Hay điều trị bằng phương pháp sinh học như sử dụng hóa dược, giải độc hệ thống, vật lý trị liệu, bấm huyệt… Mỗi phương pháp có những ưu điểm và hạn chế riêng, nhưng ABA là phương pháp đư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LOAN
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ABA VÀO CAN THIỆP TRỊ LIỆU NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI CHO TRẺ TỰ KỶ ( NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TRƯỜNG MẦM
NON CHUYÊN BIỆT TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LOAN
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ABA VÀO CAN THIỆP TRỊ LIỆU NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI CHO TRẺ TỰ KỶ ( NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TRƯỜNG MẦM
NON CHUYÊN BIỆT TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hồi Loan
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo Khoa xã hội học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã quan tâm, tạo điều kiện và giúp đỡ
tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi đến người hướng dẫn khoa học, PGS.TS Nguyễn Hồi Loan lời
biết ơn sâu sắc và sự quý trọng nhất về những định hướng quan trọng và đặc biệt là
về tinh thần nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Xin trân trọng cảm ơn các cán bộ, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh tại cơ sở Mầm non chuyên biệt Từ Sơn đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hành với trẻ tại trường
Cuối cùng, tôi xin gửi đến gia đình, bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn sâu sắc
vì đã luôn bên tôi, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
Trang 41
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn vấn đề can thiệp 5
2 Tổng quan những nghiên cứu, can thiệp liên quan đến vấn đề can thiệp 8
2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 8
2.2 Các nghiên cứu trong nước 10
3 Ý nghĩa can thiệp 12
4 Mục đích can thiệp 12
5 Khách thể và vấn đề can thiệp 12
6 Phạm vi can thiêp 12
7 Phương pháp thu thập thông tin 12
8 Phương pháp can thiệp 13
9 Cấu trúc của luận văn 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CAN THIỆP 15
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong can thiệp 15
1.1.1 Thuyết hành vi tạo tác của B.F Skinner 15
1.1.2 Thuyết học tập xã hội của Albert Bandura 17
1.1.3 Thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget 19
1.2 Khái niệm chính trong can thiệp 21
1.3 Cơ sở ý luận của phương pháp ABA 25
1.3.1 Khái niệm 26
1.3.2 Mục đích 26
1.3.3 Cơ sở lý thuyết 27
1.3.4 Nội dung tổng quát 27
1.3.5 Quy trình can thiệp theo phương pháp ABA 30
1.4 Các vấn đề về tự kỷ 36
1.4.1 Đặc điểm của trẻ tự kỷ 36
1.4.2 Nguyên nhân của tự kỷ 41
1.4.3 Những dấu hiệu nhận biết trẻ tự kỷ qua từng giai đoạn 42
CHƯƠNG 2: CÁC HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆN TRONG QUÁ TRÌNH CAN THIỆP CHO TRẺ TỰ KỶ THEO PHƯƠNG PHÁP ABA 45
Trang 52
2.1 Thực trạng trẻ tự kỷ và vận dụng phương pháp ABA vào can thiệp trị liệu cho trẻ tại trường
mầm non chuyên biệt Từ Sơn 45
2.2 Tiến trình làm việc với thân chủ 46
2.3 Các trường hợp thực hành Công tác xã hội cá nhân 48
2.3.1 Trường hợp 1 50
2.3.2 Trường hợp 2 65
2.3.3 Trường hợp 3 78
2.4 Đánh giá ưu điểm và nhược điểm của phương pháp ABA 87
CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP ABA 90
3.1 Mức độ đáp ứng nhu cầu của đối tượng can thiệp 90
3.2 Mối liên hệ giữa kiến thức, lý thuyết, phương pháp ứng dụng và kiến thức thực tế 90
3.3.1 Những thuận lợi trong quá trình can thiệp 91
3.3.2 Những khó khăn trong quá trình can thiệp trị liệu cho trẻ 93
KẾT LUẬN 95
KHUYẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 63
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ABA Applied Behavior Analysis ( Phân tích hành vi ứng dụng)
ASQ Ages & Stages Questionnaires ( Bảng câu hỏi về độ tuổi và giai đoạn)
CDC Centers for Disease Control and Prevention ( Trung tâm kiểm soát và
handicapped Children (Trị liệu và giáo dục các trẻ em Tự kỷ và các trẻ em khuyết
tật giao tiếp)
NVXH Nhân viên xã hội
Trang 74
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Những dấu hiệu nhận biết trẻ tự kỷ qua từng giai đoạn
Bảng 2.1 Điểm mạnh điểm yếu của hệ thống thân chủ ( Bé V.B.B)
Bảng 2.2: Kế hoạch can thiệp cá nhân ( Bé V.B.B)
Bảng 2.3: Bảng theo dõi tần suất của hành vi ( Bé V.B.B)
Bảng 2.4: Bảng ghi chú tiền đề - hành vi – hậu quả ( Bé V.B.B)
Bảng 2.5 : Điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống thân chủ ( Bé P.T.H)
Bảng 2.6 Kế hoạch can thiệp cá nhân ( Bé P.T.H)
Bảng 2.7: Điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống thân chủ ( Bé N.T.D)
Bảng 2.8: Kế hoạch can thiệp cá nhân ( Bé N.T.D)
Trang 8lý, trẻ có rối loạn tự kỷ là một trong những đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất Đặc biệt trong những năm gần đây thì số trẻ đi khám và được chẩn đoán bị tự kỷ và điều trị ngày càng nhiều và gia tăng rõ rệt
Tự kỷ là một dạng rối loạn về phát triển và đang nhận được sự quan tâm ngày càng sâu rộng của giới khoa học và xã hội, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới Trẻ bị rối loạn tự kỷ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển cũng như đời sống sinh hoạt hàng ngày
Tỷ lệ trẻ tự kỷ trên thế giới ngày càng gia tăng Vào tháng 3.2012, trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã rà soát lại một cách kỹ lưỡng
tỉ lệ ước lượng số lượng người mắc rối loạn tự kỷ trong nước Mỹ Con số mới là 1 trong 88 trẻ em Con số này đại diện cho sự gia tăng 23% so với báo cáo vào năm
2009 của CDC, là 1 trong 110 trẻ em Tỷ lệ này tăng 78% so với kết quả báo cáo năm 2007, ước tính là 1 trong 50 Tương đồng với những con số ước lượng trên đây, những con số mới vẫn nghiêng về các trẻ nam, ước lượng tỉ lệ số trẻ nam mắc rối loạn này là 1 trong 54, so sánh tỉ lệ với nữ có nguy cơ mắc rối loạn tự kỷ là 1 trong 252 trẻ [40]
Tại Việt Nam Nghiên cứu mô hình tàn tật ở trẻ em của Khoa phục hồi chức năng bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2000- 2007 cho thấy số lượng trẻ được chẩn đoán và điều trị tự kỷ ngày càng nhiều Số lượng trẻ có hội chứng phổ tự kỷ đến khám năm 2007 tăng gấp 50 lần so với năm 2000 [44]
Trang 96
Theo thống kê của Bệnh viện châm cứu trung ương, số trẻ mắc hội chứng tự
kỷ ngày càng gia tăng nên các cơ sở điều trị cho trẻ tự kỷ đều bị quá tải Hàng năm
có trên 3.000 lượt trẻ bị bại não, tự kỷ đến điều trị tại khoa nhi của bệnh viện
Thạc sỹ Dương Văn Tâm, bệnh viện Châm cứu trung ương cho biết: theo kết quả nghiên cứu, đánh giá 76 trẻ được chẩn đoán xác định là tự kỷ trong độ tuổi từ
20 tháng đến 7 tuổi vào điều trị tại khoa nhi bệnh viên Châm cứu trung ương trong thời gian từ 2008-2011 cho thấy tỷ lệ bé trai mắc hội chứng tự kỷ là 8 bé trai/1 bé gái, và trẻ ở thành thị mắc chứng tự kỷ nhiều hơn ở nông thôn, tuổi thấp nhất khi nhập viện lần đầu của trẻ là 20 tháng tuổi và tuổi lớn nhất là 68 tháng tuổi, khoảng 12% số trẻ được phát hiện các dấu hiệu của tự kỷ trước 2 tuổi; 19,74% số trẻ được phát hiện là do cô giáo chứ không phải là bố mẹ hay ông bà, 56,58% trẻ được phát hiện nhờ dấu hiệu chậm nói (trẻ đã hơn 2 tuổi) [35]
Ở nước ta chưa có con số nghiên cứu chính thức về số lượng trẻ có hội chứng rối loạn phổ tự kỷ Theo thống kê của Bộ Lao động – thương binh và xã hội, tính đến đầu năm 2016 ở nước ta có khoảng 200.000 người có chứng tự kỷ và con số này vẫn tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới
Không có hai trẻ tự kỷ nào giống nhau, mỗi trẻ rất khác nhau về mức độ nặng nhẹ của suy yếu giao tiếp xã hội, mức độ nặng nhẹ của hành vi và sở thích định hình lặp lại, khả năng trí tuệ, kỹ năng đạt được và cả tính cách cá nhân Trẻ gặp khó khăn trong việc thể hiện cảm xúc hay nhận biết cảm xúc của người khác Trong hoạt động vui chơi trẻ không biết chơi giả vờ, không biết cách thể hiện mong muốn của mình chính vì vậy mà trẻ thường gây ra những hành vi không phù hợp như thay vì lắc đầu không muốn đồ chơi thì trẻ ném đồ chơi, thay vì nói “không” khi có người khác chạm vào cơ thể mình thì trẻ cấu, cắn người đó Chính sự nhận thức còn hạn chế của trẻ cũng gây ra những hành vi không phù hợp của chúng Những khó khăn của trẻ gây trở ngại rất lớn trong việc kết bạn, quan hệ xã hội hay tham gia các hoạt động vui chơi, học tập và hòa nhập xã hội
Trang 107
Hiện nay có rất nhiều phương pháp can thiệp khác nhau cho trẻ tự kỷ như phương pháp RDI ( can thiệp phát triển quan hệ), phương pháp hỗ trợ giao tiếp bằng hình ảnh (PECS), phương pháp dựa trên phân tích hành vi ứng dụng (ABA) Hay điều trị bằng phương pháp sinh học như sử dụng hóa dược, giải độc hệ thống, vật lý trị liệu, bấm huyệt… Mỗi phương pháp có những ưu điểm và hạn chế riêng, nhưng ABA là phương pháp được cho là có hiệu quả hơn cả trong việc cải thiện về nhận thức, khả năng ngôn ngữ và hành vi thích nghi của trẻ tự kỷ Việc lựa chọn phương pháp can thiệp phù hợp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự thay đổi theo chiều hướng tích cực, giúp trẻ dễ dàng hơn trong hòa nhập xã hội
Sự phát triển của trẻ được thể hiện thông qua nhiều lĩnh vực khác nhau như:
kỹ năng xã hội, nhận thức, ngôn ngữ, hành vi… Trẻ tự kỷ thường có nhận thức kém về môi trường xung quanh, nhận thức sự vật, hiện tượng Trẻ tự kỷ rất khó khăn trong việc hiểu những khái niệm trừu tượng, kỹ năng khái quát rất hạn chế….Chính việc kém hiểu biết về nhận thức, hạn chế về ngôn ngữ dẫn đến nhiều hành vi tiêu cực ở trẻ Trẻ tự kỷ thường không quan tâm đến những chuẩn mực xã hội hiện hành, trong mọi nơi, mọi lúc, mọi tình huống trẻ thích hành động theo thói quen hơn là ứng phó hành vi phù hợp với hoàn cảnh, luôn có những hành vi kỳ cục, bất thường Việc can thiệp trị liệu về hành vi cho trẻ giúp cho trẻ cải thiện những hành vi tốt, giảm những hành vi không mong muốn, để giúp trẻ biết cách ứng xử một cách phù hợp khi ra bên ngoài và khi lớn lên Khi người lớn nhất là bố mẹ không kiểm soát được trẻ từ lúc nhỏ, nhiều khả năng lớn lên sẽ không quản lý được con mình
Với những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “ vận dụng phương pháp ABA vào can thiệp trị liệu nhận thức và hành vi cho trẻ tự kỷ” làm luận văn tốt
nghiệp
Trang 118
2 Tổng quan những nghiên cứu, can thiệp liên quan đến vấn đề can thiệp
2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Ngay từ thế kỷ 19 đã có những báo cáo về trường hợp đơn lẻ của những trẻ rất
bé mắc các bệnh rối loạn tâm trí nặng có liên quan đến một biến dạng rõ của quá trình phát triển và Maudsley (năm 1876) đã là nhà tâm bệnh học đầu tiên chú ý đến những nghiên cứu về những trạng thái này
Tuy nhiên, mãi rất lâu về sau này thì các rối loạn này mới được khoa học thừa nhận Ban đầu, chúng được xếp vào một dạng của tâm thần phân liệt Đến năm
1911, nhà tâm thần học Bleuler đã là người đầu tiên nói đến các rối loạn này dưới khái niệm “tự kỷ” Theo ông đó là một trong những triệu chứng tiên phát cơ bản của tâm thần phân liệt người lớn và tính tự kỷ là thể hiện một sự tập trung toàn bộ đời sống tâm lý của một con người vào thế giới bên trong của mình cùng với sự mất đi tiếp xúc, sự cắt rời với thế giới bên ngoài
Năm 1943, Kanner (Đại học John Hopkins – Hoa Kỳ) đã có những mô tả cụ thể về tự kỷ với rất nhiều sắc thái khác nhau trong hành vi như: Sự cách biệt, thiếu hụt trong tương tác xã hội, thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác, một số thói quen hàng ngày kỳ dị, tỉ mỉ; thiếu hụt giao tiếp bằng ngôn ngữ, không nói hoặc cách nói năng khác thường rõ rệt; hạn chế trong hoạt động tập trung và chú
ý, nhưng lại có một khả năng cao kỳ lạ ở một số lĩnh vực Từ đó sự quan tâm của giới khoa học ngày càng tăng về vấn đề này Đã có nhiều học thuyết giải thích về căn nguyên của tự kỷ và hành vi thực sự của những trẻ bị tình trạng này mới được dần dần quan sát và mô tả thật chi tiết
Sau đó, nhiều công trình nghiên cứu ra đời đã góp phần phát hiện sớm và cải thiện chất lượng cuộc sống của trẻ tự kỷ
Năm 1962, các cha mẹ và các nhà chuyên môn quan tâm đến vấn đề tự kỷ đã
thành lập hiệp hội tự nguyện đầu tiên của nước Anh, nay gọi là “hội tự kỷ quốc
gia” Nhờ những cố gắng của hội này, cùng với tác dụng của tuyên truyền của các
phương tiện truyền thông mà mọi người biết đến nhiều hơn về chứng tự kỷ
Trang 129
Các nghiên cứu về phát hiện sớm tự kỷ có một vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với hiêu quả can thiệp Hiện nay có hơn 10 phương pháp đang sử dụng phổ biến trong can thiệp cho trẻ có rối loạn phổ tự kỷ, có thể kể ra các phương pháp như: ABA, TEACCH, PECS, RDI… Riêng nghiên cứu về phương pháp phân tích hành
vi ứng dụng (ABA) từ năm 1987-2006 đã có hơn 500 công trình nghiên cứu được công bố [22,Tr.15]
HumPhrey và Parkinson (2006) chia các công trình nghiên cứu về tự kỷ thành
2 nhóm: nhóm nghiên cứu về chương trình can thiệp toàn diện và nhóm nghiên cứu
về phương pháp dạy trẻ cụ thể Theo đó, 2 chương trình can thiệp toàn diện nổi tiếng và được ứng dụng rộng rãi ở các nước có thể kể đến can thiệp tăng cường hành vi dựa trên phân tích hành vi ứng dụng được thực hiện đầu tiên do Viện can thiệp sớm Lovaas và chương trình TEACCH [16,Tr.3]
Có công rất lớn cho điều trị và can thiệp cho trẻ tự kỷ phải kể đến là tiến sĩ Ole Ivar Lovaas (1927 – 2010) là một nhà tâm lý học lâm sàng Na Uy Ông được coi là cha đẻ của phân tích hành vi ứng dụng (ABA) Ông là người đầu tiên cung cấp bằng chứng cho thấy hành vi của trẻ tự kỷ có thể được sửa đổi thông qua giảng dạy và được Bộ Y tế Mỹ công nhận năm 1999 Năm 1981 Lovaas đã xuất bản cuốn
sách viết về “ Phương pháp dạy trẻ em tàn tật” và năm 2002 sách dạy cá nhân chậm phát triển “Kỹ thuật can thiệp cơ bản” góp phần rất lớn thay đổi hành vi cho
trẻ em (dưới 5 tuổi)
ABA ( Applied Behavior Analysis) được đưa ra bởi Ivar Lovaas có thể coi là phương pháp phổ biến nhất, được sử dụng nhiều nhất, có nhiều biến thể nhất, có nhiều nghiên cứu nhất và nói chung được coi là phương pháp hiệu quả cho can thiệp
tự kỷ Các nghiên cứu bởi Lovaas (1987) và Luiselli, Cannon, Ellis và Sisson (2000) cho thấy ABA hiệu quả trong cải thiện khả năng nhận thức, kỹ năng ngôn ngữ, hành vi thích nghi ở trẻ tự kỷ [32]
Tiếp theo, cũng dựa trên cơ sở hành vi là các phương pháp can thiệp và trị liệu hành vi nói chung cho trẻ tự kỷ (Behavioral therapy / treatment / intervention) được
Trang 1310
ứng dụng trong can thiệp cho tự kỷ nói chung và các vấn đề ở trẻ tự kỷ như sợ hãi,
lo âu, lựa chọn thức ăn, hành vi hoặc ngôn ngữ lặp lại Một số nghiên cứu tiêu biểu như Shabani & Fisher (2006) nghiên cứu về điều trị sợ vật nhọn ở người bị tự kỷ; Tarbox, Schiff, & Najdowski (2010) ứng dụng kỹ thuật hành vi để can thiệp việc kén chọn thức ăn ở trẻ nhỏ tự kỷ; Taylor, Hoch, & Weissman (2005) cũng dùng can thiệp hành vi để điều trị sự lặp lại âm thanh ở một trẻ có tự kỷ
2.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, rối loạn phổ tự kỷ chỉ thực sự được biết đến ở những năm đầu thế kỷ XXI và các nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỷ cũng chỉ được tiến hành trong vài năm gần đây
- GS.TS Nguyễn Thị Hải Yến và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu biện pháp can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở nước ta
hiện nay và trong giai đoạn 2011- 2020” Nhóm nghiên cứu đã thực hiện nghiên
cứu tại các thành phố lớn nhà Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thái Nguyên, Thái Bình và Đồng Nai với các nhiệm vụ chính là xây dựng hệ thống lý luận, khảo sát thực trạng, đề xuất biện pháp, thực nghiệm và dự báo
Quá trình tổ chức sàng lọc, chẩn đoán tại ba địa phương là Hà Nội, Thái Nguyên và Thái Bình với số lượng 94.186 trẻ, đề tài đã xác định tỷ lệ trẻ tự kỷ là 0.41%, tỉ lệ Nam: Nữ là 3,2:1 Từ việc phân tích toàn diện thực trạng vấn đề trẻ tự
kỷ, can thiệp sớm, giáo dục hòa nhập và bảo trợ xã hội cho trẻ tự kỷ ở Việt Nam, đề tài xây dựng mô hình giải quyết vấn đề trẻ tự kỷ trên cơ sở sự phối hợp liên ngành y tế- giáo dục – bảo trợ xã hội [25]
- Tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu bài bản về các phương pháp can thiệp trẻ tự kỷ trong đó có phương pháp ABA
Năm 2007, tác giả Quách Thúy Minh đã tiến hành nghiên cứu “ Tìm hiểu một
số gia đình và hành vi của trẻ tự kỷ tại khoa Tâm thần Bệnh viện Nhi Trung Ương”
cho kết quả là 48,9% trẻ thường xuyên xem tivi, quản cáo, băng đĩa hình quá nhiều
Trang 1411
hàng ngày, 60% trẻ không đi mẫu giáo, 51,1% cha mẹ có quá ít thời gian tiếp xúc với con [21]
Có tác giả Ngô Xuân Điệp (2009), luận án Tiến sỹ “ Nghiên cứu nhận thức
của trẻ tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh” tác giả đã áp dụng phương pháp ABA và
ngôn ngữ trị liệu Nghiên cứu cho kết quả là khả năng nhận thức của trẻ tự kỷ kém hơn nhiều so với trẻ bình thường Mức độ tự kỷ, khả năng phát triển tâm vận động,
độ tuổi có ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của trẻ tự kỷ Không có sự chênh lệch
về mức độ nhận thức giữa trẻ nam và nữ bị tự kỷ Kết quả nghiên cứu cho thấy có
sự cải thiện nhận thức của trẻ tự kỷ và mối liên quan giữa mức độ chẩn đoán ban đầu với hiệu quả can thiệp[17, Tr 186]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Nữ Tâm An (2011) “tổng quan các nghiên
cứu về sử dụng phương pháp ABA trong can thiệp cho trẻ tự kỷ và hướng vận dụng vào Việt Nam”, kỷ yếu hội thảo khoa học giáo dục đăc biệt Việt Nam – kinh nghiệm
và triển vọng, kỷ niệm 10 năm thành lập khoa giáo dục đặc biệt (2001- 2011)[13] Cục bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội có bài
viết “Bất cập trong giáo dục trẻ tự kỷ hiện nay” đăng trên báo Giáo dục thời đại
6/6/2013 Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng có tới 70% trẻ tự kỷ bị chậm phát triển trí tuệ và khoảng 30% trẻ có trí tuệ phát triển bình thường Do đó việc chăm chữa
và giáo dục cho trẻ tự kỷ là một điều hết sức khó khăn và phức tạp
Mặt khác, còn một số nghiên cứu liên quan đến trẻ có rối loạn tự kỷ được xuất bản trên báo chí hoặc xuất bản thành sách hướng dẫn của các Bác sĩ hoặc các nhà
chuyên môn như: “trẻ em tự kỷ- phương thức giáo dục” của tác giả Nguyễn Văn Thành (2006), Nguyễn Thị Bích Hạnh nghiên cứu “Tự kỷ - phát hiện sớm và can
thiệp sớm”
Như vậy, có thể thấy rằng các nghiên cứu về tự kỷ ở Việt Nam còn ít, thiếu tính tập trung, mới chỉ dừng lại ở từng khía cạnh đơn lẻ của tự kỷ, vì vậy chưa phản ánh hết các vấn đề của trẻ tự kỷ, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn ở nước ta hiện nay
Trang 1512
3 Ý nghĩa can thiệp
- Việc can thiệp về hành vi và nhận thức cho trẻ có thể ngăn ngừa được các nhân tố nguy hiểm đối với trẻ hay những nguyên nhân dẫn đến sự chậm phát triển hoặc rối loạn chức năng Giúp trẻ nâng cao khả năng nhận thức và củng cố những hành vi phù hợp
- Giúp trẻ hình thành các kỹ năng cơ bản, giúp trẻ về lâu dài, sống độc lập và thành công ở mức độ có thể
4 Mục đích can thiệp
- Ứng dụng phương pháp can thiệp đối với hành vi và nhận thức của trẻ tự kỷ nhằm tìm ra cách thức tốt nhất để giúp trẻ tự kỷ loại bỏ hay hạn chế những hành vi bất thường, hình thành những hành vi, cách ứng xử phù hợp với các tình huống trong cuộc sống, cải thiện khả năng nhận thức và ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ để giúp trẻ
dễ dàng hòa nhập với môi trường xã hội xung quanh
- Tìm hiểu hiệu quả cũng như đáp ứng của trẻ đối với chương trình can thiệp,
từ đó đưa ra những kinh nghiệm, những phương pháp trị liệu cho trẻ
5 Khách thể và vấn đề can thiệp
- Vấn đề can thiệp: Sự thiếu hụt nhận thức và hành vi ở trẻ tự kỷ
- Khách thể nghiên cứu: 3 trẻ tự kỷ tại Mầm non chuyên biệt Từ sơn – Bắc Ninh
6 Phạm vi can thiêp
- Thời gian: 3 tháng ( Từ tháng 4 đến tháng 6/2016)
- Không gian: tại trường mầm non chuyên biệt Từ Sơn
- Độ tuổi can thiệp: trẻ tự kỷ từ 2-4 tuổi
- Nội dung can thiệp: Can thiệp hành vi và nhận thức của trẻ tự kỷ
7 Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Trang 1613
Tài liệu là nguồn cung cấp các thông tin nhằm đáp ứng mục tiêu và nội dung nghiên cứu Thông qua phương pháp nghiên cứu tài liệu để hệ thống lại các cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu đã có về phương pháp ABA
- Phương pháp sử dụng thang đo đánh giá
Sử dụng các thang đo đánh giá, xem xét trẻ có bị tự kỷ hay không, đồng thời đánh giá về mức độ phát triển của từng trẻ ở từng lĩnh vực khác nhau để đưa ra những kế hoạch can thiệp cụ thể và phù hợp với từng trẻ Cụ thể những thang đo được sử dụng để đánh giá về trẻ gồm: Đánh giá nguy cơ tự kỷ ở trẻ nhỏ ( M-CHAT), Bảng kiểm hành vi phát triển trẻ em (DBC-P)
Công cụ sàng lọc đánh giá sự phát triển toàn diện cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (ASQ-3 theo các lứa tuổi) Bảng câu hỏi ASQ sàng lọc 5 lĩnh vực phát triển ở trẻ: giao tiếp, vận động tinh, vận động thô, giải quyết vấn đề, cá nhân và xã hội ASQ gồm 2 câu hỏi dành cho trẻ từ 1 tháng đến 5 tuổi rưỡi
Thang đo Denver II giúp đánh giá được khả năng của trẻ trên các mặt phát triển: vận động thô, vận động tinh, ngôn ngữ, cá nhân – xã hội
Bên cạnh đó sử dụng các thang đo này để đánh giá hiệu quả của phương pháp ABA đã được áp dụng trên trẻ thông qua sự tiến bộ của trẻ
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu được thực hiện giữa nhà can thiệp với các bậc cha mẹ của trẻ tự
kỷ hoặc người chăm sóc trẻ nhằm tìm hiểu những đặc điểm về trẻ bao gồm những thông tin về tiền sử, các triệu chứng, các thói quen, khả năng, các cách ứng xử, hành vi, những phương pháp, kỹ thuật trị liệu… đã được thực hiện đối với trẻ đó
8 Phương pháp can thiệp
- Phương pháp Công tác xã hội cá nhân: Phương pháp Công tác xã hội cá nhân được sử dụng trong can thiệp trị liệu cho trẻ tự kỷ thông qua quá trình tiếp cận, làm quen, tìm hiểu và trợ giúp cho trẻ thông qua những thông tin thu được từ cha mẹ, những người xung quanh trẻ Với trẻ rối loạn phát triển nói chung và trẻ tự kỷ nói
Trang 1714
riêng là những đối tượng khó khăn trong việc phát triển các mối quan hệ xã hội, là những đối tượng dễ bị tổn thương và rất khó để tự bản thân trẻ có thể nhận thức được mọi việc xung quanh cũng như hòa nhập với xã hội nếu không có sự can thiệp trợ giúp của nhà can thiệp Bên cạnh đó việc giáo dục với những đối tượng là trẻ tự
kỷ đòi hỏi phải thực hiện nhiều lần và liên tục trong một khoảng thời gian dài Mỗi trẻ tự kỷ lại có những đặc điểm, nhận thức, hành vi khác nhau, không có hai trẻ tự
kỷ hoàn toàn giống nhau vì vậy lựa chọn can thiệp theo mô hình công tác xã hội cá nhân là sự lựa chọn hợp lý để mang lại sự trợ giúp tốt nhất cho trẻ
Phương pháp công tác xã hội cá nhân đôi khi được sử dụng với cha mẹ/ người chăm sóc trẻ để giúp họ vượt qua những khó khăn trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ, giúp họ giải tỏa tâm lý, cùng họ vượt qua những khó khăn, khủng hoảng mà
họ có thể gặp phải khi họ mới nhận được thông tin con họ mắc chứng tự kỷ mà không thể tìm được sự giúp đỡ từ những nơi khác
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Từ những tri thức về lý thuyết chung, nhà can thiệp áp dụng cho từng trường hợp cụ thể Ưu điểm của phương pháp này là đem lại cái nhìn toàn diện, tổng thể với từng ca có yếu tố cụ thê, riêng biệt, sinh động
9 Cấu trúc của luận văn
Với việc thực hiện làm luận văn theo hướng thực hành vì vậy mà ngoài phần
mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn của tôi sẽ bao gồm những nội dung như sau:
Chương 1: Cở sở lý luận và thực tiễn của can thiệp
Chương 2: Các hoạt động thực hiện trong quá trình can thiệp
Chương 3: Các yếu tố tác động đến thực hiện phương pháp ABA
Trang 1815
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CAN THIỆP 1.1 Lý thuyết ứng dụng trong can thiệp
1.1.1 Thuyết hành vi tạo tác của B.F Skinner
*Nội dung của thuyết
Toàn bộ học thuyết của Skinner dựa trên nguyên lý vận hành có điều kiện Các sinh thể luôn luôn ở trạng thái vận hành trong môi trường sống của mình, nói cách khác đi các sinh thể không ngừng vận động và di chuyển, thực hiện những việc cần phải làm Trong quá trình vận hành có chủ ý này, những sinh thể tiếp cận có chú ý nhiều hơn với những kích thích đặc biệt có ảnh hưởng đến những vận hành
ấy Những kích thích này được gọi là kích thích củng cố, đơn giản hơn đấy là một tác nhân củng cố Kích thích củng cố có nhiệm vụ thúc đẩy số lần của một vận hành nhất định tăng lên trong tương lai Nghĩa là một hành vi sẽ xảy ra nhiều hơn sau khi sinh thể tiếp cận với nguồn kích thích có lợi Đây chính là quá trình vận hành phản
xạ có điều kiện: một hành vi tạo ra một kết quả, và kết quả ấy sẽ thuyết phục sinh thể để tạo ra một xu hướng lặp lại những hành vi ấy trong tương lai
Ông cho rằng một số những thao tác nào đó có thể làm giảm 1 số ứng xử này
và làm tăng một số ứng xử khác
- Theo nguyên lý củng cố thì một đáp ứng được tăng cường khi được củng cố
Vì vậy có thể duy trì hay chấm dứt hành vi nào đó thông qua các dạng củng cố
- Trong nghiên cứu của Skinner ông đã coi tầm quan trọng của môi trường không phải là sự khơi dậy hành vi và môi trường quan trọng bởi vì nó chọn lọc hành
Trang 19Trong mô hình này, hành vi của trẻ được hình thành qua việc học tập Việc học là kết quả của thưởng và phạt Hành vi của trẻ được hình thành hay mất đi đều
do tác dụng của việc củng cố (cụ thể là khen thưởng hay trừng phạt) Các hành vi không tốt của trẻ thường là kết quả của những củng cố không tốt (củng cố sai) hoặc các mẫu hình củng cố không tốt (sai) Đặc biệt, theo lý thuyết này, chúng ta sẽ củng
cố tích cực cho những hành vi tốt của trẻ hơn là phạt những hành vi không tốt của trẻ Khi trẻ bị phạt, có thể những hành vi không tốt sẽ giảm, nhưng trẻ không biết chúng được phép làm gì, hay làm gì mới đúng để không bị phạt, và cũng không thể chắc chắn sẽ không gây ra những hành vi sai phạm khác Còn với việc khen thưởng cho hành vi tốt của trẻ, người lớn cho trẻ biết rằng, trẻ được phép làm những hành
vi nào và với những hành vi đó trẻ sẽ nhận được sự khen ngợi
Nhà can thiệp sẽ sử dụng các củng cố tăng cường và củng cố tiêu cực đối với hành vi của trẻ khi trẻ làm những hành vi đúng như mong muốn của nhà can thiệp hoặc của bố mẹ (người chăm sóc) thì cần đưa ra những phần thưởng nhằm củng cố
Trang 2017
hành vi của trẻ Phần thưởng có thể là phần thưởng về vật chất: bánh kẹo, bim bim… hoặc tinh thần: khen ngợi, khích lệ, ôm, hôn, vỗ tay… hoặc quà khác Ngược lại khi trẻ có những hành vi không phù hợp thì nhà can thiệp/ bố mẹ (người chăm sóc) có thể sử dụng các củng cố tiêu cực để hạn chế, chấm dứt hành vi này của trẻ thông qua các sự trừng phạt như: không được ăn kẹo, chơi game…
Việc sử dụng hệ thống các phần thưởng và thử nghiệm để thay đổi hành vi trong một hoàn cảnh nhất định, hoặc vì một nhiệm vụ cụ thể được gọi là điều kiện hóa hành vi hay điều chỉnh hành vi
Việc khen thưởng có ý nghĩa rất lớn đối với trẻ bởi trong thực tế người lớn thường chỉ chú ý đến những hành vi chưa tốt của trẻ mà chẳng mấy khi để ý đến những hành vi đúng của trẻ Trẻ ít được khen khi làm tốt mà chỉ bị phạt (mắng mỏ, đánh) khi làm gì đó không tốt Vì thế trẻ không học được cách ứng xử phù hợp Nếu không được khen ngợi mà chỉ bị mắng nhiếc, phê phán, trẻ rất dễ phát triển nhận thức tiêu cực về bản thân cho rằng mình kém cỏi, không làm được việc gì dẫn tới chán nản, không cố gắng
Khi một hành vi nhất định của con người được khuyến khích, họ sẽ thích lặp lại hơn hoặc tiếp tục hành vi đó Những hành vi đã được huấn luyện là nền tảng cho những hành vi đúng đắn khác Khi trẻ tự kỷ được khuyến khích, chúng sẽ cố gắng đạt được những kỹ năng mới Với sự luyện tập thường xuyên cuối cùng sẽ thành thạo những kỹ năng này
1.1.2 Thuyết học tập xã hội của Albert Bandura
* Nội dung
- Lý thuyết này giải thích: Hành vi của con người là kết quả của quá trình học tập của các cá nhân thông qua bắt chước, tự tiếp nhận, chọn lọc thông tin Và hành
vi của con người được thực hiện theo nhu cầu, khả năng riêng của mỗi người
- Thuyết này được sử dụng để giải thích và điều chỉnh hành vi;
+ Một là, học tập thông qua hành vi mẫu
Trang 21* Áp dụng thuyết vào can thiệp trẻ tự kỷ
Mô hình này lý giải hành vi của trẻ là do trẻ học tập qua quan sát – hay đơn giản là sự bắt chước những người xung quanh Cụ thể, các hành vi được hình thành bằng cách quan sát ai đó thể hiện các hành vi này và lặp lại những hành vi đó Việc trẻ bắt chước ai và bắt chước những hành vi nào lại phụ thuộc vào những củng cố
mà trẻ nhận được khi thực hiện hành vi (trẻ thích hay không thích củng cố đó), hoặc tần suất của những hành vi trẻ quan sát được (trẻ càng quan sát được trong thời gian dài thì việc bắt chước càng dễ dàng và nhanh hơn) Vì vậy, để trẻ có những hành vi tốt, cần tạo ra những hình mẫu tốt cho trẻ
Lý thuyết này được áp dụng thực hiện để trẻ tự kỷ học tập hành vi bằng cách:
- Tạo ra môi trường để trẻ học tập, học tập từ nhà can thiệp, bạn bè, người chăm sóc
- Bắt chước: chúng ta giáo dục cho trẻ bắt chước những hành vi của các bạn, của giáo viên để từ đó trẻ từ bỏ được hành vi không mong muốn và thay vào đó là những hành vi khác được người khác mong đợi Với trẻ tự kỷ và đặc biệt đối tượng lại là trẻ em thì việc bắt chước có thể diễn ra dễ dàng hơn đặc biệt là khi trẻ đang ở
độ tuổi việc học tập bằng việc bắt chước là một phương pháp hiệu quả
- Tạo ra hành vi mẫu: bằng cách nhà can thiệp, bố mẹ ( người chăm sóc) làm mẫu sau đó hướng dẫn và yêu cầu trẻ thực hiện, chúng ta có thể truyền đạt giúp trẻ hiểu được một khái niệm bất kỳ để trẻ áp dụng được khái niệm đó trong quá trình giao tiếp cũng như trong cuộc sống
Việc can thiệp, giáo dục trẻ tự kỷ là tương đối phức tạp, tốn nhiều công sức, tiền của Việc vận dụng các lý thuyết trong việc can thiệp trẻ tự kỷ đóng vai trò vô
Trang 2219
cùng quan trọng Đi cùng với các lý thuyết là những phương pháp can thiệp tương ứng Các lý thuyết chỉ ra rằng các cách thức để thực hiện các phương pháp đó và tiên đoán được những kết quả mang lại Vai trò của nhà giáo dục vận dụng một cách linh hoạt những lý thuyết, những phương pháp để giải quyết tình huống Trên thực tế với mỗi trường hợp chúng ta có thể kết hợp nhiều phương pháp, lý thuyết khác nhau để giải quyết vấn đề
1.1.3 Thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget
Người đại diện cho lý thuyết này là Jean Piaget (1896-1980)
Trong nghiên cứu của mình, Piaget (1952) cho rằng trẻ nhỏ tư duy rất cụ thể, trẻ càng lớn tư duy càng phức tạp và trìu tượng
Theo Piaget mỗi đứa trẻ sinh ra đã có sẵn một ít phản xạ để chúng thao tác với môi trường Ông gọi các phản xạ này là các lược đồ, cho phép đứa trẻ làm các việc như: bú, nhìn, nắm Ông coi mỗi lược đồ là một yếu tố trong cơ cấu nhận thức của trẻ Khi đứa trẻ lớn dần, các lược đồ mới lại xuất hiện Các lược đồ mới bớt tính phản xạ và nhiều tính nhận thức hơn Ông đưa ra bốn giai đoạn phát triển nhận thức:
- Giai đoạn cảm giác vận động (dưới 2 tuổi): giai đoạn này trẻ phát triển từ những phản xạ tự nhiên đến hiểu môi trường Trên 2 tuổi là tư duy trực quan hành động Trẻ thể hiện hành vi hướng tới mục đích Thay bằng những phản xạ trẻ lớn hơn có nhiều động tác cùng lúc để đạt được mục đích của mình, tuy nhiên còn hạn chế
- Giai đoạn tiền thao tác (2-7 tuổi): giai đoạn này tư duy của trẻ phát triển ngày càng logic và trìu tượng, khả năng nhớ và giải quyết vấn đề phát triển Sử dụng các biểu tượng để nghĩ về sự vật, tình huống và sau đó diễn tả lại bằng lời Ngôn ngữ có thể sử dụng để diễn tả suy nghĩ kể cả trong trường hợp sự vật hoặc tình huống không phải đang hiện hữu
Trang 2320
- Giai đoạn thao tác cụ thể (7-11 tuổi): ở giai đoạn này trẻ bắt đầu biết về dung lượng và phát triển một số khái niệm phức tạp Tuy nhiên, chỉ có thể áp dụng các khái niệm này vào các vấn đề cụ thể mà trẻ có thể xử lý trực tiếp Giai đoạn này trẻ đạt được tư duy trìu tượng vào cuối giai đoạn Có thể xem xét nhiều sự vật, vấn đề
để hình thành ra các giả thuyết trìu tượng về hành động và cấu tạo của chúng Piaget
đã nêu ra 3 đặc điểm tư duy của tuổi vị thành niên:
+ Có thể nhìn sự việc từ nhiều góc độ
+ Phân tích được tác động của vật này – vật khác
+ Xem xét các mối quan hệ logic, hệ thống để đưa ra kết luận
- Giai đoạn thao tác hình thức (11 tuổi trở lên): Piaget và các nhà tâm lý đều giả thuyết rằng thông tin đến từ môi trường sẽ được xử lý bởi các cơ cấu nhận thức khi nó chuyển thành hành vi
Quan điểm nhận thức của Piaget cho ta một hướng nhìn toàn diện về quá trình phát triển nhận thức của trẻ em từ giai đoạn sơ sinh đến tuổi trưởng thành thông qua các hoạt động nhận thức như cảm giác - vận động, nhận thức các hình ảnh biểu trưng, thực hiện thao tác trí tuệ cụ thể và các thao tác trí tuệ mang tính hình thức Lý thuyết này chủ yếu sử dụng cho lý giải sự phát triển nhận thức của trẻ tự kỷ [3]
* Áp dụng thuyết phát triển nhận thức vào quá trình can thiệp cho trẻ tự kỷ
Thuyết phát triển nhận thức cho thấy được sự phát triển của trẻ em qua các giai đoạn khác nhau Căn cứ vào thuyết này nhà can thiệp biết được sự nhận thức của trẻ qua từng giai đoạn đồng thời đánh giá được sự phát triển của trẻ tự kỷ so với những trẻ khác từ đó đưa ra những chương trình can thiệp phù hợp với khả năng của trẻ Piaget nhấn mạnh việc chơi là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển sự khẳng định mình trong suy nghĩ; vai trò của nhà can thiệp là khai thác các tình huống và các vật liệu trong môi trường để khuyến khích trẻ chơi, qua đó kích thích sự suy nghĩ và giao tiếp tích cực của trẻ
Trang 2421
Trong khi các trẻ khác rất thích đồ chơi thì trẻ tự kỷ không quan tâm cũng như không muốn đụng chạm tới những đồ chơi thông thường, các đồ vật xung quanh có hấp dẫn đến mấy cũng không thu hút sự chú ý của trẻ Trẻ tự kỷ rất thích cầm một vật trên tay như: ống hút, sợi dây… trẻ có thể chơi với đồ vật này hàng giờ mà không biết chán Chính vì thói quen và sở thích nghèo nàn này, trẻ tự kỷ không có nhu cầu khám phá thế giới và dẫn đến hạn chế nghiêm trọng trong nhận thức và hiểu biết đồ vật xung quanh
Những đặc điểm nhận thức của trẻ tự kỷ không giống với những trẻ bình thường nên hình thức giáo dục đối với trẻ tự kỷ khác với những chương trình giáo dục bình thường Tất cả các chương trình can thiệp cho trẻ đều phải dựa trên đánh giá về nhận thức của trẻ
1.2 Khái niệm chính trong can thiệp
- Khái niệm trẻ em:
+ Theo công ước quốc tế: trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn
+ Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt nam dưới 16 tuổi”
Từ quan niệm trên ta có thể hiểu trẻ em là những trẻ nhỏ, chưa trưởng thành Đây giai đoạn đầu trong quá trình phát triển của con người và ở giai đoạn này trẻ
em cần được bảo vệ, quan tâm, chăm sóc và giáo dục để có thể phát triển hoàn thiện bản thân
- Khái niệm hội chứng tự kỷ:
Tự kỷ: tự kỷ là một chủ đề được quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu từ rất lâu do
đó có nhiều cách hiểu và quan niệm khác nhau
+ Quan niệm của Bleuler năm 1911: “Tự kỷ là khái niệm dùng để chỉ những
người bệnh tâm thần phân liệt không còn liên hệ với thế giới bên ngoài nữa mà
Trang 2522
sống với thế giới của riêng mình, bệnh nhân chia cắt với thực tế bên ngoài và lui về thế giới bên trong, khép mình trong ham muốn riêng và tự mãn”
+ Năm 1943, Leo Kanner - một nhà tâm thần học người Mỹ thuộc bệnh
viện John Hopkins ở Baltimore đã đưa ra định nghĩa “trẻ tự kỷ là những trẻ
không tạo lập mối quan hệ với con người, thường có thái độ bàng quan, thờ ơ với mọi người xung quanh, có biểu hiện chậm nói, chủ yếu giao tiếp qua các
cử chỉ đôi khi có vẻ kỳ dị, cùng với các hoạt động vui chơi đơn giản, mang tính lặp đi lặp lại”[9]
+ Theo định nghĩa của Liên hợp quốc: tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển
suốt đời được thể hiện trong vòng 3 năm đầu đời Tự kỷ là do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ Tự kỷ có thể xảy ra ở bất kỳ cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc, giàu nghèo và địa vị xã hội Tự kỷ được biểu hiện ra ngoài bằng những khiếm khuyết về tương tác xã hội, khó khăn về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp
và lặp đi lặp lại
+ Theo tác giả Lê Khanh thì “chứng tự tỏa ( hay tự kỷ) gọi chung là hiện tượng tự
tỏa theo nguyên nghĩa là tự mình phong tỏa các khả năng quan hệ của mình với bên ngoài Việt Nam còn gọi là Tự kỷ hay Tự bế… Tình trạng này có thể xảy ra cho bất
kỳ một đứa trẻ nào, không lệ thuộc vào dân tộc, xã hội hay trình độ phát triển của cha mẹ”[5]
Từ những quan niệm trên ta có thể coi Hội chứng tự kỷ là sự rối loạn phát triển lan tỏa do sự bất thường của não bộ, xuất hiện sớm trong những năm đầu đời của trẻ em Với những biểu hiện đặc trưng ở các lĩnh vực: kém tương tác xã hội, bất thường về ngôn ngữ, giao tiếp và hành vi
Ba lĩnh vực suy yếu của trẻ tự kỷ: tương tác xã hội, giao tiếp và hành vi định hình lặp lại
Suy yếu về tương tác xã hội: hành vi phi ngôn ngữ ( không hoặc hạn chế nhìn mắt, không hoặc hạn chế chỉ tay, không hoặc rất ít sự chú ý đồng thời…); chia sẻ (
Trang 2623
không có nhu cầu chia sẻ cảm xúc nếu thấy cái gì đó mới lạ, đáng sợ, không có nhu cầu chú ý từ người khác); tính chất qua lại trao đổi trong quan hệ; hiểu cảm xúc ( không nhận biết được người khác vui hay buồn, mẹ đang ốm và buồn nhưng trẻ vẫn
có thể chạy nhảy cười); không có hoặc thiếu tình bạn/ không chơi với bạn cùng trang lứa ( trẻ không hứng thú, không thích tương tác, nói chuyện và chia sẻ với người khác, không có bạn bè Trẻ có thể né tránh tiếp xúc với người khác)
Suy yếu về giao tiếp: Nhiều người tự kỷ không thể nói hoặc chỉ nói được một
số từ; chậm ngôn ngữ hoặc không thể duy trì giao tiếp; kể cả khi trẻ có thể giao tiếp thì cách nói chuyện thường lạ, ít sự tiếp nối, không gây hứng thú, không đúng cách
và gây chán cho người khác; sử dụng ngôn ngữ rập khuôn hoặc lạ/ vô nghĩa, ví dụ lặp lại một đoạn quảng cáo hoặc chương trình phát thanh
Hành vi định hình lặp lại: Những vận động cơ thể kỳ lạ ở tay hoặc toàn bộ cơ thể ( vẫy tay hoặc quay tròn); những hứng thú/ sở thích kỳ lạ ( sự tập trung hoặc cường độ)’ lịch trình sinh hoạt cứng nhắc và không có chức năng thích nghi, khó chịu khi lịch trình bị phá vỡ…
- Khái niệm nhận thức:
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về nhận thức
Nhận thức là một hoạt động đặc trưng của con người Trong quá trình sống và hoạt động con người nhận thức bản thân mình và hiện thực xung quanh, từ đó con người bày tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với chính bản thân mình Như vậy có thể nói chính trong hoạt động thì con người làm chủ được
tự nhiên, làm chủ được xã hộ và làm chủ được chính bản thân mình
Theo “ từ điển Bách khoa Việt Nam” nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể [10]
Trang 2724
Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng và từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn
Theo Từ điển Tâm lý học của tác giả Nguyễn Khắc Viện: “ Nhận thức là hiểu
được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó” Trong định nghĩa này nhận thức
được đánh giá như những hiểu biết về sự vật, hiện tượng, về không chỉ hình thức bên ngoài mà còn cả tính quy luật của đối tượng [12, Tr.445]
Từ đó ta có thể hiểu: Nhận thức là quá trình phản ánh, tái hiện hiện thực khách quan vào đầu óc con người trong quá trình hoạt động, giao tiếp xã hội, qua đó con người biểu thị khả năng hiểu biết và vận dụng vào cuộc sống của mình
- Khái niệm hành vi:
Theo từ điển Tâm lý học của Mỹ thì “Hành vi là một thuật ngữ khái quát
nhằm chỉ những hoạt động, hành động, phản ứng, phản hồi, những di chuyển, tiến trình có thể đo lường được của bất cứ một cá thể đơn lẻ nào”[11]
Những nhà nghiên cứu về môn khoa học hành vi gần đây đã có cái nhìn khái quát hơn về định nghĩa hành vi Họ cho rằng, hành vi còn bao gồm những trạng thái bên trong, quá trình trao đổi sinh học hay những trạng thái tương tự Như vậy theo cách tiếp cận này, khái niệm hành vi sẽ được hiểu linh hoạt hơn những định nghĩa nếu trước đó: yếu tố hành vi còn bao hàm cả phạm trù tâm trí và nhận thức
Hành vi có thể được định nghĩa là cách thức mà mỗi cá nhân cư xử hoặc hành động và là cách thức cá nhân tự kiểm soát Hành vi nên được nhìn nhận trong mối quan hệ với một hiện tượng, đối tượng hoặc cá nhân nào đó Nó có thể được xem xét có liên quan đến các quy tắc xã hội, hay là cách mà cá nhân cư xử với những người khác, hoặc cư xử đối với đồ vật
Vì vậy hành vi là cách thức cá nhân hành động hướng tới mọi người, xã hội hoặc đồ vật Nó có thể là hành vi tích cực hoặc hành vi tiêu cực Nó có thể là hành
Trang 2825
vi bình thường hay bất bình thường tùy thuộc vào các quy tắc xã hội quy định Xã hội sẽ luôn cố gắng sửa chữa những hành vi tiêu cực và cố gắng điều chỉnh những hành vi bất thường trở về quỹ đạo bình thường
- Khái niệm Hành vi có vấn đề: là những hành vi gây ra sự phiền toái, khó
chịu hoặc gây hại cho trẻ hoặc cho người khác hoặc sai lệch so với chuẩn mực xã hội Hành vi có vấn đề gây ra trở ngại cho việc sinh hoạt, học tập của trẻ, thậm chí
cô lập trẻ khỏi những người xung quanh
- Khái niệm Phương pháp can thiệp:
+ Khái niệm phương pháp trong triết học: phương pháp được hiểu là cách thức, con đường thực hiện một hành động nào đó để đạt một mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định trong nhận thức và thực tiễn
Trong mối quan hệ với nội dung, Hê-ghen (nhà triết học Đức) định nghĩa phương pháp là sự vận động nội tại của nội dung Nội dung nào thì phương pháp
đó Không thể lắp ghép tùy tiện nội dung này với phương pháp khác
+ Khái niệm phương pháp can thiệp
Từ định nghĩa về phương pháp theo quan điểm triết học, ta có thể hiểu phương pháp can thiệp là cách thức, con đường thực hiện những hành động nào đó tác động đến một đối tượng nhằm mục đích làm thay đổi đối tượng đó
- Khái niệm quản lý hành vi: Quản lý hành vi là việc sử dụng nhiều kỹ thuật
để làm tăng những hành vi phù hợp, giảm những hành vi không phù hợp và dạy những hành vi mới
1.3 Cơ sở ý luận của phương pháp ABA
Phương pháp này đòi hỏi trẻ không chỉ ngồi học ở trường mà khi về nhà trẻ vẫn tiếp tục học suốt cả ngày, tương tác và học hỏi từ môi trường xung quanh hàng ngày Phương pháp này đòi hỏi phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình để tạo môi trường thích hợp cho trẻ khi ở các môi trường khác nhau Cách dạy này đòi hỏi nhiều thời gian, có thứ tự chặt chẽ và gồm các bước lập đi lập lại,
Trang 2926
theo đó trẻ nghe lệnh và được thưởng mỗi lần có những ứng xử, hành vi phù hợp ABA dạy trẻ biết nghe lời, thuận theo yêu cầu của cha mẹ và giảm bớt những hành
vi thái quá do chứng tự kỷ gây ra Đầu tiên là học ngồi yên và làm theo chỉ dẫn vì
đó là cái căn bản cho trẻ học tới những hành vi khác phức tạp hơn [39]
1.3.1 Khái niệm
Phương pháp ABA (Applied Behavioral Analysis) hay còn gọi là phương pháp phân tích hành vi ứng dụng, được sử dụng nhiều trong các hoạt động can thiệp trẻ tự kỷ Phân tích hành vi ứng dụng được xem như là việc sử dụng phương pháp phân tích hành vi và dựa trên các kết quả nghiên cứu để thay đổi tích cực các hành
vi quan trọng có ý nghĩa xã hội Tự kỷ chỉ là một trong số nhiều địa hạt có thể ứng dụng thành công phân tích hành vi [39]
1.3.2 Mục đích
Phương pháp này được dùng không chỉ để điều chỉnh hành vi mà còn được thiết kế để dạy các kỹ năng, từ kỹ năng cơ bản như tắm rửa, thay quần áo cho tới những kỹ năng phức tạp hơn như tương tác xã hội Một nghiên cứu gần đây cho thấy hơn một nửa số trẻ tham gia trị liệu toàn thời gian ở cường độ cao đã có những tiến bộ về hành vi
Từ đầu những năm 1960, phân tích hành vi ứng dụng đã được hàng trăm nhà trị liệu sử dụng để dạy kỹ năng giao tiếp, tương tác xã hội, kỹ năng vui chơi… ABA cũng được dùng để giảm thiểu những vấn đề hành vi ở trẻ tự kỷ Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy ABA cải thiện đáng kể tiến bộ của trẻ, đặc biệt là cải thiện kỹ năng ngôn ngữ và khả năng nhận thức cho trẻ
Mục tiêu của chương trình theo hướng tiếp cận ABA: Mục tiêu chung và cuối cùng là để giúp mỗi trẻ hình thành các kỹ năng cơ bản, giúp trẻ, về lâu về dài, sống độc lập và thành công ở mức có thể [39]
Trang 3027
1.3.3 Cơ sở lý thuyết
Can thiệp hành vi là những hoạt động, quá trình hay chương trình được thiết
kế để thay đổi hành vi của trẻ tự kỷ Cở sở lý thuyết của những phương pháp can thiệp về hành vi có thể giải thích đơn giản là những hành vi được củng cố (thưởng)
sẽ tái diễn thường xuyên hơn là những hành vi bị bỏ qua hoặc bị phạt Phương pháp tiếp cận này cho rằng tất cả các hành vi đều được hình thành thông qua con đường học tập và các hành vi này được điều khiển bởi tiền đề và hậu quả của chúng Nền tảng của việc ứng dụng học thuyết này dựa trên tư tưởng cho rằng có thể hình thành
và duy trì hành vi của đối tượng bằng sự lặp lại , bằng các phần thưởng hay hình phạt Theo cách này, có thể phân tích một việc phải học của trẻ thành những bước nhỏ và sử dụng như là một chương trình học cho trẻ Mỗi bước này có thể định hình thông qua sự củng cố hợp lý
Đối với phương pháp phân tích hành vi ứng dụng, người trị liệu sẽ đưa ra một nhiệm vụ cho đứa trẻ Mỗi nhiệm vụ cho trẻ bao gồm một yêu cầu thực hiện một hành động cụ thể, phản hồi từ đứa trẻ và phản hồi từ phía người trị liệu Nhiệm vụ được chia nhỏ thành nhiều phần hoặc nhiều lần Mỗi khi một nhiệm vụ được hoàn thành tốt, một phần thưởng được đưa ra để củng cố hành vi hoặc nhiệm vụ đó [39]
1.3.4 Nội dung tổng quát
ABA là tên gọi viết tắt của Applied Behavior Analysis
Từ thứ nhất ANALYSIS: có nghĩa là phân tích, khảo sát, đo lường, quan sát
và xác định điều nào cần làm, cần nói và cần dạy, để thành quả có thể đạt mức độ mong muốn tối đa
Từ thứ hai là BEHAVIOR: có nghĩa là hành vi cụ thể và khách quan bên ngoài Nói khác đi, hành vi là tất cả những gì chúng ta có thể “đếm, đo, cân, lường”, nghĩa là quan sát, ghi nhận một cách khoa học và khách quan từ bên ngoài Dựa trên các lý thuyết khoa học về hành vi
Trang 3128
Từ thứ ba là APPLIED: có nghĩa là được áp dụng, ứng dụng và sử dụng Nhất
cử nhất động, mỗi một lời nói, một cái liếc nhìn, việc làm… đều phải được nghiên cứu, khảo sát và chuẩn bị một cách kỹ càng Người giáo viên, khi tiếp xúc và trao đổi với trẻ em, không thể tùy tiện, hay là tùy cơ ứng biến Mỗi sự việc, hiện tượng
“đến trước” hay “đến sau” ,đối với một hành vi của trẻ đều phải được sử dụng và biến thành những kích thích có hiệu năng đặc biệt hay là những yếu tố củng cố và tăng cường, đối với việc học tập và tiến bộ của trẻ em
ABA là khoa học phân tích hành vi ứng dụng Nó cung cấp một cấu trúc để nhìn vào hành vi con người, cái gì gây nên hành vi và cách nào làm tăng hoặc giảm hành vi
Phương pháp ABA đặt trong tâm vào 2 đường hướng chính yếu : Đường hướng thứ nhất là chuyển hóa những hành vi tiêu cực, đang tạo ra những trở ngại trầm trọng cho vấn đề học tập và xây dựng quan hệ tiếp xúc trong môi trường
xã hội
Đường hướng thứ hai là khuyến khích và cổ vũ, củng cố và tăng cường những hành vi tích cực, đang “đạt chỉ tiêu” Nhờ vậy, trẻ em sẽ ngày càng có khả năng đáp ứng và thực hiện những mục đích và yêu cầu do đời sống xã hội đề xuất và ấn định, trong nhiều lĩnh vực khác nhau, như ngôn ngữ, vận động, tự lập và nhận thức…[39]
ABA cung cấp cấu trúc cơ bản để dạy kỹ năng mới ( hành vi ta muốn tăng)
Cụ thể ABA thường được dùng để:
- Tăng các hành vi được mọi người mong đợi: Biết chào khi gặp người khác, biết xin lỗi khi làm sai…
- Dạy các kỹ năng mới: kỹ năng về tự lập: rửa mặt, rửa chân/ tay, đánh răng… các kỹ năng về giao tiếp xã hội: cách thể hiện nhu cầu, kỹ năng xin/ cho…
- Duy trì các hành vi tốt
- Khái quát hoặc chuyển tiếp hành vi từ một tình huống hoặc phản hồi đến một tình huống hoặc phản hồi khác
Trang 32Tuy nhiên khi đứa trẻ lớn lên, chương trình này sẽ chuyển sang việc đào tạo các kiến thức thực hành và kỹ năng thích nghi Chương trình học sẽ được nâng cao liên tục để các kỹ năng đơn giản được giảng dạy trước Tuy nhiên chương trình này không nhất thiết phải cứng nhắc tuân theo nguyên tắc trên
Việc can thiệp theo hướng phân tích hành vi cho trẻ tự kỷ tập trung chủ yếu vào dạy những đơn vị hành vi được chia nhỏ một cách có hệ thống Vì hầu hết các trẻ tự kỷ đều không thể hiện được những kỹ năng thông thường và tương đối đơn giản như: nhìn vào mắt người khác, giao tiếp và tương tác xã hội… Do vậy, những
kỹ năng này cần được chia thành các bước nhỏ hơn để dạy Trong quá trình dạy chủ yếu sử dụng các tình huống dạy một - một Bắt đầu mỗi bước dạy, nhà can thiệp cần đưa ra những yêu cầu hoặc gợi ý thật cụ thể Đôi khi có thể nhắc cho trẻ (ví dụ như cầm tay trẻ) để giúp trẻ bắt đầu thực hiện Tuy nhiên cũng cần lưu ý là việc nhắc hay gợi ý trẻ cũng cần được cân nhắc và phải giảm dần để tránh cho trẻ trở nên thụ động và phụ thuộc vào các gợi ý đó Sau mỗi lần trẻ thực hiện xong cần phải củng
cố bằng cách khen thưởng cho trẻ Mục đích chủ yếu ở đây là tạo cho trẻ một môi trường học vui vẻ và thoải mái
Một mục tiêu nữa là dạy trẻ cách phân biệt các kích thích khác nhau Ví dụ như phân biệt tên của mình trong số các âm thanh, lời nói khác nhau; phân biệt màu sắc, hình dạng, các con chữ, con số; phân biệt hành vi phù hợp và không phù hợp… Không củng cố khi trẻ thể hiện những hành vi có vấn đề (ví dụ như hờn dỗi
Trang 3330
kéo dài, hành vi rập khuôn, tự kích thích…) Thêm vào đó, trẻ cần được giúp đỡ để được tham gia vào những tình huống có hành vi phù hợp nhằm tránh cho trẻ lại thể hiện những hành vi không mong muốn
Việc dạy trẻ cũng cần phải linh hoạt, các tiết dạy cần lặp đi lặp lại nhiều lần Ban đầu tiết dạy có thể lặp đi lặp lại thường xuyên cho tới khi trẻ có thể tự mình thực hiện được Việc thể hiện hành vi của trẻ cần được ghi lại và đánh giá theo những tiêu chí cụ thể và khách quan Ngoài ra, chúng còn cần được biểu đồ hóa để cha mẹ hay nhà can thiệp của trẻ có thể nắm được một cách khái quát sự phát triển của trẻ và giúp họ điều chỉnh chương trình can thiệp Mỗi trẻ cũng như mỗi kỹ năng cần dạy lại yêu cầu một chương trình can thiệp và quy định thời gian can thiệp khác nhau Do vậy, mỗi trẻ cần một cách chỉ dẫn khác nhau, phụ thuộc vào các bước thực hiện kỹ năng và cách học tập của từng trẻ
1.3.5 Quy trình can thiệp theo phương pháp ABA
1.3.5.1 Đánh giá trước khi can thiệp
Tại sao việc đánh giá trẻ trước khi can thiệp lại quan trọng? Bởi một chương trình đưa trẻ đến thành công không phải là một chương trình dễ thực hiện mà là một chương trình dựa trên sự đánh giá chính xác những điều trẻ có thể làm và không thể làm
Nếu chỉ dựa vào quan sát và nhận định chủ quan sẽ dễ mắc phải sai sót là đánh giá quá cao hay quá thấp khả năng của trẻ Việc đánh giá quá cao khả năng của trẻ
dễ đưa đến chương trình quá khó khăn, ngăn cản trẻ đạt được những kỹ năng trong tầm tay của trẻ Việc đánh giá thấp khả năng của trẻ sẽ đưa tới một chương trình không hấp dẫn và thiếu tính thách thức
Đánh giá của chuyên gia
Để can thiệp cho trẻ trước tiên phụ huynh và những người liên quan phải biết vấn đề của trẻ là gì, bản chất của vấn đề đó, định hướng chung để giải quyết vấn đề
đó
Trang 3431
Các chuyên gia đánh giá trẻ thông qua các phương pháp như: phỏng vấn bố
mẹ, người chăm sóc; quan sát cách trẻ nói năng, ứng xử, hành động trong các môi trường khác nhau; tương tác trực tiếp với trẻ từ đó tìm hiểu phong cách, điểm mạnh
và vấn đề trong tương tác của trẻ với mình; sử dụng các thang đo trắc nghiệm
Đánh giá của giáo viên – người trực tiếp dạy trẻ
Sau khi có sự tư vấn, định hướng từ các chuyên gia đánh giá, phát hiện sàng lọc vấn đề, phụ huynh và giáo viên nên kết hợp để áp dụng chương trình can thiệp cho trẻ Hoạt động đánh giá trước và trong quá trình can thiệp có những mục đích
cụ thể như sau:
Đánh giá trước can thiệp nhằm giúp giáo viên xác định kỹ năng hiện có của trẻ
và mức độ thuần thục kỹ năng của trẻ so với trẻ khác cùng tuổi Nên bắt đầu dạy trẻ những cái trẻ chưa có chứ không phải là cái mà trẻ phải đạt được trong độ tuổi của trẻ
Đánh giá trong quá trình can thiệp giúp giáo viên nhìn thấy rõ trẻ đã có thể làm được gì, sẵn sàng đáp ứng hoặc tiếp tục học được bài gì, xác định kỹ năng tiếp theo cần dạy cho trẻ và cũng giúp chúng ta nhận ra trẻ đang tiến bộ như thế nào, chúng ta cần thay đổi chương trình khi nào và ở đâu
1.3.5.2 Đặt mục tiêu và lên kế hoạch can thiệp
Nên đặt ra cho trẻ những mục tiêu ngắn hạn, những mục tiêu ngắn hạn sẽ giúp cho giáo viên biết hướng tiến của mình để có thể sắp xếp các buổi dạy và tận dụng các cơ hội bất chợt xảy đến cho việc học Ngoài ra, mục tiêu ngắn hạn còn giúp giáo viên nhận ra khi nào trẻ làm chủ được một kỹ năng, để dạy tiếp một kỹ năng cao hơn
Mục tiêu của chương trình can thiệp được dựa trên những điều trẻ có thể làm Chương trình can thiệp nhằm mục đích giúp trẻ có được cuộc sống càng bình thường càng tốt vì vậy yêu cầu của chương trình can thiệp là:
Trang 3532
+ Chương trình dạy những kỹ năng phát triển bình thường, dạy những kỹ năng
mà trẻ bình thường học khi chúng phát triển- những kỹ năng làm cơ sở để chúng phát triển xa hơn
+ Chương trình chia việc giảng dạy thành từng bước nhỏ
+ Chương trình dựa trên sự đánh giá cẩn thận
+ Chương trình hướng tới các mục tiêu cụ thể trong khi tổ chức hoạt động cho trẻ
+ Chương trình được xây dựng cho cá nhân từng trẻ
1.3.5.3.Can thiệp
* Phương pháp ABA được dạy theo quy trình 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: một việc xảy ra trước là hiệu lệnh bằng lời hoặc bằng động tác
ví dụ như ra lệnh hoặc yêu cầu cái gì Cái này có thể đến từ môi trường hoặc từ một người khác hoặc từ bản thân đối tượng
- Giai đoạn 2: một hành vi theo sau, là phản hồi của đối tượng (của trẻ) hoặc không phản hồi với hiệu lệnh/ yêu cầu
- Giai đoạn 3: một hệ quả, tùy thuộc vào hành vi Hệ quả có thể là khích lệ thưởng cho hành vi mong muốn hoặc không phản ứng với hồi đáp chưa chuẩn xác ABA tập trung vào việc dạy kỹ năng mới đồng thời giảm thiểu các hành vi không phù hợp
Hầu hết các chương trình ABA đều có kết cấu rất bài bản Những kỹ năng và hành vi hướng tới được dựa trên một chương trình đã có sẵn Mỗi kỹ năng được chia thành nhiều bước nhỏ và được dạy bằng cách nhắc, ta sẽ xóa nhắc từ từ khi trẻ thông thạo từng bước Trẻ có cơ hội lặp đi lặp lại các bước trong các môi trường khác nhau Mỗi khi trẻ đạt được những kết quả như mong muốn, trẻ sẽ được khuyến khích bằng lời khen hoặc những thứ mà trẻ thích [14]
* Các kỹ thuật can thiệp dựa trên thực chứng
Trang 36+ Phân tích nhiệm vụ: là việc bẻ nhỏ nhiệm vụ mục tiêu, đặc biệt là hành vi phức tạp thành các bước nhỏ hơn và sắp xếp các bước thành chuỗi
Sử dụng kỹ thuật này để dạy các kỹ năng mới phức tạp và khó
+ Tạo hình: là quá trình mà qua đó ta dần dần sửa hành vi hiện tại của trẻ trở thành hành vi ta muốn Thực hiện bằng cách điều chỉnh yêu cầu của nhà trị liệu trước khi củng cố được đưa ra Khi trẻ phải học một từ, trước hết chỉ yêu cầu trẻ sờ vật trước khi được cầm nó, sau đó yêu cầu trẻ phát âm những âm đầu tiên, cuối cùng là từ
+ Gợi ý/ nhắc nhở: là sự hỗ trợ của nhà trị liệu để khuyến khích một đáp ứng đúng Gợi ý để giúp một người thể hiện một vài hành động hoặc để giúp một người ghi nhớ điều gì đó Đối với trẻ tự kỷ, nhắc nhở thường là một phần quan trọng và cần thiết của việc học những kỹ năng mới Trong quá trình làm việc với trẻ nhà can thiệp không đưa ra quá nhiều sự gợi ý/ nhắc nhở trong một khoảng thời gian ngắn, trẻ có thể bị rối Sau khi nhắc nhở, sau đó một khoảng thời gian dài trước khi lặp lại
sự nhắc nhở hoặc đưa ra một sự nhắc nhở mới Hình thức nhắc nhở mạnh nhất thường xảy ra khi dùng hình thức trợ giúp về thể chất hay còn gọi là cầm tay chỉ việc Nhắc nhở/ gợi ý có thể được thực hiện qua các cấp độ khác nhau như: nhắc nhở thể chất, nhắc nhở trực quan ( nhìn tranh ảnh các hoạt động, đồ vật), nhắc nhở bằng lời nói, nhắc nhở không lời, làm mẫu, nhắc nhở bằng chữ viết
+ Làm mờ sự nhắc nhở/ gợi ý: Là quá trình loại bỏ dần dần sự nhắc nhở để trẻ chủ động phản hồi thực hiện hành vi đúng một cách độc lập
Trang 3734
Đây là một phần cơ bản trong dạy trẻ không phụ thộc vào gợi ý Mỗi gợi ý phải dần dần rút đi khi trẻ trở nên thành công cho đến khi đáp lại đúng mà không cần gợi ý Theo tác giả Granpeesheh và cộng sự ( 2014), điều quan trọng nhất của nhắc nhở là làm cho nó có hiệu quả: nó phải giúp được người học làm được phản hồi đúng Điều quan trọng thứ 2 của nhắc nhở là bạn phải thoát khỏi nó Vì vậy, sớm như là khi sự nhắc nhở bắt đầu có hiệu quả, người dạy cần bắt đầu loại bỏ nó Quá trình này loại bỏ sự nhắc nhở được gọi là làm mờ đi sự nhắc nhở Một trong những nguyên nhân phổ biến của kết quả không được mong muốn trong sự nỗ lực của phân tích hành vi ứng dụng (ABA) là “phụ thuộc vào sự nhắc nhở” Phụ thuộc vào sự nhắc nhở đơn giản nghĩa là việc làm mờ sự nhắc nhở không thành công sau khi phản hồi/ việc trẻ đã thực hiện được củng cố
+ Xâu chuỗi: Các kỹ năng đã được bẻ ra thành những đơn vị nhỏ nhất để dạy
và cần xâu chuỗi lại với nhau Đây là cách hữu ích để dạy hành vi hoặc nhiệm vụ phức tạp hơn, thường bao gồm bẻ nhỏ chúng thành những bước nhỏ hơn, những bước này sau đó được dạy trong cùng một thời điểm Khi mỗi bước đã được học, bước tiếp theo đã được dạy, người dạy không được bỏ qua các bước, hoặc dạy nó không theo trật tự logic Người dạy có thể dùng chuỗi các bước từ đầu đến cuối hoặc trật tự ngược lại
Xâu chuỗi xuôi và ngược là hai kỹ thuật được dùng để dạy kỹ năng mới
Chuỗi xuôi: kỹ thuật này cho thấy bước đầu tiên của chuỗi được dạy trước, và các bước còn lại của chuỗi cũng được hoàn thành bởi nhà trị liệu hoặc sự nhắc nhở của nhà trị liệu với người học không có sự kỳ vọng họ hoàn thành một cách độc lập
Chuỗi ngược: dùng phương pháp tương tự giống chuỗi xuôi nhưng theo trật tự các bước ngược lại Người dạy bắt đầu với bước cuối cùng trong chuỗi Khi mà bước cuối xảy ra, nhà trị liệu dùng nhắc nhở để giúp người học thể hiện đúng bước cuối, củng cố phản hồi đúng cùng với sự củng cố mạnh mẽ, sau đó làm mờ sự nhắc nhở
Trang 3835
Ưu điểm của việc dạy với kỹ thuật chuỗi là nhiệm vụ được phân chia thành những bước nhỏ nên sẽ không làm trẻ bị rối và người dạy làm theo từng bước một tại một thời điểm cho đến khi trẻ đã học được nhiệm vụ đó
ABA là thiết kế, tiến hành và đánh giá của những điều chỉnh trong môi trường
để có được những tiến bộ đáng kể trong hành vi xã hội ABA bao gồm việc quan sát trực tiếp, đo lường, và phân tích mối quan hệ giữa môi trường và hành vi
Trong hình thức trị liệu này, người trị liệu sẽ đưa ra một nhiệm vụ cho đứa trẻ Mỗi nhiệm vụ cho trẻ bao gồm một yêu cầu thực hiện một hành động cụ thể, phản hồi từ đứa trẻ, và phản hồi từ phía người trị liệu Nhiệm vụ được chia nhỏ thành nhiều phần hoặc nhiều lần Mỗi khi một nhiệm vụ được hoànt hành tốt, một phần thưởng được đưa ra để củng cố hành vi hoặc nhiệm vụ đó Phương pháp này được dùng không chỉ để điều chỉnh hành vi mà còn được thiết kế để dạy các kỹ năng, từ
kỹ năng cơ bản như tắm rửa, mặc quần áo, cho tới những kỹ năng phức tạp hơn như tương tác xã hội Một nghiên cứu gần đây cho thấy hơn một nửa số trẻ tham gia trị liệu toàn thời gian ở cường độ cao đã có những tiến bộ về hành vi
+ Củng cố khác nhau: Củng cố là cách sử dụng bất kỳ thứ gì có để làm tăng hành vi mong đợi
Củng cố có lẽ là phần quan trọng nhất của việc dạy Nó là sự đưa ra một đáp ứng lại hành vi của trẻ sao cho sẽ có nhiều khả năng làm tăng hành vi mong đợi
“Khác nhau” có nghĩa thay đổi các mức độ củng cố tùy theo đáp ứng của trẻ Việc khó thì nên được củng cố mạnh hơn việc dễ Phải thay đổi một cách có hệ thống các củng cố sao cho trẻ cuối cùng sẽ đáp ứng một cách phù hợp với tần xuất tự nhiên của củng cố (thỉnh thoảng mới củng cố) và với các dạng tự nhiên của củng cố (xã hội)
Có các hình thức củng cố đó là củng cố dương tính và củng cố âm tính
Củng cố dương tính: - sự xuất hiện của một kích thích dương tính Chẳng hạn như khi trẻ làm một hành vi tốt, người lớn khen thưởng thì trẻ sẽ làm nhiều hành vi tốt
Trang 39Trẻ tự kỷ gặp khó khăn trong việc khái quát hóa những điều đã học, chúng học, làm được ở trong một hoàn cảnh nhất định nhưng chúng lại không biết chuyển giao đúng kỹ năng đó ở hoàn cảnh khác nhau.
* Thời lượng và tần suất của chương trình ABA
Một buổi can thiệp ABA thường kéo dài từ 2 đến 3 giờ, gồm những khoảng thời gian ngắn có cấu trúc, thường thường kéo dài từ 3 đến 5 phút để hoàn thành một nhiệm vụ Cứ một tiếng lại nghỉ giải lao khoảng 10 đến 15 phút
Từ 25 đến 40 giờ mỗi tuần Người ta khuyến khích các gia đình sử dụng
nguyên lí ABA trong cuộc sống thường ngày [14], [15]
Chương trình ABA bao gồm hỗ trợ tại trường với một nhà can thiệp với một trẻ để giúp trẻ chuyển sang áp dụng các kỹ năng một cách có hệ thống trong môi trường lớp học bình thường Các kỹ năng được chia nhỏ vừa sức và tăng dần lên để trẻ biết cách học trong một môi trường tự nhiên Tạo điều kiện giúp trẻ chơi đùa với
bạn cùng lứa cũng là một phần của chương trình can thiệp
Trang 4037
dường như trẻ tự kỷ nói chung lại có bề ngoài khôi ngô tuấn tú Nhưng hầu hết các
mô tả về mặt chức năng tâm lý cho thấy có vấn đề rõ rệt [42]
1.4.1.2 Đặc điểm về kỹ năng xã hội
Hầu như trẻ không chủ động khởi đầu giao tiếp
Không hiểu và sử dụng được các cử chỉ điệu bộ không lời như nét mặt, ngôn ngữ cơ thể để diễn đạt mong muốn hay hiểu được mong muốn của người khác qua ngôn ngữ cơ thể
Hầu như không giao tiếp mắt- mắt với người khác, hoặc có thì rất thoáng qua Thu mình thích chơi một mình, không thích giao tiếp với người khác
Khả năng phối hợp vận động chân tay kém, nhất là các vận động tinh tế nên hay vụng về, lóng ngóng, hậu đậu
Không biết hoặc khó chơi với các trẻ cùng tuổi
Khó duy trì một cuộc giao tiếp
Không hiểu các quy tắc giao tiếp xã hội nên hay “làm phiền” những người xung quanh
Do những kỹ năng xã hội kém nên trẻ tự kỷ thường không được các bạn bè cùng lứa chào đón, thường bị những người xung quanh kỳ thị, ác cảm
Lúc nhỏ trẻ tự kỷ thường biểu lộ nhu cầu qua tiếng khóc, lớn lên trẻ biểu lộ ý muốn bằng cách kéo tay người lớn đến vật mong muốn Khi lớn lên, đôi khi trẻ có thể sử dụng và có khi hiểu được cử chỉ, điệu bộ của người lớn Một số trẻ đạt đến khả năng chơi bắt chước, nhưng cách chơi thường vẫn có tính rập khuôn và lặp đi lặp lại Trẻ tự kỷ có thể biểu lộ cảm xúc vui, sợ, giận dữ… nhưng cách thể hiện có khuynh hướng cực đoan
Trẻ bị suy giảm nhiều trong ứng xử qua lại với mọi người, hầu hết trẻ tự kỷ biểu hiện sự cô lập, thích chơi một mình, tránh giao tiếp với các bạn… số đông phụ huynh cho rằng trong những năm đầu tiên trẻ rất ngoan, yên tĩnh, thích chơi một