Để trở thành những chuyên gia thông tin trợ giúp đắc lực cho nền kinh tế cũng như cho các doanh nhân, cán bộ thư viện hiện nay cần thiết phải cung cấp những thông tin đầy đủ và hiệu quả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
-
ĐỒNG THỊ THU HƯƠNG
TÌM HIỂU MÔ HÌNH THƯ VIỆN DOANH NHÂN
Ở VIỆT NAM
TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Hệ đào tạo: Chính quy Khoá học: QH - 2006 – X
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
THS ĐỒNG ĐỨC HÙNG
HÀ NỘI, 2010
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
2.1 Mục đích 6
2.2 Nhiệm vụ 6
3 Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn 8
6.1 Đóng góp vào lý luận 8
6.2 Đóng góp vào thực tiễn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: DOANH NHÂN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MÔ HÌNH THƯ VIỆN DOANH NHÂN 9
1.1 Khái quát về bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 9
1.2 Doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 12
1.2.1 Khái quát chung về doanh nghiệp Việt Nam 12
1.2.2 Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam 14
1.2.3 Thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 15
1.2.3.1 Thuận lợi 15
1.2.3.2 Khó khăn 16
1.3 Doanh nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 18
1.3.1 Khái niệm về doanh nhân Việt Nam 18
1.3.2 Vai trò của doanh nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 19
Trang 31.3.3 Thông tin kinh doanh đối với doanh nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế 20
1.4 Giới thiệu về mô hình thư viện doanh nhân 23
1.4.1 Khái niệm thư viện doanh nhân 23
1.4.2 Mục đích và vai trò của việc ứng dụng mô hình thư viện doanh nhân ở Việt Nam 24
1.4.2.1 Mục đích 24
1.4.2.2 Vai trò 25
1.4.3 Nhu cầu tin của doanh nhân ở Việt Nam 25
1.4.3.1 Nhu cầu về nội dung tài liệu 25
1.4.3.2 Nhu cầu về hình thức tài liệu 32
1.4.3.3 Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu 32
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU MÔ HÌNH THƯ VIỆN DOANH NHÂN Ở VIỆT NAM 35
2.1 Hoạt động thư viện doanh nhân của TV KHTH TP.HCM 35
2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Thư viện doanh nhân KHTH TP.HCM 35
2.1.2 Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ 37
2.1.3 Người dùng tin 38
2.1.4 Vốn tài liệu 39
2.1.5 Thực trạng hoạt động Thư viện doanh nhân KHTH TP.HCM 46
2.1.5.1 Các sản phẩm và dịch vụ thư viện doanh nhân KHTH TP.HCM 46
2.1.5.2 Góc thông tin Ngân hàng Thế giới 48
2.1.5.3 Định hướng phát triển trong tương lai 52
2.2 Hoạt động thư viện doanh nhân tại TVQG VN 55
2.2.1 Khái quát về Thư viện Quốc gia Việt Nam 55
Trang 42.2.2 Tình hình triển khai hoạt động Thư viện doanh nhân tại TVQG VN 57
2.2.2.1 Đối tượng phục vụ 57
2.2.2.2 Vốn tài liệu 58
2.2.2.3 Dịch vụ thư viện 63
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ MÔ HÌNH THƯ VIỆN DOANH NHÂN Ở VIỆT NAM 64
3.1 Nhận xét 64
3.1.1 Ưu điểm 64
3.1.2 Hạn chế 66
3.2 Kiến nghị 67
3.2.1 Đối với ngành thư viện trong cả nước 67
3.2.2 Đối với mô hình thư viện doanh nhân 68
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 5Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của thông tin tri thức, nơi tri thức lên ngôi và nắm trong tay công cụ để điều hành sự phát triển của toàn nhân loại Chính vì thế ai nắm được thông tin tri thức trong tay, người đó sẽ chiến thắng Tuy nhiên, để có được những thông tin ấy, con người cần phải có những phương cách hữu hiệu sao cho thông tin vừa mang đầy đủ nội dung về
số lượng lẫn chất lượng
Có nhiều cách để có được những thông tin hiệu quả, nhưng bằng cách nào để có được những thông tin nhanh nhất và chính xác nhất thì thực sự không đơn giản Không phải lúc nào bất kỳ ai cũng có đủ thời gian để tìm kiếm thông tin, đôi khi ta cũng cần phải nhờ đến sự trợ giúp của các chuyên gia thông tin
Ngày nay, do nhu cầu đọc sách, tra cứu tài liệu và cập nhật thông tin ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt với doanh nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới Để trở thành những chuyên gia thông tin trợ giúp đắc lực cho nền kinh tế cũng như cho các doanh nhân, cán bộ thư viện hiện nay cần thiết phải cung cấp những thông tin đầy đủ và hiệu quả nhằm tạo điều kiện phát huy khả năng chuyên môn nghiệp vụ của mình cũng như hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của thư viện và tạo động lực cho nền kinh tế phát triển
Sứ mệnh của những nhà kinh tế thị trường được đề cao hơn cả trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội Nhưng họ luôn phải gồng mình để chạy theo sự phát triển tăng tốc của nền kinh tế tri thức, nhất là khi Việt Nam
đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Đứng trước sự phát triển của kinh tế thế giới và sự cạnh tranh của doanh nghiệp trong và ngoài nước nhiều khi họ thất bại trong kinh doanh vì không nắm được thông tin kinh tế kịp thời
Trang 7Để góp phần thúc đẩy hoạt động thông tin - thư viện đáp ứng tối đa nhu cầu của người dùng tin trong xã hội nói chung, người dùng tin là đội ngũ các
doanh nhân, doanh nghiệp nói riêng, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Tìm
hiểu mô hình thư viện doanh nhân ở Việt Nam” làm khoá luận tốt nghiệp
đại học của mình, với mong muốn được đóng góp một vài suy nghĩ cho sự phát triển của ngành thông tin - thư viện Việt Nam thời gian tới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về mô hình thư viện doanh nhân tại Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (TV KHTH TP.HCM) và Thư viện Quốc Gia Việt Nam (TVQG VN) nhằm tìm ra giải pháp để thúc đẩy và nâng cao hoạt động thư viện doanh nhân tại Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết tốt các mục tiêu trên, tôi đi sâu vào nghiên cứu các vấn
đề sau:
Khái quát chung về doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới
Tìm hiểu khái niệm và vai trò của mô hình thư viện doanh nhân
Khảo sát thực trạng mô hình thư viện doanh nhân tại TV KHTH TP.HCM và TVQG VN
Nhận xét, đánh giá ưu nhược điểm của mô hình thư viện doanh nhân
Đưa ra kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển mô hình thư viện doanh nhân tại Việt Nam
Trang 83 Tình hình nghiên cứu theo hướng của đề tài
Tại Việt Nam, thực tế mô hình thư viện doanh nhân chưa thực sự phát triển, hiện nay mô hình này mới đang ở giai đoạn manh nha và vẫn còn non trẻ
Trong hoạt động thông tin - thư viện ở Việt Nam, TV KHTH TP.HCM
là thư viện đầu tiên trong cả nước áp dụng mô hình này Tiếp theo sau là TVQG VN đang trong giai đoạn tìm hiểu và triển khai, tuy nhiên chưa chính thức đưa vào sử dụng Cũng chính bởi lý do đó nên cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu nào tập trung tìm hiểu về vấn đề này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Mô hình thư viện doanh nhân
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp trao đổi, mạn đàm
- Phương pháp phỏng vấn sâu…
Trang 10NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 DOANH NHÂN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MÔ HÌNH THƯ VIỆN DOANH NHÂN
1.1 Khái quát về bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Hội nhập là một hiện tượng tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế Trên thế giới, mầm mống của hội nhập kinh tế quốc tế xuất hiện từ thời thịnh hành
thuyết Tự do thương mại của Adam Smith và David Ricardo vào cuối thế kỷ
XVIII Trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế ở nhiều nước diễn ra mạnh mẽ nhất
từ giữa thế kỷ XX Đến nay hội nhập kinh tế quốc tế vẫn còn được nhìn nhận dưới nhiều góc độ, quan niệm chưa thật thống nhất Theo ý kiến của một số chuyên gia, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết nền kinh tế của đất nước với nền kinh tế thế giới, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế, gia nhập các tổ chức quốc tế, tuân thủ những quy định, những luật chơi chung của quốc tế
Ở Việt Nam, tư tưởng về hội nhập kinh tế xuất hiện từ rất sớm Ngay từ khi giành được chính quyền về tay nhân dân và Nhà nước dân chủ cộng hòa
ra đời, Chính phủ Việt Nam đã rất coi trọng mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
Từ năm 1986, việc đổi mới nền kinh tế một cách toàn diện và triệt để đã làm thay đổi căn bản nhận thức và quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế Ngày 28/07/1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN và cam kết bắt đầu thực hiện nghĩa vụ thành viên của Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), từ 01/01/1996 với lộ trình cắt giảm thuế và điều chỉnh các chính sách khác trong vòng 10 năm qua Cùng với việc bình thường hóa quan
hệ với Mỹ (1995), việc gia nhập ASEAN là một bước quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Năm 1998, Việt Nam gia nhập Diễn đàn hợp
Trang 11tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Năm 2000, Việt Nam ký Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ Năm 2001, Bộ Chính trị ra quyết định số 07/NQ-TW về hội nhập kinh tế quốc tế Năm 2006, Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại WTO Hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục những
nỗ lực để trở thành nước có nền kinh tế thị trường
Hội nhập với nền kinh tế thế giới là một trong những động lực chính của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Tuy nhiên quá trình chuyển đổi nền kinh tế lại đi liền với quá trình hội nhập quốc
tế rộng hơn Giai đoạn ban đầu của quá trình này thực hiện chủ yếu thông qua việc đơn phương giảm các rào cản đối với thương mại và đầu tư Thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại và ký kết các hiệp định thương mại song phương, nền kinh tế Việt Nam đã cởi mở hơn, mở cửa tiếp xúc với thị trường quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoài và cạnh tranh bên ngoài, nhờ vậy đã mang lại nguồn lực, công nghệ và kỹ thuật để hỗ trợ cho quá trình phát triển kinh tế
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã có tác động mạnh và rộng khắp đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và từng ngành nói riêng Việc hội nhập mở ra cơ hội phát triển lực lượng sản xuất, nhưng cũng xã hội hóa sâu sắc lực lượng sản xuất Đồng thời việc hội nhập tạo ra các cơ hội thu hút nguồn lực từ bên ngoài, đó là những nguồn vốn đầu tư và công nghệ
Việc hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam không chỉ đem đến những cơ hội to lớn mà còn đem đến cả những thách thức không nhỏ cho các doanh nhân Việt Nam Đó là cơ hội cho doanh nghiệp được mở rộng thị trường, hưởng những ưu đãi thương mại, đa dạng hóa thị trường tiêu thụ sản phẩm và được đối xử bình đẳng trong hoạt động thương mại quốc tế và giải quyết tranh chấp; đồng thời doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ thuận lợi hóa thương mại và đầu tư ngay trên sân nhà Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng được mở ra thêm những cơ hội khác như tiếp cận nhanh và dễ dàng với công nghệ và các quản lý mới, tăng tính năng động và hiệu quả các doanh nghiệp trong nước
Trang 12Tuy nhiên, thách thức đặt ra đối với doanh nghiệp trong nước của Việt Nam cũng không ít Thực tế rằng nội lực của nền kinh tế Việt Nam trong nước còn yếu, chưa phù hợp với ngoại lực, do đó việc bị đối xử bất bình đẳng trong cạnh tranh là điều không tránh khỏi Hội nhập đặt ra thách thức nghiệt ngã cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam khi các nước này chưa tạo ra được những ưu thế cạnh tranh đáng kể Lợi thế cạnh tranh về công nghệ, kinh nghiệm quản lý và thực lực chi phối thị trường đang thuộc về các nước phát triển Vì thế, trong cạnh tranh nhiều doanh nghiệp trong các nước đang phát triển đã bị thua thiệt, phá sản, bị công ty nước ngoài thôn tính Thực tế này hiện đã và đang diễn ra tại Việt Nam Thêm vào đó, Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển cũng luôn bị động trong các chính sách phát triển Điều đáng nói ở đây là sự bị động trong hoạch định chính sách và sức ép của các nước phát triển, các định chế quốc tế, các công ty xuyên quốc gia lên quá trình xây dựng chính sách Đó chính là sự áp đặt của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Đồng thời những hạn chế của đội ngũ lực lượng lao động trong các doanh nghiệp cũng đang là một bài toán không dễ gì có lời giải nhanh chóng Muốn đào tạo một người lao động có trình độ thực sự và có
đủ sức đáp ứng những yêu cầu của doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay phải mất ít nhất 5 năm Với một quãng thời gian như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải tiếp tục trong cảnh thiếu hụt thực sự nguồn nhân lực, một trong những yêu cầu quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế
Bên cạnh những cải thiện về mặt kinh tế do hội nhập kinh tế quốc tế đem lại, Việt Nam cũng được cải thiện cả về đời sống xã hội nhờ vào tiến trình này Giáo dục được cải thiện đầu tiên do hội nhập kinh tế quốc tế Nền kinh tế phát triển mở ra khả năng đến trường cho rất nhiều học sinh của các gia đình nghèo Tỷ lệ phổ cập giáo dục đạt trên 90% trên toàn lãnh thổ Việt Nam Thêm vào đó, do nhu cầu về nhân lực của hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều cơ sở đào tạo đã được mở cho rất nhiều các nhóm ngành nghề Bên cạnh đó, học sinh Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp xúc với những nền giáo dục
Trang 13hiện đại trên thế giới như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Nhật, Australia, New Zealand… Trong những năm gần đây, tỉ lệ du học sinh Việt Nam đến các nước có trình độ giáo dục cao để nghiên cứu học tập tăng nhanh Một số trong
đó là du học tự túc, một số khác đi bằng học bổng của Chính phủ, một số khác nữa đi bằng khả năng tự tìm kiếm học bổng của các tổ chức quốc tế…
Hội nhập cũng đem đến cho Việt Nam cơ hội được cải thiện về y tế Một phần nhờ vào quá trình chuyển đổi đang diễn ra trong ngành y tế, nơi các nhà cung cấp có thể gia tăng hoạt động “bán” dịch vụ và phần khác là nhờ vào
sự gia tăng hợp tác quốc tế cho nghiên cứu y học, dược học Chính phủ đã có được kinh phí để có thể chi trả được một phần tiền cho chăm sóc sức khỏe cộng đồng, việc được xem là miễn giảm chi phí y tế của người dân nghèo Số lượng trẻ bị suy dinh dưỡng giảm xuống đáng kể Chương trình dinh dưỡng quốc gia đã giúp đại bộ phận người dân có được những hiểu biết về thực phẩm để có thể chống trọi với bệnh tật và cải thiện bữa ăn gia đình…
Có thể nói, hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra cho các doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam nói chung những cơ hội thuận lợi mới, dù bên cạnh đó cũng còn những thách thức không nhỏ Tuy nhiên, với đà tăng trưởng như hiện nay, cùng với những chính sách kinh tế phù hợp, Việt Nam vẫn tiếp tục hội nhập kinh tế quốc tế với mức tăng trưởng bền vững Theo đánh giá của báo chí thế giới, Việt Nam không chỉ là điểm sáng về xóa đói giảm nghèo mà còn là ngôi sao đang lên trên rất nhiều sân chơi quốc tế
1.2 Doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1 Khái quát chung về doanh nghiệp Việt Nam
Tính theo quy mô lao động và phân theo loại hình doanh nghiệp, tới đầu năm 2008 trong cả nước có 155.771 doanh nghiệp như sau:
Trang 14Số doanh nghiệp tại thời điểm 31/12/2007 phân theo quy mô lao động và phân theo loại hình doanh nghiệp
300-499 người 500- 999 người
1000-4999 người
5000 người trở lên
Trang 15với nước ngoài
Trang 161.2.2 Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp Vì vậy việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, có ảnh hưởng không nhỏ tới
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là:
Uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng
Rủi ro đầu tư
Tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp
Tổ chức quản lý doanh nghiệp
* Một số loại hình doanh nghiệp ở nước ta:
Doanh nghiệp tư nhân
Công ty hợp danh
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty cổ phần
Công ty nhà nước
Hợp tác xã
Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Trang 171.2.3 Thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.3.1 Thuận lợi
Gia nhập WTO, bước vào sân chơi toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam đứng trước những thời cơ mới có tác động không nhỏ đến nền kinh tế trong nước:
Thị trường được mở rộng: không những kinh tế nước nhà phát triển
mà doanh nghiệp nước ta cũng có cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn với
150 thành viên WTO (chiếm 85% thương mại hàng hóa và 90% thương mại dịch
vụ toàn cầu) Trên thị trường rộng lớn ấy những rào cản về hạn ngạch, giấy phép, thuế quan… sẽ dần được gỡ bỏ, hàng hóa Việt Nam có điều kiện đi ra nước ngoài, thâm nhập thị trường toàn cầu và bình đẳng với hàng hóa các nước khác
Doanh nghiệp nước ta có thêm nhiều cơ hội tiếp cận bình đẳng công nghệ, vốn, tín dụng và nhân lực từ bên ngoài Đó chính là những yếu kém của doanh nghiệp Việt Nam mà trước đây chúng ta chưa tự giải quyết được Đặc biệt quan trọng là công nghệ hiện đại sẽ được tiếp thu bởi doanh nghiệp trong nước
và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trên đất nước ta
Môi trường kinh doanh sẽ được cải thiện, hội nhập sẽ thúc đẩy các
cơ quan nhà nước tích cực đổi mới thể chế, chính sách, sắp xếp lại tổ chức quản
lý và làm sạch đội ngũ công chức, cải cách thủ tục hành chính, chống quan liêu tham nhũng, thuận lợi hơn cho yêu cầu nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp hiện có và phát triển thêm nhiều doanh nghiệp tư nhân mới
Tổ chức lại sản xuất, sắp xếp lại doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp Đây là thời cơ để doanh nghiệp tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài mà tái cấu trúc doanh nghiệp một cách khẩn trương, kể cả bố trí bộ máy, sắp xếp lại nhân sự, triển khai các quan hệ liên kết, liên doanh
Trang 18 Các cuộc tranh chấp thương mại sẽ được giải quyết công bằng hơn Trước đây doanh nghiệp Việt Nam bị kiện, đó là trên sân của nước sở tại, theo luật của nước họ, thường không công bằng Ngày nay, khi là thành viên của WTO doanh nghiệp nước ta sẽ được bảo vệ trước những tranh chấp thương mại theo các điều lệ của WTO, được đối xử công bằng hơn
1.2.3.2 Khó khăn
Nhìn chung, ở Việt Nam hiện nay hầu hết các doanh nghiệp không được đào tạo đầy đủ, cơ bản kiến thức về kinh tế thị trường cạnh tranh và hội nhập toàn cầu Bên cạnh đó, các doanh nghiệp lại thiếu kinh nghiệm quản lý, nhất là quản lý các doanh nghiệp, tập đoàn lớn, phạm vi hoạt động trải rộng trên nhiều quốc gia, trong đó, một số lại tự ti hoặc tự thoả mãn với những kết quả hiện tại Mặt khác, tầm nhìn của nhiều doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, chưa có chiến lược kinh doanh phù hợp, rõ ràng, khả năng liên kết, hợp tác, chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp kém, thậm chí là không có Bên cạnh đó, do hoàn cảnh đất nước mới mở cửa và hội nhập, doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm trên thương trường, đặc biệt là kinh nghiệm xử lý các cơ hội cũng như nguy cơ mang tính toàn cầu, khả năng chịu đựng các va đập, rủi ro trong kinh doanh thấp, chưa thực sự am hiểu các thông lệ, luật phát kinh doanh quốc tế Các điểm yếu này không phải là quá trầm trọng, những rõ ràng nếu không được khắc phục có hiệu quả sẽ có ảnh hưởng xấu và ngày càng lớn đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt, khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO thì đây chính là những nhân tố góp phần tạo ra những thách thức đối với Việt Nam:
Yêu cầu thị trường khắt khe hơn: Trên thị trường toàn cầu, người
tiêu dùng có thêm nhiều thuận lợi để lựa chọn hàng hóa mà họ cần, không những thế ngày nay người tiêu dùng không chỉ quan tâm hình dáng, mẫu mã, giá cả sản
Trang 19phẩm hàng hóa, dịch vụ mà họ còn có những đòi hỏi mới cao hơn về chất lượng,
an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường
Cuộc cạnh tranh sẽ gay gắt, khốc liệt hơn: Đó là cuộc cạnh tranh
toàn cầu, doanh nghiệp ta ra nước ngoài sẽ gặp nhiều đối thủ mới, đồng thời các doanh nghiệp trong WTO sẽ tìm mọi cách để thâm nhập ngày càng sâu vào thị trường nước ta Có thể thấy trước nhiều lĩnh vực sẽ bị cạnh tranh gay gắt nhất là tài chính, ngân hàng, viễn thông… Cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư, kinh doanh bình đẳng như doanh nghiệp trong nước
Thị trường lao động sẽ sôi động hơn: có thể diễn ra tình trạng dịch
chuyển lao động giữa các nước thành viên WTO, trước hết là các nước trong khu vực gây ra tình trạng thiếu nhân lực Nhân lực cấp cao sẽ tìm đến nơi có điều kiện phù hợp với họ, cuộc cạnh tranh về nhân lực cấp cao sẽ gay gắt Vì vậy, doanh nghiệp rất khó tìm được và giữ được nhân lực lao động kỹ thuật và nhân lực cấp cao cho doanh nghiệp mình
Nhiều ưu đãi hiện hành trái với các cam kết trong WTO để bảo vệ
doanh nghiệp trong nước, nhất là với doanh nghiệp nhà nước sẽ bị bãi bỏ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ gặp khó khăn Các doanh nghiệp được bình đẳng cạnh tranh trong kinh doanh, không kể đó là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều này sẽ khó khăn cho doanh nghiệp nước ta nhất là khi doanh nghiệp nước ta đang còn yếu kém
Doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ thành thạo trong luật chơi chung
Gia nhập WTO doanh nghiệp nước ta phải tiếp cận hệ thống luật lệ WTO và luật
lệ của từng đối tác Khi thương mại và đầu tư tăng nhanh, các cuộc kiện tụng về tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài, sở hữu trí tuệ… sẽ nhiều hơn trước Thế nhưng, hệ thống thể chế, chính sách của nước ta chưa hoàn chỉnh, kinh
Trang 20nghiệm của hệ thống tư pháp nước ta trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế
có yếu tố nước ngoài còn nhiều lúng túng, doanh nhân nước ta lại chưa rành luật
lệ thế giới về xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, bảo hiểm quốc tế…
Đó là những thời cơ và thách thức chủ yều mà doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khi hội nhập quốc tế, song thời cơ là chủ yếu Trên thực tế mọi xu thế vừa là thời cơ vừa là thách thức, không có xu thế nào đơn thuần chỉ là thời cơ hoặc thách thức Thời cơ và thách thức luôn đan xen nhau và có thể chuyển hóa cho nhau Mối quan hệ tương tác giữa thời cơ và thách thức chính là một thách thức lớn tạo ra thời cơ lớn mà mỗi doanh nghiệp phải nắm bắt để tự vươn lên trong bối cảnh hội nhập thế giới
1.3 Doanh nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.3.1 Khái niệm về doanh nhân Việt Nam
Có nhiều cách hiểu khác nhau về doanh nhân Việt Nam
- Xét theo tiêu chí nghề nghiệp: Doanh nhân Việt Nam được hiểu là một cộng đồng rất đa dạng, hình thành từ nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội, nhưng họ có một đặc điểm chung là làm công việc kinh doanh với mục tiêu đạt được sự giàu có và thành đạt
- Xét theo tính cách và tâm lý của doanh nhân: Doanh nhân là một nhóm
xã hội lớn có đặc điểm tâm lý đặc thù so với một nhóm xã hội khác mà ta có thể
so sánh như công nhân, công chức, người hoạt động xã hội, nhà báo, quân nhân…
- Kết hợp cả hai tiêu chí trên, người ta đưa ra một khái niệm về đặc điểm nghề nghiệp và tính cách của họ:
Doanh nhân Việt Nam hiện nay là một cộng đồng xã hội gồm những
người làm nghề kinh doanh, trước hết là bộ phận người chủ sở hữu, lãnh đạo, quản lý, hoạt động nghiệp vụ kinh doanh (có mục tiêu vị lợi) của các hộ gia đình và doanh nghiệp
Trang 21Dựa vào định nghĩa trên đây và căn cứ vào thực tiễn xã hội nước ta hiện nay, có thể đưa ra ba tiêu chí cơ bản về doanh nhân:
Hoạt động, hành vi của họ có một mục tiêu chính là kiếm lợi nhuận, làm giàu, là bán sản phẩm ra thị trường
Họ có điều kiện hành nghề và đặc điểm tâm lý phù hợp (về thời gian, vốn, tư liệu sản xuất, quan điểm, kiến thức và kỹ năng ) với hoạt động kinh doanh và tâm lý chính của họ
Nguồn thu nập chính của họ từ hoạt động này đảm bảo được cuộc sống của họ và gia đình, tạo cơ hội cho họ phát triển
Như vậy những hộ nông dân, người hoạt động kinh tế phi nông nghiệp chỉ có mục tiêu tự sản tự tiêu, tự cung tự cấp hoặc quy mô sản xuất quá nhỏ bé không phải là doanh nhân, những người sản xuất nông nghiệp thiếu trình độ kỹ năng, hiệu quả thấp, không có sản phẩm để bán trên thị trường chỉ là nông dân
mà không phải là doanh nhân Những nông dân là doanh nhân điển hình là những chủ trang trại sản xuất hàng hóa cho xã hội
1.3.2 Vai trò của doanh nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Quá trình đổi mới của đất nước đã tạo môi trường và điều kiện ngày càng thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ của doanh nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế và hình thành nên một tầng lớp đông đảo gần năm triệu người (chưa
kể nông dân sản xuất để bán sản phẩm ra thị trường, trở thành người kinh doanh), trong đó khoảng 1/3 là doanh nhân làm chủ và quản lý các doanh nghiệp
- họ luôn đóng một vai trò to lớn trong xã hội:
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nhân là người có vai trò quyết định sự phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần quan trọng tạo việc làm và đóng góp cho ngân sách nhà nước, đồng thời tham gia phát triển văn hoá, xã hội
Trang 22 Trong quan hệ về lợi ích giữa doanh nhân và công nhân, đây là sự hợp tác giữa người đầu tư vốn tạo việc làm và người có sức lao động cần chỗ làm việc, hai bên dựa vào nhau và cùng có lợi, cùng làm giàu cho mình và cho đất nước Lợi nhuận được tạo ra có tác dụng kích thích đầu tư kinh doanh và là nguồn vốn mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm và của cải cho xã hội
Đối với nông dân, doanh nhân và các doanh nghiệp là người cung ứng đầu vào (vật tư và vốn) cho sản xuất, người mua gom, chế biến và tiêu thụ nông sản, giúp cho sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường trong cả nước và thị trường ngoài nước Sự liên kết nông dân với doanh nhân là yếu tố rất quan trọng
để phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, mở rộng ngành nghề ở nông thôn, nâng cao đời sống nông dân Thực tế đòi hỏi phải tăng cường và cải thiện sự liên kết này để bảo đảm hài hoà lợi ích của các bên, khắc phục tình trạng sản xuất và thu nhập của nông dân không ổn định, chịu thua thiệt
Sự phát triển của kinh tế thị trường đặt doanh nhân và các doanh nghiệp vào địa vị đối tác quan trọng trong việc đặt hàng và ứng dụng kết quả nghiên cứu của các cơ sở khoa học và công nghệ, đồng thời nâng cao năng lực nghiên cứu công nghệ của doanh nghiệp Sự liên kết trí thức với doanh nhân vừa thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ gắn với thực tiễn vừa nâng cao trình độ công nghệ và quản lý của doanh nghiệp
Như vậy, doanh nhân Việt Nam có một vai trò vô cùng to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước Đây là tầng lớp mang lại một nguồn thu đáng
kể cho Nhà nước và tạo ra những giá trị kinh tế cho xã hội
1.3.3 Thông tin kinh doanh đối với doanh nhân trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế
Thông tin kinh doanh bao gồm những thông tin trong nội bộ và ngoài doanh nghiệp, liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó Doanh nhân thường thu thập thông tin kinh doanh từ các kênh truyền thông trong tổ
Trang 23chức, qua tiếp xúc với đối tác và khách hàng, hay từ các nguồn trên Internet, báo chí, truyền hình, điện thoại
Thông tin kinh doanh sẽ làm cơ sở giúp doanh nhân ra các quyết định kinh doanh trong doanh nghiệp Những thông tin này rất có thể sẽ gây nên tình trạng thừa, thiếu thông tin hoặc có nhiều thông tin gây nhiễu, tác động xấu đến việc ra quyết định của doanh nghiệp Muốn vậy, doanh nhân cần biết cách thu thập, lưu trữ, phân tích và đánh giá thông tin hiệu quả để đưa ra các quyết định kinh doanh tốt nhất
Thu thập thông tin kinh doanh ngay từ giai đoạn đầu giúp doanh nhân có cái nhìn toàn cảnh về vấn đề cần giải quyết Những thông tin được cập nhật và
bổ sung thêm trong các giai đoạn sau, giúp doanh nhân đưa ra các phương án lựa chọn tốt nhất và kiểm soát các phát sinh trong quá trình thực thi quyết định
* Vai trò của thông tin kinh doanh trong việc ra quyết định:
Giai đoạn 1: giai đoạn thu thập thông tin kinh doanh: Toàn bộ
thông tin mà doanh nhân thu thập được tại giai đoạn 1 sẽ là cơ sở để doanh nhân phân tích, đánh giá và đưa ra vấn đề cần quyết định, mục tiêu hướng tới, cũng như căn cứ để thiết kế các giải pháp cho giai đoạn sau Nếu thông tin tại giai đoạn này không được thu thập cẩn thận và đầy đủ, doanh nhân sẽ không có được cái nhìn toàn cảnh, chính xác về vấn đề kinh doanh Dẫn đến các giai đoạn sau của quá trình ra quyết định sẽ gặp nhiều sai sót, phung phí nhiều sức lực và thời gian mà hiệu quả lại không cao Doanh nhân thường phải đưa ra các quyết định kinh doanh có mức độ quan trọng khác nhau, do đó tính chất thông tin cũng sẽ thay đổi theo mức độ quyết định cần đưa ra
Giai đoạn 2 - giai đoạn thiết kế: Thông tin kinh doanh mới được
doanh nhân cập nhật và xử lý thường xuyên bên cạnh thông tin đã có, sẽ đảm bảo các phương án được đưa ra tốt nhất Thông tin kinh doanh này sẽ bổ sung cho nguồn thông tin đã có, giúp doanh nhân khắc phục sự thiếu hụt về thông tin
Trang 24và đặt lại mục tiêu đã đưa ra tại giai đoạn 1 - nếu phát hiện mục tiêu không phù hợp Việc thu thập, phân tích và đánh giá thêm những thông tin mới, đảm bảo doanh nhân sẽ đưa ra nhiều phương án có chất lượng cao và khả thi hơn
Giai đoạn 3 - giai đoạn lựa chọn phương án: Thu thập thêm thông
tin giúp bổ sung và hoàn thiện phương án được lựa chọn Khi phát hiện các phương án hiện tại không khả thi, thông tin kinh doanh mới có thể là cơ sở để doanh nhân đưa ra phương án mới hoàn chỉnh hơn Sẽ khó có phương án nào là tối ưu ngay khi hình thành, mà thường chỉ có phương án được đánh giá tốt nhất
Do vậy, thông tin thu thập thêm có thể là giải pháp cho những thiếu sót của phương án đã có, nhằm thỏa mãn tốt nhất mục tiêu đã đề ra
Giai đoạn 4 - giai đoạn thẩm tra: Nắm bắt thông tin một cách đầy
đủ tại mọi thời điểm sẽ giúp doanh nhân theo dõi, kiểm tra và điều chỉnh các phát sinh có thể xảy ra trong quá trình thực thi phương án lựa chọn Thực tế nhiều biến động khó có thể dự đoán trước, vào bất cứ thời điểm nào cũng có thể xảy ra những điều ngoài mong đợi Nếu doanh nhân thiếu nhạy cảm, thờ ơ hoặc
bỏ qua các thông tin hàng ngày, vấn đề phát sinh sẽ không được kiểm soát kịp thời và có thể đưa đến một kết quả xấu cho dù có một phương án tốt đi chăng nữa
* Các phương pháp thu thập thông tin kinh doanh:
Qua các phương tiện truyền thông, trao đổi cùng khách hàng, đối tác hay những thông tin xuất phát từ nội bộ doanh nghiệp, doanh nhân có thể thu thập được những thông tin cần thiết Những thông tin này sẽ là cơ sở cho việc hình
thành nên các quyết định của doanh nhân
Thu thập thông tin từ các phương tiện truyền thông: Hàng loạt các
phương tiện truyền thông như: internet, ti vi, đài, điện thoại, sách báo, tạp chí
sẽ cung cấp lượng thông tin vô cùng phong phú cho doanh nhân Đó có thể là các thông tin về nền kinh tế trong nước cũng như của thế giới, thông tin về các
Trang 25ngành nghề, các số liệu thống kê, dự báo… Doanh nhân cần khai thác có định hướng, trọng tâm những nguồn thông tin này, để tránh được tình trạng thừa, thiếu thông tin, hoặc thông tin gây nhiễu
Thu thập thông tin từ khách hàng, đối tác: Những cuộc chuyện trò,
trao đổi cùng đối tác, khách hàng đôi khi mang lại rất nhiều thông tin bổ ích cho doanh nhân Khi trò chuyện cùng khách hàng, doanh nhân có thể hướng câu chuyện về xu hướng của thị trường, nhu cầu người tiêu dùng, thăm dò ý kiến của
họ về các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của công ty, chất lượng phục vụ… cũng như việc nắm bắt được các đối thủ cạnh tranh của mình
Thu thập thông tin ngay trong chính doanh nghiệp: Công ty nào
cũng có những thông tin nội bộ đánh giá về xu hướng phát triển kinh doanh, cũng như của thị trường Những cuộc họp chính thức hay không chính thức, những báo cáo của quản lý, của nhân viên hay những cuộc thăm dò ý kiến cá nhân, sẽ là những nguồn thông tin quý báu Nhân viên các bộ phận: kế toán, dự
án, kinh doanh, marketing, chăm sóc khách hàng sẽ biết cách phân loại, tập hợp và chọn lọc thông tin kinh doanh phục vụ cho từng vấn đề cần giải quyết
Việc dựa vào phương pháp thu thập thông tin của doanh nhân sẽ giúp cho cán bộ thông tin dựa vào đó để có thể tìm kiếm những thông tin phù hợp và xác thực nhất với yêu cầu tin của họ Cũng từ đó, cán bộ thông tin mới có được
cơ sở cho việc bổ sung và lựa chọn nguồn tin để đưa ra phục vụ cho mọi nhu cầu của doanh nhân
1.4 Giới thiệu mô hình thƣ viện doanh nhân
1.4.1 Khái niệm thƣ viện doanh nhân
Thư viện doanh nhân là một khái niệm tương đối mới đối với ngành thư viện ở Việt Nam Tuy nhiên, trên thế giới khái niệm này đã khá quen thuộc bởi
mô hình này đã được ứng dụng và được cộng đồng thư viện cũng như những người dùng tin nói chung, các doanh nhân nói riêng biết đến nhiều hơn
Trang 26Thư viện doanh nhân là một loại hình thư viện mới được tổ chức hoạt động theo mô hình thư viện thông thường nhưng có quy mô hoạt động lớn hơn
và có đối tượng phục vụ rộng hơn, bao gồm cả những doanh nhân hoạt động trong các doanh nghiệp, cán bộ nhà nước và những nhà nghiên cứu…
Có thể đưa ra một cách hiểu đơn giản về thư viện doanh nhân như sau:
Thư viện doanh nhân được hiểu như một thư viện chuyên cung cấp các sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho doanh nhân, bao gồm: tư vấn thông tin, phối hợp và tìm kiếm thông tin, xây dựng các báo cáo nghiên cứu từng lĩnh vực theo yêu cầu, tổ chức các hội nghị, hội thảo liên quan đến từng lĩnh vực
mà doanh nhân yêu cầu…
1.4.2 Mục đích và vai trò của việc ứng dụng mô hình thƣ viện doanh nhân ở Việt Nam
1.4.2.1 Mục đích
Mô hình thư viện doanh nhân là một mô hình thư viện đã được ứng dụng
và sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là Thư viện Quốc gia Singapore Đây là một mô hình được đánh giá là mô hình thư viện sáng tạo trong việc đổi mới hoạt động thư viện cùng với sự phát triển năng động của nền kinh tế tri thức
Đứng trước ngưỡng cửa của nền kinh tế thị trường, không chỉ riêng những doanh nhân Việt Nam, mà cán bộ thư viện - những nhà cung cấp thông tin có định hướng cũng phải xoay mình theo sự phát triển của thông tin để có thể đáp ứng mọi nhu cầu thông tin cho người dùng tin đặc biệt là nhóm người dùng tin là cán bộ doanh nghiệp Việc ứng dụng mô hình thư viện doanh nhân ở Việt Nam còn nhằm mục đích phát huy chức năng, nhiệm vụ của thư viện trong thời kỳ đổi mới đất nước Đặc biệt, khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế thế giới, mô hình thư viện doanh nhân sẽ góp phần hỗ trợ đắc lực cho doanh nhân Việt Nam
Trang 27trong công cuộc tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin để tạo ra của cải, vật chất cho xã hội
1.4.2.2 Vai trò
Việc ứng dụng mô hình thư viện doanh nhân ở Việt Nam có vai trò to lớn trong việc hỗ trợ doanh nghiệp cả nước trong việc tìm kiếm thông tin kinh tế và những thông tin liên quan nhằm phục vụ sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp nói riêng và đất nước nói chung Ngoài ra, việc ứng dụng mô hình thư viện doanh nhân ở Việt Nam còn có vai trò:
Phát huy khả năng chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ thư viện trong việc tìm kiếm và khai thác thông tin
Tiết kiệm thời gian và công sức cho doanh nghiệp trong việc xử lý những thông tin ở dạng thô và sàng lọc, lựa chọn những thông tin phù hợp để đưa vào sử dụng
Tạo ra một hệ thống thông tin kinh tế cho đất nước, góp phần không nhỏ cho việc hình thành nên những mạng thông tin hữu hiệu cho việc khai thác thông tin qua mạng máy tính…
1.4.3 Nhu cầu tin của doanh nhân ở Việt Nam
1.4.3.1 Nhu cầu về nội dung tài liệu
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới của nền kinh tế Việt Nam, các doanh nghiệp đang phải đương đầu với những thách thức không nhỏ không chỉ trong thị trường nội tại mà còn cả đối với thị trường bên ngoài khi Việt Nam được công nhận là nước có nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Với những doanh nghiệp còn non kém cả về kỹ năng quản lý lẫn cách thức kinh doanh thì việc nắm được thông tin đã trở thành một yếu tố tiên quyết quyết định sự thành công của mỗi doanh nghiệp Để tạo ra lợi thế và chiến thắng
Trang 28trong kinh doanh, các chủ thể doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến các nguồn
lực vật chất (tài nguyên, nhà xưởng, nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, lao động,
tiền vốn) mà còn cần các nguồn lực phi vật chất (tri thức và thông tin) Đa số
doanh nhân hiểu được rằng họ phải lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp sao cho doanh nghiệp tạo ra được những sản phẩm và hàng hóa dịch vụ có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng Hơn ai hết doanh nhân đều nhận thức rõ việc phải gắn bó với người tiêu dùng, phải hiểu yêu cầu của người tiêu dùng hiện tại và tương lai, phải tạo ra khả năng thu hút, lôi cuốn người tiêu dùng đến với sản phẩm, dịch vụ của mình, phải kịp thời thay đổi sản phẩm và dịch vụ theo nhu cầu thị trường, phải tính toán đầu tư chiều sâu, phát triển sản xuất sao cho hiệu quả, phải kịp thời áp dụng công nghệ mới, tri thức mới
Trong bài phát biểu giữa đại diện doanh nghiệp với lãnh đạo Đảng và Nhà nước, giữa doanh nghiệp với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và tại các hội thảo khoa học, các doanh nghiệp nước ta cho biết họ đang rất thiếu thông tin
và rất cần thông tin Do thiếu thông tin nên hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp không đạt được hiệu quả, đầu tư cho thay đổi công nghệ không đáp ứng được yêu cầu, vì vậy đã hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển của doanh nghiệp Hiểu được những trăn trở của các doanh nghiệp và doanh nhân hiện nay, các cán bộ thông tin cần phải cố gắng nhiều hơn nữa trong công cuộc tìm kiếm, khai thác và phục vụ thông tin sao cho hiệu quả để làm giảm gánh nặng thiếu thông tin cho doanh nghiệp Trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới, nhu cầu thông của doanh nhân thường tập trung vào những nội dung chủ yếu sau[7]:
Thông tin luật pháp kinh doanh: hoạt động của doanh nghiệp và
doanh nhân luôn diễn ra trong môi trường pháp lý nhất định Do đó, các doanh nghiệp cần trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về
Trang 29luật pháp kinh doanh và cập nhật những quy định cụ thể của các văn bản pháp luật được ban hành trong từng giai đoạn khác nhau Do
đó, việc cán bộ thông tin tổ chức và cung cấp những thông tin về pháp luật kinh doanh là rất cần thiết và cấp bách Mặt khác, cung cấp những thông tin này cho doanh nhân cũng chính là đã tạo điều kiện cho họ hiểu biết luật pháp kinh doanh và thể hiện được văn hóa kinh doanh của mình
Thông tin thị trường và giá cả: trong doanh nghiệp, mọi doanh
nhân đều mong muốn có được đầy đủ các thông tin về thị trường trong và ngoài nước, về giá cả các sản phẩm có liên quan đến sản phẩm của doanh nghiệp mình, về khách hàng tiềm năng, về đối thủ cạnh tranh… để đưa ra những chiến thuật kinh doanh hiện tại và những chiến lược kinh doanh lâu dài Vì vậy cán bộ thư viện cần phải thường xuyên bổ sung những tài liệu mới về khoa học công nghệ, thị trường, giá cả, mẫu mã, về văn hóa và tập quán của người tiêu dùng… để cung cấp cho doanh nhân khi họ cần Nếu làm được điều này, cán bộ thư viện doanh nhân chính là những con ong chăm chỉ gián tiếp góp phần cho sự thành công của doanh nghiệp, doanh nhân
Thông tin công nghệ và kỹ thuật tiến bộ: trong xu thế toàn cầu hóa,
hội nhập kinh tế quốc tế về khoa học công nghệ là một bộ phận cấu thành không thể tách rời hội nhập kinh tế quốc tế, chịu sự chi phối mạnh mẽ của hội nhập kinh tế quốc tế Đối với nước ta hiện nay, yếu tố quyết định xuyên suốt quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa là đổi mới nâng cao trình độ công nghệ của các ngành kinh tế -
kỹ thuật nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế Chính vì vậy, thông tin về hoạt động của các viện, trung tâm nghiên cứu và
Trang 30phát triển, đặc biệt là các thành tựu về khoa học công nghệ và kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp có giá trị rất lớn trong việc định hướng phát triển doanh nghiệp, đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ,
hạ giá thành sản phẩm, đảm bảo vệ sinh và bảo vệ môi trường Do
đó, việc cung cấp thông tin khoa học và công nghệ cho doanh nghiêp, doanh nhân là vô cùng cần thiết, đòi hỏi phải thường xuyên
và kịp thời cho mỗi doanh nhân khi có nhu cầu tìm kiếm và khai thác thông tin khoa học và công nghệ
Thông tin kỹ năng kinh doanh: kỹ năng kinh doanh là vấn đề sống
còn đối với mỗi doanh nghiệp Kỹ năng kinh doanh thường gắn liền với sự phát triển của tri thức, của công nghệ hiện đại được ứng dụng trong quản lý và điều hành cũng như trong vận hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngày nay, kỹ năng kinh doanh trên mạng với ý nghĩa là sử dụng các công cụ điện tử và tin học trong một phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gắn liền với hoạt động quản lý của doanh nghiệp Thương mại điện
tử là một phương tiện thương mại trong kinh doanh hiện đại, trong
đó kỹ năng kinh doanh trên mạng là một xu thế của thời đại Xu thế này đang phát triển rất nhanh và lan rộng trên toàn bộ hoạt động thương mại của thế giới Vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là cán bộ thư viện cần cung cấp cho doanh nghiệp, doanh nhân những thông tin mới về cách thức thực hiện kinh doanh trên mạng, các mô hình sử dụng công nghệ thông tin trong thương mại để mua bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ kinh doanh trực tuyến…qua các tài liệu tại thư viện hay những dịch vụ thông tin theo yêu cầu của doanh nhân
Trang 31 Thông tin sở hữu trí tuệ: khi doanh nghiệp tham gia vào thị trường
quốc tế, một sân chơi chung mà vấn đề sở hữu trí tuệ rất được coi trọng và được đặt lên hàng đầu thì các doanh nhân cần phải được cung cấp những thông tin về hoạt động sở hữu trí tuệ để có nhận thức sâu sắc về vấn đề này Đồng thời né tránh được vấn đề vi phạm bản quyền, để đấu tranh với các đối tác vi phạm bản quyền gây thiệt hại cho mình Nói chung, thông tin sở hữu trí tuệ sẽ giúp các doanh nghiệp có được chiến lược xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ, bảo
vệ thành phẩm, thành quả kinh doanh của mình khỏi sự vi phạm từ bên ngoài cũng như không vi phạm bản quyền nước khác Chính vì thế, cán bộ thông tin cần cung cấp cho doanh nhân những thông tin
sở hữu trí tuệ như: sáng chế, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp… nhằm giúp cho doanh nhân học tập, ứng dụng và nâng cao năng lực vận hành sản xuất - kinh doanh
để tạo ra những sản phẩm, dịch vụ mới có chất lượng cao cho xã hội
Thông tin tiêu chuẩn, đo lường chất lượng, vệ sinh, an toàn và
bảo vệ môi trường: xu hướng chung của các nền kinh tế, trong đó
có Việt Nam, là xu hướng xuất khẩu để phát huy hiệu quả sản xuất những mặt hàng có lợi thế tương đối của đất nước Mỗi doanh nghiệp muốn xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài, bắt buộc doanh nghiệp đó phải hiểu được người tiêu dùng ở đó đòi hỏi những gì ở mặt hàng của mình, bao gồm nhiều khía cạnh như: kích cỡ, mẫu mã, bao gói, chất lượng cũng như các yêu cầu về vệ sinh, an toàn và bảo
vệ môi trường Do đó, những thông tin về tiêu chuẩn đo lường chất lượng có ý nghĩa rất lớn đối với các doanh nhân Hơn thế nữa, trong
xu thế phát triển ngày nay, quá trình đầu tư - khai thác - sử dụng
Trang 32trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn cần lưu tâm đến việc bảo
vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và gìn giữ môi trường Đó là những yếu tố căn bản tạo nên sự phát triển bền vững Chính vì vậy, việc cung cấp những thông tin trên cho doanh nhân là cần thiết đối với mỗi thư viện doanh nhân nhằm góp phần đem lại những lợi ích về
kỹ thuật và kinh tế, thuận lợi hóa hoạt động thương mại, mở rộng thị trường, bảo vệ môi trường và tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp trong các quốc gia
Thông tin kinh tế, chính trị, xã hội: tình hình kinh tế, chính trị, xã
hội luôn là vấn đề nhạy cảm và quan trọng đối với mọi hoạt động nói chung và hoạt động kinh doanh nói riêng Chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi cơ bản cho phát triển kinh tế, cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Tham gia vào thị trường các nước, các khu vực trong điều kiện ổn định về chính trị và kinh tế sẽ giúp các doanh nghiệp hoạt động thuận lợi và hiệu quả hơn Do đó, thư viện doanh nhân cần nắm bắt những thông tin và chọn lọc những thông tin kinh tế, chính trị, xã hội thời sự nhất để giúp doanh nhân có cái nhìn khách quan, tổng thể, toàn diện, vững vàng về thời cuộc và định hướng phát triển cho hiện tại và tương lai
Thông tin về các tổ chức tư vấn, môi giới và đầu tư: để phát triển
các doanh nghiệp luôn luôn mong muốn được học hỏi, tư vấn và được tiếp cận các nguồn vốn, các nhà tài trợ, các tổ chức đầu tư, các
tổ chức hỗ trợ phát triển như tổ chức tài chính ngân hàng, tín dụng
và những thông tin về thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ, tín dụng, tỉ giá, thuế, thị trường bất động sản… trong và ngoài nước Vì vậy, cán bộ thông tin - thư viện cần phải tìm hiểu và phân tích, đánh
Trang 33giá những thông tin này nhằm thỏa mãn nhu cầu của doanh nhân khi
họ có yêu cầu
Thông tin không chỉ giúp doanh nhân có được những quyết định đúng đắn trong kinh doanh mà còn giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, gián tiếp thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển
Bên cạnh đó, những nội dung thông tin cụ thể mà các doanh nghiệp và doanh nhân quan tâm bao gồm:
Thông tin thương mại
Thông tin xúc tiến thương mại
Thông tin sản xuất
Thông tin dịch vụ
Thông tin tư vấn
Thông tin chuyển giao công nghệ
Thông tin kế toán – kiểm toán
Thông tin du lịch – lữ hành
Thông tin vận tải
Thông tin công nghệ thông tin
Có thể thấy rằng nội dung thông tin của doanh nhân tập trung vào những lĩnh vực đang là những lĩnh vực nhạy cảm của nền kinh tế Một số lĩnh vực khác được doanh nhân ít quan tâm đến cũng là những lĩnh vực vẫn còn đang trong thời kì tự điều chỉnh để tìm hướng phát triển nhất định Do vậy, nhu cầu tin của doanh nhân là rất cao, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế nói chung mà còn cả
Trang 34những lĩnh vực liên quan đến ngành nghề kinh doanh của họ Do vậy, việc cung cấp thông tin cho doanh nhân đòi hỏi phải mang tính đầy đủ, chính xác, chọn lọc
và thời sự
1.4.3.2 Nhu cầu về hình thức tài liệu
Với sự phát triển không ngừng của khoa học và công nghệ, thông tin được lưu giữ trên nhiều vật mang tin khác nhau như giấy, băng, đĩa, vi phim, vi phiếu, và được truyền tải dưới nhiều hình thức khác nhau Hình thức truyền tải thông tin ngày nay không chỉ qua các phương pháp truyền tin thông thường như sách, báo, tạp chí, truyền thanh, truyền hình… mà còn qua cả những phương thức truyền tin hiện đại như qua mạng Internet, các hệ thống thông tin vệ tinh…
Khác với những người dùng tin đại chúng, người dùng tin là doanh nhân thường có năng lực, trình độ học vấn và khả năng tri thức nhất định, trong đó bao gồm một bộ phận không nhỏ là những người dùng tin có trình độ cao Chính vì vậy, người dùng tin là doanh nhân có thể sử dụng khá đa dạng các hình thức tài liệu khác nhau, từ hình thức tài liệu ở dạng truyền thống đến hình thức tài liệu hiện đại Trên thực tế, do điều kiện hạn chế về thời gian và những đòi hỏi khả năng nắm bắt thời cơ chớp nhoáng trong kinh doanh, các doanh nhân có xu thế
ưu tiên sử dụng các hình thức tài liệu hiện đại như băng hình, băng đĩa, trao đổi thông tin qua thư điện tử hay các hình thức trao đổi thông tin trực tuyến khác Do vậy, thư viện doanh nhân cần đa dạng hóa các loại hình sản phầm và dịch vụ thông tin - thư viện, ưu tiên phát triển những hình thức trao đổi và cung cấp thông tin hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả nhu cầu của doanh nhân, đáp ứng thông tin cho doanh nghiệp một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất
1.4.3.3 Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu
Trong thời đại hiện nay, do nhu cầu hội nhập và phát triển, các doanh nghiệp ở Việt Nam liên tục tìm kiếm thông tin và quan tâm đến rất nhiều lĩnh
Trang 35vực Tuy nhiên, một thực tế là các tài liệu hiện nay có được từ nhiều nguồn và bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, hơn nữa những tài liệu quan trọng, cung cấp những thông tin cập nhật về mọi lĩnh vực trong hoạt động sản xuất kinh doanh thường lại bằng tiếng nước ngoài Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các doanh nhân phải luôn nắm bắt kịp thời tình hình và diễn biến trên thị trường thế giới, từ đó đưa ra những quyết định kinh doanh phù hợp cho doanh nghiệp của mình Những đặc thù về mặt ngôn ngữ như vậy đòi hỏi các doanh nhân phải đọc tài liệu trực tiếp bằng tiếng nước ngoài hay phải thuê dịch Thậm chí, tại thời điểm này, không ít doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng với các đối tác nước ngoài bằng chính ngôn ngữ của đối tác ấy Do đó, việc bắt buộc phải sử dụng tiếng nước ngoài hầu như là bất khả kháng với các đại diện doanh nghiệp và các thành viên lãnh đạo của doanh nghiệp cho dù là doanh nghiệp nhỏ Không phải lúc nào doanh nhân cũng tìm được người phiên dịch hoặc sử dụng phiên dịch Chính vì thế, khá nhiều các doanh nhân đã học ngoại ngữ để có thể tự trực tiếp giải quyết công việc kinh doanh hoặc có thể tự đối thoại trực tiếp với các doanh nghiệp
Tiếng Nhật
Trang 36 Tiếng Ả rập
Trong các ngôn ngữ trên, tiếng Anh vẫn đóng vai trò như là thứ ngôn ngữ quốc tế được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu nói chung và trong các hoạt động kinh doanh, thương mại nói riêng Chính vì vậy, trong thư viện doanh nhân ở Việt Nam, đặc thù về ngôn ngữ tài liệu cần phải có tỷ lệ tương xứng giữa tiếng Việt, tiếng Anh và một số ngôn ngữ khác Ngôn ngữ thông tin luôn đa dạng
và phức tạp, người cán bộ thông tin muốn phục vụ tốt nhất người dùng tin là doanh nhân thì đòi hỏi người cán bộ ấy phải có khả năng ngoại ngữ nhất định mới có thể cung cấp những thông tin một cách chính xác, đầy đủ Muốn vậy, thư viện doanh nhân cần phải sử dụng những chuyên gia ngoại ngữ để làm công tác dịch thuật cho thư viện của mình hoặc liên kết với những trung tâm dịch thuật để cung cấp thông tin trọn gói cho doanh nhân
Trang 37CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU MÔ HÌNH THƯ VIỆN DOANH NHÂN Ở VIỆT NAM
2.1 Hoạt động thư viện doanh nhân của TV KHTH TP.HCM
2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của thư viện của Thư viện doanh nhân KHTH TP.HCM
TV KHTH TP.HCM (tiền thân là Thư viện của các Ðô đốc Thống đốc), được thành lập vào năm 1868 Trước năm 1975 Thư viện có tên gọi Thư viện
Quốc gia của Chính quyền miền Nam Việt Nam Thư viện được đổi tên là Thư
viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định của Ủy ban
Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ngày 14/04/1978
- Tên viết tắt: TVKHTH TP.HCM
Tên giao dịch quốc tế: General Sciences Library of Ho Chi Minh City viết tắt là GSLHCMC
-TV KHTH TP.HCM có chức năng thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác
và sử dụng chung các tài liệu được xuất bản tại thành phố và nói về thành phố, các tài liệu trong nước và ngoài nước phù hợp với đặc điểm, yêu cầu xây dựng
và phát triển thành phố về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
TV KHTH TP.HCM là thư viện trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh Thư viện có nhiệm vụ xây dựng, bảo quản và khai thác vốn tài liệu về mọi lĩnh vực và loại hình xuất bản trong và ngoài nước Với hơn 2 triệu bản tài liệu, thư viện phục vụ khoảng 250.000 lượt bạn đọc mỗi năm Ngoài ra thư viện còn thực hiện công tác thông tin thư mục: thư mục chuyên đề, mục lục liên hợp các xuất bản phẩm tại phía Nam, giúp các tỉnh làm thư mục địa chính, xuất bản tờ Thông