là những tác phẩm đi sâu vào khám phá thế giới tâm hồn sâu kín, phát hiện vẻ đẹp đời sống nội tâm của con ng-ời với ngôn ngữ tinh tế, gợi cảm, giàu hình ảnh trong truyện của các nhà văn
Trang 1đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trang 2đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, chúng tôi đã nhận đ-ợc sự gợi ý và h-ớng dẫn tận tình, chu đáo của Phó Giáo s-, Tiến sỹ L-u Khánh Thơ - Viện Văn học Việt Nam
Bên cạnh đó, chúng tôi còn nhận đ-ợc sự giúp đỡ về tài liệu và những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo Khoa Văn học, tr-ờng
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Xin trân trọng gửi tới các thầy, cô giáo lời cảm ơn chân thành và sâu sắc của chúng tôi !
Trang 4Ch-ơng 1 Từ nhận thức về dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945
đến việc tìm hiểu con đ-ờng sáng tác của Thanh Tịnh
14
I Quan niệm về truyện ngắn và truyện ngắn trữ tình 14
II Dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945 trong tiến trình
văn học Việt Nam hiện đại
17
III Những g-ơng mặt tiêu biểu tạo nên dòng truyện ngắn
trữ tình 1930-1945
22
IV Dòng truyện ngắn trữ tình với các dòng truyện ngắn khác
thuộc giai đoạn 1930-1945
33
V Con đ-ờng sáng tác của nhà văn Thanh Tịnh 37
Ch-ơng 2 Thân phận con ng-ời và những giá trị nhân bản cao
quý trong truyện ngắn của Thanh Tịnh
Trang 5mọi mặt của cuộc sống, thể hiện chất nhân văn tinh tế và cao cả
Ch-ơng 3 Đặc điểm truyện ngắn Thanh Tịnh qua một số ph-ơng
II Cách lựa chọn đề tài, xây dựng cốt truyện 67
Trang 6Mở đầu
I Lý do chọn đề tài
1 Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 phát triển một cách mạnh
mẽ và đạt đ-ợc những thành tựu to lớn ở hầu hết mọi lĩnh vực mà cho đến nay, ngày càng đ-ợc khẳng định Những thành tựu đó đã làm thay đổi hẳn diện mạo của văn học dân tộc, mang tới cho nó bộ mặt mới: hiện đại Cùng với sự phát triển nhanh chóng của thơ ca (đặc biệt là phong trào Thơ mới)
là sự phát triển cũng mạnh mẽ không kém cả về số l-ợng lẫn chất l-ợng của các thể loại văn xuôi nghệ thuật nh-: tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng
sự, tuỳ bút, nghiên cứu phê bình,… Do sự phức tạp của diện mạo văn học giai đoạn này cùng những yêu cầu cấp thiết của việc đổi mới, hiện đại hoá văn học, nhiều tác giả có thể sáng tác rất nhiều thể loại khác nhau, mà ở mỗi thể loại lại đều có những thành công nhất định Điều đó nói lên sự phát triển mạnh của văn học giai đoạn này không chỉ về số l-ợng, chất l-ợng tác phẩm mà còn cả về số l-ợng và chất l-ợng tác giả Nhắc đến Vũ Trọng Phụng, ng-ời ta không chỉ nhắc đến tiểu thuyết mà còn là những bài
phóng sự khiến ông đ-ợc mệnh danh là ông vua phóng sự đất Bắc Xuân Diệu, nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới lại có những truyện ngắn
trữ tình rất hay Nhà phê bình nổi tiếng Vũ Ngọc Phan ngoài những bài nghiên cứu, những tập bút kí, ông còn giúp công chúng Việt Nam tiếp cận với các tiểu thuyết ph-ơng Tây qua bản dịch tiếng Việt của mình Nhà thơ Thế Lữ có những truyện đ-ờng rừng đầy bí hiểm, hấp dẫn,… Báo chí, nhà
in, nhà xuất bản cũng góp phần làm sôi động thêm văn học giai đoạn này bằng cách đăng tải hàng trăm tiểu thuyết, hàng ngàn truyện ngắn, phóng sự tuỳ bút, thơ, truyện ký đủ loại,…
Trang 72 Trong sự phát triển bùng nổ của văn học, truyện ngắn đã tr-ởng
thành v-ợt bậc và sớm trở thành một thể loại mạnh với những đại diện tiêu biểu nh-: Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Thạch Lam, Thanh Tịnh, Kim Lân Mỗi tác giả là một quan điểm, một phong cách riêng, nh-ng đều có những đóng góp vào thành công của thể loại này trong nền văn học chung Các tác phẩm truyện ngắn giai đoạn này đã phản
ánh một cách toàn vẹn, sâu sắc đời sống xã hội đ-ơng thời Bên cạnh những tác phẩm phê phán, phản ánh, tố cáo mặt trái của hiện thực xã hội với tất cả những thối nát, lỗi thời, bất công, lừa lọc, áp bức của giai cấp thống trị đối với ng-ời dân lao động; bi kịch tinh thần của ng-ời trí thức tiểu t- sản nh- trong các truyện của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Bùi Hiển, là những tác phẩm đi sâu vào khám phá thế giới tâm hồn sâu kín, phát hiện vẻ đẹp đời sống nội tâm của con ng-ời với ngôn ngữ tinh tế, gợi cảm, giàu hình ảnh trong truyện của các nhà văn Thạch Lam, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Thanh Châu, Ngọc Giao, Nếu nh- tr-ớc đây, giới phê bình nghiên cứu văn học th-ờng đi sâu vào tìm hiểu các tác phẩm mang tính chất hiện thực phê phán xã hội rõ rệt thì đến nay, ng-ời ta lại nhận thấy những tác phẩm trữ tình cũng có sức hấp dẫn riêng biệt của nó
mà ẩn giấu d-ới những lời văn nhẹ nhàng, trong trẻo chính là hiện thực của nội tâm con ng-ời thật phong phú và sâu sắc Đã có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá một cách trân trọng các tác phẩm của Thạch Lam, Xuân Diệu, Hồ Dzếnh, nh-ng cũng còn có nhiều tác giả ch-a đ-ợc tìm hiểu một cách hệ thống dù đóng góp của họ trong dòng văn học trữ tình là không nhỏ nh- Thanh Tịnh, Thanh Châu, Ngọc Giao, Cũng nh- vậy, cho
đến nay, trong khi các tập truyện ngắn của Thạch Lam, Hồ Dzếnh liên tục
đ-ợc xuất bản thành tập riêng và tái bản nhiều lần thì truyện ngắn của các
Trang 8nhà văn Thanh Châu, Ngọc Giao,… chỉ đ-ợc chọn in cùng các nhà văn
khác trong các tuyển tập Truyện ngắn của Thanh Tịnh ngoài tập Quê mẹ
đ-ợc in lại các năm 1957, 1983, thì mới chỉ đ-ợc chọn in trong cuốn
Thanh Tịnh tác phẩm chọn lọc do Nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản từ
năm 1998 và cho đến nay ch-a thấy tái bản lại Nhằm tiếp tục việc tìm tòi
sự đóng góp của các tác giả, tác phẩm văn học trữ tình, ở luận văn này
chúng tôi đi vào nghiên cứu, tìm hiểu về truyện ngắn Thanh Tịnh tr-ớc năm 1945 - những truyện ngắn mang một phong vị riêng, đầy chất thơ và
tràn đầy một tình yêu quê h-ơng tha thiết
3 Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự gần gũi nhau về phong cách,
quan niệm thẩm mỹ trong các truyện ngắn của các tác giả Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Xuân Diệu, Thanh Châu,… Điều đó đ-ợc thể hiện trong cách lựa chọn cốt truyện tâm lý, nhìn nhận khám phá hiện thực, chọn lọc các chi tiết của đời sống, cách xây dựng nhân vật truyện, cách tổ chức các tình huống truyện… Trong khi nghiên cứu về truyện ngắn Thanh Tịnh, chúng tôi cũng cố gắng phân tích sự ảnh h-ởng của các tác giả văn xuôi trữ tình khác đối với ông cũng nh- sự ảnh h-ởng của ông đối với các tác giả khác, đồng thời từ đó tìm hiểu xem sự phát triển của dòng văn xuôi trữ tình
đã có tác động, ảnh h-ởng tới các dòng văn học khác nói riêng và văn học nói chung giai đoạn 1930-1945 nh- thế nào, và nếu có thể, nó có ảnh h-ởng gì tới văn học giai đoạn sau nữa hay không? Truyện ngắn Việt Nam
đ-ơng đại giai đoạn này (cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI) cũng đang phát triển rất rầm rộ về số l-ợng tác giả, tác phẩm Nh-ng liệu nó có chịu ảnh h-ởng của văn học giai đoạn 1930-1945 tr-ớc kia không, theo chiều h-ớng tích cực hay tiêu cực? Điều đó không dễ dàng gì khi nhận xét, đánh giá, nh-ng để tìm đ-ợc mạch ngầm sự vận động liên tục trong dòng chảy
Trang 9truyện ngắn của văn học sử n-ớc nhà là điều mong muốn của bất cứ ng-ời nghiên cứu văn học nào Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đặt tên cho đề tài
nghiên cứu của mình là: Truyện ngắn Thanh Tịnh trong dòng truyện ngắn trữ tình Việt Nam 1930-1945
II Lịch sử vấn đề
Bên cạnh hai nhà văn đ-ợc coi là gần gũi nhất về phong cách, Thanh Tịnh ít đ-ợc nghiên cứu toàn diện, kỹ càng hơn So với Thạch Lam và Hồ Dzếnh, số l-ợng các bài nghiên cứu về Thanh Tịnh không nhiều lắm Ch-a
có công trình nào nghiên cứu, khảo luận về Thanh Tịnh một cách riêng biệt, độc lập Từ tr-ớc tới nay mới chỉ có luận án Phó Tiến sỹ của Phạm Thị Thu H-ơng (năm 1995) là đặt vấn đề nghiên cứu những đặc tr-ng về phong cách truyện ngắn của ba tác giả Thạch Lam-Thanh Tịnh-Hồ Dzếnh
và sự nghiên cứu về Thanh Tịnh nằm trong t-ơng quan chung với hai tác giả kia Trong luận án của mình, Phạm Thị Thu H-ơng đã tìm ra một số
nét đặc sắc trong truyện ngắn của Thanh Tịnh, đi sâu vào phân tích không gian làng Mỹ Lý, đặt làng giữa không gian sóng đối, coi các hình t-ợng dòng sông, con thuyền, câu hò, nhà ga, con tàu, tiếng còi là các biểu tr-ng
Có thể nói đây là những phân tích sắc sảo và sâu sắc Bên cạnh đó, luận án còn đề cập đến nghệ thuật truyện ngắn của Thanh Tịnh nh- tìm hiểu chất thơ trong văn xuôi, giọng điệu trần thuật xen trào phúng nhẹ nhàng Mặc
dù vậy, do yêu cầu cũng nh- mục đích đặt ra của đề tài nên luận án dừng lại ở việc tìm hiểu, đặt phong cách của Thanh Tịnh trong dòng phong cách chung của cả ba nhà văn Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh
Trang 10Những ng-ời đã từng viết hoặc nhắc đến Thanh Tịnh trong các bài viết nghiên cứu của mình là : Hà Minh Đức, Nguyễn Hoành Khung, Huy Cận, V-ơng Trí Nhàn, Vũ Ngọc Phan, Ngô Văn Phú, Thạch Lam, Thế Phong, Tầm D-ơng, Nguyễn Mạnh Trinh, Nguyễn Thị Thu Trang, Bùi Việt Thắng, Hoài Anh, Phan Quốc Lữ, Ngô Vĩnh Bình, Trần Hữu Tá, L-u Khánh Thơ, Phạm Thị Thu H-ơng,… Trong số các bài viết đó thì có tới năm, sáu bài
đ-ợc viết theo thể loại chân dung tác giả, trong đó có l-ợc qua toàn bộ sự nghiệp của Thanh Tịnh bao gồm cả truyện ngắn, truyện dài, thơ, độc tấu, kịch,… Nói chung, các ý kiến đánh giá về truyện ngắn Thanh Tịnh tr-ớc
1945 là khá thống nhất, đều cho rằng “mỗi truyện ngắn của Thanh Tịnh như một bài thơ vịnh gọn và có dư vị trữ tình lắng sâu” (Trần Hữu Tá),
“tấm lòng nghệ sĩ biết rung cảm một cách thiết tha trước cuộc sống chân chất, nguyên sơ, thuần phác đã mang đến cho truyện ngắn của ông không chỉ có chân, có tình mà còn rất có duyên” (Phan Quốc Lữ), “cái mơ hồ bàng bạc” (Nguyễn Nam Trân), “nhiều truyện của Thanh Tịnh có khuynh hướng lãng mạn rõ rệt”, và “một số truyện khác lại có khuynh hướng hiện thực Một chủ nghĩa hiện thực trữ tình”…
Có thể nói ng-ời đầu tiên nhận ra tài năng văn xuôi của Thanh Tịnh
chính là Thạch Lam khi ông viết lời tựa cho tập truyện ngắn đầu tiên Quê
mẹ của Thanh Tịnh xuất bản năm 1946 Thạch Lam đã dùng những câu
chữ đẹp nhất để ca ngợi nó Ông đã hiểu và nhận thấy sự chi phối mạnh mẽ của con người thi sĩ ở Thanh Tịnh đối với cách nhìn nhận cuộc sống: “Có
lẽ linh hồn ng-ời ở đấy còn nhiều màu sắc khác nhau, trong cuộc sống còn nhiều bi kịch khác, nh-ng mà tác giả chỉ tả có cái vẻ êm ả và nên thơ Tâm
Trang 11hồn -a thích cái gì vừa đẹp đẽ, vừa nhè nhẹ, tác giả không lách đi sâu, nh-ng dừng lại ở một làn gió, ở một cái thoảng h-ơng thơm của hoa cỏ bốn mùa” Ông nhận thấy ở Thanh Tịnh một tình yêu quê hương xứ sở đằm thắm, thiết tha Thạch Lam đã có những nhận xét tinh tế về Thanh Tịnh:
“Thanh Tịnh đã muốn làm người mục đồng ngồi dưới bóng tre thổi sáo để
ca hát những đám mây và làn gió l-ớt bay trên cánh đồng ca hát những vẻ
đẹp của đời thôn quê” [57,350]
Là ng-ời thứ hai đánh giá về Thanh Tịnh, Vũ Ngọc Phan đã xếp Thanh Tịnh vào cùng dòng “tiểu thuyết tình cảm” với Thạch Lam, ông cho rằng : “Thứ tình cảm ở tiểu thuyết Thanh Tịnh là thứ tình êm dịu, nhẹ nhàng, thứ tình của những ng-ời dân quê hồn hậu Trung kì, diễn ra trong những khung cảnh sông n-ớc, đồng ruộng… Cái tình quê trong hầu hết các
truyện ở tập Quê mẹ bao giờ cũng rung rinh, lai láng trong những đêm
trăng sáng, trên những mặt sông im hay trong những buổi chiều tà, gió hiu hắt thổi Tình, trăng, n-ớc, đó là tất cả những cái làm tài liệu cho Thanh
Tịnh để xây dựng nên những truyện trong tập Quê mẹ” [26,193] Theo ông,
“hầu hết những truyện ngắn của Thanh Tịnh lại chỉ rặt những cái đầy thơ
mộng, đầy huyền ảo”, một số ít còn lại như Ngậm ngải tìm trầm, Am cu ly
xe là có “cốt truyện hay, xây dựng vững chắc, phải cái văn viết cẩu thả”
[26,197]
Hà Minh Đức đã so sánh sự gần gũi về chất trữ tình, chất thơ trong sáng tác của Thanh Tịnh và một số nhà văn khác với nhà văn Nga Pauxtôpxki : “…kết hợp giữa phản ánh và bộc lộ cảm xúc cá nhân đậm chất trữ tình, chất thơ nh- sáng tác của Pauxtôpxki, Thạch Lam,
Trang 12Xuân Diệu, Thanh Tịnh …” [42,33], “Có thể nói mạch truyện của Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh đã nói lên vẻ đẹp nội cảm của tâm hồn tr-ớc cuộc sống…” [42,37]
Nhà thơ Huy Cận phát hiện ra cái “mùi vị quê rất đậm” trong truyện ngắn của Thanh Tịnh : “Tôi muốn nói thêm một điều: bao áng văn đẹp ấy gợi đậm lòng yêu quê h-ơng đất n-ớc, yêu những gì là văn minh, văn hoá nước nhà, lại có những tác phẩm mà “mùi vị đất quê” rất đậm (như các truyện ngắn của Thanh Tịnh) thật là đáng trân trọng…” [46,1369]
Trong khi hầu hết các nhà nghiên cứu khác th-ờng chỉ đặt Thanh Tịnh trong mạch liên t-ởng tới các tác giả, tác phẩm gần gũi cùng giai đoạn thì Nguyễn Hoành Khung, trong một số bài tiểu luận của mình đã dành nhiều
sự chú ý tới Thanh Tịnh : “Và cả Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, nếu như được gọi
là những cây bút hiện thực – một thứ hiện thực trữ tình – thì đâu phải là không có căn cứ” [44,10], “ Cây bút xứ Huế ấy có một hồn thơ lai láng, ngọt ngào, man mác, trữ tình…” [44,40], “Đúng như có ng-ời nhận xét, mỗi truyện ngắn của Thanh Tịnh là một bài thơ Với một tâm hồn quê h-ơng đằm thắm, Thanh Tịnh không những dựng nên những bức tranh thiên nhiên thi vị mà còn đi vào những cuộc đời hiền lành, lầm lụi mà đáng quý, đáng th-ơng của ng-ời dân quê, đặc biệt là ng-ời phụ nữ…”[44,40],
“Mỗi truyện ngắn của Thanh Tịnh là một bài thơ, mang chất thơ của cảnh vật và tâm hồn con ng-ời Việt Nam bình dị xiết bao th-ơng mến Song ngòi bút rất thi sĩ ấy không chỉ khai thác những gì thi vị, ngọt ngào, mà còn viết nên những trang nhức nhối, đầy ám ảnh về số phận thê thảm của ng-ời nghèo khổ trong cuộc sống vật lộn dữ dội với đời sống” [45,14]
Trang 13Hoài Anh khi viết chân dung Thanh Tịnh đã nhận xét: “Hầu hết truyện ngắn Thanh Tịnh là truyện kể (récit)”[59,1148], “Thanh Tịnh để tâm hồn tràn ngập ánh trăng, dòng sông và câu hát, sống giữa những con ng-ời quê
chất phác, giản dị nh- chị S-ơng trong Tình th-, cô H-ơng trong Quê bạn”
[59,1150]
Vương Trí Nhàn thì cho rằng: “Chỗ khác của Thanh Tịnh so với một
số tác giả thời tiền chiến, là khi diễn tả những nỗi bất hạnh của con ng-ời
ông không làm cho nó chói lên quá đáng, nhân vật trong truyện cũng nh- tác giả không kêu to sau các trang sách, song sự bất hạnh vì thế lại hiện ra không ai có thể c-ỡng lại nổi, nó nh- không khí bao quanh ng-ời ta, và sống lâu với nó, ta quen đi lúc nào không biết” [64,230]
Nguyễn Mạnh Trinh viết về Thanh Tịnh : “Quê hương của ông là nơi
chốn của thơ mộng huyền ảo, của những lãng mạn thăng hoa thành ngôn ngữ Đọc lại, những câu văn mang âm h-ởng thi ca với văn phong tuỳ bút sang cả làm cho trí t-ởng t-ợng nh- bị kích thích và đi xa hơn những phong cảnh thường nhật”… “Thơ Thanh Tịnh bình dị, truyện ngắn Thanh Tịnh sâu sắc, và hình nh- trong tất cả văn mạch của ông phảng phất những nỗi buồn” [58]
Điểm lại tất cả những bài viết mà chúng tôi tìm đọc đ-ợc, có thể thấy một điều nh- sau: mặc dù các công trình nghiên cứu về Thanh Tịnh ch-a thật nhiều nh- một số tác giả khác nh-ng hầu hết các ý kiến đánh giá đều thừa nhận sự đóng góp của Thanh Tịnh trong nền văn học n-ớc nhà nói chung và trong thể loại truyện ngắn nói riêng
Trang 14III Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ cơ bản :
- Khảo sát, tìm hiểu và phân tích truyện ngắn Thanh Tịnh qua các bình diện: tìm hiểu con đ-ờng sáng tác của Thanh Tịnh; thân phận con ng-ời và những giá trị nhân bản cao quý trong truyện ngắn Thanh Tịnh; một số ph-ơng diện nghệ thuật trong truyện ngắn Thanh Tịnh
- Tìm ra những nét đặc sắc riêng của truyện ngắn Thanh Tịnh trong dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945, ảnh h-ởng hai chiều của truyện ngắn Thanh Tịnh trong dòng truyện này và ảnh h-ởng của cả dòng truyện tới văn học giai đoạn 1930-1945 và các giai đoạn sau
IV phạm vi nghiên cứu
Trong tổng thể sáng tác của Thanh Tịnh, chúng tôi chọn toàn bộ truyện ngắn sáng tác tr-ớc năm 1945 làm đối t-ợng nghiên cứu Đó là các tập truyện ngắn:
Trang 15vI Đóng góp của luận văn
1 Bằng việc tìm ra những nét đặc sắc riêng trong truyện ngắn Thanh Tịnh sáng tác tr-ớc năm 1945, luận văn sẽ góp thêm một tiếng nói trong việc khẳng định vị trí của ông trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, góp phần vào việc giảng dạy và nghiên cứu về tác phẩm của ông trong nhà tr-ờng nói riêng và trong truyện ngắn hiện đại Việt Nam nói chung
2 Ngoài ra luận văn còn muốn đề cập đến ảnh h-ởng hai chiều của truyện ngắn Thanh Tịnh trong dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945, ảnh h-ởng của dòng truyện ngắn này trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-
1945 và các giai đoạn sau
VIi Cấu trúc của luận văn
Luận văn đ-ợc bố cục theo các phần sau:
1 Mở đầu
Phần này bao gồm các mục: Lý do chọn đề tài; lịch sử vấn đề; nhiệm
vụ nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu; ph-ơng pháp nghiên cứu; đóng góp của luận văn; cấu trúc của luận văn
Trang 162 Nội dung
Đ-ợc chia thành ba ch-ơng:
Ch-ơng 1: Từ nhận thức về dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945 đến việc tìm hiểu con đ-ờng sáng tác của Thanh Tịnh
Ch-ơng 2: Thân phận con ng-ời và những giá trị nhân bản cao quý trong truyện ngắn của Thanh Tịnh
Ch-ơng 3: Đặc điểm truyện ngắn Thanh Tịnh qua một số ph-ơng diện nghệ thuật
3 Kết luận
4 Tài liệu tham khảo
Trang 17nội dung
ch-ơng 1
Từ nhận thức về dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945
đến việc tìm hiểu con đ-ờng sáng tác của Thanh Tịnh
I Quan niệm về truyện ngắn và truyện ngắn trữ tình
Ruby V Redinger trong Bách khoa toàn th- Mỹ (Encyclopedya
American) xác định: “Truyện ngắn là một hình thức văn học, bản chất của
nó bao hàm trong những từ làm thành phần tạo nên tên gọi của nó Với t- cách là một câu chuyện, nó kể lại một chuỗi sự kiện hoặc một biến cố liên quan đến con ng-ời trong hoạt động thể chất hoặc tinh thần Vì thế, giống mọi hình thức văn xuôi h- cấu khác, nó mô tả bằng ngôn từ; và thành công của nó phụ thuộc vào sự tiếp xúc trực tiếp đạt đ-ợc giữa ng-ời đọc và đối t-ợng miêu tả Với t- cách là truyện ngắn, dĩ nhiên, nó không thể thực hiện mối tiếp xúc trực tiếp này bởi các ph-ơng tiện phổ biến đối với tiểu thuyết, nh- là xây dựng nhân vật chậm rãi, miêu tả thật chi tiết và lặp lại Đặc biệt
là nó phải miêu tả với độ nhanh nhạy và trọn vẹn giống nh- một tấm g-ơng” (dẫn theo Lê Huy Bắc) [14,19]
Từ điển thuật ngữ văn học của các tác giả Trần Đình Sử, Lê Bá Hán,
Nguyễn Khắc Phi viết : “… truyện ngắn th-ờng h-ớng tới việc khắc hoạ một hiện t-ợng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay
đời sống của tâm hồn con ng-ời… Cốt truyện của truyện ngắn th-ờng diễn
ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình ng-ời… Yếu tố quan
Trang 18trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung l-ợng lớn
và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu ch-a
nói hết.” [6,371]
Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê (chủ biên) ghi : truyện ngắn là
“truyện bằng văn xuôi, có dung lượng nhỏ, số trang ít, miêu tả một khía cạnh tính cách, một mẩu trong cuộc đời của nhân vật” [8,1034] ; trữ tình :
“có nội dung phản ánh hiện thực bằng cách biểu hiện những ý nghĩ, xúc cảm, tâm trạng riêng của con ng-ời, kể cả bản thân ng-ời nghệ sĩ, tr-ớc
cuộc sống” [8,1035]
Về thuật ngữ “trữ tình”, trong Từ điển thuật ngữ văn học viết : “Nếu tự
sự thể hiện t- t-ởng, tình cảm của tác giả bằng con đ-ờng tái hiện lại một cách khách quan các hiện t-ợng đời sống, thì trữ tình lại phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con ng-ời, nghĩa là con ng-ời tự cảm thấy mình qua những ấn t-ợng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh Ph-ơng thức trữ tình cũng tái hiện các hiện t-ợng của đời sống, nh- trực tiếp miêu tả phong cảnh thiên nhiên hoặc thuật lại ít nhiều sự kiện t-ơng đối liên tục, … nh-ng sự tái hiện này không mang mục
đích tự thân, mà tạo điều kiện để chủ thể bộc lộ những cảm xúc, chiêm nghiệm, suy t-ởng của mình Tác phẩm trữ tình thể hiện tâm trạng Do đó,
nó th-ờng không có cốt truyện, hiểu theo nghĩa chặt chẽ của từ này và dung l-ợng của nó th-ờng ngắn (vì một trạng thái tâm trạng không thể kéo dài) … [6,373]
Bùi Việt Thắng gọi truyện ngắn trữ tình là kiểu truyện ngắn tâm tình:
“Truyện-tâm tình còn đ-ợc gọi là truyện ngắn gần với thơ vì trong đó có sự phối hợp giữa việc diễn tả cảm xúc trữ tình với kể chuyện Truyện ngắn trong bản chất của nó là một thể loại tự sự - trữ tình cô đúc, ý ngoài chữ,
Trang 19tạo ấn t-ợng và liên t-ởng [15,138] … “Trong kiểu truyện ngắn-tâm tình,
sự cảm thụ thiên nhiên trong toàn bộ các giác quan là một đặc điểm trong
cách miêu tả của nhà văn” [15,140]
Nguyễn Minh Châu lý giải về bản chất của loại truyện này: “Có những ng-ời viết truyện ngắn sau khi đã diễn tả cái diễn biến bên ngoài, hoặc tả hết sức tiết kiệm mà chỉ chuyên chú vào cái bên trong, vào cái mà nhân vật thu nhận đ-ợc ở bên trong tâm hồn họ, bằng những câu đối thoại, bằng những phản ứng tâm lý rất tinh tế Vì thế đã đẻ ra một loại truyện ngắn mà ta th-ờng gọi là truyện không có cốt truyện Chẳng qua chỉ là một thủ đoạn văn học cốt để nhân vật và phần nội tâm của nhân vật trực tiếp
tiếp xúc với ng-ời đọc” (dẫn theo Bùi Việt Thắng) [15,138]
Trong luận án của mình, Phạm Thị Thu Hương viết: “Trong tác phẩm trữ tình, yếu tố chủ quan của nhà văn bao giờ cũng rất đậm nét, và nó
đ-ợc thể hiện ở tất cả các ph-ơng diện nghệ thuật: Dù tả cảnh, tả ngoại hình nhân vật hay nội tâm nhân vật,… Truyện ngắn trữ tình th-ờng không
có cốt truyện Nó có kết cấu gần với cấu tứ của thơ trữ tình Truyện ngắn trữ tình th-ờng đi sâu miêu tả một cách tinh tế những phản ứng của tâm thức đối với “kinh nghiệm sống” (chữ dùng của Nguyễn Tuân) ý nghĩa của truyện th-ờng gắn với không khí bàng bạc, tâm trạng… bàng bạc trong tác phẩm” [80]
Có thể thấy, truyện ngắn trữ tình ch-a có một khái niệm chính thức nào Là một dạng trong thể loại truyện ngắn, có ng-ời quan niệm nó là
“kiểu truyện-tâm tình”, có người cho là “truyện ngắn trữ tình”, có người gọi là “truyện không có cốt truyện”, hoặc “văn xuôi trữ tình” … Trong luận văn này, chúng tôi xin được mượn những phân tích đặc trưng về “phong cách truyện ngắn trữ tình” của các nhà phê bình văn học đi tr-ớc để làm cơ
Trang 20sở phân tích truyện ngắn của Thanh Tịnh tr-ớc năm 1945 (tính phi cốt truyện, cấu trúc tác phẩm lỏng lẻo, sự bộc lộ chủ thể ở mức độ cao, h-ớng
tới thiên nhiên, tình huống truyện, nhân vật truyện, ngôn ngữ truyện, …)
II Dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945 trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại
Sự phân kỳ các giai đoạn văn học trong tiến trình văn học sử luôn là
điều khó, gây nhiều tranh cãi, và câu hỏi văn học Việt Nam hiện đại hình thành từ bao giờ, cho đến nay vẫn ch-a có câu trả lời thống nhất Nền văn học hiện đại hình thành trên cơ sở những tiền đề về lịch sử, xã hội và văn học nhất định Có ng-ời lấy năm 1900 làm một cái mốc của văn học hiện
đại, có ng-ời cho rằng văn học hiện đại gắn với thời kỳ 1930-1945, có ng-ời xếp văn học thế kỷ XX vào văn học hiện đại, … Do giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, ở đây chúng tôi chỉ đặt vấn đề xem xét, nghiên cứu
về dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945 trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ XX, cụ thể hơn là trong quá trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam hiện đại thế kỷ XX
Đầu thế kỷ XX, truyện ngắn dân tộc viết bằng Quốc ngữ đ-ợc đánh dấu bởi sáng tác của nhiều tác giả nh-: Phan Kế Bính, Tản Đà, Nguyễn Ph-ơng Chánh, Tam Lang, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn ái Quốc, Trần Quang Nghiệp, Huỳnh Minh Phụng, … Những truyện ngắn trong thời kỳ này th-ờng đ-ợc viết với lối viết biến nhân vật thành ng-ời phát ngôn t- t-ởng chủ quan của nhà văn, đối thoại dài dòng, ngôn ngữ -ớc
lệ, khuôn sáo, biền ngẫu, kết thúc có hậu…
Trang 21B-ớc sang thập kỷ 30, truyện ngắn khởi sắc và nhanh chóng trở thành một thể loại mạnh, thực sự chiếm lĩnh văn đàn Trong vòng m-ời lăm năm
từ 1930 đến 1945, số truyện ngắn đăng rải rác trên các báo chí và xuất bản thành tập riêng chắc phải hàng ngàn Riêng nhà văn Nguyễn Công Hoan đã
có khoảng 250 truyện ngắn Công chúng trở nên quen thuộc với tên tuổi của hàng loạt nhà văn nh- Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân, … Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét truyện ngắn thời kỳ này thật sự phong phú, đặc sắc, đa dạng, đa dạng về khuynh h-ớng thẩm mỹ, về phong cách, về bút pháp, về đề tài, màu sắc địa ph-ơng… Văn đàn dần hình thành nên những dòng truyện ngắn khác nhau, tuỳ thuộc vào sự nhận thức về hiện thực cuộc sống, quan niệm thẩm mỹ, phong cách sáng tác của tác giả Có những truyện ngắn nghiêng về phản
ánh, phê phán hiện thực cuộc sống đầy áp bức bất công,… nh- các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Ngô Tất Tố,…; có những truyện ngắn nghiêng về phân tích đời sống tâm hồn con ng-ời nh- các tác phẩm của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Bùi Hiển, Đỗ Tốn,… Dòng truyện ngắn trữ tình đ-ợc hình thành từ các tác phẩm đ-ợc viết theo phong cách trữ tình, nghiêng về phân tích đời sống tâm hồn con ng-ời của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Xuân Diệu,… Sự thành công của truyện ngắn đã khẳng
định -u thế v-ợt trội của thể loại này trong nền văn học n-ớc nhà
Sau 1945, truyện ngắn Việt Nam b-ớc sang một kỷ nguyên mới do sự
ảnh h-ởng của những biến động về chính trị, xã hội Cách mạng tháng Tám thành công mở ra một thời đại mới với nhịp sống khẩn tr-ơng, nhân dân
đ-ợc giải phóng và v-ơn lên làm chủ số phận mình Hàng loạt truyện ngắn
ra đời là những thiên truyện đầy ắp hơi thở cuộc sống và không khí thời
đại, phản ánh cuộc kháng chiến gian khổ nh-ng hào hùng của nhân dân
Trang 22Bên cạnh các nhà văn đã thành danh từ tr-ớc cách mạng, xuất hiện một lớp nhà văn mới, trẻ tuổi, tr-ởng thành trong cuộc kháng chiến nh- Trần Đăng,
Hồ Ph-ơng, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Khải,… Truyện ngắn thời kỳ này đ-ợc đánh giá là mang tính chất “phong trào”
Sang giai đoạn 1955-1975, truyện ngắn đã có thêm tác giả và một số phong cách tiêu biểu nh- Nguyễn Thành Long, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Đỗ Chu, Vũ Thị Th-ờng, Lê Minh Khuê,… Bên cạnh những truyện ngắn hay viết về những khoảnh khắc tiêu biểu của cuộc sống trong chiến tranh là những truyện ngắn đi theo một khuynh
h-ớng mới, truyện ngắn-thơ của Nguyễn Thành Long với Lặng lẽ Sapa, Nguyên Ngọc với Rẻo cao, Đỗ Chu với H-ơng cỏ mật, Ma Văn Kháng với Khúc hát Mèo… Ma Văn Kháng nói: “Truyện ngắn phải có cái gì bay bay
một tí, không nên mơ màng quá, mà trần trụi quá cũng không ổn” (dẫn theo Bùi Việt Thắng) [15,197] Những truyện ngắn-thơ giai đoạn này đ-ợc viết nên từ chất liệu do cuộc sống kháng chiến cung cấp về cái đẹp, cái nên thơ, cái anh hùng và cái phi th-ờng, với một ngôn ngữ trong sáng và thấm
đẫm chất thơ Không khí nghệ thuật bao trùm trong Lặng lẽ Sa Pa là một
không khí lặng lẽ, mơ màng và sâu lắng Sa Pa đẹp đến nao lòng ng-ời:
“Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá -ớt s-ơng, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe”
Truyện ngắn sau 1975 đến 1985 đi vào phân tích hiện trạng tinh thần xã hội sau chiến tranh Đời sống tinh thần của con ng-ời sau chiến tranh với những nỗi cô đơn, sự đau khổ về thể xác và tinh thần, sự hoài nghi giữa trung thành và phản bội, những cảnh ngộ và số phận con ng-ời đ-ợc chú ý
khai thác nhiều bởi các nhà văn Nguyễn Minh Châu (Ng-ời đàn bà trên
Trang 23chuyến tàu tốc hành), Nguyễn Quang Thân (Ng-ời không đi cùng chuyến tàu), Lê Hoàng (Lời cuối trong kịch bản)…
Truyện ngắn cuối thế kỷ XX xuất hiện một loạt tên tuổi mới với Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Võ Thị Hảo, Phạm Ngọc Tiến, L-u Sơn Minh… Đề tài, nội dung phản ánh, cách viết, hình thức truyện phong phú, đa dạng, có nhiều tìm tòi, phát hiện mới Mỗi tác giả đều tạo đ-ợc cho mình một ấn t-ợng khá riêng biệt với độc giả Cuộc sống hiện thực hằng ngày, những ẩn ức trong đời sống tinh thần con ng-ời (đặc biệt là phụ nữ), những ám ảnh sau chiến tranh, sự vật lộn trong cuộc sống mới theo cơ chế thị tr-ờng, sự trăn trở kiếm tìm những giá trị sống mới… tất cả đều đ-ợc đ-a vào các trang viết Nổi lên nh- một hiện t-ợng đặc biệt của văn học Việt Nam cuối thế
kỷ XX, bên cạnh những truyện ngắn gây xôn xao văn đàn vì khả năng phản
ánh thực trạng tha hoá của con ng-ời trong một xã hội có nhiều phức tạp
nh- T-ớng về h-u, Không có vua, Những ng-ời thợ xẻ,… Nguyễn Huy
Thiệp còn có một mạch văn quan trọng khác đầy chất lãng mạn và trữ tình
với Con gái thuỷ thần, Chảy đi sông ơi, Th-ơng nhớ đồng quê, Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt,… Cùng một mạch văn theo phong cách trữ tình thời
kỳ này là các truyện ngắn của Đỗ Chu (Hoạ mi đang hót), Nguyễn Bản (ánh trăng), Linh Vang (M-a trên nỗi buồn, Và m-a vẫn rơi, Một nhành lan),… Truyện ngắn của Linh Vang th-ờng có một nỗi buồn lan toả khắp
mỗi câu mỗi chữ, nỗi buồn của tình yêu không thành, không tới hoặc có tới cũng ngậm ngùi, đ-ợc viết với một phong cách trữ tình đằm thắm Truyện của chị giàu chất đời, nh-ng không chỉ đơn thuần là những truyện tả chân,
Trang 24ở đây, tác giả đã bứt lên đ-ợc trên cái có thực đến tận cùng để tìm ra một cái gì đó cao hơn của con ng-ời, đó là đời sống tâm hồn vốn rất không rõ ràng rành mạch, vốn bí ẩn khó giải thích rạch ròi bằng lý trí “Tôi dừng xe
ở một khu -ơm bán cây kiểng, bông hoa, tản một vòng, lựa mua một chậu lan Chỉ là một nhánh lan mỏng manh bé nhỏ ch-a ra hoa Tôi muốn chăm sóc lan cho tới ngày nhìn thấy lan nở hoa, thấy được màu tím của hoa”
(Một nhành lan)…
Nhìn qua những nét phác thảo về sự phát triển của truyện ngắn thế
kỷ XX, có thể thấy vẫn tồn tại một mạch truyện ngắn theo phong cách trữ tình Mạch truyện ngắn này khởi nguồn từ giai đoạn 1930-1945, chững lại
và gần nh- không phát triển ở giai đoạn 1945-1955 (giai đoạn này truyện ngắn theo phong cách sử thi, truyện ký phát triển mạnh), bắt đầu lại ở một
số tác phẩm nghiêng nhiều về truyện ngắn-thơ hơn ở giai đoạn
1955-1975-1985, và lại phát triển mạnh ở cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI này với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Đỗ Chu, Nguyễn Bản, Nguyễn Ngọc T-, Linh Vang, Mai Ninh, … Sở dĩ chúng tôi cho rằng mạch truyện này vẫn tồn tại và có xu h-ớng phát triển mạnh vào những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI là bởi nó đáp ứng đ-ợc những tiêu chí đặc tr-ng của dòng truyện ngắn trữ tình: tính phi cốt truyện, sự bộc lộ chủ thể ở mức độ cao, cấu trúc tác phẩm lỏng lẻo, h-ớng tới thiên nhiên, … Một trong những nhà văn trẻ viết truyện ngắn theo phong cách trữ tình
đang đ-ợc d- luận đặc biệt chú ý trong những năm gần đây là Nguyễn Ngọc T- Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc T- dịu dàng, đằm thắm, không
ồn ào lên gân mà đi sâu vào phân tích tâm lý con ng-ời một cách nhẹ nhàng, sắc sảo, tinh tế Nhân vật của chị là những con ng-ời bình dị, chân
Trang 25chất trong cuộc sống, với những mối tình đẹp, buồn và d-ờng nh- không
có thật của cuộc đời này Đó là những mối tình mộc mạc, chân thành và dung dị nh- chính ng-ời dân vùng đồng bằng Nam bộ Truyện của chị trăn
trở trong những nỗi nhớ quê h-ơng: Dòng nhớ, Qua cầu nhớ ng-ời, Nhớ sông, N-ớc chảy mây trôi, … và những mối tình đẹp: Hiu hiu gió bấc, Th-ơng quá rau răm, Chiều vắng, Huệ lấy chồng, Mối tình năm cũ,…
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc T- đem đến cho ng-ời đọc một cảm giác th- thái, an bình, bị cuốn hút bởi mạch truyện và văn phong êm dịu, nhẹ nhàng nh-ng không hề nhàm chán Mỗi câu văn nh- một lời thủ thỉ, tâm tình đầy quyến rũ nh- những câu thơ đ-ợc viết bằng văn xuôi
iii Những g-ơng mặt tiêu biểu tạo nên dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945
Với sự ảnh h-ởng đặc biệt về phong cách viết của mình đối với một số nhà văn khác cùng giai đoạn, có thể nói Thạch Lam (sinh năm 1910, mất năm 1942, tên thật là Nguyễn T-ờng Vinh, sau đổi thành Nguyễn T-ờng Lân) là ng-ời khởi x-ớng một cách không chính thức, đồng thời cũng là
đại diện tiêu biểu của dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945 Truyện của Thạch Lam đem đến cho văn xuôi đ-ơng thời một cách cảm thụ tinh vi, bình dị, mới mẻ, đầy khám phá đối với thế giới nội tâm của con ng-ời Ông
đặc biệt tinh tế khi phát hiện, phân tích những biến thái nhỏ nhất của tâm hồn Thạch Lam th-ờng khai thác chất thơ trong đời sống hằng ngày Ông quan tâm, phơi bày đời sống nội tâm tinh tế, phong phú của nhân vật hơn là những biến cố, sự kiện bề ngoài hay những xung đột giàu kịch tính Truyện của ông th-ờng mang yếu tố phi cốt truyện, loại truyện không có truyện
Trang 26Hai đứa trẻ không hề có hành động phát triển xung đột, mà chỉ toát lên
một tâm trạng, một không khí Nó chỉ là câu chuyện kể lại cái cảnh hai chị
em ngồi trông một ngôi hàng tạp hoá nghèo nàn trong một buổi tối nh- bao buổi tối khác Bóng tối - bầu trời và những ngọn đèn, đó là những điểm tựa khơi dậy trong cô bé Liên một chuỗi những liên t-ởng, những kỉ niệm ở
đây, ng-ời đọc không chỉ cảm nhận đ-ợc tâm hồn đầy lãng mạn với những -ớc mơ đẹp đẽ của hai đứa bé nghèo ở một cái ga xép nhỏ mà còn cảm thấy hồn của quê h-ơng, đất n-ớc toả ra từ cái không gian thanh bình thấm
đẫm chất thơ của những buổi chiều “êm như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”, những buổi tối có “vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của những con
đom đóm bay là trên mặt đất hay len vào những cành cây”, và những “đêm mùa hạ êm ả như nhung và thoảng qua gió mát”… Sở tr-ờng của Thạch Lam trong truyện ngắn là đ-a ra một biến thái về tâm hồn, một chuyển h-ớng tâm lý Từ buồn ra vui, từ giận ra th-ơng, từ lãnh đạm ra tha thiết, từ yêu ra ghét, hay ng-ợc lại Một anh chàng ăn chơi trác táng về nhà khuya mệt mỏi chán ch-ờng, sáng dậy bỗng thấy vui vẻ nhẹ nhàng tr-ớc cảnh
ngày trời mai t-ơi mát và hình ảnh bà mẹ già trìu mến phúc hậu (Buổi sớm, Nắng trong v-ờn) Những biến đổi tình cảm nh- trên làm phần then chốt ở rất nhiều truyện của Thạch Lam nh- : Gió đầu mùa, Những ngày vui, Một cơn giận, Sợi tóc, Tình x-a, Bên kia sông,… Nhà phê bình Phong Lê nhận xét “ở thế giới nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam, tất cả đều hiu hiu, đạm
đạm, không có sự chói gắt, không có những vang động mạnh, nh-ng lại gợi bao ám ảnh về số phận con ng-ời Những truyện hay của Thạch Lam, th-ờng có nhiều bóng tối: không phải cái “tối như mực”, mà cái tối của hoàng hôn, của ánh ngày tàn” [73,92] Thời gian nghệ thuật của ông là
Trang 27hiện thực đ-ợc kéo lùi về quá khứ (D-ới bóng hoàng lan, Hai đứa trẻ)
Không gian nghệ thuật của ông th-ờng là các phố huyện, chợ huyện, phố
ga (Cô hàng xén, Tối ba m-ơi, Nhà mẹ Lê) Nhân vật của ông phần nhiều
không rõ tính cách, chỉ bộc lộ những tâm trạng, những nét tâm lý Đó là những con ng-ời nội tâm, có tâm hồn tinh tế, th-ờng tự cảm về mình, giàu xúc cảm và ít hoạt động Truyện của ông giống nh- những bài thơ trữ tình,
mà ở đó thiên nhiên đ-ợc miêu tả không chỉ qua thị giác, thính giác mà còn ở cảm giác: “… trên con đ-ờng gạch Bát Tràng rêu phủ, những vòng
ánh sáng lọt qua vòm cây xuống nhẩy múa theo chiều gió Một mùi lá t-ơi non phảng phất trong không khí…Yên tĩnh quá, không một tiếng động nhỏ
ở trong căn v-ờn, tựa nh- bao nhiêu sự ồn ào ở ngoài kia đều ngừng lại trên bực cửa… bóng tối dịu và man mát loáng qua những màu sắc rực rỡ chàng
đem ở ngoài trời vào ” (D-ới bóng hoàng lan); “ở ngoài trăng rằm vằng
vặc, t-ờng vôi sáng trắng lên chói lọi Hai dãy chậu lan cắt bóng xuống
mặt sân, và các lá lan đen sẫm lấp lánh ánh trăng cong” (Tình x-a)…, và
những trạng thái thay đổi thật tinh tế trong tâm hồn con người: “Có cái gì
dịu ngọt chăng tơ ở đâu đây, khiến chàng vương phải” (D-ới bóng hoàng lan); “đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê
thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của cô; Liên không hiểu sao, nh-ng chị
thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn” (Hai đứa trẻ);
“Tôi thấy lòng nao nao vừa bực vừa buồn, như thấy một sự gì êm đẹp đang
mất đi mà không còn can đảm giữ lại được nữa” (Tình x-a)…, với một
giọng văn rất riêng: thủ thỉ, nhẹ nhàng, đôi khi gần như thì thầm: “chúng tôi nghe ngóng cái yên lặng của buổi tr-a, hình nh- theo dòng n-ớc trôi
ánh nắng đi xa” (Nắng trong v-ờn); “Gió thơm nhẹ và thoang thoảng tới
bông hồng nhung thẫm tan vào đêm tối… cánh hồng nhung đen thẫm…
Trang 28đẫm một mùi hương nồng và ân ái” (Đêm sáng trăng)… Với những truyện
ngắn mang một phong cách độc đáo, riêng biệt, Thạch Lam quả đã có
đóng góp rất lớn cho sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam, và đặc biệt là
ông đã để lại những ảnh h-ởng rất rõ rệt cho những nhà văn khác nh- Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn, Ngọc Giao, Thanh Châu…
Rất gần gũi và bị ảnh h-ởng về phong cách viết từ Thạch Lam là nhà văn mang trong mình hai dòng máu Việt - Hoa, nhà văn Hồ Dzếnh Hồ Dzếnh tên thật là Hà Triệu Anh, sinh năm 1916, mất năm 1991 Truyện ngắn của Hồ Dzếnh là nỗi đau và niềm cảm th-ơng, cả hai đều vô hạn, ẩn chứa, tiềm tàng nh- hai con suối đ-ợc khơi lên với một tiết tấu khi dạt dào, lúc thấm thía, ngân nga và không lúc nào ngừng nghỉ Hai con suối ấy đều
là hoài niệm, từ cái nhìn ng-ợc lại phía sau, phía quá vãng của chủ thể sáng tạo - mà ở đây cũng là chủ thể trữ tình, vì vậy bao giờ cũng bâng khuâng
man mác Tuy viết không nhiều nh-ng với tập truyện ngắn Chân trời cũ,
Hồ Dzếnh đã để lại nhiều d- vị đặc biệt trong lòng độc giả bởi tấm lòng nhân hậu, giàu th-ơng cảm, ở sự gắn bó với quê h-ơng, và ở ngòi bút trữ tình thấm đ-ợm, chan chứa chất thơ Mỗi truyện ngắn ở đây là một cảnh
đời, của ng-ời thân trong gia đình hoặc ng-ời trong làng xóm của tác giả lúc tuổi thơ, cũng là một mảnh tâm hồn của nhà văn cất giữ trong đó Tác phẩm có chất thơ của hoài niệm buồn th-ơng, cũng là chất thơ toát lên từ
những cuộc đời vất vả đau th-ơng của con ng-ời Việt Nam, quê ngoại mà
tác giả gắn bó bằng cả máu thịt và tâm hồn mình ở Hồ Dzếnh, tình cảm gắn bó tha thiết đối với đất nước Việt Nam, “dải đất súc tích những tinh
hoa của văn chương, những công trạng lịch sử” (Chị Yên), hoà với lòng yêu
thương, quý trọng vô hạn đối với người mẹ, người chị nuôi, “những đàn bà Việt Nam đã làm nên đất n-ớc này, ng-ời đàn bà chỉ biết có chịu khó vì
Trang 29chồng con, không bao giờ một lời phàn nàn hay oán hận, mà cái -ớc mong
sung sướng nhất là cứ được hi sinh mãi”(Thạch Lam - Tựa Chân trời cũ)
Văn Hồ Dzếnh th-ờng đ-ợm buồn, song không phải thứ buồn thi vị ngọt ngào mà là nỗi buồn của chính những “số phận bắt buộc phải buồn rầu”,
“người nào cũng mang một tâm hồn đau khổ” Kể về cuộc đời đau khổ của những ng-ời thân yêu đó, Hồ Dzếnh th-ờng day dứt, xót xa Văn Hồ Dzếnh giàu cảm xúc, ý vị, tuy mực th-ớc, trau chuốt, mà đầy lắng đọng
Đó là chất giọng tâm tình cứ nhẩn nha mà khắc hoạ, mà l-u giữ trong tâm trí ng-ời đọc bao cung bậc thiết tha, buồn vui, yêu ghét,… Văn ông âm vang một nhạc luật, một tiết tấu khi tha thiết, khi hùng hồn, cuốn ng-ời
đọc cùng đi bằng một thứ ma lực vô hình khó lòng cưỡng nổi: “ Chỉ sau m-ơi phút, không còn một miếng cơm, một khúc cá nào sót lại trên mảnh lá chuối héo Tất cả l-ơng thực ngọt ngào trôi qua cổ họng, đảo lộn trong cái dạ dày vô bệnh, để biến thành những dòng máu hùng c-ờng luân l-u
nuôi mạch sống, và nuôi lớn mãi cái chí nguyện giang hồ” (Ngày gặp gỡ)
Thiên nhiên trong truyện ngắn Hồ Dzếnh thật đa dạng trong sự liên t-ởng
đầy chất thơ: “Nắng tắt dần dần chỉ còn ánh vàng pha sắc tím Hoàng hôn
ở đây không nh- hoàng hôn của Giang Tây, Hồ Bắc, hoàng hôn ở đây -u
hoài như một chinh phụ nhớ chồng” (Ngày gặp gỡ); “Bầu trời sáng và
rộng, luôn luôn thấy những buổi hiền hoà, cây xanh gió mát nhịp nhàng
với nhau như trong một bài thơ cổ” (Trong bóng rừng) Hồ Dzếnh có một
khả năng diễn tả tâm trạng mơ hồ rất tốt, nhiều đoạn viết của ông đầy sự lung linh, huyền bí, xa xôi, lơ lửng: “Fin đắm chìm trong công việc, trong lòng trẻ nhỏ thốt nổi dậy một thứ rung động thầm kín, cái cảm giác đẹp đẽ
mà tôi không tìm thấy đ-ợc nữa trên đ-ờng đời… Nhiều lúc Fin nghiêng
đầu, lắng tai vào không khí, tựa hồ nh- nghe ngóng một tiếng gì huyền bí,
Trang 30trong cái dáng điệu lơ đãng rất đáng yêu” (Trong bóng rừng) Đây là đoạn
tả cảm giác của tác giả tr-ớc cái đẹp của Fin, một bông hoa rừng thật đẹp nh-ng xa lạ, một thứ h-ơng thơm mà kẻ nhìn ngắm nó không thể cầm nắm
đ-ợc trong tay Văn xuôi của Hồ Dzếnh đã thật sự mở rộng khả năng của truyện ngắn trữ tình Phá bỏ cái khung chật hẹp của thể loại, đ-a vào đó cái kích th-ớc tối -u của sự tự biểu hiện, ông đã tạo nên sự giao thoa, nối tiếp giữa truyện và thơ, không cần cốt truyện hấp dẫn, không cần nhân vật có tính cách độc đáo Truyện ngắn Hồ Dzếnh th-ờng ôm trùm dung l-ợng của cả một đời ng-ời, một kiếp ng-ời Ông không kể và tả tỉ mỉ các biến cố bất hạnh đẩy nhân vật đến tình trạng trôi dạt, bi đát mà th-ờng dùng bút pháp
tự sự khái quát Cái quan trọng chính là thái độ riêng t-, niềm th-ơng cảm xót xa của ông tr-ớc những cảnh ngộ, biến cố ấy Vì vậy dấu ấn của tình cảm, cảm xúc và trạng thái tinh thần của ng-ời trần thuật th-ờng lấn l-ớt hơn, đ-ợc tô đậm hơn so với biến cố và sự kiện bên ngoài Cốt truyện trong
Chị Yên đ-ợc kiến tạo bởi sự liên kết các trạng thái tâm lý gồm sự ân hận
vì hành vi bất công, thô bạo đối với Yên trong quá khứ; nỗi căm phẫn nghẹn ngào tr-ớc ng-ời cậu khốn nạn đã làm tan nát cả đời chị; lòng đau xót cho cái chết bi thảm của chị và của chồng con chị So với Thạch Lam,
Hồ Dzếnh bộc lộ mình qua những dòng độc thoại rộng rãi, chủ quan và thống thiết hơn Do vậy, truyện ngắn của ông giống nh- tuỳ bút-thơ hơn
Là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới, Xuân Diệu 1985) cũng đồng thời là một cây bút viết truyện ngắn đặc sắc Hai tập
(1916-Phấn thông vàng và Tr-ờng ca đã góp cho văn đàn Việt Nam những truyện
ngắn mang h-ơng sắc riêng, những truyện không có truyện mà chan chứa
chất thơ Nhà thơ tù nhân của chữ Tình (Chu Sơn), có trái tim cháy bỏng,
luôn thèm khát sự sống tới cuồng nhiệt đó tỏ ra rất ghê sợ lối sống nhàm
Trang 31tẻ, tù đọng trong “cái Ao Đời bằng phẳng” giết chết con người trong lúc
sống Toả nhị kiều là hình ảnh giàu sức gợi về những cuộc đời nhạt nhẽo,
vô vị ở đây, ng-ời viết tách ra khỏi nhân vật, xem nhân vật là đối t-ợng quan sát, còn tâm tình, cảm nghĩ của ng-ời viết là khúc xạ, là kết quả những âm vang toát ra từ hai cuộc đời lỡ nhịp, tẻ nhạt “không ánh nắng, chẳng hương người” của hai cô gái Hà Thành: “ngồi trong một buổi chiều rất đỗi ngẩn ngơ, một buổi chiều triền miên của sự vật và của linh hồn, một buổi chiều trong nhà và trong tâm lý Tôi nh- cảm nghe sự mờ nhạt của cuộc đời, khi trông thấy hai cô” Suốt đời, Xuân Diệu căm ghét sự sống mòn “không tối đen mà xam xám nhờ nhờ” đó, nó giết chết con người ngay trong lúc sống, mà những tâm hồn khát sống phải vùng vẫy tung ra
Có những lúc, nhà thơ của xuân và tình đó chan chứa niềm th-ơng cảm đối với những cuộc đời nghèo khổ bị hắt hủi Hình ảnh bà lão nghèo lủi thủi, nh- cái bóng chìm mất trong bóng tối trên con đ-ờng chiều đã gieo vào lòng Xuân Diệu nỗi “thắc mắc, lẫn kinh dị trong vô hạn xót thương”: “Bà già hay là hiện hình của sự đau khổ?… Bà lão về đâu? Một ổ rơm nếp bên
đường, hay một cái chòi lạc giữa bụi cây?” (Th-ơng vay) Ngay từ tuổi thơ,
Xuân Diệu đã sớm có dịp thấm thía những cảnh đời ngang trái, bất công
Cái hoả lò, Đứa ăn mày, … là những cảnh đời th-ờng tủi nhục nh- thế:
“Một cậu nhỏ mười sáu tuổi, một thằng bé mười hai tuổi, hai đứa đâu phải
là ng-ời lớn để sửa lại một cảnh đời! Chỉ có n-ớc mắt, và những cơn quặn lòng, ruột gan xoáy lại” Đó cũng chính là những kỉ niệm xót xa trong tuổi thơ của tác giả vốn giàu lòng th-ơng cảm đối với những cuộc đời đau khổ,
bị ruồng rẫy, hắt hủi Xuân Diệu viết văn nh- làm thơ Cốt truyện chỉ nh- cái cớ khơi gợi và mở ra những h-ớng liên hệ, suy t-ởng Truyện ngắn của
ông luôn có một dòng cảm nghĩ trôi chảy nh- con suối nhỏ róc rách đem
Trang 32đến sự trong trẻo t-ơi mát cho tác phẩm Điều ông quan tâm là sự tự bộc lộ
và giãi bầy tâm trạng Những trạng thái tâm hồn thay thế cho các sự kiện, biến cố ly kỳ của truyện tự sự thông th-ờng Điều này đã làm biến đổi chủ thể sáng tạo để biến ng-ời viết văn xuôi trở thành một thi sỹ trong khả năng cảm nhận và tự biểu hiện mình Những liên t-ởng, so sánh tạt ngang với những liên t-ởng bất ngờ, đa chiều ở những đoạn trữ tình ngoại đề luôn
đ-ợc mở rộng trong truyện ngắn Xuân Diệu tạo nên sức hấp dẫn kỳ lạ: “tôi th-ơng hai cô nh- hai con vật ngẩn ngơ trong rừng lạnh khi chiều giăng l-ới qua muôn gốc cây”, “nhiều lần theo một liên tưởng nhanh chóng, tôi nghĩ đến những cụ già còn đôi chút sức lực ngày ngày quanh quất giữa bàn ghế trong nhà”, “tôi lại nhớ những khi xế trưa, khi nắng ngã vào bếp nhà tôi Nắng vàng phai lặng, chán ngán làm sao! Lúc ấy mọi ng-ời đều cảm
thấy mơ hồ nỗi nhạt nhẽo của ngày này tiếp ngày nọ” (Toả nhị kiều) Truyện ngắn Thu của ông có lẽ gần với đoản văn hoặc tuỳ bút hơn Đó là
một giọng văn đầy lãng mạn, đầy thơ với những cảm nhận bay bổng, chơi vơi, mơ màng Ông viết những cảm nhận của mình về mùa, về yêu: “Thu không phải là mùa sầu ấy chính là mùa yêu, mùa yêu nhau bằng linh hồn, mùa những linh hồn yêu mến nhau […] Xuân, ng-ời ta vì ấm mà cần tình Thu, ng-ời ta vì lạnh sắp đến mà cũng rất cần đôi Cho nên không gian đầy những lời nhớ nhung, những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau, và lòng tôi nghe tất cả du dương của thứ vô tuyến điện ấy”
Truyện ngắn Phấn thông vàng là truyện của một chàng hoạ sỹ Hoạ sỹ là
ng-ời có tâm hồn lãng mạn, nhạy cảm Đã vậy, trên b-ớc đ-ờng lang thang của mình, chàng hoạ sỹ lại bất chợt gặp đ-ợc một cảnh rừng thông với sắc vàng “không rực rỡ nhưng nguy nga” đẹp đến mê hồn Chàng hoạ sỹ là ng-ời đã từng yêu, mà yêu không phải ít, tới ba lần, nh-ng rồi kết cục lần
Trang 33nào cũng gặp đau khổ Là hoạ sỹ, mà trong hồn chàng lại trú ngụ sẵn một hồn thơ nữa Vì thế, cái tâm hồn nhạy cảm, yếu đuối ấy đã sầu đau biết bao khi gặp thất bại trên tình tr-ờng Và buổi chiều hôm ấy, may mắn thay, chàng đã gặp được một “rừng thông đang yêu” Chàng đã mở lòng mình để nhận lấy “bài học ngụ trong bài thơ của phấn thông vàng” Bởi “tình yêu có bao giờ mất” Xuân Diệu đã tả rất đẹp cảnh này: “Không gian đã thành một
điệu vàng mênh mông: nắng vàng nhuộm vàng những cây, và phấn thông vàng lẫn vàng trong nắng” Bút pháp trữ tình lãng mạn của ông có lẽ đã quá thành công trong truyện ngắn này
Thanh Châu, Ngọc Giao là những cây bút mà tên tuổi gắn liền với tờ
Tiểu thuyết thứ bảy trong suốt thời gian dài Thanh Châu tên thật là Ngô
Hoan, sinh năm 1912, quê tại huyện Diễn Châu, Nghệ An Ngòi bút Thanh Châu tr-ớc năm 1945 nhẹ nhõm, trong trẻo, trong những chuyện tình thoáng qua, chỉ còn lại nh- một kỷ niệm đẹp không phai mờ Chất lãng mạn ở Thanh Châu không phải là thứ lãng mạn phóng đãng “vui vẻ, trẻ trung”, mà th-ờng là những rung cảm nghệ sỹ tr-ớc cái đẹp, cái thiện, ít nhiều mang màu sắc lý t-ởng Nhân vật trong truyện ngắn Thanh Châu th-ờng xuất hiện nhiều giới công chức sang trọng, nghệ sỹ, dân trung l-u thị xã, thị trấn, dân nghèo c- ngụ ven thành phố Cốt truyện của Thanh Châu đơn giản, tình huống nhẹ nhàng, tình tứ mơ màng buồn th-ơng nh-
Hoa ti gôn, Tà áo lụa, … Truyện của ông th-ờng chứa đựng những yếu tố
tinh thần: tâm trạng xót xa tr-ớc kiếp ng-ời bất hạnh; thái độ tán thành đức
hy sinh, lòng chung thuỷ; sự trân trọng đối với những tình cảm trong sáng:
“Cả đêm, Bình mơ thấy một tà áo mỏng như sương bay trong ánh trăng
thanh” (Tà áo lụa) Truyện của Thanh Châu có khả năng giúp con ng-ời
h-ớng thiện, có khi làm thức dậy trong con ng-ời những cảm nhận nhẹ nhàng nhưng nhuốm ý vị triết lí hướng thượng: “Vô ích cả, vô ích cả Lại
Trang 34bên bờ ta đây mà nghe ngóng một vài điều huyền bí về cõi đời này và cõi
bên kia Nh- thế còn hơn…” (ở Tây Hồ, một chiều sang xuân) Thanh
Châu chuyên đi vào những trạng thái tâm hồn nhân vật, ông đi tìm và thể hiện những vẻ đẹp tâm hồn, lắng nghe, r-ợt đuổi, cố nắm bắt và thể hiện cho bằng đ-ợc những cung bậc tinh tế của tâm hồn Các sự việc, tình tiết thuộc đời sống sinh hoạt hằng ngày của nhân vật chỉ còn là nguyên cớ để bộc lộ thế giới nội tâm Lời văn của Thanh Châu rất đẹp, thanh lịch và sang trọng: “Trong thư, một dây hoa ti gôn nhỏ ép rơi ra Những nụ hoa chúm chím hình như quả tim vỡ làm mấy mảnh, đỏ hồng như nhuộm máu đào”
(Hoa ti gôn), “Ban đêm, đó mới là lúc các loài thảo mộc đua nhau sống
Một trận gió nhẹ thổi qua làm run rẩy và rời rụng những cánh hoa trên đám lá đen Tôi chợt hiểu tại sao đến cây cỏ cũng sống vội vàng, mãnh liệt”
(V-ờn chanh)
Ngọc Giao (1911-1997), cũng nh- Thanh Châu, đ-ợc coi là nhà văn
“chuyên về tình cảm” (lời Phùng Tất Đắc), thường đi vào những cảnh ngộ ngang trái, đ-ợm buồn Tr-ớc 1945, truyện ngắn của Ngọc Giao th-ờng nghiêng về đề tài đời sống tình cảm, đó là thứ tình cảm bi th-ơng sầu uất Ngọc Giao đã tái hiện trong tác phẩm những cảnh đời ngang trái: thân
phận thảm thương đặc biệt của những người làm nghề “xướng ca” (Yên hoa, Đời t- Lã Bố), những ông già bà già bất hạnh vì con cái bất hiếu (Đời
nó thế, Thời gian),… Giữa những vùng nhân thế tối tăm, Ngọc Giao nhận thấy không ít con ng-ời vẫn giữ đ-ợc trái tim trong sáng, lòng nhân ái, đức
hy sinh… Một số truyện ngắn của ông còn bày tỏ dấu ấn tình cảm gắn bó với quê hương đất nước, gắn bó với nơi “chôn nhau cắt rốn”, với phong tục tập quán cổ truyền, danh lam thắng cảnh, tinh thần th-ợng võ và nghĩa hiệp
(Bến đò Rừng, Cô gái làng Sơn Hạ,…)
Trang 35Đỗ Tốn sinh năm 1920, mất khoảng năm 1972-1973 Truyện ngắn của
ông th-ờng là những truyện không có truyện, trong đó tác giả sử dụng bút pháp gợi nhiều hơn tả, viết bằng cảm giác nhiều hơn bằng ý nghĩ Tâm hồn nhạy cảm đã giúp nhà văn cảm nhận thật tinh tế những màu sắc, mùi vị của
đồng quê cùng những biến đổi mơ hồ, khó nắm bắt trong thế giới nội tâm
của con ng-ời Tình quê h-ơng, Duyên số, Hoa vông vang kể về những tình
yêu trong sáng, ngập ngừng cùng những rung động mong manh đầu tiên trong đời của con ng-ời, một thứ tình yêu vừa dại khờ, vừa ngây ngất mà
bất cứ ai cũng từng có Tâm lý nhân vật trong Định mệnh đ-ợc khắc hoạ
khá tỉ mỉ và sâu sắc: biết là trái đạo lý nh-ng Phong không thể trốn chạy tình yêu, chàng yêu chính em họ của mình, và Lan – em họ chàng – thoạt đầu chỉ nhận lời yêu anh vì th-ơng hại, nh-ng rồi cũng bị cuốn theo cơn lốc ái tình đó, đến khi nhận ra mối nguy hiểm đang chờ đợi ở phía tr-ớc, Lan đã chủ động rời xa Phong và đẩy chàng đến kết cục bi thảm Với cái già dặn của một ng-ời đã sống nhiều, trải nhiều, ông đã viết về
những cảnh đời, kiếp ng-ời mòn mỏi, tàn lụi đi theo thời gian (Chú tôi, Một kiếp ng-ời) Ông gửi gắm những chiêm nghiệm độc đáo về cuộc đời,
tình yêu qua những chi tiết ngỡ như không có gì, như hình ảnh “cây na bên
vại nước trước căn bếp mà khói đang nặng nề chui ra mái rạ” (Một kiếp sống), hay hình ảnh loài hoa vông vang “đương kín đáo cúp lại trong gió chiều êm đềm… để sớm mai trở lại” (Hoa vông vang)
Một nhà văn tiêu biểu không thể không nhắc đến của dòng truyện ngắn trữ tình này là Thanh Tịnh - đồng thời cũng là đối t-ợng nghiên cứu chính của luận văn - do đó chúng tôi sẽ không đề cập ở phần này nữa
Trang 36iv Dòng truyện ngắn trữ tình với các dòng truyện ngắn khác thuộc giai đoạn 1930-1945
Văn học Việt Nam 1930-1945 bị chi phối bởi hệ t- t-ởng thống trị, tức là hệ t- t-ởng t- sản (bao gồm cả t- t-ởng thực dân) và hệ t- t-ởng phong kiến Mặt khác, nó cũng chịu ảnh h-ởng bởi những phong trào cách mạng do Đảng cộng sản lãnh đạo Tác động của văn học n-ớc ngoài đến các khuynh h-ớng văn học thời kỳ này cũng rất đa dạng và phức tạp Thế giới quan của các nhà văn tiểu t- sản trí thức lại đầy mâu thuẫn và quá trình sáng tác của họ không phải lúc nào cũng thuần nhất Chính những
điều kiện nói trên đã làm xuất hiện trên văn đàn nhiều khuynh h-ớng, nhiều phong cách đa dạng, phức tạp và luôn luôn dao động, chuyển hoá ở lĩnh vực truyện ngắn, ng-ời ta th-ờng chia ra các khuynh h-ớng nổi bật là: hiện thực phê phán, lãng mạn, trữ tình Các nhà văn lãng mạn Khái H-ng, Nhất Linh, Thế Lữ, Lan Khai,… từng làm say mê độc giả đ-ơng thời, nhất
là thanh niên ở thành thị và thanh niên có học ở nông thôn vì sự lên án, đả phá đại gia đình phong kiến, kêu gọi h-ởng ứng cuộc đấu tranh mới - cũ,
đòi giải phóng cái “tôi”, đòi một cuộc sống hiện đại mà trong đó cá nhân mỗi con ng-ời đ-ợc tự khẳng định mạnh mẽ tr-ớc xã hội Cùng một h-ớng khai thác và sáng tạo dựa vào sự kết hợp giữa sự việc của đời sống khách quan và những cảm xúc chủ quan, mạch truyện của các nhà văn Thạch Lam, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh,… đã đi vào khám phá đời sống tinh thần, nói lên vẻ đẹp nội cảm của tâm hồn con ng-ời tr-ớc cuộc sống với một ngôn ngữ nhiều chất thơ, trữ tình Với các tác giả nh- Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, … thì truyện ngắn lại
đ-ợc sáng tác theo phong cách những nhà văn hiện thực
Trang 37Nguyễn Công Hoan là ng-ời đầu tiên khẳng định ph-ơng pháp hiện thực phê phán trên lĩnh vực truyện ngắn Ông rất nhạy cảm với tình trạng bất công sừng sững trong xã hội có áp bức bóc lột, tình trạng đổ nát đạo
đức, phá hoại những giá trị tinh thần truyền thống Ông có xu hướng “lật mặt trái” để phơi trần cái tàn ác, đê tiện, xấu xa của “bọn giàu”, từ địa chủ c-ờng hào ở thôn quê đến những ông chủ, bà chủ, những tiểu th- gái mới
đua đòi, h- hỏng ở thành thị Đằng sau tiếng c-ời giòn giã, sảng khoái của nhà văn th-ờng chất chứa niềm phẫn uất, thái độ căm ghét, ý thức vạch mặt
sự hoành hành của cái ác, cái xấu, cái đểu, cùng nỗi đau xót tr-ớc số phận khốn khổ của ng-ời dân lành trong cái trật tự không có chút công lý nào
đó Nguyên Hồng b-ớc vào nghề văn từ rất trẻ, và ông đã tự vạch ra con
đ-ờng riêng cho mình: trở thành nhà văn của những ng-ời lao động cùng khổ Mỗi truyện của Nguyên Hồng là một cảnh đau th-ơng, lắm khi thật
rùng rợn, của những phu phen bến tàu bến xe, những ng-ời đàn bà buôn thúng bán b-ng, những kẻ ăn mày, gái điếm, l-u manh,… Nguyên Hồng chẳng những thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ không cùng của ng-ời nghèo mà
ông còn có một niềm tin mãnh liệt vào bản chất tốt đẹp của họ Trong văn học hợp pháp đ-ơng thời, hiếm có nhà văn có đ-ợc cái nhìn tri âm, thái độ trân trọng thật sự đối với ng-ời nghèo đến thế Điều này thể hiện đậm nét nhất ở hình t-ợng ng-ời phụ nữ lao động, nhân vật chính của hầu hết
truyện ngắn Nguyên Hồng (Hàng cơm đêm, Ng-ời con gái, Cô gái quê,
Đây bóng tối, Ng-ời mẹ không con, Bố con lão Đen,…) Nguyên Hồng đã
đem đến dòng truyện ngắn hiện thực phê phán một phong cách mới mà nét nổi bật là giọng trữ tình thiết tha, sôi nổi tràn đầy tin yêu Đ-ơng thời, không mấy ai biết đến cây bút đầy tài năng Nam Cao, nh-ng từ sau khi ông mất, tác phẩm của ông càng ngày càng có sức hấp dẫn đặc biệt với công
Trang 38chúng Sức hấp dẫn đó tr-ớc hết là ở tính chân thực, chân thực đến kinh ngạc D-ờng nh- những gì ông viết toàn là điều có thật Nam Cao vận dụng rất hiệu quả nghệ thuật phân tích tâm lý trong truyện ngắn Trong khuôn khổ của những cấu trúc tự sự nhỏ, ông đã để cho những mạch tâm lý vận
động để bộc lộ tính cách Do sống sâu sắc cuộc sống, do t- duy phân tích sắc sảo lạ th-ờng, luôn trăn trở tìm tòi, khám phá cái sự thật sâu xa chứa
đựng trong cái bề ngoài tầm th-ờng, nên từ những chuyện t-ởng nh- rất
đời th-ờng, vặt vãnh, Nam Cao đã đặt ra đ-ợc những vấn đề xã hội, triết học có ý nghĩa rộng lớn, sâu sắc, đầy tính nhân đạo, nhân văn Tô Hoài lại thành công qua những khám phá về phong tục tập quán ở làng quê vùng ven thành Không đi thẳng vào những xung đột xã hội căng thẳng mà theo thời gian tìm hiểu cuộc đời qua những trầm tích về văn hoá trong hội hè, nếp sống lâu đời của làng quê Những truyện ngắn của Tô Hoài mang một phong vị riêng vừa vui t-ơi dí dỏm, vừa thầm lắng xót xa Theo xu h-ớng khám phá những phong tục tập quán này còn có các nhà văn Vũ Bằng, Thanh Châu, Bùi Hiển, Kim Lân,… Truyện ngắn của Vũ Bằng, Thanh Châu mang phong vị Hà Nội Bùi Hiển miêu tả đ-ợc chất riêng của ng-ời dân xứ Nghệ Nhà văn Nguyễn Tuân lại tìm cảm hứng cho truyện ngắn từ đề tài lịch sử với tinh thần suy tôn những giá trị văn hoá tinh thần đậm màu sắc dân tộc Những truyện đ-ờng rừng của Lan Khai là những truyện tình lãng mạn, trong không gian rừng núi “man rợ bí mật”, với một màu sắc lịch sử huyền ảo
Trong quá trình phát triển của văn học, trong thực tiễn sáng tác văn học, văn học lãng mạn, trữ tình và văn học hiện thực phê phán tuy có những chỗ khác nhau về chất, có khi chống đối nhau gay gắt, song vẫn có
Trang 39những cơ sở thống nhất chung, nên th-ờng có mối quan hệ qua lại, chịu
ảnh h-ởng của nhau, thâm nhập lẫn nhau tới mức khó phân biệt ranh giới giữa chúng Các nhà văn Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Thạch Lam, … đều đã
có những tác phẩm v-ợt ra khỏi ranh giới của dòng lãng mạn để nhập vào văn học hiện thực phê phán, h-ớng ngòi bút về phía đời sống hoặc lên tiếng phê phán hiện thực trên một lập tr-ờng nhân đạo tiến bộ Khi văn học càng phát triển, tr-ởng thành thì càng nảy nở những phong cách sáng tác khác nhau và không phải phong cách nào cũng nổi rõ nhất nét điển hình của ph-ơng pháp sáng tác, khiến cho việc phân ranh giới giữa các dòng văn học càng khó khăn Vì vậy, việc sắp xếp các nhà văn vào dòng này, dòng kia th-ờng chỉ có một ý nghĩa t-ơng đối và ít nhiều có tính chất quy -ớc Nhà văn phong tục Trần Tiêu với bút pháp “tả chân” khách quan không mấy “lãng mạn”, chuyên viết về sinh hoạt nông thôn, cũng đã có những sáng tác miêu tả khá chân thực, cảm động về đời sống tình cảm của ng-ời nông dân đ-ơng thời Thạch Lam, đại diện tiêu biểu của dòng truyện ngắn trữ tình có cả một loạt sáng tác viết về số phận hẩm hiu của ng-ời nghèo,
ng-ời phụ nữ, có thể coi là hiện thực chủ nghĩa Ng-ời con gái của Nguyên
Hồng là một truyện ngắn hiện thực nh-ng đ-ợc viết với một bút pháp trữ tình thơ mộng
Trong sự thành công rực rỡ của truyện ngắn 1930-1945, dòng truyện ngắn trữ tình tuy số l-ợng tác phẩm không đồ sộ, số l-ợng tác giả không
đông đảo, nh-ng bản thân sự tồn tại phong cách của mỗi tác giả nh- một tất yếu đã có giá trị khẳng định rõ ràng Và nó có cùng một điểm chung với toàn bộ mảng sáng tác truyện ngắn rất bề bộn, gồm nhiều xu h-ớng, phong
Trang 40cách khác nhau trên văn đàn là: ít nhiều làm hiện lên hình ảnh quê h-ơng
đất n-ớc Việt Nam với cảnh sắc, h-ơng vị riêng, bình dị và thân thuộc vô cùng, hình ảnh và con ng-ời Việt Nam trong một thời kỳ nhiều gian nan thử thách mà vẫn mang vẻ đẹp tinh thần độc đáo, nhuần nhuỵ yêu th-ơng
và bền bỉ, gan góc, đầy sức sống
v Con đ-ờng sáng tác của nhà văn Thanh Tịnh
Thanh Tịnh sinh năm 1911, mất năm 1988 Ông tên thật là Trần Văn Ninh, đến năm lên sáu tuổi mới đổi là Trần Thanh Tịnh Ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho tại xóm Gia Lạc, ven sông H-ơng, ngoại ô Huế Thanh Tịnh đ-ợc học chữ Nho đến năm 11 tuổi, rồi tiếp tục học tiểu học, trung học ở Huế Ngay từ khi đi học ông đã ham thích văn ch-ơng Hai nhà văn Pháp Daudet và Maupassant có ảnh h-ởng không nhỏ đến văn phong của ông sau này Nguồn văn nghệ dân gian phong phú của Huế, những giọng hò câu hát trên sông n-ớc quê h-ơng là chất liệu cho các tác phẩm của ông Năm 1933, ông đi làm ở các sở t- rồi sau đó làm nghề dạy học
Thời gian này ông bắt đầu viết văn làm thơ và cộng tác với các báo Phong Hoá, Ngày nay, Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ Năm, Thanh Nghị,… sáng tác
đầu tay Cha làm trâu, con làm ngựa đăng ở Thần kinh tạp chí năm 1934
Ông không thành công trong lĩnh vực truyện dài (Xuân và Sinh, 1944) nh-ng đ-ợc bạn đọc yêu mến qua thơ và truyện ngắn Tập thơ Hận chiến tr-ờng (1937) và nhiều bài khác đăng trên các báo ở Huế và Hà Nội mang
phong cách lãng mạn đậm nét Thơ ông th-ờng m-ợt mà, tinh tế, hàm súc