Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, nếu biết khai thác, sử dụng nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời một cách hợp lí thì không những có thể sớm hoàn thành quá trình công nghiệp
Trang 1tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn Viện Triết học
Nguyễn thị tùng lâm
vấn đề khai thác và sử dụng một cách hợp lí nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc
luận văn thạc sĩ Triết học
Hà nội - 2005
Trang 2tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn Viện Triết học
Nguyễn thị tùng lâm
vấn đề khai thác và sử dụng một cách hợp lí nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc
Chuyên ngành: Triết học Mã số: 602280
Trang 4Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển của bất kì một quốc gia nào, một vấn đề luôn đ-ợc đặt lên hàng đầu, thu hút sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khoa học, khác nhau, từ khoa học, tự nhiên tới khoa học, xã hội và nhân văn, đặc biệt là Triết học,, kinh tế học,, đó chính là mối quan hệ giữa
tự nhiên và con ng-ời Bản thân mối quan hệ giữa tự nhiên và con ng-ời là một phức hợp các mối quan hệ, đ-ợc biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau Trong phức hợp các quan hệ đó, mối quan hệ trong lĩnh vực sản xuất của cải vật chất là quan trọng nhất
Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, để tồn tại và phát triển con ng-ời luôn lấy giới tự nhiên làm đối t-ợng lao động phổ biến của mình Tự nhiên không chỉ là môi tr-ờng sống thuần tuý của con ng-ời, mà còn là nơi để con ng-ời khai thác và tạo ra những sản phẩm cần thiết cho nhu cầu tồn tại, phát triển của mình và xã hội Với t- cách nh- vậy, môi tr-ờng tự nhiên trở thành nguồn lực cho quá trình sản xuất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất, dù nguồn lực tự nhiên có phong phú, đa dạng đến đâu, nh-ng nếu không có sự tham gia của con ng-ời với t- cách là chủ thể của quá trình sản xuất thì nguồn lực tự nhiên chỉ luôn ở dạng tiềm năng Do đó, con ng-ời giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất và cũng nh- nguồn lực tự nhiên, con ng-ời trở thành một nguồn lực của quá trình sản xuất
Cũng nh- nhiều quốc gia đang phát triển khác trên thế giới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội ở Việt Nam Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, nếu biết khai thác, sử dụng nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời một cách hợp lí thì không những có thể sớm hoàn thành quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc trong thời gian ngắn, mà còn tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững về sau Để công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công, chúng ta không
Trang 5chỉ học, hỏi có lựa chọn kinh nghiệm và thành tựu khoa học, - công nghệ của các n-ớc tiên tiến đi tr-ớc, mà còn phải tập trung khai thác và phát huy triệt để những lợi thế sẵn có của mình, nhất là con ng-ời và tự nhiên - hai nguồn lực trung tâm của sự phát triển
Xem xét quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở n-ớc ta hiện nay, phải nói rằng, các nguồn lực trên ch-a đ-ợc chúng ta sử dụng hiệu quả; sự suy thoái, xuống cấp của môi tr-ờng tự nhiên và chất l-ợng của ng-ời lao động
đang là những hạn chế lớn, ảnh h-ởng trực tiếp đến tốc độ, chất l-ợng và hiệu quả của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nguyên nhân chính vẫn là do
sự nhận thức của chúng ta ch-a thật đúng và đầy đủ về vai trò của nguồn lực
tự nhiên, nguồn lực con ng-ời cũng nh- ch-a khai thác, sử dụng hợp lí hai
nguồn lực này trong quá trình phát triển đất n-ớc
Có thể khẳng định rằng, nhận thức đúng tầm quan trọng của nguồn lực
tự nhiên và nguồn lực con ng-ời, trên cơ sở đó có các giải pháp phù hợp nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thực sự là việc làm cần thiết, là vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách, có ý nghĩa cả về lí luận lẫn thực tiễn
Với mong muốn góp một phần làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và
thực tiễn của vần đề nói trên, chúng tôi chọn “Vấn đề khai thác và sử dụng
một cách hợp lí nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc” làm đề tài nghiên cứu luận
văn Thạc sĩ Triết học, của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Mối quan hệ giữa nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời đã đ-ợc
đặt ra từ lâu Trong các tài liệu Triết học, mácxít trong và ngoài n-ớc, đề tài tự nhiên và con ng-ời đã đ-ợc nghiên cứu ở mức độ đáng kể Hầu hết các khía cạnh đáng l-u ý của vấn đề (tự nhiên-con ng-ời- mối quan hệ giữa chúng) đều
đã ít nhiều đ-ợc đề cập
Trang 6ở Việt Nam, số l-ợng các công trình nghiên cứu về vấn đề này ngày càng nhiều Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, từ năm 1973 đã có bài
viết Con ng-ời và môi tr-ờng sống, đăng trên Tạp chí Triết học, số 3, 1973, rồi bài Những t- t-ởng của Ph Ănghen về quan hệ giữa con ng-ời và tự nhiên trong “Biện chứng của tự nhiên”, Tạp chí Triết học, số 4, 1980 Trong
các bài viết đó, tác giả đã nhấn mạnh đến lí do thu hút sự chú ý hàng đầu của các nhà khoa học, thế giới thuộc tất cả các lĩnh vực về mối quan hệ mật thiết giữa con ng-ời - xã hội - tự nhiên, sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, mối
đe doạ khủng hoảng sinh thái và nhấn mạnh ý nghĩa của những quan điểm của
Ph Ănghen về các vấn đề trên Hay trong Tạp chí Hoạt động Khoa học, số 3,
1992, tác giả Lê Quý An đã phân tích sự liên hệ mật thiết giữa ba yếu tố quan
trọng không tách rời trong xã hội, đó là “dân số, tài nguyên môi tr-ờng và phát triển”
Mối quan hệ tự nhiên - xã hội - con ng-ời cũng đ-ợc tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm đề cập tới trong nhiều bài viết của mình Trong Tạp chí Triết học,
số 1, 1992, với bài Những t- t-ởng cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin
về mối quan hệ giữa con ng-ời, xã hội và tự nhiên, tác giả đã khẳng định rằng,
thế giới cực kì phức tạp và đa dạng, đ-ợc tạo thành từ nhiều yếu tố, song suy cho cùng có 3 yếu tố cơ bản: giới tự nhiên, con ng-ời và xã hội; ba yếu tố này thống nhất với nhau trong một hệ thống “tự nhiên - con ng-ời - xã hội” vì chúng đều là những dạng, những trạng thái, những đặc tính và những quan hệ khác nhau của vật chất đang vận động Theo tác giả, ba yếu tố trên có vai trò khác nhau nh-ng bao giờ cũng thống nhất bền vững và biện chứng Tác giả
viết: “Không thể đối lập, càng không thể tách cái sinh học, ra khỏi cái xã hội trong bản thân con ng-ời Do vậy, cũng không thể tách con ng-ời ra khỏi môi tr-ờng tự nhiên hay môi tr-ờng xã hội Hai môi tr-ờng đó thống nhất với nhau tạo ra môi tr-ờng sống của con ng-ời”
Tác giả Đỗ Thị Ngọc Lan trong bài Về mối quan hệ giữa sự thích nghi
và việc cải tạo môi tr-ờng tự nhiên trong quá trình hoạt động sống của con
Trang 7ng-ời, Tạp chí Triết học, số 1, 1992, có viết: “Tr-ớc khi con ng-ời cải tạo
đ-ợc tự nhiên thì con ng-ời phải thích nghi với nó Ngay cả khi khả năng ấy
là vô cùng to lớn, thì con ng-ời vẫn buộc phải thích nghi trong một giới hạn
đáng kể với giới tự nhiên, bởi một lẽ đơn giản là con ng-ời không thể bất chấp các quy luật tự nhiên” Trong Luận án Tiến sĩ Triết học,, 1996 “Mối quan hệ giữa yếu tố sinh học, và yếu tố xã hội trong quá trình hình thành và phát triển con ng-ời”, tác giả Vũ Thị Tùng Hoa lại nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa tự
nhiên và con ng-ời ở ph-ơng diện sinh học, để thông qua đó, thấy đ-ợc sự khăng khít không thể tách rời giữa tự nhiên và con ng-ời trong hoạt động sống, hoạt động lao động sản xuất của con ng-ời
Trên Tạp chí Triết học, số 6, 1999, tác giả Phạm Văn Đức cho rằng, để khai thác có hiệu quả nguồn lực con ng-ời phải thực hiện nhiều giải pháp trong đó có việc tạo ra cơ hội có việc làm là một giải pháp quan trọng và đ-ợc
sử dụng nh- một công cụ quản lí hữu hiệu Đề cập đến việc tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tác giả Nguyễn Duy Quý, trong bài
“Phát triển con ng-ời, tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở n-ớc ta” đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 9, 1998 đã nhấn mạnh
sự cần thiết phát triển con ng-ời và cho rằng, phát triển con ng-ời về thực chất
là phát triển và hoàn thiện nhân cách con ng-ời theo yêu cầu của thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bên cạnh các bài báo trên các tạp chí, còn có các ấn phẩm d-ới dạng
sách, như: “Vấn đề con ng-ời trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của Phạm Minh Hạc (Chủ biên), nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; “Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” của Lê Hữu
Tầng (Chủ biên), nhà xuất bản Khoa học, Xã hội, Hà Nội 1997, v.v… Ngoài ra, còn có những Luận văn, Luận án bàn về nguồn lực con ng-ời,
chẳng hạn nh- trong Luận án Tiến sĩ Triết học, của mình “Nguồn lực con ng-ời trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc” tác giả Đoàn
Văn Khái đã luận giải vai trò của nguồn lực con ng-ời và các giải pháp nhằm
Trang 8phát triển, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con ng-ời trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, v.v…
Có thể thấy các công trình nghiên cứu về môi tr-ờng tự nhiên và con ng-ời của các tác giả trong và ngoài n-ớc khá đa dạng, phong phú, có giá trị cao, nh-ng các công trình nghiên cứu nhằm tìm kiếm, xác định một ph-ơng pháp hợp lí trong việc khai thác và sử dụng nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời vẫn ch-a nhiều Trong khi đó, sự cần thiết phải hiểu biết một cách sâu sắc về vấn đề này để làm cơ sở lí luận cho việc phát triển kinh tế trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá lại là một đòi hỏi cấp bách Chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ của mình vào việc giải quyết vấn đề trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích:
Trên cơ sở luận chứng vai trò của nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời với t- cách là các nguồn lực cơ bản, quyết định sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tìm hiểu thực trạng của việc khai thác và sử dụng các nguồn lực đó, luận văn góp phần đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác, sử dụng một cách hợp lí nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay
* Nhiệm vụ:
Để đạt đ-ợc mục đích đó, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ vai trò của nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời, sự cần thiết của việc khai thác, sử dụng chúng một cách hợp lý trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc
- Phân tích thực trạng của việc khai thác và sử dụng nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời ở n-ớc ta hiện nay và nêu ra một số giải pháp có tính chất định h-ớng nhằm khai thác và sử dụng một cách hợp lý các nguồn lực đó trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc
Trang 94 Cơ sở lí luận và ph-ơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lí luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lí luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, những t- t-ởng của các nhà Triết học, mác xít về mối quan hệ giữa con ng-ời và tự nhiên, những quan điểm của Đảng và Nhà n-ớc ta cũng nh- những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, trong và ngoài n-ớc về vấn đề trên
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và cho những ng-ời quan tâm đến vấn đề nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 2 ch-ơng 4 tiết và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 10Ch-ơng 1 nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc
1.1 Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con ng-ời và vai trò của chúng
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc
1.1.1 Các khái niệm: nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời
Trước khi bàn về khái niệm “nguồn lực tự nhiên” và “nguồn lực con người” cần tìm hiểu khái niệm “nguồn lực” Cho đến nay, chưa có tài liệu nào chính thức định nghĩa về “nguồn lực” Tuy nhiên, nếu hiểu một cách khái quát
và toàn diện thì “nguồn lực” là toàn bộ các yếu tố cả vật chất lẫn tinh thần đã, đang và sẽ thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của một quốc gia, dân tộc Nh- vậy, d-ới dạng tổng quát, nguồn lực bao gồm không ch ỉ những yếu tố đã và đang tạo ra sức mạnh trên thực tế, mà cả những yếu
tố mới ở dạng sức mạnh tiềm, không chỉ nói lên sức mạnh mà còn chỉ ra nơi cung cấp sức mạnh đó, phản ánh cả mặt số l-ợng và chất l-ợng đồng thời nói lên sự biến đổi không ngừng của các yếu tố đó [25,tr.51](*) Tiêu chí để phân loại nguồn lực rất đa dạng dựa vào các quan hệ xác định Trong phạm vi khái quát nhất có thể chia nguồn lực thành: nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần Trong quan hệ với t- cách là một sự vật hiện t-ợng, một quốc gia có nguồn lực bên trong (con ng-ời, cơ sở vật chất -
kĩ thuật, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên,…) và nguồn lực bên ngoài (sự trợ giúp của các quốc gia khác, các tổ chức quốc tế về vốn, công nghệ, thị tr-ờng, kinh nghiệm quản lí,…) Trong mối quan hệ chủ thể - khách thể, có nguồn lực chủ quan (con ng-ời), nguồn lực khách quan (tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, vốn trong n-ớc và ngoài n-ớc)… Nh- vậy, các nguồn lực hết sức phong phú, đa dạng, trong đó tự nhiên và con ng-ời cũng đ-ợc coi là một nguồn lực
Trang 11* Khái niệm nguồn lực tự nhiên:
Cũng giống như khái niệm về “nguồn lực”, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm nguồn lkực tự nhiên Tr-ớc đây, người ta không sử dụng khái niệm “nguồn lực tự nhiên”, thay vào đó là các
khái niệm điều kiện tự nhiên hay tài nguyên thiên nhiên Để có cách hiểu t-ờng tận về khái niệm nguồn lực tự nhiên, tr-ớc hết cần phải hiểu thế nào là
“tự nhiên” và mối quan hệ giữa nguồn lực tự nhiên với điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Mặc dù có nhiều cách luận giải khác nhau, nhưng về cơ bản “tự nhiên”
được hiểu “là tất cả những gì đang tồn tại khách quan”, là toàn bộ thế giới vật chất với tất cả các hình thức biểu hiện muôn màu muôn vẻ của nó, “là tập hợp các điều kiện thiên nhiên vốn có sẵn, tồn tại ngoài tác động của con người” Nh- vậy, tự nhiên bao gồm các nhân tố tồn tại khách quan ngoài ý muốn con ng-ời nh- không khí, đất đai, nguồn n-ớc, ánh sáng mặt trời, động, thực vật…
Tự nhiên cung cấp các nguồn tài nguyên tự nhiên cho ta nh- không khí để thở,
đất đai để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, các loại khoáng sản cho sản xuất, là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho con ng-ời cảnh đẹp giải trí tăng khả năng tồn tại và phát triển của mình
điều kiện tự nhiên, theo quan điểm của Triết học, Mác, là yếu tố không
thể thiếu đối với đời sống con ng-ời, là một bộ phận của giới tự nhiên tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp đối với sản xuất và đời sống con ng-ời ở đây, có thể hiểu, khi nói tới điều kiện tự nhiên thì không phải toàn bộ giới tự nhiên bao la, rộng lớn, mà chỉ là một bộ phận của giới tự nhiên tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sản xuất và đời sống con ng-ời
Tài nguyên thiên nhiên là những yếu tố của tự nhiên mà con ng-ời có
thể khai thác, chế biến và sử dụng để tạo ra các sản phẩm vật chất Nh- vậy, tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố quan trọng trong các hoạt động kinh tế;
nó cấu thành các nguồn lực vật chất nguyên thuỷ cho hoạt động kinh tế Với ý
Trang 12nghĩa nh- đã trình bày ở trên thì điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
là khái niệm có phạm vi hẹp hơn so với khái niệm tự nhiên
Trong một số công trình nghiên cứu, nguồn lực tự nhiên đ-ợc hiểu nh-
điều kiện tự nhiên Quan niệm này cũng có phần hợp lí, vì khi nói đến cả điều
kiện tự nhiên lẫn nguồn lực tự nhiên cũng đều nói đến những yếu tố tự nhiên tác động đến quá trình sản xuất của con ng-ời Tuy nhiên, theo chúng tôi, giữa hai khái niệm này có điểm khác nhau ở chỗ, khi nói đến nguồn lực tự nhiên tức là nói tới các yếu tố tự nhiên đã, đang và sẽ tham gia và thúc đẩy quá trình sản xuất, nghĩa là nói đến điều kiện tự nhiên ở dạng tiềm năng Nói cách khác,
điều kiện tự nhiên chỉ đ-ợc gọi là nguồn lực khi đ-ợc con ng-ời đã, đang và
sẽ đ-a vào khai thác và sử dụng
Hiện nay, đang có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm nguồn lực tự nhiên; tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi đồng ý với quan niệm cho rằng:
Nguồn lực tự nhiên là khái niệm dùng để chỉ nguồn tài nguyên thiên nhiên nh- đất đai, n-ớc, khoáng sản và những điều kiện tự nhiên khác có tác
động trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động của con ng-ời.[34, tr.76]
Đây là một khái niệm rộng, nó bao chứa cả nguồn tài nguyên thiên nhiên lẫn những điều kiện tự nhiên khác Nghĩa là, xét về mặt nội dung, khái
niệm này rộng hơn so với khái niệm điều kiện tự nhiên hay tài nguyên thiên nhiên Nói một cách cụ thể, nguồn lực tự nhiên chính là sự kết hợp của tài
nguyên thiên nhiên và các điều kiện tự nhiên nh-ng đ-ợc xem xét ở dạng tiềm năng Để hiểu cụ thể hơn, chúng tôi xin trình bày kết cấu của nguồn lực tự nhiên
Nguồn lực tự nhiên đ-ợc ng-ời ta phân loại thành những tài nguyên
có thể sử dụng đ-ợc lẫn tài nguyên sẽ đ-ợc sử dụng trong t-ơng lai Mục
đích cách phân loại này là nhằm xác định ph-ơng h-ớng và kế hoạch sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đảm bảo nguồn tài nguyên cho phát triển
Trang 13kinh tế hiện tại và cho các thế hệ tiếp theo; đồng thời đảm bảo sự cân đối giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi tr-ờng
Theo cách phân loại này, tài nguyên thiên nhiên đ-ợc chia thành 2 loại:
trữ l-ợng ở một mức độ giới hạn nhất định Chúng chỉ có thể đ-ợc khai thác ở dạng nguyên khai một lần, bao gồm những tài nguyên có quy mô không thay
đổi nh- đất và những tài nguyên khi sử dụng thì cạn dần, không có cách gì hoàn trả lại, không có quy trình nào làm đầy lại đ-ợc nguyên trạng của nó nh- các loại khoáng sản, dầu khí, khí đốt tự nhiên, các mạch n-ớc ngầm có tốc độ làm đầy thấp đến mức đ-ợc coi nh- là không phục hồi đ-ợc…
Tuy nhiên, việc xếp tài nguyên nào đó vào tài nguyên không có khả năng tái sinh chỉ có tính chất t-ơng đối, bởi vì đất đai con ng-ời vẫn có thể mở rộng diện tích bằng cách lấn biển hay đối với khoáng sản dầu khí ng-ời ta có thể tìm thêm những mỏ dầu mới Đối với loại tài nguyên này, chúng có thể
đ-ợc chia thành ba nhóm:
Nhóm thứ nhất, tài nguyên không có khả năng tái sinh nh-ng tạo tiền
đề cho tái sinh (đất, n-ớc tự nhiên,…)
Nhóm thứ hai, tài nguyên không có khả năng tái sinh nh-ng có thể tái
tạo đ-ợc (kim loại, thuỷ tinh, chất dẻo…)
Nhóm thứ ba, tài nguyên cạn kiệt (than đá, dầu khí…)
Tóm lại, những tài nguyên không có khả năng tái sinh, đặc biệt dầu khí
và các loại khoáng sản khi sử dụng thì hết dần, để có những mỏ mới đòi hỏi phải có quá trình hình thành lâu dài của lịch sử Do vậy, cần có kế hoạch để khai thác hợp lí, đảm bảo sự phát triển khai thác tr-ớc mắt và lâu dài
Tài nguyên có khả năng tái sinh là những tài nguyên có thể tự duy trì
hoặc bổ sung một cách liên tục khi đ-ợc sử dụng hợp lý Những tài nguyên sinh vật là nguồn tài nguyên có thể tái sinh đ-ợc, chúng lớn lên cùng với thời gian và theo các quá trình sinh học, Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý
Trang 14nguồn tài nguyên này cũng có thể bị cạn kiệt và không thể tái sinh nữa Những tài nguyên này đ-ợc chia thành 2 loại:
Tài nguyên có khả năng tái sinh thông qua tác động của con ng-ời
Nguồn tài nguyên này bao gồm 2 loại: nguồn rừng và các loại động thực vật trên cạn cũng nh- d-ới n-ớc Những nguồn tài nguyên này sau khi khai thác chúng ta có thể có những khu rừng mới hoặc các loại động thực vật tiếp tục sinh sôi nảy nở, nếu con ng-ời có các biện pháp và chính sách thích hợp
Tài nguyên có khả năng tái sinh, vô tận trong thiên nhiên là những tài
nguyên khi sử dụng không bao giờ hết Nguồn tài nguyên này bao gồm các nguồn năng l-ợng nh- mặt trời, thuỷ triều, sức gió, thuỷ năng sông ngòi và các nguồn n-ớc, không khí Vì đây là những nguồn tài nguyên khi sử dụng có khả năng tự tái tạo, đặc biệt chúng chính là các nguồn năng l-ợng mà con ng-ời cần h-ớng vào tận dụng Trong t-ơng lai, đây sẽ là nguồn năng l-ợng chủ yếu của con ng-ời, do đó cần có ph-ơng án nghiên cứu tích cực để có thể sớm đ-a vào sử dụng một cách phổ biến
Có thể thấy rằng, thiên nhiên đã tạo ra cho con ng-ời những nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú Những nguồn tài nguyên này có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế và đời sống con ng-ời
* Khái niệm nguồn lực con ng-ời:
Rất nhiều công trình nghiên cứu và báo cáo trong n-ớc và của các tổ chức quốc tế đã cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn lực con ng-ời,
là nguồn lực có ý nghĩa quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời đại ngày nay Các quốc gia trên thế giới đều quan tâm nghiên cứu nguồn lực con ng-ời, tuy nhiên việc đ-a ra quan niệm về nguồn lực con ng-ời lại không hoàn toàn giống nhau ở Việt Nam, ch-a có khái niệm chính thức
về nguồn lực con ng-ời, mặc dù các bài viết, các công trình nghiên cứu về nguồn lực con ng-ời, về nguồn nhân lực, về tài nguyên con ng-ời cũng không phải là ít, chẳng hạn nh- trong ch-ơng trình Khoa học, - Công nghệ cấp Nhà
Trang 15nước: “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh xã hội” mang mã số KX-07 do GS, TSKH Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, nguồn lực con ng-ời đ-ợc hiểu là số dân và chất l-ợng con ng-ời, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất Trong Luận
tế-án tiến sĩ Triết học, của mình, tác giả Đoàn Văn Khái đ-a ra quan niệm về
khái niệm nguồn lực con ng-ời nh- sau: Nguồn lực con ng-ời là khái niệm chỉ
số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất l-ợng con ng-ời với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội.[25, tr.56] Nh- vậy, qua cách hiểu
trên, có thể thấy, nguồn lực con ng-ời là khái niệm rộng, đ-ợc hiểu thông qua những yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, nguồn lực con ng-ời đ-ợc biểu hiện là lực l-ợng lao động (số l-ợng lao động của một quốc gia), là nguồn lao động (đội ngũ lao động hiện
có và sẽ có trong t-ơng lai gần)
Thứ hai, nguồn lực con ng-ời phản ánh ph-ơng diện chất l-ợng của lực
l-ợng lao động trong hiện tại và trong t-ơng lai gần (d-ới dạng tiềm năng),
đ-ợc thể hiện bằng các chỉ tiêu về: thể lực (sức mạnh thần kinh cơ bắp), tâm lực (những phẩm chất đạo đức và đời sống tinh thần của ng-ời lao động) và trí lực (trình độ học, vấn, chuyên môn nghề nghiệp, kĩ năng kĩ xảo, tác phong
nghề nghiệp của ng-ời lao động)
Thứ ba, khái niệm “nguồn lực con người” còn được phản ánh thông qua cơ cấu dân c- (bao gồm 4 yếu tố: cơ cấu theo lứa tuổi, cơ cấu theo giới tính,
cơ cấu theo lao động, phân bố theo khu vực lãnh thổ, khu vực thành thị - nông thôn, theo vùng, miền…) có ảnh h-ởng trực tiếp tới chất l-ợng và sức mạnh của nguồn lực con ng-ời
Thứ t-, khái niệm “nguồn lực con người” còn cho thấy sự liên hệ, tác
động, ảnh h-ởng qua lại lẫn nhau, sự biến đổi và xu h-ớng biến đổi giữa các yếu tố nội tại bên trong nó (giữa con ng-ời với môi tr-ờng tự nhiên và môi tr-ờng xã hội, giữa nguồn lực con ng-ời với các nguồn lực khác)
Trang 16Thứ năm, nguồn lực con ng-ời vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển xã
hội (với vai trò là chủ thể khi đặt nó trong mối quan hệ với nguồn lực tự nhiên
và các nguồn lực khác ở ph-ơng diện con ng-ời là chủ thể của sự khai thác, sử
dụng các nguồn lực đó), vừa là mục tiêu (với vai trò là khách thể khi nguồn
lực con ng-ời lại trở thành đối t-ợng của việc sử dụng, khai thác, đầu t- của chính sự phát triển xã hội đó)
Nói tóm lại, nội dung của khái niệm này đ-ợc phản ánh qua những chỉ tiêu về số l-ợng, chất l-ợng, trình độ học, vấn, nghề nghiệp chuyên môn, nhân cách, sức khoẻ, tuổi thọ tức là nói lên khả năng của con ng-ời, của một cộng
đồng ng-ời nh- là một tiềm năng cần bồi d-ỡng, khai thác và phát huy Vì thế, khi xem xét nguồn lực con ng-ời đòi hỏi phải có quan điểm toàn diện, phải nhìn nhận con ng-ời với tất cả hiện trạng, tiềm năng, đặc điểm và sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội
1.1.2 Vai trò của nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc
* Một vài nét về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình phát triển tất yếu mang tính quy luật trong tiến trình vận động và phát triển của các quốc gia Thực chất,
công nghiệp hoá là quá trình biến một n-ớc có nền kinh tế lạc hậu thành một n-ớc công nghiệp, hiểu theo nghĩa khái quát đây là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế- xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, ph-ơng tiện và ph-ơng pháp tiên tiến, hiện
đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học,-công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.[13, tr.42]
ở n-ớc ta, công nghiệp hoá là quá trình chuyển từ một n-ớc sản xuất nhỏ, công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp và năng suất lao động thấp thành một
Trang 17n-ớc có cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ hiện đại, khoa học, và công nghệ tiên tiến, năng suất lao động trong các ngành kinh tế quốc dân tăng
Công nghiệp hoá không thể không gắn liền với hiện đại hoá Đây là hai quá trình nối tiếp, đan xen nhau Hiện nay trên thế giới, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đi theo hai h-ớng: công nghiệp hoá, hiện đại hoá t- bản chủ nghĩa và công nghiệp hoá, hiện đại hoá định h-ớng xã hội chủ nghĩa Hai loại công nghiệp hoá, hiện đại hoá này, ngoài những biểu hiện giống nhau còn có những sự khác biệt nhất định về mục đích, ph-ơng thức tiến hành và sự chi phối đối với quan hệ sản xuất thống trị
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định h-ớng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kì quá độ ở n-ớc ta Thực chất, đó là quá trình nhằm tạo ra những tiền đề vật chất - kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội Tại
Đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm” [15, tr.25] Nội dung cốt lõi của quá
trình này là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kĩ thuật tiên tiến để đạt năng suất lao động cao Để tạo b-ớc chuyển biến này, chúng ta phải trang bị cơ sở vật chất ngày càng hiện đại bằng cuộc cách mạng khoa học, kĩ thuật, xây dựng cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội hợp
lí, tạo nguồn vốn tích luỹ, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực cả chiều rộng và chiều sâu, cả số l-ợng và chất l-ợng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở n-ớc ta hiện nay
có những đặc điểm mới so với tr-ớc đây, đó là:
- Công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá Khái niệm công nghiệp hoá luôn đ-ợc bổ sung bằng những nội dung mới và bao quát toàn bộ nền kinh tế, từ sản xuất kinh doanh đến dịch vụ quản lí Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ thì yêu cầu hiện đại hoá gắn với công nghiệp hoá càng trở nên bức bách hơn bao giờ hết
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đ-ợc thực hiện trong điều kiện cơ chế thị tr-ờng có sự quản lí của Nhà n-ớc chứ không phải trong điều
Trang 18kiện cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đặc biệt trong quá trình đó lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân với sự tham gia tích cực của tất cả các thành phần kinh tế, trong đó kinh
tế Nhà n-ớc giữ vai trò chủ đạo
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đ-ợc đặt trong xu h-ớng quốc tế hoá, hội nhập kinh tế thế giới và tham gia phân công lao động quốc tế, chứ không phải khép kín theo kiểu “tự lực cánh sinh” như thời kì tr-ớc đổi mới
- Khoa học,, công nghệ đ-ợc xác định là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá Do đó, luôn đổi mới và tiếp thu công nghệ tiến tiến là một yếu tố quan trọng để đạt đ-ợc tốc độ tăng tr-ởng tốt
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đ-ợc thực hiện trên cơ sở nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó phải lấy việc phát huy nguồn lực con ng-ời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải gắn với phát triển bền vững
Để sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc thành công và đạt hiệu quả cao thì việc nhận thức và thực hiện đúng những vấn đề trên mang ý nghĩa hết sức quan trọng Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chúng ta phải đảm bảo một số nguyên tắc sau:
Thứ nhất, huy động và sử dụng các nguồn vốn sao cho có hiệu quả
Nguồn vốn bao gồm hai loại: nguồn vốn trong n-ớc và nguồn vốn ngoài n-ớc Con đ-ờng cơ bản để giải quyết vấn đề tích luỹ vốn trong n-ớc là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất một cách hợp lí Nguồn vốn ngoài n-ớc cũng là một yếu tố quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội Chúng ta cần vận dụng mọi khả năng để thu hút tối đa nguồn vốn này Tuy nhiên, không nên hy vọng quá lớn vào nó, vì
Trang 19trên thị tr-ờng vốn quốc tế hiện nay, khả năng cung về vốn cho các n-ớc đang phát triển thấp hơn nhiều so với cầu, đó là ch-a kể sự cạnh tranh gay gắt để giành nguồn vốn này giữa các n-ớc có nhu cầu, do đó tự lực tích luỹ vốn trong n-ớc phải đ-ợc coi là cơ bản và quan trọng hơn
Thứ hai, xây dựng và sử dụng tốt nguồn vốn nhân lực Muốn nâng cao
sản xuất công nghiệp và nông nghiệp mà chỉ có các ph-ơng tiện và công nghệ thôi ch-a đủ, mà còn cần phải có sự tham gia của ng-ời lao động Vì thế, cần phải phát triển một cách t-ơng xứng năng lực của con ng-ời để sử dụng những ph-ơng tiện đó Nguồn nhân lực có chất l-ợng đáp ứng tốt quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải là những con ng-ời có tài, có đức, ham học, hỏi, thông minh, sáng tạo, làm việc và cống hiến quên mình vì sự độc lập, phồn vinh và phát triển của Tổ quốc, đ-ợc chuẩn bị tốt về kiến thức khoa học,, văn hoá, đ-ợc đào tạo thành thạo về kĩ năng nghề nghiệp, có năng lực quản lý, tổ chức và điều hành sản xuất kinh doanh Nói tóm lại, đó là nguồn lực con ng-ời với tính cách là sản phẩm của một nền văn hoá hiện đại
Thứ ba, phải có tiềm lực khoa học, và công nghệ mạnh Trong điều kiện
hiện nay, khoa học, - công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc
độ phát triển kinh tế Nói chung, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các quốc gia, suy đến cùng, tiềm lực khoa học, công nghệ là nguồn lực trí tuệ và sáng tạo của cả dân tộc Tr-ớc đây, khi mới b-ớc vào thời kì quá
độ lên chủ nghĩa xã hội tiềm lực khoa học, kỹ thuật của n-ớc ta còn yếu Trong bối cảnh khoa học, - công nghệ đang thâm nhập và tác động mạnh mẽ vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, tr-ớc hết là trong lĩnh vực sản xuất, muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công với tốc độ nhanh, chúng ta phải xây dựng một tiềm lực khoa học, - công nghệ hiện đại thích ứng, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất n-ớc, đây là một công việc vô cùng khó khăn và lâu dài, đòi hỏi sự đầu t- kịp thời và đầy đủ, tạo đà cho sự phát triển khoa học, - công nghệ
Trang 20Thứ t-, có quan hệ kinh tế đối ngoại rộng rãi nhằm nâng cao hiệu quả
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thực chất của việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là thu hút vốn bên ngoài và tiếp thu khoa học, công nghệ hiện đại của các quốc gia khác, nhằm mở rộng thị tr-ờng để phục vụ trực tiếp cho tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thứ năm, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lí của Nhà n-ớc là tiền đề quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá Tuy đây là sự nghiệp của toàn dân nh-ng phải có một Đảng lãnh đạo
đi tiên phong
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc, chúng ta đã nhận thức đ-ợc một cách rõ ràng những nguồn lực cơ bản, giữ vai trò quan trọng và quyết định tới sự thành công của quá trình này, trong đó có hai nguồn lực chính đó là nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời
* Vai trò của nguồn lực tự nhiên
Trên thế giới, hầu hết các quốc gia không phân biệt khuynh h-ớng chính trị đều lựa chọn cho mình một đ-ờng lối phát triển kinh tế nhất định Lý thuyết tăng tr-ởng kinh tế đ-ợc biểu thị bằng hàm sản xuất Cobb-Donglass: Tổng mức cung của nền kinh tế (Y tính theo GDP) đ-ợc xác định bởi các yếu
tố đầu vào của sản xuất (lao động: L, vốn sản xuất: K, tài nguyên thiên nhiên:
R và khoa học, công nghệ hiện hành: T):
Y = f(L, K, R, T)
Nh- vậy, tài nguyên thiên nhiên là một trong bốn nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế Nh-ng tài nguyên thiên nhiên không phải là động lực mà chỉ là một trong những nguồn lực phát triển kinh tế xã hội, là đối t-ợng lao
động và là một yếu tố cấu thành lực l-ợng sản xuất Vai trò của nó đ-ợc thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, cung cấp những t- liệu dinh d-ỡng cho cơ thể nh- không khí,
ánh sáng, n-ớc, các nguồn năng l-ợng, l-ơng thực, thực phẩm, …Có thể
Trang 21khẳng định tự nhiên là môi tr-ờng sống của con ng-ời Thông qua môi tr-ờng
tự nhiên và bằng lao động, con ng-ời có thể tạo ra các sản phẩm vật chất và những giá trị tinh thần, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân mình và xã hội loài ng-ời
Thứ hai, cung cấp nguồn nhiên liệu, nguyên liệu cho sản xuất và đời sống con ng-ời nh-: đất đai, các loại khoáng sản, thuỷ sản, nông lâm sản…từ
nguồn tài nguyên thiên nhiên Con ng-ời khai thác và sử dụng chúng để làm cơ sở cho sự phát triển của mình (chế biến ra t- liệu tiêu dùng, chế tạo ra t- liệu sản xuất) Khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ bảo đảm cung cấp ổn định nguyên vật liệu cho nhiều ngành, đồng thời, tạo ra cơ sở để phát triển bền vững
Thứ ba, ảnh h-ởng đến việc phân công lao động xã hội, phân bố lực l-ợng sản xuất, phát triển các ngành nghề Nhiều ngành nghề đ-ợc hình thành
từ những điều kiện tự nhiên nh-: nông nghiệp, lâm nghiệp, ng- nghiệp, các ngành khai thác tự nhiên: chế biến gỗ, thuỷ điện,…Việc xây dựng những nhà máy chế biến, những xí nghiệp sản xuất của từng ngành th-ờng phụ thuộc vào
điều kiện tự nhiên của từng vùng
Thứ t-, có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho sản xuất,
do đó ảnh h-ởng đến năng suất lao động Tài nguyên thiên nhiên dồi dào về
trữ l-ợng, phong phú về chủng loại, nh-ng nếu ở vị trí quá khó khăn, hiểm trở cũng sẽ gây trở ngại cho quá trình khai thác Các điều kiện tự nhiên khác, chẳng hạn nh- khí hậu quá khắc nghiệt (hoặc lạnh quá, hoặc nóng quá) không phù hợp với các loại cây trồng cũng sẽ ảnh h-ởng tới năng suất lao động Nếu điều kiện địa lí thuận lợi, khí hậu phù hợp sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho quá trình sản xuất
Tự nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, các
n-ớc đang phát triển th-ờng quan tâm đến việc xuất khẩu sản phẩm thô - đó
Trang 22là những sản phẩm có đ-ợc từ việc khai thác nguồn tài nguyên ch-a qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế nhằm thúc đẩy sản xuất Nguồn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển nông nghiệp, công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm cho ng-ời lao động
Tự nhiên là yếu tố quan trọng cho tích luỹ vốn và phát triển ổn định
Tại các n-ớc đang phát triển, khai thác tài nguyên thiên nhiên đ-ợc coi là giải pháp quan trọng để tạo nguồn tích luỹ ban đầu phục vụ nhu cầu phát triển đất n-ớc, xây dựng hạ tầng cơ sở, góp phần cải thiện dân sinh Sự giàu có, dồi dào
về tài nguyên là một trong những cơ sở giúp cho việc tích luỹ để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc
Ngoài ra, nguồn lực tự nhiên còn đ-ợc xem là không gian sống, cung cấp các dịch vụ cảnh quan thiên nhiên Không gian môi tr-ờng tự nhiên mà
con ng-ời tồn tại trải qua hàng tỷ năm nay không hề thay đổi về độ lớn, có nghĩa không gian môi tr-ờng tự nhiên là hữu hạn Trong khi đó, dân số loài ng-ời trên trái đất đã và đang tăng lên theo cấp số nhân (theo thống kế của Tổ chức y tế thế giới-WHO, cứ bình quân mỗi giây có 3 trẻ em ra đời, mỗi ngày nhân loại sản sinh ra 30 vạn trẻ em Với tốc độ sinh đẻ nh- vậy thì dự báo đến năm 2120, dân số thế giới sẽ v-ợt quá 15 tỷ ng-ời) Nh- vậy, không gian môi tr-ờng tự nhiên mà mỗi ng-ời đ-ợc h-ởng sẽ giảm xuống và chất l-ợng suy giảm nhanh chóng, khả năng đáp ứng các nhu cầu dịch vụ của con ng-ời cũng giảm theo Con ng-ời chỉ có thể tồn tại và phát triển trong không gian môi tr-ờng tự nhiên, môi tr-ờng tự nhiên không chỉ cung cấp các điều kiện vật chất mà còn là nơi để cho con ng-ời h-ởng thụ các cảnh đẹp thiên nhiên, th- thái về tinh thần, thoả mãn các nhu cầu tâm lí, tạo khả năng tái sản xuất sức lao động của ng-ời lao động
Nh- vậy, có thể nhận xét rằng, tự nhiên là một nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế và ổn định đời sống của con ng-ời, là nơi cung cấp những yếu tố cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con ng-ời
Trang 23Chỉ có thể thấy đ-ợc sự tác động của nguồn lực tự nhiên đối với sự phát triển xã hội thông qua những yếu tố cơ bản của nó nh- đất đai, n-ớc, rừng, các loại khoáng chất, khoáng sản, các nguồn năng l-ợng
Trong số các nguồn lực tự nhiên cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của
con ng-ời và xã hội loài ng-ời, tr-ớc hết phải kể đến là nguồn lực đất đai Đất
đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con ng-ời và các sinh vật khác trên trái đất Con ng-ời và các sinh vật ở cạn đều sống ở trên hoặc trong đất.Vì vậy, đất ẩm -ớt hay khô ráo,
đất tốt hay đất xấu, đất bẩn hay đất sạch đều ảnh h-ởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống con ng-ời Nếu sống ở những nơi quá ẩm -ớt, con ng-ời dễ mắc các căn bệnh ảnh h-ởng tới sức khoẻ nh- sốt rét, giun sán, thấp khớp, thiếu iốt gây bệnh biếu cổ,… Đất là nền móng cho toàn bộ công trình xây dựng của con ng-ời Xã hội loài ng-ời càng văn minh thì nhu cầu xây dựng càng lớn Đ-ờng sá, cầu cống, đập n-ớc, nhà cửa ngày càng nhiều… tất cả các công trình này đều phải xây dựng trên đất Đất có giá trị cao về mặt kinh tế, lịch sử, tâm lí và tinh thần đối với con ng-ời
Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt C.Mác viết: “Đất là t- liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu đ-ợc của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài ng-ời
kế tiếp nhau” [28, tr,265] Tuy nhiên, đối với từng ngành cụ thể trong nền kinh
tế quốc dân, đất đai cũng có những vị trí, vai trò khác nhau Trong ngành công nghiệp, đất đai là mặt bằng để xây dựng nhà x-ởng, là địa điểm để trên đó tiến
hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh Muốn xây dựng một khu công nghiệp, bến bãi, kho tàng, tr-ớc hết phải có địa điểm, có một diện tích đất đai nhất định Đất đai là điều kiện cần thiết tr-ớc tiên để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp đòi hỏi mở rộng quy mô xây dựng; các nhà máy mới đ-ợc
xây dựng làm tăng số l-ợng diện tích đất đai dành cho yêu cầu này Trong nông nghiệp, đất đai có một vị trí đặc biệt quan trọng, là yếu tố hàng đầu của
Trang 24ngành sản xuất này Đất đai không chỉ là một điều kiện thực hiện hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng Mọi tác động của con ng-ời vào cây trồng đều dựa vào đất đai và thông qua đất đai
Đất đai sử dụng trong nông nghiệp đ-ợc gọi là ruộng đất Trong nông nghiệp, ruộng đất là t- liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thiếu đ-ợc Ruộng
đất vừa là đối t-ợng lao động, vừa là t- liệu lao động
Bên cạnh nguồn tài nguyên đất đai, nguồn n-ớc là một nguồn lực vô
cùng quan trọng, ảnh h-ởng nhiều tới cuộc sống và sản xuất của con ng-ời N-ớc là nguồn tài nguyên không thể thiếu đ-ợc trong sản xuất và đời sống, nó
đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt của con ng-ời nh- cung cấp n-ớc ăn, uống, vệ sinh, cung cấp cho các hoạt động trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, là cơ sở để xây dựng công trình thuỷ điện, vận tải thuỷ, tải nhiệt, các sản phẩm công nghiệp nh- đồ uống, hoá chất, v.v…
Nguồn tài nguyên rừng vừa có giá trị về kinh tế vừa có giá trị bảo vệ môi tr-ờng Về mặt kinh tế, rừng cho sản phẩm gỗ, là vật liệu kiến trúc quan
trọng Ngoài giá trị của gỗ, rừng còn cho chúng ta các sản phẩm động, thực vật nh- thịt thú rừng, những cây d-ợc liệu, những loại cỏ có h-ơng thơm, dầu thực vật, vỏ cây quý, hoa quả có giá trị th-ơng mại Những sản phẩm này của rừng là một nguồn thu nhập quan trọng của ng-ời dân nông thôn ở những
vùng núi cao của các n-ớc đang phát triển Về mặt xã hội, rừng còn có giá trị
bảo vệ môi tr-ờng nh- chống xói mòn, lụt lội, điều hoà khí hậu, chống sức nóng của mặt trời, tạo môi tr-ờng sinh thái cho các hoạt động sống khác Giá trị của việc bảo vệ môi tr-ờng rất quan trọng nh-ng khó định l-ợng hơn so với giá trị kinh tế của gỗ rừng Hai mặt này th-ờng có mâu thuẫn với nhau Từ x-a
đến nay, con ng-ời th-ờng có nhu cầu sử dụng gỗ và đất đai rất lớn Do khai phá rừng để trồng trọt, diện tích rừng đang bị giảm dần, những dải rừng tự nhiên đang bị đe doạ, l-ợng khí CO2 trong khí quyển ngày càng tăng, nhiệt độ trái đất bị nóng dần lên Nguồn tài nguyên rừng th-ờng đ-ợc đánh giá qua
Trang 25các chỉ số nh- diện tích có rừng che phủ (triệu ha), tổng trữ l-ợng gỗ rừng (triệu m3), trữ l-ợng gỗ/ha có rừng che phủ
Các loại khoáng chất, khoáng sản là cơ sở để phát triển các ngành công
nghiệp khai thác và công nghiệp sản xuất các loại vật liệu, công nghiệp luyện kim, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thuỷ tinh, sành sứ Trong số 16 loại khoáng sản chủ yếu đ-ợc sản xuất trên thế giới hiện nay, các n-ớc đang phát triển dẫn đầu thế giới về sản xuất bô-xít, phốt phát và chiếm tỷ trọng lớn
về sản xuất côban, cromit, thiếc, đồng Trong khi đó, các n-ớc công nghiệp phát triển cung cấp 6 loại khoáng sản chủ yếu: kiềm, l-u huỳnh, phốt phát,
quặng sắt, niken và kẽm
Một yếu tố rất quan trọng đối với đời sống và quá trình sản xuất của
con ng-ời là các nguồn năng l-ợng Có thể nói, có năng l-ợng chúng ta mới
có khả năng thực hiện các quá trình sản xuất Không chỉ có hoạt động của con ng-ời mà cả hoạt động của thiên nhiên đều cần tới năng lượng Từ “năng lượng” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “công việc bên trong” Năng lượng biểu hiện ra d-ới nhiều hình thức và có thể tích trữ, sử dụng theo các cách khác nhau Nguồn cung cấp năng l-ợng không thể ở đâu khác ngoài giới tự nhiên ở các n-ớc công nghiệp phát triển, nguồn năng l-ợng đ-ợc sử dụng bắt nguồn từ thiên nhiên là dầu hoả, khí đốt, than đá, thuỷ điện, uraniom, địa nhiệt, mặt trời, sức n-ớc, sức gió Ngoài ra, còn một loại năng l-ợng đ-ợc sử dụng chỉ để tạo ra nhiệt năng bao gồm củi đốt và năng l-ợng sinh khối (rơm rạ, thân cây các loại, phân súc vật ) và đa phần đ-ợc sử dụng ở các n-ớc đang phát triển Tuy nhiên, tỷ trọng dùng loại năng l-ợng này ở các n-ớc đang phát triển
sẽ giảm dần cùng với sự phát triển của nền kinh tế
Trong các nguồn năng l-ợng thì thuỷ năng là nguồn năng l-ợng có ý nghĩa quan trọng đối với các n-ớc đang phát triển Trên 45% điện năng tiêu thụ ở các n-ớc đang phát triển đ-ợc sản xuất ở các nhà máy thủy điện (ví dụ ở Pháp các nhà máy điện chiếm 58%) Bên cạnh nguồn năng l-ợng thuỷ năng, dầu mỏ là nguồn năng l-ợng có giá trị lớn nhất trên thế giới hiện nay Ưu
Trang 26điểm của nguồn năng l-ợng này là sử dụng thuận lợi, dễ vận chuyển (bằng
đ-ờng ống, tàu biển) và ít gây ô nhiễm môi tr-ờng hơn than
Tuy nhiên, sau hàng trăm năm bị coi là thứ nhiên liệu độc hại, vừa khó khai thác lại vừa gây ô nhiễm khi sử dụng, hiện nay than đá lại đ-ợc -a chuộng nhờ giá rẻ và nhờ kĩ thuật sử dụng hoàn toàn mới Lợi thế đầu tiên của than đá là trữ l-ợng dồi dào, đảm bảo giá cả ổn định Theo -ớc tính của các chuyên gia, nếu không tìm đ-ợc thêm mỏ than mới thì nhân loại cũng đủ l-ợng than để dùng trong vòng 2 thế kỷ nữa, trong khi các mỏ dầu hoả và khí
đốt đang cạn dần Lợi thế thứ hai là các mỏ than phân bố t-ơng đối đồng đều giữa các vùng lãnh thổ trên trái đất Chỉ trừ ở châu Âu là đã bị khai thác gần cạn, còn than có mặt ở khắp nơi: châu á, châu úc, châu Mỹ, Nam Phi Nh-ợc điểm chính của than là gây ô nhiễm, do khói than đá có nhiều chất độc hại nh- khí CO2 Nh-ng những nh-ợc điểm này đang dần biến mất do những
kĩ thuật lọc khí đang đ-ợc thí nghiệm và đặc biệt có hai kĩ thuật có nhiều triển vọng là biến than đá từ thể rắn thành thể khí tr-ớc khi đem đốt và lọc than bằng luồng gió nhân tạo đã đ-ợc bắt đầu tính đến trong những đề án xây dựng nhà máy nhiệt điện Do những -u thế trên, than đá có khả năng trở thành nguồn năng l-ợng chính của thế kỷ XXI
Bên cạnh các nguồn tài nguyên phong phú đa dạng đó, còn có các điều kiện tự nhiên khác nh- vị trí địa lý của các quốc gia, khí hậu…
Khí hậu trên trái đất đ-ợc chia ra làm nhiều loại khác nhau theo vĩ tuyến Mỗi loại khí hậu có ảnh h-ởng không nhỏ đến hoạt động của con ng-ời
đến sự sống của các loại động, thực vật tồn tại trong khu vực đó Mỗi một vùng khí hậu khác nhau cũng tạo ra những thuận lợi và không ít khó khăn cho dân c- sống trên khu vực đó trong quá trình sản xuất và sinh hoạt
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã nhấn
mạnh: Đảm bảo sử dụng hợp lý tài nguyên, phục vụ có hiệu quả cho sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tiết kiệm và tiết chế sử dụng tài nguyên không tái tạo đ-ợc Tăng c-ờng kiểm tra và giám sát môi tr-ờng trong từng dự án đầu t-
Trang 27và từng quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, các vùng lãnh thổ áp dụng các công nghệ và quy trình sản xuất ít chất thải, ít gây ô nhiễm môi tr-ờng [15, tr.302]
Với nền kinh tế vẫn còn dựa trên nền tảng chủ yếu là tài nguyên thiên nhiên cùng với sức ng-ời, chúng ta nhận thức đ-ợc rằng, nguồn lực tự nhiên
đóng vai trò quan trọng, vẫn là đối t-ợng lao động chính trong quá trình sản xuất vật chất ở n-ớc ta Vì vậy, Đảng ta đã chủ động đề ra những kế hoạch, chiến l-ợc cụ thể cho sự phát triển của từng vùng lãnh thổ, từng khu vực, phát huy thế mạnh đối với từng loại tài nguyên thiên nhiên nh- nguồn đất, nguồn n-ớc, rừng, các loại khoáng sản, các nguồn năng l-ợng… Việc đánh giá đúng vai trò của nguồn lực tự nhiên có một ý nghĩa đặc biệt đối với quá trình phát triển kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thứ nhất, dù ở giai đoạn lịch sử nào, dù trình độ của lực l-ợng sản xuất
thấp hay cao, dù ở ph-ơng thức sản xuất nào, nguyên thuỷ hay t- bản chủ nghĩa, làn sóng nông nghiệp, công nghiệp hay hậu công nghiệp thì tự nhiên vẫn luôn là môi tr-ờng sống cần thiết của con ng-ời, con ng-ời không thể sống ngoài môi tr-ờng tự nhiên
Thứ hai, hiện nay, có rất nhiều dẫn chứng chứng minh nguồn lực tự
nhiên chỉ có một vai trò nhất định trong sản xuất, không mang tính quyết định (chẳng hạn nh- ở Nhật Bản, Singapo, Hàn Quốc…), tức là sự ảnh h-ởng của nguồn lực tự nhiên vào quá trình sản xuất mang ý nghĩa không lớn nh- tr-ớc
đây Tuy nhiên, ở Việt Nam, với trình độ của lực l-ợng sản xuất nh- hiện nay, chúng ta biết rằng, sự phát triển của sản xuất vẫn còn phụ thuộc t-ơng đối lớn vào nguồn lực tự nhiên Đây là nguồn cung cấp nhiên liệu, nguyên liệu cho quá trình sản xuất, cung cấp đầu vào cho quá trình sản xuất xã hội
Thứ ba, nguồn lực tự nhiên là cơ sở để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
h-ớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 28Hiểu đ-ợc tầm quan trọng của nguồn lực tự nhiên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng ta đang có những biện pháp cần thiết để sử dụng tài nguyên một cách hợp lí, có hiệu quả, cố gắng hạn chế tới mức tối đa
sự tác động tiêu cực của con ng-ời tới tự nhiên, đảm bảo cho phát triển sản xuất đồng thời gìn giữ, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt với các loại không có khả năng tái sinh, tái tạo Chẳng hạn nh-, trong công nghiệp khai thác khoáng sản luôn chịu sự quản lý chặt chẽ của Chính phủ Sự quản lý, can thiệp đó đ-ợc quy định bởi chính nhu cầu của các mục tiêu, chính sách nh- sự kích thích tăng tr-ởng kinh tế, sự cần thiết phải bảo vệ của quốc gia đối với các nguyên vật liệu chiến l-ợc, tăng c-ờng tính chặt chẽ trong sử dụng và bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên Hiện nay, ở Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi tr-ờng đã có những chính sách và văn bản h-ớng dẫn cụ thể đối với các công
ty khai thác, bắt buộc họ phải trải qua một tiến trình gồm 3 giai đoạn có quan
hệ lẫn nhau rất phức tạp đó là: thăm dò (-ớc tính quy mô và xác định mỏ tài nguyên), phát triển (phác hoạ về các mỏ tài nguyên và chuẩn bị địa điểm khai thác) và khai thác (sản l-ợng để phân phối và bán) Vì đặc điểm của công nghiệp khai thác khoáng sản không giống hầu hết các khu vực sản xuất khác: sản xuất trong thời kỳ tr-ớc có liên quan trực tiếp đến thời kì sau Nếu sản l-ợng khai thác hiện nay v-ợt quá mức cho phép sẽ ảnh h-ởng tới sản l-ợng
có thể khai thác đ-ợc của loại khoáng sản đó trong thời kỳ t-ơng lai Do đó, phí tổn của việc khai thác một mỏ khoáng sản nào đó trong thời điểm hiện tại không chỉ phụ thuộc vào mức độ sử dụng hiện tại các đầu vào sản xuất cần thiết nh- lao động, năng l-ợng, giá cả của chúng mà còn phụ thuộc vào mức
độ sử dụng đầu vào trong quá khứ và sự ảnh h-ởng của việc khai thác hiện nay, vào khả năng sinh lợi trong t-ơng lai của mỏ khoáng sản; vào khả năng tận dụng và khai thác những nguồn tài nguyên có thể tái sinh, biến nó trở thành nguồn cung cấp năng l-ợng chính cho quá trình sản xuất Việc khai thác nguồn tài nguyên này có thể tạo nên 2 h-ớng: một là, việc tăng tỷ lệ khai thác
ở giai đoạn hiện nay có thể làm giảm mức độ trữ l-ợng của một mỏ cụ thể và hai là, đẩy mạnh tỷ lệ khai thác nh- thế có thể làm tăng các hoạt động thăm
Trang 29dò tìm kiếm những mỏ mới và làm tăng mức dự trữ cho t-ơng lai Đối với tài nguyên có khả năng tái sinh, dạng tài nguyên này có thể tự tái tạo bản thân chúng nếu có một chế độ quản lý thích hợp, điều này có nghĩa, dạng tài nguyên này vẫn có thể bị cạn kiệt nếu chúng không đ-ợc quản lý có kế hoạch, chẳng hạn nh- đối với các loài động vật, để chúng có thể sinh tồn, phát triển
và tái sinh ngoài việc khai thác hợp lý còn liên quan chặt chẽ tới điều kiện c- trú tự nhiên, nguồn thực ăn,… Nếu môi tr-ờng tự nhiên cần thiết bị thay
đổi theo chiều h-ớng xấu đi hoặc bị thu hẹp sẽ ảnh h-ởng tới sự sinh tồn và tái sinh của chúng (điều này đã xảy ra với đàn voi ở Tây Nguyên của n-ớc
ta, khi diện tích rừng bị thu hẹp do sự khai thác bừa bãi, chúng không còn nơi sinh sống và dẫn đến hậu quả là quay trở về phá phách bản làng, nguy cơ suy giảm về trữ l-ợng)
Những bài học, kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới và của chính chúng ta cho thấy, cần phải có sự quản lý chặt chẽ của Nhà n-ớc nhằm bảo vệ nguồn lực tự nhiên, nếu không, sự khai thác bừa bãi sẽ dẫn đến nguy cơ cạn kiệt không chỉ đối với nguồn tài nguyên không có khả năng tái sinh, mà ngay cả nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh cũng sẽ không còn
* Vai trò của nguồn lực con ng-ời
Để thành công trong sự phát triển xã hội, ngoài các nguồn lực cơ bản nh- nguồn lực tự nhiên, nguồn vốn, khoa học, và công nghệ… thì nguồn lực con ng-ời đ-ợc coi là yếu tố quyết định nhất, bởi lẽ những nguồn lực khác chỉ
có thể khai thác hiệu quả khi nguồn lực con ng-ời đ-ợc phát huy Những nguồn lực khác có thể cạn kiệt; ng-ợc lại, nguồn lực con ng-ời đ-ợc coi là một tiềm năng vô tận, có thể đ-ợc khai thác và phát huy tác dụng ngày càng nhiều hơn, tốt hơn nếu có kế hoạch phát triển, bồi d-ỡng đúng đắn, hợp lý
Vai trò của nguồn lực con ng-ời tr-ớc hết đ-ợc thể hiện ở chỗ, đó chính
là lực l-ợng chân chính sáng tạo ra lịch sử, quyết định sự vận động và phát triển của xã hội loài ng-ời, V.I.Lênin đã coi con ng-ời là lực l-ợng sản xuất cơ bản, hàng đầu của nhân loại, sản xuất ra những giá trị vật chất của xã hội
Trang 30Bất cứ một nền sản xuất nào cũng không thể phát triển nếu xem nhẹ yếu tố con ng-ời, thậm trí nếu không có ng-ời lao động thì cũng sẽ không có quá trình sản xuất Nếu nh- nguồn lực tự nhiên có vai trò quan trọng và cần thiết
đối với quá trình sản xuất thì nguồn lực con ng-ời đóng vai trò quyết định trong quá trình đó Các nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên chỉ
có thể phát huy vai trò quan trọng, trở thành một nguồn lực của quá trình sản xuất khi đ-ợc con ng-ời khai thác, sử dụng trong hoạt động sản xuất
Ngoài ra, con ng-ời còn là lực l-ợng sáng tạo ra những giá trị tinh thần của xã hội Bên cạnh những nhu cầu vật chất, con ng-ời còn có những nhu cầu
tinh thần Khi cuộc sống của con ng-ời ngày càng trở nên no đủ thì sự đòi hỏi phải thoả mãn nhu cầu tinh thần càng cao
nói tới nguồn lực con ng-ời là nói tới các yếu tố cơ bản nh-: số l-ợng, chất l-ợng, cơ cấu, với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội
Tiêu chí đầu tiên để đánh giá nguồn lực con ng-ời là số l-ợng ng-ời lao
động Số l-ợng ng-ời lao động ít hay nhiều có ảnh h-ởng nhất định tới quá trình sản xuất Tuy nhiên, trong lý thuyết về “Quá độ dân số” đã chứng minh rằng, ở những n-ớc phát triển, các giai đoạn diễn biến dân số cho thấy sức mạnh về l-ợng chỉ đ-ợc phát huy mạnh mẽ khi trình độ phát triển của xã hội còn thấp Đến một giai đoạn lịch sử nhất định, sức mạnh và -u thế về l-ợng của nguồn lực này không còn giữ vai trò quan trọng nữa, vì số l-ợng của dân
số phụ thuộc rất lớn vào trình độ tổ chức quản lí, vào sự đoàn kết, liên kết giữa những ng-ời lao động trong cộng đồng, thậm trí, trong những điều kiện lịch
sử cụ thể nào đó, số l-ợng dân c- quá đông còn gây khó khăn, cản trở cho sự phát triển xã hội Nó có thể tạo nên một số sức ép lớn đối với tài nguyên và môi tr-ờng nh- vấn đề phải khai thác tài nguyên quá mức cho phép để đảm bảo các nhu cầu về nhà ở, sản xuất l-ơng thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp,…, nguy cơ ô nhiễm và suy thoái của môi tr-ờng…
Trang 31Trong điều kiện cách mạng khoa học, - công nghệ phát triển nh- hiện nay, số l-ợng lao động không còn là yếu tố quyết định tới quá trình sản xuất,
mà chính là chất l-ợng của ng-ời lao động
Nói tới chất l-ợng của ng-ời lao động th-ờng đ-ợc thể hiện ở sức mạnh
về trí lực của con ng-ời thông qua năng lực chế tạo t- liệu sản xuất, nhất
là thông qua sự phát triển của công cụ lao động, thông qua thói quen, kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và những phẩm chất cần thiết khác của ng-ời lao động (sự hiểu biết ít hay nhiều về đối t-ợng lao động, sự
am hiểu về tính năng tác dụng của các công cụ lao động, sự thành thạo hay không thành thạo trong việc sử dụng công cụ và khả năng sáng chế, cải tiến các công cụ lao động đó trong quá trình sản xuất) Nếu không có
đội ngũ lao động có chất l-ợng cao thì dù t- liệu lao động có hiện đại
đến đâu và đối t-ợng lao động có phong phú nh- thế nào cũng không có tác dụng, quá trình sản xuất không đ-ợc thực hiện
Trong lực l-ợng sản xuất, trừ đối t-ợng lao động phổ biến là giới tự nhiên (còn đ-ợc gọi là thiên nhiên thứ nhất), còn lại tất cả các yếu tố trong đó (từ công cụ lao động, các ph-ơng tiện phục vụ cho quá trình sản xuất nh- ph-ơng tiện vận chuyển, bến cảng, kho chứa…đến giới tự nhiên thứ hai (đối t-ợng lao động đã trải qua chế biến) đều do con ng-ời sáng tạo ra Thông qua hoạt động có ý thức của mình, ng-ời lao động ngày càng phát huy đ-ợc tính năng động, sức mạnh sáng tạo, cải biến thế giới Để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của mình, con ng-ời không ngừng cải tiến, sáng chế công cụ lao động, bổ sung và hoàn thiện t- liệu lao động mới, nhằm đạt năng suất và hiệu quả lao động ngày càng cao hơn, liên tục mở rộng phạm vi đối t-ợng lao
động, tạo ra sự phong phú của giới tự nhiên thứ hai, đồng thời không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, tự rèn luyện tri thức của mình
Với năng lực trí tuệ của mình, con ng-ời đã sản xuất ra ngày càng nhiều hơn những sản phẩm mang hàm l-ợng tri thức cao Điều đó thực sự đã làm nên những thay đổi mang tính cách mạng trong quá trình sản xuất, tạo ra sự
Trang 32chuyển biến sâu sắc đối với xã hội loài ng-ời Sự ra đời của các ngành khoa học, cùng với những sáng chế, phát minh khiến cho khoa học, ngày nay đã trở thành nguyên nhân trực tiếp của mọi biến đổi to lớn trong sản xuất, quản lí,
điều khiển… Khoa học, đã tạo ra những ngành sản xuất mới hiện đại, những ph-ơng pháp sản xuất mới với hàng loạt các vật liệu nhân tạo nói cách khác, với sự phát triển của khoa học,, con ng-ời đã sáng tạo nên những lĩnh vực kinh
tế mũi nhọn, những mắt khâu quan trọng của hệ thống sản xuất Tất cả những kết quả này đều do con ng-ời với tri thức của mình tạo nên Với ý nghĩa đó, ng-ời lao động là nhân tố chủ yếu, hàng đầu của lực l-ợng sản xuất
Có thể đánh giá sự phát triển của tri thức con ng-ời thông qua quá trình phát triển của công cụ lao động qua các thời kì lịch sử Ng-ời nguyên thuỷ đã
sử dụng những công cụ lao động thô sơ, có sẵn trong tự nhiên nh- rìu bằng đá, cuốc bằng sừng… Nói chung, kinh tế hái l-ợm không đòi hỏi những công cụ phức tạp, và do vậy, năng suất lao động rất thấp Khi đã có đ-ợc kinh nghiệm trong quá trình sản xuất, ng-ời lao động đã biết sử dụng công cụ lao động bằng kim loại, các nguồn năng l-ợng sẵn có trong tự nhiên nh-: sức n-ớc, sức
gió,… Trong sản xuất nông nghiệp, sử dụng sức gió để xay bột, trong sản xuất công nghiệp dùng động cơ hơi n-ớc để khai thác than, luyện kim, chế biến
kim loại, ngành dệt phát triển, những công cụ lao động nh- máy bào, gọt mài, cần trục thô sơ, bàn dệt,… xuất hiện Công cụ sản xuất tiếp tục phát triển đến trình độ cơ khí máy móc và máy móc tự động hoá
ở thời kì mới, ngoài các nguồn năng l-ợng sẵn có nh- sức n-ớc, sức gió, ng-ời ta còn khai thác các loại tài nguyên d-ới lòng đất để làm nhiên liệu, nguyên liệu cho quá trình sản xuất nh- than đá, dầu hoả,… để tạo ra những nguồn năng l-ợng mới cho con ng-ời Thông qua các mục tiêu sản xuất nh- vậy, những nhà sáng chế kĩ thuật đã không ngừng tìm tòi, cải tiến, sáng tạo ra những công cụ lao động mới nhằm giảm dần cho sức lao động cơ bắp mà năng suất lao động xã hội vẫn đ-ợc nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu của con ng-ời
Trang 33Tuy nhiên, con ng-ời không dừng lại ở đó Trong quá trình khai thác tự nhiên và sử dụng những công cụ sản xuất, con ng-ời lại có những
ý t-ởng, những sáng tạo mới, đ-a sự hiểu biết của con ng-ời lên một nấc thang cao hơn, khẳng định sức mạnh của trí tuệ con ng-ời là nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội Các ngành khoa học, công nghệ cao, công
cụ sản xuất tiên tiến có hàm l-ợng trí tuệ cao (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,, công nghệ năng l-ợng mới, công nghệ vật liệu mới) dần dần hình thành và phát triển nhanh chóng
Việt Nam là một n-ớc nông nghiệp, lại trải qua một thời gian chiến tranh t-ơng đối dài nên tiềm lực kinh tế của chúng ta còn nhiều hạn chế Trong khi đó, để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi chúng ta phải có một nguồn lực tài chính không nhỏ Tr-ớc tình hình đó, Đảng ta đã xác định rằng, để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc chúng ta chỉ có thể dựa vào một nguồn lực quan trọng nhất đó là con ng-ời và nguồn lực con ng-ời Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung -ơng khoá VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia”
Trong nhiều nghị quyết Đảng ta đã đề cập tới vai trò của con ng-ời và việc chăm lo, phát triển nguồn lực con ng-ời trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chẳng hạn, trong Nghị quyết Hội nghị Trung -ơng lần thứ bảy (khoá VII) Đảng ta cũng khẳng định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”[13, tr.5] Đại hội lần thứ VIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi d-ỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con ng-ời Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [14, tr.21] Con người chính là chủ thể của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong mối quan hệ và tác động qua lại giữa các nguồn lực cần thiết của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nguồn lực con ng-ời giữ vai trò quan trọng vì:
Trang 34Thứ nhất, con ng-ời có khả năng phát hiện, xác định mục tiêu, nội dung
và những ph-ơng pháp để đạt tới thành công Với ý nghĩa đó, nguồn lực con ng-ời giữ vai trò là chủ thể của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thứ hai, nguồn lực con ng-ời là lực l-ợng sản xuất hàng đầu của xã hội,
lực l-ợng cơ bản để biến những chủ tr-ơng, chính sách của Đảng và Nhà n-ớc trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành hiện thực
Thứ ba, con ng-ời vừa là mục tiêu, vừa là động lực cơ bản nhất của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hai yếu tố này có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại và thúc đẩy nhau cùng phát triển
Nếu nguồn lực tự nhiên đ-ợc xem nh- một món quà của thiên nhiên và
có tính hữu hạn thì nguồn lực con ng-ời lại là một tiềm năng vô hạn Nguồn lực con ng-ời không mất đi, cũng không bị cạn kiệt trong quá trình khai thác; trái lại, nó sẽ ngày càng đ-ợc nâng cao về chất l-ợng cùng với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội Đây đ-ợc coi là -u thế nổi trội, hơn hẳn của nguồn lực con ng-ời so với nguồn lực tự nhiên Trong cách đánh giá, nếu nh- tr-ớc đây, ng-ời ta th-ờng coi trọng vai trò của kỹ thuật, công nghệ, của nguồn lực tự nhiên thì ngày nay, ng-ời ta quan tâm nhiều hơn tới vai trò của con ng-ời Nguồn lực con ng-ời đã trở thành nguồn lực cơ bản nhất, quan trọng nhất trong sự phát triển xã hội
Trong quá trình xây dựng đất n-ớc, Đảng và Nhà n-ớc ta luôn chú trọng khai thác một cách hợp lý các nguồn lực, kết hợp mục tiêu phát triển kinh tế với phát triển xã hội Nh-ng trên thực tế, vấn đề lại phức tạp hơn nhiều Vì những lý do khác nhau, việc khai thác một cách bừa bãi, không có kế hoạch các nguồn lực tự nhiên vì mục đích phát triển kinh tế đã làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt Mặt khác, quá trình phát triển kinh tế của đất n-ớc ta những năm qua cùng với kinh nghiệm của các n-ớc đi tr-ớc đã cho thấy, nguồn lực con ng-ời của Việt Nam còn nhiều hạn chế, nhất là về mặt chất l-ợng, việc đầu t- vào công nghệ sẽ không hiệu quả nếu không có sự phát triển t-ơng xứng của nguồn nhân lực
Trang 351.2 Sự cần thiết phải khai thác và sử dụng một cách hợp lí
nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc
Theo tiến trình chung của lịch sử nhân loại, việc chuyển từ làn sóng văn minh nông nghiệp sang làn sóng văn minh công nghiệp rồi hậu công nghiệp là một quy luật khách quan Việt Nam dù muốn hay không cũng nằm trong sự tác động của quy luật chung đó
Tr-ớc đây, trong nền kinh tế nông nghiệp, tác động của con ng-ời vào
tự nhiên chỉ ở một mức độ nhất định Điều đó có nhiều nguyên nhân, nh-ng chủ yếu vẫn là do trình độ của lực l-ợng sản xuất còn thấp, vì vậy, không tạo
ra đ-ợc năng suất lao động cao Khi cuộc cách mạng công nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất, việc đầu t- t-ơng đối lớn vào t- liệu sản xuất đã đem lại một kết quả khả quan trong quá trình khai thác tự nhiên Lực l-ợng sản xuất càng ở trình độ cao, việc khai thác tự nhiên càng trở nên mạnh mẽ, triệt
để hơn Một thực tế là sản l-ợng khai thác tài nguyên thiên nhiên nhiều bao nhiêu, con ng-ời lại càng phá hoại giới tự nhiên bấy nhiêu, chính điều đó đã làm cho mối quan hệ giữa con ng-ời với tự nhiên ngày càng trở nên xấu đi
Cuộc cách mạng khoa học, - kĩ thuật đã tạo ra tiền đề cho các ngành sản xuất phát triển Việc đẩy mạnh khai thác tự nhiên nhằm sản xuất ra nhiều của cải, nhằm làm giàu thay vì chỉ để nuôi sống mình nh- tr-ớc đây cũng nh- chuyển sang khai thác tự nhiên bằng máy móc thay vì ph-ơng tiện thủ công…
đã làm kiệt quệ nhanh chóng nguồn tài nguyên thiên nhiên Nếu xem xét giới
tự nhiên ở tầm vũ trụ thì nó là vô hạn, nh-ng trong phạm vi là tài nguyên thiên nhiên, tức là đối t-ợng của lao động sản xuất thì đó lại là hữu hạn Vì thế, trong quá trình phát triển hiện nay, không thể khai thác và chinh phục tự nhiên theo quan niệm cũ nh- tr-ớc đây, mà cần phải có sự điều chỉnh, xem xét lại nhằm khai thác và sử dụng một cách hiệu quả nguồn lực tự nhiên Vậy, làm thế nào để có thể thực hiện đ-ợc mục tiêu đó? Điều này chỉ có thể phụ thuộc vào con ng-ời với trí tuệ của mình Bởi vì, chính con ng-ời là lực l-ợng đầu
Trang 36tiên và chủ yếu trong việc khai thác tự nhiên, do đó, con ng-ời là nguyên nhân chính gây ra sự mất cân bằng sinh thái, kiệt quệ tài nguyên thiên nhiên, thay
đổi môi tr-ờng tự nhiên Làm thế nào để đáp ứng điều kiện sinh hoạt vật chất ngày càng cao của con ng-ời, đồng thời tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững, trong đó môi tr-ờng tự nhiên không bị biến đổi theo chiều h-ớng xấu, tài nguyên thiên nhiên không bị kiệt quệ? Để làm đ-ợc điều đó, nhiệm vụ tr-ớc mắt của con ng-ời là phải biết khai thác và sử dụng một cách hợp lí giữa nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời, có nh- vậy xã hội mới có thể tồn tại và phát triển đ-ợc
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc Một vấn đề bức xúc đặt ra là nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúng ta ngày càng kiệt quệ tới mức trầm trọng do việc khai thác quá mức và sử dụng không hợp lí nguồn lực này, đồng thời việc sản xuất lại chủ yếu dựa vào những kỹ thuật, công nghệ lạc hậu dẫn tới sự tiêu tốn và lãng phí nhiều nhiên liệu, nguyên liệu, năng l-ợng Bên cạnh đó, thái độ không thân thiện của con ng-ời với môi tr-ờng, cách thức quản lí không phù hợp cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng trên Mặt khác, nguồn lực con ng-ời cũng không đ-ợc phát huy một cách tối đa, ng-ời lao động thờ ơ với quá trình lao động với thái độ trông chờ,
ỉ lại… vào Nhà n-ớc vẫn còn khá phổ biến ở mọi lĩnh vực sản xuất
Để phát triển bền vững, chúng ta cần phải khai thác và sử dụng một cách hợp lý các nguồn lực của sự phát triển, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời Cả hai nguồn lực này có vai trò rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định Tuy nhiên, chúng chỉ có thể phát huy, thực hiện tốt sức mạnh của mình khi đ-ợc kết hợp với nhau và đặc biệt hơn nữa là chúng chỉ có thể phát huy đ-ợc tác dụng tích cực một cách tối đa khi chúng đ-ợc khai thác
và sử dụng một cách hợp lí Vậy, vấn đề đặt ra là thế nào là khai thác và sử dụng hợp lí?
Theo Từ điển Tiếng Việt [45, tr 466] hợp lí đ-ợc định nghĩa là đúng lẽ phải, đúng với sự cần thiết hoặc hợp với logíc của sự vật Theo chúng tôi,
Trang 37trong tr-ờng hợp này, sự khai thác và sử dụng một cách hợp lí đ-ợc hiểu là sự khai thác nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời một cách hiệu quả nhất, không chỉ thể hiện bằng sản phẩm tạo ra trong quá trình sản xuất mà còn phải tạo điều kiện đảm bảo cho sự phát triển mai sau
Nh- vậy, thông qua kết quả của quá trình khai thác cả hai nguồn lực, chúng ta có thể xác định đ-ợc việc sử dụng chúng có hiệu quả hay không
Điều này đ-ợc thể hiện bằng nhiều giá trị khác nhau, nh- thông qua sản l-ợng của quá trình sản xuất, đồng thời cả việc tạo điều kiện, tiền đề cho việc phát triển của thế hệ mai sau Cần phải hiểu trong tr-ờng hợp này, sự khai thác và
sử dụng hợp lý hay không hợp lý không chỉ ảnh h-ởng ngay trong thời điểm hiện tại, mà còn ảnh h-ởng tới t-ơng lai, ở những thế hệ mai sau Sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực con ng-ời hợp lý là nhằm bảo vệ nền tảng vĩnh cửu của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ng-ời
Vậy, tại sao phải có sự cần thiết khai thác và sử dụng một cách hợp lí nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con ng-ời trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc?
Trong học, thuyết hình thái kinh tế- xã hội của mình, Các Mác đã chỉ ra hai mối quan hệ cơ bản của con ng-ời: Mối quan hệ giữa con ng-ời với tự nhiên trong quá trình sản xuất (lực l-ợng sản xuất) và quan hệ giữa con ng-ời với con ng-ời trong quá trình sản xuất (quan hệ sản xuất), trong đó có lực l-ợng sản xuất giữ vai trò quan trọng và quyết định Lực l-ợng sản xuất
đ-ợc kết cấu bởi hai yếu tố cơ bản, đó là t- liệu sản xuất và ng-ời lao động Khi nói đến ng-ời lao động, ng-ời ta th-ờng xem xét trong mối quan hệ với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động, vì thông qua loại “khí quan vật chất” đặc biệt này, con người có khả năng “nối dài bàn tay”, đồng thời tác động vào tự nhiên nhằm tìm kiếm nguồn thức ăn và khi công cụ lao động tham gia trực tiếp thì quá trình tìm kiếm nguồn thức ăn trở nên dễ dàng và
đạt hiệu quả cao hơn
Trang 38Trình độ của lực l-ợng sản xuất biểu hiện mức độ chinh phục tự nhiên của con ng-ời trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Do đó, lực l-ợng sản xuất chính là th-ớc đo năng lực thực tiễn của con ng-ời trong quá trình cải tạo tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội loài ng-ời Nh- vậy, có thể thấy nhu cầu tồn tại của con ng-ời đã khiến cho con ng-ời bắt buộc phải có mối quan hệ với tự nhiên Từ trong tự nhiên, con ng-ời có thể thoả mãn nhu cầu sinh sống của mình, nhất là trong thời kì đầu của xã hội loài người, vì thế có thể nói “tự nhiên đã nuôi dưỡng” con người
Thứ nhất, có thể khẳng định tự nhiên chính là nguồn gốc của con ng-ời, con ng-ời là sản phẩm tiến hoá cao nhất của giới tự nhiên
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học,, đặc biệt là ngành khảo cổ học, đã chứng minh nguồn gốc tự nhiên của con ng-ời, chứng minh con ng-ời là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài của giới tự nhiên, giới tự nhiên là cái nôi của loài ng-ời, đồng thời là nền tảng trên đó con ng-ời xây dựng và tổ chức cuộc sống của mình Do vậy, mối quan hệ giữa con ng-ời với
tự nhiên là mối quan hệ đầu tiên và cơ bản
Ngay từ thế kỉ XIX khi trình bày những quan điểm về sự hình thành và phát triển của xã hội loài ng-ời, C.Mác đã coi xã hội là giai đoạn cao nhất trong sự phát triển thống nhất giữa lịch sử xã hội và lịch sử tự nhiên Trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế-Triết học, năm 1844”, C Mác viết: “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con ng-ời, và chính nó là giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể con ng-ời Con ng-ời sống dựa vào tự nhiên Nh- thế nghĩa là tự nhiên là thân thể của con ng-ời; để khỏi chết, con ng-ời phải ở trong quá trình giao dịch th-ờng xuyên với thân thể đó Sinh hoạt vật chất và tinh thần của con ng-ời liên hệ khăng khít với tự nhiên, điều đó chẳng qua chỉ có nghĩa là tự nhiên liên hệ khăng khít với bản thân tự nhiên, vì con người là một bộ phận của tự nhiên” [28, tr.91-92] Trong “Hệ t- t-ởng
Đức”, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: “Mọi lịch sử đều xuất phát từ những cơ
sở tự nhiên và từ những thay đổi của chúng do hoạt động của con ng-ời gây ra
Trang 39trong quá trình lịch sử” và “có thể xem xét lịch sử dưới hai mặt, có thể chia lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại Chừng nào mà loài ng-ời con tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau” [30, tr.21-25] Khẳng
định sự thống nhất hữu cơ, không tách rời nhau giữa con ng-ời và tự nhiên trở thành quan điểm nhất quán trong t- t-ởng của C.Mác và Ph.Ăngghen Theo các ông, những gì thù địch với tự nhiên cũng tức là thù địch với con ng-ời, những hành động phá hoại tự nhiên, phá vỡ sự hài hoà, cân bằng của mối quan
hệ con ng-ời-tự nhiên, xét về mặt sinh thái, cũng đồng nghĩa với sự phá hoại cuộc sống của chính bản thân con ng-ời
Thứ hai, nguồn lực tự nhiên là yếu tố cấu thành các nguồn lực vật chất nguyên thuỷ cho hoạt động kinh tế
Bằng hoạt động sản xuất và tái sản xuất mở rộng, con ng-ời cho đến nay vẫn chủ yếu khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn đã
có sẵn để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Các yếu tố của nguồn lực tự nhiên nh- đất đai, nguồn n-ớc, các loại khoáng sản,…đều là những yếu tố không thể thiếu cho đầu vào của quá trình sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp và công nghiệp Nh- vậy, đối t-ợng lao động (giới tự nhiên) nếu tồn tại tự nó thì chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng, muốn đ-ợc phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực đối với quá trình sản xuất của xã hội thì phải kết hợp với nguồn lực con ng-ời, thông qua hoạt động có ý thức của con ng-ời Bởi lẽ, con người là nguồn lực duy nhất có trí tuệ, ý chí, biết tư duy, biết “lợi dụng” các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình sản xuất Các nguồn lực khác là những khách thể chịu sự cải tạo, khai thác của con ng-ời và hết thảy chúng
đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con ng-ời Vì thế, trong các yếu tố cấu thành của lực l-ợng sản xuất, ng-ời lao động là yếu tố quan trọng nhất,
là “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại”
Thứ ba, các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồn lực con ng-ời, mà cái cốt lõi là trí tuệ, là nguồn lực vô tận
Trang 40Với bản chất hoạt động có mục đích và sáng tạo, dựa vào giới tự nhiên,
con ng-ời bằng trí tuệ của mình không ngừng sản xuất ra những sản phẩm mới phục vụ nhu cầu ngày càng tăng, càng đa dạng của mình Nh- trên chúng tôi đã trình bày, tài nguyên thiên nhiên có thể đ-ợc phân loại thành hai nhóm có bản: tái sinh đ-ợc và không tái sinh đ-ợc Với cách phân chia này, con ng-ời có thể chủ động trong việc khai thác, sử dụng sao cho hợp lí tránh tình trạng lãng phí, để có kế hoạch sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên khác nhau vì hoạt động kinh tế của con ng-ời sử dụng rất nhiều tài nguyên thiên nhiên ở đầu vào
ở giai đoạn phát triển hiện nay, con ng-ời đã chuyển từ sự khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên sang khai thác chính trí tuệ của mình Trí tuệ con ng-ời đ-ợc xem là nguồn vật chất vô tận, nếu chúng ta biết khai thác,
sử dụng hợp lí và đầy đủ thì con ng-ời hoàn toàn có thể giải quyết thành công mọi mâu thuẫn giữa con ng-ời với tự nhiên Sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nạn ô nhiễm môi tr-ờng có thể đ-ợc giải quyết nếu nh- con ng-ời nhận thức đ-ợc đầy đủ bản chất của vấn đề trên Điều này có thể thực hiện đ-ợc thông qua việc con ng-ời nhận thức lại kết cấu, vai trò của từng nguồn lực
Một trong những đặc điểm để phân biệt hầu hết các nguồn tài nguyên thiên nhiên là chúng “phụ thuộc nhiều vào thời gian” Điều này có nghĩa là việc sử dụng chúng phải có kế hoạch nhất định, nếu thời kì thu hoạch này khai thác quá sản l-ợng cho phép sẽ ảnh h-ởng nghiêm trọng tới tỉ lệ sử dụng nguồn tài nguyên đó trong thời kì thu hoạch sau Đối với các loại tài nguyên không phục hồi đ-ợc thì điều này t-ơng đối dễ nhận biết Chẳng hạn, dầu
đ-ợc rút ra từ các mỏ dầu năm nay nhiều bao nhiêu thì sản l-ợng khai thác của những năm sau đó sẽ càng khó đạt mức t-ơng đ-ơng Mối quan hệ giữa lợi ích hiện tại và lợi ích lâu dài cũng xảy ra đối với các nguồn tài nguyên có thể phục hồi lại đ-ợc, chẳng hạn, nên tính toán xem có thể đánh bắt bao nhiêu cá hiện nay để không làm ảnh h-ởng đến sản l-ợng đánh bắt trong những năm