1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ trên kiến thức về bệnh của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại bệnh viện đa khoa tỉnh hậu giang

146 128 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 4,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH --- TRẦN THỊ THANH TÂM ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỦA DƯỢC SĨ TRÊN KIẾN THỨC VỀ BỆNH CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-

TRẦN THỊ THANH TÂM

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỦA DƯỢC SĨ

TRÊN KIẾN THỨC VỀ BỆNH CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

TP Hồ Chí Minh - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-

TRẦN THỊ THANH TÂM

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỦA DƯỢC SĨ

TRÊN KIẾN THỨC VỀ BỆNH CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HẬU GIANG

Ngành: Dược lý và Dược lâm sàng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu

sử dụng trong phân tích luận văn có nguồn gốc rõ ràng, và được hội đồng đạo đức chấp thuận Những kết quả nghiên cứu trong luận văn được khảo sát, tìm hiểu và phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Việt Nam Tất

cả các tài liệu tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

Trần Thị Thanh Tâm

Trang 4

Em cũng xin chân thành cám ơn Thầy TS.DS Nguyễn Thắng đã hỗ trợ em hết mình trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Trần Thị Thanh Tâm

Trang 5

Luận văn thạc sĩ - Khóa 2018 - 2020 Chuyên ngành: Dược lý và Dược lâm sàng

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỦA DƯỢC SĨ TRÊN KIẾN THỨC VỀ BỆNH CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HẬU GIANG

Học viên: Trần Thị Thanh Tâm GVHD: PGS.TS Nguyễn Hương Thảo

TÓM TẮT

Mở đầu: Kiến thức về bệnh của bệnh nhân đái tháo đường là yếu tố chính để cải

thiện chất lượng cuộc sống, giúp bệnh nhân đạt được kết quả lâm sàng tích cực và hạn chế các biến chứng đái tháo đường Sự can thiệp của nhân viên y tế, đặc biệt là dược sĩ đã được chứng minh là giúp cải thiện kiến thức về bệnh của bệnh nhân Tuy nhiên, dữ liệu này ở Việt Nam còn hạn chế

Phương pháp nghiên cứu:

Quá trình dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi về kiến thức bệnh đái tháo đường (Diabetes Knowledge Questionnaire - DKQ) được tiến hành theo 5 bước dựa trên hướng dẫn của Beaton và cộng sự (2000 & 2007) Tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi được đánh giá bằng hệ số Cronbach’s alpha và hệ số Kappa dựa trên việc khảo sát 87 bệnh nhân đái tháo đường type 2 Giá trị cấu trúc được đánh giá bằng cách khảo sát sự liên quan giữa điểm kiến thức với đặc điểm bệnh nhân

Nghiên cứu được thiết kế là thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng mù đơn, thực hiện trên bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hậu Giang từ 01/04/2020 đến 15/08/2020 được phân bố ngẫu nhiên vào nhóm đối chứng hoặc nhóm can thiệp Đặc điểm bệnh nhân và thông tin điều trị

Trang 6

được thu thập từ sổ khám bệnh Kiến thức về bệnh đái tháo đường được đo lường bằng bộ câu hỏi Diabetes Knowledge Questionnaire (DKQ) Nhóm can thiệp được dược sĩ tư vấn kiến thức cơ bản về bệnh ĐTĐ, chế độ ăn uống và luyện tập thể dục, kiểm soát đường huyết và biến chứng của bệnh đái tháo đường Tại thời điểm 1 tháng sau can thiệp, bệnh nhân được kiểm tra lại kết quả kiến thức về bệnh đái tháo đường bằng bộ câu hỏi DKQ.Hiệu quả can thiệp của dược sĩ trên kiến thức về bệnh của bệnh nhân được đánh giá bằng hồi quy tuyến tính đa biến, tỷ lệ TTDT của bệnh nhân và tỷ lệ bệnh nhân đạt đường huyết đói mục tiêu

Kết quả:

Bộ câu hỏi DKQ phiên bản tiếng Việt được tạo thành gồm 24 câu Phiên bản tiếng Việt có mức tương đương cao với phiên bản gốc cho cả 4 tiêu chí là tương đương về ngữ nghĩa, thành ngữ, trải nghiệm và khái niệm Bộ câu hỏi đạt tính nhất quán với

hệ số Cronbach’s alpha tổng thể là 0,898 Bộ câu hỏi đạt độ ổn định với hệ số Kappa của tất cả các câu hỏi đều lớn hơn 0,60 (p < 0,001) Bộ câu hỏi cũng đạt giá trị cấu trúc, có sự liên quan giữa điểm trả lời câu hỏi và trình độ học vấn của bệnh nhân (p < 0,001)

Có 165 bệnh nhân tham gia nghiên cứu (tuổi trung bình 63,33±14,12) Trước can thiệp, điểm trung bình kiến thức về bệnh đái tháo đường là 12,25±5,55, chỉ có 78/165 (47,3%) bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc, điểm MMAS-8 trung bình của mẫu nghiên cứu là 5,21±1,78 và tỷ lệ bệnh nhân đạt được đường huyết đói mục tiêu là 40,6% Tại thời điểm 1 tháng sau can thiệp, các bệnh nhân nhận được can thiệp của dược sĩ đã có kiến thức về bệnh tốt hơn (B = 5,521; 95% CI: 3,972 – 7,070; p < 0,001), tuân thủ dùng thuốc tốt hơn (OR = 9,599; 95% CI: 2,392 – 38,517, p < 0,001) và khả năng bệnh nhân đạt đường huyết đói mục tiêu cao hơn so với các bệnh nhân không được can thiệp (OR = 2,028; 95% CI: 1,050 – 3,918, p < 0,035)

Kết luận:

Bộ câu hỏi DKQ phiên bản tiếng Việt có thể được xem như là một công cụ giá trị và tin cậy để khảo sát kiến thức của bệnh nhân về bệnh đái tháo đường tại Việt Nam Biện pháp can thiệp của dược sĩ thông qua tư vấn và cung cấp thông tin kiến thức

về bệnh đã cải thiện kiến thức về bệnh của bệnh nhân đái tháo đường type 2

Trang 7

Master's thesis - Academic course 2018 - 2020 Speciality: Pharmacology and Clinical Pharmacology

IMPACT OF PHARMACIST'S INTERVENTION ON DIABETES KNOWLEDGE IN PATIENTS WITH TYPE 2 DIABETES

AT HAU GIANG GENERAL HOSPITAL

Tran Thi Thanh Tam Supervisor: Assoc Prof Nguyen Huong Thao, PhD

ABSTRACT

Background: Diabetes knowledge in patients with diabetes is a key factor to improve

their quality of life, help patients archive positive clinical outcomes and limit diabetic complications The intervention of health care providers, especially pharmacist can help improve diabetes knowledge However, such data in Vietnam is limited

This was a single-blinded randomized controlled trial, on outpatients with type 2 diabetes was conducted from April 1nd to August 15th, 2020, at Hau Giang General Hospital, were randomly allocated to intervention and control arms Patients’ sociodemographic characteristics and indicated medications were obtained from outpatients’ medical records Data on diabetes knowledge was evaluated using the Diabetes Knowledge Questionnaire (DKQ) The intervention group was consulted by a

Trang 8

pharmacist about basic diabetes information, diet and exercise, glycemic control and diabetic complications Patients’ diabetes knowledge was reassessed at 1 month after intervention using DKQ The effectiveness of pharmacist intervention on patients’ diabetes knowledge is assessed by multiple linear regression, patients’ medication adherence and the proportion of patients achieving the target fasting glucose

Results:

The Vietnamese version of DKQ includes 24 items There was a good equivalence between the original and the Vietnamese versions of DKQ in all four criteria including semantic, idiomatic, experiential and conceptual equivalence Cronbach’s alpha coefficients were acceptable for the whole questionnaire (0.898) All Kappa coefficient were good (Kappa > 0.60; p < 0.001) Construct validity was confirmed

by a significant correlation between patient’s knowledge score and education level (p < 0.001)

There were 165 patients included in the study (mean age was 63.33±14.12) Before intervention, the average score of the patients’ diabetes knowledge was 12.25±5.55,

only 78/165 (47.3%) of patients adhered to indicated medications, the average MMAS-8 score was 5.21±1.78 and the proportion of patients achieving the target fasting glucose was 40.6% The pharmacist's intervention has improved the patients’ diabetes knowledge, the patients’ medication adherence and the proportion

of patients achieving the target fasting glucose at 1 month after the intervention, patients in the intervention group had better in diabetes knowledge (B = 5.521; 95% CI: 3.972 – 7.070; p < 0.001), higher in medication adherence (OR = 9.599; 95% CI: 2.392 – 38.517, p < 0.001) and the likelihood of the patient achieving target fasting glucose is higher than in the control group (OR = 2.028; 95% CI: 1.050 – 3.918, p < 0.035)

Trang 9

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU iv

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 3

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.2 Phân loại 3

1.1.3 Cơ chế bệnh sinh đái tháo đường type 2 3

1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán 4

1.1.5 Biến chứng của đái tháo đường 5

1.1.6 Điều trị 5

1.1.7 Phương pháp điều trị 6

1.2 ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 9

1.2.1 Sự cần thiết của việc đánh giá kiến thức về bệnh đái tháo đường 9

1.2.2 Các bộ câu hỏi đánh giá kiến thức về bệnh đái tháo đường 11

1.3 DỊCH THUẬT, ĐIỀU CHỈNH VÀ THẨM ĐỊNH BỘ CÂU HỎI 13

1.3.1 Vai trò dịch thuật, điều chỉnh và thẩm định bộ câu hỏi 13

1.3.2 Hướng dẫn dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi của Beaton và cộng sự 13

1.3.3 Các tiêu chí thẩm định bộ câu hỏi 15

1.3.4 Một số nghiên cứu về dịch thuật, điều chỉnh và áp dụng bộ câu hỏi DKQ (Diabetes Knowledge Questionnaire) 15

1.4 VAI TRÒ CỦA DƯỢC SĨ LÂM SÀNG TRONG VIỆC CẢI THIỆN KIẾN THỨC VỀ BỆNH CHO BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 19

1.4.1 Vai trò của dược sĩ lâm sàng 19

1.4.2 Các nghiên cứu can thiệp kiến thức về bệnh của bệnh nhân đái tháo đường type 2 20

Trang 10

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHO MỤC TIÊU 1 24

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.1.2 Dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi DKQ 24

2.1.3 Thẩm định bộ câu hỏi DKQ 28

2.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHO MỤC TIÊU 2, MỤC TIÊU 3 31

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ 31

2.2.3 Cỡ mẫu 32

2.2.4 Thiết kế nghiên cứu 33

2.2.5 Phương pháp tiến hành 35

2.3 XỬ LÝ VÀ TRÌNH BÀY SỐ LIỆU 39

2.4 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 41

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 42

3.1 DỊCH THUẬT VÀ THẨM ĐỊNH BỘ CÂU HỎI DKQ 42

3.1.1 Dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi DKQ 42

3.1.2 Thẩm định bộ câu hỏi DKQ phiên bản tiếng Việt 51

3.2 NGHIÊN CỨU CAN THIỆP 55

3.2.1 Quá trình chọn và theo dõi bệnh nhân 55

3.2.2 Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu 57

3.2.3 Kết quả sau can thiệp 59

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 65

4.1 DỊCH THUẬT VÀ THẨM ĐỊNH BỘ CÂU HỎI DKQ 65

4.1.1 Dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi DKQ 65

4.1.2 Thẩm định bộ câu hỏi DKQ phiên bản tiếng Việt 67

4.2 NGHIÊN CỨU CAN THIỆP 71

4.2.1 Quá trình chọn và theo dõi bệnh nhân 71

4.2.2 Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu 71

Trang 11

4.2.3 Kiến thức về bệnh 76

4.2.4 Tuân thủ dùng thuốc 81

4.2.5 Kiểm soát đường huyết 83

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 86

5.1 KẾT LUẬN 86

5.1.1 Dịch thuật và thẩm định bộ câu hỏi 86

5.1.2 Nghiên cứu can thiệp 86

5.2 ĐỀ NGHỊ 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC 1 PL-1 PHỤ LỤC 2 PL-2 PHỤ LỤC 3 PL-5 PHỤ LỤC 4 PL-15 PHỤ LỤC 5 PL-16 PHỤ LỤC 6 PL-18 PHỤ LỤC 7 PL-20 PHỤ LỤC 8 PL-22 PHỤ LỤC 9 PL-23 PHỤ LỤC 10 PL-25 PHỤ LỤC 11 PL-26 PHỤ LỤC 12 PL-27 PHỤ LỤC 13 PL-28 PHỤ LỤC 14 PL-32 PHỤ LỤC 15 PL-36

Trang 12

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU

ADA American Diabetes Association Hiệp hội Đái tháo đường

Hoa Kỳ

DKQ Diabetes Knowledge Questionnaire Bộ câu hỏi về kiến thức

bệnh đái tháo đường DSCKQ Diabetes Self – Care Knowledge

Questionnaire

Bộ câu hỏi về kiến thức

tự chăm sóc bệnh đái tháo đường

FDA Food and Drug Administration Cục Quản lý Dược phẩm

và Thực phẩm (Hoa Kỳ)

IDF International Diabetes Federation Liên đoàn Đái tháo

đường Quốc tế MDKT Michigan Diabetes Knowledge Test Bộ câu hỏi về kiến thức

bệnh đái tháo đường Michigan

MMAS-8 Morisky Medication Adherence

SMBG Self Monitoring of Blood Glucose Tự theo dõi đường huyết

Trang 13

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường ở người trưởng thành,

không có thai 6

Bảng 1.2 Mục tiêu đường huyết theo ADA 2020 6

Bảng 1.3 Các tiêu chí thẩm định bộ câu hỏi 15

Bảng 1.4 Một số nghiên cứu về dịch thuật, điều chỉnh và áp dụng bộ câu hỏi DKQ (Diabetes Knowledge Questionnaire) 16

Bảng 1.5 Một số nghiên cứu can thiệp kiến thức về bệnh của bệnh nhân ĐTĐ type 2 21

Bảng 2.6 Đánh giá hệ số Cronbach’s alpha 29

Bảng 2.7 Đánh giá hệ số Kappa 30

Bảng 2.8 Quá trình phỏng vấn bệnh nhân 31

Bảng 2.9 Ví dụ về cách chia ngẫu nhiên bệnh nhân 37

Bảng 3.10 Các khó khăn và gợi ý điều chỉnh trong quá trình dịch thuật và tổng hợp 2 bản dịch 42

Bảng 3.11 Điểm đánh giá mức độ tương đương lần 1 45

Bảng 3.12 Ý kiến của Hội đồng chuyên gia về những câu hỏi có điều chỉnh nội dung 46

Bảng 3.13 Các câu không điều chỉnh dựa trên kết quả đánh giá lần 1 47

Bảng 3.14 Điểm đánh giá mức độ tương đương lần 2 48

Bảng 3.15 Đặc điểm bệnh nhân tham gia khảo sát pilot 49

Bảng 3.16 Điểm đánh giá mức độ rõ ràng, dễ hiểu của từng câu hỏi 50

Bảng 3.17 Các điều chỉnh dựa trên ý kiến của bệnh nhân khảo sát pilot 51

Bảng 3.18 Đặc điểm chung của bệnh nhân tham gia nghiên cứu 51

Bảng 3.19 Giá trị Cronbach’s alpha của bộ câu hỏi 52

Bảng 3.20 Hệ số Kappa của bộ câu hỏi 53

Bảng 3.21 Liên quan giữa kết quả trả lời bộ câu hỏi DKQ với đặc điểm BN 54

Bảng 3.22 Đặc điểm ban đầu của bệnh nhân tham gia nghiên cứu 57

Bảng 3.23 Kết quả kiến thức về bệnh tại thời điểm 1 tháng sau can thiệp 59

Trang 14

Bảng 3.24 So sánh điểm trung bình kiến thức về bệnh ban đầu và sau 1 tháng trong từng nhóm 59Bảng 3.25 Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến về mối liên quan giữa các yếu tố khảo sát với điểm kiến thức về bệnh sau 1 tháng 60Bảng 3.26 Kết quả tuân thủ dùng thuốc tại thời điểm 1 tháng sau can thiệp 61Bảng 3.27 So sánh MMAS – 8 ban đầu và sau 1 tháng trong từng nhóm 61Bảng 3.28 Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến về mối liên quan giữa các yếu

tố khảo sát với sự tuân thủ dùng thuốc sau 1 tháng 62Bảng 3.29 Đặc điểm về tỷ lệ BN đạt đường huyết đói mục tiêu tại thời điểm 1 tháng sau can thiệp 62Bảng 3.30 So sánh tỷ lệ BN đạt đường huyết đói mục tiêu ban đầu và sau 1 tháng trong từng nhóm 63Bảng 3.31 Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến về mối liên quan giữa các yếu

tố khảo sát với việc đạt đường huyết đói mục tiêu sau 1 tháng 63

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Các bước dịch thuật và điều chỉnh theo hưởng dẫn của Beaton và cộng sự 14

Sơ đồ 2.2 Thiết kế nghiên cứu 33

Sơ đồ 3.3 Quá trình theo dõi BN 56

Trang 15

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh mạn tính, không lây nhiễm phổ biến nhất trên toàn thế giới [72] Theo Hiệp hội đái tháo đường Thế giới (International Diabetes Federation - IDF), năm 2019 toàn thế giới có 463 triệu người mắc ĐTĐ, dự kiến đến năm 2045 con số này sẽ là 700 triệu [75] Trong đó, Việt Nam có 3,5 triệu bệnh nhân (BN) trong độ tuổi từ 20-79 mắc ĐTĐ và ước tính

sẽ tăng lên đến 6,3 triệu người mắc bệnh vào năm 2045 [75] Bệnh ĐTĐ nếu không được quản lý và kiểm soát tốt sẽ dẫn đến xuất hiện các biến chứng và các nguy cơ tiềm ẩn trên nhiều hệ thống và cơ quan trong cơ thể[54] ĐTĐ là nguyên nhân gây

tử vong cao thứ ba tại Việt Nam (sau xơ vữa động mạch và ung thư), chỉ tính riêng trong năm 2017 cả nước có gần 29.000 người trưởng thành tử vong do các nguyên nhân liên quan đến ĐTĐ[1] Kiểm soát đường huyết là một mục tiêu chính của việc điều trị BN ĐTĐ type 2 Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bên cạnh việc kê đơn thuốc hợp lý, thì kiến thức về bệnh ĐTĐ của BN, tuân thủ dùng thuốc, chế độ ăn uống và luyện tập của BN đều đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được hiệu quả điều trị ĐTĐ type 2 [47]

Kiến thức về bệnh được coi là nền tảng của tự chăm sóc bệnh ĐTĐ và kiểm soát đường huyết [69].Trong nhiều năm qua, việc đánh giá kiến thức liên quan đến bệnh ĐTĐ là một phần quan trọng trong tổng thể đánh giá BN ĐTĐ Kiểm tra kiến thức

đã được sử dụng trong đánh giá và NC để đo lường kiến thức như kết quả trong giáo dục BN ĐTĐ.Một NC được thực hiện ở Bangalore năm 2005 cho thấy rằng tư vấn của dược sĩ về kiến thức bệnh ĐTĐ cho BN làm gia tăng đáng kể kiến thức về bệnh của BN Sự tham gia của dược sĩ trong việc chăm sóc BN đã giúp giảm số người nhập viện và số BN cấp cứu [38], [73] Sturt và cộng sự báo cáo rằng một can thiệp cá nhân với sự tư vấn của nhân viên y tế và hỗ trợ qua điện thoại đã được chứng minh giảm đáng kể về mặt lâm sàng mức HbA1c, đối với BN ĐTĐ type 2 kiểm soát đường huyết kém [84] Vì thế việc đánh giá kiến thức về bệnh ĐTĐ là bước đầu tiên quan trọng để đo lường hiệu quả và tối ưu hóa các chương trình giáo

Trang 16

dục BN Việc khảo sát kiến thức của dân số nói chung và những BN mắc bệnh ĐTĐ nói riêng sẽ rất có ích cho giáo dục sức khỏe, phòng ngừa bệnh trong cộng đồng cũng như quá trình điều trị của BN Hiện tại, ở Việt Nam, những NC kiến thức về bệnh ĐTĐ vẫn còn hạn chế, có thể do thiếu các công cụ phù hợp để đánh giá kiến thức của BN Năm 2001, tác giả Garcia và cộng sự đã xây dựng và thẩm định bộ câu hỏi Diabetes knowledge Questionnaire (DKQ) [47] Đây là một công cụ đơn giản, ngắn gọn, phù hợp áp dụng trên lâm sàng để đánh giá kiến thức của BN về bệnh ĐTĐ Tuy nhiên, muốn sử dụng một công cụ đánh giá bằng ngôn ngữ khác thì việc chuyển ngữ (dịch thuật, điều chỉnh) và thẩm định là vô cùng cần thiết để công

cụ đó phù hợp với văn hóa và ngôn ngữ tại nơi tiến hành nghiên cứu Đồng thời, tác giả bộ câu hỏi DKQ (Garcia và cộng sự) cũng đề nghị nhóm nghiên cứu chúng tôi thực hiện việc chuyển ngữ (từ tiếng Anh sang tiếng Việt) và thẩm định bộ câu hỏi DKQ để sử dụng trong điều kiện Việt Nam

Trên thế giới đã có một số NC cho thấy ảnh hưởng của sự can thiệp của nhân viên y

tế giúp nâng cao kiến thức về bệnh, hành vi tự chăm sóc và giảm HbA1c [39], [49], [70], [96] Với mong muốn tìm ra biện pháp can thiệp hiệu quả để cải thiện kiến

thức về bệnh đái tháo đường của BN ĐTĐ type 2, chúng tôi tiến hành NC “Đánh giá hiệu quả can thiệp của Dược sĩ trên kiến thức về bệnh của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại bệnh viện đa khoa Tỉnh Hậu Giang” với ba mục tiêu sau:

1 Dịch thuật, thẩm định bộ câu hỏi kiến thức về bệnh đái tháo đường (Diabetes Knowledge Questionnaire - DKQ) của bệnh nhân đái tháo đường type 2

2 Khảo sát kiến thức về bệnh đái tháo đường của bệnh nhân đái tháo đường type 2

3 Đánh giá hiệu quả can thiệp tư vấn của dược sĩ trên kiến thức về bệnh của bệnh nhân đái tháo đường type 2

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

1.1.1 Định nghĩa

Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ - ADA (2020): bệnh ĐTĐ là bệnh mạn tính, phức tạp, cần có chăm sóc y khoa liên tục mà sự giáo dục và hỗ trợ BN tự chăm sóc rất quan trọng để ngăn ngừa các biến chứng cấp tính và làm chậm tiến triển biến chứng mạn tính ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng đường huyết

do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai ĐTĐ gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrat, protid, lipid, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim, mạch máu, thận, mắt, thần kinh [29]

1.1.2 Phân loại

Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ - ADA (2020), ĐTĐ được chia thành 4 loại [29]:

- ĐTĐ type 1: do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối

- ĐTĐ type 2: do sự đề kháng insulin với mô đích

- ĐTĐ thai kỳ: là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ type 1, type 2 trước đó

- ĐTĐ type đặc biệt do những nguyên nhân khác như: khiếm khuyết gen, bệnh lý tuyến tụy ngoại tiết, bệnh nội tiết (hội chứng cushing, cường giáp…), thuốc hoặc hóa chất (hormon tuyến giáp, glucocorticoid…)

1.1.3 Cơ chế bệnh sinh đái tháo đường type 2

Có 2 yếu tố cơ bản đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ type 2

là kháng insulin và rối loạn tiết insulin kết hợp với nhau [74]:

- Rối loạn tiết insulin: tế bào β đảo tụy bị rối loạn về khả năng sản xuất insulin bình thường về mặt số lượng cũng như chất lượng để đảm bảo cho chuyển hóa đường bình thường Các rối loạn gồm:

• Bất thường về nhịp tiết và động học bài tiết insulin

• Bất thường về lượng tiết insulin [13]

- Tình trạng kháng insulin có thể được thấy ở hầu hết các đối tượng ĐTĐ type 2 và

Trang 18

tăng đường huyết xảy ra khi khả năng bài xuất insulin của các tế bào β đảo tụy không đáp ứng thỏa đáng nhu cầu chuyển hóa [7]

- Tình trạng kháng insulin cũng rất phong phú bao gồm: giảm khả năng ức chế sản xuất glucose (gan), giảm khả năng thu nạp glucose (ở mô ngoại vi) và giảm khả năng sử dụng glucose (ở các cơ quan) [13]

1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán

1.1.4.1 Chẩn đoán xác định đái tháo đường

Năm 2020, theo khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (The American Diabetes Association - ADA) và đồng thuận của WHO, chẩn đoán ĐTĐ khi có ít nhất một trong bốn tiêu chuẩn sau [29]:

Tiêu chuẩn 1: HbA1c > 6,5%

Xét nghiệm nên được thực hiện tại phòng xét nghiệm sử dụng phương pháp chuẩn

Tiêu chuẩn 2: đường huyết đói > 126 mg/dl (≈7,0 mmol/l)

Đường huyết đói được định nghĩa là đường huyết khi đo ở thời điểm nhịn đói ít nhất 8 giờ

Tiêu chuẩn 3: đường huyết 2 giờ > 200 mg/dl (≈11,1 mmol/l) khi làm test dung nạp

glucose

Test dung nạp glucose nên thực hiện theo mô tả của WHO: thử nghiệm được tiến hành vào buổi sáng sau khi nhịn đói sau ăn từ 10 - 14 giờ Lấy máu xét nghiệm đường huyết đói, sau đó cho BN uống 75g glucose trong 5 phút Định lượng đường huyết tại thời điểm 1 và 2 giờ sau khi uống nước đường, sử dụng dung dịch 75g glucose

Tiêu chuẩn 4: người bệnh có triệu chứng cổ điển của tăng đường huyết hay tăng

đường huyết trầm trọng kèm theo xét nghiệm đường huyết ngẫu nhiên > 200 mg/dl (≈11,1 mmol/l)

1.1.4.2 Chẩn đoán tiền đái tháo đường (prediabetes)

- Rối loạn dung nạp glucose (impaired glucose tolerance): nếu đường huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose huyết đường uống từ

140 mg/dl đến 200 mg/dl (≈7,8 mmol/l đến 11,0 mmol/l)

Trang 19

- Rối loạn glucose huyết đói (impaired fasting glucose): nếu đường huyết tương đói (sau ăn 8 giờ) từ 100 mg/dl đến 125 mg/dl (≈5,6 mmol/l đến 6,9 mmol/l); và glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ của nghiệm pháp dung nạp glucose huyết dưới

140 mg/dl (≈ < 7,8 mmol/l)

- Mức HbA1c từ 5,6% đến 6,4% [63]

1.1.5 Biến chứng của đái tháo đường

Biến chứng của bệnh ĐTĐ thường được chia ra theo thời gian xuất hiện và mức độ của các biến chứng [34]

1.1.5.1 Biến chứng cấp tính

Các biến chứng cấp tính của bệnh ĐTĐ thường là hậu quả của chẩn đoán muộn, điều trị không thích hợp hoặc do bệnh thứ phát hoặc nhiễm khuẩn cấp tính [44] Bao gồm các biến chứng: hôn mê do nhiễm toan ceton, hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu, hôn mê do hạ đường huyết quá mức và nhiễm trùng cấp tính [34]

Trang 20

Mục tiêu điều trị nhằm làm giảm nguy cơ xuất hiện các biến chứng mạch máu nhỏ

và mạch máu lớn, cải thiện các triệu chứng, giảm thiểu nguy cơ tử vong và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh [14], [44]

Mục tiêu điều trị của BN ĐTĐ type 2 theo hướng dẫn chẩn đoán bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa của Bộ Y Tế năm 2017 và theo ADA (2020) được trình bày lần lượt trong bảng 1.1 và bảng 1.2

Bảng 1.1 Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường ở người trưởng thành, không có thai [2]

HbA1c < 7%

Đường huyết đói,

trước ăn 80 - 130 mg/dL (4,4 - 7,2 mmol/L)

Đỉnh đường huyết tương sau

ăn 1 - 2 giờ < 180 mg/dL (10,0 mmol/L)

Huyết áp

Tâm thu <140 mmHg, tâm trương < 90 mmHg Nếu đã có biến chứng thận: huyết áp < 130/85 - 80 mmHg

Lipid máu

LDL cholesterol < 100 mg/dL (2,6 mmol/L), nếu chưa

có biến chứng tim mạch LDL cholesterol < 70 mg/dL (1,8 mmol/L) nếu đã có bệnh tim mạch

Triglycerides < 150 mg/dL (1,7 mmol/L) HDL cholesterol > 40 mg/dL (1,0 mmol/L) ở nam và >

50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ

Bảng 1.2 Mục tiêu đường huyết theo ADA 2020 [27]

HbA1c < 7% (53 mmol/mol)

Đường huyết đói, trước ăn 80 – 130 mg/dL (4,4 – 7,2 mmol/L)

Đỉnh đường huyết sau ăn (1 – 2h) < 180 mg/dL (10,0 mmol/L)

1.1.7 Phương pháp điều trị

1.1.7.1 Điều trị không dùng thuốc

Thực hiện lối sống lành mạnh bằng cách thay đổi chế độ ăn uống và luyện tập thể dục có thể giúp phòng tránh 70% số ca mắc bệnh ĐTĐ [66]

Trang 21

Chế độ ăn

Chế độ ăn phù hợp là một phần quan trọng trong chăm sóc BN ĐTĐ, đem lại những lợi ích tích cực đối với việc kiểm soát cân nặng, chuyển hóa trong cơ thể và thể trạng chung của BN [66] Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ - ADA (2020) đưa ra một số khuyến cáo về dinh dưỡng cho mọi BN ĐTĐ như sau [26]:

- Những BN thừa cân, béo phì cần giảm 5% cân nặng nền để đạt hiệu quả trong kiểm soát đường huyết, huyết áp và lipid máu Tuy nhiên, có thể giảm đến 15% cân nặng để đạt hiệu quả lâm sàng cao hơn

- Nên dùng các loại carbohydrat hấp thu chậm, có nhiều chất xơ, không chà xát kỹ như gạo lức, bánh mì đen hay nui còn chứa nhiều chất xơ

- Dùng các loại dầu mỡ có chứa acid béo không no một hoặc nhiều nối đôi như dầu

ô liu, dầu mè, dầu lạc hay mỡ cá

- Giảm muối trong chế độ ăn còn khoảng 2300 mg natri mỗi ngày

Vận động thể lực

Việc vận động thể lực đem lại nhiều lợi ích cho BN ĐTĐ Tập thể dục góp phần cải thiện tình trạng kháng insulin, kiểm soát đường huyết ở phần lớn các BN và giảm nguy cơ các bệnh tim mạch, giúp giảm hoặc duy trì cân nặng, cải thiện tình trạng chung của BN [41] BN nên vận động thể lực 30 phút trong vòng 3 - 5 ngày / tuần, không nên ngưng 2 ngày liên tiếp hoặc 150 phút / tuần với loại hình luyện tập thông dụng và dễ áp dụng nhất là đi bộ Mỗi tuần nên tập kháng lực (kéo dây, nâng tạ) từ

2 - 3 lần Đối với người già, đau khớp có thể chia tập nhiều lần trong ngày, ví dụ đi

bộ từ 10 - 15 phút sau 3 bữa ăn [1]

1.1.7.2 Điều trị bằng thuốc

Các nhóm thuốc điều trị ĐTĐ và cơ chế tác dụng được tóm tắt như sau [28]:

Thuốc điều trị ĐTĐ đường uống:

- Nhóm biguanid: giảm tân tạo glucose tại gan, tăng nhạy cảm insulin

- Nhóm sulfonylurea: kích thích tế bào β tuyến tụy tiết insulin

- Nhóm meglitinid: kích thích tế bào β tuyến tụy tiết insulin

- Nhóm TZD (thiazolidinedion): tăng nhạy cảm insulin ở gan, cơ, mô mỡ

Trang 22

- Nhóm ức chế α-glucosidase: ức chế men α-glucosidase tại ruột non, làm chậm hấp thu glucose tại ruột

- Nhóm ức chế DPP-4 (dipeptidyl-peptidase-4): ức chế enzym DPP-4, giúp phóng thích insulin và làm giảm bài tiết glucagon sau ăn

- Nhóm ức chế SGLT2 (sodium-glucose cotransporter 2): ức chế kênh đồng vận natri-glucose 2 ở ống thận từ đó ngăn tái hấp thu glucose từ ống thận, tăng thải glucose qua đường niệu

Thuốc điều trị ĐTĐ đường tiêm:

- Insulin: tăng phân giải glucose, giảm tân tạo glucose tại gan

- Nhóm thuốc đồng vận GLP1 (glucagon-like-peptid-1): đồng vận thụ thể GLP-1, từ đó làm tăng tiết insulin, giảm tiết glucagon sau ăn, chậm rỗng dạ dày và giảm thèm ăn

- Pramlintid: đồng dạng tổng hợp của amylin, chậm rỗng dạ dày, giảm tiết glucagon

và giảm thèm ăn

Khởi đầu điều trị

Theo Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ - ADA (2020): Metformin được khởi đầu điều trị với ĐTĐ type 2 mới chẩn đoán nếu như không có chống chỉ định [28] Metformin hiệu quả, an toàn, giá thành rẻ và có khả năng làm giảm biến cố tim mạch và tử vong [51] So với sulfonylurea, metformin là lựa chọn mang lại nhiều lợi ích trên HbA1c, cân nặng, tử vong do tim mạch Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy BN bị tăng đường huyết không kiểm soát được trong ĐTĐ type 2 có thể điều trị hiệu quả bằng sulfonylurea [61] Trong trường hợp BN chống chỉ định hoặc không dung nạp với metformin, khởi đầu điều trị bằng thuốc nào nên được xem xét dựa trên các yếu tố của BN Trong trường hợp BN có đường huyết ≥ 300 mg/dL hoặc HbA1c > 10% hay BN có các triệu chứng của tăng đường huyết (đái tháo nhạt, chứng khát nhiều) có thể cân nhắc khởi đầu điều trị với insulin [28]

Theo đồng thuận giữa Hiệp hội tim mạch ở Châu Âu (European Society of Cardiology - ESA) và Hiệp hội đái tháo đường Châu Âu (European Association for the Study of Diabetes - EASD) 2019: Metformin được cân nhắc cho những BN ĐTĐ type 2 mà không có bệnh tim mạch hay nguy cơ tim mạch trung bình [40]

Trang 23

Phối hợp trong điều trị

ĐTĐ type 2 là bệnh mạn tính và tiến triển Mục tiêu điều trị thường chỉ duy trì được trong 1 năm với chế độ đơn trị liệu Đã có dữ liệu cho thấy bắt đầu liệu pháp phối hợp ngay từ đầu giúp đạt mục tiêu đường huyết tốt hơn Kết quả từ NC VERIFY cho thấy tỷ lệ thất bại điều trị sau 5 năm ở nhóm khởi trị hai thuốc thấp hơn so với nhóm sử dụng metformin (hazard ratio 0,51 [95%CI: 0,45 – 0,58] với p < 0,001) Điều đó cho thấy khởi đầu điều trị với phác đồ 2 thuốc giúp ổn định đường huyết lâu dài hơn so với khởi đầu điều trị với metformin [62]

Việc lựa chọn thuốc phối hợp cùng với metformin cần dựa trên đặc điểm lâm sàng của BN Những đặc điểm lâm sàng quan trọng cần được xem xét bao gồm bệnh tim mạch xơ vữa (Atherosclerotic Cardiovascular Disease – ASCVD) hoặc có nguy cơ ASCVD cao, bệnh thận mạn (Chronic Kidney Disease – CKD), suy tim, phản ứng

có hại của thuốc cũng như tính an toàn, dung nạp, chi phí Mặc dù có nhiều thử nghiệm lâm sàng so sánh phối hợp trị liệu với đơn trị liệu metformin, nhưng vẫn có bằng chứng ủng hộ cho đơn trị liệu bằng metformin Nếu mục tiêu HbA1c không đạt sau khoảng 3 tháng thì metformin có thể kết hợp với một trong các nhóm thuốc: sulfonylurea, thiazolidinedion, ức chế dipeptidyl peptidase - 4 (DPP-4), ức chế kênh đồng vận chuyển glucose natri 2 (SGLT-2), đồng vận thụ thể glucagon like peptide

- 1 (GLP-1) hoặc insulin nền [28]

1.2 ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

1.2.1 Sự cần thiết của việc đánh giá kiến thức về bệnh đái tháo đường

Kiến thức về bệnh ĐTĐ ở BN được xem là quan trọng để tự kiểm soát tốt đường huyết của bản thân Mặc dù có kiến thức tốt về bệnh ĐTĐ thường liên quan đến việc kiểm soát đường huyết tốt hơn, nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng Tuy nhiên, những BN có kiến thức về bệnh ĐTĐ có thể ít có quan niệm sai lầm và hiểu rõ hơn về hậu quả sức khỏe mà bệnh ĐTĐ gây ra [47], [58] Kiến thức về căn bệnh này có khả năng thông báo cho BN về các hành động cụ thể trong quy trình quản lý bệnh ĐTĐ Do đó, BN càng hiểu được bệnh của mình và có các hành vi chăm sóc như chế độ ăn uống, tập thể dục và theo dõi đường huyết định kỳ thì sẽ

Trang 24

kiểm soát bệnh tốt hơn so với những người khác [86]

Các cá nhân mắc bệnh ĐTĐ cần thực hiện tự chăm sóc suốt đời để ngăn ngừa hoặc trì hoãn các biến chứng cấp và mạn tính của bệnh và để cải thiện chất lượng cuộc sống Tự chăm sóc được định nghĩa là các hành động được thực hiện bởi các cá nhân để tự chăm sóc bản thân trong điều kiện môi trường của họ Không có thuật ngữ thống nhất liên quan đến tự chăm sóc, nhưng thuật ngữ này thường được sử dụng thay thế cho việc tự quản lý, tuân thủ theo tiêu chuẩn, phù hợp Đối với những người mắc ĐTĐ, tự chăm sóc bao gồm một loạt các hành vi như chế độ ăn uống, tập thể dục, uống thuốc (insuin hoặc thuốc điều trị ĐTĐ đường uống), tự theo dõi đường huyết (SMBG) và chăm sóc bàn chân [58]

Bên cạnh kiến thức về bệnh ĐTĐ thì TTDT cũng là một chìa khóa yếu tố quyết định thành công trong điều trị ở BN ĐTĐ Việc TTDT và mối liên quan giữa TTDT với kiến thức về bệnh ĐTĐ được đánh giá trong NC của Sweileh và cộng sự năm

2014, kết quả cho thấy rằng không tuân thủ có liên quan đáng kể với kiến thức về bệnh ĐTĐ của BN [86] Do đó, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe nên giáo dục kiến thức về bệnh ĐTĐ của BN với hy vọng cải thiện TTDT để đạt hiệu quả điều trị Mối liên hệ này rất quan trọng đối với điều trị bệnh ĐTĐ vì cả kiến thức bệnh ĐTĐ và thực hành tự chăm sóc đều có liên quan đáng kể đến kiểm soát đường huyết - thước đo kết quả của bệnh ĐTĐ

Tóm lại, kiến thức về bệnh được coi là nền tảng của tự chăm sóc bệnh ĐTĐ và có liên quan đáng kể đến việc TTDT Nâng cao kiến thức về bệnh của BN ĐTĐ có thể ảnh hưởng tích cực đến việc TTDT và hiệu quả điều trị của BN [86] Do đó, việc đánh giá kiến thức về bệnh là rất quan trọng để xác định và hiểu các vấn đề trong quản lý ĐTĐ, để tạo điều kiện kiểm soát đường huyết tốt hơn và giảm các biến chứng khi bệnh không được kiểm soát [47], [58]

Trong nhiều năm qua, việc đánh giá kiến thức liên quan đến bệnh ĐTĐ là một phần quan trọng trong tổng thể đánh giá BN ĐTĐ Kiểm tra kiến thức đã được sử dụng trong đánh giá và NC để đo lường kiến thức như kết quả trong giáo dục BN ĐTĐ Tuy nhiên, các công cụ đánh giá kiến thức hợp lệ, đáng tin cậy và dễ sử dụng là rất ít

Trang 25

1.2.2 Các bộ câu hỏi đánh giá kiến thức về bệnh đái tháo đường

Có nhiều bộ câu hỏi sử dụng để đánh giá kiến thức về bệnh ĐTĐ của BN, đặc điểm của các bộ câu hỏi này được trình bày như sau:

1.2.2.1 Bộ câu hỏi về kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường (Diabetes Self – Care Knowledge - DSCKQ-30)

Bộ câu hỏi được xây dựng vào năm 2011 bởi tác giả Adibe và cộng sự Bao gồm 30 câu hỏi chia làm 3 phần: phần 1: thay đổi lối sống (18 câu), phần 2: tuân thủ (8 câu), phần 3: hậu quả của việc không kiểm soát được đường huyết (4 câu) [20] Mỗi câu

có 2 đáp án lựa chọn là Đúng hoặc Sai Mỗi đáp án đúng tương đương 1 điểm Phân loại kiến thức dựa trên phần trăm trả lời đúng: < 70%: kiến thức kém, ≥ 70%: kiến thức tốt [20]

Giá trị Cronbach’s alpha tổng thể của 30 câu hỏi là 0,89 Cronbach’s alpha từng phần: phần 1: 0,82, phần 2: 0,74, phần 3: 0,64 Độ ổn định: hệ số tương quan nội là 0,62 Giá trị cấu trúc: điểm kiến thức có liên quan với thời gian mắc bệnh (p = 0,0169), với việc có thành viên trong gia đình, họ hàng, bạn bè mắc bệnh ĐTĐ (p < 0,0001) [20] Bộ câu hỏi vẫn còn tồn tại một số nhược điểm như: khá dài (30 câu), thiếu thông tin về thời gian hoàn thành và thử nghiệm đánh giá mức độ rõ ràng, dễ hiểu, nên được đánh giá thêm giá trị tiêu chuẩn

1.2.2.2 Bộ câu hỏi về kiến thức bệnh đái tháo đường (Diabetes Knowledge Questionnaire - DKQ)

Bộ câu hỏi được xây dựng vào năm 2001 bởi Garcia và cộng sự Bao gồm 24 câu hỏi, mỗi câu hỏi có 3 đáp án lựa chọn là Đúng, Sai hoặc Không biết Mỗi đáp án đúng tương đương 1 điểm [47]

Giá trị Cronbach’s alpha tổng thể của 24 câu hỏi: 0,78 Giá trị cấu trúc: điểm kiến thức trung bình của nhóm BN có tham gia chương trình giáo dục về bệnh ĐTĐ cao hơn nhóm BN không tham gia chương trình này (p < 0,001), điểm kiến thức có liên quan với trình độ học vấn (p < 0,001) [47] Tuy nhiên bộ câu hỏi thiếu thông tin về thời gian hoàn thành và thử nghiệm đánh giá mức độ rõ ràng, dễ hiểu, gồm nhiều

Trang 26

lĩnh vực nhưng không được xác định cấu trúc, chưa được đánh giá độ ổn định và giá trị nội dung

1.2.2.3 Bộ câu hỏi về kiến thức bệnh đái tháo đường Michigan (Michigan Diabetes Knowledge Test - MDKT)

Bộ câu hỏi được xây dựng vào năm 1998 bởi Fitzgerald và cộng sự Bao gồm 23 câu gồm 2 phần: phần 1: chung - tổng quát (14 câu), phần 2: thích hợp cho những

BN ĐTĐ type 1 và type 2 sử dụng insulin (9 câu) Mỗi câu hỏi gồm nhiều đáp án, với một lựa chọn đúng duy nhất và ba hoặc bốn lựa chọn không chính xác [46] Giá trị Cronbach’s alpha cho cả 2 phần ≥ 0,70 Giá trị cấu trúc: BN ĐTĐ type 1 có điểm kiến thức cao hơn so với BN ĐTĐ type 2 (p < 0,05) Có mối liên quan giữa điểm kiến thức và trình độ học vấn (p < 0,001), BN được giáo dục về bệnh ĐTĐ có điểm kiến thức cao hơn BN không được giáo dục về bệnh ĐTĐ (p < 0,05) Thời gian hoàn thành bộ câu hỏi khoảng 15 phút [46] Bộ câu hỏi còn một vài hạn chế như: thích hợp cho những BN có điều trị với insulin, thiếu thông tin về thử nghiệm đánh giá mức độ rõ ràng, dễ hiểu, đáp án của một số câu hỏi sẽ gây khó khăn cho

BN là người Việt Nam khi chọn đáp án Ví dụ: câu 2 với nội dung câu hỏi “loại thực phẩm nào dưới đây có chứa carbohydrat cao nhất” có đáp án lần lượt là “gà nướng, phomat Thụy Sĩ, khoai tây nướng, bơ đậu phộng”

Nhìn chung, mỗi bộ câu hỏi đều có ưu, nhược điểm nhất định Trong đó, bộ câu hỏi Diabetes Knowledge Questionnaire (DKQ) là một bộ câu hỏi đánh giá về kiến thức bệnh ĐTĐ của tác giả Garcia và Cộng sự [47] Bộ câu hỏi này được đánh giá là phù hợp và thuận tiện để khảo sát kiến thức của BN nhờ có nhiều ưu điểm Thứ nhất, nội dung bộ câu hỏi tương đối đầy đủ các lĩnh vực kiến thức như kiến thức cơ bản

về bệnh, kiểm soát đường huyết và biến chứng ĐTĐ Thứ hai, các tiêu chí bộ câu hỏi cho kết quả tốt Về độ tin cậy, giá trị Cronbach’s alpha ở mức tốt Cronbach’s alpha > 0,7 (0,78) Thứ ba, bộ câu hỏi ngắn gọn giúp đánh giá kiến thức về bệnh dễ dàng, nhanh chóng DKQ gồm 24 câu, mỗi câu có 3 lựa chọn là Đúng, Sai và Không biết, mỗi câu trả lời đúng tương đương với 1 điểm (PHỤ LỤC 1) [47] Hiện tại bộ câu hỏi DKQ đã được dịch thuật, điều chỉnh sang tiếng Mã Lai, Urdu, Bồ

Trang 27

Đào Nha, Trung Quốc, Ả Rập [35], [52], [65], [71], [76] Và đến thời điểm hiện tại,

ở Việt Nam chưa có NC nào thực hiện dịch thuật và điều chỉnh với bộ câu hỏi DKQ Do đó, cần thực hiện NC dịch thuật và thẩm định bộ câu hỏi về kiến thức bệnh ĐTĐ (Diabetes Knowledge Questionnaire - DKQ) trước khi áp dụng tại Việt Nam Vì vậy, trong NC này, chúng tôi sẽ tiến hành dịch thuật, điều chỉnh và thẩm định bộ câu hỏi DKQ sang tiếng Việt Nam khi đã được sự đồng ý của tác giả

1.3 DỊCH THUẬT, ĐIỀU CHỈNH VÀ THẨM ĐỊNH BỘ CÂU HỎI

1.3.1 Vai trò dịch thuật, điều chỉnh và thẩm định bộ câu hỏi

Ngày nay, sự gia tăng của các NC đa quốc gia, đa văn hóa dẫn đến nhu cầu sử dụng

bộ câu hỏi đo lường ở nhiều quốc gia và ngôn nhữ khác nhau Đa số các bộ câu hỏi khảo sát trong y học đều bắt nguồn từ các quốc gia nói tiếng Anh Do đó, để sử dụng hiệu quả các công cụ này bằng một ngôn ngữ khác thì việc dịch thuật, điều chỉnh và thẩm định để phù hợp với văn hóa là vô cùng cần thiết Khi bộ câu hỏi được sử dụng tại nhiều quốc gia với các nền văn hóa khác nhau, chúng không chỉ cần được dịch tốt về mặt nội dung mà còn cần được điều chỉnh để phù hợp với mỗi nền văn hóa cụ thể Nếu không thì kết quả NC có thể bị sai lệch, không chính xác hay không đánh giá đúng bản chất của vấn đề NC [31]

1.3.2 Hướng dẫn dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi của Beaton và cộng sự

Nhìn chung, có rất nhiều hướng dẫn khác nhau về dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi Trong đó, có một số hướng dẫn không chỉ được xây dựng cho một bộ câu hỏi

cụ thể mà còn có thể áp dụng cho nhiều loại bảng câu hỏi khác nhau và được sử dụng rộng rãi trong nhiều NC Cho đến nay vẫn chưa có một hướng dẫn dịch thuật nào được xem là tiêu chuẩn vàng Trong đó, hướng dẫn của Beaton và cộng sự gồm nhiều bước với quá trình dịch ngược và sự tham gia của hội đồng chuyên gia, đã được sử dụng rộng rãi và áp dụng trong nhiều NC Bài tổng quan của tác giả Nguyễn Thắng (2017) về dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi sang tiếng Việt cũng

đề cập đến hướng dẫn này [9] Vì vậy, chúng tôi sử dụng hướng dẫn của Beaton và cộng sự để dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi về kiến thức bệnh đái tháo đường (DKQ) Đây là những tác giả đầu tiên quan tâm đến việc đánh giá toàn diện quá

Trang 28

trình dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi Các bước chính của quá trình dịch thuật

và điều chỉnh theo hướng dẫn của Beaton và cộng sự được trình bày trong sơ đồ 1.1

 Giải quyết khó khăn ghi nhận trong báo cáo ở bước 1

 Báo cáo cho quá trình tổng hợp

 N= 30-40

 Mức độ rõ ràng, dễ hiểu của từng câu hỏi

 Báo cáo chi tiết

 Xem xét tất cả báo cáo

 Gồm chuyên gia về ngôn ngữ, y tế, phương pháp nghiên cứu và tác giả bộ câu hỏi gốc

Trang 29

1.3.3 Các tiêu chí thẩm định bộ câu hỏi

Các tiêu chí chính thường được sử dụng để thẩm định bộ câu hỏi được trình bày trong bảng 1.3 [43], [56], [83], [88], [93]

Bảng 1.3 Các tiêu chí thẩm định bộ câu hỏi

Tính chất Loại Nội dung đánh giá Tiêu chí đánh giá

Độ tin cậy

(Reliability)

Độ ổn định (Test - retest)

Độ ổn định của điểm số theo thời gian

Hệ số tương quan nội (Intraclass correlation coefficient)

Thời gian giữa các lần đo Tính nhất quán

(Internal consistency)

Các phần trong công cụ

đo lường cùng 1 khái niệm

Hệ số Cronbach-alpha cho điểm tổng

Tương quan từng câu hỏi với điểm tổng

Độ tin cậy giữa những người phỏng vấn (Inter-viewer reliability)

Đồng thuận về kết quả khi bộ câu hỏi được hỏi bởi hai hay nhiều người phỏng vấn khác nhau

Hệ số tương quan giữa các nhóm (Interclass correlation coefficient)

Tính giá trị

(Validity)

Giá trị nội dung (Content validity)

Công cụ đo lường là phù hợp và đánh giá toàn diện được các vấn đề trong nội dung NC

Ý kiến đánh giá của các chuyên gia

Giá trị cấu trúc (Construct validity)

Mối liên hệ giữa các câu hỏi, các phần, nội dung của công cụ đo là phù hợp với các giả thuyết của NC

về kết quả điểm số của các nhóm dân số khác nhau

Khả năng bộ câu hỏi có thể tạo ra sự khác biệt giữa các nhóm dân số khác nhau

Giá trị tiêu chuẩn (Criterion validity)

Tương quan với kết quả

NC mẫu trên cùng đối tượng

Hệ số tương quan giữa kết quả NC của hai phương pháp

đo lường

1.3.4 Một số nghiên cứu về dịch thuật, điều chỉnh và áp dụng bộ câu hỏi DKQ (Diabetes Knowledge Questionnaire)

Một số NC về dịch thuật, điều chỉnh và áp dụng bộ câu hỏi DKQ (Diabetes

Knowledge Questionnaire) được trình bày trong bảng 1.4

Trang 30

Bảng 1.4 Một số nghiên cứu về dịch thuật, điều chỉnh và áp dụng bộ câu hỏi DKQ (Diabetes Knowledge Questionnaire)

Tác giả (năm), nơi

Cắt ngang mô tả N = 50 BN Tính nhất quán tốt (Cronbach’s

α=0,86)

Bukhsh và cộng sự

(2017), Pakistan [35]

Dịch thuật và thẩm định bộ câu hỏi DKQ (Diabetes Knowledge Questionnaire) sang ngôn ngữ Urdu

Cắt ngang mô tả N = 130 BN - Tính nhất quán tốt (Cronbach’s

(2017), Bồ Đào Nha

[65]

Dịch thuật và thẩm định bộ câu hỏi DKQ (Diabetes Knowledge Questionnaire) sang ngôn ngữ Bồ Đào Nha

ở BN đái tháo đường type 2

Cắt ngang mô tả N = 292 BN Tính nhất quán tốt (Cronbach’s

Trang 31

Tác giả (năm), nơi

thực hiện

(Dietary Knowledge Questionnaire), DAQ (Dietary Attitude Questionnaire), DPQ (Dietary Practices Questionnaire) sang tiếng Ả Rập ở BN ĐTĐ type 2

Cắt ngang mô tả N = 361 BN - Cronbach’s alpha của DKQ -

0,75, MDKT- 0,49, DISTANCE - 0,36

- DKQ có mối liên với kiểm soát đường huyết (p<0,05) MDKT có mối liên quan với chế độ ăn uống (p<0,05), DISTANCE có mối liên quan với tập thể dục (p<0,05) và cả MDKT và DISTANCE đều có mối liên quan với chăm sóc bàn chân (p<0,05)

Tương quan mô tả N = 108 BN - Tính nhất quán tốt (Cronbach’s

alpha của DKQ là 0,89)

- Tuổi và huyết áp tâm thu có mối tương quan nghịch với kiến thức về bệnh ĐTĐ

- Kiến thức về bệnh ĐTĐ không

Trang 32

Tác giả (năm), nơi

thực hiện

ĐTĐ type 2 cư trú tại Bắc Kinh

liên quan đến các hoạt động tự chăm sóc bệnh ĐTĐ hoặc mức đường huyết

- BN có tiền sử gia đình mắc ĐTĐ, thăm khám các bác sĩ y học cổ truyền Trung Quốc và các bác sĩ nhãn khoa và tham dự các chương trình giáo dục về bệnh ĐTĐ có điểm kiến thức về bệnh cao hơn so với những BN khác (p<0,05)

Trang 33

1.4 VAI TRÒ CỦA DƯỢC SĨ LÂM SÀNG TRONG VIỆC CẢI THIỆN KIẾN THỨC VỀ BỆNH CHO BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2

1.4.1 Vai trò của dược sĩ lâm sàng

Vai trò của dược sĩ trong quản lý bệnh ĐTĐ, bao gồm xác định, đánh giá, giáo dục, chuyển tuyến và theo dõi liên tục BN [53], [73] Dược sĩ có thể giúp xác định BN mắc bệnh ĐTĐ thông qua tầm soát và nên nhắm mục tiêu đến những BN có nguy

cơ cao, những người có tiền sử gia đình mắc bệnh và phụ nữ có tiền sử ĐTĐ thai kỳ hoặc sinh con nặng hơn 9 kg [53] Giáo dục BN nên được thực hiện ngay sau khi được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ hoặc bất kỳ bệnh nào khác Sau đó, đánh giá BN và giáo dục liên tục để củng cố các khái niệm và thúc đẩy động lực Một trong những vai trò quan trọng nhất của dược sĩ là giới thiệu BN cho các thành viên khác của các nhóm chăm sóc bệnh ĐTĐ Mặc dù vai trò của dược sĩ trong việc theo dõi BN ĐTĐ chưa được xác định rõ, có thể bao gồm những việc như xác định xem bác sĩ có thăm khám và xét nghiệm để đánh giá việc kiểm soát đường huyết lâu dài hay không Dược sĩ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc chăm sóc BN ĐTĐ bằng cách sàng lọc những BN có nguy cơ cao mắc bệnh ĐTĐ, đánh giá tình trạng sức khỏe của BN và tuân thủ các tiêu chuẩn chăm sóc, giáo dục BN để họ tự chăm sóc cho mình, giới thiệu BN đến các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác nếu thích hợp và theo dõi kết quả [38], [53], [73], [91] Thiếu kiến thức về bệnh và cách quản lý có thể được coi là một lý do quan trọng cho việc kiểm soát bệnh không tốt Một NC khác được thực hiện ở Bangalore năm 2005 cho thấy rằng tư vấn của dược sĩ về kiến thức bệnh ĐTĐ cho BN làm gia tăng đáng kể kiến thức và tự quản lý bệnh của

BN Dược sĩ là một thành viên không thể thiếu trong đội ngũ chuyên gia chăm sóc sức khỏe và đảm nhận các vai trò, chức năng khác nhau bao gồm phân phối và cung cấp thuốc cho chăm sóc y tế và đảm bảo rằng BN nhận được điều trị tốt nhất Sự tham gia của dược sĩ trong việc chăm sóc BN đã giúp giảm số người nhập viện và

số BN cấp cứu Tiến sĩ Hans V Hogerzeil, Giám đốc tiêu chuẩn và chính sách thuốc của WHO cho biết, “Dược sĩ có một vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe, còn hơn nhiều so với việc bán thuốc” [38], [73]

Trang 34

1.4.2 Các nghiên cứu can thiệp kiến thức về bệnh của bệnh nhân đái tháo đường type 2

Các vấn đề sức khỏe liên quan bệnh ĐTĐ type 2 ngày càng gia tăng trên toàn thế giới Để kiểm soát đường huyết tốt nhất, BN ĐTĐ type 2 phải có kiến thức liên quan đến bệnh ĐTĐ và phải tuân theo một cách tích cực và chặt chẽ theo chế độ quy định Kiến thức về bệnh là yếu tố chính quyết định thành công điều trị ở những

BN mắc ĐTĐ type 2

Các NC can thiệp kiến thức về bệnh của BN ĐTĐ type 2 được trình bày trong bảng 1.5

Trang 35

Bảng 1.5 Một số nghiên cứu can thiệp kiến thức về bệnh của bệnh nhân ĐTĐ type 2

ở BN ĐTĐ type 2

NC cắt ngang mô tả, trong 3 tháng

N = 218 - Kiến thức về bệnh ĐTĐ có liên quan đáng

kể với giới tính, trình độ học vấn, tiền sử gia đình có người bị ĐTĐ, kiểm soát đường huyết (p<0,05)

- Tương quan nghịch giữa điểm DKQ với mức HbA1c (r=-0,62, p<0,001), tương quan thuận với DSMQ (r=0,63, p<0,001)

- BN có trình độ học vấn đại học (β=0,22; 95%CI: 0,189-0,872; p<0,01), đang đi làm (β=0,22; 95%CI: 0,009-0,908; p=0,046), sử dụng thuốc đường uống kết hợp với insulin (β=-0,16; 95%CI: -1,224-0,071; p=0,028) là các yếu tố dự đoán cho kiến thức về bệnh Abd El-Aal và

và mức độ đường huyết đói ở BN ĐTĐ type 2 và xác định mối liên quan giữa bệnh

kể từ 25,5% lên 84,5% sau khi tham gia giáo dục, tăng mức độ tự quản lý tốt và giúp kiểm soát đáng kể đường huyết đói trung bình từ 171±42,52 mg/dL còn 131±27,37 mg/dL

Trang 36

Wichit và cộng

sự (2016),

Thái Lan [94]

Đánh giá một can thiệp theo định hướng gia đình có nguồn gốc

từ lý thuyết nhằm cải thiện

tự hiệu quả, tự quản

lý, kiểm soát đường huyết và chất lượng cuộc sống ở các BN mắc bệnh ĐTĐ type 2

Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng

mù đơn, trong 3 tháng

N = 140 BN Nhóm chứng = 70

BN Nhóm can thiệp = 70

BN

Nhóm can thiệp có tự hiệu quả, tự quản lý,

và chất lượng cuộc sống được cải thiện (p<0,001), nhưng không có cải thiện ở nhóm đối chứng Nhóm can thiệp có điểm

tự quản lý bệnh ĐTĐ tăng 14,3 điểm (B = 14,3; 95%CI: 10,7-17,9, p<0,001) Không

có sự khác biệt về chất lượng cuộc sống hoặc kiểm soát đường huyết Tuy nhiên điểm tự quản lý cao hơn có liên quan đến mức HbA1c giảm đáng kể (p<0,001) và cải thiện chất lượng cuộc sống của BN (p<0,05) Shrestha và

cộng sự

(2015), Nepal

[81]

Đánh giá mức độ hiểu biết về bệnh và các yếu tố liên quan đến kiến thức về bệnh ở

BN ĐTĐ type 2

NC cắt ngang mô tả, trong 3 tháng

N = 132 BN Tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn,

nghề nghiệp và gia đình có người từng bị ĐTĐ có mối liên quan đáng kể với kiến thức về bệnh (p<0,001) Điểm DKQ trung bình của BN là 11,0±3,32 điểm

Sixta và cộng

sự (2015), Hoa

Kỳ [82]

Đánh giá ảnh hưởng của chương trình tự quản lý bệnh ĐTĐ Promotores-led bằng

NC ngẫu nhiên có đối chứng, trong 6 tháng

Nhóm chứng = 68 Nhóm can thiệp = 63

BN

- Can thiệp cải thiện đáng kể điểm DKQ của nhóm theo thời gian cụ thể: nhóm can thiệp điểm DKQ tại thời điểm ban đầu

15,41±3,59 điểm, sau 3 tháng 18,46±2,90

Trang 37

Mỹ gốc Mexico mắc ĐTĐ type 2

điểm, sau 6 tháng 17,46±3,04 điểm

- Ở nhóm can thiệp mức HbA1c trung bình ban đầu là 7,49% tại thời điểm 3 tháng giảm 0,04% và không thay đổi ở nhóm chứng và sau 6 tháng HbA1c ở cả 2 nhóm tăng (0,18% và 0,05% tương ứng) HBQ (Health Beliefs Questionnaire) và HbA1c bị ảnh hưởng đáng kể bởi tuổi; DKQ và HbA1c bị ảnh hưởng đáng kể bởi thời gian mắc bệnh ĐTĐ (p<0,05)

Trang 38

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHO MỤC TIÊU 1 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Bộ câu hỏi về kiến thức bệnh đái tháo đường (Diabetes Knowledge Questionnaire - DKQ, PHỤ LỤC 1) do Garcia và các cộng sự tại Hoa Kỳ xây dựng (năm 2001), để

đo lường kiến thức về bệnh của các BN mắc ĐTĐ Bộ câu hỏi gốc được trình bày

cả tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha [47] Trong NC này, chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi DKQ phiên bản tiếng Anh vì đây là ngôn ngữ thông dụng và phổ biến Đồng thời, tác giả bộ câu hỏi DKQ (Garcia và cộng sự) cũng cho phép chúng tôi thực hiện việc chuyển ngữ (từ tiếng Anh sang tiếng Việt) và thẩm định bộ câu hỏi Bộ câu hỏi gồm 24 câu hỏi Với mỗi câu hỏi, BN có 3 lựa chọn: Đúng, Sai hoặc Không biết Mỗi câu trả lời chính xác sẽ được tính 1 điểm và không có điểm nào cho lựa chọn không chính xác hoặc không biết Kiến thức về bệnh ĐTĐ của BN được đánh giá qua tổng điểm của tất cả các câu trả lời chính xác Điểm cao hơn cho biết BN có kiến thức về bệnh ĐTĐ tốt hơn

NC được tiến hành qua 2 giai đoạn:

(1) Dịch và điều chỉnh bộ câu hỏi theo hướng dẫn của Beaton và cộng sự

(2) Thẩm định bộ câu hỏi trên đối tượng BN có chẩn đoán ĐTĐ type 2

2.1.2 Dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi DKQ

Chúng tôi tiến hành dịch thuật và điều chỉnh bộ câu hỏi DKQ theo hướng dẫn của Beaton và cộng sự, với 5 bước tiến hành như sau [31], [32]:

2.1.2.1 Bước 1: Dịch thuận

- Nội dung thực hiện: dịch bộ câu hỏi từ tiếng Anh sang tiếng Việt [PHỤ LỤC 2]

- Thành viên tham gia:

 Dịch giả 1 (chuyên gia trong lĩnh vực y tế và hiểu rõ về mục tiêu và nội dung của NC) và dịch giả 2 (không có chuyên môn về y tế và không biết mục tiêu

và nội dung của NC)

 Các dịch giả là người Việt, sử dụng thông thạo tiếng Anh và làm việc độc lập

Trang 39

- Kết quả:

 2 bản dịch thuận T1 (từ dịch giả 1) và T2 (từ dịch giả 2)

 2 báo cáo chi tiết gồm các khó khăn mà dịch giả gặp phải và những nội dung cần điều chỉnh (nếu có)

2.1.2.2 Bước 2: Tổng hợp

- Nội dung thực hiện:

 Giải quyết các khó khăn gặp phải ở bước 1

 Điều chỉnh nội dung bộ câu hỏi (nếu có) dựa trên đồng thuận của 2 dịch giả ở bước 1 và dịch giả 3

 Từ 2 bản dịch thuận T1 và T2, tạo thành bản dịch thuận tổng hợp (T12) [PHỤ LỤC 2]

- Thành viên tham gia:

 Dịch giả thứ 3 (có kinh nghiệm về phương pháp NC)

- Nội dung thực hiện: Dịch bản T12 từ tiếng Việt sang tiếng Anh

- Thành viên tham gia:

 Dịch giả dịch ngược 1 và dịch giả dịch ngược 2

 Các dịch giả sử dụng thông thạo tiếng Anh, không có chuyên môn về y tế, không biết mục tiêu và nội dung NC, không biết bản gốc của bộ câu hỏi và làm việc độc lập

- Kết quả:

 2 bản dịch ngược BT1 và BT2

 2 báo cáo chi tiết gồm các khó khăn mà dịch giả gặp phải

Bản dịch ngược BT1 và BT2 được sử dụng để so sánh với bản gốc ở bước đánh giá

Trang 40

của hội đồng chuyên gia (bước 4)

2.1.2.4 Bước 4: Đánh giá của hội đồng chuyên gia

- Nội dung thực hiện:

 Giải quyết các khó khăn gặp phải ở các bước 1, 2, 3

 Điều chỉnh nội dung bộ câu hỏi (nếu có) dựa trên sự đồng thuận của các thành viên trong hội đồng chuyên gia

 Tạo thành bản dịch thử nghiệm

- Thành viên tham gia: gồm 08 thành viên [PHỤ LỤC 4]

 5 dịch giả từ các bước 1, 2, 3

 2 bác sĩ có chuyên môn về lĩnh vực NC

 1 chuyên gia về phương pháp NC

Bước 4 gồm 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Đánh giá mức độ tương đương và cho ý kiến về việc điều chỉnh nội dung bộ câu hỏi

+ Phiếu đánh giá do NCV soạn, gồm các nội dung [PHỤ LỤC 3]:

 Tất các các phiên bản của bộ câu hỏi DKQ, gồm: bộ câu hỏi gốc, bản dịch tổng hợp T12 và 2 bản dịch ngược (BT1 và BT2)

 Các nội dung cần điều chỉnh (nếu có)

+ Đánh giá mức độ tương đương: các thành viên trong hội đồng độc lập đánh giá mức độ tương đương của từng câu hỏi trong bản dịch so với bản gốc

 Các tiêu chí đánh giá gồm: (1) Tương đương về ngữ nghĩa (semantic equivalence); (2) Tương đương về thành ngữ (idiomatic equivalence); (3) Tương đương về trải nghiệm (experiential equivalence); (4) Tương đương về khái niệm (conceptual equivalence)

 Thang điểm đánh giá: 1 điểm nếu có tương đương và 0 điểm nếu không có tương đương

+ Ý kiến về việc điều chỉnh nội dung bộ câu hỏi:

 Các thành viên trong hội đồng cho ý kiến về những nội dung cần điều chỉnh được đề xuất bởi các dịch giả ở bước 1 và 2

Ngày đăng: 15/03/2021, 22:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w