Nghiên cứu đi sâu tìm hiểu và phân tích cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm của Sơn Nam, một nhà văn miền Nam khá nổi tiếng với các tác phẩm như Hương rừng Cà Mau, Bà chú
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THU DUYÊN
TỤC NGỮ, CA DAO TRUYỀN THỐNG QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ VĂN XUÔI VIỆT NAM
ĐƯƠNG ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Dân gian
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THU DUYÊN
TỤC NGỮ, CA DAO TRUYỀN THỐNG QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ VĂN XUÔI VIỆT NAM
ĐƯƠNG ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Dân gian
Mã số: 60 22 36
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Chí Quế
Hà Nội - 2013
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Nhiệm vụ - mục đích của đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TỤC NGỮ, CA DAO TRUYỀN THỐNG 7
1.1.Tục ngữ truyền thống 7
1.2 Ca dao truyền thống 11
1.3 Phân biệt ca dao và tục ngữ 14
Chương 2 VIỆC SỬ DỤNG TỤC NGỮ QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI ĐƯƠNG ĐẠI 21
2.1 Việc sử dụng tục ngữ trong các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh 21 2.1.1 Về tần suất sử dụng 21
2.1.2 Về hình thức sử dụng 28
2.2 Việc sử dụng tc ngữ trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp 35
2.2.1 Về tần suất xuất hiện 35
2.2.2 Về hình thức sử dụng 38
2.3 Tục ngữ trong các tác phẩm của Hồ Anh Thái 41
2.3.1 Về tần suất xuất hiện 43
2.3.2 Về hình thức sử dụng 46
Chương 3 VIỆC SỬ DỤNG CA DAO QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI ĐƯƠNG ĐẠI 55
3.1 Ca dao trong các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh 55
3.1.1 Về tần suất xuất hiện 55
Trang 43.1.2 Về hình thức sử dụng 57
3.2 Việc sử dụng ca dao trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp 63 3.2.1 Về tần suất xuất hiện 63
3.2.2 Về hình thức sử dụng 65
3.3 Việc sử dụng ca dao trong các tác phẩm của Hồ Anh Thái 68
3.3.1 Về tần suất xuất hiện 68
3.3.2 Về hình thức sử dụng 69
Chương 4 CÁCH SỬ DỤNG TỤC NGỮ, CA DAO TRONG CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI ĐÃ KHẢO SÁT 74
4.1 Cách sử dụng tục ngữ 74
4.1.1 Sử dụng tục ngữ như một chuỗi lời nói 74
4.1.2 Sử dụng tục ngữ như “điển tích” cô đọng thay cho diễn đạt lời 77
4.1.3 Dùng như một “chân lý” 77
4.2 Về cách sử dụng ca dao 80
4.2.1 Sử dụng ca dao như trích dẫn 80
4.2.2 Sử dụng như một chuỗi lời nói 81
4.2.3 Dùng như lời nhân vật 82
4.2.4 Dùng như điển tích thay cho diễn đạt dài 83
4.2.5 Dùng như một chân lý 84
PHẦN KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Nằm trong nguồn chung của nền văn học Việt Nam, văn học dân gian đang có những bước chuyển mình để phù hợp với thời đại, để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển trong cái nôi văn hóa Việt Cũng như nhiều loại văn học khác, văn học dân gian đang tìm cho mình một lối đi riêng trước yêu cầu khắc nghiệt của xã hội hiện đại Khi nhiều hiện tượng khoa học được chứng minh, người ta tìm ra nguyên nhân của tự nhiên và bắt đầu cảm thấy những thần thoại cổ tích chỉ là nhảm nhí, là những câu chuyện chỉ để kể cho trẻ con
Văn học dân gian từ bao đời nay là suối nguồn vô tận cho các văn nghệ
sĩ sáng tác, chính vì thế nó có vai trò, ảnh hưởng và để lại dấu ấn khá đậm nét trong nhiều tác phẩm thuộc các loại hình khác nhau của văn học nghệ thuật
Sự tiếp nhận, và ảnh hưởng của văn học dân gian trong các tác phẩm văn học nghệ thuật đã diễn ra như một dòng chảy liên tục từ quá khứ đến hiện tại, ở nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau: văn học, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, báo chí, chèo…
Trong Văn học dân gian, tục ngữ ca dao đóng một vai trò vô cùng quan trọng Nó gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân Từ trước đến nay, việc sưu tầm nghiên cứu tục ngữ ca dao đã có khá nhiều công trình đề cập đến Tuy nhiên tìm hiểu, nghiên cứu tục ngữ ca dao truyền thống qua những tác phẩm văn xuôi vẫn còn khá ít ỏi và chưa đi sâu nhiều Đó là lý do vì sao chúng tôi chọn đề tài này với mục đích tìm hiểu kỹ hơn về ca dao tục ngữ truyền thống và sự xuất hiện của nó ở trong các tác phẩm văn xuôi đương đại Qua việc nghiên cứu này, chúng ta có thể thấy được một phần giá trị của tục ngữ ca dao truyền thống trong xã hội hiện đại cũng như thấy được ý nghĩa, vai trò của nó trong các sáng tác văn xuôi đương đại
Trang 62 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tục ngữ và ca dao là hai thể loại đặc sắc của văn học dân gian và được rất nhiều học giả quan tâm nghiên cứu trên nhiều bình diện khác nhau Chỉ tính riêng ở thư viện Quốc gia, đến ngày 31/5/2013, chúng tôi đã tìm được
428 kết quả với từ khóa “tục ngữ” và 408 kết quả với từ khóa “ca dao” Điều
đó để thấy rằng đây là hai lĩnh vực được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
và ưu ái
Chúng ta có thể kể ra như nghiên cứu của Bùi Văn Nguyên mang tên
Âm vang tục ngữ ca dao trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, (1980), Tạp
chí văn học, Hà Nội, số 3 Trong nghiên cứu của mình ông có đề cập đến sự ảnh hưởng của văn học dân gian nói chung và tục ngữ ca dao nói riêng trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi Ông cho rằng tục ngữ, ca dao có ảnh hưởng khá đậm đà trong những vần thơ của bậc danh nhân xưa Và đặc biệt qua đó người đọc đã nắm được niên đại xuất hiện của những câu ca dao tục ngữ đó Tác giả cũng khẳng định rằng: “Cách khai thác vốn cổ trong tục ngữ, ca dao của Nguyễn Trãi cũng linh hoạt sáng tạo” Ngoài việc lấy trọn vẹn cả từ lẫn ý, hoặc gần như trọn vẹn và có chỉnh lý chút ít thì Nguyễn Trãi còn vận dụng ca dao tục ngữ bằng cách lấy ý chính trong một câu ca dao dài, bằng cách rút gọn khuôn vào một câu thơ cách luật hoặc lấy ý chính qua hai câu khác nhau, ghép lại thành hai câu thơ cách luật đối nhau trong phần thực hoặc luận Cũng
theo phương pháp như trên, Bùi Văn Nguyên còn nghiên cứu Âm vang tục
ngữ ca dao trong Bạch vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, (Tạp
chí Ngôn ngữ, Hà Nội, số 4) và cũng chỉ ra được vai trò đặc biệt của ca dao tục ngữ trong các sáng tác của ông
Võ Quang Trọng cũng có bài nghiên cứu khá sâu sắc và tỉ mỉ về tục ngữ ca dao trong các tác phẩm thơ ca hiện đại qua hình thức biểu hiện của nó,
mang tên Tìm hiểu những hình thức biểu hiện của tục ngữ, ca dao, dân ca
Trang 7trong thơ ca hiện đại Việt Nam, (1987), Tạp chí Văn hóa dân gian, Hà Nội, số
3, tr31
Phải nói rằng có rất nhiều những nghiên cứu khác nhau khai thác tục ngữ ca dao trong các tác phẩm văn học viết từ thơ ca đến văn xuôi Gần đây thạc sĩ Dương Thị Thúy Hằng và TS Nguyễn Văn Nở cũng có một nghiên cứu
nhan đề Tìm hiểu cách vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong tác phẩm của Sơn
Nam (Nguồn Internet: Se.ctu.edu.vn) Nghiên cứu đi sâu tìm hiểu và phân
tích cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các tác phẩm của Sơn Nam, một nhà văn miền Nam khá nổi tiếng với các tác phẩm như Hương rừng Cà Mau,
Bà chúa Hòn, Xóm Bàu Láng…,
Qua bài viết tác giả đã đưa ra được những con số nghiên cứu khá chi tiết tần suất xuất hiện của thành ngữ tục ngữ trong những câu văn của nhà văn miền Nam Để từ đó tác giả đi đến kết luận: “Tóm lại, cách vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác của Sơn Nam khá phong phú và đa dạng Chúng
có thể được sử dụng nguyên dạng, cải biến hoặc vận dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ đi liền với nhau trong cùng một ngữ cảnh Cải biến vừa tạo ra những biến tấu thành ngữ, tục ngữ về phương diện cấu trúc hình thức vừa có biến tấu
về nội dung ý nghĩa Điều quan trọng là những thành ngữ, tục ngữ ấy dù được biến tấu ở phương diện nào thì chúng cũng lấp lánh chất phù sa của vùng sông nước Cửu Long, chúng góp phần quan trọng để tạo nên tên tuổi một Sơn Nam trên văn đàn của văn học Việt Nam hiện đại Và như đã nói, bất kì một cách diễn đạt, cách vận dụng nào cũng không đơn thuần là chuyện hình thức mà nó còn có cả nội dung Cách vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác của Sơn Nam đã mang đến trên từng trang văn của ông những giá trị biểu đạt to lớn và góp phần tạo nên phong cách ngôn ngữ tác giả.”
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy số lượng nghiên cứu về vấn đề mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết là không ít, và việc khảo sát sự
Trang 8xuất hiện của các câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong thơ đã có nhiều người
đề cập Tuy nhiên mảng tục ngữ, ca dao trong văn xuôi thì chưa được đề cập đến nhiều hoặc đề cập theo một hướng khác Và bài viết này mong muốn được góp một chút tìm hiểu của mình vào kho nghiên cứu của những người đi trước
3 Nhiệm vụ - mục đích của đề tài
Luận văn của chúng tôi không nằm bên ngoài nhiệm vụ của đề tài là tìm hiểu những câu tục ngữ, ca dao trong văn xuôi Việt Nam hiện đại qua việc thống kê sự xuất hiện của chúng trong những tác phẩm văn xuôi những năm gần đây của một số tác giả cụ thể Bằng việc đọc, khảo sát các văn bản văn xuôi, chúng tôi muốn tìm ra mục đích cũng như ý nghĩa của cách sử dụng các câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong các tác phẩm văn học Từ đó thấy được giá trị trường tồn của văn học dân gian trong xã hội hiện đại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi tập trung chủ yếu vào đối tượng là những câu tục ngữ ca dao truyền thống trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam đương đại Tuy nhiên vì khối lượng các tác phẩm văn xuôi là vô cùng lớn nên trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi khảo sát một số tác phẩm văn xuôi của một số tác giả nhất định đặc biệt là những tác phẩm có sử dụng tục ngữ ca dao với tần suất nhiều Cụ thể là luận văn của chúng tôi chủ yếu đi khảo sát những tác phẩm văn xuôi của ba nhà văn là Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Xuân Khánh và Hồ Anh Thái Đây là ba nhà văn đương đại với những tác phẩm có tiếng vang khá lớn và được nhiều bạn đọc quan tâm trong những năm gần đây Trong số các sáng tác của ba tác giả trên, chúng tôi có đọc và chọn lọc một số tác phẩm để nghiên cứu và không khảo sát trên tất cả các tác phẩm của
cả ba nhà văn Đối tượng mà chúng tôi chọn là những tác phẩm tiêu biểu có
sử dụng tục ngữ ca dao với tần suất nhiều
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp, bao gồm: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phân loại, phương pháp liên văn bản Các phương pháp này được chúng tôi sử dụng như sau:
Trước hết, chúng tôi tìm tài liệu, chọn lọc những tài liệu cần thiết phục
vụ cho việc nghiên cứu lý thuyết về tục ngữ và ca dao cổ truyền, sau đó là đọc, nghiên cứu tài liệu
Tiếp đó, chúng tôi tìm những tác phẩm văn xuôi đương đại, đọc và lọc
ra những tác phẩm có tần suất sử dụng nhiều các câu ca dao, tục ngữ Từ đó chúng tôi tìm kiếm các câu tục ngữ, ca dao cổ truyền được sử dụng trong các tác phẩm đó
Từ việc tìm được những câu ca dao, tục ngữ xuất hiện trong các tác phẩm đã đọc, chúng tôi thực hiện thao tác phân loại và lập bảng thống kê những câu ca dao, tục ngữ truyền thống xuất hiện ở dòng nào trang nào của từng tác phẩm
Sau khi lập được bảng thống kê chúng tôi đi nghiên cứu, so sánh, tổng hợp và đưa ra những nhận định của mình
6 Cấu trúc của luận văn
Luận văn của chúng tôi ngoài phần mở đầu và kết luận còn có phần nội dung bao gồm bốn chương với cấu trúc như sau:
Chương 1 Khái lược về tục ngữ, ca dao truyền thống
1.1 Tục ngữ truyền thống
1.2 Ca dao truyền thống
1.3 Phân biệt tục ngữ và ca dao truyền thống
Chương 2 Việc sử dụng tục ngữ qua những tác phẩm văn xuôi đã khảo sát 2.1 Việc sử dụng tục ngữ trong các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh
2.2 Việc sử dụng tục ngữ trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
Trang 102.3 Việc sử dụng tục ngữ trong các tác phẩm của Hồ Anh Thái
Chương 3 Việc sử dụng ca dao qua những tác phẩm văn xuôi đã khảo sát 3.1 Việc sử dụng ca dao trong các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh
3.2 Việc sử dụng ca dao trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
3.3 Việc sử dụng ca dao trong các tác phẩm của Hồ Anh Thái
Chương 4 Ý nghĩa của việc sử dụng tục ngữ, ca dao trong những tác phẩm văn xuôi đương đại
4.1 Ý nghĩa của việc sử dụng tục ngữ, ca dao trong các sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh
4.2 Ý nghĩa của việc sử dụng tục ngữ ca dao trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
4.3 Ý nghĩa của việc sử dụng tục ngữ ca dao trong các sáng tác của Hồ Anh Thái
Trang 11PHẦN NỘI DUNG Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TỤC NGỮ, CA DAO TRUYỀN THỐNG
1.1.Tục ngữ truyền thống
Về khái niệm tục ngữ, cho đến nay đã có khá nhiều tác giả với các công trình nghiên cứu có nhắc đến khái niệm này Đầu tiên phải kể đến là định nghĩa tục ngữ của nhà nghiên cứu văn học Dương Quảng Hàm trong cuốn
Việt Nam văn học sử yếu, cuốn sách được coi là cuốn văn học sử phổ thông
bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam Ở cuốn sách này, ngay trong chương thứ nhất, ông có viết về tục ngữ khá chi tiết, từ định nghĩa, nguồn gốc xuất hiện đến các biểu hiện hình thức của nó Trước hết về định nghĩa, ông cho rằng: “Tục ngữ - (tục là thói quen có đã lâu đời, ngữ: Lời nói) là những câu nói gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành tự đời xưa rồi do cửa miệng người đời truyền đi” Và ông chia nguồn gốc tục ngữ ra làm hai loại, một là bắt nguồn từ những câu nói thường ngày do một người phát ra có ý, lại gọn ghẽ rồi được người khác nhắc lại và truyền tới bây giờ, sau đó không biết tác giả là ai Hai
là những câu tục ngữ có nguồn gốc từ trong bài thơ, bài ca nhưng có ý đúng, lời hay nên người ta truyền đi mà thành tục ngữ Xét về hình thức Dương Quảng Hàm chia tục ngữ ra thành hai loại; Thứ nhất là những câu không vần với lối đặt đối nhau kiểu như: “No nên bụt, đói nên ma”, hoặc không đối nhau kiểu như: “Mật ngọt chết ruồi”… Loại thứ hai là những câu có vần, vần ở đây chủ yếu là yêu vận tức là vần ở lưng chừng câu Ở loại này, Dương Quảng Hàm căn cứ vào nội dung mà chia thành 4 kiểu, đó là những câu tục ngữ thuộc về luân lý, những câu tục ngữ thuộc về tâm lý người đời, mô tả thế thái nhân tình, những câu tục ngữ thuộc về phong tục và còn lại là những câu tục ngữ thuộc về thường thức bao gồm những câu nói về thời tiết, canh nông, thổ sản, …
Trang 12Tuy nhiên nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan trong cuốn
Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam, do nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn ấn hành,
năm 2008, thì lại cho rằng định nghĩa của Dương Quảng Hàm về tục ngữ chưa được rõ lắm vì như vậy sẽ gây ra sự mập mờ giữa ranh giới tục ngữ và thành ngữ Để làm rõ thêm khái niệm tục ngữ, Vũ Ngọc Phan định nghĩa:“Tục ngữ là một câu tự nó diễn tả trọn vẹn một ý, một sự nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán”, hay nói một cách khác thì tục ngữ là một loại văn học dân gian mà dù ngắn đến đâu cũng đã là một câu hoàn chỉnh; là một thể loại sáng tác “ngang hàng với các thể loại ca dao, dân ca, tuy tác dụng của nó khác” với ca dao và dân ca Và ông kết luận “tục ngữ đã được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, về sản xuất từ rất lâu đời, nó là những câu đúc kết những nhận xét đã được nhiều người thừa nhận để hướng dẫn con người ta trong sự nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc đời Tóm lại, tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công
lý để nhận xét về con người vũ trụ Trong tục ngữ đôi khi có cả thành ngữ, và ông lấy ví dụ, chẳng hạn như: “Chồng yêu xỏ chân lỗ mũi” thì “xỏ chân lỗ mũi” là thành ngữ
Và như vậy có thể đúc kết lại, tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh, thể hiện kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động, sản xuất, xã hội), được nhân dân ta vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hằng ngày và đây là một thể loại văn học dân gian Có thể lấy ra đây một số ví dụ về tục ngữ như các câu: “ Miệng ông cai, vai đầy tớ”, “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, hay “Trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã hay”…
Nhà văn Vũ Ngọc Phan cũng đưa ra nhận xét rằng “tục ngữ được ra đời
từ rất sớm” Nó nảy sinh từ trong quá trình lao động sản xuất của con người,
Trang 13qua thời gian dài được sửa sang bởi chính lời ăn tiếng nói của người dân mà hình thành và truyền miệng cho đến ngày nay Cụ thể hơn, ông còn cho rằng tục ngữ thường có hai nghĩa là nghĩa đen và nghĩa bóng, nó có “tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý” Khác với Dương Quảng Hàm cho rằng tục ngữ chủ yếu có vần lưng (yêu vận), Vũ Ngọc Phan khẳng định “ đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ” Về hình thức đối của tục ngữ cũng được ông nghiên cứu rất sâu và rõ ràng Ông cho rằng hình thức đối của tục ngữ gồm có đối thanh và đối ý với các kiểu suy luận: “… liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.” Và ông khẳng định: “Xét về cả hai mặt nội dung và hình thức, tục ngữ là một loại văn học dân gian đã phát triển trước ca dao.”
Cuốn Văn học Dân gian Việt Nam do GS.TS Lê Chí Quế chủ biên, nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội in lần thứ 6 năm 2004, cũng có nhắc đến khái niệm tục ngữ với tư cách là một thể loại độc lập của bộ môn Văn học Dân gian Ở phần viết của mình, giáo sư Lê Chí Quế cho rằng: “Tục ngữ là một đơn vị thông báo có tính nghệ thuật.”… nó còn là “một hình thái ý thức
xã hội phản ánh sự tồn tại khách quan (thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy)”
Và “dù một câu tục ngữ đơn giản nhất cũng có tính chất nghệ thuật” Tuy nhiên hình tượng nghệ thuật ở đây còn thô sơ và tính độc đáo của nó là nặng
về lý trí hay nói cách khác, tục ngữ là một dạng văn học đặc biệt…” và ông dẫn lời của giáo sư Cao Huy Đỉnh, đó là “văn học đúc kết kinh nghiệm” Đồng ý với quan điểm của nhà văn Vũ Ngọc Phan, giáo sư Lê Chí Quế cũng cho rằng tục ngữ có hai nghĩa là nghĩa đen và nghĩa bóng Ông cũng nói kỹ hơn về cội nguồn xuất hiện của tục ngữ; một là “trên cơ sở đời sống lao động,
Trang 14sản xuất, chiến đấu của nhân dân từng vùng, từng dân tộc”; hai là “được rút ra hoặc tách ra từ các sáng tác dân gian khác”; và ba là nó xuất hiện từ “quá trình dân gian hóa những lời hay ý đẹp của các nhà tư tưởng văn hóa, các nhà hoạt động nổi tiếng của các thời đại” Ngoài ra ông cũng cho rằng, nội dung phản ánh của tục ngữ là vô cùng phong phú, nó bao gồm sự phản ánh những kinh nghiệm trong lao động sản xuất của nhân dân, phản ánh các giai đoạn phát triển của lịch sử, những phong tục tập quán sinh hoạt của người dân trên các vùng quê khác nhau Nó cũng thể hiện chủ nghĩa nhân văn và cách ứng xử của nhân dân lao động và cuối cùng ông cho rằng nội dung của tục ngữ còn chứa đựng những yếu tố triết học thô sơ
Cũng trong cuốn sách này, ông còn nhắc đến nghệ thuật của tục ngữ
Đó là cách “dùng hình tượng cụ thể để nói lên một ý niệm trừu tượng, dùng cái cá biệt để nói cái phổ biến” Ngoài ra tục ngữ còn có các biện pháp liên tưởng ví von, biện pháp nhân cách hóa và một số biện pháp khác dựa trên đặc thù ngôn ngữ dân tộc Cuối cùng ông đưa ra kết luận: “Tục ngữ là thể loại đặc biệt trong sáng tác dân gian” và có tính chất “nói ít hiểu nhiều.”
Xét về mặt thuật ngữ thì cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá
Hãn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên, do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2006, định nghĩa tục ngữ như sau: Đó là “một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh dễ nhớ, dễ truyền, ví dụ: Tre già măng mọc, nói ngọt lọt tận xương… Về nội dung, tục ngữ là sự kết tinh kinh nghiệm và tri thức thực tiễn vô cùng phong phú và quý giá của nhân dân Không một lĩnh vực nào của đời sống và cuộc đấu tranh sinh tồn của nhân dân mà không được phản ánh trong tục ngữ… tục ngữ chủ yếu được diễn đạt theo hình thức câu ngắn có vần hoặc không có vần… có
Trang 15tính chất tương đối bền vững… dù ngắn hay dài thì mỗi đơn vị tục ngữ cũng được gọi là câu.”
Qua việc đưa ra những định nghĩa về khái niệm tục ngữ của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đi đến một cách hiểu đơn giản hơn, đó là tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, cô đọng, mang một ý nghĩa nhất định phản ánh mọi mặt đời sống lao động cũng như tâm tư tình cảm của người dân Bản thân tục ngữ là một câu có ý nghĩa hoàn chỉnh và có thể đứng độc lập trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của chúng ta
1.2 Ca dao truyền thống
Trở lại với nghiên cứu về “văn học chuyền khẩu” của nhà nghiên cứu
văn học Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu thì khái
niệm ca dao được ông định nghĩa như sau: “Ca dao (ca; hát; dao: Bài hát không có chương khúc), là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình phong tục của người bình dân Bởi thế ca dao cũng được gọi là phong dao (phong: phong tục) nữa Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai: Chắc lúc ban đầu cũng do một người có cảm xúc mà làm nên, rồi người sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi đến bây giờ.”
Ông cũng đưa ra các thể văn của ca dao bao gồm thứ nhất là thể lục bát chính thức trong đó “câu 6 câu 8 kế tiếp nhau” và thể lục bát không chính thức nghĩa là “thỉnh thoảng có xen những câu dài hơn 6 hoặc 8 chữ” Thứ hai
là thể song thất lục bát chính thức hoặc biến thức Thứ ba là thể nói lối với
“câu đặt thường 4 chữ, cứ chữ cuối câu trên vần với chữ thứ hai, hoặc chữ cuối câu dưới.” Và thứ tư là sự kết hợp từ hai hoặc ba thể trên trong một bài
ca dao Xét về mặc kết cấu, Dương Quảng Hàm lại chia ca dao ra thành ba thể; Đó là thể phú, thể tỉ và thể hứng Trong đó ông giải thích rất rõ thể phú là
“phô bày, mô tả; trong thể này, muốn nói về người nào việc nào thì nói thẳng ngay về người ấy việc ấy.” Thể tỉ nghĩa là “ví, so sánh; trong thể này muốn
Trang 16nói gì không nói thẳng ra, lại mượn một sự vật ở ngoài làm tỉ ngữ để người nghe ngẫm nghĩ mà hiểu cái ý ngụ ở trong.” Và cuối cùng, ông cũng giải thích thể hứng có nghĩa là sự “nổi lên, đây nói về tình của người ta nhân cái cảm xúc vì vật ngoài mà phát ra Trong thể này, trước tả một vật gì làm câu khai mào, rồi mượn đấy mà tiếp tục xuống í mình muốn nói.” Tuy nhiên ông cũng không loại trừ trường hợp một bài ca dao có kiêm nhiều thể trong nó Có thể là gồm phú và tỉ, phú và hứng, hay hứng và tỉ và thậm chí là cả phú, hứng,
tỉ trong một bài Với mỗi thể, ông đều đưa ra những ví dụ hết sức rõ ràng để chứng mình cho nhận định của mình Ông đưa ra ý kiến rất hay về ca dao khi cho rằng: “Ca dao nước ta thật là phong phú và diễn tả đủ các tình ý trong lòng người và các trạng thái xã hội.” Với ý nghĩa đó, ông lại chia ca dao ra làm các loại: Đồng dao, các bài hát ru trẻ, các bài hát con nhà nghề, của người lao động trong lúc làm việc, các bài thuộc về luân lý, các bài thuộc về tả tâm
lý người đời, các bài có tính cách xã hội và các bài ca dao dạy về những điều thường thức
Chuyển sang những ý kiến của Vũ Ngọc Phan về ca dao Nếu như Dương Quảng Hàm cho rằng ca dao còn được gọi là phong dao vì nó thể hiện phong tục của người dân thì Vũ Ngọc Phan lại cho rằng đó là do ca dao phản ánh phong tục của từng địa phương, mang tính cục bộ, chứ không nói rõ là của người dân chung chung Và bây giờ thì người ta không dùng từ phong dao nữa Theo ông thì ca dao là “những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân.” Ông cũng cho rằng những bài ca dao luôn thay đổi theo thời gian theo từng địa phương, từng thế hệ và vẫn được sửa chữa cho đến khi nào “hoàn chỉnh về cả lời lẫn ý” Có nghĩa là ca dao không phải là bất biến, nó vẫn ngày ngày phát triển để hoàn thiện hơn Vũ Ngọc Phan phân tích khá kỹ về ca dao từ nội dung phản ánh đến hình thức nghệ thuật
Trang 17Về nội dung, ông chia ca dao ra làm ba loại theo cách mà nó phản ánh Thứ nhất là ca dao về tình yêu của nhân dân trong đó có tình yêu đôi lứa, tình yêu với quê hương đất nước con người, với những câu kiểu như: “Hôm qua trăng sáng tờ mờ - Em đi tát nước tình cờ gặp anh.” Hay “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh – Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”; thứ hai là ca dao phản ánh ý thức lao động và sản xuất, với những bài ca như “ Rủ nhau đi cấy đi cày – Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu – Trên đồng cạn dưới đồng sâu – Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.”… và thứ ba là những bài ca dao mang tính chất nhân đạo chủ nghĩa Chẳng hạn những câu như: “ Thân em như hạt mưa sa – Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày”…
Nghiên cứu về ca dao một cách kỹ lưỡng và công phu phải kể đến công
trình của giáo sư Nguyễn Xuân Kính mang tên “Thi pháp ca dao” được nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội in năm 2004 Ở cuốn sách này ông đã nghiên cứu khá sâu về ca dao theo hướng thi pháp với những nghiên cứu về ngôn ngữ, thể loại, kết cấu, thời gian và không gian nghệ thuật cũng như một
số biểu tượng hình ảnh trong ca dao Trong công trình của mình ông không đưa ra các định nghĩa cụ thể về ca dao mà chỉ có sự so sánh, phân biệt giữa ca dao và tục ngữ mà chúng tôi sẽ đề cập ở phía sau đây
Trong cuốn giáo trình chính thống được giảng dạy cho sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội mang tên Văn học Dân gian Việt Nam, do giáo sư Lê Chí Quế chủ biên, khái niệm ca dao lại được nghiên cứu trong mối quan hệ khăng khít với làn điệu âm nhạc gọi là dân ca Ông viết: “Ca dao là bộ phận nghệ thuật ngôn từ được chắt lọc
từ hệ thống lời ca đó” và trong khuôn khổ giáo trình thì bài viết chỉ đề cập đến “đối tượng nghiên cứu chính là bộ phận nghệ thuật ngôn từ (tức là ca dao) nhưng nó phải đặt trong mối quan hệ khăng khít với làn điệu âm nhạc, nghệ
Trang 18nhân biểu diễn, thời gian và không gian diễn xướng.” Từ đó ông nghiên cứu
về ca dao gắn liền với cụm từ “ca dao dân ca”
Về mặt thuật ngữ, xin trích dẫn ra đây định nghĩa ca dao trong cuốn Từ
điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hãn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng
chủ biên, do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2006: “Ca dao (tiếng Pháp: chanson populaire) còn gọi là phong dao… được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca… Từ một thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) Với nghĩa này ca dao là thơ dân gian truyền thống… Dựa vào chức năng kết hợp với hệ thống đề tài, có thể phân ca dao cổ (hay ca dao cổ truyền) thành những loại ca dao khác nhau như ca dao ru con, ca dao tình yêu, ca dao về tình cảm gia đình, ca dao than thân, ca dao trào phúng…”
Như vậy, qua những nghiên cứu và những định nghĩa về ca dao của các nhà nghiên cứu trên, chúng ta có thể hiểu ca dao là những câu lục bát, câu ca
về cuộc sống, có thể đó là sự đồng cảm giữa con người, có thể đó là kinh nghiệm, có thể là cách lý giải các hiện tượng thiên nhiên, có thể là câu đố và
ca dao là phần ngôn từ của dân ca
1.3 Phân biệt ca dao và tục ngữ
Để phân biệt ca dao và tục ngữ, đầu tiên chúng tôi xin xác định ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ Giữa hai khái niệm tục ngữ và thành ngữ nếu không phân định rạch ròi sẽ dễ gây nhầm lẫn vì đôi khi có những câu thành ngữ rất giống tục ngữ và có khi nó nằm trong tục ngữ Rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra sự khác biệt giữa hai khái niệm này để so sánh, phân biệt; Giáo sư
Trang 19Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao, (Nhà xuất bản Quốc gia Hà
Nội, 2004) có cho rằng sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chỗ:
“Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, dùng để gọi tên sự vật hoặc để chỉ tính chất hành động.” Và ông cũng cho rằng thành ngữ tương đương với cấp độ từ Còn tục ngữ tương đương cấp độ câu mang ý nghĩa thông báo, phán đoán trọn vẹn Theo ông thì “tục ngữ không chỉ là hiện tượng thuộc lĩnh vực ngôn ngữ Tục ngữ còn là một hiện tượng ý thức xã hội,
là một thể loại đặc biệt của văn học dân gian.”
Giáo sư Chu Xuân Diên thì kết luận: “Sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ về cơ bản là sự khác nhau giữa một hiện tượng ngôn ngữ với một hiện tượng ý thức xã hội.” Phó Giáo sư Nguyễn Văn Mệnh cũng đã đưa ra sự so sánh giữa hai khái niệm thành ngữ và tục ngữ trong chuyên luận mang tên:
“Ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ” (Tạp chí Ngôn ngữ học, số 3, 1962) Theo ông: “Nội dung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng còn nội dung của tục ngữ nói chung là mang tính chất quy luật Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau cơ bản về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói… Về hình thức ngữ pháp mỗi thành ngữ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn Mỗi tục ngữ
là một câu.” Sự phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ của ông Nguyễn Văn Mệnh có chi tiết hơn một chút Tuy nhiên nhà giáo ưu tú Cù Đình Tú thì lại cho rằng sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chức năng của
nó Theo ông thì thành ngữ mang chức năng định danh, còn tục ngữ thì có chức năng là thông báo Và ông cũng đồng tình với các quan điểm cho rằng tục ngữ là một câu hoàn chỉnh còn thành ngữ chỉ tương đương một từ mà thôi
Ở bài viết này chúng tôi xin đưa thêm cơ sở phân biệt hai khái niệm
này dựa trên định nghĩa khái niệm từ cái tên của nó trong cuốn Từ điển thuật
ngữ văn học của Lê Bá Hãn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên
Trang 20do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2006 Theo đó thành ngữ được định nghĩa như sau: “Thành ngữ (Tiếng Anh: Idiom, phrase) là cụm từ hay ngữ cố định, bền vững, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa không nhằm diễn trọn một
ý, một nhận xét như tục ngữ, mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hàm súc: ví dụ vui như mở cờ trong bụng, đen như cột nhà cháy, đẹp như tiên, xấu như ma lem, vắng ngắt như chùa Bà Đanh… Ý nghĩa của thành ngữ không phải là tổng số nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức
là không có “nghĩa đen” Thành ngữ hoạt động như một từ trong câu Dù ngắn hay dài xét về nội dung ý nghĩa cũng như về chức năng ngữ pháp, thành ngữ cũng chỉ tương đương như từ nhưng là từ đã được tô điểm và nhấn mạnh
nghĩa bằng sự diễn đạt sinh động có nghệ thuật Chẳng hạn, thành ngữ cò bay
thẳng cánh tương đương với từ rộng được nhấn mạnh (có nghĩa là rất rộng),
thành ngữ lừ đừ như ông từ vào đền tương đương với từ chậm chạp được
nhấn mạnh (có nghĩa là rất chậm chạp) Vì thế mà khi đã dùng thành ngữ thì không cần và không thể dùng các phó từ tu sức như rất, lắm để nhấn mạnh nghĩa.” Còn “Tục ngữ (tiếng Pháp: école littéraire) là một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích giàu vần điệu, hình ảnh, dễ nhớ, dễ truyền,
ví dụ: Tre già măng mọc, Nói ngọt lọt tận xương, Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ, Gần mực thì đen gần đèn thì sáng…
Về nội dung tục ngữ là sự kết tinh kinh nghiệm và tri thức thực tiễn vô cùng phong phú và quý giá của nhân dân Không một lĩnh vực nào của đời sống và đấu tranh sinh tồn của nhân dân mà không được phản ánh trong tục ngữ Khác với cách ngôn, tục ngữ không bao hàm ý khuyên răn trực tiếp
Về cấu trúc ngôn từ, tục ngữ chủ yếu được diễn đạt theo hình thức những câu ngắn có vần hoặc không có vần (đa số là loại câu từ bốn đến mười tiếng) có tính chất tương đối bền vững Nhưng cũng có một bộ phận tục ngữ
Trang 21được diễn đạt theo hình thức câu dài gồm hai, ba vế (Từ mười tiếng trở lên, có khi trên 20 tiếng) Ví dụ: Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ; hoặc: Lươn ngắn lại chê chạch dài – Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm,… Nhưng dù ngắn hay dài thì mỗi đơn vị tục ngữ cũng đều được gọi là “câu” (Chứ không phải là bài) Có một bộ phận những câu mang tính chất nhập nhằng, “lưỡng tính”, vừa gần với tục ngữ vừa gần với ca dao Ví dụ: Tin bợm mất bò – Tin bạn mất vợ nằm co một mình Ở sao cho vừa lòng người - Ở rộng người cười ở hẹp người chê…”
Như vậy ta có thể hiểu thành ngữ và tục ngữ giống nhau ở chỗ cả hai đều có hình thức sinh động và hàm súc, là ngôn từ được chắt lọc kỹ lưỡng từ tri thức của nhân dân Tuy nhiên điểm khác biệt rõ nhất của thành ngữ và tục ngữ là thành ngữ chỉ đóng vai trò là một cụm từ trong câu còn tục ngữ bản thân nó đã là một câu hoàn chỉnh Thành ngữ chỉ có chức năng nhấn mạnh nghĩa của một từ nào đó, còn tục ngữ là sự đúc kết kinh nghiệm của người lao động trong cuộc sống, lao động và sản xuất
Vậy thì ca dao và tục ngữ khác nhau ở điểm nào Giáo sư Nguyễn Xuân Kính có sự phân biệt khá dễ hiểu đó là: “Tục ngữ thiên về lí trí, tục ngữ cung cấp cho người nghe những triết lý dân gian, tri thức dân gian; ca dao thiên về tình cảm, có nội dung trữ tình dân gian.” Tuy nhiên ông cũng cho rằng giữa tục ngữ và ca dao có rất nhiều câu khó xác định ranh giới thể loại: “Trong tục ngữ người Việt, có một số câu có hình thức lục bát Những câu này nhiều khi được gọi là ca dao vì ca dao thường được sáng tác theo thể lục bát Do tính chất súc tích của nội dung, nhiều lời vốn là ca dao cũng đồng thời được dùng như tục ngữ:
+ Tranh quyền cướp nước gì đây
Coi nhau như bát nước đầy thì hơn
+ Gánh cực mà đổ lên non
Trang 22Còng lưng mà chạy cực còn theo sau…”
Giáo sư Lê Chí Quế cũng có quan điểm tương tự khi cho rằng “tục ngữ
và ca dao phần nào đó có mối tương quan nhất định Có những câu ca dao và những câu tục ngữ cùng phản ánh một vấn đề, có cùng một chủ đề nhưng tính chất của chúng hoàn toàn không giống nhau:
Câu 1: Có công mài sắt có ngày nên kim
Câu 2: Ai ơi chớ chóng thì chày
Có công mài sắt có ngày nên kim
Câu 3: Trăm năm ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm sắt mài thành kim”
Từ việc nêu ra các câu tục ngữ và ca dao đó, ông đi đến nhận xét:
“Trong ba câu đó thì câu thứ nhất có tính chất đúc rút kinh nghiệm qua thực tế lao động sản xuất và đời sống Đó là tục ngữ Câu thứ hai cũng từ thực tiễn
mà rút ra quy luật nhưng nó còn có tình chất khuyên răn Ở đây chất triết lý
có phần nhạt dần và chất trữ tình gia tăng Đó là ca dao Câu thứ ba hoàn toàn
là một câu ca dao trữ tình trong đó có sử dụng chất liệu tục ngữ Ở đây câu tục ngữ không còn được giữ nguyên vẹn mà đã bị biến dạng đi (không phải
“có công mài sắt, có ngày nên kim” mà là “chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim”) Và cuối cùng ông cũng kết luận sự khác nhau cơ bản giữa ca dao và tục ngữ là sự khác biệt về đặc trưng và chức năng của nó “Tục ngữ thiên về
lý trí, ca dao thiên về tình cảm.”
Trở lại với thuật ngữ “ca dao” trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, ở
đây, ca dao được định nghĩa với các nghĩa rộng hẹp khác nhau “Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân
ca Do tác động của hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, ca dao
đã dần dần chuyển nghĩa Từ một thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu văn học dân
Trang 23gian Việt Nam đã dùng danh từ ca dao để chỉ riêng nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) Với nghĩa này ca dao là thơ dân gian truyền thống Ví dụ câu ca dao:
Làm trai quyết chí tu thân
Công danh chớ vội nợ nần chớ lo
Vốn được rút ra từ bài dân ca hát cách với những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi như sau: Làm trai quyết chí (mà) tu (ý) thân Công danh (là công danh) chớ vội (chứ đã) nợ nần (mà nợ nần) chớ lo (ý y y ý y)…” Cuốn sách cũng nói thêm về sự xuất hiện của ca dao mới sau cách mạng tháng Tám
để phân biệt với ca dao cổ Tuy nhiên có thể thấy định nghĩa về ca dao lại khá chung chung Theo chúng tôi thì ca dao là những bài ca dân gian, sản sinh ra trong quá trình lao động sản xuất, phản ánh cuộc sống muôn mặt của người dân mỗi vùng miền Đó là những lời ca về tình yêu, về cuộc sống gian nan, về thân phận con người trong xã hội Đó còn là những bài ca than thân, những lời oán trách, hay đôi khi là những trải nghiệm trong cuộc sống Cũng có khi
đó là những bài ca vui ca ngợi cuộc sống, ca ngợi cảnh đẹp quê hương
Nếu như thành ngữ tương đương cấp độ từ, tục ngữ tương đương cấp
độ câu, thì ca dao tương đương cấp độ bài Dài ngắn không phải là tiêu chí để phân biệt các khái niệm này, mà chúng còn khác nhau ở chỗ, nếu thành ngữ dùng để định danh, nhấn mạnh một từ nào đó “rất”, “lắm”… thì tục ngữ dùng
để thông báo, mang tính triết lý, trải nghiệm cuộc sống, còn ca dao thiên về kiểu như những bài ca trữ tình về mọi mặt trong cuộc sống lao động của người dân
Như vậy, ca dao, tục ngữ đều có những sắc thái độc đáo riêng Nó phản ánh nếp sống, lối suy nghĩ của dân tộc Việt trải qua bốn nghìn năm văn hiến
Ca dao tục ngữ là niềm tự hào của chúng ta Nó đề cao giá trị nếp sống của con người bảo vệ chân thiện mỹ, chỉ trích cái xấu trong xã hội loài người Tìm
Trang 24hiểu ca dao tục ngữ chính là tham gia vào một cuộc hành trình tìm về cội nguồn của nước Việt Nam mến yêu Sự so sánh và phân biệt giữa hai khái niệm ca dao và tục ngữ cũng chỉ mang tính tương đối, vì giữa hai thể loại này vẫn có sự giao thoa với nhau Với tiêu chí phân biệt đơn giản, dễ hiểu như trên, bài viết sẽ tiếp tục tìm hiểu rõ hơn về sự xuất hiện và ý nghĩa của việc sử dụng những câu ca dao, tục ngữ trong các tác phẩm văn xuôi của ba nhà văn đương đại tiêu biểu, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp và Hồ Anh Thái
Trang 25Chương 2 VIỆC SỬ DỤNG TỤC NGỮ QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN
XUÔI ĐƯƠNG ĐẠI
2.1 Việc sử dụng tục ngữ trong các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh
Đối với tác giả Nguyễn Xuân Khánh, chúng tôi khảo sát ba tác phẩm tiểu thuyết gồm: Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn và Đội gạo lên chùa Đây là
ba tác phẩm có tiếng vang lớn và được nhiều bạn đọc quan tâm, biết đến Đầu tiên là tác phẩm Hồ Quý Ly, đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, tái hiện lại khoảng thời gian giao nhau giữa hai triều đại Trần và Hồ, những năm 1225 đến 1400 Nội dung của cuốn sách chủ yếu đi sâu khắc họa nhân vật lịch sử
Hồ Quý Ly và các kẻ sĩ trong triều đình nhà Hồ với những âm mưu, tính toán trong chính trị của các bậc đế vương xưa Ngoài ra, cuốn sách cũng đề cập đến những cảnh sinh hoạt thôn dã của người dân, những lễ hội dân gian, phong tục tốt đẹp của dân tộc mà ngày nay đã mai một đi nhiều Cuốn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn lại kể về một mốc lịch sử khác đó là những năm đất nước ta bị thực dân pháp đô hộ Tác phẩm đi sâu khắc họa những văn hóa phong tục của Việt Nam, những câu chuyện tình yêu thấm đẫm nước mắt của những người phụ nữ Việt Qua lăng kính là đạo Mẫu, những nhân vật trong Mẫu thượng ngàn hiện lên với một niềm tin kính cẩn về một tục lệ thờ Mẫu lâu đời của dân tộc ta Xung quanh đó là một xã hội còn đang bị bóp nghẹt bởi sự đô hộ của thực dân Pháp và những thế lực phong kiến Cuốn thứ ba mang tên Đội gạo lên chùa, mô tả lại cuộc sống của người dân vào khoảng những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và cải cách ruộng đất Tác phẩm với nhân vật trung tâm là chú bé An và chùa Sọ Từ đó cuộc sống của người dân quê hiện lên vô cùng sống động và chân thực Tác phẩm này có chủ đề xuyên suốt là đạo Phật trong tâm linh văn hóa người Việt
2.1.1 Về tần suất sử dụng
Qua khảo sát ba tác phẩm trên chúng tôi đã tìm ra được tần suất tác giả
sử dụng các câu tục ngữ trong mỗi tác phẩm như sau Có 16 câu tục ngữ được
Trang 26sử dụng ở tiểu thuyết Hồ Quý Ly, 32 câu tục ngữ được sử dụng ở tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn và 37 câu tục ngữ được sử dụng ở tiểu thuyết Đội gạo lên
chùa Trong đó câu tục ngữ Chết đuối vớ được cọc được sử dụng ở cả ba tác
phẩm Ngoài ra còn có 2 câu tục ngữ được sử dụng ở cả hai tác phẩm Đội gạo
lên chùa và Hồ Quý Ly là: Của bụt mất một đền mười, và Chết đuối vớ được
cọc Có 5 câu tục ngữ được sử dụng ở cả hai tác phẩm Mẫu thượng ngàn và
Đội gạo lên chùa là: Ăn cháo đá bát, Cạn tàu ráo máng, Chết đuối vớ được
cọc, Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung, và Đất lành chim đậu Dưới đây
là bảng thống kê cụ thể các số liệu:
Tên tác phẩm Số lượt tục
ngữ xuất hiện
Số tục ngữ được sử dụng
Số tục ngữ được sử dụng nguyên dạng
Số tục ngữ được sử dụng cải biên
được sử dụng cải biên Điều này là do có hai câu tục ngữ, Rắn mất đầu và Đất
có thổ công sông có hà bá vừa được sử dụng cải biên và vừa được sử dụng
nguyên dạng Cụ thể tục ngữ được sử dụng ở mỗi tác phẩm như sau:
Trang 27Trong tác phẩm Hồ Quý Ly có 3 câu tục ngữ được sử dụng lặp đi lặp
lại nhiều lần Đó là câu tục ngữ Hán Việt Hữu dũng vô mưu với 2 lần xuất
hiện Câu tục ngữ này có nói về người chỉ có sức mạnh mà không có trí tuệ,
mưu mẹo trong chiến đấu Tác giả đã dùng câu tục ngữ hữu dũng vô mưu khi
mô tả nhân vật Chế Bồng Nga với ý khen ngợi vị vua này để khẳng định tài năng cầm quân của ông: “Thực ra Chế Bồng Nga không chỉ là một con người hung hăng, hữu dũng vô mưu.”[14, tr212], và hai là nó xuất hiện trong lời bình của tác giả về thời thế, xã hội trong giai đoạn dịch chuyển từ thời nhà Trần đang trên đà đi đến sự mục nát, thối ruỗng sang thời nhà Hồ: “Thời này thời đại loạn, thời của những mưu sâu kế lạ, đâu phải thời của những kẻ hữu dũng vô mưu.” [14, tr217]
Câu tục ngữ Cá chậu chim lồng với nghĩa ví von một ai đó bị giam giữ
giống như con chim bị bắt vào lồng và con cá bị giam trong chậu nước, câu tục ngữ này cũng được sử dụng hai lần trong tác phẩm Lần đầu tiên là nói về thầy chùa Phạm Sư Ôn, ông vốn dĩ là một nhà tu hành, trong cuộc nổi dậy đã
bị giam giữ bởi đối thủ giống như kiểu cá chậu chim lồng: “Vì là thày chùa nên người lãnh tụ nông dân ấy không thể chịu nổi sự xa hoa, sự giam giữ kiểu cá chậu chim lồng.” [14, tr424] Lần thứ hai là khi tác giả muốn nói về ông vua Thuận Tông qua suy nghĩ của cung nữ Uyển Nhi Khi nhà Trần đang suy yếu dần, thế lực của Hồ Quý Ly mạnh lên thì các ông vua cũng chỉ như
bù nhìn, có quyền đấy mà không được sử dụng quyền, giống như một kiểu bù nhìn bị quản thúc Tác giả đã ví số phận của ông vua ấy chả khác nào những người cung nữ hẩm hiu: “Uyển Nhi thở dài Chợt thấy thương ông vua trẻ Số phận một cung nữ đã đáng thương song số phận ông vua kia còn đáng thương
hơn Chẳng qua cũng là cá chậu chim lồng mà thôi.” [14, tr436]
Câu tục ngữ thứ ba trong tác phẩm được sử dụng hai lần nữa là câu tục
ngữ Đục nước béo cò Câu tục ngữ này có nghĩa chỉ những kẻ thừa cơ hội sơ
Trang 28hở nào đó là vơ của về mình, hoặc làm điều gì đó có lợi cho mình Lần đầu tiên câu tục ngữ này xuất hiện là khi tác giả muốn nói đến bọn lưu manh nhân
cơ hội xã hội đang loạn mà giở trò cướp bóc: “Bọn lưu manh cũng nhân cơ hội đục nước béo cò, giở trò cướp bóc.” [14, tr224] Và lần thứ hai nó xuất hiện là để nói về những tên quan thừa hành luật pháp, cũng giống như bọn lưu manh Lũ quan tham cũng tranh thủ từng cơ hội để kiếm chác về cho bản thân: “Kẻ thừa hành nhân cơ hội đục nước béo cò.” [14, tr468]
Trong tác phẩm Mẫu thượng ngàn, có 34 câu tục ngữ được sử dụng thì
có tới 4 câu tục ngữ được sử dụng hơn một lần Đó là các câu: Đất lành chim
đậu, Cạn tàu ráo máng, Đất có thổ công sông có hà bá, Rắn mất đầu Trong
đó câu tục ngữ Đất lành chim đậu, với nghĩa chỉ một nơi nào đó có điều kiện
sinh sống tốt, thu hút nhiều người đến ở, được sử dụng 3 lần trong tác phẩm
Cả ba lần câu tục ngữ này được sử dụng dùng để chỉ mảnh đất làng Cổ Đình Đầu tiên, câu tục ngữ này xuất hiện trong lời thoại của cha con Trịnh Huyền khi mới bắt đầu trở về làng sau bao năm bôn ba nơi đất khách Hai cha con dừng chân lại cạnh dòng sông quê hương nghỉ ngơi và ngắm nhìn ngôi làng:
“Nhụ: - Kẻ đinh là gì hả thầy? Trịnh Huyền: - Ông nội bảo làng này, ngày xưa toàn con cháu họ Đinh từ Ninh Bình ra Thấy nơi đây đất lành chim đậu nên dừng chân lập làng lập ấp.” [15, tr10] Lần thứ hai câu tục ngữ xuất hiện là trong lời của cụ Đồ Tiết, vì muốn giấu tung tích của con trai thứ nên đã nói Trịnh Huyền chỉ là bà con, thấy mảnh đất làng Cổ Đình đẹp đẽ thì xin tá túc:
“- Chả là việc anh Huyền, cháu tôi ở dưới Nam lên Làng ta vốn là nơi đất lành chim đậu” [15, tr170] Và lần thứ ba câu tục ngữ lại được xuất hiện trong lời nói của ông Lềnh già, về lý do việc những người Trung Quốc như ông sang Việt Nam: “Phần đông sang để trốn tránh loạn lạc, hoặc vì nghèo khó phải đi tìm nơi đất lành chim đậu.” [15, tr805]
Trang 29Câu tục ngữ Cạn tàu ráo máng, ám chỉ những người không có tình
nghĩa, cạn tình cạn nghĩa Câu tục ngữ này được sử dụng hai lần trong tác phẩm Mẫu thượng ngàn Lần một là khi tác giả mô tả nhân vật Lý Cỏn: “Đối với dân làng ông chấm mút nhưng lại luôn tỏ ra mềm dẻo, không cạn tàu ráo
máng nên làng cũng chẳng đem lòng ghét.” [15, tr135] Lần hai câu tục ngữ
xuất hiện là trong lời của nhân vật cụ Tú Cao khi lão Xe muốn xin cho cu Trình chân mõ trong làng: “- Việc này nên để thư thả bàn cho kỹ, chẳng rồi làng ta lại mang tiếng cạn tàu ráo máng với cả kẻ đầy tớ trong làng.” [15, tr749]
Câu tục ngữ Đất có thổ công, sông có hà bá với nghĩa chỉ nơi nào cũng
có chủ, cũng có người cai quản, câu này xuất hiện ba lần Lần đầu nó xuất hiện trong lời của nhân vật cụ Đồ Tiết: “Lý Cỏn có ý không nhận, cụ đồ phải nói đỡ: - Anh Lý xưa kia theo học tôi nhưng cái tình là một nhẽ, cái lý lại là một nhẽ Đất nào cũng có thổ công hà bá.” [15, tr168] Lần thứ hai câu tục ngữ này được dùng trong lời của nhân vật René, một nhà dân tộc học người Pháp cũng đến Việt Nam trong “công cuộc khai hóa” của họ: “Tôi ở đây mới
7 năm nhưng tôi biết rằng tôi chẳng thể huênh hoang được “Đất có thổ công, sông có hà bá” dân ở đây nói vậy” [15, tr216] Lần thứ 3 câu tục ngữ này được nhắc lại là khi Hoa nói với Nhụ lúc hai người lên núi Ông Đùng: “- Lễ đi! Động tới một ngọn cỏ một lá cây của ông Đùng bà Đà cũng phải xin phép Phải có lòng thành và phân minh cháu ạ Đất có thổ công… nơi đây là đất của ông bà.” [15, tr645]
Câu tục ngữ Rắn mất đầu cũng được tác giả dùng 3 lần Câu tục ngữ
này có nghĩa chỉ người chỉ huy của một nhóm, một nơi nào đó bị mất hoặc một nơi nào đó không có thủ lĩnh, không có người lãnh đạo nên mọi việc bị rối tinh Câu tục ngữ này lúc thì xuất hiện trong lời nói của cụ Vũ Huy Tân khi nghe tin vua Hàm Nghi bị bắt Cụ đã ví việc này như “rắn mất đầu”; lúc
Trang 30thì câu tục ngữ này lại xuất hiện trong lời của tác giả ví làng Cổ Đình như rắn mất đầu khi Lý Cỏn cũng bị tả nằm liệt giường trong trận đại dịch Lần thứ 3 câu tục ngữ này một lần nữa lại để chỉ về làng Cổ Đình vì việc Lý Cỏn ốm, nhưng nó xuất hiện trong lời nói của cụ Tú Cao: “Hiện nay, làng Đình ta đang gặp tai nạn Mà lại như rắn không đầu.” [15, tr569]
Trong tác phẩm Đội gạo lên chùa có tới 37 câu tục ngữ được tác giả sử dụng Trong đó có 6 câu tục ngữ được tác giả sử dụng lặp lại nhiều lần Đầu
tiên là câu tục ngữ Đất lành chim đậu được sử dụng cả thảy là 3 lần Lần một
là lời cụ Chánh, các lần tiếp theo cũng là nhắc lại lời cụ Chánh về cánh rừng
Cò của gia đình nhà cụ: “Cụ Chánh thường nói: “Đất lành chim đậu” Cụ lại bảo giữ sao cho cò vạc không bay đi Thế là phúc cho nhà mình Phúc cho cả làng mình.” [16, tr100]; Câu tục ngữ này được nhắc lại lần nữa trong lời của tác giả khi nhắc đến Quản Mật: “Quản Mật vẫn nể sợ ông Chánh Chẳng là ông vẫn nói đất lành chim đậu.” [16, tr351] Và nó lại được nhắc lại lần nữa với ý khẳng định rừng cò nhà ông Chánh là nơi tốt lành cho chim chóc trú ẩn
với nghĩa là đại phúc đại lợi: “Đất lành chim đậu” Thầy địa lý bảo khu rừng
càng xanh tốt, chim chóc càng quy tụ thì mộ tổ càng phát.” [16, tr352]
Câu tục ngữ Lạt mềm buộc chặt với nghĩa dùng nhu thắng cương, lấy
cái mềm mại nhẹ nhàng thì mới làm được việc, câu tục ngữ này được lặp lại hai lần, lúc thì nó xuất hiện trong lời nói của Lý Phượng khi răn đe cậu em về cách đối nhân xử thế với người dân quê: “- Ở nhà quê ta khó lắm Chú liều liệu mà làm việc, đối xử Ở làng không giống thành phố đâu Phải biết lúc rắn lúc mềm Phải biết ngọt nhạt, thớ lợ Phải biết lạt mềm buộc chặt.” [16, tr147]; lúc thì nó được dùng trong lời nói của bà Thêu, khi đã là phó chủ tịch
xã: “…cứ nhắc đi nhắc lại câu tục ngữ xưa của dân quê mình: “Lạt mềm buộc chặt” Ông ấy bảo đó là lời dạy làm nghề chính trị sâu sắc nhất.” [16, tr751]
Trang 31Cũng được sử dụng tới hai lần, đó là câu tục ngữ Đỏ như hoa vông
đông như miếng tiết Lần một nó được nhắc đến trong lời nói của cụ Chánh
Long: “Cụ chánh Long nghe vậy liền chống gậy ra bốt ngay Cụ bảo ông Mật:
- Thời buổi này ai có thể biết trước được về sau Có nhà ai cứ đỏ như miếng vông đông như miếng tiết mãi mãi.” [16, tr151]; Lần hai câu tục ngữ này được nhắc đến trong suy nghĩ của nhân vật Tiến: “Mà nghĩ cho cùng cũng phải thôi Người ta phải tìm đến chỗ đỏ như miếng vông đông như miếng tiết…” [16, tr694]
Câu tục ngữ nữa được sử dụng hai lần trong tác phẩm này đó là câu Gà
què ăn quẩn cối xay Câu tục ngữ này có nghĩa chỉ những kẻ tài hèn sức mọn,
chỉ quanh quẩn kiếm ăn ở một nơi không đi xa được Không có chí tung hoành ngang dọc Cả hai lần câu tục ngữ này được nhắc đến để nói về nhân vật Độ, Độ vốn không phải là người không có tài, anh thậm chí lại là người có sức khỏe từng chiến thắng trong trận đấu đô vật một cách lừng lẫy, tuy nhiên chỉ vì Khoai, người đàn bà ăn xin đã tình cờ gắn bớ với cuộc đời anh mà anh
đành phải thành Gà què ăn quẩn cối xay: “- Thằng ăn cắp khác thằng ăn
cướp Thằng ăn cắp trộm chó bắt gà chẳng qua là thứ gà què ăn quẩn cối xay.” [16, tr295]; và “Chỉ từ khi gặp Khoai, Độ mới bất đắc dĩ làm kẻ gà què
ăn quẩn cối xay.” [16, tr296]
Câu tục ngữ Ăn trên ngồi trốc lần thứ nhất và thứ hai đều được dùng để
chỉ họ nhà Chánh Long: “Sở dĩ họ nhà ông vẫn ăn trên ngồi trốc trong làng
Sọ, đó là nhờ ân đức của tổ tông.” [16, tr351]; và “Sao mặt lão già cứ câng
câng ra thế kia? Nó quen thói ăn trên ngồi trốc khinh bỉ nông dân Đến nước
này rồi mà lão vẫn thế.” [16, tr539]
Và cuối cùng câu tục ngữ Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung với
nghĩa chỉ những người không đi đâu bao giờ, có tầm nhìn nhỏ hẹp, chưa ra khỏi miệng giếng nhưng cũng dám lớn tiếng phán bầu trời chỉ bằng cái vung
Trang 32Đó là câu tục ngữ phê phán những kẻ tài thì ít mà huênh hoang, kiêu ngạo
Câu tục ngữ này cũng được sử dụng hai lần trong tác phẩm Đội gạo lên chùa
Một là khi tác giả mô tả Thị Bệu trong “cơn tam bành” cãi nhau với đằng chồng: “Thị nổi cơn tam bành, coi trời bằng vung Lần này thị réo nhà ông Chánh lên để chửi.” [16, tr469]; lần hai là khi tác giả muốn mô tả nhân vật Hạ người không hề nể sợ anh đội, thậm chí dám không coi anh đội ra gì khi anh đội Khoát về làng trong đợt đấu tố địa chủ: “Nhất đội nhì trời Ai ai cũng sợ,
mà anh dám coi trời bằng vung.” [16, tr760]
Trên đây là những câu tục ngữ đã xuất hiện trong ba tác phẩm tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh Có những câu tục ngữ xuất hiện một lần nhưng cũng có những câu tục ngữ được tác giả ưu ái xuất hiện khá nhiều lần trong mỗi tác phẩm
2.1.2 Về hình thức sử dụng
2.1.2.1 Tục ngữ được sử dụng nguyên dạng
Qua khảo sát ba tác phẩm tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn và Đội gạo lên chùa của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, chúng tôi tìm ra được có
rất nhiều câu tục ngữ được sử dụng nguyên dạng Đó là các câu: “Mỡ để
miệng mèo, Đất lành chim đậu, Con dại cái mang, Lạt mềm buộc chặt, Cạn tàu ráo máng, Kẻ ăn không hết kẻ lần chẳng ra, Gà què ăn quẩn cối xay, Ăn trên ngồi trốc, Sống để bụng chết mang đi, Cẩn tắc vô áy náy, Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh, Trâu chậm uống nước đục, Khẩu phật tâm xà, Ăn không nói có, Ăn cháo đá bát, Thầy bói đoán mò, Gái hơn hai trai hơn một, Ngậm bồ hòn làm ngọt, Gái góa lo việc triều đình, Có mồm thì cắp
có nắp thì đậy, Trẻ vui nhà già vui chùa, Ác giả ác báo, Ở hiền gặp lành Ngựa quen đường cũ, Của bụt mất một đền mười…” Những câu tục ngữ trên
được tác giả dùng nguyên vẹn, không cắt xén, thêm bớt hay viết lại ý Chúng được bê nguyên xi vào trong câu văn của tác giả với mục đích chủ yếu là để
Trang 33ví von, so sánh hoặc có tác dụng rút ngắn một chuỗi lời nói làm cho câu văn thêm súc tích, bóng bẩy
Để tiện theo dõi, chúng tôi đã tính tỷ lệ phần trăm các câu tục ngữ được
sử dụng dưới hình thức nguyên dạng và cải biên ở mỗi tác phẩm như sau:
và giàu hình ảnh, tác giả không cần phải thêm bớt hay viết lại mà vẫn có được những câu văn hay, diễn tả đúng ý cần nói
2.1.2.2 Tục ngữ được sử dụng một phần hoặc cải biên
Qua khảo sát chúng tôi thấy, có khá nhiều câu tục ngữ không được sử dụng nguyên dạng mà đã được cải biên đi thành chuỗi lời nói hoặc chỉ được
sử dụng một phần Đó là các câu: Nực cười bọ ngựa đá xe – tưởng rằng xe
vững ai dè xe nghiêng Câu tục ngữ này gần nghĩa với câu tục ngữ Lấy trứng chọi đá, nghĩa là đem vật gì quá nhỏ bé, yếu đuối để đối chọi với vật vừa to
Trang 34vừa khỏe Đây là sự đối chọi không cân sức Tuy nhiên câu tục ngữ mang ý nói đến sự không cân sức nhưng lại đem đến kết quả ngạc nhiên, vật to khỏe,
có sức mạnh trước vật yếu đuối bé nhỏ đã phải chịu nhường nhịn phần nào Nhưng câu tục ngữ này lại được dùng trong tác phẩm với ý ngược lại, khẳng định, kẻ quá bé nhỏ chẳng thể làm được gì kẻ lớn mạnh, vững chãi: “… Cho nên chúng dám tung đàn ruồi nhặng múa ngoài bãi cỏ, có khác nào giơ càng
bọ ngựa ngăn xe” [14, tr135] Miệng thì thơn thớt nói cười- Mà trong nham
hiểm giết người không dao là câu tục ngữ nói về những kẻ lòng dạ xấu xa
nhưng lại được che đậy bởi vẻ ngoài Câu tục ngữ này gần nghĩa với câu tục ngữ “Miệng nam mô bụng một bồ dao găm.” Đều ám chỉ những kẻ đểu giả,
ác độc mà bên ngoài thì ra vẻ từ bi “Ông vua già Nghệ Tông săp băng hà Đã xong những cuộc tiếp xúc đầy thù hận, ngoài miệng thơn thớt mà trong lòng
chỉ muốn chém giết” [14, tr156] Nước xa không cứu được lửa gần là câu tục
ngữ ám chỉ sự việc đã quá cấp bách, không kịp ứng cứu “- Nước xa làm sao
cứu được lửa gần Vậy, còn người thứ hai?” [14, tr221] Chết đuối vớ được
cọc Câu tục ngữ này ý nói, người gặp hoạn nạn được nhận sự giúp đỡ bất
ngờ, hay người nào đó đang trong cảnh khó khăn lại gặp được vận may đột nhiên đến Câu này được sử dụng hai lần: “Như kẻ chết đuối thấy mơ hồ một chiếc cọc, trí óc tôi vội níu lấy thanh âm đó” [14, tr336]; (Lão Điếc mừng thật, ông không tính toán gì hết Như kẻ chết đuối vớ được cái cọc, tối hôm ấy
ông đến ngay nhà ông Lý) [15, tr232] Đói cho sạch rách cho thơm Câu tục
ngữ này hàm nghĩa khuyên răn mọi người dù đói rách cũng phải đứng đắn, trong sạch không vì nghèo mà hèn, không vì nghèo mà trở nên ti tiện bần hàn, bẩn thỉu Câu tục ngữ này đã được tác giả dùng để nói đến nhân vật đồ Tiết, trong tác phẩm Mẫu thượng ngàn “Ông là người kiên trì đạo Khổng hiếm
thấy Từ trẻ đi học đã nổi tiếng liêm chính ngay thẳng, đói sạch rách thơm” [14, tr469] Ăn phải có nhai nói phải có nghĩ là câu tục ngữ khuyên người ta
Trang 35trước khi làm việc gì phải có sự suy tính chín chắn, không nên vội vàng, hấp
tấp: “Cụ Tiết cười bảo: - Ông đã dạy cháu bao nhiêu lần rồi Ăn phải có nhai
Từ tốn thôi con ạ” [15, tr29] Đất có thổ công sông có hà bá “Lý Cỏn có ý
không nhận cụ đồ phải nói đỡ: - Anh Lý xưa kia theo học tôi nhưng cái tình là một nhẽ, cái lý lại là một nhẽ Đất nào cũng có thổ công hà bá” [15, tr168]; “-
Lễ đi! Động tới một ngọn cỏ một lá cây của ông Đùng bà Đà cũng phải xin phép Phải có lòng thành và phân minh cháu ạ Đất có thổ công… nơi đây là
đất của ông bà” [15, tr645] Đũa mốc đòi chọc mâm son là câu tục ngữ phê
phán những người hèn mọn, nghèo khổ nhưng lại có ước mơ sánh duyên dùng cành vàng lá ngọc, cùng những người có địa vị cao sang: “Ai dám xỏ xiên nói đụng tới chuyện ấy là Thơm đốp chát chua ngoa ngay: -Đây chẳng thèm ai nhưng có khối kẻ thèm đây Này, về mà hỏi lão dê già nhà mụ xem sao Nhiều lần lão đem tiền của đến lạy lục dưới chân gái này mà đây vẫn đuổi đi Đũa mốc chòi sao được mâm son Rượu khê gái góa mà Thèm rỏ dãi đây cũng
đuổi đi” [15, tr247] Gái có công chồng chẳng phụ cũng là một câu tục ngữ
được sử dụng theo dạng cải biên Câu tục ngữ này mang tính đúc kết, triết lý chó rằng những người vợ có công lao giúp đỡ chồng, sát cánh bên chồng sẽ chẳng bao giờ bị người chồng phụ bạc “Đừng lo gái có công thì chồng chẳng
phụ” [15, tr336] Được đằng chân lân đằng đầu là câu tục ngữ có nghĩa gần
giống với câu tục ngữ “Được voi đòi tiên”, nó ám chỉ những người có lòng tham vô đáy, được cái này rồi lại còn đòi cái khác “Cái giống đàn ông là thế
Được đằng chân nó lân đằng đầu” [15, tr637] Mưa dầm thấm lâu cũng có
nghĩa tương tự như các câu tục ngữ “Năng nhặt chặt bị”, hay “Kiến tha lâu có ngày đầy tổ.” Câu tục ngữ này chỉ những người siêng năng chịu khó sẽ thành công, hoặc làm việc gì đó cần mẫn thì sẽ đạt được kết quả “Đó là những điều
mà sau này tôi tóm lược lại để dễ học Chứ thực ra, thầy tôi dạy bảo những
điều đó theo cách mưa dầm thấm sâu” [16, tr74] Cơm gà, cá gỏi, củ tỏi nước
Trang 36mắm là câu tục ngữ mang tính đúc kết kinh nghiệm, chỉ những món ăn ngon
“Bernard ngày nào cũng bia rượu, cũng cơm gà cá gỏi, nên chẳng mấy chốc,
người hắn to ra” [16, tr69] Đỏ như hoa vông, đông như miếng tiết “Cụ chánh
Long nghe vậy liền chống gậy ra bốt ngay Cụ bảo ông Mật: - Thời buổi này
ai có thể biết trước được về sau Có nhà ai cứ đỏ như miếng vông đông như
miếng tiết mãi mãi” [16, tr151] Lên voi xuống chó là câu tục ngữ mang nghĩa
gần giống với câu tục ngữ “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời.” Với nghĩa con người không thể biết được ngày mai ra sao, thời thế thế thời thay đổi không biết đâu mà lường “-Thời loạn thế này khó đoán định được ngày mai ra sao, con người không thể dương dương tự đắc Hôm nay lên voi ngày mai xuống
chó Ai lường trước được” [16, tr247] Nhàn cư vi bất thiện Đây là câu tục
ngữ Hán Việt Câu tục ngữ này có nghĩa người nhàn nhã không có việc gì làm
dễ nảy sinh ra tính ác hay dễ nghĩ ra những trò đểu giả “Bà cụ dạy cháu: - Đã làm người là phải biết làm việc Cái chân, cái tay sinh ra là để làm việc Vậy nên, không được để cho chúng nhàn cư Nhàn cư dễ sinh chuyện” [16, tr252]
Nứt giời rơi xuống là câu tục ngữ chỉ những kẻ bướng bỉnh, ngang ngạnh
khác với người thường Thường là ý chê bai “Thuở nhỏ, Độ đã nổi tiếng ngỗ
nghịch, là kẻ đứt dây trên trời rơi xuống” [16, tr271] Giận quá mất khôn là
câu tục ngữ mang tính triết lý, chỉ sự nóng giận có thể khiến con người làm những việc mất hết lý trí, sai lầm Ta ghé mồm gần tai nó thì thầm: “Đừng nổi
nóng con ơi, nóng giận làm ta mất khôn…”” [16, tr379] Chết đuối vớ được
cọc (Ngủ nhưng vẫn nắm lấy tay chị Nguyệt tôi Như người chết đuối bám
vào cái cọc) [16, tr447] Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung (Thị nổi cơn
tam bành, coi trời bằng vung Lần này thị réo nhà ông Chánh lên để chửi) [16,
tr469]; (Nhất đội nhì trời Ai ai cũng sợ, mà anh dám coi trời bằng vung) [16, tr476] Đường quang chẳng đi đâm quàng bụi rậm là câu tục ngữ chỉ những
người kém cỏi, không biết thời thế, không biết chọn việc nhàn, lại cứ lao vào
Trang 37chỗ khó khăn thử thách, gian nan “Bà Thêu thì rên lên: - Con ơi là con, có phúc chẳng biết hưởng phúc Sao con cứ tự đường quang đâm vào bụi rậm”
[16, tr534] Ăn nhạt mới biết thương mèo là câu tục ngữ với nghĩa chỉ khi gặp
vào hoàn cảnh giống nhau thì mới hiểu được nhau Giống như câu tục ngữ
“Ngưu tầm ngưu mã tầm mã” “Các cụ xưa bảo có ăn nhạt mới thương đến
mèo Phải chăng vì hai người ấy cũng có hoàn cảnh tương tự như tôi” [16,
tr657]
Trong số các câu tục ngữ được dùng theo hình thức cải biên đã thống
kê ở trên, chúng tôi nhận thấy, mỗi câu tục ngữ được dùng với mỗi dạng cải biên khác nhau, đó là các dạng cải biên như: Viết lại ý câu tục ngữ thành chuỗi lời nói, hay thay từ, rút bớt từ, thêm từ hoặc chỉ dùng một vế câu tục ngữ Cụ thể như sau: Các câu tục ngữ được viết theo kiểu diễn giải như câu
tục ngữ Chết đuối vớ được cọc, tác giả đã diễn giải thành: “Như kẻ chết đuối thấy mơ hồ một chiếc cọc.” [14, tr336] Câu tục ngữ Nực cười châu chấu đá
xe – Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng được viết thành “giơ càng bọ
ngựa ngăn xe” [14, tr135] Câu tục ngữ Miệng thì thơn thớt nói cười – Mà
trong nham hiểm giết người không dao được viết thành: “Ngoài miệng thơn
thớt mà trong lòng chỉ muốn chém giết.” [14, tr156] Câu tục ngữ Đất có thổ
công sông có hà bá được viết thành: “Đất nào cũng có thổ công, hà bá.” [15,
tr168] Câu tục ngữ Nứt giời rơi xuống được viết thành “kẻ đứt dây trên trời rơi xuống.” [16, tr271] Câu tục ngữ Chết đuối vớ được cọc được viết thành
“như người chết đuối bám vào cái cọc.” [16, tr447] Câu tục ngữ Ăn nhạt mới
biết thương mèo được viết thành “Có ăn nhạt mới thương đến mèo.” [16,
tr657] Câu tục ngữ Đường quang chẳng đi đâm quàng bụi rậm được cải biên
thành câu nói của bà Thêu khi nói chuyện với Rêu: “Sao con cứ tự đường
quang đâm vào bụi rậm [16, tr534] Câu tục ngữ Giận quá mất khôn được
Trang 38nhân vật trong truyện biến thành lời nói “Nóng giận làm ta mất khôn” [16, tr379]
Những câu tục ngữ được thay từ đó là câu tục ngữ Nước xa không cứu
được lửa gần Câu này được thay từ “không” bằng từ “làm sao”, Nước xa làm sao cứu được lửa gần Cũng như vậy, câu tục ngữ Đũa mốc đòi chọc mâm son tác giả đã thay từ “đòi chọc” thành từ “chòi sao được”; Đũa mốc chòi sao được mâm son Câu tục ngữ Rắn mất đầu đã được thay từ mất thành từ không
với nghĩa tương đương nhau Rắn không đầu Câu tục ngữ Mưa dầm thấm lâu được viết thành Mưa dầm thấm sâu Thay từ “lâu” thành từ “sâu” Câu tục ngữ Đỏ như hoa vông đông như miếng tiết, tác giả đã thay từ “hoa” thành từ
“miếng” và câu tục ngữ đó được viết thành Đỏ như miếng vông đông như
miếng tiết
Còn có những câu tục ngữ được dùng một vế như Ăn phải có nhai, nói
phải có nghĩ, tác giả chỉ dùng vế đầu của câu này “Ăn phải có nhai” mà
không sử dụng vế sau “nói phải có nghĩ” Câu tục ngữ đất có thổ công sông
có hà bá, xuất hiện trong tác phẩm Mẫu thượng ngàn, trong lời của nhân vật
Hoa nói chuyện với Nhụ khi hai người lên núi ông Đùng, bà Đà Hoa chỉ nói
có vế đầu của câu tục ngữ này là “Lễ đi! Động tới một ngọn cỏ một lá cây của ông Đùng bà Đà cũng phải xin phép Phải có lòng thành và phân minh cháu ạ
Đất có thổ công… nơi đây là đất của ông bà” [ 15, tr645] Câu tục ngữ Ếch ngồi đay giếng coi trời bằng vung, cũng được dùng một vế là “Coi trời bằng
vung” Câu tục ngữ Lòng vả cũng như lòng sung – Một trăm con lợn cùng
chung một lòng chỉ được dùng một vế “Lòng vả cũng như lòng sung.” Tương
tự, câu tục ngữ Cơm gà, cá gỏi, củ tỏi nước mắm tác giả chỉ dùng vế đầu
“cơm gà cá gỏi”
Còn dạng cải biên nữa đó là thêm, bớt từ ở dạng này, có những câu tục
ngữ như: Đói cho sạch rách cho thơm, câu này tác giả đã bớt đi từ “cho” để
Trang 39câu tục ngữ thêm ngắn gọn hơn, thành: “Đói sạch, rách thơm.” Câu tục ngữ
Gái có công chồng chẳng phụ lại được thêm từ thì vào giữa thành Gái có công thì chồng chẳng phụ Câu tục ngữ Được đằng chân lân đằng đầu cũng
được thêm từ “nó” thành Được đằng chân nó lân đằng đầu Câu tục ngữ Lên
voi xuống chó khi sử dụng, tác giả đã thêm trạng từ thời gian vào để viết lại
câu tục ngữ thành: “Hôm nay lên voi ngày mai xuống chó”
Như vậy là, với những câu tục ngữ được dùng theo nghĩa cải biên thì lại
có rất nhiều câu tục ngữ được dùng với các dạng cải biên khác nhau Mỗi dạng cải biên đều là ý đồ của tác giả và do văn phong viết văn của tác giả
2.2 Việc sử dụng tc ngữ trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn mà tính đến nay đã bỏ vào túi sáng tác của mình khá nhiều các tác phẩm truyện ngắn Tuy nhiên ở khuôn khổ bài viết của mình, chúng tôi chỉ khảo sát một số tác phẩm truyện ngắn tiêu biểu của ông Đó là các tác phẩm truyện ngắn bao gồm: Thương nhớ đồng quê, Đời thế mà vui, Tội ác và trừng phạt, Tướng về hưu, Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt, Không khóc ở California, Đưa sáo sang sông, Những người muôn năm cũ, Huyền thoại phố phường, Cún, Chút thoáng xuân hương, Không có vua Đó là những tác phẩm về xã hội Việt Nam đương đại, về đồng quê và những người dân lao động Trong những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, người lao động hiện lên với đầy đủ tính cách và một tâm hồn vô cùng phong phú, phức tạp Cùng với việc tận dụng triệt để cái hay, cái đẹp của những câu
ca dao, tục ngữ vào lời văn cũng như lối kể chuyện riêng, Nguyễn Huy Thiệp
đã làm cho truyện ngắn của mình thêm sâu sắc và hấp dẫn độc giả hơn rất
nhiều
2.2.1 Về tần suất xuất hiện
Với số lượng tác phẩm đã khảo sát chúng tôi tìm được 14 câu tục ngữ
được tác giả sử dụng Đó là các câu: Lửa thử vàng gian nan thử sức, Ác giả
Trang 40ác báo, Một giọt máu đào hơn ao nước lã, Cáo chết 3 năm quay đầu về núi, Khác máu tanh lòng, Ngậm miệng ăn tiền, Cha đưa mẹ đón, Trước lạ sau quen, Mẹ tròn con vuông, Ăn tàn phá hại, Ăn trông nồi ngồi trông hướng, Gió chiều nào theo chiều ấy, Cha chung không ai khóc, Có thực mới vực được đạo Chúng ta thấy số lượng sử dụng tục ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Huy
Thiệp ít hơn hẳn so với số lượng tục ngữ xuất hiện trong các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh Tuy nhiên điều này có thể giải thích một phần là do dung lượng tác phẩm quy định Những truyện mà chúng tôi khảo sát của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đều là truyện ngắn, có truyện rất ngắn, chỉ từ vài trang, dài lắm là vài chục trang Còn những tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh mà chúng tôi lựa chọn khảo sát đều là các tiểu thuyết có độ dài khá lớn
so với truyện ngắn Chính vì thế mà có sự chênh lệch về tần suất sử dụng tục ngữ giữa các tác phẩm của các tác giả này
Dưới đây là bảng thống kê các câu tục ngữ được sử dụng trong một số truyện ngắn đã khảo sát của Nguyễn Huy Thiệp
tục ngữ xuất hiện
Số tục ngữ sử dụng
Số tục ngữ nguyên dạng
Số tục ngữ cải biên
Những người muôn năm