nhất là trong các năm trở lại đây Mặc dù còn non trẻ, song Chi nhánh đã thực hiện rất thành công công tác cũng như chính sách huy động vốn, và đã thu hút được nhiều nguồn khác nhau, giúp Chi nhánh

có vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh Năm 1997 tổng lượng vốn hoạt động kinh doanh của Chi nhánh là 202 tỷ đồng trong đó lượng vốn huy động chiếm tỷ trọng là 100%, thì sang năm 1998, tổng lượng vốn hoạt động kinh doanh lên tới

685 tỷ đồng trong đó vốn huy động chiếm 70,80%, còn lại là vốn uỷ thác, giấy

tờ có giá, con số này tường ứng qua các năm 1999, 2000 là 1.131 tỷ đồng, 2000 trong đó vốn huy động chiếm 60,12%, 70,00% Điều này khẳng định vốn huy động luôn là nguồn quan trọng bậc nhất cho hoạt động của Chi nhánh Láng Hạ

Bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, công tác huy động vốn của Chi nhánh đã có những bước tăng trưởng đáng kể và ổn định, năm sau cao hơn năm trước

Biểu 01: Tổng nguồn vốn hoạt động của Chi nhánh qua các năm

Trang 13

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2001, 2002, 2003

Qua bảng trên ta thấy qua so với tổng nguồn vốn hoạt động kinh doanh thì lượng vốn huy động của Chi nhánh ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng Tỷ trọng vốn huy động trong tổng vốn hoạt động của Chi nhánh là 73,38% năm 2001, tăng 37,86% so với năm 2000; năm 2002 là 77,70% tăng so với năm 2001 là 53,47% Sang năm 2003 tăng 175 tỷ đồng tương đương 5,91%

so với năm 2001 và chiếm tỷ trọng 77,71% trên tổng nguồn vốn, nếu so sáng với năm 2001 con số này là 1.207 tỷ đồng tương đương tăng 62, 54%

2.2.2 Các chính sách huy động vốn mà Chi nhánh áp dụng

Nguồn vốn huy động, có vai trò quan trọng và luôn luôn chiếm tỷ trọng đáng caotrong tổng nguồn vốn hoạt động của mỗi NHTM nói chung và CNLH cũng không nằm ngoài quy luật đó Trải qua quá trình phát triển của mình, không phải bao giờ và lúc nào hoạt động huy động vốn và những chính sách mà ngân hàng đưa ra để huy động cung thành công Bởi nó chịu sự tác động của ngiều nhân tố cả chủ quan lẫn khách quan Một chính sách phù hợp cho công tác huy động vốn, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách cần phải có sự tổng hợp, phân tích, đánh giá tất cả mọi yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như của toàn xã hội

Thấy được tầm quan trọng của công tác huy động vốn cũng như việc xây dựng chính sách huy động vốn Trong những năm quan CNLH đã có rất nhiều những biện pháp, cách thức khác nhau, trong một số trường hợp Chi nhánh kết hợp với các ngân hàng bạn khác trong cùng hệ thống hoặc trực tiếp với NHNo Việt Nam thực hiện khuyếch trương, quảng cáo, nhằm thu hút khách hàng đặt quan với Chi nhánh, nhất là khách hàng đến gửi tiền, mua trái phiếu hoặc uỷ thác đầu tư cho ngân hàng

Trang 14

Để phát huy và nâng cao hiệu quả của công tác huy động vốn, trong các năm qua CNLH đã đưa ra nhiều nội dung khác nhau chính sách huy động vốn với nhiều nội dung khác nhau, và dã đạt được những thành qủa đáng mừng, nó bao gồm các chính sách.

2.2.2.1 Chính sách thu hút khác hàng

Với vị trí đặc biệt quan trọng của mình trên địa bàn Hà nội, cũng như của ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam, CNLH đã rất quan tâm tới việc thu hút khách hàng, đến giao dịch và đặt quan hệ, không chỉ là khách hàng truyền thống, mà còn cả khách hàng tiền năng, những doanh nghiệp lớn, những công ty lớn có quy mô hoạt động rộng khắp cả nước, trong đó có một số doanh nghiệp, công ty hoạt động trong lĩnh vực Xuất nhập khẩu và thương mại quốc tế Đối với những khách hàng này, bao giờ Chi nhánh cũng có những ưu đãi trong các giao dịch tại ngân hàng như ưu đãi về lãi suất đầu vào, lãi suất đầu ra được tính toán ở mức hợp lý, khi khách hàng có nhu cầu đều được ngân hàng quan tâm và

ưu tiên thực hiện Hoặc trong một số trường hợp ngân hàng khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ và những tiện ích mà mình cung cấp, nhằm từ

đó thu hút được nhiều khách hàng

Ngoài ra CNLH còn đặt quan hệ với các Chi nhánh ngân hàng bạn trong

và ngoài hệ thống để từ đó, nâng cao khả năng, và giảm thiểu những chi phí trong khả năng có thể vừa tiết kiệm cho Chi nhánh vừa tiết kiệm chi phí và thời gian giao dịch cho khách hàng, tạo cảm giác và ấn tượng tốt đẹp trong tâm trí khách hàng

2.2.2.2 Chính sách về mở rộng màng lưới giao dịch

Ngay từ ngày đầu mới thành lập và đi vào hoạt động CNLH đã rất quan tâm tới việc mở các rộng màng lới trực thuộc và các phòng giao dịch, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Chi nhánh Tính đế hết ngày 31/12/2003, Chi nhánh có một Chi nhánh cấp 2 trực thuộc là Chi nhánh Bách Khoa, màng lưới giao dịch gồm 05 phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh và 01 phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Bách Khoa Hiện Chi nhánh đang có kế hoạch mở thêm nhiều Chi nhánh, phòng giao dịch khác nữa

Trang 15

Các Chi nhánh hoạt động ngày càng có hiệu quả, và tự khẳng định được

sự lớn mạnh của mình cũng như khả năng tự chủ về tài chính trong hoạt động kinh doanh Đây là điều đáng mừng đối với việc thực hiện chính sách huy động vốn của CNLH và những hoạt động của nó sẽ là cầu nối giữa khách hàng với Chi nhánh Từ đó tăng cường mối quan hệ với Chi nhánh và dần thu hẹp khoảng cách giữa cán bộ ngân hàng với khách hàng, tạo tiền đề cho việc thực hiện thành công chính sách huy động vốn mà Chi nhánh đề ra

2.2.2.3 Tổ chức Cán bộ và Đào tạo

Một ngân hàng muốn hoạt động tốt, không chỉ phụ thuộc vào chính sách hợp lý (hợp đối tượng khách hàng, hợp tình hình thực tế), cũng như một màng lưới rộng khắp mà còn phụ thuộc trực tiếp và nhân tố con người Con người có thể thực hiện những việc mà không cái gì khác có thể thay thế được, chính vì vậy mà Chi nhánh đã ngày càng quan tâm tới công tác đào tạo CBVC cũng như công tác tuyển chọn ngay từ đầu vào, hiện tại số cán bộ viên chức có trình độ đại học cao đẳng, và trên đại học chiếm tới 77,60%, trong quá trình hoạt động Chi nhánh đã thường xuyên cử cán bộ đi học các lớp nghiệp vụ, nghiệp vụcao cấp do NHNo Việt Nam hoặc Ngân hàng Nhà Nước tổ chức, để từ đó nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và nhất là trình độ ngoại ngữ

2.2.2.4 Nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, Dịch vụ và Tiện ích

Đứng trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, và cùng với sự tiến bộ vượt bậc của lĩnh vực công nghệ thông tin, CNLH đã tiến hành lắp đặt mạng máy tính nội bộ (LAN) cho tất cả các phòng ban và Ban Giám đốc, và nối mạng Internet, tạo thuận lợi trong trao đổi thông tin với các đơn vị khác ngoài Chi nhánh Ngoài ra Chi nhánh còn quan tâm tới việc mở rộng màng lới giao dịch trên cơ sở mạng diện tử Internet như tư vấn, cung cấp dịch vụ chuyển tiền điện tử liên ngân hàng với các ngân hàng trong và ngoài hệ thống Đặc biệt, Chi nhánh cùng kết hợp với NHNo Việt Nam cung cấp dịch vụ rút tiền

tự động (dùng thẻ rút tiền qua mạng ATM), do vậy đã thu hút được sự quan tâm rất lớn của khách hàng, giúp ngân hàng thực hiện thành công chính sách huy động vốn

Trang 16

2.2.2.5 Chính sách Marketing

Chính sách Marketing, như đã trình bày, ngày càng được các ngân hàng thương mại quan tâm và đẩy mạnh thực hiện, mặc dù Chi nhánh chưa có phòng chức năng riêng cho công tác marketing, cho nên công tác này chủ yếu do phòng Kế hoạch- Nguồn vốn và phòng Kế toán thực hiện Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các báo chí, tạp chí chuyên ngành, Chi nhánh

đã quảng bá rộng rãi hình ảnh của mình trong tâm trí khách hàng (khách hàng truyền thống và khách hàng tiền năng), cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động marketing, Chi nhánh còn thực hiện nhiều biện pháp nhằm khuyến khích khách hàng gửi tiền vào Chi nhánh thông qua các hình thức tiết kiện dự thưởng, tiết kiệm bậc thang

Tất cả những chính sách trên đã giúp cho Chi nhánh, thực hiện thành công chính sách huy động vốn, giúp Chi nhánh có lượng vốn cần tiết để tiến hành các hoạt động kinh doanh

2.2.3 Kết quả đạt được

Cùng với các biện pháp nhăm nâng cao hiệu quả hoạt động của Chi nhánh, việc thực hiện triệt để và đồng bộ, nhất quán các chỉ tiêu hoạt động của chính sách huy động vốn Trong thời gian vừa qua lượng vốn mà CNLH huy động được đạt mức tăng trưởng cao cả về con số tương đối và cón số tuyệt đối ở tất cả mọi thành phần kinh tế, mọi loại hình doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân khác

2.2.3.1 Theo nguồn huy động

Đối với ngân hàng thương mại việc xác định một cách chính xác, đầy đủ

và trọng tâm các nguồn hình thành nên nguồn vốn là vô cùng quan trọng, bởi nó liên quan hàng loạt các yếu tố, nội dung của việc hoạch định chính sách huy động vốn, đặc biệt là xây dựng kế hoạch hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Để từ đó có thế xác định chính xác lượng vốn mà ngân hàng có thể huy động được, thông qua việc tìm hiểu nắm bắt được các quy luật của hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của các thành phần kinh tế đó Sẽ giúp cho ngân hàng điều tiết các luồng tiền sao cho hợp lý, từ đó đảm bảo tính thanh khoản của ngân

Ngày đăng: 08/11/2013, 13:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Trình độ chuyên môn của CBCNV trong Chi nhánh - Thực trạng chính sách huy động vốn của nhtm
Bảng 1 Trình độ chuyên môn của CBCNV trong Chi nhánh (Trang 3)
Bảng 02: Kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm - Thực trạng chính sách huy động vốn của nhtm
Bảng 02 Kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm (Trang 6)
Bảng 03. Nguồn vốn hoạt động của Chi nhánh Láng Hạ - Thực trạng chính sách huy động vốn của nhtm
Bảng 03. Nguồn vốn hoạt động của Chi nhánh Láng Hạ (Trang 8)
Bảng 06: Phân theo nguồn hình thành - Thực trạng chính sách huy động vốn của nhtm
Bảng 06 Phân theo nguồn hình thành (Trang 17)
Bảng 07: Bảng cơ cấu nguồn hình thành theo thời hạn huy động - Thực trạng chính sách huy động vốn của nhtm
Bảng 07 Bảng cơ cấu nguồn hình thành theo thời hạn huy động (Trang 20)
Bảng 08. Nguồn vốn huy động phân theo đồng tiền - Thực trạng chính sách huy động vốn của nhtm
Bảng 08. Nguồn vốn huy động phân theo đồng tiền (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w