1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn, phương thức ấp trứng đến khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi thâm canh

82 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của các phương thức ấp trứng khác nhau đến năng suất sinh sản của bồ câu .... biện pháp được đề cập tới trong việc nâng cao năng suất sinh sản của bồ câu ngoài tác động về din

Trang 1

LÝ VĂN PHƯỢNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN, PHƯƠNG THỨC ẤP TRỨNG ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT

CỦA CHIM BỒ CÂU NỘI NUÔI THÂM CANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Thái Nguyên - 2020

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Quyên

Thái Nguyên - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,

được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thu Quyên

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực, chính xác và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận án này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2020

Tác giả

Lý Văn Phượng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài

sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ quý báu của Nhà trường, các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới TS Nguyễn Thu Quyên đã động viên,

hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm, các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi thú y, Bộ phận quản lý đào tạo sau đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu đề tài

Nhân dịp hoàn thành luận văn, một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp cùng người thân đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019

Học viên

Lý Văn Phượng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Nguồn gốc, đặc điểm chung của chim bồ câu 3

1.1.2 Cơ sở khoa học về sức sống và khả năng kháng bệnh 6

1.1.3 Cơ sở khoa học nghiên cứu về khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng 7

1.1.4 Khả năng cho thịt và chất lượng thịt của bồ câu 10

1.1.5 Cơ sở khoa học nghiên cứu về khả năng sinh sản ở bồ câu và các yếu tố ảnh hưởng 13

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 21

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu 25

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 25

Trang 6

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 25

2.2 Nội dung nghiên cứu 25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của loại thức ăn khác nhau đến khả năng sinh sản của bồ câu sinh sản 25

2.3.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức ấp trứng khác nhau đến khả năng sinh sản của bồ câu 27

2.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu nghiên cứu 29

2.4.1 Phương pháp xác định khả năng sinh sản của chim bồ câu 29

2.4.2 Phương pháp xác định khả năng sinh trưởng của chim bồ câu 30

2.5 Phương pháp thu thập và sử lý số liệu 32

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Kết quả thí nghiệm 1: Nghiên cứu về ảnh hưởng của loại thức ăn khác nhau đến khả năng sinh sản của chim bồ câu 33

3.1.1 Khả năng sinh sản của bồ câu nội 33

3.1.2 Khả năng sản xuất của bồ câu thương phẩm 42

3.2 Kết quả thí nghiệm 2 Ảnh hưởng của phương thức ấp trứng khác nhau đến khả năng sinh sản của bồ câu 51

3.2.1 Ảnh hưởng của các phương thức ấp trứng khác nhau đến năng suất sinh sản của bồ câu 51

3.2.2 Khả năng sản xuất của bồ câu thương phẩm 57

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63

1 Kết luận 63

2 Kiến nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Cs: Cộng sự Đc: Đối chứng TN: Thí nghiệm KP: Khẩu phần ĐVT: Đơn vị tính Kg: Kilogam

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 26

Bảng 2.2 Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn cho chim thí nghiệm 1 26

Bảng 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 28

Bảng 2.4 Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn cho chim thí nghiệm 2 28

Bảng 3.1 Khả năng sinh sản của bồ câu khi nuôi bằng các khẩu phần ăn khác nhau 33

Bảng 3.2 Tỷ lệ ấp nở và nuôi con của bồ câu nội khi nuôi bằng các khẩu phần khác nhau 38

Bảng 3.3 Khả năng thu nhận thức ăn của chim qua các giai đoạn 40

Bảng 3.4 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của chim thương phẩm qua các giai đoạn, % 43

Bảng 3.5 Khả năng sinh trưởng của chim non qua các ngày tuổi (g) 44

Bảng 3.6 Chi phí thức ăn của chim thương phẩm 47

Bảng 3.7 Kết quả mổ khảo sát chim thương phẩm (n = 3) 49

Bảng 3.8 Khả năng sinh sản của bồ câu khi áp dụng các phương thức ấp khác nhau 51

Bảng 3.9 Tỷ lệ ấp nở và nuôi con của bồ câu với các phương thức ấp khác nhau 53

Bảng 3.10 Khả năng thu nhận thức ăn của chim khi ấp với các phương thức khác nhau 56

Bảng 3.11 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của chim thương phẩm với các phương thức ấp khác nhau qua các giai đoạn, % 58

Bảng 3.12 Sinh trưởng tích luỹ của chim thương phẩm với các phương thức ấp khác nhau (g) 59

Bảng 3.13 Chi phí thức ăn của chim qua các giai đoạn 61

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ khả năng sinh sản của bồ câu trong thí nghiệm 1 37

Hình 3.2 Biểu đồ mô tả tỷ lệ nở và khả năng nuôi con của bồ câu bố mẹ trong thí nghiệm 1 37

Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của chim thương phẩm qua các giai đoạn (%) 44

Hình 3.4 Đồ thị sinh trưởng của chim non qua các giai đoạn (g) 46

Hình 3.5 Biểu đồ tiêu tốn thức ăn của chim thương phẩm 47

Hình 3.6 Biểu đồ chi phí của chim thương phẩm lúc 28 ngày tuổi 48

Hình 3.7 Biểu đồ kết quả mổ khảo sát chim ở 28 ngày tuổi 50

Hình 3.8 Biểu đồ khả năng sinh sản của bồ câu khi áp dụng biện pháp ấp trứng khác nhau 53

Hình 3.9 Biểu đồ tỷ lệ ấp nở và nuôi con của bồ câu 54

Hình 3.10 Biểu đồ số chim con tách mẹ/gđ chim/năm với 2 phương thức ấp trứng khác nhau 55

Hình 3.11 Biểu đồ lượng thức ăn thu nhận của chim bồ câu trong thí nghiệm 2 57

Hình 3.12 Biểu đồ tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của chim thương phẩm với các phương thức ấp khác nhau qua các giai đoạn, % 58

Hình 3.13 Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của chim thương phẩm 60

Hình 3.14 Biểu đồ tiêu tốn thức ăn trên một chim ra ràng 61

Hình 3.15 Biểu đồ chi phí thức ăn trên một chim ra ràng 62

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống, có từ lâu đời của nhân dân

ta, nó tạo ra việc làm và đóng góp một phần tương đối lớn vào tổng thu nhập của người nông dân Trong xu thế mới hiện nay, đời sống người dân nước ta ngày càng được nâng cao, do đó nhu cầu về sản phẩm gia cầm chất lượng cao cũng ngày càng lớn Để đáp ứng nhu cầu đó, trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta bổ sung thêm nhiều đối tượng chăn nuôi mới như

gà sao, gà ác, đà điều, chim cút làm phong phú thêm các sản phẩm chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường

Bồ câu là loài chim khá phổ biến, sống ở hầu hết các thành phố trên thế giới Tại châu Âu, chúng được xem như là dân cư quen thuộc của thành phố Còn ở các nước Đông Nam Á, những đàn bồ câu thường có chủ, chúng được nuôi thả vì mục đích làm chim cảnh hoặc để lấy thịt

Thịt chim bồ câu được coi là thực phẩm bổ dưỡng, được sử dụng cho người mới ốm dậy, trẻ nhỏ Trong đông y, thịt chim bồ câu được coi là

“thánh dược” trong việc bồi bổ sức khỏe con người Khác với các loài gia cầm khác, khẩu phần ăn của bồ câu có thể không cần thức ăn hỗn hợp mà chỉ cần thức ăn hạt (ngô, các loại đỗ, thóc ) là chim có thể sinh trưởng, sinh sản bình thường Đây chính là hướng mà người tiêu dùng mong muốn, một sản phẩm tốt cho sức khỏe, không sử dụng axit amin tổng hợp, không sử dụng phụ gia trong khẩu phần

Bên cạnh đó, một trong những vấn đề hạn chế gặp phải trong quá trình nuôi chim Bồ câu đó là năng suất sinh sản chưa cao Thông thường một đôi chim bồ câu bố mẹ chỉ đẻ được 5 – 6 lứa/năm, cho ra khoảng 12 – 13 chim con/đôi bố mẹ/năm, khoảng cách giữa hai lứa đẻ trung bình là 46 ngày Đây cũng bị coi là hạn chế do không tăng được số lứa đẻ/năm Một trong nhưng

Trang 11

biện pháp được đề cập tới trong việc nâng cao năng suất sinh sản của bồ câu ngoài tác động về dinh dưỡng còn có thể sử dụng máy ấp để ấp trứng chim đồng thời sử dụng những quả trứng giả để cho chim bố mẹ ấp một thời gian nhất định đến khi chim con nở ra nó sẽ được những đôi chim ấp trứng giả này nuôi Với biện pháp này có thể nâng cao được khả năng sinh sản của chim bồ câu

Xuất phát từ ý tưởng đó chúng tôi đề xuất đề tài: “Nghiên cứu ảnh

hưởng của các loại thức ăn, phương thức ấp trứng đến khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi thâm canh”

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sản xuất của chim bồ

câu nội nuôi thâm canh

- Xác định hiệu quả của phương thức ấp trứng đến khả năng sinh sản của chim bồ câu nội nuôi thâm canh

- Xác định ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sản xuất thịt của chim

bồ câu nội nuôi thâm canh

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa về mặt khoa học

Kết quả của đề là nguồn tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu chuyên sâu, và cũng là nguồn tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy của giảng viên và sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi – Thú y

3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Số liệu thu được của đề tài sẽ là căn cứ để khuyến cáo cho người chăn nuôi phát triển mô hình nuôi chim bồ câu đạt hiệu quả kinh tế và mang lại sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Nguồn gốc, đặc điểm chung của chim bồ câu

1.1.1.1 Nguồn gốc của chim bồ câu

Theo Bùi Hữu Đoàn (2009) và Nguyễn Duy Điều (2008) thì bồ câu

thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong đó có bộ bồ câu

Columbiformes gồm những loài chim đi chậm nhưng bay rất khỏe như bồ câu, cu gáy Gốc mỏ mềm, chúng ăn quả và hạt là chính Bồ câu nhà hiện nay đều có nguồn gốc từ bồ câu núi màu lam có tên khoa học là Columbalivia

thuộc giới (king dom): Animat, ngành (plylum): Chortada, lớp (class): Aves,

bộ (order): Columbiormes, họ (Family): Columbidae, giống (Genus): Columba, Loài (species): Columbalivia Chim bồ câu núi hiện còn sống hoang

dã ở nhiều vùng Châu Âu, Châu Á và Bắc Phi Ngày nay chúng sinh sống trên

50 quốc gia khác nhau với các vùng sinh thái khác nhau (trừ vùng Nam Cực) Các di tích hóa thạch cho thấy chim bồ câu đã sống ở Jordan và Palestin vào khoảng 300.000 năm trước công nguyên Một số loài được biết nhiều nhất sống hoang dã hay còn gọi là chim bồ câu sống lang thang, tổ tiên của chúng sống ở Châu Á và Châu Âu, được gọi là “chim bồ câu đá”, dài khoảng 33 cm, phía trên mình xanh xám, với những chấm đen ở cánh và ở phía đuôi (phao câu) màu hơi trắng; phía dưới là màu hơi đỏ tía ở phần ngực và xanh phớt ở phần bụng Xung quanh cổ đặc biệt là con đực, óng ánh nhiều màu sắc

Hơn 200 giống chim bồ câu nhà (cũng như chim bồ câu rừng) bắt nguồn

từ chim bồ câu đá (pigeon des roches), còn có tên gọi khác là chim bồ câu bipel (Columbus livia)

Trang 13

1.1.1.2 Đặc điêm chung của chim bồ câu

Toàn thân chim bồ câu có lông vũ bao phủ Mình chim hình thoi, cổ dài rất linh hoạt giúp chim dễ quan sát từ mọi phía, mổ thức ăn, tấn công hay tự

vệ, rỉa lông cánh Bồ câu có bản năng ấp trứng tốt, nuôi con giỏi

Chim bồ câu là loại gia cầm đơn phối không tạp giao với con thứ ba, chúng sống thành đôi, trường hợp nuôi lồng cũng như sống tự do

Bồ câu là loài chim có nhiều biến dị về màu lông: đen, trắng, nâu đen khá đẹp và sặc sỡ

Da chim bồ câu rất mỏng không có tuyến nhờn chỉ có tuyến ở gần đuôi gọi là tuyến phao câu tiết ra chất nhờn dùng để rỉa lông cho bóng đẹp

Chim bồ câu có tính quần cư cao, nuôi riêng hoặc nuôi theo bầy thì hiện tượng ẩu đả rất ít Chúng thường cùng ăn, cùng nghỉ Chim bồ câu còn có tính đồng loại cao: khi trứng bỏ không mà vẫn tốt thì chúng sà xuống ấp hộ ngay Như vậy trong chăn nuôi chim bồ câu theo phương pháp thâm canh thì chúng

ta có thể tiến hành ghép ấp và ghép nuôi con để nâng cao năng suất sinh sản Ghép ấp được thực hiện đối với những quả trứng có cùng ngày đẻ hoặc chênh lệch nhau 1 – 2 ngày và số trứng ghép tối đa trên một ổ ấp là 3 quả/ổ Tương

tự như vậy ta cũng có thể ghép những con có cùng ngày nở hoặc tuổi chênh lệch nhau 1 – 2 ngày và số con ghép tối đa là 3 con/ổ

Nguyên thủy của loài chim bồ câu thường sống ở vùng duyên hải uống nước biển, vậy nên trải qua thời gian được con người thuần dưỡng tới nay chim vẫn còn quen với vị mặn Do đó trong chăn nuôi chim bồ câu phải bổ sung khoáng lượng, muối ăn và sỏi là rất cần thiết để đảm bảo cho chim phát triển bình thường

Thức ăn chủ yếu của chim bồ câu là loại ngũ cốc, đặc biệt chúng thích ăn các loại đậu đỗ và hạt có màu, nhưng trong tự nhiên chúng không chỉ ăn hạt

và trái cây mà chúng còn ăn cả các loại côn trùng và ấu trùng, đặc biệt là khi còn nuôi con Bồ câu là loài chim có khả năng đặc biệt để nhận biết và định

Trang 14

hướng đường đi về trên một khoảng cách rất xa một cách chính xác do cảm quan của chim bồ câu rất phát triển Khả năng nhận biết phương hướng của chim rất tốt cho dù nuôi riêng trong lồng nhưng khi thả ra thì trong hàng nghìn chuồng, hàng ngàn chim nó vẫn nhận đúng chuồng của mình Trong chăn nuôi dựa vào điều này người ta cho chim hình thành phản xạ có điều kiện giúp trong chăn nuôi thuận tiện và đạt hiệu được năng suất cao hơn (Trần Công Xuân và Nguyễn Thiện, 1997) Khả năng bay của chim rất tốt, chúng có thể bay với tốc độ đạt 80 - 120 km/giờ và bay 965 - 1.600 km/ngày

Giống như các loài chim khác, ở chim bồ câu cũng diễn ra quá trình thay lông thường xuyên Trong quá trình thay lông ở chim bồ câu vẫn duy trì khả năng bay, sự thay lông ở thân thường diễn ra nhanh hơn so với lông cánh, đặc biệt lông đầu thay nhanh nhất Trong quá trình thay lông, chim bồ câu vẫn sinh sản bình thường mà không nghỉ đẻ như các loài gia cầm khác Sau khi ghép đôi thì khoảng 7 – 10 ngày sau chim mái đẻ trứng Trứng chim có hình bầu dục, vỏ sáng màu trắng Khối lượng trứng chim nội 16 – 18 g, ở chim ngoại khối lượng to hơn Ấp trứng là bản năng tự nhiên của chim Thông thường chim đẻ 2 trứng xong mới ấp Chim bồ câu, cả ở con trống và con mái đều tham gia ấp trứng Trong lúc ấp trứng, có nhiều biến đổi xảy ra ở cơ thể chim bồ câu bố mẹ, giúp chúng sản xuất ra chất dinh dưỡng cho chim non trong những ngày đầu mới nở: dịch diều (sữa diều)

Sữa diều chim bồ câu chứa 14 – 16% protein và 8 – 10% chất béo; ngoài

ra còn có chất khoáng, vitamin, nhưng không có hoặc rất ít đường Vào ngày thứ 17 – 18, sự tiết sữa đạt mức cao nhất, kéo dài trong 7 – 8 ngày sau đó giảm dần Thành phần sữa diều bị ảnh hưởng bởi khẩu phần ăn của chim bố

mẹ Nếu khẩu phần của chim bố mẹ thiếu chất dinh dưỡng thì chúng phải huy động chất dinh dưỡng dự trữ trong cơ thể để tiết sữa cho chim non Trong những ngày đầu mới nở, “sữa” là thức ăn duy nhất của chim non Từ ngày thứ

4, 5 chim bố mẹ chuyển thêm vào sữa cả thức ăn, chúng đưa thức ăn vào

Trang 15

trước, đó là những hạt bé, đến ngày thứ 12 - 15 thì chim non hoàn toàn ăn và tiêu hoá được thức ăn bình thường Ở 12 ngày tuổi là thời điểm quyết định đối với bồ câu non, nó tương ứng với thời điểm cai sữa của chim bố mẹ Tuy vậy, cũng có khi sự tiết sữa kéo dài đến tận ngày thứ 25, nhưng với một lượng sữa rất ít

1.1.2 Cơ sở khoa học về sức sống và khả năng kháng bệnh

Sức sống và khả năng kháng bệnh là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả chăn nuôi, được thể hiện gián tiếp thông qua tỷ lệ nuôi sống Sức sống và khả năng kháng bệnh bị chi phối bởi các yếu tố bên trong

cơ thể (di truyền) và môi trường ngoại cảnh như nuôi dưỡng, chăm sóc, mùa

vụ, dịch tễ, chuồng trại

Johanson (1972) cho biết, sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định bởi tính di truyền, đó là khả năng cơ thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh

Lê Viết Ly (1995) cho biết, động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị tress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp

Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995) cho biết các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, chống bệnh ký sinh trùng cao hơn các giống vật nuôi vùng ôn đới Điều kiện sống cũng ảnh hưởng đến sức sống và khả năng kháng bệnh của vật nuôi Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1998) cho biết, dù chăn nuôi theo phương thức nào thì đàn gia cầm nuôi tập trung đều có số lượng lớn các tác nhân truyền nhiễm bệnh là vi khuẩn, cho nên việc phòng dịch bệnh phải thường xuyên, một biện pháp đảm bảo an toàn sinh học

Sức đề kháng ở các loài, giống, dòng, thậm chí giữa các cá thể là khác nhau Kết quả nghiên cứu của Trần Công Xuân và cs (1998a), ở giai đoạn 0 –

Trang 16

28 ngày tuổi, tỷ lệ nuôi sống của chim bồ câu Pháp ở thế hệ xuât phát là 94,44% (dòng TiTan) và 95,05% (dòng MiMas)

Con trống có sức đề kháng mạnh hơn con mái do có sự tác động khác nhau của hormone

Để nâng cao tỷ lệ sống, sức đề kháng, giảm tổn thất do bệnh tật gây ra, bên cạnh việc cần tiến hành các biện pháp phòng bệnh thú y và chăm sóc, nuôi dưỡng thích hợp với từng loại vật nuôi, cần phải chú trọng đến công tác lai tạo giống nhằm nâng cao khả năng thích nghi của gia cầm, nhất là gia cầm nhập nội

1.1.3 Cơ sở khoa học nghiên cứu về khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng

* Khái niệm sinh trưởng

Là một sinh vật hơn nữa là một cơ thể sống hoàn chỉnh, vật nuôi có các

đặc trưng cơ bản của sự sống Trong các đặc trưng cơ bản đó, sự sinh trưởng

là một đặc trưng cơ bản được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Theo Lê Huy Liễu (2004) định nghĩa sinh trưởng là kết quả của sự phân chia tế bào và sự tăng lên về thể tích nhằm duy trì sự sống trong cơ thể sinh vật Sinh trưởng bao giờ cũng phải có các quá trình: Tế bào phân chia, thể tích tăng lên và hình thành các chất giữa các tế bào mà hai quá trình đầu là quan trọng nhất Quá trình này xảy ra từ lúc phôi thai đến khi cơ thể hết lớn (kỳ trưởng thành)

Sinh trưởng của động vật luôn gắn liền với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ thể động vật Sinh trưởng và phát dục của cơ thể động vật tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn

* Những chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng

Trang 17

- Khối lượng cơ thể: Khối lượng cơ thể từng thời kỳ là chỉ tiêu sử dụng

để đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm Tuy nhiên, chỉ tiêu này xác định được khả năng sinh trưởng ở một thời điểm xác định của cơ thể nhưng không chỉ ra được sự sai khác về tỷ lệ sinh trưởng của các thành phần trong

cơ thể trong một khoảng thời gian ở các độ tuổi khác nhau

Chỉ tiêu khối lượng cơ thể được minh hoạ bằng đồ thị gọi là đồ thị sinh trưởng tích luỹ Đồ thị này thay đổi theo dòng giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Đối với gia cầm khối lượng cơ thể tính theo tuần tuổi có đơn vị là kg/con hoặc g/con

- Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích của cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2-39-1997) Sinh trưởng tuyệt đối tính bằng g/con/ngày Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì càng có hiệu quả kinh tế cao

- Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng kích thước và thể tích cơ thể lúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát (TCVN 2- 40-1997)

Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol, gia cầm còn non thì sẽ có sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi

* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng

- Ảnh hưởng của dòng giống

Các loài gia cầm khác nhau có khả năng sinh trưởng hoàn toàn khác nhau Trần Thanh Vân và cs (2015) cho biết: Tốc độ tăng trọng của một số giống gia cầm ở các giai đoạn là hoàn toàn khác nhau

Khối lượng chim bồ câu to hay nhỏ tùy thuộc vào giống và giới tính biến động từ 250 - 1000 g/con Ở chim bồ câu ta đa số trường hợp con trống lớn hơn con mái song sự chênh lệch không nhiều (Bùi Hữu Đoàn,2009)

- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông

Trang 18

Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể còn do yếu tố tính biệt quy định trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái Khi nghiên cứu tính biệt ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm, Trần Thanh Vân và cs (2015) cho rằng: Sự di truyền các tính trạng khối lượng cơ thể do nhiều gen quy định và ít nhất một cặp gen liên kết với giới tính quy định nằm trên NST X Vì vậy, có sự sai khác về khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng giữa gà trống và gà mái trong cùng một giống từ 24 – 32 %

Giữa tốc độ mọc lông có tương quan tỷ lệ thuận, tốc độ mọc lông có liên

hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn Đây cũng là tính trạng di truyền liên kết với giới tính (Bransdch và Biichell, 1978)

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia cầm Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng

Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời gian đạt khối lượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống

Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) thì để phát huy được khả năng sinh trưởng của gia cầm theo quy định của tính di truyền cần thiết phải cân bằng nghiêm ngặt các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần nhất là năng lượng, protein, vitamin, khoáng

Theo kết quả nghiên cứu của các nhóm tác giả: Hector và Nakagawa (2012); Metcalfe và Monaghan (2001) Đối với những cá thể bồ câu đang phát triển có thể thích nghi với điều kiện thiếu dinh dưỡng bằng cách tăng tốc độ tăng trưởng khi điều kiện nuôi dưỡng được cải thiện, hoặc giảm tuổi thọ và khả năng sinh sản

Trang 19

Theo Arnold và cs (2007) cho biết: Những con bồ câu non (Cyanistes caeruleus) được bổ sung taurine (một axit amin quan trọng cho sự phát triển

sớm) sẽ có khả năng ghi nhớ không gian tốt hơn khi trưởng thành so với những con bồ câu non không được bổ sung taurine

Một nghiên cứu trước đây ở loài bồ câu sống ở miền Tây (Californica Mỹ) đã chỉ ra rằng khi cho ăn hạn chế đến 65% lượng thức ăn sẽ làm suy giảm trí nhớ không gian trong các nhiệm vụ kiếm ăn ở tuổi trưởng thành

(Pravosudov và cs, 2005)

- Ảnh hưởng của môi trường

Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khoẻ mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hưởng đến sức khoẻ của gia cầm

Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì bồ câu rất nhạy cảm với ánh sáng do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm Ngoài ra trong chăn nuôi bồ câu và các loài gia cầm khác cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác như: ẩm độ, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm

Dựa trên các nghiên cứu trước đây về chim bồ câu, ở những chim non có thời gian ngủ vào ban đêm nhiều hơn ban ngày sẽ sinh trưởng tốt hơn những chim non có thời gian ngủ vào ban đêm ít (Martinez-Gonzalez và cs, 2008; Tobler và Borbély, 1988; Walker và Berger, 1972)

1.1.4 Khả năng cho thịt và chất lượng thịt của bồ câu

Sức sản xuất thịt của gia cầm là chỉ tiêu và yếu tố quan trọng nhất đối với gia cầm nuôi thịt Khả năng cho thịt của gia cầm là khả năng tạo nên khối lượng cơ thể đến tuổi giết thịt Khả năng này của từng giống, dòng là khác

Trang 20

nhau và phụ thuộc vào nhiều yếu tố đó là đặc điểm ngoại hình, khối lượng cơ thể, tốc độ tăng khối lượng, chế độ dinh dưỡng, khả năng hấp thụ thức ăn, khả năng sản xuất thịt được biểu hiện thông qua 2 chỉ tiêu đó là năng suất thịt

và chất lượng thân thịt

- Năng suất thịt

Năng suất thịt được biểu thị thông qua các chỉ tiêu như khối lượng sống, khối lượng và tỷ lệ phần ăn được, khối lượng và tỷ lệ thân thịt, khối lượng và

tỷ lệ thịt đùi, khối lượng và tỷ lệ thịt ngực

Ở gia cầm, khối lượng thân thịt chiếm khoảng 64% (trong đó có 52% là thịt và 12% là xương), phủ tạng chiếm 6%, máu, lông, đầu, chân chiếm 17%

và tỷ lệ hao hụt chiếm khoảng 13% (Trần Thị Mai Phương, 2004)

Năng suất thịt phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trước hết đó là giống, dòng, tính biệt, tốc độ sinh trưởng, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ

Chambers và cs (1990) cho biết, các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau Giữa các dòng luôn có sự khác nhau di truyền về năng suất thịt xẻ hay năng suất các phần thịt như thịt ngực, thịt đùi và từng phần thịt còn lại

Kosba (1995) cho biết, hệ số di truyền tuyệt đối của thịt xẻ theo bố là 0,19-0,22; theo mẹ là 1,02-1,09 và theo cả bố và mẹ là 0,6-0,66

Knust U và cs (1996) cho biết, thành phần của thịt xẻ bị ảnh hưởng của môi trường khá lớn, khi nhiệt độ môi trường cao thì tỷ lệ mỡ của thịt xẻ thấp, tỷ lệ phần thịt ăn được giảm, chất lượng cơ kém

Nguyễn Thị Thúy Mỵ (1997) cho biết, mối tương quan giữa khối lượng sống với khối lượng thịt xẻ là khá cao (0,9), còn giữa khối lượng sống với khối lượng mỡ bụng thấp hơn (0,2-0,5)

Trần Công Xuân và cs (1996a) cho biết, năng suất thịt còn liên quan đến chế độ dinh dưỡng, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và quy trình vệ sinh thú y

Trang 21

Năng suất thịt ngực được định là tỷ lệ của thịt ngực so với khối lượng của thân thịt đã chế biến hoặc khối lượng của ngực so với khối lượng giết mổ Theo Omojolaet A.B và cs (2004), thịt ngực của các loài chim nhỏ cỡ như chim bồ câu có giá trị cao và chiếm tỷ lệ phần trăm lớn hơn so với thịt đùi Cũng theo Omojolaet A B và cs (2012) cho biết các dòng chin bồ câu được nuôi phổ biến ở Nigeria thì dòng Jamul có tỷ lệ thịt ngực cao nhât (41,99%), mặc

dù không có sự khác biệt đáng kể so với dòng Algardi và dòng Kula

Giới tính không ảnh hường đến tỷ lệ thịt ngực mặc dù tỷ lệ thịt ngực ở chim

bồ câu trống là 41,15%, chim bồ câu mái là 39,35% (Omojolaet A B và cs, 2012)

- Chất lượng thịt

Thịt gia cầm nói chung và bồ câu nói riêng được mọi người ưa thích vì chúng thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao Tuy vậy không chỉ đánh giá chất lượng thịt thông qua cảm quan mà chất lượng thịt phải được phản ánh thông qua các thành phần hóa học, sinh học và một số chỉ tiêu sinh hóa, hóa học của thịt Các chỉ tiêu đánh giá thường là hàm lượng vật chất khô, hàm lượng protein, tỷ lệ

mỡ, tỷ lệ chất khoáng, Ngoài ra có thể nhận biết chất lượng thịt thông qua cảm quan như màu sắc, độ đàn hồi, độ mịn, độ dai chắc của sợi cơ Có thể cải thiện chất lượng thịt bằng nhiều biện pháp khác nhau từ việc chọn lọc, lai tạo đến việc

áp dụng các phương thức chăn nuôi khác nhau, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc và

kể cả việc phương pháp giết mổ, bảo quản thịt

So với các loại gia cầm khác, thịt chim bồ câu mềm hơn do những sợi cơ của chim rất mỏng, các tổ chức liên kết giữa chúng nhỏ hơn Trần Công Xuân

và cs (1998b) cho biết, thành phần hóa học của thịt các dòng chim bồ câu tương đương nhau

Cũng theo Chambers và cs (1990), giữa các dòng luôn có sự khác nhau

di truyền về năng suất thịt xẻ, hay năng suất các phần thịt như thịt đùi, thịt ngực, cánh, chân hay phần thịt ăn được và từng phần thịt, da, xương

Trang 22

Các tính trạng về sinh trưởng và khả năng cho thịt đều là các tính trạng

về số lượng và mang đặc trưng chung của tính trạng số lượng Chúng ta có thể cải thiện năng suất và chất lượng thịt bằng nhiều biện pháp khác nhau từ việc chọn lọc, lai tạo đến việc áp dụng các phương thức chăn nuôi khác nhau, chế

độ dinh dưỡng, chăm sóc và kể cả việc phương pháp giết mổ, bảo quản thịt

1.1.5 Cơ sở khoa học nghiên cứu về khả năng sinh sản ở bồ câu và các yếu

tố ảnh hưởng

Năng suất trứng là một chỉ tiêu quan trọng nhất đối với con mái và là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật nhằm đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm sinh sản Chim bồ câu do đặc trưng của giống vẫn giữ nguyên bản năng ấp trứng

và nuôi con quanh năm, do đó sức đẻ trứng phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố di truyền Ở các giống chim được chọn lọc cho năng suất trứng cao thì khoảng cách giữa các lứa đẻ ngắn, chim bố mẹ cùng nhau vừa ấp trứng vừa nuôi con Sức đẻ trứng của bồ câu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau: Di truyền cá thể, tuổi, giống, dòng gia cầm, chế độ dinh dưỡng và điều kiện ngoại cảnh

- Các yếu tố di truyền cá thể

Có 5 yếu tối di truyền ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của chim là tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, tính nghỉ đẻ, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học và tính ấp bóng

+ Tuổi thành thục sinh dục: Liên quan đến sức để trứng của gia cầm Thành thục sớm là một tính trạng mong muốn, tuy nhiên cần phải chú ý đến khối lượng cơ thể Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch Chọn lọc theo hướng tăng khối lượng quả trứng sẽ làm tăng khối lượng cơ thể gia cầm và tăng tuổi thành thục sinh dục

Theo Bùi Hữu Đoàn (2009), từ 4 – 5 tháng tuổi, chim bồ câu hậu bị đã bắt đôi một cách tự nhiên Trên cơ sở ‘tình yêu’ đó, ta tiến hành tách riêng, đưa chúng lên chuồng để kiểm tra sinh sản Đây là một cuộc thay đổi từ cuộc

Trang 23

sống quần thể ở sàn nuôi chung sang cuộc sống từng cặp ở chuồng lồng kiểm tra Ngoài những cặp đã cặp đôi tự nhiên, còn có những con trống và mái riêng lẻ cần ghép đôi nhân tạo Việc này đòi hỏi công nhân có kỹ năng và kinh nghiệm Có thể nhốt mỗi con một ô cạnh nhau để cho chúng quen mắt quen hơi, dùng chung máng ăn, máng uống Sau một thời gian chúng thân nhau thì ghép thành cặp

Theo Kazal Krishna Ghosh và cs (2013), chim bồ câu đạt đến độ trưởng thành vào tháng thứ 6 hoặc tháng thứ 7, tại giai đoạn này người ta có thể cho ghép đôi hoặc để chúng tự bắt cặp

Sau khi đã bắt cặp, khoảng 8 – 12 ngày sau chim mái sẽ đẻ quả trứng đầu tiên Thường chim mái đẻ 2 trứng/lứa, cách nhau khoảng 44 giờ, ít khi chim đẻ 1 hay 3 trứng Bồ câu mái đẻ quanh năm, trong những điều kiện chăn nuôi hợp lý, một chim bồ câu bố mẹ có thể sinh sản ra 12 – 14 chim bồ câu con

Sau khi cặp đôi, chim mái thường đẻ trứng thứ nhất vào buổi chiều, giữa

5 – 7 giờ tối Trứng đầu tiên thường nhỏ hơn quả trứng sau này Sau khi đẻ quả trứng thứ 2 chim bắt đầu ấp Đôi khi chim ấp ngay sau khi đẻ quả trứng đầu tiên Nếu không để ý và can thiệp thì trứng thứ nhất sẽ nở trước quả thứ 2 khoảng 36 giờ Khi đó chim non nở trước sẽ có kích thước gấp đôi chim con nở sau, nó sẽ lớn và ăn khỏe hơn, chèn ép con thứ 2, nếu không có sự can thiệp kịp thời thì con bé sẽ chết hoặc còi cọc Để ngăn ngừa hiện tượng này, ta nên lấy quả trứng đẻ trước ra khỏi tổ, trả lại tổ sau khi chim mẹ đẻ xong quả trứng thứ 2

+ Cường độ đẻ trứng: Là năng suất trứng của gia cầm trong một thời gian ngắn Cường độ đẻ trứng tương quan chặt chẽ với năng suất trứng một năm, nhất là cường độ đẻ trứng của 3 – 4 tháng đẻ đầu Vì vậy, để đánh giá năng suất trứng của gia cầm người ta thường kiểm tra cường độ đẻ trứng của 3 – 4 tháng

đẻ đầu để có những phán đoán sớm, kịp thời trong công tác chọn giống

Trang 24

Bồ câu thường bắt đầu giao phối vào đầu mùa xuân, từ tháng 2 sau đó đẻ đến tận tháng 10, mỗi năm chim đẻ khoảng 5 – 6 lứa Khoảng cách thời gian giữa các lứa tăng dần về cuối vụ Mỗi lứa chim thường đẻ 2 trứng, cách nhau khoảng 36 giờ Khoảng cách trung bình giữa 2 lứa đẻ là 40 – 50 ngày Ở miền Bắc, chim chỉ đẻ 5 – 6 lứa, nhưng ở miền Nam, chim có thể đẻ 6 – 7 lứa do không có mùa đông

Theo Abed AlAzeem (2005), chu kỳ trứng của chim bồ câu khỏe mạnh nằm trong phạm vi 45,75 – 54,5 ngày

Người ta thường cho bồ câu phối giống đồng huyết, ghép đôi ngay chính anh em của chúng nhưng tác hại không nhiều Trong nuôi công nghiệp, người nuôi có thể chủ động ghép đôi cho chúng để tránh đồng huyết, việc chủ động ghép đôi có thể thành công đến 90 %

+ Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học: từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên đến khi gia cầm nghỉ đẻ thay lông Giữa sự thành thục và thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học có tương quan nghịch rõ rệt Giữa thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng và sức sản xuất trứng có hệ số tương quan dương cao Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng là yếu tố quyết định đến năng suất trứng (Gao C Q và cs 2016)

Sau mỗi chu kỳ đẻ trứng sinh học, gia cầm thường nghỉ đẻ và thay lông Trong điều kiện bình thường, thay lông lần đầu tiên là đặc điểm quan trọng để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu Những gia cầm thay lông sớm thường đẻ kém và thời gian thay lông kéo dài 4 tháng Ngược lại, nhiều gia cầm thay lông muộn và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng

Mariey Y.A.(2013) đã quan sát thấy rằng khẩu phần ăn của bồ câu có bổ sung 1 đến 5 g vitamin và Premix khoáng/kg khẩu phần đã làm giảm chu kỳ

để trứng từ 56,62 đến 45,62 ngày, đồng thời cũng cho biết, khẩu phần ăn giàu các chất dinh dưỡng có ảnh hưởng đến việc giảm độ dài của chu kỳ trứng ở chim bồ câu

Trang 25

Ngoài ra, thời gian của chu kỳ trứng phụ thuộc vào hoạt động và thời gian của chim bố mẹ nuôi chim non bằng sữa diều và mớm mồi cho chim non

(Mariey, 2013)

Đối với chim bồ câu, mỗi một lần để trứng, chim mái thường đẻ 2 quả, đôi khi 3 quả Theo Hagg D (1991) cho biết quả trứng thứ 2 được đẻ sau quả trứng thứ nhất sau 30 – 34 giờ, thời gian đẻ quả trứng thứ 2 là 40 giờ sau khi xuất hiện quả trứng đầu tiên (Johnston, 1998)

+ Tính ấp bóng: Là bản năng ấp trứng tự nhiên, đây là phản xạ không điều kiện nhằm duy trì nòi giống, liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Tính ấp có ảnh hưởng đến năng suất trứng, vì khi ấp thì gia cầm nghỉ đẻ Ở các giống gia cầm khác và chim cút thường tiến hành chọn lọc để loại bỏ bản năng đòi ấp sẽ nâng cao sức đẻ trứng Tính ấp bóng của chim bồ câu lại cực

kỳ quan trọng, vì chim mẹ phải ấp trứng, nuôi con bằng sữa nên không thể loại bỏ đặc tính sinh học này của chúng

Sau khi đẻ xong, chim bồ câu sẽ ấp ngay Thời gian ấp trứng trung bình

là 18 ngày (mùa nóng là 17 ngày, mùa lạnh là 18,5 ngày) Nếu chim ấp 3 quả trứng thì thời gian nở có thể kéo dài thêm nửa ngày (Trần Thanh Vân và cs, 2015; Bùi Hữu Đoàn 2009)

Trong hầu hết trường hợp, chim mái ấp từ 4 – 5 giờ chiều hôm trước cho tới 10 – 11 giờ ngày hôm sau, sau đó chim trống sẽ ấp thời gian còn lại trong ngày khoảng 6 – 7 giờ Sau 5 ngày ấp, có thể soi trứng để loại trứng không có phôi Cần soi trứng khi chim bố mẹ không có nhà hoặc phải làm thật nhẹ nhàng, khéo léo để không làm chim sợ và không làm vỡ trứng

+ Tuổi gia cầm có liên quan đến sản lượng trứng, năng suất trứng giảm dần theo tuổi Ở chim bồ câu đẻ theo lứa và tương đối ổn định trong 4 – 5 năm đầu sau đó lại giảm xuống

+ Thức ăn và dinh dưỡng: Nếu khẩu phần ăn không đảm bảo về nhu cầu protein năng suất trứng và khối lượng trứng sẽ giảm Khẩu phần ăn không

Trang 26

đảm bảo về nhu cầu vitamin và khoáng không những làm giảm năng suất trứng mà còn ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả ấp nở Tỷ lệ trứng không có phôi

sẽ tăng cao hơn Khẩu phần ăn thừa năng lượng làm cho gia cầm tích lũy mỡ nhiều trong cơ thể cũng ảnh hưởng tới quá trình tạo trứng thông qua hoạt động của các hormone sinh dục không bình thường Thức ăn kém chất lượng

sẽ không thể cho năng suất cao, thậm chí còn gây bệnh cho gia cầm Các loại thức ăn bảo quản không tốt bị nhiễm nấm mốc, các loại thức ăn bị nhiễm độc các kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật… bảo quản thức ăn không tốt cũng

sẽ không phát huy được tác dụng trong chăn nuôi gia cầm

Kích thước và khối lượng quả trứng của chim chủ yếu được xác định bởi khối lượng của lòng trắng trứng, trên thực tế khối lượng này bị ảnh hưởng bởi giá trị dinh dưỡng của lượng thức ăn cung cấp cho chim mẹ Knust U và cs (1996)

Chế độ ăn bổ sung nấm men (Mariety, 2013) và vitamin và khoáng chất

(AbouKhashaba và Mariey, 2009) cho trứng có kích thước lớn so với đối chứng không được bố sung nấm men vào khẩu phần

Thành phần axit béo của lipid lòng đỏ không khác nhau ở chim bồ câu

và phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng (Gugolek A và cs, 2013)

- Điều kiện ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng… của chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm Trong các yếu tố này thì nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất

+ Nhiệt độ thấp quá hay cao quá đều không có lợi cho gia cầm và làm giảm sức đẻ trứng Nhiệt độ môi trường cao không những làm giảm năng suất trứng mà còn làm giảm chất lượng trứng Vỏ trứng mỏng hơn bình thường, nhiều trứng đẻ ra không có đá vôi

+ Độ ẩm của không khí trong chuồng nuôi tốt nhất là 65 – 70 %, về mùa đông ẩm độ không nên vượt quá 80 % Sự thông thoáng tốt không chỉ giúp đảm bảo độ ẩm thích hợp trong chuồng nuôi mà còn đẩy các khí độc ra ngoài, đảm bảo một môi trường sống phù hợp

Trang 27

+ Ánh sáng không chỉ ảnh hưởng đến thời gian rụng trứng, mà còn ảnh hưởng đến sự thành thục và hoạt tính chung của các cơ quan tạo trứng Chim

bồ câu rất nhạy cảm với ánh sáng Sự đẻ trứng chỉ phụ thuộc vào một phần ánh sáng nhưng sự ấp trứng lại phụ thuộc chặt chẽ vào yếu tố ánh sáng Bản năng ấp trứng của chim bồ câu phụ thuộc vào thời gian chiếu sáng ban ngày tối thiểu và 13 giờ Do đó chuồng trại thiết kế thoáng đảm bảo cung cấp đủ ánh sáng cho chim Tuy nhiên, ở miền Bắc ban ngày mùa đông ánh sáng ngắn, có thể tăng cường thời gian chiếu sáng bằng cách lắp thêm bóng đèn 40

W, chiếu sáng thêm vào ban đêm (nếu nuôi quy mô lớn) với cường độ 4 – 5 W/m2 nền chuồng với thời gian 3 – 4 giờ/ngày Trong thời kỳ hậu bị hạn chế thời gian chiếu sáng để chim không bị thành thục quá sớm

+ Tình trạng sức khỏe chung của cả đàn có ảnh hưởng đến sản lượng trứng Chim mắc bệnh truyền nhiễm và các loại bệnh liên quan đến ký sinh trùng sẽ làm giảm sản lượng cũng như chất lượng trứng

* Sữa diều của chim bồ câu

Ở chim bồ câu, khối lượng và tỷ lệ lòng đỏ trứng thấp, khi nở ra con non còn rất yếu nên hàng ngày chim bố mẹ phải mớm cho chim non bằng ‘Sữa diều’ ‘Sữa’ là chất sền sệt rất giầu đạm Sữa được chim bố và chim mẹ tiết ra

từ chính cơ thể của mình dưới tác động của hormone Loại sữa này là độc nhất trong thế giới loài chim, nó chỉ được phát hiện ở các loài thuộc họ chim bồ câu (Azhar F và Abdel Fattah., 2015)

Chim bồ câu nuôi con bằng sữa diều cho đến khoảng ngày thứ 12 sau khi nở, và chúng có thể điều chỉnh thành phần của sữa diều thông qua chế độ ăn

(Vandeputte-Poma, 1980)

Meleg (1997) cho biết tỷ lệ chết phôi của chim bồ câu là 16 – 19% số trứng trong quá trình ấp trong các chuồng nuôi được quản lý kém, nhưng Mariety (2013) báo cáo chỉ 2 - 3% số trứng có phôi chết khi chim bồ câu được cho ăn bổ sung men

Trang 28

Số lượng trứng của một cặp chim bồ câu thường là hai, trong đó quả trứng đầu tiên thường nở thành chim trống và quả thứ hai nở thành chim mái

(Johnston, 1998)

Trong lúc ấp trứng, có nhiều biến đổi xảy ra ở cơ thể chim bố mẹ, giúp chúng sản xuất ra chất dinh dưỡng cho chim non trong những ngày đầu mới nở Dịch diều hay sữa diều dưới tác động của hormone prolactin, các mạch máu chằng chịt trên thành của bao diều ngày càng dày và nhiều hơn, tới mức biến thành tuyến ngoại tiết, có thể so sánh với tuyến sữa ở các loài có vú Do vậy, nếu lấy đi những trứng mới đẻ trước lúc chim bố mẹ ấp thì sau 7 ngày chim mẹ sẽ đẻ lại Còn ngược lại, nếu lấy trứng muộn hơn, khi chim bố mẹ đã

ấp, có nghĩa là có sự xảy ra của chu kỳ hormone thì 10 ngày sau khi lấy trứng

đi chim mẹ mới đẻ trở lại

Đến ngày thứ 12 – 15 trở đi, chim bố mẹ mớm mồi cho chim non hoàn tàn là hạt Hạt cùng với nước ợ từ diều chim bố mẹ mớm vào hốc miệng cho chim non Sau khi nuôi con được 15 – 20 ngày, chim mái bắt đầu đẻ lại và tiếp tục ấp những quả trứng mới đẻ Điều này cho thấy cường độ làm việc của chim trống và chim mái rất cao, chúng vừa ấp trứng vừa nuôi con đang lớn

Cả chim trống và chim mái rất cần mẫn, khéo léo phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng trong việc ấp trứng và nuôi con

Sữa diều chứa 14 – 16 % protein và 8 – 10% chất béo, ngoài ra còn chất khoáng, vitamin, nhưng không hoặc có rất ít đường

Thành phần của sữa diều bị ảnh hưởng bởi khẩu phần ăn của bố mẹ nếu khẩu phần ăn của chim bố mẹ thiếu chất dinh dưỡng thì chúng phải huy động chất dinh dưỡng dự trữ trong cơ thể để tiết sữa cho chim non

Diều chim bồ câu tiết ra một loại dịch diều, có hàm lượng dinh dưỡng tương tự như sữa của động vật có vú để nuôi chim non mới nở

Trong những ngày đầu mới nở, sữa là thức ăn duy nhất của chim con Từ ngày thứ 4 – 5 bắt đầu có sự chuyển tiếp về dinh dưỡng, chim bố mẹ trộn vào

Trang 29

sữa một số thức ăn đang tiêu hóa dở, đầu tiên là những hạt bé li ti, sau đó là thức ăn cho chim trưởng thành Đến ngày thứ 12 – 15 là thời điểm quyến định đối với chim câu con, chim bố mẹ dừng cấp sữa Cũng có khi sự tiết sữa này kéo dài tới tận ngày thứ 20 – 25, nhưng với một lượng nhỏ so với nhu cầu của chim, vì vậy chim con tự ăn thức ăn từ môi trường

Thông thường, chim bồ câu bố mẹ vừa nuôi chim bồ câu con một tháng tuổi vừa mớm lứa chim bồ câu mới nở Chim bố mẹ hoàn toàn có thể phân phối thức ăn hạt cho con lớn và sữa hoàn chỉnh cho con nhỏ mà không hề để lẫn 2 loại với nhau

Các điều kiện ngoại cảnh như: mùa vụ, chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc, chất lượng thức ăn, hàm lượng vitamin A, E có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ trứng có phôi Sự thích ứng của từng cá thể trong giao phối có ý nghĩa lớn đối với sự thụ tinh Đặc biệt, chim bồ câu là gia cầm đơn phối, cho nên sự ghép phối có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ trứng có phôi

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, chăn nuôi chim bồ câu có từ lâu đời và mang tính quảng canh chăn thả tự do, do đó chim bồ câu nội có ưu điểm là sức sống cao, khả năng chống chịu tốt, tự kiếm mồi nhưng thể trọng nhỏ, khả năng cho thịt kém Một số dòng chim được người chăn nuôi chọn lọc chủ yếu để dùng thi bay trong các lễ hội truyền thống

Hiện nay các nghiên cứu về chim bồ câu có rất ít, trong đó chủ yếu là nghiên cứu về bồ câu nhập nội và chủ yếu mang tính tập hợp điều tra Năm

1996, Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương – Viện chăn nuôi đã nhập giống bồ câu Pháp (dòng VN1) kết quả đã thích nghi Nguyễn Duy Điều (2008) nghiên cứu trên dòng bồ câu Pháp VN1 cho rằng khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 33,99 – 40,24 ngày, số chim non/cặp/năm đạt từ 12,25 – 13,76 con Khối lượng cơ thể chim non lúc 28 ngày tuổi đạt 542,5 – 567,13 g/con Sau

Trang 30

đó năm 1998, Trung tâm tiếp nhận 2 dòng chim Titan và Mimas cũng đạt kết quả khả quan Trần Công Xuân và cs (1998a) cho biết, dòng Mimas khoảng cách giữa hai lứa đẻ 37 ngày, số chim non/cặp/năm 10,3 con Khối lượng cơ thể chim non lúc 28 ngày tuổi là 650 g/con Bùi Hữu Đoàn (2009) cho biết, giống chim địa phương thường nhỏ con, thể trọng trung bình 300 – 400g; chim trống thường to hơn chim mái Một số vùng có hiện tượng ngược lại chim mái to hơn nhưng chênh lệch không nhiều Bồ câu ta thường 40 – 50 ngày cho một lứa

Nghiên cứu về khả năng sản xuất của bồ câu nội Nguyễn Thị Quỳnh (2011) cho biết tỷ lệ nuôi sống của bồ câu nội giai đoạn (0 – 28 ngày tuồi) là 96,38% Khối lượng: Chim mới nở nặng 15,73 g, 4 tuần tuổi là 359,14 g Tiêu tốn thức ăn/1 đôi chim bồ câu hậu bị (từ mới nở đến khi vào đẻ) là 6,84 kg Mỗi cặp 1 năm tiêu thụ 21,64 kg thức ăn Tiêu tốn thức ăn/1 đôi chim

ra ràng là 3,49 kg

Bồ câu nội có tỷ lệ thân thịt là 71,58%, thịt đùi là 8,19%, thịt ngực là 25,41% Tỷ lệ thịt (đùi +ngực) là 33,60%

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Những nghiên cứu tại Trung tâm chọn giống ở Montige-Sur-Moine, Pháp đã cho thấy: Đầu tiên từ những giống sẵn có như Carnean Hullbell, Kinh…các nhà khoa học đã xây dựng những dòng cao sản có các tính trạng cần quan tâm, sau đó thuần nhất các dòng đó Tiếp theo, họ đã đề ra một sơ đồ chọn giống cho phép cải tiến di truyền những dòng này Sơ đồ chọn giống này gần với chọn giống của bò hơn là của gia cầm vì một đặc điểm không thể chối cãi được là chim bồ câu sống thành từng đôi và có thời gian sử dụng con giống dài hơn (từ 3 đến 5 tuổi) Những thế hệ đầu tiên của các giống bố mẹ Eupigeon đã có tuổi thành thục về tính dục là 6 tháng tuổi, tổng khối lượng chim bồ câu non tách mẹ lúc 28 ngày tuổi/cặp/năm là 9,4 – 9,9kg (Khan A.G.,(1998)

Trang 31

Công ty Grimaud Fredes đã chọn lọc và đưa ra thị trường các dòng bồ câu với các tính năng sản xuất:

1 Dòng Mirthys hay dòng “The Classic”

- Số chim non tách mẹ lúc 28 ngày tuổi/cặp/năm: 15con - 16 con

- Khối lượng chim non lúc 28 ngày tuổi: 610 g/con

- Màu sắc lông: con trống có màu trắng, con mái có màu lông đốm

2 Dòng chim Mimas hay dòng “The white super prolific”

- Khối lượng chim non lúc 28 ngày tuổi: 580 g/con

- Hệ số cận huyết: 6%

- Màu sắc lông: trắng tuyền

3 Dòng Titan hay dòng “The super heavy”

- Số chim non tách mẹ lúc 28 ngày tuổi/cặp/năm: 12 con – 13 con - Khối lượng chim non lúc 28 ngày tuổi: 700 g/con

- Hệ số cận huyết: 6 – 8%

- Màu sắc lông: lốm đốm

Các tính trạng sinh sản của chim bồ câu cũng phần lớn là các tính trạng

số lượng nên ngoài tác động một phần do di truyền, chúng còn chịu ảnh hưởng rất lớn của các điều kiện môi trường

Bên cạnh các nghiên cứu về giống thì hàng loạt các nghiên cứu khác về thức ăn cho bồ câu đã được tiến hành Sales J và Janssens (2003) thử nghiệm xác định năng lượng trao đổi của một số hạt ngũ cốc trên bồ câu và đưa ra kết luận rằng năng lượng trao đổi của bồ câu không khác nhiều so với một số gia cầm khác Tác giả cũng cho biết bồ câu có thể sử dụng lipit làm năng lượng cho cơ thể tốt hơn hydratcacbon Peng Xie và cs (2013), đã thử nghiệm các nguồn lipit khác nhau bao gồm: mỡ động vật, dầu cá, dầu cọ và dầu đậu nành trong khẩu phần ăn của bồ câu bố mẹ và chỉ ra rằng sinh trưởng của chim con tốt nhất khi sử dụng mỡ động vật còn dầu đậu nành cho kết quả tốt nhất về độ dài lông nhung hồi tràng

Trang 32

Kết quả nghiên cứu của Mariety (2013) cho biết tỷ lệ DL – Meth hoặc dl-methionyl-dl-methionine (dl-Met-Met) trong khẩu phần bằng 0,30% cho tỷ

lệ thịt xẻ, tỷ lệ cơ ngực cao nhất tương ứng với 87,37% và 26,07%

P Xie và cs (2016) đã thử nghiệm các loại hình thức ăn hạt và thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho chim bố mẹ và cho biết khả năng thu nhận thức ăn của chim khác nhau giữa loại hạt từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của chim ra ràng lúc 28 ngày tuổi Chim bố mẹ thu nhận nhiều nhất với khẩu phần chứa thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh dạng viên và khối lượng của chim ra ràng lúc 28 ngày tuổi cũng cao hơn các lô còn lại Tác giả cũng cho biết thêm các loại thức ăn hạt và thức ăn hỗn hợp dạng viên không ảnh hưởng đến tỷ lệ các cơ của chim con lúc 28 ngày tuổi

Martinez-Gonzalez D và cs (2008) đã bổ sung arginine bằng con đường tiêm vào trứng bồ câu vào ngày ấp thứ 13 và cho biết: khi bổ sung arginine vào trong trứng đã cải thiện tỷ lệ ấp nở khi ấp bằng máy ấp trứng nhân tạo Ngoài ra, khi bổ sung sớm arginine còn cải thiện khối lượng, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ

cơ ngực của bồ câu non giết thịt lúc 7 và 14 ngày tuổi

Azhar F Abdel Fattah và cs (2015), đã nghiên cứu các đặc tính nuôi con của một bên bồ câu bố hoặc mẹ và chỉ ra rằng bản năng nuôi con của bồ câu

bố không thua kém bồ câu mẹ ở tất cả các chỉ tiêu: khối lượng cơ thể, khả năng thu nhận thức ăn, tốc độ sinh trưởng của chim non, tỷ lệ nuôi sống, hệ số chuyển hoá thức ăn Tác giả cũng cho biết thêm các chỉ tiêu này của thấp hơn so với nhóm bồ câu non được cả bố và mẹ cùng mớm mồi, tác giả cho rằng sở dĩ như vậy là ảnh hưởng của “sữa diều” của một bên bố, mẹ không đủ cũng cấp cho con

Mức độ có mặt của chim bố và mẹ cũng ảnh hưởng tới thành tích ấp nở Tác giả Azhar F Abdel Fattah (2015) cho biết tỷ lệ ấp nở của nhóm chim có

cả bố mẹ cùng ấp cao hơn nhóm chỉ có một bên bố hoặc mẹ ấp

Trang 33

Tỷ lệ trứng không có phôi cao vào mùa hè và mùa đông vì thời tiết quá nóng và lạnh (Levi, 1954) Trong khẩu phần có bổ sung men, làm tăng các khả năng sinh trưởng và sinh sản, cải thiện chất lượng tinh dịch của chim bồ câu để tăng tỷ lệ trứng có phôi (Mariety, 2013)

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Chim bồ câu nội nuôi sinh sản và nuôi thịt

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Các thí nghiệm được triển khai tại Thái Nguyên

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 5 năm 2019 – tháng 05 năm 2020

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến khả năng sinh sản của chim bồ câu nội

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức ấp trứng khác nhau đến khả năng sinh sản của chim bồ câu nội

- Khả năng sinh trưởng và cho thịt của chim được nở ra từ 2 phương pháp ấp trứng

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của loại thức ăn khác nhau đến khả năng sinh sản của bồ câu sinh sản

* Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh Mỗi đơn

vị thí nghiệm gồm có 10 gia đình (10 trống + 10 mái) Mỗi gia đình được nuôi riêng biệt để theo dõi Mỗi lô có 3 lần lặp lại: 3 x 10 = 30 gia đình

Bồ câu thí nghiệm được mua tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương, Viện Chăn nuôi lúc 28 ngày tuổi Bồ câu giai đoạn 28 ngày tuổi đến khi vào sinh sản được nuôi Thái Nguyên

Hai lô có cùng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh thú y, chỉ khác nhau về khẩu phần ăn Khẩu phần thí nghiệm của chim bồ câu được phối hợp từ:

Trang 35

Ngô mảnh, khô dầu đỗ tương, gạo lứt, premix vitamin – khoáng, muối ăn Khẩu phần của lô đối chứng sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh Proconco C24 Chim bồ câu giai đoạn từ 28 ngày tuổi đến khi ghép đôi sẽ được nuôi chung theo lô trên nền sàn với mật độ 3 – 4 đôi/ 1m2 chuồng Đến giai đoạn thành thục chim bồ câu sẽ ghép đôi tự nhiên theo cặp, rồi tiến hành nuôi riêng biệt từng gia đình chim Đối với những cá thể chim không tự ghép đôi với nhau được thì chúng tôi mới tiến hành can thiệp bằng cách tập cho chim trống

và chim mái làm quen với nhau, khi chim trống và chim mái quen nhau thì tiến hành ghép đôi theo cặp gia đình Chế độ chiếu sáng đối với chim sinh sản: vào mùa hè chiếu sáng tự nhiên, mùa đông tăng cường thời gian chiếu sáng lên 2 giờ bằng đèn điện với công suất 5 W/m2 chuồng

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1

Chỉ tiêu Lô I (Tự phối trộn thức ăn) Lô II (TĂHH)

Thức ăn Tự phối trộn Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh Proconco C24

Thời gian nuôi hậu bị 28 ngày tuổi – 6 tháng 28 ngày tuổi – 6 tháng Thời gian theo dõi chỉ tiêu

Bảng 2.2 Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn cho chim thí nghiệm 1

Giá trị dinh dưỡng

Trang 36

Photpho (%) 1,47 1,1

* Các chỉ tiêu theo dõi của thí nghiệm 1

- Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn hậu bị

- Khối lượng cơ thể của chim bồ câu theo từng giai đoạn

- Tuổi đẻ lứa đầu: Là khoảng thời gian từ lúc chim bồ câu nở cho đến lúc

đẻ quả trứng đầu tiên (ngày tuổi) được theo dõi trên từng cá thể

- Khoảng cách lứa đẻ (ngày): Là khoảng thời gian từ khi chim bồ câu đẻ quả trứng đầu tiên của lứa đẻ này đến khi chúng đẻ quả trứng đầu tiên của lứa

đẻ kế tiếp ngay sau đó

- Số trứng/lứa (quả)

- Số quả trứng/ năm (quả)

- Lứa đẻ/năm (lứa)

- Khối lượng trứng (g)

-Tỷ lệ nở/tổng số trứng ấp (%)

- Tỷ lệ nuôi sống 0 – 24 ngày tuổi (%)

* Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu được trình bày tại mục 2.4

2.3.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức ấp trứng khác nhau đến khả năng sinh sản của bồ câu

* Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh Mỗi đơn

vị thí nghiệm gồm có 16 gia đình (16 trống + 16 mái) Mỗi gia đình được nuôi riêng biệt để theo dõi Mỗi lô có 3 lần lặp lại: 3 x 16 = 48 gia đình (cặp)

Đối với thí nghiệm 2, chúng tôi sử dụng chim bồ câu bắt đầu vào đẻ để theo dõi các chỉ tiêu sinh sản Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh được áp dụng như nhau, chỉ khác nhau về phương thức ấp trứng Đối với lô đối chứng, trứng của các cặp bồ câu được ấp tự nhiên bằng chính các cặp bồ câu bố mẹ Lô II số trứng được đẻ ra từ các cặp chim bố mẹ sẽ được thu gom toàn bộ rồi cho ấp bằng máy ấp, sử dụng các quả trứng chim bồ câu giả nhưng

có kích thước và hình dáng giống y như thật để thay thế cho 24 đôi chim ấp ít nhất 12 ngày để tạo “sữa diều”, 24 đôi còn sau khi lấy trứng đi ấp được giải phóng để chuẩn bị vào chu kè đẻ tiếp theo Khi bồ câu non nở ra sẽ đưa vào các cặp chim bố mẹ được ấp trứng giả nuôi 3,13 chim con/cặp chim bố mẹ Như

Trang 37

vậy sau mỗi một chu kỳ đẻ trứng có 1/2 số chim bố mẹ ấp trứng giả chờ để nuôi con, 1/2 và số chim được giải phóng để chuẩn bị vào chu kỳ đẻ tiếp theo

Thức ăn của chim bồ câu được sử dụng bằng khẩu phần tự phối hợp từ: ngô mảnh, khô đậu tương, gạo lứt, Premix khoáng, muối ăn, vitamin

Bảng 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 Chỉ tiêu Lô I (đối chứng) Lô II (thí nghiệm)

Phương thức ấp trứng (do các cặp chim Tự nhiên

bố mẹ ấp và nuôi)

Ấp bằng máy ấp trứng, Sử dụng trứng giả để cho các cặp chim

bố mẹ ấp, kích thích hình thành sữa diều; mỗi cặp bố mẹ sẽ nuôi 3,13 chim non

Bảng 2.4 Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn cho chim thí

nghiệm 2 Thành phần

Giá trị dinh dưỡng

Trang 38

Lysin (%) 1,07

* Các chỉ tiêu theo dõi của thí nghiệm 2

- Khoảng cách lứa đẻ (ngày)

- Số trứng/lứa (quả)

- Số quả trứng/ năm (quả)

- Lứa đẻ/năm (lứa)

- Khối lượng trứng (g)

- Tỷ lệ nở/tổng số trứng ấp (%)

- Tỷ lệ nuôi sống (0 - 28 ngày tuổi) %

- Số chim non tách mẹ/đôi/năm (con)

- Tiêu tốn thức ăn/chim non 28 ngày tuổi (kg)

- Chi phí thức ăn/lứa chim (kg)

- Chi phí thức ăn/đôi chim/năm (kg)

2.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp xác định khả năng sinh sản của chim bồ câu

- Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên (ngày): Là khoảng thời gian từ lúc chim bồ

câu nở cho đến lúc đẻ quả trứng đầu tiên (ngày tuổi) được theo dõi trên từng

cá thể

- Năng suất trứng/năm (quả)

Năng suất trứng hay số trứng/1 lứa đẻ được tính bằng công thức:

Số trứng/1 lứa đẻ (quả) = Tổng số trứng đẻ ra trong năm (quả)

Số lứa đẻ/năm

- Tổng số trứng/năm/đôi: là số trứng/1 đôi chim đẻ ra trong 1 năm

- Khối lượng trứng (g/quả) được xác định bằng cách cân từng quả một trên cân kỹ thuật có độ chính xác ± 1 mg

Trang 39

- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày): Là khoảng thời gian từ khi chim bồ

câu đẻ quả trứng đầu tiên của lứa đẻ này đến khi chúng đẻ quả trứng đầu tiên của lứa đẻ kế tiếp ngay sau đó

Tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ ấp nở: Tỷ lệ trứng có phôi được xác định thông qua việc soi kiểm tra toàn bộ trứng ấp vào ngày thứ 6, những trứng

“trắng không phôi” được đập vỏ kiểm tra để xác định không phôi hay chết

phôi sớm Trứng có phôi được xác định bằng tổng số trứng ấp trừ đi số trứng không có phôi (Trần Đình Miên và cs, 1995)

Tỷ lệ trứng có phôi (%) = Số trứng có phôi (quả) x 100

Số trứng đưa vào ấp (quả)

* Số chim non/đôi/năm (con): Là tổng số chim tách mẹ ở 28 ngày tuổi

của một đôi chim bố mẹ

Số chim non/đôi/năm = Tổng trứng ấp x Tỷ lệ nở x Tỷ lệ nuôi sống (28 ngày)

2.4.2 Phương pháp xác định khả năng sinh trưởng của chim bồ câu

* Tỷ lệ nuôi sống

Hàng ngày theo dõi và ghi chép sổ sách số chim chết để cuối tuần và cuối đợt thí nghiệm tính tỷ lệ nuôi sống theo công thức:

Tỷ lệ nuôi sống (%) = Tổng chim cuối kỳ (con) x 100

Tổng số chim đầu kỳ (con)

* Khối lượng cơ thể

Cân từng con một, cân tất cả số chim sử dụng trong thí nghiệm lúc mới nở, 7, 14, 21 và 28 ngày tuổi Cân vào buổi sáng, cố định loại cân và người cân Sử dụng cân điện tử với độ chính xác 0,1gam

* Khả năng cho thịt

Tỷ lệ nở/ tổng trứng ấp (%) = Số chim con nở ra (con) x 100

Số trứng đưa vào ấp (quả)

Trang 40

- Khối lượng sống (g): là khối lượng chim sau khi ăn 12 giờ, chỉ cho uống nước

Tỷ lệ khối lượng sau cắt tiết (%)=

Khối lượng sau cắt tiết (g)

x 100 Khối lượng sống (g)

Tỷ lệ khối lượng sau vặt lông (%) =

Khối lượng sau vặt lông (g)

x 100 Khối lượng sống (g)

Tỷ lệ thân thịt (%) =

Khối lượng thân thịt (bỏ đầu chân) (g)

x 100 Khối lượng sống (g)

Tỷ lệ thịt đùi (%) =

Khối lượng thịt đùi trái (g) x 2

x 100 Khối lượng thân thịt (g)

Tỷ lệ thịt ngực (%) =

Khối lượng thịt ngực trái (g) x 2

x 100 Khối lượng thân thịt (g)

Tỷ lệ thịt đùi + thịt ngực (%) =

Khối lượng thịt đùi + ngực (g)

x 100 Khối lượng thân thịt (g)

- Tiêu tốn thức ăn/chim non ra ràng (kg/con)

TTTA/chim non

ra ràng 28 ngày

tuổi (kg/con) =

Tổng khối lượng thức ăn của chim bố mẹ và chim non (kg)

Số chim ra ràng 28 ngày tuổi (con)

- Tiêu tốn thức ăn cho một lứa chim (kg) = (thức ăn/đôi/ngày x thời gian nuôi con + thức ăn/đôi/ngày x thời gian không nuôi con)/ khoảng cách lứa đẻ

- Tiêu tốn thức ăn cho một đôi chim trong một năm (kg): tiêu tốn thức ăn/1 lứa đẻ x số lứa đẻ/năm

- Lượng thức ăn thời gian nuôi con (kg): Thức ăn/đôi/ngày x thời gian nuôi con

Ngày đăng: 15/03/2021, 23:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w