Các nghiên cứu được tiến hành dưới nhiều góc độ khác nhau với hai hình thức chính: tích hợp, lồng ghép trong hoạt động chính khóa qua nội dung một số học phần có liên quan hoặc thông qua
Trang 1Lời Cảm Ơ n
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến ThS Nguyễn Hữu Duy Viễn là người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ cho em trong suố t quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn các thầ y cô giáo Trường Đ ại họ c Quảng Bình đã tạo điều kiện tố t cho em hoàn thành tố t khóa luận tố t nghiệp
Cảm ơn gia đình và tập thể lớp CĐ GD Tiểu họ c B – K58
đã luôn độ ng viên, an ủ i, giúp đỡ, chia sẻ trong suố t thời gian
họ c tập và thực hiện khóa luận tố t nghiệp
Cảm ơn các thầ y cô và các em họ c sinh trường Tiểu họ c
Đ ức Ninh Đ ông đã giúp đỡ nhiệ t tình và tạ o điề u kiệ n trong quá trình thu thập dữ liệu và thực nghiệm
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện đề tài nhưng do điều kiện về thời gian, năng lực còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏ i những thiếu sót Em rất mong nhận được những sự góp ý củ a thầ y cô để khóa luận được hoàn thiện hơn
Trang 2Em kính chúc các thầy cô giáo sức khỏ e, thành công trong công việc và cuộ c số ng cũ ng như trong sự nghiệp trồ ng người
Em xin chân thành cả m ơn
Qu ả ng Bình, tháng 5 n ă m 2019
Sinh viên
Đ oàn Thị Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Thực trạng và biện pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường
thông qua các hoạt động ngoại khóa tại trường Tiểu học Đức Ninh Đông,
TP Đồng Hới, Quảng Bình” do cá nhân em thực hiện dưới sự hướng dẫn của
ThS Nguyễn Hữu Duy Viễn
Em xin cam đoan rằng các dữ liệu được sử dụng trong khóa luận là chính xác và có nguồn gốc rõ ràng
Quảng Bình, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Đoàn Thị Hương
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường GDBVMT : Giáo dục bảo vệ môi trường GDMT : Giáo dục môi trường
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
MT : Môi trường MT : Môi trường
ThS : Thạc sĩ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
4 Nội dung nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc đề tài 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 8
1.1 MT và GDBVMT 8
1.1.1 MT và BVMT 8
1.1.2 Chức năng của MT 9
1.1.3 GDBVMT 10
1 1.4 Tầm quan trọng của việc tích hợp GDBVMT 11
1.2 Tích hợp GDBVMT trong trường Tiểu học 12
1.2.1 Đặc điểm lứa tuổi học sinh Tiểu học 12
1.2.2 Vai trò của tích hợp GDBVMT tại trường Tiểu học 13
1.2.3 Mục tiêu tích hợp GDBVMT ở trường tiểu học 14
1.2.4 Tích hợp GDBVMT trong trường Tiểu học 15
1.2.5 Nội dung GDBVMT theo hướng tích hợp 16
1.3 Khả năng tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa 16
1.3.1 Khái quát về các hoạt động ngoại khóa 16
Trang 61.3.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khoá 171.3.3 Vai trò của hoạt động ngoại khóa 18
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỨC NINH ĐÔNG, TP ĐỒNG HỚI, QUẢNG BÌNH 20
2.1 Khái quát về Trường Tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình 202.1.1 Một số thông tin chung về trường 202.1.2 Đội ngũ giáo viên Trường Tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình 212.1.3 Đặc điểm HS ở trường Tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình 222.2 Thực trạng nhận thức của GV về tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa 222.2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa 222.2.2 Nhận thức của GV về các mục tiêu của tích hợp GDBVMT 232.2.3 Nhận thức của GV về các nội dung của tích hợp GDBVMT 242.2.4 Nhận thức của GV về hình thức tích hợp GDBVMT qua các hoạt dồng ngoại khóa 252.3 Thực trạng triển khai tích hợp GDBVMT thông qua hoạt động ngoại khóa tại Trường Tiểu học Đức Ninh Đông 272.3.1 Thực trạng công tác quản lý, chỉ đạo và phối hợp trong tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa 272.3.2 Các hình thức triển khai tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa 292.3.3 Mức độ thường xuyên của việc tổ chức tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa 31
Trang 72.3.4 Hiệu quả của việc tích hợp GDBVMT thông qua hoạt động ngoại khóa tại
trường tiểu học Đức Ninh Đông 31
2.4 Một số kết quả đạt được và hạn chế trong việc GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa tại Trường Tiểu học Đức Ninh Đông 34
2.4.1 Một số kết quả đạt được 34
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế 35
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỨC NINH ĐÔNG, TP ĐỒNG HỚI, QUẢNG BÌNH 37
3.1.Nâng cao nhận thức về vấn đề tích hợp GDBVMT của GV 37
3.2 Tăng cường công tác chỉ đạo kiểm tra giám sát về vấn đề tích hợp GDBVMT 40
3.3 Tăng cường mối liên hệ phối hợp trong nội bộ trường 44
3.4 Tăng cường mối liên hệ giữa các bên liên quan bên ngoài trường 46
3.5 Huy động nguồn kinh phí 49
3.6 Đa dạng các hình thức ngoại khóa 50
3.7 Nâng cao nhận thức cho HS 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 1 64
PHỤ LỤC 2 67
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢNG
Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trường Tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình 20Bảng 1 Nhận thức của GV về tầm quan trọng GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa tại trường Tiểu học 23Bảng 2 Nhận thức của GV về mục tiêu GDBVMT cho HS 23Bảng 3 Nhận thức của GV về BVMT 25Bảng 4 Nhận thức của GV về hình thức GDBVMT thông qua một số hình thức ngoại khóa 26Bảng 5 Các hình thức triển khai GDBVMT cho HSTH của GV trường tiểu học Đức Ninh Đông 29Bảng 6 Mức độ thường xuyên của việc GDBVMT cho HS thông qua các hoạt động ngoại khóa 31Bảng 7 Kết quả khảo sát mức độ nhận thức BVMT của HS 33Bảng 8 Hiệu quả tích hợp GDBVMT cho HS 34
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh môi trường (MT) sống của con người trên Trái Đất đang bị
đe dọa nghiêm trọng bởi sự ô nhiễm MT và sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên,
bảo vệ môi trường (BVMT) đã trở thành một vấn đề nóng bỏng, thu hút sự quan
tâm của nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do sự thiếu hiểu biết về MT và thiếu ý thức BVMT trong các hoạt động sống của con người Trong quá trình sinh hoạt và phát triển kinh tế, con người đã khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách tùy tiện đồng thời gây ô nhiễm MT ngày càng nghiêm trọng Do vậy, giáo dục cho con người cần phải biết cách ứng xử tích cực với MT là vấn đề vô cùng cấp bách, có ý nghĩa sống còn của con người trên Trái Đất này
Bậc tiểu học là bậc học nền móng của hệ thống giáo dục quốc dân Học sinh (HS) tiểu học đang ở độ tuổi định hướng cho việc phát triển về nhân cách Giáo dục các em là cơ sở ban đầu làm nền tảng cho việc đào tạo các em thành những công dân tốt cho đất nước Hơn lúc nào hết, việc giáo dục cho HS có những hiểu biết về MT và hình thành ở các em ý thức, kĩ năng về BVMT trong lúc này là vô cùng cần thiết Làm thế nào để nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường (GDMT) ở bậc tiểu học, làm thế nào để có thể hình thành cho HS tiểu học những hiểu biết về MT đang là vấn đề được quan tâm hiện nay Tại Việt Nam, việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) cho HS Tiểu học đã được quan tâm triển khai trên phạm vi cả nước Việc đưa nội dung GDBVMT vào bậc Tiểu học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì liên quan đến xây dựng nhận thức cho HS ngay từ lúc tuổi thơ, ngay trong quá trình hình thành nhân cách của
HS Nó còn đặc biệt quan trọng vì không những có tác động tích cực tới nhân cách và hành vi của trẻ em, những người chủ tương lai, mà còn có ảnh hưởng lan tỏa tới cộng đồng và xã hội ở địa phương, góp phần tăng cường sự tham gia
tự giác và chủ động của mọi người dân vào sự nghiệp chung về BVMT Tuy nhiên, do chưa chú trọng đến việc kết hợp đa dạng các hình thức giáo dục, chưa
Trang 10khảo sát đầy đủ về tình hình sự phân hóa đặc điểm HS theo từng địa phương nên hiệu quả đạt được nhìn chung vẫn còn khá khiêm tốn
Bản thân là một sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, một giáo viên (GV) Tiểu học trong tương lai, tôi nhận thấy trách nhiệm của mình trong việc giáo dục nhằm bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, giúp HS hình thành thói quen, hành vi ứng
xử văn minh, lịch sự và thân thiện với MT, kĩ năng BVMT MT bao gồm tất cả những gì xung quanh con người có tác động đến đời sống, sinh hoạt của con người Do đó, việc cho HS thâm nhập vào thực tế MT thông qua các hoạt động ngoại khóa sẽ giúp cho HS hiểu rõ hơn nữa về vai trò của bản thân mình đối với
MT sống và cách bảo vệ MT xanh - sạch - đẹp
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Thực trạng và biện pháp tích hợp
giáo dục bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động ngoại khóa tại trường tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình” để thực hiện khóa luận tốt
nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu liên quan đến tích hợp GDBVMT trong nhà trường
Vấn đề GDBVMT có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng nhân cách, hành vi của HS nên đã được nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm thực hiện Các nghiên cứu được tiến hành dưới nhiều góc độ khác nhau với hai hình thức chính: tích hợp, lồng ghép trong hoạt động chính khóa qua nội dung một số học phần có liên quan hoặc thông qua hoạt động ngoại khóa
Ở Việt Nam, vấn đề GDBVMT bắt đầu từ cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 vào năm 1979 [2] với một số nội dung của sách giáo khoa được cải tiến Năm 1986, Nguyễn Dược [4] đã đề cập đến việc GDMT trong đó khẳng định tầm quan trọng của GDMT ở Việt Nam Từ công trình khởi đầu này, đã có nhiều công trình nghiên cứu đáng chú ý đề cập đến GDMT ra đời Cũng từ đây, công tác GDMT trong nhà trường phổ thông mới quan tâm nhiều hơn và được lồng ghép vào các môn học
Liên quan đến vấn đề GDBVMT trong nhà trường phổ thông, đã có rất nhiều đề tài đã được thực hiện phục vụ cho các đối tượng giáo dục khác nhau từ
Trang 11mầm non đến Trung học phổ thông , trong đó có một số đề tài tiêu biểu đã được thực hiện như sau:
- “Xác định các hình thức tổ chức và phương pháp GDMT qua môn Địa lý
ở trường phổ thông cơ sở Việt Nam” do Nguyễn Thị Thu Hằng thực hiện (1994) với nội dung nghiên cứu: nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn cũng như hình thức tổ chức và phương pháp GDMT có hiệu quả qua môn Địa lý ở trường phổ thông cơ sở [8]
- Dự án thiết kế và thử nghiệm nội dung GDMT ở mẫu giáo và tiểu học (Viện Khoa học Giáo dục - 1996);
- Dự án thử nghiệm đưa GDMT vào trường mầm non với nội dung Thời tiết và cuộc sống của chúng ta (Trường CĐSP NT- MG TW1);
- Đề tài “Xây dựng nội dung BVMT cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong trường mầm non” (Trung tâm nghiên cứu GDMN - Viện Khoa học Giáo dục, 2000);
- Dự án thiết kế thử nghiệm chương trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho cán bộ (GV) ngành học mầm non về MT (Trường CĐSP NT - MGTW1, 1999);
- Nâng cao nhận thức về MT và bảo vệ MT cho cộng đồng (Trung tâm nghiên cứu GDMN - Viện Khoa học Giáo dục, 2001);
- Biên soạn một số tài liệu nâng cao nhận thức cho GV mầm non về BVMT (Trường CĐSP NT - MGTW1, 2002)
- Xây dựng tài liệu tham khảo phục vụ “Phương pháp cho trẻ làm quen với
MT xung quanh trong các trường sư phạm mầm non” (Trường CĐSP NT- MG TW3, 2002)
- GDBVMT cho trẻ từ 3 - 6 tuổi trong trường mầm non theo quan điểm tích hợp (Đề tài nghiên cứu cấp Bộ - TS Lê Thanh Vân - Khoa GDMN - Trường ĐHSP Hà Nội, 2004)[6]
- Đề tài “Tích hợp GDBVMT trong dạy học nội dung sinh học cơ thể thực vật, sinh học 11 (THPT)” năm 2012 [19]
Bên cạnh đó, một số luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp cũng đã nghiên cứu liên quan đến vấn đề GDBVMT như: Trần Thị Thu Hảo (1997), GDBVMT qua môn hóa học ở trường phổ thông, luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dục,
Trang 12ĐHSP Hà Nội [7]; Trần Thị Thanh Hương (1999), GDMT thông qua môn hóa học ở trường PTTH và THCS tại TP Hải Phòng, Luận văn Thạc sỹ khoa học Giáo dục, ĐHSP Hà Nội [11]; Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (2004), GDMT thông qua một số bài giảng cụ thể ở trường phổ thông, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM [6]; Cao Duy Chí Trung (2005), Thiết kế trang web phục vụ công tác giáo dục MT trong môn hóa ở trường THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM [22]; Nguyễn Trần Đông Quỳ (2007) , Website hóa học MT qua chương trình hóa học lớp 10, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM [18]; Nguyễn Thị Trang (2007), Thiết kế giáo án GDMT thông qua bộ môn hóa lớp
12 – Ban Khoa học tự nhiên, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM; Nguyễn Đặng Thu Hường (2009) [20], GDMT thông qua dạy học hóa học lớp 10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM [12]
Nhìn chung, đa số các nghiên cứu liên quan đến việc GDBVMT tập trung vào việc tích hợp thông qua hoạt động chính khóa trong một số nội dung môn học có liên quan ở từng bậc học
2.2 Các nghiên cứu liên quan đến tích hợp GDBVMT trong trường tiểu học
Đối với việc tích hợp GDBVMT cho HS Tiểu học cũng đã có nhiều đề tài liên quan đã được thực hiện Tuy phong phú và đa dạng về nội dung, mục tiêu nhưng có thể sắp xếp các nghiên cứu thành hai nhóm chính: thông qua hoạt động chính khóa và thông qua hoạt động ngoại khóa Một số đề tài GDBVMT thông qua hoạt động chính khóa tiêu biểu đã được thực hiện như:
- “GDMT cho học sinh lớp 5 bằng phương pháp dạy học theo dự án” (Nguyễn Minh Giang và Hoàng Thị Thơ, 2013) đã thực hiện khảo sát các phương pháp dạy học mà GV sử dụng để GDBVMT, sau đó tiến hành nghiên cứu nội dung bài học và thiết kế các dự án tương ứng, mỗi dự án sẽ được tiến hành thử nghiệm và kiểm tra hiệu quả [5]
- “Lồng ghép GDMT vào chương trình giảng dạy ở lớp 4, 5” do Nguyễn Thị Nhung thực hiện (2013) với nội dung nghiên cứu: lồng ghép những kiến
Trang 13thức cơ bản về GDBVMT vào trong các môn học ở chương trình tiểu học để giáo dục ý thức cho học sinh [17]
- “Một số biện pháp góp phần giáo dục kĩ năng sống, GDMT cho HS lớp bốn thông qua phân môn Khoa học” (2015) với nội dung nghiên cứu: nghiên cứu GV trực tiếp giảng dạy, phụ trách lớp qua thực tiễn đó suy nghĩ và đưa ra những biện pháp nhằm góp phần giáo dục kĩ năng sống, GDMT cho HS lớp 4 thông qua bộ môn khoa học [10]
- “GDMT dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học” do
Võ Trung Minh thực hiện (2015) Đề tài có nội dung chính: GDMT dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học được nghiên cứu nhằm đề xuất nội dung và quy trình GDMT dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học cho HS tiểu học nhằm góp phần nâng cao kết quả GDMT trong trường Tiểu học [16]
Bên cạnh các đề tài GDBVMT thông qua các hoạt động chính khóa, còn có một số đề tài GDBVMT thông qua hoạt động ngoại khóa như:
- “GDMT cho HS qua việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp” do Nguyễn Hữu Trung thực hiện (2014) với nội dung nghiên cứu: Khảo sát thực trạng và đưa ra các bước tiến hành để GDBVMT cho HS [23]
- “Một số biện pháp giúp HS BVMT Xanh - Sạch - Đẹp ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi” do Lê Hoài Vân thực hiện (2015) với nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra một số biện pháp tốt nhất để rèn luyện thói quen, giáo dục HS có ý thức BVMT giúp các em nhận thức được những hành động để BVMT hay cũng chính là để bảo vệ sức khỏe của chính bản thân mình [24]
- “GDMT qua các hoạt động ngoại khóa môn tự nhiên xã hội cho học sinh lớp 3” do Trần Thị Phương Loan thực hiện (2015) Nội dung nghiên cứu: phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn cũng như cách tổ chức một số hoạt động ngoại khóa GDMT cho môn tự nhiên xã hội lớp 3 [15]
- “Thực trạng sử dụng vườn trường vào GDMT trong dạy học ở một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Huế” do Dương Thị Minh Hoàng thực hiện (2016) Bài viết tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng vườn trường
Trang 14và sử dụng vườn trường cho môn Tự nhiên và xã hội 1, 2, 3 và Khoa học 4, 5 về phương diện GDMT ở một số trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Huế, bao gồm: trường Tiểu học Phú Cát, trường Tiểu học Phú Hòa, trường Tiểu học Phường Đúc Thông qua đó, bài viết đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển hiệu quả việc tích hợp GDMT qua vườn trường [9]
Qua tình hình tổng quan trên, có thể thấy rằng: việc nghiên cứu GDBVMT thông qua các hoạt động chính khóa đã được thực hiện khá phổ biến, trong khi
đó đối với nội dung GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa tại trường Tiểu học còn chưa nhiều Đa số các nghiên cứu theo hướng này chủ yếu tập trung trong một số hoạt động ngoại khóa nhất định nên chưa thể hiện được sự bao quát và phối hợp giữa các hình thức ngoại khóa Điều này sẽ gây khó khăn cho người giáo viên tiểu học khi tiến hành các hoạt động ngoại khoá GDBVMT cho HS, làm hạn chế chất lượng GDBVMT qua mỗi hoạt động ngoại khoá Do
đó, việc nghiên cứu GDBVMT cho HS tiểu học thông qua sự kết hợp các hình thức ngoại khóa nhằm hỗ trợ và nâng cao hiệu quả giáo dục là một vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện
3 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích thực trạng và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa tại Trường Tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình
4 Nội dung nghiên cứu
- Xác lập cơ sở lí luận liên quan đến vấn đề GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa cho HS tiểu học;
- Khảo sát thực trạng GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa cho
HS tại Trường Tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình;
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa cho HS tại Trường Tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình
Trang 155 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các nội dung của đề tài, các phương pháp chủ yếu được sử dụng như sau:
- Phương pháp hệ thống hóa tài liệu: Được sử dụng để nghiên cứu các tài
liệu có liên quan đến nội dung của đề tài;
- Phương pháp quan sát: Được sử dụng để quan sát cách thức tổ chức,
hoạt động của GV và HS trong các hoạt động ngoại khóa có liên quan đến vấn đề tích hợp BVMT do Trường tổ chức
- Phương pháp điều tra: Thiết kế và phát bảng hỏi đối với GV và HS
trường Tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình nhằm thu thập các dữ liệu về thực trạng GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa;
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: được sử dụng để tổng hợp các dữ
liệu đã thu thập được thông qua việc thứ cấp và sơ cấp (thông qua điều tra bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu), phân tích kết quả để hoàn thành các nội dung của đề
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 MT và GDBVMT
1.1.1 MT và BVMT
MT nói chung là một khái niệm rất rộng, do đó có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Theo UNEP (1980) [26]: “MT là một tập hợp các yếu
tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế - xã hội bao quanh và tác động tới đời sống
và sự phát triển của một cá thể hoặc một cộng đồng người” Theo khoản 1, Điều
3 Luật BVMT (2014) [14]: “MT là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” Tóm lại, có thể hiểu rằng: MT bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên
Đối với con người, MT chứa đựng một nội dung rộng lớn hơn Theo định nghĩa của UNESCO (1981) [27]: MT sống của con người bao gồm toàn bộ các
hệ thống tự nhiên và nhân tạo, những cái hữu hình (sinh vật, công trình xây dựng, phương tiện giao thông…) và mô hình (tập quán, niềm tin…) trong đó con người sống và lao động, khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu cuả mình Theo Allaby (1994) [1], MT của con người bao gồm các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, công nghệ, kinh tế, chính trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử, mĩ học… MT sống của con người có thể được chia thành: MT sống
tự nhiên và MT sống xã hội
- MT tự nhiên: gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học
tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động vật, thực vật, đất nước… MT tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên cần cho sản xuất,
Trang 17tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp
để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
- MT xã hội: tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật
lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định … ở các cấp khác nhau như: Liên hiệp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,… MT xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với thế giới sinh vật khác
Theo khoản 3, Điều 3, Luật BVMT (2014), “BVMT là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến MT; ứng phó sự cố MT; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành”
1.1.2 Chức năng của MT
* MT cung cấp không gian sống của con người và các loài sinh vật
- Khoảng không gian nhất định do MT tự nhiên đem lại, phục vụ cho các hoạt động sống con người như không khí để thở, nước để uống, lương thực, thực phẩm…
- Con người trung bình mỗi ngày cần 4m3 không khí sạch để thở, 2,5 lít nước để uống, một lượng lương thực, thực phẩm để sản sinh ra khoảng 2000 -
2400 calo năng lượng nuôi sống con người
Như vậy, MT phải có khoảng không gian thích hợp cho mỗi con người được tính bằng m2 hay ha đất để ở, sinh hoạt và sản xuất MT cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết phục vụ cho đời sống và sản xuất của con người
* MT cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết phục vụ cho đời sống và sản xuất của con người
Để tồn tại và phát triển, con người cần các nguồn tài nguyên để tạo ra của cải vật chất, năng lượng cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản xuất và quản lí Các nguồn tài nguyên gồm:
- Rừng: cung cấp gỗ, củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái
Trang 18- Các hệ sinh thái nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm
- Các thủy vực cung cấp nguồn nước, thuỷ hải sản, năng lượng, giao thông thuỷ và địa bàn vui chơi giải trí…
- Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió, mưa…
- Các loại khoáng sản, dầu mỏ cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho mọi hoạt động sản xuất và đời sống
* MT là nơi chứa đựng và phân huỷ các phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống
Con người đã thải các chất thải vào MT Các chất thải dưới sự tác động của các vi sinh vật và các yếu tố MT khác như nhiệt độ, độ ẩm, không khí sẽ bị phân huỷ, biến đổi Từ chất thải bỏ đi có thể biến thành các chất dinh dưỡng nuôi sống cây trồng và nhiều sinh vật khác, làm cho các chất thải trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên Nhưng sự gia tăng dân số, đô thị hoá, công nghiệp hoá làm số lượng chất thải tăng lên không ngừng dẫn đến nhiều nơi, nhiều chỗ trở nên quá tải, gây ô nhiễm MT
* MT là nơi lưu trữ và cung cấp các nguồn thông tin
Con người biết được nhiều điều bí ẩn trong quá khứ do các hiện vật, di chỉ phát hiện được trong khảo cổ học; liên kết hiện tại và quá khứ, con người đã dự đoán được những sự kiện trong tương lai Những phản ứng sinh lí của cơ thể các sinh vật đã thông báo cho con người những sự cố như bão, mưa, động đất, núi lửa… MT còn lưu trữ, cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động vật, các hệ sinh thái tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên…
đề MT hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của thế hệ hiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai”
Trang 19Tại Hội nghị quốc tế về GDBVMT của Liên hiệp quốc tổ chức tại Tbilisi (1997) [13] xác định GDBVMT có mục đích: “Làm cho các cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của MT tự nhiên và MT nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, vật lý, hóa học, kinh tế, xã hội, …; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ, kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn
đề về MT và quản lý chất lượng MT”
Từ các định nghĩa trên, có thể thấy rằng: GDBVMT nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết và nhạy cảm về MT cùng các vấn đề của nó (nhận thức); những khái niệm cơ bản về MT và BVMT (kiến thức) ; những tình cảm, mối quan tâm trong việc cải thiện và BVMT (thái độ, hành vi); những kĩ năng giải quyết cũng như cách thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia (kĩ năng) ; tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề về MT và có những hành động thích hợp giải quyết vấn đề (tham gia tích cực)
GDBVMT phải là một quá trình liên tục, nó giúp cho mỗi cá nhân nhận thức được MT mà họ đang sống, giúp họ hiểu được khả năng, trách nhiệm của mình có thể làm để giải quyết các vấn đề MT
1 1.4 Tầm quan trọng của việc tích hợp GDBVMT
Trong thời gian qua, công tác BVMT đã được thực hiện thông qua nhiều cách thức, phương tiện khác nhau Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế Việc BVMT về mặt kĩ thuật chỉ đem lại những kết quả trong một thời gian ngắn và không mang tính bền vững Điều này đòi hỏi cần phải đặt ra vấn đề nâng cao ý thức trách nhiệm và tình cảm vì MT, bởi ý thức và tình cảm vì MT sẽ giúp con người tự giác, tích cực BVMT bằng mọi cách Để đạt được điều này, chúng ta phải thực hiện hàng loạt các biện pháp, trong đó GDBVMT được coi là một trong các biện pháp có hiệu quả nhất GDBVMT cần thiết cho mọi thành phần trong xã hội và là cơ sở cho mọi hoạt động BVMT Thông qua GDBVMT
để cung cấp cho mỗi cá nhân một năng lực biết suy xét và xử lí thông tin dựa trên khía cạnh sinh thái, thẩm mĩ và đạo đức Điều quan trọng hơn, GDBVMT
Trang 20còn thúc đẩy mạnh mẽ sự thay đổi hành vi, giúp chúng ta biết quyết định và biết tham gia BVMT một cách tự giác và tích cực
1.2 Tích hợp GDBVMT trong trường Tiểu học
1.2.1 Đặc điểm lứa tuổi học sinh Tiểu học
Tích hợp GDBVMT có thể được thực hiện đối với nhiều đối tượng khác nhau Để việc tích hợp GDBVMT đạt hiệu quả thì vấn đề quan trọng là cần nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi cần hướng đến để giáo dục
HS tiểu học là lứa tuổi đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm
lý, xã hội Do đó, HS tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội
HS tiểu học có nhiều nét tính cách tốt như hồn nhiên, ham khám phá, là lứa tuổi dễ tiếp thu những định hướng giá trị mới, giàu cảm xúc thường yêu thương Đây chính là một thuận lợi cơ bản để xây dựng ở các em tình yêu thiên nhiên, trân trọng và tha thiết bảo vệ môi trường Đồng thời trẻ ở lứa tuổi này có tính tích cực cao, dễ hưng phấn, hiếu động, nghịch ngợm, nếu không được giáo dục về MT một cách nghiêm túc và đầy đủ thì có thể chính các em sẽ trở thành những kẻ phá hoại MT một cách vô ý thức hoặc có ý thức
HS tiểu học dễ thích nghi, tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai Tuy nhiên, trẻ lại thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh
Đối với trẻ em ở lứa tuổi tiểu học thì tri giác của HS tiểu học phản ánh những thuộc tính trực quan, cụ thể của sự vật, hiện tượng và xảy ra khi chúng trực tiếp tác động lên giác quan Tri giác giúp cho trẻ định hướng nhanh chóng
và chính xác hơn trong thế giới Tri giác còn giúp cho trẻ điều chỉnh hoạt động một cách hợp lý Để phát triển tri giác, HS tiểu học cần được chỉ dạy cách nhìn, hình thành kỹ năng nhìn, hướng dẫn các em biết xem xét, biết lắng nghe
Bên cạnh sự phát triển của tri giác, sự chú ý có chủ định của HS tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý có ý chí chưa mạnh Nhu cầu hứng thú
Trang 21có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ định cho nên giáo viên (GV) cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để lôi cuốn sự chú ý của HS
Trí nhớ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống và hoạt động của con người, nhờ có trí nhớ mà con người tích lũy vốn kinh nghiệm đó vận dụng vào cuộc sống Đối với HS tiểu học, trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm
ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – logíc Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng Trong sự phát triển tư duy ở học sinh tiểu học, tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện ở các lớp đầu cấp và sau đó chuyển dần sang tính khái quát ở các lớp cuối cấp Việc nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của HS tiểu học là một cơ sở quan trọng giúp GV có cơ sở để tạo điều kiện thuận lợi cho HS tham gia vào các hoạt động quan sát, tìm hiểu, khám phá MT nhằm đáp ứng nhu cầu ham thích, tò mò, tìm tòi, khám phá của trẻ, từ đó giúp trẻ hiểu biết về MT và mong muốn được tham gia BVMT
1.2.2 Vai trò của tích hợp GDBVMT tại trường Tiểu học
Thực tế đã cho thấy tích hợp GDBVMT cho thế hệ trẻ một cách có hiệu quả nhất là thông qua hệ thống trường học, vì trường học có khả năng thực hiện chương trình học tập theo khuôn khổ chính quy, có cấu trúc và được hỗ trợ chính thức Các chuyên gia giáo dục đã khẳng định tích hợp GDBVMT là rất cần thiết và cấp bách, phải bắt đầu ngay từ bậc học Tiểu học, nó có ý nghĩa to lớn góp phần đặt nền móng ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người Việc tích hợp GDBVMT trong trường Tiểu học được xác định là một trong các nhiệm vụ quan trọng, được tiến hành thường xuyên, liên tục một cách có hệ thống, linh hoạt thông qua hoạt động hằng ngày nhằm nâng cao nhận thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ và hành vi đúng đắn cho HS đối với vấn đề BVMT:
- Làm cho HS hiểu biết về MT nói chung và MT Việt Nam nói riêng, nhận thức rõ mối quan hệ khăng khít với sự tác động tương hỗ giữa con người với các yếu tố của MT và tầm quan trọng của MT đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Trang 22- Trang bị cho HS một số biện pháp và kĩ năng BVMT để họ có thể thực hành các nhiệm vụ BVMT ở địa phương
- Trên có sở những hiểu biết, GD cho học sinh ý thức quan tâm thường xuyên đến MT, dần dần hình thành lòng yêu thiên nhiên, muốn được BVMT sống, các phong cảnh đẹp và cuối cùng là làm cho việc BVMT trở thành phong cách, nếp sống của HS
1.2.3 Mục tiêu tích hợp GDBVMT ở trường tiểu học
Dựa trên đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức và khả năng hành động của từng cấp học theo tiêu chuẩn quan trọng là “hành động tích cực của cá nhân
và tập thể trong việc cải thiện chất lượng MT”, các nhà nghiên cứu
về GDBVMT đã đưa ra những mục tiêu cụ thể trong tích hợp GDBVMT mà HS tiểu học cần đạt được như sau:
- Trang bị hệ thống những kiến thức cơ bản ban đầu về môi trường phù hợp với độ tuổi và tâm sinh lý cho HS Cụ thể:
+ Có những hiểu biết cơ bản ban đầu về tự nhiên, về MT
+ Nhận thức được mối quan hệ khăng khít, tác động lẫn nhau giữa con người với MT tự nhiên và xã hội xung quanh
- Trang bị cho HS những kĩ năng và hành vi tích cực đối với MT
+ Kĩ năng đánh giá những tác động của con người tới tự nhiên, dự đoán được những hậu quả của những tác động đó
+ Kĩ năng đề ra cách giải quyết đúng, những biện pháp nhằm bảo vệ và cải thiện MT
+ Kĩ năng phổ biến những tư tưởng và thái độ quan tâm tới MT
- Hình thành ý thức, thái độ quan tâm, có trách nhiệm đối với MT, cụ thể: Như vậy, “ Tích hợp GDBVMT trong nhà trường phổ thông nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là: mỗi trẻ được trang bị một ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất, một khả năng đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên
và một giá trị nhân cách được khắc sâu bởi một nền tảng đạo lí về MT” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Quốc gia VIE/95/014 Các hướng dẫn chung về giáo dục môi trường dành cho người đào tạo GV trường Tiểu học, tr.24)
Trang 231.2.4 Tích hợp GDBVMT trong trường Tiểu học
GDBVMT trong trường Tiểu học không phải là một môn học riêng biệt mà chỉ có thể lồng ghép, tích hợp vào các môn học trong chương trình Giáo dục tiểu học và trong các hoạt động hằng ngày của HS Tuy nhiên, theo UNESCO-UNEP (1998): “GDBVMT không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục như là một bộ phận riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu, mà đó là một đường hướng nội nhập vào chương trình đó GDBVMT là kết quả của một sự định hướng lại
và sắp xếp lại những bộ môn khác nhau và những kinh nghiệm giáo dục khác nhau (Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, văn học nghệ thuật,…), nó cung cấp một nhận thức toàn diện về MT” Như vậy, tích hợp GDBVMT cho HS tiểu học cần thực hiện theo hướng hội nhập mục tiêu, nội dung GDBVMT vào các hoạt động giáo dục trẻ bằng việc định hướng, lựa chọn,đưa thêm vào các hoạt động một số nội dung GDBVMT nhằm cung cấp kiến thức, kĩ năng, hình thành thái
độ, hành vi tích cực vì môi trường cho trẻ
Việc tích hợp nội dung GDBVMT có thể được thực hiện ở các mức độ lồng ghép sau:
- Mức độ lồng ghép hoàn toàn: Mục tiêu và nội dung giáo dục tiểu học phù hợp với nội dung và mục tiêu của hoạt động cụ thể
- Mức độ lồng ghép từng phần: Một số phần của hoạt động cụ thể có nội dung và mục tiêu phù hợp với mục tiêu và nội dung GDBVMT
- Mức độ liên hệ: Một số hoạt động cụ thể có nội dung có thể liên hệ với nội dung GDBVMT và gắn với thực tế ở địa phương [10]
Việc tích hợp GDBVMT cho HS tiểu học thông qua các hoạt động giáo dục cần tuân thủ một số nguyên tắc nhất định:
- Tích hợp GDBVMT không làm thay đổi nội dung của các hoạt động giáo dục, không làm cho nội dung GDBVMT thành một nội dung độc lập mà cần linh hoạt lồng ghép nội dung của hai hoạt động này với nhau một cách hợp lý
- Nội dung GDBVMT phải có sự chọn lọc, mang tính khoa học, hệ thống phù hợp với trình độ nhận thức của trẻ ở từng độ tuổi nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức tương đối đầy đủ về MT cũng như các phương pháp
Trang 24BVMT (dựa vào đặc thù của từng hoạt động giáo dục mà đưa nội dung GDBVMT vào theo các mức độ phù hợp) Ở bậc tiểu học, nội dung GDBVMT
có thể được đề cập thông qua các chủ đề như: khí hậu, nước, không khí, thực vật, tăng trưởng dân số, con người và động vật…
- Phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ và những kinh nghiệm thực tế của trẻ đã có, tạo mọi cơ hội, điều kiện để trẻ tiếp xúc trực tiếp với MT
- Nội dung GDBVMT phải ưu tiên khai thác tình hình MT địa phương
và của đất nước, tận dụng các tình huống cụ thể hằng ngày để GDBVMT cùng với những biện pháp ngăn ngừa những tác động xấu tới MT đó
1.2.5 Nội dung GDBVMT theo hướng tích hợp
Nội dung GDBVMT trong trường Tiểu học được tích hợp trong chương trình giáo dục ở tất cả các chủ đề, tổ chức thông qua các hoạt động giáo dục và luôn gắn liền với đời sống thực tiễn của HS trong trường Tiểu học, gia đình và
xã hội
Chủ đề trong GDBVMT được hiểu là một phần nội dung kiến thức, kỹ năng cùng phản ánh một vấn đề nào đó mà HS tìm hiểu, khám phá và học theo nhiều cách khác nhau dưới sự tổ chức hướng dẫn của GV trong một thời gian nhất định
Chủ đề có thể rộng (lớn) hoặc hẹp (nhỏ) Một chủ đề lớn bao gồm nhiều chủ đề nhỏ Từ chủ đề nước và các hiện tượng tự nhiên có thể phát triển thành các chủ đề nhánh như: Nước, các hiện tượng tự nhiên (mưa, nắng, mặt trời, mặt trăng và các vì sao, các mùa trong năm )
Chủ đề có thể cụ thể nhưng cũng có thể trừu tượng, có thể mang tính địa phương nhưng cũng có thể mang tính chung HS càng nhỏ, chủ đề càng phải cụ thể, gần gũi và mang tính địa phương có quy mô nhỏ để HS có thể liên hệ với những hiểu biết và kinh nghiệm đã có của mình
1.3 Khả năng tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa
1.3.1 Khái quát về các hoạt động ngoại khóa
Ngoại khoá là hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp, không quy định bắt buộc trong chương trình, hoạt động dựa trên sự tự nguyện tham gia của một số
Trang 25hay số đông HS có hứng thú, yêu thích bộ môn và ham muốn tìm tòi, sáng tạo dưới sự hướng dẫn của GV
Hoạt động ngoại khoá là hoạt động ngoài giờ học trên lớp, nội dung hoạt động ngoại khoá thường liên quan với nội dung học tập trong chương trình và phù hợp với hoàn cảnh của địa phương và đặc điểm các em tham gia
Với cách hiểu như trên, hoạt động ngoại khoá được xem là một hình thức
tổ chức dạy học quan trọng, là một trong những con đường để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng: “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm từng lứa tuổi, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
Như vậy, việc học tập trên lớp và học tập ngoài lớp là hai bộ phận hữu
cơ hợp thành một thể thống nhất trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông Các hình thức tổ chức học tập ngoại khoá phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng với học tập chính khoá
1.3.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khoá
Hoạt động ngoại khoá được phân biệt với các hình thức tổ chức dạy học khác dựa trên những đặc điểm chủ yếu sau:
- Là hoạt động ngoài giờ lên lớp, không được quy định trong chương trình chính khoá
- Là hoạt động tự nguyện cá nhân hay một nhóm HS có cùng hứng thú, sở thích, mối quan tâm về một vấn đề nào đó của nội dung học tập, không phân biệt học sinh giỏi hay yếu kém
- GV không trực tiếp tham gia cùng HS mà là người hướng dẫn, tổ chức, tư vấn hay chỉ đạo, điều khiển các buổi hoạt động ngoại khoá này
- Nội dung hoạt động ngoại khoá thường liên quan tới nội dung đã được học tập trên lớp, phù hợp với hoàn cảnh từng địa phương và đặc điểm của đối tượng tham gia
- Không tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động ngoại khoá của học sinh bằng điểm số mà đánh giá dựa trên các yếu tố sau:
Trang 26+ Sản phẩm của buổi hoạt động ngoại khoá
+ Tính tích cực và tự lực sáng tạo của học sinh
Kết quả này phải được tiến hành công khai, cho HS có cơ hội
tự đánh giá mình, đánh giá bạn GV tuy không cho điểm nhưng cần có hình thức động viên, khích lệ kịp thời như biểu dương, tặng phần thưởng…
1.3.3 Vai trò của hoạt động ngoại khóa
Các hoạt động ngoại khoá góp phần hình thành tinh thần trách nhiệm, ý thức gắn bó với tập thể ở HS Thông qua các hoạt động ngoại khoá, HS sẽ hoà nhập vào MT, vào cuộc sống tập thể một cách vui vẻ, tự nguyện và tự tin, có hứng thú học tập và có lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước Đó là những tiền đề quan trọng để rèn luyện các em trở thành những con người lao động mới, đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay Đặc biệt, trong quá trình tham gia ngoại khoá, tính độc lập và sáng tạo của HS được phát huy, các kĩ năng làm việc độc lập hay tập thể được rèn luyện
Như vậy, hoạt động ngoại khoá sẽ phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của HS, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế để các em có thể tham gia các hoạt động BVMT ở địa phương Với vai trò to lớn như trên, nếu người GV tổ chức tốt được các hoạt động ngoại khoá cho HS thì có thể tạo nên chiếc cầu nối, sự liên kết chặt chẽ giữa lí thuyết và thực hành, giữa những kiến thức trong sách vở với những hoạt động thực tiễn BVMT trong đời sống xã hội
Như vậy, hoạt động ngoại khóa là một hình thức dạy học mang tính tích hợp cao, có tác dụng phát triển ở HS không chỉ kiến thức mà còn rèn luyện kĩ năng, phát triển thái độ và hành vi tích cực đối với MT Hình thức này giúp nâng cao hiệu quả dạy học ở nhà trường, góp phần tích cực vào việc nâng cao, mở rộng vốn tri thức của các HS, rèn luyện kĩ năng, tăng cường hứng thú học tập bộ môn và giáo dục lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước
1.3.4 Sự thuận lợi của việc tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa ở trường tiểu học
Trong xu hướng phát triển và yêu cầu đổi mới của ngành học GDTH có
Trang 27nhiều cách tiếp cận mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục HS Một trong những cách tiếp cận được đề cập và ứng dụng phổ biến trong thực tiễn giaso dục tiểu học đó là giáo dục tích hợp thông qua các hoạt động ngoại khóa Theo quan điểm của nhiều nhà khoa học, giáo dục theo hướng tích hợp là phù hợp và có hiệu quả với bậc học Tiểu học Hoạt động này được tiến hành tương đối thuận lợi và có hiệu quả vì:
- Dễ chủ động về mọi phương diện tổ chức, không bị ràng buộc nhiều bởi thời khoá biểu các môn học trong chương trình thực tế hiện nay
- Các vấn đề MT diễn ra xung quanh HS hết sức đa dạng và sinh động Bản thân các cơ hội GDMT trong chương trình dạy chưa đủ phong phú Hơn nữa, không thể tách rời GDMT ra khỏi cuộc sống thực tại đang chi phối đến quá trình phát triển nhân cách người học
- HS cần có được cơ hội thực tiễn để thực hiện trách nhiệm công dân, việc tích luỹ kinh nghiệm sống là một yếu tố quan trọng trong giáo dục
- Sự thay đổi thái độ, hành vi và việc định hình các giá trị MT trong học sinh chỉ thực sự có ý nghĩa giáo dục khi những điều này xẩy ra trong bối cảnh có thực
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỨC NINH ĐÔNG, TP ĐỒNG HỚI, QUẢNG BÌNH
2.1 Khái quát về Trường Tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình
2.1.1 Một số thông tin chung về trường
Trường Tiểu học Đức Ninh Đông có diện tích 17.000m², nằm ở phía tây của thành phố Đồng Hới, có địa chỉ tại Tổ dân phố Diêm Bắc 1, Phường Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình Trước đây trường có tên gọi là Trường Tiểu học số 2 Đức Ninh Từ năm 2004, khi phường Đức Ninh Đông được tách
ra từ xã Đức Ninh, trường được đổi tên thành Trường Tiểu học Đức Ninh Đông
Và cơ cấu tổ chức của trường như sau:
Hình 1:Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trường Tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng
Hới, Quảng Bình
- Hiệu trưởng: Nguyễn Thị HIệp
-Hiệu phó: Võ Thị Kiều Hạnh
-Tổ trưởng chuyên môn khối 1,2,3: Đặng Thị Cương
-Tổ trưởng chuyên môn khối 4,5: Trần Thị Thuận
-Tổ trưởng tổ hành chính: Hoàng Thị Huyền
Tổ trưởng tổ hành
chính
Trang 29- Cơ sở vật chất của trường gồm 14 phòng học và có 12 phòng làm việc (Phòng hiệu trưởng, phòng phó HT, văn phòng, thư viện, thiết bị, y tế, âm nhạc,
mỹ thuật, tin học, ngoại ngữ, phòng kế toán, phòng đội) và có 2 nhà xe gần nhau
2.1.2 Đội ngũ giáo viên Trường Tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình
* Tổng số các bộ giáo viên, nhân viên: 26
- Biên chế: 24 và hợp đồng 02 ( 21 ĐH, 5 CĐ) trong đó:
+ Ban giám hiệu: 02 ( Hiệu trưởng: 01, PHT: 01)
+ Tổng số giáo viên: 20 ( trong đó: 19 biên chế, 01 hợp đồng tin học ) + GV- TPT: 01
+ Nhân viên: 03 ( trong đó: 2 biên chế TV- TB và y tế; 1 hợp đồng KT- VP)
(Theo báo cáo tổng kết năm học 2018-2019 của trường Tiểu học Đức Ninh Đông) [21]
* Trình độ giáo viên: Đạt chuẩn và trên chuẩn: 21/21- 100%
* So với biên chế có đủ biên chế
Đội ngủ GV có ý thức tốt trong việc tham gia các hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao năng lực, nghiệp vụ; mỗi một CB, GV, NV đã phát huy được tinh thần trách nhiệm để hoàn thiện nhiệm vụ được giao
Trường Tiểu học Đức Ninh Đông hiện có 26 cán bộ và GV Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, GV đều có trình độ chuyên môn khá cao, đều đạt chuẩn và trên chuẩn: 80,8% có trình độ đại học, 19,2% trình độ cao đẳng Hằng năm, số lượng cán bộ GV trẻ được bổ sung theo chỉ tiêu biên chế do Phòng Giáo dục và Đào tạo TP Đồng Hới quản lý Những năm gần đây có nhiều cán bộ GV đi thi GV dạy giỏi cấp thành phố và cấp tỉnh đạt được nhiều thành tích cao
Đa số GV nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức trách nhiệm cao,
có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có ý thức tự học, tự bồi dưỡng, tích cực đổi mới PPDH, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Tuy nhiên, một số
Trang 30GV còn chậm đổi mới phương pháp dạy học, chưa linh hoạt, chủ động và sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động dạy - học theo mô hình trường học mới
2.1.3 Đặc điểm HS ở trường Tiểu học Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới, Quảng Bình
Trường Tiểu học Đức Ninh Đông trong năm học 2018 - 2019 có tất cả 14 lớp với 439 HS Các em HS ở trường chủ yếu là con em nhà nông hoặc buôn bán nhỏ Việc học hành của HS ít được quan tâm từ phía gia đình, chủ yếu phụ thuộc vào sự giáo dục của thầy cô giáo Một số em HS có nhiều nét tính cách tốt như hồn nhiên, ham học, biết thương yêu bạn bè Tuy nhiên, nhiều em còn tinh nghịch, hiếu động, thích tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh, đặc biệt rất ham chơi, thích chơi nhiều hơn thích học do vậy việc giảng dạy của GV cũng gặp một số khó khăn nhất định
Mặc dù vậy, Ban giám hiệu và các thầy cô giáo trong trường đã cố gắng và giúp các em đạt được kết quả cao Trong năm 2017 – 2018, đã có trên 85% HS được khen về các mặt trong đó: HS hoàn thành xuất sắc các nội dung học tập và rèn luyện: 201 em (45.8%) và HS có thành tích vượt trội hay tiến bộ vượt bậc:
172 em (39.2%) Ngoài ra, HS của Trường còn đạt một số thành tích khác ở các cấp cao hơn như: thành phố (2 giải Tài năng Tiếng Anh (khối 5), 3 giải TDTT,
14 giải viết chữ đẹp, 2 giải giao lưu các câu lạc bộ) và cấp tỉnh (2 giải TDTT và
1 giải viết chữ đẹp) ( Theo báo cáo tổng kết năm học 2017-2018) [21]
2.2 Thực trạng nhận thức của GV về tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa
2.2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa
Thông qua bảng hỏi đối với 15 GV Trường Tiểu học Đức Ninh Đông về nhận thức đối với tầm quan trọng của GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa, tôi đã thu được kết quả như Bảng 1
Trang 31Bảng 1 Nhận thức của GV về tầm quan trọng GDBVMT thông qua các hoạt
động ngoại khóa tại trường Tiểu học
TT Mức độ Số lượng Tỷ lệ (%)
1 Rất quan trọng 12 70,6
2 Quan trọng 5 29,4
3 Không quan trọng 0 0
(Nguồn: Theo số liệu điều tra)
Từ kết khảo sát cho thấy hầu hết các GV đã đánh giá rất cao tầm quan trọng của việc tích hợp GDBVMT cho HS thông qua các hoạt động ngoại khóa tại Trường Tiểu học với 70,6% ý kiến GV cho rằng việc tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa tại trường Tiểu học là rất quan trọng Còn 29,4% ý kiến là quan trọng, không có ý kiến nào cho rằng việc tích hợp GDBVMT cho HS thông qua các hoạt động ngoại khóa tại Trường Tiểu học là không quan trọng Như vậy, có thể khẳng định thông qua các hoạt động giáo dục giúp HS được tiếp cận với môi trường một cách dễ dàng và thuận lợi
2.2.2 Nhận thức của GV về các mục tiêu của tích hợp GDBVMT
Vấn đề nhận thức về các mục tiêu cần đạt được trong GDBVMT là một điều kiện quan trọng để công tác tích hợp GDBVMT đạt được hiệu quả Theo kết quả khảo sát từ bảng hỏi về nhận thức của GV đối với các mục tiêu của tích hợp GDBVMT, tôi thu được kết quả như Bảng 2
Bảng 2 Nhận thức của GV về mục tiêu tích hợp GDBVMT cho HS
Mục tiêu của GDBVMT cho HS tiểu học Số
lượng
Thứ hạng
Hình thành những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp và nếp sống
Làm cho môi trường trong sạch để tăng cường sức khỏe 5 7 Giúp cho HS có những kiến thức nhất định về MT 7 5 Hình thành một số kĩ năng BVMT 9 4 Bồi dưỡng thái độ tích cực đối với MT 10 3 Xây dựng những hành vi đúng đắn đối với MT 14 2 Tạo cho HS có thói quen quan tâm đến những vấn đề MT
(Nguồn: Theo số liệu điều tra)
Trang 32Kết quả khảo sát cho thấy: các mục tiêu tích hợp GDBVMT được lựa chọn
có thứ hạng cao là: Hình thành những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp và nếp sống văn minh (thứ 1); Xây dựng những hành vi đúng đắn đối với MT (thứ 2); Bồi dưỡng thái độ tích cực đối với MT (thứ 3)
Trong khi đó, các mục tiêu tích hợp GDBVMT được lựa chọn có thứ hạng thấp là: Làm cho MT trong sạch để tăng cường sức khỏe (thứ 7); tạo cho HS có thói quen quan tâm đến những vấn đề MT (thứ 6); giúp HS có những kiến thức nhất định về MT (thứ 5)
Nhìn chung, việc xác định mục đích của công tác tich hợp GDBVMT cho HSTH chưa thống nhất, một số GV xác định tiêu chí mục đích chưa phù hợp với yêu cầu của GDBVMT cho HS tiểu học; cụ thể:
- Một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của tích hợp GDBVMT cho HS tiểu học là “Tạo cho HS có thói quen quan tâm đến những vấn đề MT”,
ở đây sự lựa chọn cho tiêu chí này được xếp thứ 6, gần cuối trong bảng tiêu chí đưa ra;
- Đa số GV ngành Giáo dục tiểu học đều xác định tiêu chí "Hình thành những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp và nếp sống văn minh", tiêu chí này được xếp hạng cao nhất trong khi đó, ở lứa tuổi HS tiểu học thì đây chưa phải là mục tiêu
2.2.3 Nhận thức của GV về các nội dung của tích hợp GDBVMT
Khảo sát sự hiểu biết của GV về các nội dung của công tác BVMT thông qua bảng hỏi, tôi thu được kết quả như Bảng 3
Trang 33Bảng 3 Nhận thức của GV về BVMT
TT Nội dung bảo vệ môi trường Số
lượng
Thứ hạng
1 Giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến
(Nguồn: Theo số liệu điều tra)
Kết quả khảo sát cho thấy đa số GV được khảo sát đều nhận thức đúng về các nội dung của công tác BVMT Điều này được thể hiện qua việc đa số GV đã lựa chọn tất cả các nội dung được liệt kê Tuy nhiên, một số GV mới chỉ hiểu việc BVMT thông qua một số nội dung nhất định, chủ yếu là các hoạt động liên quan đến việc xử lý hậu quả mà chưa nhận thức được sự quan trọng của việc phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường Cụ thể như sau các thứ hạng như sau: Giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến MT (4); Khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi MT (1); Khai thác, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ MT trong lành (3); Ứng phó sự cố MT (2)
2.2.4 Nhận thức của GV về hình thức tích hợp GDBVMT qua các hoạt động ngoại khóa
Vấn đề nhận thức về hình thức tích hợp GDBVMT cho HS Tiểu học là một điều kiện quan trọng để công tác tích hợp GDBVMT đạt được hiệu quả Theo kết quả khảo sát từ bảng hỏi về nhận thức của GV về hình thức tích hợp GDBVMT cho HS Tiểu học, tôi thu được kết quả như Bảng 4
Trang 34Bảng 4 Nhận thức của GV về hình thức tích hợp GDBVMT
thông qua một số hình thức ngoại khóa
Hình thức
Mức độ Biết Không biết
4 Tổ chức tìm hiểu về MT địa phương 17 100 0 0
5 Tổ chức hội vui học tập có nôi dung
GDMT 1 5,9 16 94,1 6.Tổ chức cho HS lao động, vệ sinh MT 17 100 0 0
7 Tổ chức cho HS trồng cây 17 100 0 0
8 Thi văn nghệ với chủ đề GDBVMT 11 64,7 6 35,3
9 Tổ chức cho HS thu gom rác thải 17 100 0 0
10 Tổ chức, hướng dẫn HS phân loại rác
thải 6 35,3 11 64,7
11 Tổ chức các trò chơi mang tính
GDBVMT 3 17,6 14 82,4
(Nguồn: Theo số liệu điều tra)
Kết quả khảo sát cho thấy, Nhận thức của GV về các hình thức tích hợp GDBVMT khá tốt Hầu hết, GV đều cho rằng nên sử dụng tất cả các hình thức
có thể để giúp HS có nhận thức tốt hơn về BVMT Song khi hỏi về quá trình thực hiện thì đa số GV đều chỉ sử dụng một phần trong các biện pháp và hình thức trên do gặp khó khăn trong khâu thực hiện nên để việc tiến hành tất cả các hình thức trên theo GV là khó có thể tiến hành được Đa số GV chỉ sử dụng
Trang 35được những hình thức đơn giản, thông thường, quen thuộc như: tổ chức cho HS lao động, vệ sinh MT, tổ chức cho HS thu gom rác thải, hướng dẫn HS phân loại rác thải Vẫn còn một tỉ lệ không nhỏ GV chưa đồng ý sử dụng các hình thức tích hợp GDBVMT nêu trên
Qua các kết quả khảo sát trên, có thể thấy rằng: các GV được khảo sát đều nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác tích hợp GDBVMT thông qua hoạt động ngoại khóa tại trường tiểu học Tuy nhiên, việc nhận thức về mục tiêu của công tác tích hợp GDBVMT và nội dung của vấn đề BVMT nhìn chung còn chưa đầy đủ và đồng bộ
2.3 Thực trạng triển khai tích hợp GDBVMT thông qua hoạt động ngoại khóa tại Trường Tiểu học Đức Ninh Đông
2.3.1 Thực trạng công tác quản lý, chỉ đạo và phối hợp trong tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa
a) Công tác quản lí chỉ đạo về tích hợp GDBVMT trong nội bộ trường Tiểu học Đức Ninh Đông TP Đồng Hới Quảng BÌnh
Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đến công tác giáo dục ý thức BVMT cho
HS tiểu học Đức Ninh Đông còn chưa đúng mức Việc tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác giáo dục ý thức BVMT cho HS vẫn còn mang tính hình thức, làm qua loa, chưa chú trọng đến chất lượng và hiệu quả của nó Một số cán bộ quản lý giáo dục chưa nhận thấy rõ vai trò và
trách nhiệm, còn xem nhẹ việc giáo dục ý thức BVMT cho HS Chưa chú trọng việc giáo dục ý thức BVMT cho HS Có những lúc, giáo dục ý thức BVMT đã
và đang bị các cấp buông lỏng cụ thể như sau:
Nhà trường có quan tâm đến việc tổ chức tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa cho HS bằng cách lồng ghép vào trong các buổi họp chuyên môn, trong cuộc họp hội nghị công viên chức đầu năm trường đã đưa ra được những nội dung, hình thức để GDBVMT Nhưng những nội dung thảo luận chỉ dừng lại ở mức qua loa, chưa chú tâm vào trọng điểm của nội dung tích
Trang 36hợp GDBVMT mà chỉ dừng lại ở hình thức đối phó, chưa có nội dung chỉ đạo
cụ thể, nội dung tích hợp qua từng phần còn hạn chế
- Việc bố trí cho HS đi thăm quan, tìm hiểu MT còn quá ít, các chuyên gia
về MT hầu như không có để mời nói chuyện
- Quy hoạch của nhà trường không hợp lý về các công trình vệ sinh do đó việc BVMT gặp nhiều khó khăn
- Hiệu trưởng có chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch nhưng thiếu chặt chẽ, chưa thường xuyên, chưa có những hoạt động mang tính đặc thù riêng của trường Hiệu trưởng của trường chưa quan tâm thường xuyên đến công tác GDMT trong trường mình Phần lớn cán bộ quản lí, GV và các tổ chuyên môn chưa quan tâm sâu sát đến việc tổ chức tích hợp kiến thức GDBVMT trong các hoạt động ngoại khóa, công tác tổ chức các điều kiện hỗ trợ, đặc biệt là cơ sở vật chất và cung ứng các tài liệu cho GV chưa chủ động, tích cực; kỹ năng giảng dạy về GDMT của đội ngũ GV còn yếu
- Lực lượng tham gia thường xuyên nhất trong hoạt động GDMT cho HS chủ yếu là GV chủ nhiệm, các GV bộ môn có tích hợp các nội dung GDMT và Đoàn thanh niên
- Trường học không chú trọng đến việc giáo dục ý thức tham gia giữ gìn, xây dựng cảnh quan nhà trường như thuê người làm vệ sinh lớp học, sân trường
mà không yêu cầu các học sinh phải chung sức vệ sinh góp phân xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp dẫn đến thái độ thờ ơ với xã hội, cộng đồng
-Chưa thực hiện tốt phương châm “Học đi đôi với hành” Trong tích hợp
GDBVMT GV bám chặt vào các yêu cầu của chuẩn kiến thức kỹ năng, việc tích hợp GDBVMT là vấn đề GV vẫn còn băn khoăn, e dè, sợ đi lệch mục tiêu bài dạy
b,Thực trạng công tác phối hợp với các tổ chức ngoài nhà trường trong hoạt động tích hợp GDBVMT
+ Quản lý việc phối hợp giữa nhà trường và các tổ chức bên ngoài Nhà trường thường phối hợp với chính quyền địa phương (ở địa bàn cư trú) tổ chức
Trang 37các hoạt động ngoài giờ lên lớp để GDMT cho HS Tuy nhiên, việc kết hợp giữa nhà trường và các lực lượng bên ngoài chưa thường xuyên
Đôi khi nhà trường và cha mẹ HS cùng phối hợp để tổ chức các hoạt động ngoại khóa có nội dung GDMT Tuy nhiên việc phối hợp không thường xuyên
và không nằm trong kế hoạch định kỳ của nhà trường
-Cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống, hệ thống xử lý nước, rác thải của địa
phương chưa được đầu tư đúng mức Công tác BVMT là vấn đề chưa được người dân quan tâm, hệ thống bioga ở các hộ gia đình còn chưa triệt để dẫn đến mùi hôi khó chịu ảnh hưởng đến việc học tập của HS, gây mất vệ sinh…Tất cả
những thực trạng trên đều tác động xấu và làm ô nhiễm MT
2.3.2 Các hình thức triển khai tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động ngoại khóa
Những hình thức triển khai tích hợp GDBVMT mà GV và HS trường tiểu học Đức Ninh Đông đã thực hiện được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 5 Các hình thức triển khai tích hợp GDBVMT cho HSTH của GV trường
tiểu học Đức Ninh Đông
3 Tổ chức nói chuyện chuyên đề về
4 Tổ chức tìm hiểu về MT địa
phương
2 lần trong 1 năm 17
5 Tổ chức hội vui học tập có nôi 3 lần trong 1 9