ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VŨ THỊ HIỀN VAI TRÒ CỦA VỐN XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ TỈNH ĐẮK LẮK Nghiên cứu trường hợp tại phư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ HIỀN
VAI TRÒ CỦA VỐN XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ TỈNH ĐẮK LẮK
(Nghiên cứu trường hợp tại phường Tự An
và phường Thắng Lợi)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ HIỀN
VAI TRÒ CỦA VỐN XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ TỈNH ĐẮK LẮK
(Nghiên cứu trường hợp tại phường Tự An
và phường Thắng Lợi)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa
Hà Nội, 2015
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG Error! Bookmark not defined
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Error! Bookmark not defined
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
3 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tàiError! Bookmark not
defined
4 Mục đích – nhiệm vụ nghiên cứu của đề tàiError! Bookmark not
defined
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứuError! Bookmark not
defined
6 Câu hỏi nghiên cứu Error! Bookmark not defined
7 Giả thuyết nghiên cứu Error! Bookmark not defined
8 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined
9 Những điểm hạn chế của luận văn Error! Bookmark not defined
PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀIError! Bookmark not defined 1.1 Cơ sở lý luận chung Error! Bookmark not defined
1.2 Khái niệm công cụ Error! Bookmark not defined
1.2.1 Khái niệm “vai trò” Error! Bookmark not defined
1.2.2 Khái niệm “vốn xã hội” Error! Bookmark not defined
1.2.3 Khái niệm “nguồn nhân lực” Error! Bookmark not defined
1.2.4 Khái niệm “phát triển nguồn nhân lực”Error! Bookmark not
defined
1.2.5 Khái niệm “nguồn nhân lực trẻ” Error! Bookmark not defined
1.3 Các lý thuyết áp dụng Error! Bookmark not defined
Lý thuyết về vốn xã hội Error! Bookmark not defined
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu Error! Bookmark not defined
1.4.1 Phường Tự An Error! Bookmark not defined
1.4.2 Phường Thắng Lợi Error! Bookmark not defined
1.5 Đặc điểm khách thể nghiên cứu Error! Bookmark not defined
Trang 4CHƯƠNG 2: TẠO DỰNG, DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG VỐN XÃ HỘI CỦA
NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ Error! Bookmark not defined
2.2 Tạo dựng, duy trì và mở rộng vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ
Error! Bookmark not defined 2.2.1 Tạo dựng vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻError! Bookmark not
defined
2.2.2 Duy trì, củng cố vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ Error!
Bookmark not defined
2.2.3 Phát triển vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻError! Bookmark not
defined
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ Error! Bookmark not defined
3.1 Vốn xã hội trong quá trình tìm kiếm việc làm, cơ hội thăng tiến, nâng
cao năng lực làm việc Error! Bookmark not defined 3.1.1 Vốn xã hội trong quá trình tìm kiếm việc làmError! Bookmark not defined
3.1.2 Vốn xã hội đối với cơ hội thăng tiến nghề nghiệp Error!
Bookmark not defined
3.1.3 Vốn xã hội trong việc bồi dưỡng, đào tạo nâng cao năng lực, trình
độ Error! Bookmark not defined 3.2 Vốn xã hội trong môi trường làm việcError! Bookmark not defined
3.2.1 Vốn xã hội trong công việc Error! Bookmark not defined
3.2.2 Mối quan hệ của nguồn nhân lực trẻ với đồng nghiệp cơ quan
Error! Bookmark not defined
3.3 Những rào cản của vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ
Error! Bookmark not defined 3.3.1 Gây khó khăn, trở ngại trong công việcError! Bookmark not
defined
3.3.2 Hạn chế sự sáng tạo Error! Bookmark not defined 3.3.3 Hiện tượng chảy máu chất xám Error! Bookmark not defined PHẦN 3: KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
1 Kết luận Error! Bookmark not defined
2 Khuyến nghị Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 5BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU Error! Bookmark not defined
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong các nguồn lực của sản xuất xã hội, lao động, vốn, tài nguyên, khoa học - công nghệ thì nguồn nhân lực (hay còn gọi là nguồn lực con người - Human Resources) giữ vai trò quan trọng nhất, là yếu tố quyết định sự thành công về kinh tế - xã hội của mỗi một quốc gia Lênin từng nói rằng: Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là người công nhân, là người lao động Đảng ta luôn luôn xác định, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, đầu tư cho nguồn lực con người là đầu tư cho sự phát triển nhanh và bền vững Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, lợi thế cạnh tranh và vị thế của các quốc gia tùy thuộc rất lớn vào nguồn nhân lực được đào tạo một cách hệ thống, có khả năng thích nghi với thị trường lao động đầy biến đổi như hiện nay Có thể nói, nguồn nhân lực luôn là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển đất nước, đặc biệt là nguồn nhân lực trẻ Đây là đội ngũ tiềm năng, là thế hệ tương lai gánh vác sứ mệnh của đất
nước Không phải ngẫu nhiên mà Các Mác nhấn mạnh rằng “Con người là
yếu tố số một của lao động sản xuất” và trong truyền thống nước ta cũng luôn
xác định rằng: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” Một quốc gia muốn
phát triển luôn cần dựa vào yếu tố con người và chỉ có con người mới có khả năng vạch hướng phát triển trong tương lai của đất nước Không gì bằng yếu
Trang 6tố con người, không gì có thể sánh được với tri thức, sự sáng tạo của con người
Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm vùng Tây Nguyên, có chiến lược rất quan trọng về chính trị, kinh tế, và quốc phòng – an ninh Đây là một tỉnh có tiềm năng lớn về kinh tế, tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng, phong phú, đặc biệt có diện tích đất và rừng khá lớn, có lợi thế trong sản xuất nông, lâm nghiệp Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục của tỉnh khá phát triển Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp có bước phát triển, các ngành dịch vụ có những chuyển biến tích cực, góp phần thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng xã hội Kết cấu hạ tầng phát triển khá nhanh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Các vấn đề xã hội,
y tế, giáo dục từng bước có những thay đổi lớn, tích cực
Bên cạnh đó, tỉnh Đắk Lắk cũng có đội ngũ nguồn nhân lực trẻ rất dồi dào, làm việc ở các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau Đội ngũ nhân lực trẻ này đang từng bước khẳng định vị trí của mình trên con đường sự nghiệp thông qua năng lực, kỹ năng làm việc và tri thức Song hành cùng với những kỹ năng, tri thức giáo dục là các mối quan hệ xã hội, các mạng lưới xã hội mà các cá nhân là thành viên Ở mỗi mạng lưới xã hội, các cá nhân có các vai trò khác nhau tương ứng với những quyền lợi mà họ được hưởng kèm theo Các mối quan hệ xã hội giúp các cá nhân liên kết với nhau, là một trong những điều kiện thuận lợi giúp cá nhân phát triển và tạo bước thăng tiến trong sự nghiệp Nói cách khác, vốn xã hội là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển trong nghề nghiệp của đội ngũ nhân lực trẻ tuổi tỉnh Đắk Lắk
Nhằm tìm hiểu những tác động, ảnh hưởng của vốn xã hội đối với khả năng tiếp cận việc làm, tìm kiếm công việc, cơ hội thăng tiến nghề nghiệp, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, các mối quan hệ trong công việc cùng những hạn chế của nó đối với nguồn nhân lực trẻ tỉnh Đắk Lắk cũng như
phương thức tạo dựng và duy trì vốn xã hội của họ, tôi lựa chọn đề tài “Vai
Trang 7trò của vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ tỉnh Đắk Lắk (Nghiên cứu trường hợp tại phường Tự An và phường Thắng Lợi” làm đề
tài cho luận văn của mình
Đề tài được thực hiện với sự nỗ lực hết mình của bản thân song không tránh khỏi những thiết sót Tôi mong nhận được ý kiến, đóng góp của thầy cô
và bạn bè quan tâm để đề tài ngày càng được hoàn thiện Tôi xin chân thành cảm ơn./
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới
Khi bàn đến vốn xã hội trên thế giới không thể không kể đến các tác giả như Francis Fukuyama, Robert Putnam, Pierre Bourdieu, James Coleman…
Họ là những tác giả với rất nhiều những tác phẩm nghiên cứu về vốn xã hội
đã được công bố và ứng dụng vào thực tế khi mà vốn xã hội đang ngày càng được bàn luận nhiều như hiện nay
Fukuyama là một nhà xã hội học nổi tiếng, ông có nhiều nghiên cứu về vốn xã hội và có những đóng góp to lớn trong việc phát triển khái niệm vốn
xã hội Ông quan niệm rằng vốn xã hội chính là thành tố văn hóa của xã hội hiện đại – những xã hội mà kể từ thời kỳ Khai sáng đã được tổ chức dựa trên
cơ sở của các định chế chính thức, trên cơ sở nhà nước pháp quyền và lý tính Định nghĩa của ông về vốn xã hội nhấn mạnh nhiều hơn đến yếu tố chuẩn
mực xã hội Trong nghiên cứu “Vốn xã hội, xã hội dân sự và phát triển” năm
2001, tác giả đã khẳng định vốn xã hội là những chuẩn mực không chính thức thúc đẩy sự hợp tác giữa các cá nhân Cụ thể, nó chính là các mối quan hệ xã hội, sự liên kết xã hội của cá nhân và tập thể Theo ông, trong các hoạt động kinh tế, mỗi cá nhân sẽ giảm được nhiều chi phí giao dịch nhờ vào vốn xã hội giữa họ Có thể thấy, quan điểm của Fukuyama về mối quan hệ giữa vốn xã hội và phát triển kinh tế có nhiều điểm tương đối giống với tác giả Bourdieu
Cả hai tác giả đều cho thấy được những mặt tích cực của vốn xã hội đối với phát triển kinh tế, tất nhiên song hành với nó vẫn còn tồn tại những mặt tiêu
Trang 8cực nhất định bởi mọi vấn đề đều có tính hai mặt Năm 2002, trong bài báo
“Vốn xã hội và phát triển: Chương trình nghị sự tới” Fukuyama đã nhấn
mạnh đến tính tích cực của vốn xã hội Tác giả đã đề cập đến mối liên hệ giữa vốn xã hội và sự phát triển trên phạm vi toàn cầu Đây là mối liên hệ phổ biến
và tất yếu, dù ở thời đại nào cũng có, vấn đề là chúng ta có nhận thức được và vận dụng tốt vốn xã hội hiện có hay không Tác giả chỉ ra cách mà vốn xã hội
có thể đóng góp vào phát triển kinh tế và xóa bỏ đói nghèo – một giải pháp thực sự hữu ích và cần thiết, qua đó càng thể hiện được tính tích cực của vốn
xã hội Ông cũng giải thích rằng vốn xã hội giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhiều doanh nghiệp ở Mỹ Latinh Vốn xã hội cũng giúp cho nhiều người vượt ra khỏi những khó khăn trong giai đoạn suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng ở các khu vực này [13] Trước đó, trong một bài viết khác
của ông với tiêu đề: “Vốn xã hội và xã hội dân sự” (Social Capital and Civil
Society) của Francis Fukuyama – Viện nghiên cứu chính sách công thuộc
trường Đại học George Mason, 1/11/1999 đã đề cập tới mối quan hệ giữa vốn
xã hội và xã hội dân sự Qua đó, ông cũng nhấn mạnh vai trò của vốn xã hội trong xã hội dân sự, những chức năng, vị trí mà nó có trong xã hội dân sự [43]
Một tác giả khác cũng đã có những đóng góp rất quan trọng khi nghiên
cứu về vốn xã hội, đó là Robert Putnam Trong cuốn sách nổi tiếng “Chơi
Bowling một mình” (Bowling alone), Putnam đã bàn đến lý thuyết vốn xã hội
như là “giá trị cốt lõi của các mạng lưới xã hội” Theo tác giả, vốn xã hội cũng như các loại vốn khác (vốn vật chất, vốn con người) đều là những loại
“vốn” có khả năng làm tăng năng suất từ những tác động tương hỗ của các mối tương tác thông qua mạng lưới xã hội, các quy tắc xã hội cũng như niềm tin của con người trong xã hội (những thành tố quan trọng của vốn xã hội), do
đó vốn xã hội có giá trị đối với những ai có khả năng sử dụng nó [47] Chính
vì vậy, nhắc đến quan điểm về vốn xã hội của Putnam, tác giả Trần Hữu Quang đã khẳng định “Putnam không những đã đào sâu khái niệm vốn xã hội
Trang 9mà còn đề xuất những chỉ báo nhằm đo lường vốn xã hội” (Trần Hữu Quang, 2006) Tuy nhiên, đóng góp quan trọng của Putnam đối với khuynh hướng tiếp cận lý thuyết vốn xã hội chính là việc ông coi niềm tin của con người (trust) trong xã hội như một giá trị cốt lõi của vốn xã hội
Trong tác phẩm “Các hình thức của vốn” (The form of capital) của P
Bourdieu viết năm 1986, ông đã đưa khái niệm “vốn” của lĩnh vực kinh tế vào lĩnh vực xã hội học để phân tích quá trình lưu thông của các loại tài sản khác nhau trong không gian xã hội [42] Từ khái niệm “vốn” này, tác giả đã mở rộng khái niệm, không chỉ bị bó hẹp trong quan niệm về kinh tế Ông đã đưa khái niệm vốn xã hội trở thành một khái niệm khoa học với cách hiểu “Vốn
xã hội là một mạng lưới lâu bền bao gồm các mối liên hệ quen biết nhau và nhận ra nhau, những mối liên hệ này ít nhiều đã được thể chế hóa” Bourdieu cho rằng “khối lượng vốn xã hội của một cá nhân cụ thể nào đó phụ thuộc vào mức độ liên hệ rộng hay hẹp mà anh ta có thể huy động được trong thực tế, và vào khối lượng vốn kinh tế, vốn văn hóa hay vốn biểu tượng của từng người
mà anh ta có liên hệ” (dẫn theo Trần Hữu Quang, 2006 khi bàn về quan điểm vốn xã hội của P.Bourdieu) Cách xử lý khái niệm của Bourdieu là công cụ hết sức quan trọng, tập trung vào những điều lợi mà cá nhân có được nhờ tham gia vào các nhóm, và vào việc chủ ý tạo dựng sự quảng giao nhằm tạo ra nguồn lực này Tác giả khẳng định rằng “những lợi lộc có được là nhờ thành viên một nhóm, là cơ sở cho sự đoàn kết vốn khiến cho có thể có khoản lợi đó” Mạng lưới xã hội không phải là một thứ trời cho mà phải được tạo dựng thông qua các chiến lược đầu tư nhằm thể chế hóa các quan hệ nhóm để có thể dùng làm nguồn gốc đáng tin cậy sản sinh ra các điều lợi khác Có thể phân giải vốn xã hội thành hai yếu tố: thứ nhất, bản thân quan hệ xã hội là cái cho phép các cá nhân có quyền tiếp cận những nguồn lực thuộc sở hữu của những người cùng hội với mình, và thứ hai, số lượng và chất lượng những nguồn lực này Mặt khác, muốn giành và có được vốn xã hội, phải chú ý đầu
tư cả những nguồn lực kinh tế lẫn văn hóa [5]
Trang 102.2 Nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam
“Vốn xã hội” là một thuật ngữ được đề cập nhiều trong hai thập kỷ gần đây trong giới khoa học xã hội, nhưng đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về vốn xã hội Mỗi tác giả khi bàn về vốn xã hội đều có những quan điểm khác nhau, xem xét và tiếp cận nó từ các hướng khác nhau Vốn xã hội được nghiên cứu khá nhiều ở các nước phát triển và dần dần lan rộng sang các nước khác Ở Việt Nam, nghiên cứu về vốn xã hội đang ngày càng nhiều
và tiêu biểu phải kể đến các tác giả như Trần Hữu Dũng, Trần Hữu Quang, Lê Ngọc Hùng, Hoàng Bá Thịnh, Nguyễn Tuấn Anh hay Nguyễn Quý Thanh Nhìn chung nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam được chia ra thành hai nhóm chính: nhóm giới thiệu lý thuyết về vốn xã hội và vận dụng lý thuyết về vốn xã hội trong các nghiên cứu thực tiễn
Trần Hữu Dũng là một tác giả tiêu biểu theo hướng nghiên cứu thứ
nhất về vốn xã hội: giới thiệu lý thuyết về vốn xã hội Trong bài viết “Vốn xã hội và kinh tế”(Thời Đại số 8, 2003), tác giả đã chỉ ra được những quan điểm
khác nhau về vốn xã hội của một số tác giả lớn trên thế giới như Pierre Bourdieu, James Coleman, Robert Putnam, Francis Fukuyama, Hernando De Soto Tác giả cũng khẳng định rằng quan điểm về vốn xã hội của các tác giả trên có hơi hướng tiếp cận thể chế văn hóa trong vấn đề phát triển, nhất là ở một quốc gia cổ truyền mà thể chế văn hóa có lúc (hoặc theo vài tác giả) là vật cản, có lúc (hoặc theo nhiều tác giả khác) là lực đẩy, trong tiến hóa kinh tế
xã hội.Qua đó, ông cũng phê bình một vài điểm trong các quan điểm của các tác giả về vốn xã hội như quan điểm của Bourdieu quá thiên về kinh tế, Putnam lẫn lộn nguyên nhân và hậu quả khi cho rằng sự suy giảm các hoạt động tập thể là gây hậu quả tiêu cực (giảm vốn xã hội)… Ngoài ra, tác giả còn khẳng định rằng cần phả làm rõ hơn đặc điểm của vốn xã hội trong mối quan
hệ với các loại vốn khác như vốn kinh tế, vốn văn hóa, vốn con người [9]
Trong một bài viết khác với tên gọi “Vốn xã hội và phát triển kinh tế”
trên tạp chí Tia sáng và Thời báo kinh tế Sài Gòn năm 2006, tác giả Trần Hữu