Riêng trong luận văn này, tôi lựa chọn cách gọi ngắn gọn là “Văn Miếu Hà Nội” để chỉ cả quần thể công trình với hai lý do: Thứ nhất, từ năm 1837, sau khi học đường Phủ Hoài Đức tức trườn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
ĐỖ THỊ TÁM
VĂN MIẾU HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1884-1945
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Phương Thảo
Hà Nội 2013
Trang 2CHƯƠNG 1: Tổng quan về Văn Miếu Hà Nội giai đoạn 1884 -1945 10
1.2 Văn Miếu Hà Nội dưới sự quản lý chính quyền thuộc địa Pháp
giai đoạn 1884-1945
18
CHƯƠNG 2: Quản lý, Tế lễ ở Văn Miếu Hà Nội giai đoạn
1884-1945
40
2.1.1 Quản lý Văn Miếu Hà Nội trước năm 1884 40 2.1.2 Quản lý Văn Miếu Hà Nội giai đoạn 1884-1945 42
Trang 32.2.1 Tế lễ ở Văn Miếu Hà Nội trước 1884 48 2.2.2.Tế lễ ở Văn Miếu Hà Nội giai đoạn 1884-1945 50
CHƯƠNG 3: Tu sửa Văn Miếu Hà Nội giai đoạn 1884-1945 61
3.1 Tu sửa Văn Miếu Thăng Long – Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử 61
3.2.1 Tính đặc thù của việc tu sửa Văn Miếu giai đoạn 1884-1945 65 3.2.2 Các đợt tu sửa Văn Miếu trong giai đoạn 1884-1945 69
PHỤ LỤC
Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội đầu thế kỷ XX qua hình ảnh
Một số văn bản, giấy tờ lưu trữ liên quan dến Văn Miếu Hà Nội
giai đoạn 1884-1945
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4VĂN MIẾU HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1884-1945
QUA TÀI LIỆU LƯU TRỮ
Từ lâu, Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long - Hà Nội đã trở thành đối tượng được nhiều học giả trong nước và quốc tế quan tâm, nghiên cứu Hiện đã
có rất nhiều tư liệu, sách, báo, bài nghiên cứu, luận văn, đề tài khoa học… viết
về Văn Miếu – Quóc Tử Giám trên nhiều góc độ khác nhau, trong các thời kỳ lịch sử từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XXI
Tuy nhiên, trong giai đoạn 1884-1945 (tức là từ khi Văn Miếu Hà Nội bị quân đội viễn chinh Pháp biến thành khu vực quân sự và đặt dưới sự quản lý của chính phủ bảo hộ Pháp cho đến khi đất nước giành được độc lập - chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia quản lý, bảo tồn Văn Miếu), do thiếu tư liệu nên việc nghiên cứu về Ngôi miếu vẫn còn những khoảng trống
Trong khi sưu tầm tư liệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, tôi đã phát hiện ra nhiều công văn, giấy tờ hành chính
Trang 5có liên quan đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám hiện đang lưu giữ trong các phông lưu trữ: Sở Địa chính và Nhà cửa Thành phố Hà Nội, phủ Thống sứ Bắc Kỳ, tòa Đốc lý Hà Nội, tòa Công sứ Hà Đông Nguồn sử liệu này đã giúp phát lộ nhiều thông tin mới về lịch sử của Văn Miếu Hà Nội trong giai đoạn 1884-1945 Vì thế, để có cách nhìn hệ thống và đảm bảo tính liên tục về thời gian và không gian trong quá trình nghiên cứu về Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long - Hà
Nội, tôi quyết định tìm hiểu kỹ về Ngôi miếu trong giai đoạn này và chọn Văn
Miếu Hà Nội giai đoạn 1884-1945 làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu:
Khi lựa chọn đề tài:
Văn Miếu Hà Nội giai đoạn 1884-1945 qua tài liệu lưu trữ
Tôi mong muốn đi sâu làm rõ những biến đổi của Văn Miếu trên cả phương diện công năng sử dụng và diện mạo công trình Trên cơ sở đó, khắc họa lại hiện trạng kiến trúc, việc quản lý, tu sửa, tổ chức tế lễ tại đây, cũng như làm rõ thái độ ứng xử của người Việt và chính sách hai mặt của chính phủ bảo
hộ Pháp đối với Văn Miếu Hà Nội nói riêng và các di tích khác ở Hà Thành nói chung trong giai đoạn 1884-1945 Qua đấy, chứng minh được vai trò và sự tồn tại liên tục của Văn Miếu Hà Nội trong tiến trình lịch sử Việt Nam
Cũng cần nhấn mạnh rằng: Từ xưa đến nay, tên gọi thông dụng của Ngôi miếu này thường được các nhà nghiên cứu sử dụng là “Văn Miếu - Quốc Tử Giám” Riêng trong luận văn này, tôi lựa chọn cách gọi ngắn gọn là “Văn Miếu
Hà Nội” để chỉ cả quần thể công trình với hai lý do:
Thứ nhất, từ năm 1837, sau khi học đường Phủ Hoài Đức (tức trường Quốc Tử Giám Thăng Long thời Nguyễn) bị dỡ bỏ để xây điện Khải Thánh thờ cha mẹ của Khổng Tử và các Tiên hiền thì toàn bộ khu vực này đã mất đi chức năng giáo dục và chỉ còn lại một chức năng duy nhất là nơi thờ tự1
1 Quốc sử quán triều Nguyễn (1963), Đại Nam thực lục, NXB sử học, Hà Nội, tập 19, tr 266
Trang 6Thứ hai, tên gọi “Văn Miếu” hay “Văn Miếu Hà Nội” là tên gọi chính thức của Ngôi miếu được sử dụng trong các công văn hành chính giai đoạn 1884-1945
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dưới thời quân chủ (giai đoạn từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XIX), các bộ
chính sử như: Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Đại Việt sử ký tục biên (tập thể tác giả triều Lê), Đại Việt sử ký tiền biên (Ngô Thì Sĩ), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục (Quốc sử quán triều Nguyễn)…đã ghi
chép lại nhiều sự kiện liên quan đến việc xây dựng, tu sửa, tế lễ và giảng dạy - học tập Nho giáo tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long - Hà Nội Các qui chế về thi cử, giám sinh, chế độ đãi ngộ tiến sĩ và mô tả về kiến trúc của Văn
Miếu – Quốc Tử Giám thời kỳ này cũng được ghi lại khá chi tiết trong các sách:
Kiến văn tiểu lục (Lê Quí Đôn), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy
Chú), Lịch triều tạp kỷ (Ngô Cao Lãng)…vv
Cuối thế kỷ XIX, các học giả Pháp bắt đầu quan tâm nghiên cứu về Ngôi
đền Năm 1887, G.Dumoutier xuất bản cuốn “Các ngôi chùa cổ ở Hà Nội” 2 mô
tả khá chi tiết toàn bộ kiến trúc Văn Miếu Hà Nội (kèm thêm bản dịch Pháp ngữ nội dung của bài ký khắc trên tấm bia Tiến sĩ khoa thi Đại Bảo 1442)
Đầu thế kỷ XX, ngày càng có nhiều các tác giả Việt Nam và quốc tế viết
về Văn Miếu Năm 1913, Léonard Arousseau đăng bài “Ngôi đền hòa bình”
(Văn Miếu Hà Nội) dài 12 trang trên tạp chí Đông Dương, thuật những gì ông
trông thấy khi đến thăm Văn Miếu Tác giả Nhật Bản Ito Chu Ta trên tờ nhật báo Tokyo Gakuho3 cũng có một bài mô tả về Kiến trúc Đông kinh, trong đó có nhắc đến Công trình kiến trúc Khổng giáo (Văn Miếu) Tác giả người Nga
Pôliacốp trong tác phẩm Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X-XIV còn đưa
ra nhiều luận điểm tỏ ý nghi ngờ về niên đại thành lập Văn Miếu (năm 1070)
2 G.Dumoutier (1887), Les pagodes de Hanoi, Etudes d’archéologie et d’épigraphie annamites.H.Scheneider,
hiện lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, M6585
3 Journal de la société Orientale, tome II, III, page 362-403
Trang 7Một số tác giả Việt Nam khác như: Trần Hàm Tấn, Trần Văn Giáp …cũng viết
nhiều bài giới thiệu khái quát về kiến trúc và 82 tấm bia tiến sĩ tại Văn Miếu Hà Nội đăng rải rác trên các tạp chí của Viễn đông Bác cổ Pháp
Từ sau năm 1975, đặc biệt là trong vòng 20 năm trở lại đây, ngày càng có
nhiều đầu sách, báo, luận văn viết về Văn Miếu – Quốc Tử Giám như: Quốc Tử
Giám và Trí tuệ Việt Nam (Đỗ Văn Ninh) giới thiệu về Trường Quốc Tử Giám
và giá trị của 82 tấm bia tiến sĩ, Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long – Một
biểu tượng của văn hoá Việt Nam (Đặng Đức Siêu, Nguyễn Quang Lộc) – cuốn
sách giới thiệu tổng quan về Văn Miếu dành cho khách du lịch, Văn Miếu –
Quốc Tử Giám và chế độ đào tạo tuyển chọn quan chức thời Lê sơ (Đặng Kim
Ngọc) đề cập đến vai trò giáo dục, đào tạo nhân tài của Quốc Tử Giám, Văn
Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long – Trường Nho học cao cấp (Nguyễn Thị
Hồng Hà) – đề tài nghiên cứu về việc giảng dạy – học tập Nho học tại Quốc Tử
Giám, luận văn Văn Miếu – Quốc Tử Giám và hệ thống Văn miếu, Văn từ, Văn
chỉ (qua tư liệu chủ yếu ở Hà Nội và khu vực phụ cận) của Đỗ Thị Hương Thảo
khảo cứu về hệ thống di tích Nho học tại Thăng Long xưa… Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết giới thiệu khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu – Quốc Tử Giám hoặc thân thế sự nghiệp của các danh nhân có tên trên bia tiến
sĩ đăng tải trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành khác
Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám từ khi
thành lập (1988) đến nay đã thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học: Văn Miếu
và hệ thống giáo dục khoa cử Nho giáo Việt Nam, Văn Miếu và việc lưu danh các danh nhân Việt Nam hiện đại, Các giải pháp quản lý, bảo vệ và tu bổ tôn tạo các di chỉ Nho học Việt Nam, Bảo tồn và phát huy giá trị 82 bia tiến sĩ; xuất
bản nhiều sách, tạp chí: Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long, Di sản Hán –
Nôm Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Văn Miếu – Quốc Tử Giám và chế độ khoa cử Việt Nam; tổ chức nhiều hội thảo khoa học như: Hội thảo Văn Miếu – Quốc Tử Giám và hệ thống di tích Nho học Việt Nam, Hội nghị khoa học các đơn vị quản
lý di tích Nho học Việt Nam, Hội nghị bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho
Trang 8học, Hội thảo khoa học về thân thế sự nghiệp của các Tế tửu, Tư nghiệp Quốc
Tử Giám: Nguyễn Nghiễm, Khiếu Năng Tĩnh, Nhữ Đình Toản …Nội dung của
các tư liệu này chủ yếu đi sâu nghiên cứu về lịch sử hình thành, phát triển của Văn Miếu – Quốc Tử Giám từ thời Lý đến đầu thời Nguyễn, kiến trúc ngày nay, việc bảo tồn phát huy giá trị và hệ thống các di tích, danh nhân Nho học
Như vậy, ngoại trừ một số mô tả khái quát về kiến trúc, bia tiến sĩ trong các tác phẩm của: Dumoutier, Arousseau, Trần Hàm Tấn, Trần Văn Giáp, Đỗ Văn Ninh,Trung tâm hoạt động VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám…, cho đến nay chưa hề có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về Văn Miếu Hà Nội dưới
thời Pháp thuộc Vì vậy, tôi hy vọng luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn về sự tồn
tại và thực trạng của Ngôi miếu trong giai đoạn 1884-1945
3 Đối tượng, phương pháp nghiên cứu
Như trên đã trình bày, đối tượng nghiên cứu của luận văn là Văn Miếu Hà
Nội giai đoạn 1884-1945
Không gian nghiên cứu là toàn bộ khuôn viên Văn Miếu, bao gồm cả 2 khu vực: khu ngoại tự (hồ Văn, vườn Giám) và khu nội tự (Văn Miếu và Quốc
Tử Giám) Tuy nhiên, trong giai đoạn 1884-1945, do trường Quốc Tử Giám đã
bị dỡ bỏ và chuyển thành nơi thờ tự nên trọng tâm nghiên cứu tập trung vào khu vực Văn Miếu trong mối liên hệ với hồ Văn, vườn Giám và cụm di tích Điện Khải Thánh, điện thờ Mẫu (hai công trình được xây dựng thời Nguyễn trên nền
cũ của trường Quốc Tử Giám)
Nguồn tư liệu chủ yếu được sử dụng trong luận văn là các công văn, giấy
tờ, bản đồ lưu trữ tiếng Pháp hiện lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và
và các tài liệu, hình ảnh có liên quan khai thác tại Trung tâm Viễn đông Bác cổ Pháp, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, thư viện Trung tâm hoạt động VHKH Văn Miếu - Quốc Tử Giám và một số thư viện khác tại Hà Nội
Luận văn được thực hiện theo qui trình và các phương pháp sau:
- Sưu tầm tài liệu liên quan đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long –
Hà Nội từ các nguồn: lưu trữ, chính sử và các kênh sử liệu khác
Trang 9- Thực hiện phê phán sử liệu (trong, ngoài), phân loại sử liệu theo từng loại hình riêng
- Trực tiếp dịch thuật toàn bộ khối tư liệu tiếng Pháp ra tiếng Việt
- Thống kê, phân loại các sự kiện lịch sử liên quan đến Văn Miếu Thăng Long - Hà Nội trong các tư liệu đã thu thập được theo từng nội dung cụ thể trên
cả hai lát cắt lịch đại và đồng đại
- Phân tích, tổng hợp nội dung các sự kiện liên quan đến Văn Miếu Hà Nội giai đoạn 1884-1945, so sánh, đối chiếu, kiểm tra tính chính xác của thông tin thông qua các các nguồn tư liệu chính sử, văn bia, bài nghiên cứu…viết về Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long - Hà Nội trong cả tiến trình lịch sử
- Đặt Văn Miếu Hà Nội trong bối cảnh lịch sử của thành phố Hà Nội và Việt Nam giai đoạn 1884-1945, kiểm chứng lại tính xác thực và logic của các sự kiện thu thập được
- Kết nối, tổng hợp, suy luận logic hệ thống thông tin, khắc họa lại thực trạng của Văn Miếu Hà Nội giai đoạn 1884-1945 theo từng chủ đề, trên cơ sở đó đưa ra các nhận xét, đánh giá riêng cho từng phạm trù nội dung; Cuối cùng rút
ra kết luận chung cho toàn bộ đề tài nghiên cứu
4 Đóng góp của luận văn
- Phản ánh số phận thăng trầm của Văn Miếu Hà Nội dưới sự quản lý của Chính phủ bảo hộ Pháp; làm rõ những chuyển biến của Ngôi miếu trên cả hai phương diện: công năng sử dụng và diện mạo công trình Qua đó chứng minh sự tồn tại liên tục của Văn Miếu Thăng Long - Hà Nội trong tiến trình lịch sử Việt Nam cũng như khẳng định vai trò của Văn Miếu Hà Nội nói riêng và Nho học nói chung trong lòng xã hội nước ta đầu thế kỷ XX
- Khắc họa lại hiện trạng: kiến trúc, thờ tự, quản lý, tu sửa và tổ chức tế lễ tại Văn Miếu Hà Nội 1945, cũng như phản ánh tinh thần đấu tranh bảo vệ di sản văn hóa dân tộc của nhân dân Hà thành và thái độ ứng xử của chính phủ bảo hộ Pháp đối với các di tích bản địa trong giai đoạn 1884-1945
Trang 10- Xác định niên đại của một số hiện vật, công trình kiến trúc tại Văn Miếu
và cung cấp nhiều số liệu hữu ích phục vụ việc lập các dự án, đề án tu sửa, tôn tạo Văn Miếu Hà Nội ngày nay
- Các giấy tờ, văn bản hành chính, hình ảnh lưu trữ trong phần phụ lục là những tài liệu quí để nghiên cứu về văn bản học và một số lĩnh vực khác
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn chia làm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về Văn Miếu Hà Nội giai đoạn 1884-1945
Chương II: Tu sửa Văn Miếu Hà Nội giai đoạn 1884-1945
Chương III: Quản lý, sử dụng Văn Miếu Hà Nội giai đoạn 1884-1945 Phần phụ lục của luận văn gồm các nội mô ̣t số hình ảnh và giấy tờ , văn bản hành chính lưu trữ liên quan đến Văn Miếu Hà Nội giai đoạn 1884-1945
Trang 11Chương I
TỔNG QUAN VỀ VĂN MIẾU HÀ NỘI
GIAI ĐOẠN 1884-1945
1.1 VĂN MIẾU THĂNG LONG - HÀ NỘI TRƯỚC NĂM 1884
Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ đầu Công nguyên Dưới thời Bắc thuộc, các quan lại nhà Hán như Nhâm Diên, Tích Quang, Sĩ Nhiếp đã cho
mở trường để truyền dạy lễ nghĩa Nho giáo nhằm phục vụ mục đích cai trị, đồng hoá Song trước khi biết đến Hán học, người Việt đã thừa hưởng của ông cha nhiều thành tựu của nền văn minh Đông Sơn rực rỡ Trên cơ sở của nền văn hoá
đó, Phật giáo – một tôn giáo du nhập từ Ấn Độ vào từ cuối thế kỷ I, đã được người Việt nhanh chóng tiếp nhận Trường lớp được mở trong các chùa chiền Vua Lý Thái Tổ từng theo học tại Lục Tổ (Bắc Ninh), thư viện Lạn Kha trong chùa Phật Tích cũng là một lớp học có tiếng4 Chấp nhận Phật giáo, chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo trong quá trình quản lý đất nước thời kỳ đầu độc lập nhưng người Việt không bài trừ Nho giáo Việc học chữ Nho từng bước được mở rộng Đến giữa thế kỷ XI, Nho giáo đã có vị trí nhất định trong xã hội nước ta
Sự kiện năm Canh Tuất (1070), vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu5, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa
4 Nguyễn Thừa Hỷ (2010) Văn hóa truyền thống – Một góc nhìn, Nxb Thông tin và Truyền thông, tr 348
5 Về niên đại ra đời của Văn Miếu Thăng Long năm 1070 có một số quan điểm sau:
Pôliacốp – học giả Nga trong tác phẩm Sự phục hưng của nước Đại Việt cho rằng: việc khẳng định Văn
Miếu được thành lập năm 1070 là sự ngụy biện lịch sử để chứng minh cho luận điểm: Nhà nước quân chủ Đại Việt ngay từ khi thành lập đã sử dụng Nho giáo làm công cụ chuyên chế (Ông cho rằng tất cả các vua Lý và quan đại thần trong triều đều là những môn đồ nhiệt thành của Phật giáo; việc Lê Văn Thịnh, người đỗ đầu trong khoa thi Minh kinh Bác học năm 1075 âm mưu giết vua là không giữ đạo “vua – tôi” theo lễ tiết Nho giáo và việc vua Lý Thánh Tông – người sáng lập ra phái Thảo Đường (một trong hai dòng phái Phật giáo lớn nhất ở Việt Nam) lại chính là người cho lập Văn Miếu thờ Khổng Tử là một điều khó tin Ông cũng nhấn mạnh: sự kiện vua Lý Nhân Tông (con trai Lý Thánh Tông) năm 1076 cho lập Quốc Tử Giám khi mới lên 4 tuổi lại càng khó tin hơn) Vì vậy, Pôliacốp ngả về quan niệm cho rằng Văn Miếu được thành lập năm 1156 (tức là trùng với niên
Trang 12cúng tế, cho Hoàng Thái Tử đến học6 và năm 1076, vua Lý Nhân Tông lập Quốc
Tử Giám, chọn quan viên văn chức biết chữ cho vào học là một mốc lịch sử quan trọng khẳng định việc người Việt đã chính thức chấp nhận Nho giáo và dùng Nho giáo làm công cụ để xây dựng, củng cố Nhà nước quân chủ Đại Việt Với chức năng: thờ tế Khổng Tử nhằm tôn vinh Nho giáo và giáo dục - đào tạo nhân tài cho đất nước, Văn Miếu – Quốc Tử Giám được các triều đại phong kiến đặc biệt quan tâm và nhanh chóng phát triển trở thành một trung tâm giáo dục lớn nhất đất nước
Thời Lý, Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã vừa là miếu Khổng vừa là trường học Đến thời Trần, quy mô trường lớp được mở rộng, Quốc Tử Giám đổi tên là Quốc học viện và nhanh chóng trở thành trung tâm giáo dục Nho học cao cấp
Năm 1236, vua Trần Thái Tông “cho Phạm Ứng Thần làm Thượng thư tri Quốc
Tử Viện, đưa con em văn thần và tụng thần vào học”7; năm 1253, tháng 9, xuống chiếu vời Nho sinh trong nước đến Quốc Tử Viện giảng Tứ thư, Ngũ
đại của sự kiện: năm 1156 vua Lý Anh Tông cho lập miếu thờ Khổng Tử ở phía Nam kinh thành Thăng Long/sự
kiện này đã được cả Đại Việt sử ký toàn thư và Việt sử thông giám cương mục chép lại )
Một số tác giả khác, dựa vào ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư: Năm 1070 vua Lý Thánh Tông cho
“tu Văn Miếu” (sửa Văn miếu) để cho rằng từ trước năm 1070, tại Thăng Long đã có Văn Miếu, đến năm 1070 chỉ “sửa” lại mà thôi Thậm chí có ý kiến cho rằng: Di chỉ của ngôi miếu thờ Khổng Tử do GS Trần Hàm Tấn phát hiện ra năm 1950 ở gần chùa Một Cột chính là nền móng của công trình này
Kết quả khai quật khảo cổ năm 1998 tại khu Thái học (nền cũ của Quốc Tử Giám xưa) cho thấy phần lớn hiện vật thời Lý, Trần thu được là các đồ gia dụng (bát, đĩa, chén) làm bằng sành sứ và đất nung Tuy nhiên, trong đó cũng có nhiều hiện vật liên quan đến các công trình xây dựng như: gạch, ngói, các mẫu trang trí kiến trúc (chim uyên ương) và một đoạn gỗ lim (kích thước 13 x 30cm), xác định bằng phương pháp C14 có niên đại C+-1000 năm, phỏng đoán là phần chân cột còn lại của một công trình kiến trúc thời Lý
Hiện nay, vẫn đang có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau về vấn đề niên đại thành lập của Văn Miếu Thăng Long Tuy nhiên cho đến nay, do vẫn chưa tìm được những chứng cứ lịch sử đủ sức thuyết phục nên dữ liệu: Văn Miếu được lập năm 1070 và Quốc Tử Giám được lập năm 1076 vẫn tạm được đại đa số các sử gia lựa chọn sử dụng chính thức trong nghiên cứu
6 Đại Việt sử ký toàn thư (1993), Nxb KHXH, Hà Nội, tập 1, tr 257
7Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục, tập 1, tr 457
Trang 13kinh8 Đến tháng 10 năm 1272, vua Trần Thánh Tông lại xuống chiếu tìm người tài giỏi, đạo đức, thông hiểu kinh sách làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám9
Đến thế kỷ XIV, Văn Miếu Thăng Long còn là nơi thờ các nhà Nho nổi tiếng người Việt Năm 1370, Tư Nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An (1292-1370), người làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội, được phong tặng là Văn Trinh Công hiệu Khang Tiết
và cho phối thờ tại Văn Miếu10 Năm 1371, Trương Hán Siêu, người xã Phúc
An, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, làm quan đến chức Gián nghị Đại phu
và Tham tri Chính sự cũng được vua Trần Nghệ Tông cho phối thờ tại Văn Miếu11 Năm 1380, Đỗ Tử Bình (chưa rõ người ở đâu) cũng được triều đình cho tòng tự tại Văn Miếu12 Về sau, chỉ còn Chu Văn An được thờ; Trương Hán Siêu
và Đỗ Tử Bình bị bỏ vì tư chất không đủ13
Sang thời Lê, việc giảng dạy – học tập Nho học được đặc biệt chú trọng
và phát triển đến đỉnh cao Văn Miếu – Quốc Tử Giám trở thành trung tâm giáo dục – đào tạo quan lại, trí thức Nho học lớn nhất đất nước Năm 1428, vua Lê Thái Tổ cho chọn con cháu các quan và con nhà thường dân tuấn tú vào Quốc
Tử Giám theo học Năm 1483, vua Lê Thánh Tông cho mở rộng kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám, đến năm 1484 lại xuống chiếu dựng bia Tiến sĩ đặt tại nhà Thái Học14 nhằm biểu dương hiền tài, khuyến khích việc học Năm 1693, triều đình cho phép các quan Quốc Tử Giám được ở ngay tại trường để tiện cho việc giảng dạy và quản lý Nho sinh Năm 1762, tiếp tục cho tu sửa trường Giám, qui mô trường lớp đủ cho 300 Nho sinh thường xuyên học tập và ở nội trú tại trường
8 Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục, tập 1, tr 476
9 Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục, tập 1, tr 501
10 Đại Việt sử ký toàn thư (1993), Nxb KHXH Hà Nội, tập 2, tr 152-153
11 Đại Việt sử ký toàn thư (1993), Nxb KHXH Hà Nội , tập 2, tr 153-156
12 Đại Việt sử ký toàn thư (1993), Nxb KHXH Hà Nội 1, tập 2, tr 167
13 Ngô Thì Sĩ (1997), Đại việt sử ký tiền biên, Nxb KHXH, Hà Nội, tr 470
14 Thái Học hay Thái Học viện là tên gọi của Văn Miếu – Quốc Tử Giám thời Lê
Trang 141.1.Bản đồ Thăng Long thời Lê15
Quốc Tử Giám trên bản đô Thăng Long thời Lê
15Trung tâm HĐ VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám (2000), Bản đồ Văn Miếu – Quốc Tử Giám (sưu tầm từ
nguồn tài liệu lưu trữ và bộ sưu tập bản đồ trưng bày tại Triển lãm “Chu trình phát triển 100 năm Hà Nội” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám năm 2000 của kiến trúc sư Pháp Pédelahore)
Trang 15Số lượng Giám sinh đỗ đạt trong các kỳ thi Đại khoa rất đông Chỉ tính riêng triều Lê sơ đã lấy đỗ gần 1000 Tiến sĩ, trong đó có 26 Trạng nguyên16
Thời Nguyễn, kinh đô đặt tại Huế Từ năm 1808, sau khi Văn Thánh miếu Huế được chuyển từ Long Hồ về xã An Ninh và Quốc Tử Giám Huế chính thức được xây dựng thì Văn Miếu Thăng Long - Hà Nội chỉ còn là Văn Miếu Bắc thành, Quốc Tử Giám Thăng Long trở thành trường học của phủ Hoài Đức
Năm 1827, vua Minh Mạng cho “tìm các ván khắc in Ngũ kinh, Tứ thư đại
toàn ở Văn Miếu Bắc thành đem vào Quốc Tử Giám Huế giữ để in thành
cũ) được tu sửa; việc giảng dạy – học tập tại đây kéo dài thêm một thời gian ngắn; đến trước năm 1837, học phủ Hoài Đức bị dỡ bỏ để xây điện Khải Thánh thờ cha mẹ Khổng Tử18 Kể từ đó cho đến năm 1884, Văn Miếu – Quốc Tử Giám chỉ còn chức năng thờ tự các bậc Tiên Thánh, Tiên Nho
Trải qua hơn 800 năm tồn tại, Quốc Tử Giám Thăng Long đã góp phần đào tạo hàng nghìn bậc đại khoa, hiền tài cho đất nước Trong số 130419 vị Tiến sĩ có tên trên bia Tiến sĩ hiện đặt tại Văn Miếu Hà Nội, hàng trăm người đã trở thành các vị quan đầu triều (Tể tướng, Thượng thư, Thị Lang, Đô Ngự sử…), hàng trăm người khác trở thành các vị Đại học sĩ, nhà giáo, nhà sử học… tài ba, quá
16 Đặng Kim Ngọc (2011), Chế độ đào tạo tuyển chọn và tuyển chọn quan chức thời Lê sơ, Trung tâm hoạt động
VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội, trang 121
17Quốc sử quán triều Nguyễn (1963), Đại Nam thực lục, Nxb Sử học, Hà Nội, tập 8, tr 176
18 Quốc sử quán triều Nguyễn (1963), Đại Nam thực lục, Nxb Sử học, Hà Nội, tập 19, tr 266
19 Trên 82 tấm bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám có ghi danh 1307 Tiến sĩ đỗ đạt trong các khoa thi từ
1442 đến 1779 Song trên thực tế có 3 người thi đỗ Tiến sĩ 2 lần Lần đầu, họ thi đỗ với thứ bậc không cao nên
đã đăng ký thi lại và thi đỗ Tiến sĩ lần thứ 2 Đó là: Nguyễn Nguyên Chẩn, Trịnh Thiết Trường và Nguyễn Nhân
Bị Do vậy trên thực tế chỉ có 1304 vị Tiến sĩ được khắc tên trên 82 bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám
Hà Nội
Trang 16nửa trong số hơn 200 vị sứ thần Việt Nam từng đi sứ Trung Quốc thời quân chủ
có xuất thân từ Giám sinh20
Không chỉ cung cấp đội ngũ quan lại thông qua con đường khoa cử, hàng năm trường Quốc Tử Giám còn làm nhiệm vụ tuyển chọn, bảo cử một đội ngũ đông đảo Giám sinh ưu tú để bộ Lễ bổ nhiệm vào bộ máy quan chức của triều đình21 Đây cũng là nơi in ấn, sách vở cung cấp cho các nhà học trong cả nước Đặc biệt, việc cho khắc tên những người đỗ Đại khoa trên bia Tiến sĩ đặt tại Văn Miếu để đề cao hiền tài không những có tác dụng khích lệ tinh thần học tập của Nho sinh đương thời cũng như hậu thế mà còn có tác dụng răn đe kẻ sĩ khi
ra làm quan phải “lấy chính trực mà đứng trong triều, lấy tiết liêm bắt mình giữ
Văn Miếu – Quốc Tử Giám được coi là hình mẫu của việc thờ tự, giáo dục Nho học trong cả nước Sự ra đời và hưng thịnh của Văn Miếu Thăng Long – Hà Nội mở màn cho hình thành và phát triển của cả một hệ thống đền, miếu Nho giáo, trường học, trường thi Nho học dày đặc từ trung ương đến địa phương24
20 Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Hà Nội (2010), “Hồ sơ 82 bia đá các khoa thi Tiến sĩ triều Lê – Mạc
(1442-1779) tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội” (Hồ sơ trình UNESCO công nhận 82 bia Tiến sĩ là Di sản Tư liệu
thế giới), Hà Nội, tr 5-7
21 Đỗ Thị Tám, Quốc Tử Giám trong tiến trình Lịch sử Việt Nam, Tạp chí Thế giới Di sản tháng 9/2011: Chiểu theo các qui định trong Khâm định Việt thông thông giám cương mục thì tính từ năm Thái Hòa 7 (1449) đời Lê Nhân Tông (Giám sinh có học lực, hạnh kiểm tốt được bổ làm Thuộc lại, Chuyển vận phó sứ ) cho đến năm đến năm Đức Nguyên 1 (1764) đời Lê Gia Tông (các Giám sinh đã trúng nhiều trường, làm việc ở Quốc Tử Giám 15
năm được quan Quốc Tử Giám bảo cử, bổ các chức Trưởng sử, Bạn độc, Tư nghị, Giảng dụ, Giám bạ ) thì số
lượng Giám sinh được bổ sung vào đội ngũ quan lại các cấp đã lên tới hàng nghìn người
22 Trích Văn bia khoa thi Tiến sĩ 1613 – hiện lưu tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội
23 Trích Văn bia khoa thi Tiến sĩ 1643 – hiện lưu tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội
24 Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục, tập 1, tr 175, 1004; dẫn lại trong Đặng Kim Ngọc, Chế độ đào tạo tuyển chọn quan chức thời Lê sơ, Trung tâm hoạt động
VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội 2011, tr 71-80 Cụ thể như sau:
- Năm 1070, vua Lý Thánh Tông lập Văn Miếu Thăng Long; năm 1414, Văn Miếu ở các châu huyện được nhà Minh cho thành lập Năm Quang Thuận 6 (1465), vua Lê định lệ tế ở Văn Miếu các trấn lộ; Năm 1692, Chúa Nguyễn lập Văn thánh miếu Huế; Năm 1803, vua Gia Long “sai các dinh trấn đều lập Văn Miếu”; Kết quả đến đầu thế kỷ XIX, khắp các tỉnh, trấn, huyện đều có Văn Miếu, khắp các làng, xã đều có Văn từ, Văn chỉ, Từ chỉ
Trang 17Mạng lưới di tích này không chỉ là nơi thờ tự Khổng Tử, vinh danh các nhà khoa bảng Việt Nam mà còn là nơi đã rèn rũa, đào tạo ra phần lớn hệ thống quan lại, trí thức Nho học cho Nhà nước quân chủ Đại Việt từ nửa cuối thế XI đến đầu thế kỷ XX
Có thể nói lịch sử Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long - Hà Nội từ năm
1070 đến năm 1884 đã trải qua 3 giai đoạn: từ một ngôi miếu Khổng – Trường học Nho giáo sơ khai đầu tiên mau chóng phát triển trở thành một Trung tâm thờ
tự - giáo dục Nho học lớn nhất đất nước rồi cuối cùng lại trở về là một Ngôi miếu thờ Nho học Song hành với quá trình đó là cả tiến trình hơn 8 thập kỷ người Việt tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, hội nhập các yếu tố đó vào nền tảng văn hóa bản địa để hình thành, phát triển nên nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: hiếu học, hiếu nghĩa, tôn sư trọng đạo, tôn trọng nhân tài…và bảo tồn, lưu truyền các giá trị đó từ đời này sang đời khác Chính những
di sản văn hóa tinh thần quí báu này đã trở thành nhân tố quan trọng giúp Văn Miếu Hà Nội vượt qua khói lửa chiến tranh thời kỳ thuộc Pháp để tồn tại đến ngày nay
- Tương tự như vậy, khởi thủy từ sự ra đời của Quốc Tử Giám Thăng Long năm 1076, đến năm 1253 triều đình cho lập Quốc học viện, năm 1281 lập nhà học ở phủ Thiên Trường, năm 1397 đặt học quan tại Kinh Bắc, Sơn Nam, Hải Đông; Trường, lớp được mở rộng khắp các vùng từ Kinh thành Thăng Long, lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình đến Thanh Hóa, Nghệ An; Cuối thời Lê, hầu hết khắp các phủ, lộ đều có trường công, khắp các làng quê đều có trường tư
Trang 191.2 VĂN MIẾU HÀ NỘI DƯỚI SỰ QUẢN LÝ CỦA CHÍNH QUYỀN BẢO HỘ PHÁP GIAI ĐOẠN 1884 – 1945
Về kinh tế, xã hội: Sau hai cuộc khai thác thuộc địa, tại Hà Nội xuất hiện
nhiều nhà máy phục vụ lợi ích công cộng (điện, nước, nước đá, sợi, rượu…), ngành tài chính ngân hàng ra đời; khu vực 36 phố phường làm ăn phát đạt, các khu phố Pháp xuất hiện, kinh tế ngoại thương phát triển Đi kèm với sự thay đổi
về kinh tế, cơ cấu xã hội cũng có những biến chuyển Bên cạnh tầng lớp thợ thủ công lành nghề cũ và sự xuất hiện của giai cấp công nhân, giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản, tầng lớp trí thức Hà Nội ngày càng đông đảo, tạo nên một bức tranh xã hội đa dạng, làm tiền đề cho các phong trào yêu nước, đấu tranh chống văn hóa ngoại lai trong lịch sử
Về chính trị, hành chính, luật pháp: Mặc dù sau Chỉ dụ Đồng Khánh 3
(1/10/1888) của triều đình Huế, Hà Nội mới chính thức trở thành một thành phố thuộc địa của Pháp, song ngay từ năm 1885, Pháp đã tiến hành tổ chức bộ máy cai trị trên đất Hà Thành25, Hội đồng Thành phố cũng được thành lập từ 19/7/1888 Thiết chế này lúc đầu bao gồm toàn người Pháp, do Pháp bổ nhiệm
và được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thống sứ Bắc kỳ và sự giám sát của
25 Hội đồng tư vấn thành phố Hà Nội được thành lập tháng 10/1885, đổi thành Hội đồng Thành phố (sau sắc
lệnh thành lập Thành phố Hà Nội là thành phố cấp I ngày 19/7/1888) Hoạt động của Hội đồng thành phố (cơ quan ban hành các văn bản hành chính) và Tòa đốc lý Hà Nội (bộ máy hành pháp, cảnh sát để thống trị và đàn
áp phong trào cách mạng) tồn tại đến năm tận năm 1945
Trang 20Toàn quyền Đông Dương - người có quyền hành gần như vô hạn, thâu tóm mọi hoạt động chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, luật pháp, hành chính…ở Việt Nam26 Về sau, trong bộ máy của chính quyền Thành phố cũng có một số đại biểu người Việt song họ hoàn toàn không có thực quyền; quyền hành thực sự tập trung trong tay người Pháp Các quan lại của triều đình Huế tại Hà Nội cũng chỉ là bù nhìn
Một bộ máy hành chính, luật pháp nặng nề với hàng loạt các qui định, luật
lệ từ luật dân sự, hình sự, thương mại, báo chí, thuế má, sở hữu, án lệ của Pháp quốc…đến hệ thống cảnh sát, mật thám được thiết lập để chi phối xã hội Hà Nội Nhiều công trình lịch sử - văn hóa của Thăng Long xưa (chùa Báo Ân,
chùa Báo Thiên, thành Hà Nội) bị “người ta cho phá tất để xây được các công
trình thể hiện sức mạnh của chính quyền thuộc địa”27 Người dân Hà Thành, trên danh nghĩa có quyền công dân và được luật pháp bảo vệ, song thực tế vẫn phải chịu sự xét xử tùy tiện dưới sự chi phối mật thám Pháp.Tuy nhiên, chính hệ
thống luật pháp thuộc địa này đã tạo ra cho người Hà Nội “hàng loạt công cụ để
tự bảo vệ mình Người dân biết sử dụng những công cụ ấy để chống chống lại tình trạng tước đoạt đất tràn lan hay chống lại một khoản thuế vô lý Cũng như sau này một số người đã khéo léo dùng chính những công cụ này để để chống lại Chính quyền thuộc địa từ bên trong”28
Về văn hóa, giáo dục: Sự xuất hiện của người Pháp kéo theo sự du nhập
nhiều yếu tố văn minh phương Tây: báo chí, phim ảnh, sân khấu, hội họa… cùng những thay đổi trong sinh hoạt, nếp nghĩ của người dân thị thành, đặc biệt
là sự thay đổi trong hệ thống giáo dục Ở Hà Nội, các trường Tây học xuất hiện
từ khá sớm: trường Pháp – Việt dạy chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp ở phố hàng Ngang được thành lập năm 1885, trường Thông ngôn ở phố hàng chiếu
26 Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nxb Văn học, Hồ Chí Minh, tr 128; P.MUS, Le destin
de l’Union Francaise, Paris, 1954, tr 317
27 Philippe Papin (2010), Lịch sử Hà Nội, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr 228
28 Philippe Papin (2010), Lịch sử Hà Nội, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr 219
Trang 21năm 1886, trường Hậu bổ năm 1897, trường Trung học đầu tiên năm 1900, trường Đại học Y khoa năm 1902, Viện Đại học Đông Dương năm 1907 Nền giáo dục phương Tây lúc đầu xuất hiện do nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục
vụ cho chính quyền bảo hộ nhưng càng về sau càng nhận được sự ủng hộ của
giới trí thức tiến bộ Hà Thành Các thành viên Đông Kinh Nghĩa thục đã sử
dụng chữ Quốc ngữ như một công cụ để truyền bá những tư tưởng mới trong quảng đại quần chúng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội29
Ngược lại, việc học chữ Nho ngày càng “giảm thiểu” Đến cuối thế kỷ XIX,
hệ thống giáo dục Việt Nam truyền thống ở Hà Nội vẫn được bảo lưu, song đến đầu thế kỷ XX chính thức bị xóa bỏ Sự kiện này được đánh dấu bằng việc chấm dứt kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc kỳ năm 1915, ở Trung kỳ năm 1918 và kỳ thi Hội cuối cùng năm 1919
Tại trung tâm thành phố Hà Nội30, “trường thi, biểu tượng của học vấn và
hoạn lộ cũng bị chia ra thành nhiều lô; khu vực dành cho thí sinh trước đây, người ta cho xây trụ sở cho đại diện của triều đình nhà Nguyễn tại nhượng địa,
Trước cảnh đất nước bị xâm lược và sự bất lực của triều đình nhà Nguyễn, các nhà Nho Hà Thành sa sút về cả thế lực và ý chí Dân chúng Hà Nội ứng xử với các vị quan lớn, bé của mình không xuất phát từ địa vị xã hội (vì thực tế họ chẳng còn quyền lực gì) mà xuất phát từ nhân cách và phẩm chất đạo đức cá nhân của từng người Đời sống và diện mạo Thăng Long xuất hiện sự phân hóa sâu sắc trong ứng xử của hàng ngũ quan lại32
29 Đinh Xuân Lâm (2010), Hà Nội trong cuộc vận động giải phóng dân tộc, Nxb Hà Nội, tr 119-121
30 Khu vực phố Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ngày nay chính là địa điểm trường thi Hương dưới triều Nguyễn
31 Philippe Papin (2010), Lịch sử Hà Nội, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr 228
32 Phan Huy Lê (chủ biên) (2012), Lịch sử Thăng Long – Hà Nội, Nxb Hà Nội, tập 2, tr 150
Trang 22Trong giới sĩ phu, “nhiều nhà Nho, thậm chí là các quan đã cầm đầu các
đấu tranh yêu nước trên cả hai hình thức đấu tranh vũ trang (phong trào Cần vương) và đấu tranh chính trị (phong trào Đông du) Song cũng có một số ít người tuy vẫn giữ khí tiết nhưng không đủ dũng khí để đứng lên kháng Pháp và dần an phận, thích nghi với cuộc sống đô thị mới Một số khác bắt với Pháp và
vì quyền lợi và danh vọng của bản thân đã trở thành những “thuộc hạ trung thành” của “Nhà nước Bảo hộ” như: Nguyễn Hữu Độ, Hoàng Cao Khải…Một
số khác nữa: bên ngoài là mệnh quan triều đình, cộng tác với thực dân nhưng bên trong vẫn ngấm ngầm ủng hộ các phong trào chống đối và khéo léo lợi dụng các chính sách của Pháp để bảo vệ người Việt trên một số lĩnh vực như: Nguyễn Trọng Hợp –Quyền Nha Kinh lược sứ Bắc kỳ
Trong giai đoạn 1884-1945, dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, xã hội Hà Nội
đã có thêm những sắc thái mới mẻ “Những diễn biến kinh tế đã làm đảo lộn cơ
cấu truyền thống cho phép giới trung lưu đạt một vai trò quan trọng hơn trong
xã hội Sự chuyển biến về chính trị, xã hội cũng đưa tới nhiều sự đổi thay… Qui chế phân chia đẳng cấp xã hội cũ căn cứ trên địa sản, qui chế xã hội mới căn cứ
theo kiểu phương Tây đã chấm dứt ưu thế cũ của giới sĩ phu Tuy nhiên, trong khi các giá trị giáo huấn đạo đức của nền giáo dục Nho học truyền thống chưa bị biến mất thì các nhà Nho Hà Thành có tinh thần dân tộc vẫn ít nhiều giữ lại được uy tín cũ35 Và họ chính là những người đi đầu trong việc phản đối chính quyền thuộc thuộc địa Pháp biến đổi mục đích sử dụng của Văn Miếu Hà Nội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
33 Devilliers Ph (2006), Người Pháp và người An Nam: Bạn hay thù? Bản dịch Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí
Minh, tr 429
34 Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nxb Văn học, Hồ Chí Minh, tr 206-207: Trong xã hội
Việt Nam thời Pháp thuộc, địa vị cao nhất thuộc về người Pháp, tiếp đến là người Việt nhập quốc tịch Pháp, người lai, người Á Đông hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt (Hoa kiều) rồi mới đến người An Nam
35 Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nxb Văn học, Hồ Chí Minh, tr 207
Trang 231.2.2 Những biến đổi về công năng sử dụng của Văn Miếu Hà Nội
giai đoạn 1884-1945
Sau khi chiếm thành Hà Nội (1882), để sớm bình ổn tình hình và triển
khai việc tổ chức cai trị, lực lượng quân viễn chinh Pháp tại đây đã tăng lên nhanh chóng: từ 4000 quân đầu năm 1883 lên đến 40.000 quân vào tháng 7/188536 Khu vực thành Hà Nội chật ních lính Pháp Vì “không có những doanh
đóng quân trong các ngôi chùa xung quanh hồ Hoàn Kiếm Văn Miếu Hà Nội cũng chịu chung số phận, bị biến thành khu vực quân sự vào năm 188438
Lý giải về việc quân đội ngang nhiên biến các khu vực thờ tự, những nơi trang nghiêm của người Việt thành trại lính, viên sĩ quan chỉ huy Pháp Rivière
trong lá thư trả lời Tổng đốc Hà Nội đã thản nhiên nói: “Tôi lấy làm tiếc rằng
ông đã viết cho tôi như sau:“Hành cung là nơi thờ Trời và kính Vua, đó không phải nơi đóng quân” Ở bên Pháp chúng tôi quý trọng binh sĩ Chính Thượng đế
đã ban chiến thắng cho quân đội và chính binh sĩ làm việc bảo vệ nhà vua Chỗ quân đội đóng tạm thời hiện nay không thể xúc phạm gì đến ngôi nhà của
Tuy nhiên, việc đóng quân của Trại lính Quảng Yên (trại lính khố đỏ), sau
đó là trường lính khèn tại Văn Miếu Hà Nội - một trong những ngôi miếu linh thiêng vào bậc nhất của người Việt (từ 1884 đến 1902) đã gây ra một làn sóng phản đối không chỉ trong dân chúng, quan lại bản xứ mà cả trong giới trí thức Pháp có mặt trong bộ máy của chính quyền bảo hộ tại Hà Nội
36 La politique de l’Indochine à l’époque coloniale, page 13, Source : Ecole Extrême Oriente Francaise Hà Nội
37 Phan Huy Lê (chủ biên) (2012), Lịch sử Thăng Long – Hà Nội, Nxb Hà Nội, tập 2, tr 57
38
Công văn của J Benoit – Công sứ Pháp tại Quảng Yên gửi Công sứ Toàn quyền tại Hà Nội ngày 27/3/1895,
Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N 0 2850, F97, tr 1), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
39 Đinh Xuân Lâm (2010), Hà Nội trong cuộc vận động giải phóng dân tộc, Nxb Hà Nội, tr 264 Trích nội dung
Thư của Rivière gửi Tổng đốc Hà Nội ngày 11/7/1882
Trang 24Bởi vậy, trong thời kỳ đầu chiếm đóng Hà Nội (1884 -1888), "để tránh
gây tình trạng quá căng thẳng với dân bản xứ nên hương án thờ vẫn được giữ nguyên và ban ngày dân bản xứ vẫn có quyền vào Văn Miếu tế lễ" 40
Số quân đồn trú tại Văn Miếu ngày càng đông, lúc cao điểm lên tới hai đại đội (gần 200 người)41 Đến tháng 7 năm 1888, doanh trại đã quá tải “Ngài Thiếu
tá Đồn trưởng (trại lính Quảng Yên)… đã làm đơn xin thêm 3 tòa nhà đủ rộng
nghị này và “ hứa sẽ trả lại chúng cho công việc tế lễ sau khi phía quân đội đã
Sau quyết định này, hầu hết các dãy nhà cổ trong Văn Miếu đã bị trưng dụng cho việc đóng quân Văn Miếu Hà Nội đã trở thành một trại lính thực thụ
Để đảm bảo bí mật quân sự, quân đội Pháp dùng áp lực cấm hoàn toàn không cho người Việt vào Văn Miếu tế lễ44 Tình trạng này kéo dài từ 7/1888 đến tận 13/4/1895
Với sự hiện diện của hàng trăm lính viễn chinh, kèm theo những nhu cầu xây dựng, ăn ở, tập luyện quân sự, Văn Miếu đã bị tổn hại không nhỏ
40Công văn của J Benoit – Công sứ Pháp tại Quảng Yên gửi Công sứ Toàn quyền tại Hà Nội ngày 27/3/1895,
Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N 0 2850, F97, tr2), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
41Công văn của J Benoit – Công sứ Pháp tại Quảng Yên gửi Công sứ Toàn quyền tại Hà Nội ngày 27/3/1895,
Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N 0 2850, F97, tr 3), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
42Công văn của J Benoit – Công sứ Pháp tại Quảng Yên gửi Công sứ Toàn quyền tại Hà Nội ngày 27/3/1895,
Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N0 2850, F97, tr 4), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
43
Công văn của J Benoit – Công sứ Pháp tại Quảng Yên gửi Công sứ Toàn quyền tại Hà Nội ngày 27/3/1895,
Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N0 2850, F97, tr 5), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
44 Công văn số 831 ngày 2/4/1895 của Sở quan hệ với người bản xứ gửi Đại tướng Tổng tư lệnh Quân đội viễn
chinh Pháp tại Đông Dương Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N0 2850, F97),Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
Trang 251.3 Bản đồ Hà Nội năm 187345
Văn Miếu Hà Nội trên bản đồ Hà Nội năm 1873
45Trung tâm HĐ VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám (2000), Bản đồ Văn Miếu – Quốc Tử Giám (sưu tầm từ
nguồn tài liệu lưu trữ và bộ sưu tập bản đồ trưng bày tại Triển lãm “Chu trình phát triển 100 năm Hà Nội” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám năm 2000 của kiến trúc sư Pháp Pédelahore)
Trang 26Điều này đã khiến dân chúng người Việt có thêm lý do để bất bình Nhiều
sĩ phu, quan lại bản xứ đã gửi đơn, thư khiếu nại xin trả lại Văn Miếu cho việc thờ cúng
Trước tình hình đó, đứng trên quan điểm cho rằng:“Chính sách thù địch
của chúng ta (Pháp quốc) đối với người An Nam có khuyết điểm nghiêm trọng
về hai mặt là kích thích các mối căm thù và buộc chúng ta phải tổn hao người của… Chỉ có một chính sách bảo hộ thành thật, thận trọng và kinh tế mới có thể giảm gánh nặng cho chính quốc, xoa dịu hận thù và chiếm được cảm tình của dân chúng”46, Jean Louis de Lanessan - Toàn quyền Đông Dương (giai đoạn 1891-1894) chủ trương thi hành một chính sách cai trị khá cởi mở Chính phủ bảo hộ đã áp dụng các biện pháp phân hóa, lôi kéo những quan lại và Nho sĩ người Việt, trong đó có việc tránh gây đụng đổ căng thẳng trong vấn đề chiếm đóng Văn Miếu Tiếp sau De Lanessan, Paul Doumert (Toàn quyền Đông Dương từ 1897 đến 1901) là người không tán đồng việc phá hủy các di tích lịch
sử văn hóa có giá trị47 nên vụ việc Văn Miếu ngày càng có điều kiện được giải quyết thuận lợi hơn
Lực lượng quân đội Pháp từng bước rút dần ra khỏi Văn Miếu Ngày 27/3/1895, J Benoit - Công sứ Pháp tại Quảng Yên đã gửi công văn đến Công
sứ Toàn quyền Pháp tại Hà Nội trình bày rõ:“Khi Văn Miếu đang bị trại lính
Quảng Yên chiếm đóng thì người Việt không dám phản đối việc cấm họ đến đây
còn hơn 1 tiểu đội” thì “các quan lại địa phương và dân bản xứ (dân làng
này cũng đề nghị: Chính phủ“đưa ra giải pháp phù hợp đáp ứng yêu cầu của
46 Philippe Papin (2001), Histoire de Hanoi, Paris , tr.224
47 Paul Doumer (1905) L’ Indochine francaise (souvenir), p 123, dẫn theo André Mason: Hanoi
48
Công văn của J Benoit – Công sứ Pháp tại Quảng Yên gửi Công sứ Toàn quyền tại Hà Nội ngày 27/3/1895,
Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N 0 2850, F97, tr 3), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
49Công văn của J Benoit – Công sứ Pháp tại Quảng Yên gửi Công sứ Toàn quyền tại Hà Nội ngày 27/3/1895,
Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N 0 2850, F97, tr 4), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
Trang 27quan lại và dân bản xứ trả lại Văn Miếu cho họ thờ cúng50” và nên từ bỏ dự
định thành lập kho quân lương tại Văn Miếu vì ngôi miếu này “vừa xa Thành
phố vừa xa bến thuyền51”
Tiếp nhận yêu cầu này, Viên chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp đã ra lệnh cho Đại uý Heiligmmercyer lập kế hoạch tách trại lính ra khỏi Văn Miếu52
Ngày 2/4/1895, Sở quan hệ với người bản xứ gửi công văn số 831 cho
Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp nói rõ quan điểm: "Ngôi chùa này bị
quân đội chiếm đóng từ 1884 đến 1888 Do yêu cầu bảo mật, quân đội đã cấm không cho người An Nam không được vào chùa nữa Biện pháp này tỏ ra không hợp lý Ngày nay số quân đồn trú trong trại lính Quảng Yên đã thu nhỏ lại, chỉ
mới Trước tình hình cụ thể này, tôi đề nghị ngài xem xét trả lại ngôi chùa cho bên dân sự để họ khôi phục việc tế lễ" 54
Sau khi nhận được công văn nói trên, ngày 13 tháng 4 năm 1895, Đại tướng Duchemin - Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương đã gửi công văn số 2574 cho Công sứ Toàn quyền Pháp tại Bắc Kỳ chính thức
thông báo việc: "Bên quân đội đồng ý cho khôi phục việc tế lễ tại Văn Miếu với
điều kiện chính phủ bảo hộ sẽ cho xây một bức tường chắc chắc chắn và kín để ngăn cách khu quân sự và khu chùa, tránh trường hợp người bản xứ thâm nhập vào khu quân sự" 55
50
Công văn của J Benoit – Công sứ Pháp tại Quảng Yên gửi Công sứ Toàn quyền tại Hà Nội ngày 27/3/1895,
Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N 0 2850, F97, tr 2), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
51Công văn của J Benoit – Công sứ Pháp tại Quảng Yên gửi Công sứ Toàn quyền tại Hà Nội ngày 27/3/1895,
Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N 0 2850, F97, tr 3), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
52Công văn của J Benoit – Công sứ Pháp tại Quảng Yên gửi Công sứ Toàn quyền tại Hà Nội ngày 27/3/1895,
Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N 0 2850, F97, tr 4), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
53 Dưới thời Pháp thuộc Văn Miếu Hà Nội còn được gọi là Chùa Quạ
54 Công văn số 831 ngày 2/4/1895 Sở quan hệ với người bản xứ gửi cho Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh
Pháp, Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N0 2850, F97, tr 7), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
55Công văn số 2574, ngày 13//4/1895 của Đại tướng Duchemin - Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương gửi cho Công sứ Toàn quyền Pháp tại Bắc Kỳ, Phông Tòa Công sứ Hà Đông ( N0 2850, F97, tr 9), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
Trang 28Như vậy đến tháng 4/1895, việc tế lễ tại Văn Miếu đã được cho phép khôi phục, tuy nhiên một phần của Ngôi miếu vẫn bị trại lính Quảng Yên chiếm đóng Lực lượng quân đội còn đóng chốt tại đây cho đến tận sau năm 1901
Cũng trong giai đoạn này, trường lính khèn Bắc Kỳ đã sử dụng khu đất ở Văn Miếu làm nơi luyện tập Ngày 6/3/1900, Công sứ Pháp tại Cầu Đơ đã gửi
Công sứ Toàn quyền Pháp tại Hà Nội bức công văn số 309 phản ánh việc: “Các
quan lại bản xứ phàn nàn về việc trường lính khèn chưa được chuyển đi Binh lính tại đây đã làm hư hại ngôi Chùa (Văn Miếu) mới được trùng tu và gây
Cũng ngay trong ngày hôm đó (6/3/1900), sau khi nhận được bức công văn nói trên, Công sứ Toàn quyền Pháp tại Hà Nội đã làm việc với bên quân đội
về việc di chuyển trường lính khèn đi nơi khác Thiếu tá Borgnis Desbordes – sĩ quan Cục hậu cần thuộc Bộ tổng tham mưu quân đội viễn chinh Đông Dương trong bức công điện số 2114 trả lời Công sứ Toàn quyền ngay trong ngày
6/3/1900 đã giải thích: "Chúng tôi nhận được quá muộn công văn của ngài để
kịp hoãn ngày khai giảng Trường hôm 5/3 lại… Chúng tôi xin hứa sẽ xem xét việc di chuyển sớm nhất có thể" 58
Mặc dù bên quân đội đã hứa như vậy nhưng thực tế cho đến tận quí III năm 1901, Trường lính khèn vẫn chưa đuợc chuyển đi nơi khác Ngày 23/09/1901, Desteway – đại diện Chính quyền, Công sứ Pháp tại Cầu Đơ lại gửi công văn số 1954 đến Công sứ Toàn quyền Bắc Kỳ và Công sứ Hà Nội (kèm theo đơn kiến nghị của quan lại Hà Nội) đề nghị Chính phủ lưu tâm giải quyết
56Công văn số 309 ngày 6/3/1900 của Công sứ Pháp tại Cầu Đơ gửi Công sứ Pháp tại Hà Nội, Phông Phủ
Thống sứ Bắc kỳ (N0 56737, TL 1078191, F94, tr 8), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
57Công văn số 309 ngày 6/3/1900 của Công sứ Pháp tại Cầu Đơ gửi Công sứ Pháp tại Hà Nội, Phông Phủ
Thống sứ Bắc kỳ (N0 56737, , TL 1078191, F94, tr 8), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
58Công văn số 2114 ngày 6/3/1900 của Thiếu tá Borgnis Desbordes – sĩ quan Cục hậu cần thuộc Bộ tổng tham mưu Quân đội viễn chinh Đông Dương gửi Công sứ Toàn quyền Pháp tại Bắc Kỳ, Phông Phủ Thống sứ Bắc kỳ
(N 0 56737, TL 1078191, F94, tr 9), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
Trang 29vấn đề binh lính Pháp tại Văn Miếu đã và đang tiếp tục gây ra nhiều hậu quả xấu cho Ngôi miếu vừa được trùng tu lại59 Ông cũng nhắc đến những “hậu quả
đáng chê trách” mà học sinh các trường học trong thành phố đã để lại sau khi
đến thăm Văn Miếu không theo ngày qui định60
Cuối cùng các đơn thư khiếu nại của người Việt cũng đã có hiệu quả Sau năm 1901, trường lính khèn đã được di chuyển ra khỏi khu vực Văn Miếu Song trên thực tế, Ngôi miếu vẫn chưa hoàn toàn được trả lại cho việc thờ cúng, tế lễ
Do dân số Hà Nội gia tăng quá nhanh61, người dân chưa có ý thức giữ gìn
vệ sinh, tình hình dịch tễ không đảm bảo nên dịch tả hoành hành hàng năm Thành phố trải qua hai đại dịch vào năm 1888 và 1914 Đầu năm 1903, dịch tả
và dịch hạch xuất hiện62 khiến nhiều người chết Văn Miếu một lần nữa bị trưng dụng làm bệnh xá để cách ly những người bị mắc dịch và nghi bị mắc dịch63 Sự kiện này kéo dài đến tận tháng 3 năm 1904, sau khi trại cách ly người bệnh mới được xây dựng xong tại Bạch Mai thì tất cả các khu nhà trong Văn Miếu mới được phun thuốc khử trùng và chính thức trả lại cho việc thờ cúng, tế lễ 64
Chưa hết, trong quá trình chiếm đóng, qui hoạch, xây dựng lại Hà Nội (1888-1940), vườn Giám và hồ Văn (khu ngoại tự của Văn Miếu) đã bị chia cắt khỏi địa phận Ngôi miếu; phần đất ở phía Bắc (thuộc khu vực Quốc Tử Giám xưa) cũng bị chiếm dụng để xây Bảo tàng Mỹ thuật, làm đường phố Duvillier
59 Công văn số 1954 ngày 23/9/1901 của Công sứ Pháp tại Cầu Đơ gửi Công sứ Toàn quyền Bắc Kỳ, Phông Phủ
Thống sứ Bắc kỳ (N0 56760, F94, TL 322275), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
60 Công văn số 1954 ngày 23/9/1901 của Công sứ Pháp tại Cầu Đơ gửi Công sứ Toàn quyền Bắc Kỳ, Phông Phủ
Thống sứ Bắc kỳ (N 0 56760, F94, TL 1078212), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
61 Dân số Hà Nội tăng nhanh chóng : từ 80.000 dân năm 1900, đến năm 1940 đã tăng gấp đôi lên 160.000, nguồn
Ủy ban dân số và kế hoạch hóa Hà Nôi
62 Văn Miếu Hà Nội và bệnh dịch hạch năm 1903, Shaun Kingsley Malarnay (Đại học Quốc tế Tokyo, Nhật
Bản), Tạp chí Xưa và Nay, số 215, VII-2004, tr 29
63 Bức điện tín số 1739 ngày 4/6/1903 và bức điện tín số 2158 ngày 10/9/1903 của Công sứ Pháp tại Cầu Đơn
gửi Công sứ Toàn quyền Pháp tại Hà Nội, Phông Sở Địa chính và Nhà cửa thành phố Hà Nội (N0 768, F94),Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
64Công văn số 734 ngày 21/3/1904 của Công sứ Toàn quyền Pháp tại Bắc kỳ gửi Công sứ Pháp tại Hà Đông,
Phông Sở Địa chính và Nhà cửa thành phố Hà Nội (N 0 768, F94, tr 17), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
Trang 30(tức đường Nguyễn Thái Học hiện nay)65 Trước những thay đổi đó, các sĩ phu
Hà thành lại tiếp tục gửi đơn, thư yêu cầu Chính phủ Bảo hộ Pháp hoàn trả lại những phần đất của Ngôi miếu đã bị chia cắt, chiếm dụng Kết quả đến giai đoạn
1940 - 1941, toàn bộ khu vực hồ Văn66, vườn Giám67 đã chính thức được Thành Phố Hà Nội trả lại cho Văn Miếu để người Việt trực tiếp trông coi, tu bổ và thờ
tự
Có thể nói: lịch sử Văn Miếu Hà Nội từ 1884 đến1945 là một giai đoạn
đầy sóng gió Sự thăng trầm của Ngôi miếu thể hiện rất rõ qua các mốc thời gian:
- Năm 1884, bị biến thành khu vực quân sự
- Từ 1884 đến 1902, nằm dưới sự kiểm soát của trại lính Quảng Yên và trường lính khèn Bắc Kỳ
- Từ 1902 đến 1904, bị biến thành trại cách ly người mắc dịch tại Hà Nội
- Từ 1888 – 1940: bị chiếm dụng, chia cắt mặt bằng diện tích trong quá trình qui hoạch lại Thành phố Hà Nội (hồ Văn, vườn Giám, phần đất phía Bắc của Văn Miếu)
Trước sự phản đối của dân chúng, sĩ phu Hà Thành và một số trí thức Pháp có tinh thần trân trọng di sản văn hóa ở Hà Nội, chính phủ bảo hộ Pháp đã từng bước nhượng bộ:
- Năm 1895, chuyển trại lính Quảng Yên ra khỏi Văn Miếu
- Năm 1902, di chuyển nốt trường lính khèn ra khỏi Văn Miếu
- Đầu năm 1904, trả lại Văn Miếu cho người Việt thờ cúng, tế lễ
65 Đào Thị Diến (2010), Hà Nội qua tài liệu lưu trữ, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Nxb Hà Nội, tập 1, trang
687 Trích nội dung Quyết định ngày 1/12/1945 của Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Trần Duy Hưng về việc đổi tên các đường phố Hà Nội từ tên tiếng Pháp sang tên Việt: đường Duvillier đổi tên thành đường Nguyễn Thái Học
66 Biên bản cuộc họp ngày 30/5/1940 của Hội đồng thành phố Hà Nội Phông Phủ Thống sứ Bắc kỳ (No 768, F94, tr 77), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
67 Biên bản cuộc họp ngày 27/2/1941 của Hội đồng thành phố Hà Nội Phông Phủ Thống sứ Bắc kỳ (No 768, F94, tr 81), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
Trang 31- Năm 1940, giao trả lại hồ Văn về cho Văn Miếu
- Năm 1941, tiếp tục chính thức trao trả vườn Giám
- Cho tu sửa Văn Miếu vào các đợt: 1888, 1897 – 1901, 1904 -1909 và rải rác từ 1923 đến 1945
Những sự kiện đầy biến động này vừa là sản phẩm của tính chất cai trị hai mặt của thực dân Pháp vừa là kết quả của tinh thần phản kháng bảo vệ di sản dân tộc của người Việt trong chiến tranh
1.2.3 Một số biến đổi về diện mạo của Văn Miếu Hà Nội
Thời Pháp thuộc, Văn Miếu Hà Nội nằm trên địa phận làng Thanh Giám, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội Địa danh này thường được nhắc đến trong nhiều tư liệu với cách gọi vắn tắt là “Văn Miếu” hoặc “Chùa Quạ”
Bonnal (Công sứ Pháp tại Hà Nội 1883-1885), trong hồi ký của mình có
kể lại rằng: tại Hà Nội lúc đó tới hơn 300 di tích, trong đó “Ngôi chùa Quạ
(Pagode des Corbeaux = Văn Miếu) là di tích lớn nhất và được bảo tồn nhất của Thành phố”68
Bác sĩ quân y Hocquard – người được cử đi theo đoàn quân do tướng Millot chỉ huy đến Hà Nội năm 1884 cũng đã tới thăm ngôi miếu thờ Khổng Tử
Ông viết, tại đó có “những loại cây nhiều năm tuổi lá sẫm màu (cây muỗm)…
Nhiều gia đình nhà quạ trú ngụ trên những cái cây này và chúng cứ thế sinh sôi nảy nở trong sự yên bình dưới sự che chở của nhà Triết học… Chính lũ quạ đã đem lại cho miếu thờ một cái một cái tên và người Pháp sống tại Hà Nội chỉ gọi
nó bằng một cái tên đặt là miếu/chùa Quạ”69
Trong tác phẩm của mình, G.Dumoutier cũng gọi Văn Miếu Hà Nội là
Chùa Quạ Cái tên hơi hoang dại này không những phần nào phản ánh tình trạng
“hoang hoá” của Ngôi miếu mà còn được dùng chính thức để chỉ Văn Miếu
68Nguyễn Thừa Hỷ chủ trì (2010) Tư liệu văn hiến Thăng Long- Hà Nội – Tuyển tập tư liệu phương Tây, Nxb Hà
Nội, tr 533.Trích Hồi ký về Hà Nội của Công sứ Pháp Bonnal (giữ chức Công sứ Hà Nội trong giai đoạn 1885)
1883-69Nguyễn Thừa Hỷ chủ trì (2010) Tư liệu văn hiến Thăng Long- Hà Nội – Tuyển tập tư liệu phương Tây, Nxb Hà Nội, tr 683-684 Trích trong bài Một chiến dịch ở Bắc Kỳ (Une campagne au Tonkin) của Hocquard (D)
Trang 32trong nhiều công văn hành chính giai đoạn 1884 - 1945 Trong cuốn sách “Văn
Miếu - Đền thờ Khổng Tử” xuất bản năm 1887, G Dumoutier đã miêu tả:
“Ngôi đền trải rộng trên một vạt đất rộng hình thang, bao gồm 5 khu
riêng biệt được ngăn cách bởi các bức tường có trổ cổng thông sang nhau Phía trên cổng lớn nổi rõ dòng chữ “Văn Miếu môn” màu vàng trên nền đỏ Hai bên phía trước bức tường bao ở mặt tiền có hai tấm bia bằng đá khắc chữ Hạ Mã đặt trong hai cái miếu nhỏ Qua cổng chính, chúng ta đến một khu vườn hình chữ nhật, phía bên phải khu vườn có một ngôi đền nhỏ thờ Thổ địa
Một chiếc cổng thứ hai dẫn đến một con đường rộng 2m lát gạch vuông chạy chính giữa các công trình kiến trúc đối xứng kiểu Trung Quốc Một chiếc cổng lớn trên nóc đỡ một chiếc lầu gác có mái cong và các cửa sổ hình tròn dẫn đến khu vườn thứ ba” 70
Mô tả này cho thấy, so với thời Lê, mặt bằng tổng thể của Văn Miếu Hà Nội vẫn là một khu đất hình thang, được chia ra làm 5 khu vực song cả 5 khu đều đã có tường gạch vồ bao quanh, nối với nhau bằng các cổng nhỏ (thời Lê chỉ
có 4 khu vực có tường bao, khu vực đầu tiên vẫn để trống) Diện tích Ngôi miếu
bị thu hẹp lại nhiêu71(xem sa bàn 1.2 trang 17 và 1.4 trang 34)
Kiến trúc của 2 khu vực đầu tiên có nhiều thay đổi lớn Ngay tại cổng chính đã xuất hiện thêm Tứ trụ và một chiếc cổng lớn (Văn Miếu môn) xây theo lối kiến trúc Tam quan triều Nguyễn, có Nghi môn (Tứ trụ) phía trước và một ngôi miếu thờ Thổ địa ở phía trong Trước giếng Thiên Quang, năm 1805, Tổng trấn Bắc Hà Nguyễn Văn Thành đã cho xây dựng thêm Khuê Văn Các với kiến trúc 2 tầng, 8 mái và 4 cửa sổ tròn tỏa ra 4 phương (xem phụ lục ảnh 2, 3,4, 6,9)
Khu vực thứ 3 (vườn bia tiến sĩ) hầu như vẫn được giữ nguyên “Choán
gần hết cả khu vườn này là một chiếc giếng lớn hình chữ nhật, xung quanh có
Trang 33xây tường, lan can trang trí gạch hình thoi Hai bên giếng, mỗi bên có một toà đình, trong có xây một bàn thờ bằng vôi vữa, luôn nghi ngút khói hương và hai
(xem phụ lục ảnh từ 10 đến 16)
Tương tự như vậy, khu thứ 4 (điện Đại thành) cũng không có gì thay đổi
so với các thời kỳ trước “Toà Điện Thánh bao gồm hai toà nhà xây song song
cách nhau một hành lang mở rộng khoảng 2m Hai bên tay phải và tay trái của sân là hai dãy nhà dài là nơi thờ Thất thập nhị hiền
Dãy nhà Bái đường của toà điện chính gồm 40 cột gỗ lim lớn, sơn son thếp vàng Mái nhà rất lớn được đặt trên tám vì kèo vững chắc có chạm trổ Đầu các vì kèo đều có hoạ tiết trang trí hoặc sơn thếp…
Dãy nhà thứ hai ở sau Bái đường (Điện Thánh) xây cao hơn vài bậc thềm luôn đóng kín bởi hàng loạt cánh cửa bức bàn nhỏ bằng gỗ, sơn son thếp vàng…Ở chính giữa Điện thờ một chiếc ngai thếp vàng rực rỡ, bên trong có đặt bài vị thờ Khổng Tử…Phía trước là hai hương án, đặt cách nhau một cái lư hương Bốn hương án song song xây bằng vôi vữa, trên có bài thờ Tứ Phối:
Nối giữa hai tòa nhà này là một lầu vuông, dựng trên 4 trụ gỗ, mái cong, lợp ngói mũi hài, mang phong cách kiến trúc thời Lê trung hưng tương tự như các công trình khác ở khu vực điện Đại Thành (xem phụ lục ảnh 29)
Riêng khu vực thứ 5 của Văn Miếu đã biến đổi hoàn toàn Trường Quốc
Tử Giám thời Lê với quy mô hàng trăm gian nhà đã bị dỡ bỏ để xây điện Khải Thánh (chỉ gồm hơn chục gian nhà)74 Ngôi miếu này “chiếm cả khu sân lớn
Trên hương án chính có đặt bài vị thờ mẹ Khổng Tử Trên các hương án song
72 G.Dumoutier (1887), Le Temple royal confucéenne de Hà Nội (Đền thờ Khổng Tử ở Hà Nội)
Angero.Impr A.Burdin et Cie, tr 7
73 G.Dumoutier (1887), Le Temple royal confucéenne de Hà Nội (Đền thờ Khổng Tử ở Hà Nội)
Angero.Impr A.Burdin et Cie, trang 10
74 Quốc Tử Giám triều Lê theo mô tả của Lê Quí Đôn trong Kiến văn tiểu lục gồm 2 dãy Tả-Hữu vu, 1 nhà Minh
Luân, 2 dãy Tam xá (6 dãy nhà), mỗi dãy 25 gian
Trang 34song xung quanh đặt bài vị của cha mẹ Trình Tử, Chu Tử, Mạnh Tử, Tăng Tử, Nhan Tử, Tử Tư, Trương Tử ” (phụ lục ảnh 32) Theo bản đồ Văn Miếu Hà Nội
do các kiến trúc sư người Pháp thực hiện (bản đồ do Voyer vẽ ngày 2/3/1899,
bản đồ L.Aurousseau đăng trên Tạp chí Đông Dương năm 1913, bản đồ do
Louis Belzacier vẽ năm 1935) thì điện Khải Thánh bao gồm hai dãy nhà ngói, chạy song song, nằm ở giữa phần sân giáp bức tường phía Bắc; phía trước điện
là chiếc sân lớn, hai bên đặt 4 chiếc nghiên mực cổ của trường Giám cũ; điện Khải Thánh có qui mô kiến trúc nhỏ hơn nhưng kết cấu thì gần giống với tòa nhà Bái đường và điện Đại Thành (xem sơ đồ 1.4 tr 34, 1.5 tr 36 và 3.1 tr 73)
Cũng tại khu vực này, ở giáp dải tường bao phía Tây Bắc, còn có thêm
một ngôi điện thờ Mẫu “Đó là miếu thờ bà Chúa Liễu Hạnh – người vốn là con
gái của Ngọc Hoàng Ngôi miếu này bị bức tường bao quanh che lấp và không
có gì đặc biệt Trên hương án bày các loại nón, hài, các vật làm bằng giấy, các
do quan huyện Vĩnh Thuận (một người theo đồng cốt) cho xây dựng vào khoảng năm 188876 Ngày 13 tháng 12 năm Thành Thái thứ 9 (tức ngày 05 tháng 01 năm 1898, ông Nguyễn Trọng Hợp – người đứng đầu Hội đồng quản lý Văn Miếu đã gửi đơn yêu cầu Thị trưởng Hà Nội cho dỡ bỏ ngôi đền này77 Đến năm
2000, khi cho tu bổ, tôn tạo khu Thái Học, Ban dự án Thành phố Hà Nội cũng
đã quyết định di chuyển điện Mẫu sang vị trí cạnh bức tường phía đông, giáp đường Nguyễn Thái Học78 nhưng cho đến tận nay, ngôi đền vẫn nằm nguyên tại
vị trí cũ và thậm chí còn được tu sửa khang trang hơn, thờ tự đầy đủ hơn
75 G.Dumoutier (1887), Le Temple royal confucéenne de Hà Nội (Đền thờ Khổng Tử ở Hà Nội)
Angero.Impr A.Burdin et Cie, tr 16
76 Thư của ông Nguyễn Trọng Hợp giữ gửi Thị trưởng Hà Nội ngày 13 tháng 12 năm Thành Thái thứ 9 (tức ngày
5 tháng 1 năm 1898), Phông Tòa Công sứ Hà Đông (No 2850, F97, tr 7), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
77 Thư của ông Nguyễn Trọng Hợp gửi Thị trưởng Hà Nội ngày 13 tháng 12 năm Thành Thái thứ 9 (tức ngày 5
tháng 1 năm 1898), Phông Tòa Công sứ Hà Đông (No 2850, F97, tr 7), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
78 Trong dụ án tu bổ khu Thái Học, Điện Mẫu dự kiên di chuyên sang góc tường phía Đông, giáp đường Nguyễn Thái Học nhưng vì yếu tố “tâm linh” không di chuyển nổi
Trang 36Như vậy, đến năm 1887, ngoài việc thờ tự các Tiên thánh Nho học tại điện Đại Thành từ nhiều thế kỷ trước, tại Văn Miếu Hà Nội đã có thêm điện Khải Thánh thờ cha mẹ Khổng Tử và các Tiên hiền, cùng hai ngôi đền thuộc tín ngưỡng dân gian của người Việt: đền thờ Thổ địa, điện thờ Mẫu
Hai mươi sáu năm sau tác phẩm “Đền thờ Khổng Tử”của Dumoutier, năm
1913, Claudius Madrolle – một tác giả người Pháp khác cũng để lại nhiều ghi chép, khẳng định lại những mô tả của Dumoutier về kiến trúc Văn Miếu Ông
viết: Văn Miếu nằm trên phần kéo dài của phố Borgnis với “bức tường bao chu
vi gần 900m… lối đi chính đền Văn Miếu là đuờng Sinh Từ…Văn Miếu bao gồm
5 sân được phân bởi những bức tường có trổ cửa và cổng… mỗi cửa có 3 cửa thông dẫn tới sân của ngôi miếu…Văn Miếu (nhà Bái Đường) đích thực là một tòa nhà rộng lớn, mái lợp trên 8 bộ khung xà, dựa trên 40 chiếc cột lớn sơn màu
đỏ, ở giữa là tấm bài vị của Khổng Tử, một bàn thờ sơn son thếp vàng… ở đằng sau, tòa nhà thứ hai (điện Đại Thành) có chứa những bài vị của các nhà Hiền triết Trung Hoa… Sân thứ 5 được bao quanh bởi những công trình xây dựng, trong đó có đền thờ các tổ tiên Khổng Tử, một tòa nhà dành cho các Nho sĩ và
Cũng trong năm 1913, Léonard Aurousseau, trong bài viết trên tạp chí Đông Dương đã gọi Văn Miếu là “Ngôi đền Hoà Bình” hay “Ngôi đền Đạo lý”
để phân biệt với “Ngôi đền chiến tranh” (Võ miếu) Ông nhận xét: Kiến trúc của
Văn Miếu ở vương quốc An Nam cũng được sao chép theo mẫu của Văn Miếu ở Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc nhưng có kích thước nhỏ hơn80
Năm 1935, khi nghiên cứu, khảo sát về các công trình kiến trúc cổ tại Bắc
kỳ, Louis Belzacier đã vẽ lại toàn bộ lược đồ Văn Miếu Hà Nội Bản vẽ của ông một lần nữa khẳng định lại các mô tả về kiến trúc Văn Miếu đầu thế kỷ XX
79 Nguyễn Thừa Hỷ chủ trì (2010), Tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội – Tuyển tập tư liệu phương Tây, Nxb
Hà Nội, trang 842-843.Trích bài Hà Nội và những vùng phụ cận (Hanoi et ses environs) của Madrolle (Claudius
Madrolle)
80 Temple de La Paix, Léonard Aurousseau Tạp chí Đông Dương, tập XX - Số ra từ tháng 07 đến tháng 11/1913
Trang 38So với diện mạo giai đoạn 1884-1945, kiến trúc Văn Miếu ngày nay cũng
biến đổi nhiều Tuy khuôn viên Ngôi miếu vẫn gồm 5 khu vực, bao quanh bằng tường gạch vồ, trải rộng trên diện tích hơn 5 ha song hiện trạng bên trong đã có những đổi thay: ngôi đền thờ Thổ địa ở sát cổng chính và 2 bàn thờ xây bằng vôi
vữa trong 2 đình bia đã hoàn toàn biến mất Bức hoành phi “Văn Miếu” treo
chính giữa phía trên hương án tại nhà Bái Đường thời kỳ trước đã được thay bức
“Vạn thế sư biểu” làm năm Đồng Khánh thứ 3 (1888)
Tại khu vườn bia, năm 1994, các tấm bia được sắp đặt lại ngay ngắn, nâng cao cốt nền lên 25cm, 8 tòa nhà che bia được xây dựng lại, hài hòa với không gian kiến trúc cổ của 82 tấm bia Tiến sĩ, giếng Thiên Quang, hai bi đình và lầu Khuê Văn các
Trên khu vực nền cũ của trường Quốc Tử Giám xưa, sau năm 1950, chỉ còn lại ngôi miếu thờ Mẫu nhỏ, tòa điện Khải Thánh đã bị thiêu hủy năm 1947 Tại đây, năm 2000, để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (1010 -2010), khu Thái học được phục dựng lại để thờ Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, các vị vua có công sáng lập Văn Miếu – Quốc Tử Giám, phát triển nền văn hóa, giáo dục Việt Nam như: Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông và tổ chức các sự kiện, hoạt động văn hóa nghệ thuật truyền thống của Hà Nội (xem
sa bàn 1.6 trang 39)
Tiểu kết
Thời Lý, Trần, Lê, Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long - Hà Nội giữ vai trò là Trung tâm thờ tự Nho giáo, giáo dục – đào tạo quan lại, trí thức Nho học lớn nhất Việt Nam thời quân chủ Đến đầu thời Nguyễn, Văn Miếu Hà Nội chỉ còn là Văn miếu hàng tỉnh, chức năng giáo dục giảm thiểu dần, rồi mất hẳn, song đây chính là nơi đã hun đúc, bảo tồn nhiều truyền thống quí báu có ý nghĩa quyết định đến sự tồn vong của Ngôi miếu sau này
Thời Pháp thuộc, trong giai đoạn 1884-1945, chịu chung số phận mất nước của toàn dân tộc, Văn Miếu cũng như nhiều công trình lịch sử văn hóa
Trang 39khác ở Hà Nội đã bị biến đổi mục đích sử dụng Văn Miếu Hà Nội lúc thì bị Quân đội Pháp biến thành trại lính khố đỏ, lúc thành trường lính khèn, khi lại bị biến thành bệnh xá, bị chia cắt, chiếm dụng đất để sử dụng vào các mục đích dân sự…vv
Những sự kiện này đã châm ngòi cho cuộc đấu tranh bảo tồn di sản của nhân dân Hà thành do các sĩ phu Hà Nội, Hà Đông dẫn đầu trong suốt 62 năm với hai giai đoạn nhỏ: từ 1884 đến 1902: yêu cầu quân đội Pháp rút quân ra khỏi Văn Miếu và trả lại Ngôi miếu cho người Việt thờ cúng; từ 1903 đến 1945: yêu cầu trùng tu và trả lại cho Văn Miếu những phần đất đã bị chính quyền bảo hộ chia cắt chiếm dụng trong quá trình qui hoạch lại Thành phố Hà Nội
Để tranh thủ sự ủng hộ của giới sĩ phu người Việt và thực hiện chính sách
“hợp tác – khai hóa”, chính phủ bảo hộ Pháp đã từng bước cho rút hết lực lượng quân sự ra khỏi Văn Miếu, trả lại cho Ngôi miếu chức năng thờ cúng (năm 1902), trả lại khu vực Hồ Văn, Vườn Giám (1940-1941), đồng thời nhiều lần cấp kinh phí tu sửa Văn Miếu81
Thời kỳ này, diện mạo Văn Miếu Hà Nội đã có nhiều thay đổi Mặt bằng diện tích bị thu hẹp về phía Bắc Trường Quốc Tử Giám đã bị dỡ bỏ Trong khuôn viên Ngôi miếu xuất hiện thêm một số công trình mới như: Tứ trụ, Văn Miếu môn, Khuê Văn các, điện Khải Thánh, đền thờ Thổ địa và điện thờ Mẫu và một số cánh cổng bằng sắt hiện đại bị thêm vào trong quá trình tu sửa
Như vậy, sự chuyển biến của Văn Miếu Hà Nội trong giai đoạn
1884-1945 không chỉ hiện hữu trong những biến đổi về mục đích sử dụng mà về phương diện kiến trúc, thờ tự cũng có đổi thay Các sắc thái đặc thù đó được phản ánh khá rõ nét trong quá trình quản lý, tu sửa và tổ chức tế lễ tại Văn Miếu
81 Từ 1884 đến 1945, Văn Miếu Hà Nội được tu sửa trong 4 đợt: năm 1888, 1897-1901, 1904-1909, 1910-1945