Hiện tại CĐĐP tại Cô Tô đã có những hoạt động để phục vụ khách du lịch về lưu trú, ăn uống và đã thu được lợi ích kinh tế từ du lịch, tuy nhiên lợi ích chưa được phân chia đều trong cộng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHU ĐỨC TÙNG
MÔ HÌNH VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở CÔ TÔ
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Lịch sử nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
7 Bố cục của luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 7
1.1 Khái niệm 7
1.1.1 Sản phẩm và các loại hình du lịch 7
1.1.2 Cộng đồng 8
1.1.3 Du lịch cộng đồng 9
1.2 Mục tiêu và nguyên tắc phát triển của du lịch cộng đồng 10
1.3 Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng 12
1.4 Vai trò của du lịch cộng đồng 13
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng 14
1.6 Mô hình du lịch cộng đồng 15
1.6.1 Các thành phần tham gia vào mô hình 15
1.6.2 Các điều kiện để phát triển mô hình 20
1.7 Bài học kinh nghiệm hoạt động du lịch cộng đồng 24
1.7.1 Trên thế giới 24
1.7.2 Một số địa phương ở Việt Nam 30
1.7.3 Những bài học cho phát triển du lịch cộng đồng ở Cô Tô 38
Tiểu kết chương 1 40
Trang 3CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở
CÔ TÔ 41
2.1 Khái quát chung về Cô Tô 41
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 41
2.1.2 Khái quát về đặc điểm tự nhiên – kinh tế- xã hội của Cô Tô 43
2.1.3 Tiềm năng du lịch Cô Tô 45
2.1.4 Thực trạng phát triển du lịch ở huyện đảo Cô Tô 48
2.2 Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Cô Tô 52
2.2.1 Các đặc trưng của cộng đồng biển đảo Cô Tô 52
2.2.2 Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Cô Tô 55
2.2.2.2 Tổng hợp kết quả điều tra 56
2.3 Những vấn đề đặt ra với sự phát triển du lịch cộng đồng ở Cô Tô 67
Tiểu kết chương 2 70
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG VÀO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở CÔ TÔ 71
3.1 Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng ở Cô Tô 71
3.2 Các nhóm giải pháp cho việc phát triển du lịch cộng đồng 77
3.2.1 Nhóm giải pháp tới cộng đồng địa phương 77
3.2.2 Nhóm giải pháp tới chính quyền địa phương 78
3.2.3 Nhóm giải pháp tới các công ty du lịch 80
3.2.4 Nhóm giải pháp tới khách du lịch 80
3.3 Kiến nghị 80
3.3.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 80
3.3.2 Đối với các doanh nghiệp lữ hành, các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch 81
3.3.3 Đối với cộng đồng dân cư vùng ven biển và hải đảo: 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 90
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Việt
UNWTO United National World Tourist Organization
(Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp Quốc)
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU- SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Bảng biểu:
Bảng 2.1: Diện tích bãi biển 46
Bảng 2.2: Thống kê cơ sở lưu trú, ăn uống, mua sắm 48
Bảng 2.3 Số lượng phương tiện kết nối đảo với đất liền 49
Bảng 2.4 Số lượng phương tiện kết nối kết nối Cô Tô với các đảo lân cận 49
Bảng 2.5 Số lượng phương tiện đường bộ trên các Cô Tô 50
Bảng 2.6 Khách du lịch đến Cô Tô giai đoạn 2010 – 2015 51
Bảng 2.7 Doanh thu du lịch Cô Tô giai đoạn 2010 – 2015 51
Bảng 2.8 Các hình thức tham gia dịch vụ du lịch của cộng đồng địa phương 58
Bảng 2.9 Mức thu nhập thêm hàng tháng từ du lịch của các hộ dân trên đảo Cô Tô và đảo Thanh Lân 59
Bảng 2.10 Những vấn đề được cộng đồng dân cư quan tâm khi tham gia hoạt động du lịch trên đảo (%) 60
Bảng 2.11 Mức độ hài lòng của du khách tại các điểm DLCĐ ven biển-hải đảo 61
Bảng 2.12 Mức chi tiêu của du khách tại các điểm DLCĐ 63
Biểu đồ: Biểu đồ 2.1 Mức thu nhập thêm hàng tháng của người dân từ hoạt động du lịch 59
Biểu đồ 2.2 Mức chi tiêu của KDL khi đến các điểm DLCĐ tại Cô Tô 63
Biểu đồ 2.3 Những khó khăn của công ty lữ hành khi thiết kế sản phẩm DLCĐ 64
Sơ đồ: Sơ đồ 3.1 Mô hình du lịch cộng đồng tại Cô Tô 72
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay du lịch đang trở thành một hoạt động không thể thiếu của con người, kể
cả du lịch trong nước và quốc tế Nhiều nước trên thế giới đã coi du lịch như một ngành kinh tế mũi nhọn để phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có Việt Nam Hoạt động phát triển du lịch được thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị của TNDL tự nhiên, văn hóa, lịch sử cùng với các CSHT và những dịch vụ kèm theo Kết quả của quá trình khai thác đó là việc hình thành những sản phẩm du lịch đem lại nhiều lợi ích cho xã hội Trước tiên đó là những lợi ích về kinh tế - xã hội, tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao đời sống kinh tế cho cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ du lịch, tạo điều kiện cho việc bảo tồn các giá trị văn hoá, lịch sử và sự
đa dạng của thiên nhiên nơi có những hoạt động phát triển du lịch Sau nữa là những lợi ích đem lại cho khách du lịch trong việc hưởng thụ các cảnh quan thiên nhiên lạ, các truyền thống văn hoá lịch sử, mà trước đó họ chưa biết tới Một cuộc điều tra nghiên cứu thị trường khách du lịch sinh thái, cộng đồng quy mô lớn của Hiệp hội du lịch sinh thái thế giới trong 3 năm từ 2012 đến 2014 đã cho thấy khách
du lịch có nhu cầu ngày càng cao trong việc tìm kiếm thông tin và học h i, tìm hiểu khi đi du lịch Khách du lịch muốn tìm hiểu các vấn đề về văn hóa xã hội như: văn hóa bản địa, sự kiện nghệ thuật, tiếp xúc với người dân địa phương, ẩm thực địa phương hay ngh tại các cơ sở lưu trú quy mô nh của người dân bản địa
Cô Tô - nằm giữa một vùng biển rộng lớn phía Đông Bắc của Tổ quốc, được thiên nhiên ưu đãi ban tặng nhiều bãi biển đẹp, khí hậu trong lành, không ồn ào náo nhiệt mà thay vào đó là một không gian yên tĩnh, thanh bình Người dân Cô Tô hiền lành, thân thiện mến khách luôn để lại ấn tượng sâu sắc đối với mỗi khách du lịch Nhờ đó, Cô Tô ngày càng thu hút nhiều khách du lịch, doanh thu từ du lịch đã đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách địa phương, đời sống dân
cư ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, trong mấy năm qua hoạt động du lịch tại
Cô Tô đã và đang phát triển một cách nhanh chóng, tự phát và thiếu tính bền vững
Cộng đồng địa phương là cốt lõi của việc phát triển du lịch đặc biệt là loại hình DLCĐ, tuy nhiên trên thực tế cộng đồng ở Cô Tô mới ch tham gia một cách tự phát
Trang 7vào các hoạt động phục vụ khách du lịch Hiện tại CĐĐP tại Cô Tô đã có những hoạt động để phục vụ khách du lịch về lưu trú, ăn uống và đã thu được lợi ích kinh
tế từ du lịch, tuy nhiên lợi ích chưa được phân chia đều trong cộng đồng mà ch tập trung vào một số hộ gia đình Nhiều hộ gia đình khác cũng có tiềm năng tham gia vào hoạt động du lịch nhưng còn gặp nhiều khó khăn do chưa có kiến thức nên chưa biết bắt đầu như thế nào
Chính vì những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài: “Mô hình và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở Cô Tô” làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các nguồn lực và khả năng, cũng như thực tế việc phát triển DLCĐ, sự tham gia của CĐĐP vào du lịch tại huyện đảo
Cô Tô, t nh Quảng Ninh
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu về nguồn lực phát triển DLCĐ, những hiểu biết, nhận thức và khả năng cũng như thực tế tham gia của cộng đồng vào du lịch ở Cô Tô, không đi sâu nghiên cứu các khía cạnh khác của DLCĐ như sản phẩm, xúc tiến hay các ảnh hưởng của du lịch đối với các mặt kinh
tế, văn hóa, an ninh, môi trường… ở Cô Tô
Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu hiểu biết, nhận thức và khả năng cũng như thực tế tham gia của cộng đồng huyện đảo Cô Tô,t nh Quảng Ninh
Phạm vi thời gian: các số liệu, thông tin phục vụ nghiên cứu đề tài này được giới hạn từ năm 2010 đến năm 2015
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là góp phần phát triển DLCĐ ở Cô Tô Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu về DLCĐ như: khái niệm về DLCĐ, các tiêu chí, điều kiện để phát triển DLCĐ Đồng thời tìm hiểu về DLCĐ của một số nước trên thế giới, trong khu vực và phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng dân cư tại một số địa phương trong nước
- Đánh giá hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội của Cô Tô thông qua thu thập nghiên cứu các dữ liệu thứ cấp, dữ liệu sơ cấp về điều kiện phát triển DLCĐ ở Cô
Trang 8Tô và thực trạng phát triển du lịch và DLCĐ ở huyện đảo Cô Tô Qua đó phân tích, đánh giá thực trạng sự hiểu biết, nhận thức và sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch, vai trò của cộng đồng địa phương tại Cô Tô đối với phát triển du lịch
- Đề xuất giải pháp nhằm thu hút hơn nữa cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch ở Cô Tô Xây dựng mô hình về phát triển DLCĐ tại Cô Tô với tiêu chí, cơ chế vận hành và các giải pháp thực hiện
4 Lịch sử nghiên cứu
Trên thế giới du lịch cộng đồng đã được hình thành, lan rộng và tạo ra sự phong phú, đa dạng cho các loại hình du lịch từ thập k 80 và 90 của thế k trước tại các nước trong khu vực châu Phi, châu c, châu Mỹ La Tinh, DLCĐ được phát triển thông qua các tổ chức phi chính phủ, Hội thiên nhiên Thế giới Du lịch dựa vào cộng đồng bắt đầu phát triển mạnh ở các nước châu , trong đó có các nước trong khu vực ASEAN: Indonesia, Philipin, Thái Lan; các nước khu vực khác: Ấn
Độ, Nepal, Đài Loan
Trang 9DLCĐ, ập ư DLCĐ, á p ị DLCĐ ũ ư ố p
ủ DLCĐ [54]
Về mặt lý luận về DLCĐ: Các nước ASEAN như Indonesia, Philipin, Thái Lan đã tổ chức rất nhiều cuộc hội thảo về xây dựng mô hình và tập huấn, đào tạo kỹ năng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Ở Việt Nam, khái niệm DLCĐ đã xuất hiện từ năm 1997, có rất nhiều công trình nghiên cứu về DLCĐ trong đó cũng có những công trình nghiên cứu về du lịch dựa vào cộng đồng thực hiện chủ yếu với loại hình du lịch sinh thái từ cuối thập niên 90 của thế k XX đến nay, với thể loại các bài báo, các báo cáo khoa học trong các hội thảo Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam phải kể đến như:
- Tuyển tập Hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam” năm 1999
- Vấn đề phát triển du lịch dựa vào cộng đồng lần đầu tiên được đưa ra tại hội thảo chia sẻ bài học kinh nghiệm phát triển DLCĐ Việt Nam – 2003 tổ chức tại Hà Nội
đã xác định: “P á ể ị có ự tham gia ủa nhằ m ă
hoá, thiên n ề ữ , â ậ và ă qu ề ự cho ng
C ư c chia ẻ í du ịch, ậ ư c ự h p á , ỗ của chí p ủ các ổ ố t ” Sau đó đã được nhiều t nh thành nghiên cứu
áp dụng thành công như: loại hình du lịch ở nhà dân (homestay) ở bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình), Sapa (Lào Cai), DLCĐ ở đảo Cát Bà (Hải Phòng) Ở miền Trung,
đã có Thừa Thiên Huế với loại hình “homestay” ở làng cổ Phước Tích; du lịch Làng bản tại thôn Dõi- huyện Nam Đông
- Năm 2007, Chi Cục Kiểm lâm Hòa Bình, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn đã xây dựng và thực hiện dự án “Hỗ trợ phát triển DLCĐ trong khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông và khu vực lân cận”
- Trong 2 tài liệu có liên quan là “Xây dựng mô hình bảo vệ môi trường du lịch với sự tham gia của cộng đồng, góp phần phát triển du lịch bền vững trên đảo Cát
Bà - Hải Phòng” và “Du lịch sinh thái những vấn đề về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” do PGS.TS Phạm Trung Lương (chủ biên) đã khẳng định cần thu hút
Trang 10CĐĐP vào các hoạt động du lịch và chia sẻ những lợi ích từ hoạt động du lịch với CĐĐP trong một số nguyên tắc phát triển du lịch bền vững nói chung.[20],[21]
- TS Võ Quế trong cuốn “Du lịch cộng đồng - Lý thuyết và vận dụng”, đã hệ thống cơ sở lý luận cho DLCĐ và nghiên cứu các mô hình phát triển DLCĐ một số quốc gia trên thế giới.[26]
- Tác giả Bùi Thị Hải Yến - chủ biên trong cuốn “Du lịch cộng đồng - 2012” đã hệ thống cơ sở lý luận DLCĐ, đưa ra các mô hình kinh nghiệm về phát triển DLCĐ tại các quốc gia trên thế giới và Việt Nam, bên cạnh đó tác giả cũng đã hoàn thiện cơ
sở lý thuyết cho việc lập kế hoạch phát triển DLCĐ.[44]
T ị Cô Tô, á N ễ Đ T ề
ị ề : Xâ ự p á ể ỗ á ị ị ư
p á ể ị ề ữ Cô Tô, ỉ Q N , V N ” (2014) T ậ , ư ô ề p á ể DLCĐ t
Cô Tô, ũ ư ư ô â ề ô
p áp p á ể ị ở Cô Tô
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra, các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đã được sử dụng:
- Phương pháp nghiên cứu thông tin thứ cấp Các thông tin này được thu thập từ các công trình nghiên cứu, giảng dạy như giáo trình, bài báo của các tác giả trong và ngoài nước Những thông tin thực tế liên quan đến cộng đồng khu vực nghiên cứu được thu thập thông qua niên giám thống kê, từ Sở VHTT & DL Quảng Ninh, UBND huyện Cô Tô
- Phương pháp khảo sát thực địa: Phương pháp này đã giúp cho tác giả có trải nghiệm thực tế về vấn đề nghiên cứu Chọn các ngày đi thực tế, các ngày được lựa chọn gồm 1 ngày vào mùa đông khách, khi đó cộng đồng tham gia vào hoạt động
du lịch nhiều hơn, 1 ngày hè khi đó có sự tham gia của trẻ em
- Phương pháp ph ng vấn: Để có được những nhận định khách quan, tác giả đã sử dụng phương pháp ph ng vấn Các đối tượng được ph ng vấn là các cán bộ quản lý
về du lịch của Sở Văn hóa Thể thao Du lịch, ở phòng văn hóa – thông tin của huyện
Trang 11đảo Cô Tô, cán bộ quản lý và một số nhân viên, đặc biệt là điều tra ph ng vấn các
hộ dân đã tham gia vào hoạt động du lịch và một số du khách
- Phương pháp bảng h i là phương pháp thứ ba được sử dụng để thu thập thông tin
- Phương pháp phân tích định lượng: Là việc xử lý các số liệu sơ cấp thu thập và thông qua phần mềm Microsoft Excel 2010 để tính toán t lệ phần trăm, phân tích định lượng làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng trong chương 2 và đề ra giải pháp ở chương 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần củng cố những lý luận về DLCĐ cho việc phát triển du lịch các vùng ven biển – hải đảo
Luận văn cũng góp phần cung cấp nguồn thông tin tư liệu về cơ sở lý luận, nguồn lực, thực tiễn, giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở huyện đảo Cô Tô cho sinh viên, học sinh, học viên cao học, các cán bộ quản lý, kinh doanh du lịch và những ai quan tâm đến nội dung nghiên cứu
Về mặt thực tiễn, ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài vào nghiên cứu và triển khai các hoạt động du lịch cộng đồng ở Cô Tô cũng như có giá trị tham khảo các địa phương khác có điều kiện tương đồng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương:
C ươ 1 Cơ ở í ậ ề ị
C ươ 2 T ự ng p á ể ị ở Cô Tô
C ươ 3 G p áp ă ườ ự ủ ị
ở Cô Tô
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
Hoạt động du lịch được thực hiện thông qua việc tổ chức các loại hình du lịch
cụ thể trên cơ sở khai thác các giá trị TNDL Phụ thuộc vào đặc điểm TNDL, các loại hình du lịch được phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu, mục đích đi du lịch của
du khách
Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp Quốc đã phân loại các loại hình du
lịch chính theo các mục đích cơ bản của thị trường khách: tham quan, n ỉ mát,
ữ , tiêu ể trí; ă ười thân, bè; ương , công ụ;
tí ưỡng và các ụ ích khác Tất cả những mục đích này đều hoặc là đi du
lịch theo ở thích, ý ố (tham quan, ngh dưỡng, tiêu khiển giải trí, ) hoặc là đi
du lịch theo ĩ ụ, trách (thương mại, công vụ, chữa bệnh, )
Khái niệm về sản phẩm du lịch đã được đưa ra trong Luật Du lịch (2005), theo
đó S n p ẩ du ị là ập h p các dịch ụ ầ ể ỏ mãn nhu ầ ủ
khách du ị ”
Một số tài liệu khác cho rằng “Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt
có tính dịch vụ cao và được tạo thành bởi nhiều yếu tố nhằm đáp ứng nhu cầu của
du khách” và như vậy sản phẩm du lịch ch bao gồm dịch vụ tổng thể của nhà cung cấp dựa vào các yếu tố thu hút du lịch khác như kết cấu hạ tầng du lịch, TNDL, CSVCKT du lịch, lao động (con người) và các yếu tố “tiền” du lịch như nghiên cứu thị trường du lịch, chiến lược kinh doanh du lịch, chiến lược marketing du lịch, xây dựng sản phẩm và cung cấp (bán) sản phẩm cho du khách để th a mãn nhu cầu của
du khách
Theo U N WTO “Sản phẩm du lịch là sự tổng hợp của 3 yếu tố cấu thành: (i) kết cấu hạ tầng và CSVCKT du lịch; (ii) tài nguyên du lịch; và (iii) dịch vụ du
Trang 13lịch” Thực tế cho thấy khái niệm này của UNWTO là “bao trùm” và thể hiện đầy
đủ những gì chứa đựng trong một sản phẩm du lịch
1.1.2 Cộng đồng
Cộng đồng – một khái niệm lý thuyết cũng như thực hành xuất hiện vào những năm 1940 tại các nước thuộc địa của Anh Năm 1950, Liên hiệp quốc công nhận khái niệm phát triển cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công cụ để thực hiện các chương trình viện trợ quy mô lớn về kĩ thuật, phương pháp và tài chính vào tập k 50 – 60
Khái niệm cộng đồng (community) là một trong những khái niệm xã hội học Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách tương đối rộng rãi, để ch nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô, đặc tính xã hội Từ những khối tập hợp người, các liên minh rộng lớn như cộng đồng châu u, cộng đồng các nước Ả Rập, đến một hạng kiểu xã hội, căn cứ vào đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo, như cộng đồng người Do Thái, cộng đồng người da đen tại Chicago Nh hơn nữa, danh từ cộng đồng được
sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng hay một nhóm xã hội nào đó
có những đặc tính xã hội chung về lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thân phận xã hội như nhóm những người lái xe taxi, nhóm người khiếm thị,…vv
Tại Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng được giới thiệu vào giữa những năm 1950 thông qua một số hoạt động phát triển cộng đồng tại các t nh phía Nam, trong lĩnh vực giáo dục Từ ngành giáo dục, phát triển cộng đồng chuyển sang lĩnh vực công tác xã hội Đến những năm 1960, 1970, hoạt động phát triển cộng đồng được đẩy mạnh thông qua các chương trình phát triển nông thôn của sinh viên hay của phong trào Phật giáo
Từ thập k 80 của thế k trước cho đến nay, phát triển cộng đồng được biết đến một cách rộng rãi hơn thông qua các chương trình viện trợ phát triển của nước
ngoài tại Việt Nam, có sự tham gia của người dân tại cộng đồng như một â ố
ị h để chương trình đạt được hiệu quả bền vững Các đường lối và phương
pháp cơ bản về phát triển cộng đồng đã được triển khai trên thực tiễn ở Việt Nam, bằng các nhân sự trong nước với cả những thành công và thất bại
Trang 14Cộng đồng thường xem các nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng, đất đai, nguồn nước…là “ngân hàng” của họ, nơi mà họ có thể dựa vào để sinh sống Cộng đồng sử dụng các nguồn tài nguyên nơi mình sinh sống cùng với việc phát triển các tập quán quản lý riêng Họ khai thác tài nguyên theo nhiều phương thức và chia sẻ lợi ích từ việc khai thác cho những thành viên khác trong cộng đồng của mình Việc “chia sẻ nguồn lợi” luôn đi liền với “chia sẻ trách nhiệm bảo tồn” được xem là triết lý sống của các cộng đồng được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác
Khái niệm cộng đồng bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ cho đến các tổ chức ít có cấu trúc chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá phân tán, được liên kết bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, dài hay ngắn như phong trào quần chúng, công chúng khán giả, đám đông…Đây là một tuyến nghĩa rất hay được sử dụng trong khoa học xã hội, gắn với các thực thể xã hội nhất định
Nhìn chung cộng đồng được phân loại thành một số loại hình chủ yếu như sau: a) Loại hình cộng đồng thuần khiết với loại hình cộng đồng không thuần khiết do
đã bị biến dạng hoặc pha tạp với cơ cấu, tổ chức, thiết chế xã hội hiệp hội tính b) Loại hình cộng đồng theo tính trội nào đó như: cộng đồng lãnh thổ, cộng đồng huyết thống, cộng đồng thân tộc, cộng đồng tộc người, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo Nhóm cộng đồng có tính trội này được phân ra làm hai loại: cộng đồng địa dư và cộng đồng chức năng
c) Loại hình cộng đồng lịch sử theo các thuyết tiến hoá xã hội
1.1.3 Du lịch cộng đồng
Khái niệm DLCĐ xuất hiện vào những năm đầu thế k 20, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất cho khái niệm này, do vậy vẫn tồn tại nhiều cách gọi khác nhau như:
- Community - Based Tourism (Du lịch dựa vào cộng đồng)
- Community - Development in Tourism (Phát triển cộng đồng dựa vào Du lịch)
- Community - Based Ecotourism (Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng)
- Community - Participation in Tourism (Phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng)
- Community - Based MountainTourism (Phát triển du lịch núi dựa vào cộng đồng)
Trang 15Do có những quan điểm nghiên cứu, góc nhìn khác nhau những khái niệm này được sử dụng khá linh hoạt và được thay đổi tuỳ thuộc vào tác giả, địa điểm và các dự án cụ thể, song các vấn đề về bền vững và cộng đồng địa phương (điển hình
ở khu vực nông thôn, những người nghèo, và ở vùng sâu vùng xa) là những nội dung chính được đề cập, xem xét
Du lịch cộng đồng phải duy trì tính bền vững cả về văn hoá và môi trường với ý nghĩa các nguồn lực phải được sử dụng, duy trì và xây dựng cho mục đích sử dụng của các thế hệ tương lai Điều này không có nghĩa là du lịch cộng đồng có thể tạo ra nhiều thay đổi Song trong chừng mực nào đó nó luôn phải quan tâm tới các lợi ích cũng như hậu quả trước mắt và lâu dài của sự thay đổi đó Vì vậy, sự bền vững không ch là thái độ mà nó nhất định phải thể hiện sự đánh giá cao các giá trị
tự nhiên và văn hoá của địa phương
Theo Phạm Trung Lương thì: “DLCĐ là hình du ị mang cho du
khách nhữ ề sắ ng ị p ương, trong c ng ng
ị p ương tham gia ự p vào du ị h, ư c hưở ích kinh -
xã du ị và có trách tài nguyên, môi ường, n
ắ ă hóa ủ ”
1.2 Mục tiêu và nguyên tắc phát triển của du lịch cộng đồng
Từ những khái niệm cũng như những hiểu biết chung nhất về du lịch cộng đồng, Theo Viện nghiên cứu Phát triển Miền núi, để phát triển du lịch cộng đồng thì mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng phải bao gồm những điểm như sau:
- Là công cụ cho hoạt động bảo tồn
- Là công cụ cho phát triển chất lượng cuộc sống
- Là công cụ để nâng cao nhận thức, kiến thức và sự hiểu biết của mọi người bên ngoài cộng đồng về những vấn đề như rừng trong cộng đồng, con người sống trong khu vực rừng, nông nghiệp hữu cơ, quyền công dân cho người trong bộ lạc
- Là công cụ cho cộng đồng cùng tham gia, thảo luận các vấn đề, cùng làm việc và giải quyết các vấn đề cộng đồng
- Mở rộng các cơ hội trao đổi kiến thức và văn hóa giữa khách du lịch và cộng đồng
Trang 16- Cung cấp khoản thu nhập thêm cho cá nhân thành viên trong cộng đồng, mang lại thu nhập cho quỹ phát triển cộng đồng
- Du lịch cộng đồng phải góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, bao gồm cả sự đa dạng về sinh học, tài nguyên nước, rừng, bản sắc văn hóa,
- Du lịch cộng đồng phải đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương thông qua việc tăng doanh thu về du lịch và những lợi ích khác cho cộng đồng địa phương
- Du lịch cộng đồng phải có sự tham gia ngày càng tăng của cộng đồng địa phương
- Du lịch cộng đồng phải mang đến cho khách một sản phẩm có trách nhiệm đối với
môi trường và xã hội
Một số nguyên tắc chủ yếu đối với phát triển DLCĐ được xác định dựa trên bản chất của DLCĐ bao gồm:
- Công ằ về ặ xã : Các thành viên của cộng đồng sẽ tham gia vào việc lên
kế hoạch, triển khai, kiểm soát các hoạt động du lịch tại cộng đồng, ở đây cần nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt dộng du lịch Từ đó lợi ích kinh tế sẽ được chia sẻ công bằng và rộng khắp, không ch riêng cho các công ty du lịch mà còn dành cho các thành viên của cộng đồng
- Tôn các giá trị ă hoá ủ ng: Thực tế cho thấy chương trình du
lịch nào cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cộng đồng địa phương Điều quan trọng là các giá trị văn hoá của cộng đồng phải được bảo vệ và giữ gìn với sự đóng góp tích cực của tất cả các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch, đặc biệt là cư dân địa phương bởi không đối tượng nào có khả năng bảo vệ và duy trì các giá trị văn hoá tốt hơn chính họ Cộng đồng địa phương phải nhận thức được vai trò và vị trí của mình cũng như những lợi, hại mà việc phát triển du lịch mang đến
- Chia ẻ ích du ịch cho c ng g: Theo nguyên tắc này cộng đồng cùng
được hưởng lợi như các thành phần khác tham gia vào các hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch Nguồn thu từ hoạt động du lịch được phân chia công bằng cho mọi thành viên tham gia hoạt động, đồng thời lợi ích đó cũng được trích một phần thông qua “Quỹ cộng đồng” để sử dụng cho lợi ích
Trang 17chung của cộng đồng: tái đầu tư cho cộng đồng xây dựng đường sá, cầu cống, điện
và chăm sóc sức khoẻ, giáo dục v.v
- Xác ập q ề ở hữu và tham gia ủ ng đối với việc bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên và văn hoá hướng tới sự phát triển bền vững
1.3 Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng
Với tư cách là một loại hình du lịch, việc phát triển DLCĐ cũng cần một số điều kiện cơ bản bên cạnh một số điều kiện đặc thù liên quan đến cộng đồng Những điều kiện cụ thể để phát triển loại hình du lịch này bao gồm:
- Cầ có ngu n tài nguyên tự nhiên và nhân văn hấp dẫn có khả năng thu hút
khách du lịch Đây là điều kiện cơ bản vì TNDL chính là tiền đề hay cơ sở để tổ chức các hoạt động du lịch Tuy nhiên mức độ thu hút khách của một điểm đến phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, chủng loại, tính độc đáo của nguồn tài nguyên Đồng thời khả năng duy trì và phát triển nguồn khách phụ thuộc vào vai trò của cộng đồng dân cư ở địa phương trong việc bảo tồn, tôn tạo những giá trị của tài nguyên tại điểm đến
- Cầ ăng p ậ điểm đến DLCĐ: Cũng tương tự như đối với việc phát
triển các loại hình du lịch khác, hoạt động phát triển du lịch không thể thực hiện được nếu không có hạ tầng tiếp cận điểm tài nguyên Đây là đặc điểm rất đặc trưng của du lịch khi sản phẩm du lịch được xây dựng và tiêu thụ tại chỗ Điều này khác với hoạt động sản xuất kinh doanh khác khi sản phẩm thương mại có thể được sản xuất ở một nơi rồi vận chuyển đến thị trường tiêu thụ ở nơi khác
- Cầ có sự h di n củ dân cư sinh sống tại điểm đến hoặc tại khu vực
liền kề phát triển du lịch Phong tục tập quán, lối sống, trình độ học vấn, quy mô cộng đồng, cơ cấu nghề nghiệp là những yếu tố cần được xác định và đánh giá rõ ràng trước khi quyết định xây dựng điểm đến DLCĐ
- Cầ có sự ự nguy n ủ đối với đề xuất phát triển DLCĐ Đây là
điều kiện đặc thù rất quan trọng để có thể phát triển DLCĐ bởi loại hình du lịch này ch có thể phát triển cùng với sự nhận thức sâu sắc của cộng đồng về trách nhiệm và quyền lợi của họ khi tham gia vào hoạt động du lịch
Trang 18- Cầ có nhu ầ ố v i p ẩ DLCĐ: Phát triển du lịch nói chung và DLCĐ
nói riêng phải phù hợp với quy luật “Cung - Cầu” Thị truờng khách đủ lớn về số lượng và đảm bảo chất lượng (khả năng chi trả), ổn định cho vùng, từ đó đảm bảo khối lượng công ăn việc làm cho cộng đồng, thu nhập đều đặn cho họ
- Đ ể DLCĐ ầ ư c quy và đưa vào hệ thống tuyến điểm du lịch của
lãnh thổ Đây là điều kiện chung để phát triển bất kỳ một điểm đến du lịch nào, trong đó có điểm đếsưn DLCĐ Tuy nhiên trong trường hợp DLCĐ, điều kiện này trở nên quan trọng hơn bởi bản than cộng đồng thường không có khả năng tự tổ chức quy hoạch và kết nối với hệ thống tuyến điểm du lịch của lãnh thổ [24,tr20]
- Góp phần để cộng đồng, đặc biệt là những người dân chưa có điều kiện trực tiếp tham gia vào các dịch vụ du lịch, được hưởng lợi từ việc phát triển hạ tầng du lịch (giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, v.v.) Đây cũng sẽ là yếu tố tích cực
để đảm bảo sự công bằng trong phát triển du lịch, một trong những nội dung quan trọng của phát triển du lịch bền vững
- Góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng và qua đó sẽ góp phần làm thay đổi cơ cấu, nâng cao trình độ lao động khu vực này Đây sẽ là yếu tố quan trọng góp phần hạn chế được dòng di cư của cộng đồng từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị, ổn định xã hội đảm bảo cho phát triển bền vững chung
- Phát triển DLCĐ sẽ góp phần tích cực trọng việc phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nghề truyền thống, vì vậy có đóng góp cho phát triển
du lịch bền vững từ góc độ tài nguyên, môi trường du lịch
Trang 19- Phát triển DLCĐ sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh giao lưu văn hóa và kế đến là giao lưu kinh tế giữa các vùng miền, giữa Việt Nam với các dân tộc trên thế giới Đây cũng sẽ là yếu tố quan trọng trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam đồng thời tạo cơ hội để phát triển kinh tế ở những vùng còn khó khăn, đảm bảo sự phát triển bền vững nói chung, du lịch nói riêng
Với những tác động tích cực trên, việc đẩy mạnh phát triển du lịch nói chung, DLCĐ nói riêng sẽ có vai trò rất quan trọng trong phát triển bền vững ở Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh t lệ người dân sống ở vùng nông thôn ở Việt Nam còn cao, chiếm tới hơn 70% dân số cả nước, và t lệ hộ đói nghèo cũng còn khá cao
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng
- Tính củ h ố cơ chính sách và các biện pháp khuyến khích hợp
lý từ các cơ quan quản lý, các ngành liên quan để tạo ra một môi trường thuận lợi cho DLCĐ phát triển Các cơ chế, chính sách này liên quan đến việc:
- Hỗ trợ hạ tầng du lịch tại các điểm DLCĐ
- Tăng khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với các nguồn vốn tín dụng với lãi suất
ưu đãi như một phần của chính sách xóa đói giảm nghèo
- Quảng bá DLCĐ và xúc tiến hình ảnh điểm đến DLCĐ
- Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho cộng đồng
- Ưu đãi và giá thuê đất lập dự án, thuế kinh doanh dịch vụ DLCĐ, vv
- Hỗ trợ các doanh nghiệp lữ hành có hợp tác đưa khách đến các điểm DLCĐ
- Tính p ẫ và hình ểm n: Có nguồn tài nguyên tại điểm đến DLCĐ là
điều kiện tiên quyết để phát triển DLCĐ, tuy nhiên điểm đến đó có thu hút được nhiều khách không hay nói cách khác mức độ phát triển của điểm đến DLCĐ sẽ phụ thuộc nhiều vào mức độ hấp dẫn và hình ảnh điểm đến
- Nă ự ủ : Bao gồm năng lực về tổ chức quản lý hoạt động du lịch; kỹ
năng cung cấp các dịch vụ du lịch cơ bản (dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ hướng dẫn), khả năng về tài chính để phát triển các sản phẩm du lịch tại điểm đến
- M hỗ ủ ơ quan QLNN ề du ị đối với thực hiện quy hoạch điểm
đến DLCĐ, đầu tư nâng cấp hạ tầng du lịch tại điểm đến, đào tạo kỹ năng tổ chức quản lý và cung cấp dịch vụ, xúc tiến hình ảnh điểm đến
Trang 20- M h p tác củ các công ty du ị h, đặc biệt là các công ty lữ hành trong việc
quảng bá sản phẩm DLCĐ và đảm bảo nguồn khách
- M ỗ ủ các ổ ố , các ổ phi chính p ủ về kinh nghiệm
tổ chức DLCĐ cũng như tăng cường năng lực cho cộng đồng tổ chức quản lý và tham gia hoạt động du lịch [24,tr22]
Mức độ tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch khác nhau tùy thuộc vào vai trò của cộng đồng:
- M ụ : Theo đó cộng đồng ch được xem là đối tượng du lịch (tài
nguyên) và hầu như không có vai trò gì đối với hoạt động phát triển du lịch Trong trường hợp này các công ty du lịch sẽ đưa điểm quần cư cộng đồng với những yếu
tố chính là con người, lối sống cộng đồng, văn hóa, tín ngưỡng, kiến trúc quần cư, v.v.) vào chương trình du lịch và coi đó là một điểm đến để đưa khách đến tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm về con người, văn hóa, lối sống của cộng đồng Cộng đồng không có vai trò gì (tham gia thụ động) đối với kế hoạch phát triển du lịch và hầu như không được hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch Hoạt động du lịch trong
trường hợp cộng đồng tham gia một cách thụ động thường được gọi là Du ị
tham quan c n ”
- M tham gia: Theo đó cộng đồng tham gia cung cấp một số dịch vụ (bán
hàng lưu niệm, dịch vụ ăn uống, v.v.) tại điểm du lịch nơi cộng đồng sinh sống và qua đó được hưởng một số lợi ích về vật chất Trong trường hợp này, ngoài vai trò là “tài nguyên” như trên, cộng đồng đã có vai trò nhất định trong hoạt động du
Trang 21lịch và được hưởng một phần lợi ích trong chuỗi giá trị du lịch Hoạt động du lịch
trong trường hợp này thường được gọi là D ị ự tham gia ủ ”
đó Trong trường hợp này hoạt động du lịch thường được gọi là D ị ự vào
c ng ” hay D ị ” DLCĐ chính là hình thức nơi đảm bảo mức
độ tham gia cao nhất của cộng đồng vào hoạt động du lịch
Ngoài ra, sự tham gia của cộng đồng còn có thể được nhìn dưới một góc độ khác:
- T xá ị ữ ơ ể p á ể Cộng
đồng địa phương hiểu rõ về thế mạnh, về nhu cầu của họ hơn bất kỳ người nào khác, do đó họ có thể đưa ra những ý tưởng tốt nhất đề lập ra các chiến lược phù hợp với các hoạt động phát triển của mô hình
- T á Cộng đồng địa phương nắm được những
thuận lợi, hạn chế và cả những tiềm năng nổi bật của tài nguyên mà họ đang sử dụng, do đó họ có thể tham gia vào quá trình quy hoạch để đạt được những mục đích và mục tiêu mà họ đã xác định
- T á ự : Mặc dù bị hạn chế về tài chính nhưng cộng
đồng địa phương có thể đóng góp bằng việc đưa ra những gợi ý, chia sẻ kinh nghiệm và các hình thức giúp đỡ khác và trở thành một phần của chương trình
- T ẻ í : những lợi ích đạt được từ các hoạt động DLCĐ
cần được phân phối tới những nhóm người có liên quan trong cộng đồng, nếu không sẽ không khuyến khích được sự tham gia của họ
- T á á á á á: cộng đồng địa phương là những
người bảo vệ các tài nguyên quanh mình và họ có thể theo dõi những thay đổi và sửa đổi các sản phẩm du lịch theo nhu cầu và những gì mà họ cho là tốt nhất theo kiến thức bản địa của họ Họ có thể đánh giá những can thiệp bên ngoài hay nhu cầu sửa đổi
Trang 22b, Chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương là những người do cộng đồng địa phương tín nhiệm, bầu ra và đại diện để bảo vệ quyền lợi cho cộng đồng, là cầu nối giữa cộng đồng với thế giới bên ngoài Chính quyền địa phương quản lý cộng đồng theo chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Chính phủ cũng như theo các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng Họ là những người lãnh đạo, có vai trò tổ chức quản lý, tăng cường sức mạnh đoàn kết của cộng đồng, đặc biệt là họ thường biết phát huy thế mạnh của cộng đồng trong các hoạt động kinh tế - xã hội và văn hóa
Nếu những người lãnh đạo chính quyền địa phương là những người có năng lực, phẩm chất tốt, trong sạch, họ sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng thành công, đạt được hiệu quả cao về nhiều mặt Ngược lại, nếu họ là những người có trình độ nhận thức nói chung kém, đặc biệt là nhận thức
về du lịch thấp, năng lực và phẩm chất không tốt, không trong sạch thì sẽ là rào cản,
là nhân tố nguy hại hàng đầu tác động tiêu cực đến sự thành công của các dự án phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Chính quyền địa phương có thẩm quyền ban hành các quy chế, tạo môi trường pháp lý cho việc kêu gọi tài trợ để thực hiện các kế hoạch, chiến lược phát triển và
có trách nhiệm bảo đảm duy trì an ninh trật tự, vệ sinh, phát triển các dịch vụ giáo dục, cấp nước sạch, chăm sóc sức kh e cộng đồng, quản lí các nguồn lực
Chính quyền địa phương cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về bảo vệ môi trường và
hỗ trợ kinh doanh như cung cấp thông tin, ban hành các hướng dẫn, cung cấp các lớp đào tạo,…để tăng cường năng lực cho cộng đồng có đủ khả năng triển khai các
dự án DLCĐ
Chính quyền địa phương huy động sự tham gia của cộng đồng vào công tác lập
kế hoạch, quản lý, đồng thời cung cấp các kĩ năng đối thoại, trao đổi với cộng đồng
để họ có thể đóng góp ý kiến vào các hoạt động của cộng đồng
Chính quyền địa phương duy trì và phát triển kiến trúc hạ tầng (thông tin liên lạc, đường sá, điện nước,…) để đảm bảo cho các hoạt động du lịch được diễn ra thuận lợi trên địa bàn
Trang 23c, Các đơn vị hỗ trợ du lịch (các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức cá nhân,…)
Các đơn vị hỗ trợ du lịch là các tổ chức gắn chặt với sự phát triển ở cấp cộng đồng và họ có thể giúp đỡ, hỗ trợ cho dự án DLCĐ về mặt kỹ thuật đồng thời nâng cao năng lực và hạn chế sự phụ thuộc của cộng đồng vào chính quyền địa phương Một số các hoạt động do các đơn vị hỗ trợ du lịch thực hiện có thể khá tốn kém và cũng có những hoạt động không đòi h i chi phí Một số chương trình hỗ trợ của tổ chức này được thực hiện như:
T ự ề : điều tra các cơ sở sản xuất, khả năng khai thác TNDL,…
giúp cho việc nhận dạng các khó khăn trước mắt, xác định được cách thức hình thành dự án DLCĐ, ch ra các nguồn lực, các kết quả, khả năng mở rộng dự án,…
ỗ ỹ ậ á x ườ â ị p ươ : cách thức hỗ trợ
có thể được thực hiện bằng cách tổ chức các chương trình đào tạo về quản lý, marketing, tiêu chuẩn về chất lượng, môi trường Sự trợ giúp kỹ thuật cũng có thể
là các hoạt động tư vấn
Tư úp ề ặ í : một trong những vấn đề khó khăn nhất của
các nhà sản xuất là việc tiếp cận với nguồn vốn Một chương trình hỗ trợ tài chính phù hợp có thể mang lại cho họ lời khuyên và các khóa đào tạo về quản lý tài chính, tiếp cận các nguồn vốn và các khoản tín dụng
d, Các doanh nghiệp du lịch
Các doanh nghiệp du lịch gồm: các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú, ăn uống, kinh doanh các dịch vụ vui chơi, giải trí, kinh doanh hàng hóa, kinh doanh vận chuyển,…
Các doanh nghiệp du lịch là cầu nối giữa khách du lịch với cộng đồng, là người giữ vai trò môi giới trung gian để bán các sản phẩm du lịch cho cộng đồng,
và họ cũng là những người đầu tư để tạo một số sản phẩm du lịch (lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí,…) mà cộng đồng chưa cung ứng đủ, để đảm bảo cho sự đa dạng và chất lượng các sản phẩm du lịch cho du khách
Các doanh nghiệp du lịch thường sử dụng lao động địa phường trong các công việc lao động nghiệp vụ như dọn vệ sinh, bảo vệ, dọn phòng, nấu ăn, chạy bàn, bán hàng, vận chuyển phương tiện giao thông và các thiết bị kỹ thuật,… góp phần tạo
Trang 24công ăn việc làm và thu nhập cho cộng đồng địa phương Bên cạnh đó, họ còn đóng góp vào sự phát triển kinh tế của cộng đồng địa phương thông qua việc mua nông phẩm, hàng hóa của để phương để bán cho du khách, đóng thuế, phí môi trường, lệ phí tham quan,…
e, Khách du lịch
Đây là yếu tố cầu du lịch Khách mua các sản phẩm DLCĐ thường là các nhà nghiên cứu, khách sinh viên, học sinh, những người thích khám phá, tìm hiểu những điều mới lạ Họ là những khách du lịch có trình độ nhận thức cao, yêu thiên nhiên cũng như các giá trị văn hóa bản địa, nhận thức được vai trò của mình trong việc bảo tồn và sẵn sàng trả tiền cho việc bảo vệ tài nguyên môi trường
Họ cũng là những người có trách nhiệm với môi trường và xóa đói, giảm nghèo ở những vùng nghèo và những quốc gia nghèo Những du khách này phần nhiều sẽ sẵn sang b qua sự xa x , thuận tiện và đắt tiền của du lịch phổ thông để được thưởng thức những giá trị của phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, đặc sắc và văn hóa bản địa đang trở nên khan hiếm Du khách sử dụng sản phẩm DLCĐ thường cần cung cấp thông tin hơn là giải trí, được giáo dục hơn là tiêu khiển
f, Mối quan hệ giữa các thành phần tham gia
Chính quyền địa phương và các cơ quan, tổ chức phát triển du lịch phải phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc triển khai các hoạt động marketing, hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch trong việc mở rộng kinh doanh hoặc phát triển các cơ sở mới, giải quyết các vướng mắc để dự án được triển khai nhanh và an toàn
Việc phối hợp giữa các đối tác với các cơ quan có thẩm quyền rất quan trọng Các cơ quan này có thể thực hiện được sự gắn kết có tính pháp lý giữa các cơ quan của chính phủ để giúp cho cộng đồng nghèo được nâng cao năng lực và được hỗ trợ
về mặt kỹ thuật Các quan hệ pháp lý dài hạn cung cấp một khung hoạt động nhằm tác động đến các chủ thể của DLCĐ địa phương để có những thay đổi phù hợp về mặt tổ chức
Thông qua cơ cấu phối hợp giữa lĩnh vực công và tư, các cơ quan có thẩm quyền của địa phương làm việc với các tổ chức phi chính phủ, cộng đồng địa phương và nhiều cơ quan liên quan khác, thông qua đó, các đối tác liên quan cập
Trang 25nhật tình hình phát triển của cộng đồng và tham gia vào các hoạt động kinh doanh DLCĐ Bên cạnh đó, các đối tác cũng có khả năng xây dựng các kế hoạch phát triển trong tương lai cho tổ chức mình
1.6.2 Các điều kiện để phát triển mô hình
a, Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch và đô thị du lịch
DLCĐ được phát triển tại những nơi có TNDL, bao gồm TNDL tự nhiên và nhân văn Nhóm tài TNDL nhân văn thông thường là các bản làng hoặc cụm dân cư còn lưu giữ những nét đặc trưng về văn hóa truyền thống như kiến trúc nhà cửa, phong tục tập quán, ẩm thực,… hoặc đời sống sản xuất, sinh hoạt của người dân…Nhóm TNDL tự nhiên được khai thác phát triển DLCĐ thường gắn với các hệ sinh thái đặc sắc như các vườn quốc gia, các khu rừng nguyên sinh có hệ động thực vật phong phú, độc đáo, có khí hậu dễ chịu,…
Như vậy, để phát triển mô hình DLCĐ cần phải có tài nguyên Tuy nhiên có tài nguyên vẫn chưa đủ, địa điểm tổ chức DLCĐ phải là nơi tồn tại một cộng đồng
có tính gắn kết cao, có truyền thống, tập quán sinh hoạt, sản xuất độc đáo, hấp dẫn
du lịch, có lòng hiếu khách và mong muốn tham gia chuỗi cung cấp dịch vụ du lịch
b, Khả năng tiếp cận
Khả năng tiếp cận là một trong những điều kiện quan trọng cần được xem xét trước tiên vì nếu điều kiện tiếp cận của địa phương quá khó khăn, tốn kém và tại đó không có đủ điện, nước, thông tin liên lạc,… thì khả năng thu hút khách hạn chế và
ít nhà đầu tư nào sẵn sàng b vốn để phát triển du lịch tại địa phương này
Việc đầu tư về CSHT như hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước,…sẽ giúp cho khả năng tiếp cận của địa phương triển khai mô hình DLCĐ được dễ dàng hơn Trước đây, từ năm 2000 trở về trước, việc đầu tư cho CSHT của các địa phương còn rất hạn chế do ngân sách nhà nước chưa bố trí cho hạng mục này, nhưng từ năm 2001 đến nay, thực hiện chủ trương tập trung cho phát triển du
Trang 26lịch tại Công văn số 1095 CP – KTTH, ngày 28 11 2000 của Chính phủ, ngân sách nhà nước đã được bố trí hỗ trợ đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch của các địa phương Đây là điều kiện thuận lợi để các địa phương triển khai các dự án phát triển du lịch, đặc biệt là DLCĐ
c, Quy hoạch
Điểm đến DLCĐ cần được quy hoạch và đưa vào hệ thống tuyến điểm du lịch của lãnh thổ Đây là điều kiện chung để phát triển bất kỳ một điểm đến du lịch nào, trong đó có điểm đến DLCĐ Tuy nhiên trong trường hợp DLCĐ điều kiện này trở nên quan trọng hơn bởi bản thân cộng đồng thường không có khả năng tự tổ chức quy hoạch và kết nối với hệ thống tuyến điểm du lịch của lãnh thổ
d, Mong muốn của cộng đồng
Mô hình DLCĐ muốn triển khai được phải có sự ủng hộ của cộng đồng, bao gồm cộng đồng địa phương nơi triển khai DLCĐ dự án, chính quyền địa phương – những người quản lý xã hội, các tổ chức đoàn thể, các công ty, doanh nghiệp du lịch,…
Sự ủng hộ của người dân địa phương đóng một vai trò hết sức quan trọng, thường được thể hiện ở sự chủ động và khả năng tham gia vào các hoạt động của
mô hình Người dân tích cực tham gia thảo luận về các vấn đề phát triển du lịch tại địa phương, sẵn sàng bày t quan điểm, nhận thức về các vấn đề du lịch và mong muốn của họ trong quá trình phát triển du lịch
Sự ủng hộ của chính quyền địa phương:
- Tạo môi trường pháp lý và mục tiêu định hướng phát triển du lịch
- Chính quyền có quyền quyết định trong phạm vi quản lý hành chính lãnh thổ
- Có chính sách cho từng địa phương đối với DLCĐ
- Chính quyền địa phương tham gia tốt vào khâu hỗ trợ an ninh
- Chính quyền địa phương tạo mọi điều kiện thuận lợi để tổ chức các hoạt động
du lịch và tạo cơ hội cho cộng đồng tham gia nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội tại địa phương (làm nhà ngh , tạo hành lang pháp lý, cơ chế mua đất đầu tư phát triển du lịch)
Trang 27Sự ủng hộ của các tổ chức, đoàn thể trong vùng: các đoàn thể tích cực ủng hộ
và sẵn sàng tham gia các hoạt động du lịch trong khu vực như: hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội nông dân, đoàn thanh niên,…
- Tiếp cận được nhiều nguồn lực, thông tin và nghiên cứu
- Có quyền lực và vốn
- Có định hướng và khả năng thúc đầy phát triển cộng đồng
- Chính phủ có thể tạo hành lang pháp lý, ch đạo sự phối kết hợp phát triển giữa các Bộ, ngành, giữa Tổng cục du lịch và địa phương
Sự ủng hộ của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch
- Giúp địa phương quy hoạch du lịch và lồng ghép DLCĐ
- Quản lý và khai thác tốt tiềm năng du lịch
- Là đầu mối quan trọng trong ch đạo quảng bá DLCĐ
- Có thể đưa quy hoạch DLCĐ bổ sung vào quy hoạch tổng thể phát triển du lịch
- Đào tạo về nghiệp vụ du lịch cho cộng đồng
- Giúp chính phủ hoạch định chính sách, chiến lược thuận lợi cho DLCĐ phát triển Xây dựng chiến lược quốc gia, kế hoạch hành động, chính sách luật về DLCĐ
- Điều phối quản lý trong phạm vi quốc gia, ngành
- Tổ chức diễn đàn về thống nhất tiêu chuẩn quy hoạch tổng thể tạo hành lang pháp lý cho Nhà nước đầu tư vốn
- Hỗ trợ bán và bán các sản phẩm DLCĐ đến du khách trong và ngoài nước
- Các công ty du lịch quảng bá, tiếp thị tốt cho DLCĐ
- Hỗ trợ các kỹ năng tổ chức xúc tiến và marketing, cộng tác với cộng đồng
Sự ủng hộ của các tổ chức phi chính phủ
- Các tổ chức đưa ra sáng kiến, đề tài tốt
Trang 28- Cung cấp các nguồn lực: tài chính, nhân lực chuyên môn (có nhiều kinh nghiệm)
- Là cầu nối đem lại những tác động tích cực cho cộng đồng
- Có thể hợp tác năng động với cộng đồng trong hoạt động bảo tồn và phát triển
- Quảng bá và chia sẻ kinh nghiệm
- Hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng kế hoạch, lập dự án và thực hiện dự án về DLCĐ
e, Năng lực quản lý và kỹ năng tham gia dịch vụ du lịch của cộng đồng
Một trong những điểm khác biệt của loại hình DLCĐ với các loại hình du lịch khác là cộng đồng địa phương đóng vai trò chủ thể trong quá trình hoạt động và phát triển kinh doanh du lịch Do đó, để mô hình DLCĐ được triển khai và đạt kết quả thì không ch cộng đồng có mong muốn tham gia là đủ, mà cộng đồng cần phải
có năng lực để quản lý, hoạt động và điều hành
Năng lực của cộng đồng địa phương thể hiện ở:
- Về : có hiểu biết về văn hóa bản địa nhất nên bảo tồn được văn hóa dân tộc
- Về : có các TNDL, cộng đồng là chủ thể bảo vệ môi trường tài
nguyên thiên nhiên Cộng đồng đoàn kết trong việc bảo vệ tài nguyên
- Về ổ : quản lý, vận hành các điểm DLCĐ trực triếp phân công lao động
trong cộng đồng theo khả năng của mỗi hộ dân Có trách nhiệm của cộng đồng về quản lý và bảo vệ khi họ tham gia đầu tư
- á : sự nhiệt tình, niềm nở, thái độ phục vụ tốt
- Cá ặ á : có tính dân tộc độc đáo, có mong muốn đảm bảo tính bền vững
cho thế hệ tương lai
Việc phát triển năng lực địa phương là một quá trình dài và chậm chạp, do đó, các tổ chức phi chính phủ và chính quyền địa phương nên tổ chức các chương trình đào tạo, hỗ trợ tư vấn kinh doanh, hỗ trợ phát triển các kỹ năng, nghiệp vụ,… để giúp cộng đồng nâng cao kiến thức và năng lực, nâng cao tính tự tin để sẵn sàng tham gia dự án, cải thiện năng lực quản lý và điều hành,…
Trang 291.7 Bài học kinh nghiệm hoạt động du lịch cộng đồng
1.7.1 Trên thế giới
Sabah (Malaysia) là nơi cư trú của 1,8 triệu dân do hơn 30 nhóm dân tộc bản địa hợp thành Do du lịch ở Malaysia đã và đang phát triển trên quy mô khá rộng, đặc biệt tập trung ở khu vực Sarawak, Sabah (trên đảo Borneo), nên người dân bản địa ở đây vừa là những người cung cấp dịch vụ du lịch, vừa tham gia trực tiếp trong hoạt động du lịch
Ở phía bắc của Sabah có nhóm dân tộc thiểu số Rungus, là một trong những cộng đồng dân tộc thiểu số lâu đời nhất vẫn còn sinh sống trong những ngôi nhà truyền thống ở Sabah (giống nhà rông của Việt Nam) Điều kiện sinh sống của tộc người này còn nhiều khó khăn, kém phát triển và nghèo nhất ở Malaysia Người dân sống bằng nghề trồng trọt là chính Những lớp thanh niên trẻ được đào tạo thường b đi đến các thị trấn ở Kudat, Kota Kinabalu để mưu sinh
Ý tưởng phát triển DLCĐ nơi người Rungus sinh sống bắt đầu từ năm 1992 Nhân dịp lễ hội được tổ chức ở Malaysia, U ban Hợp tác Xúc tiến Du lịch Sabah (STPC) đã đưa một nhóm người dân tộc Rungus đến Kuala Lumpur để xây dựng kiểu nhà dài truyền thống (longhouse) ở ngoài khu vực mua sắm STPC nhận thấy khu vực người Rungus sinh sống ở Bavanggazo rất giàu về văn hoá, có tiềm năng
du lịch văn hoá và du lịch có thể tạo ra nhiều việc làm và tạo nguồn thu nhập cho dân làng Những người Rungus cũng rất dễ tiếp thu, họ nồng nhiệt và dễ gần gũi với khách tham quan
Sự quảng cáo tốt và mối quan tâm lớn của khách tham quan, du lịch đến với lễ hội Malaysia đã truyền cảm hứng cho nhóm người Rungus xây dựng một cơ sở nhà trọ theo kiểu nhà dài truyền thống (longhouse) ở Sabah Họ đã nhận được sự hỗ trợ của STPC, sự hỗ trợ tài chính của 8 công ty điều hành tour du lịch địa phương như Api Tours, Borneo Eco Tours, Borneo Endeavour, Borneo Memories, Exotic Borneo, Popular express, Sankita tours và Transborneo tours thử làm du lịch
Trang 30Nhà ngh có kiến trúc dài truyền thống (longhouse) có 10 phòng được xây dựng bằng những nguyên vật liệu địa phương do 10 hộ gia đình tự nguyện hợp tác Nhà trọ được đặt tên là Rungus Bavanggazo ở bên một dòng sông nh đi qua làng
Về tổ chức được dựng lên dưới hình thức HTX
Lợi ích của cộng đồng:
Mỗi hộ gia đình dành một phòng để đón khách du lịch Khách sẽ được phân bố luân phiên để cho mỗi hộ gia đình đều có cơ hội có thu nhập với giá 10 RM (4USD/khách)
Mỗi hộ gia đình đóng góp 1 RM vào Quỹ cộng đồng của HTX để chi cho mục đích phát triển du lịch chung Phí tham quan là 2 RM/khách sẽ do HTX thu Việc
tổ chức các tiết văn hóa dân gian theo yêu cầu của khách du lịch sẽ thu lại cho HTX từ 80 RM đến 200 RM Ch có những người dân trực tiếp tham gia sẽ có được một phần từ thu nhập này Mỗi hộ gia đình tham gia HTX được phép bán các đồ thủ công mỹ nghệ trong nhà dài nhưng HTX sẽ không thu lại từ hoạt động kinh doanh này
Thời gian đầu, họat động du lịch diễn ra không được suôn sẻ như mong muốn của những người dân Rungus vì họ thiếu nhiều kinh nghiệm và kỹ năng kinh doanh, tổ chức du lịch Ví dụ, như năm 1995 họ xây dựng thêm một nhà trọ kiểu tương tự như vậy với hy vọng là nhiều khách du lịch sẽ đến đó để xem nhật thực toàn phần Mặc dù thông tin về nhật thực toàn phần đã được STPC, các công ty điều hành tour Malaysia tuyên truyền rộng rãi nhưng ở Rungus lượng khách du lịch đến vẫn ít vì những lý do như: các tiện nghi vật chất, bao gồm cả khu vệ sinh công cộng, đã không được đảm bảo do HTX không có đủ nguồn vốn Việc bảo dưỡng nhà trọ Rungus Bavanggazo, khu vực công cộng, vườn hoa, đường sá chủ yếu ch
do một số hộ gia đình đảm nhận Thu nhập mới từ kinh doanh du lịch đã làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các hộ gia đình và kết quả là những mối quan tâm của họ đến du lịch đã giảm đi
Sự hợp tác hỗ trợ của doanh nghiệp du lịch:
Khu du lịch Bavanggazo đã được Công ty Điều hành Tour sinh thái Borneo (Borneo Ecotours) giúp cải thiện tình trạng kinh doanh du lịch cho cộng đồng
Trang 31bằng việc thay đổi tên sản phẩm du lịch, nội dung sản phẩm du lịch, định giá cả, quản lý và tổ chức hoạt động du lịch, tăng cường marketing và quảng cáo, v.v
- Về p ẩ du lịch: để định vị lại vị trí của sản phẩm, tên của nhà trọ
Bavanggazo Rungus được rút gọn thành Bavanggazo Công ty Borneo Ecotours đã thuê thiết kế biểu tượng cho nhà trọ Bavanggazo để phản ánh tính độc đáo của nó Biểu tượng này và tên mới được đưa vào trong các ấn phẩm quảng cáo, đồ dùng văn phòng, đồ thủ công mỹ nghệ, danh thiếp và những sản phẩm khác được sử dụng với mục đích xúc tiến du lịch Rungus
- Về p ẩ du ị : Công ty Borneo Ecotours giúp cộng đồng tiến hành một số
thay đổi nội dung sản phẩm với chi phí thấp Ví dụ như nâng cao vòi hoa sen từ 1,2 lên 1,8 m để khách dễ dàng tắm vòi hoa sen hơn; thay tấm ván qua suối bằng cầu gỗ rộng 1,2m, sửa cầu thang để đảm bảo an toàn cho khách; nâng cấp đường vào nhà trọ và khu vực đỗ xe khách; nâng cấp cảnh quan bằng việc di rời phòng tắm ngoài trời và thùng rác trước nhà Để nâng cao ý tính độc đáo của sản phẩm, đèn dầu được thay thế sử dụng trong nhà; đồ thủ công mỹ nghệ địa phương được sử dụng để trang trí; mỗi phòng đều có thêm túi rác, khăn tắm, xô, gầu múc nước, dép
lê, nệm ngồi thay ghế; tất cả khách ngh qua đêm sẽ được mặc sa- rông, quần áo dân tộc của Malaysia
- Về ịnh giá s p ẩ và dị ụ : Công ty Borneo Ecotours đã đề xuất
với HTX xem xét lại giá dịch vụ du lịch do cộng đồng cung cấp và thảo luận với STPC là đơn vị hỗ trợ và khuyến khích phát triển nhà trọ kiểu này Với sự thoả thuận của HTX, phí tham quan được tăng lên từ 2 RM đến 35RM Giá trọn gói bao gồm tiền phí tham quan, một khăn làm quà tặng do chính người Rungus dệt, chuỗi hạt, một chai nước dừa tươi và 30 phút xem trình diễn văn nghệ truyền thống
Nếu khách ngh qua đêm, lưu trú sẽ tăng từ 17,5 RM/người thành 40,0 RM/người gồm ăn sáng, ăn tối Như thế, tổng chi phí ngh qua đêm cho một khách
du lịch đã tăng từ 19,5 RM (8USD) thành 75,0 RM (30USD)
- Về lý: trong một thời gian dài hoạt động ở Bavanggazo không có hệ
thống sổ sách đăng ký khách đến nhà trọ, biên lai lệ phí tham quan, lưu trú, ăn uống không được cung cấp và ghi lại thường xuyên Hệ thống kế toán không được
Trang 32xác lập theo thông lệ dẫn đến tình trạng mất tin lòng tin giữa các hộ gia đình tham gia dịch vụ du lịch
Để cải tiến hệ thống kế toán, Công ty Borneo Ecotours đã giúp để có được hệ thống sổ sách ghi chép và gửi một kế toán hỗ trợ, hướng dẫn hoạt động kế toán trong thời gian một tuần lễ
- Về tình tr ng ố : 3 năm sau khi khai trương, HTX vẫn chưa có
đủ kinh phí để hoạt động, đặc biệt để bảo dưỡng các tiện nghi dịch vụ Kinh doanh phòng trọ, trình diễn văn nghệ và bán hàng thủ công mỹ nghệ đã không tạo nhiều lợi nhuận chung cho HTX
Công ty Borneo Ecotours đã giúp cộng đồng đưa ra một hệ thống kinh doanh mới, theo đó HTX sẽ nắm toàn bộ việc kinh doanh lưu trú và bán hàng thủ công mỹ nghệ Từ đó HTX đã có thể hạch toán và có tiền để trả lương cho nhân viên trong
bộ khung và bảo dưỡng cơ sở lưu trú Các hộ gia đình tham gia các dịch vụ này cũng sẽ được chia sẻ lợi ích Kết quả là HTX có nguồn thu tăng từ 300 RM lên 2.800 RM trong vòng 2 tháng
Để tăng nguồn thu cho DLCĐ ở Bavanggazo, Công ty Borneo Ecotours với
tư cách là Chủ tịch Hội Sabah MATTA khuyến khích các thành viên của MATTA
là các hãng điều hành tour hỗ trợ bằng cách tổ chức tour trọn gói đến Bavanggazo Hội Sabah MATTA còn tổ chức đêm liên hoan để gây quĩ Toàn bộ 2.500
RM thu được từ hoạt động này được sử dụng để thiết kế biểu tượng, in ấn thư, hoá đơn, v.v Những toa lét công cộng và nhà tắm dùng vòi hoa sen trị giá 20.000 RM
do STPC đầu tư cũng được xây dựng
- Về kinh nghi m kinh doanh: Hội Sabah MATTA cũng tài trợ kinh phí cho Chủ tịch
HTX một chuyến đi du lịch 5 ngày tour học tập kinh nghiệm DLCĐ ở Sarawak cùng với 21 thành viên của MATTA Tour 5 ngày bao gồm chuyến đi đến hai nhà trọ khác nhau Iban ở sông Skrang và tham quan làng văn hoá Sarawak
- Về nhân viên: Để đảm bảo mọi người tham gia phục vụ khách
phù hợp với sự vận hành nhà trọ, 8 thành viên của HTX được lựa chọn tham gia 2 chuyến đi tham quan tại khu du lịch rừng mưa Sakau nhằm có được cái nhìn thực tiễn về việc vận hành một khu ngh cộng đồng như thế nào từ việc trồng cây ăn trái,
Trang 33quản gia nhà ngh và nhà hàng, đồng thời khích lệ họ thấy tiềm năng, lợi ích của
du lịch.Thông qua đó, những người dân Rungus có thêm kinh nghiệm kinh doanh và thực tiễn
- Về thống ặ p ng: Trước đó, các nhà điều hành tour phải đặt phòng ở
Bavanggazo qua một trong những đối tác có quan hệ không làm du lịch để chuyển thư từ, điện tin Đôi khi hướng dẫn viên phải đến tận Bavanggazo để đặt phòng trước vài ngày đến hàng tuần Trong nhiều trường hợp, hướng dẫn viên đến phút cuối mới xuất hiện cùng khách du lịch để đặt phòng Điều đó ảnh hưởng đến sự chủ động của hoạt động du lịch tại Bavanggazo trong việc chuẩn bị các dịch vụ và tổ chức màn trình diễn văn hóa truyền thống
Để hạn chế tình trạng này, một hệ thống thông tin liên lạc mới đã được lắp đặt, theo đó Công ty Borneo đã giúp HTX mua điện thoại di động và nhờ vậy mọi công ty điều hành tour có thể đặt phòng trực tiếp với nhà trọ Bavanggazo Danh thiếp địa ch , số điện thoại được in sẵn và phát cho tất cả các công ty điều hành tour
- Về marketing và xúc : Do điểm đến Bavanggazo không được
xây dựng hay quản lý bởi bất cứ công ty tour nào, giống như trường hợp khu du lịch Iban ở Sarawak, nên các nhà điều hành tour đã không lạc quan nhiều để xúc tiến du lịch Bavanggazo một cách tích cực hơn Một chuyến đi dài 3 - 4 giờ bằng đường bộ khá vất vả để đến được Bavanggazo đã làm giảm mối quan tâm của du khách và các công ty điều hành du lịch đến nơi này
Dự án của STPC đã giúp gửi thông tin về Bavanggazo đến tất cả các công
ty điều hành tour thông báo về phương thức liên hệ qua điện thoại mới được tạo dựng và giá tour tại Bavanggazo Dự án đã chụp ảnh, in ảnh trên bưu thiếp bán ở tất cả các shop bán đồ lưu niệm và bán ngay tại điểm đến Bavanggazo Dự án STPC cũng sử dụng ảnh điểm đến Bavanggazo, các khu nhà ngh để in trên ấn phẩm quảng cáo và báo chí
Những tour trọn gói mới được tổ chức với thêm nhiều dịch vụ hấp dẫn mới vì thế đến năm 1997, gần 100 khách đã đặt phòng ngh qua đêm qua các đại lý ở nước ngoài của các công ty điều hành tour Hội nghị du lịch sinh thái và mạo hiểm lần
Trang 34thứ 9 là một cơ hội hiếm có để người dân Rungus thể hiện sáng kiến của mình tại Bavanggazo
- Về phát ể các ịch ụ ổ sung: để kéo dài ngày lưu trú của khách du lịch tại
Bavanggazo, một số hoạt động khác đã được bổ sung Cộng đồng Rungus đã sắp đặt cho khách tham quan khu vực làng lân cận để họ chứng kiến cách làm mật ong
và làm chổi, làng làm cồng chiêng truyền thống; cho thuê 6 xe đạp để khách sử dụng trong khu vực làng Với khách du lịch thích ngh tại bãi biển sạch, vắng người thì họ có thể đến bãi tắm gần đó để tắm và ngh ngơi Con đường đi bộ trong rừng
45 phút đến đồi Gomantong, đ nh cao nhất của Kudat được đưa vào trong tour đến nhà trọ
Ví dụ về DLCĐ ở Bavanggazo cho thấy một số bài học kinh nghiệm sau:
- Khu du lịch Bavanggazo là một thí dụ chứng minh sự hợp tác tốt giữa cộng đồng địa phương, chính quyền và các công ty điều hành tour đã đem lại những kết quả và thay đổi trong hoạt động DLCĐ ở Bavanggazo
- Thực tế cho thấy người dân địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn khi tham gia hoạt động du lịch nếu không có được một số kinh nghiệm và kỹ năng cơ bản Kinh nghiệm quản lý điều hành điểm đến đáp ứng những nhu cầu đặc biệt của khách du lịch là rất quan trọng
- Tình trạng chưa tốt của hệ thống giao thông đến khu du lịch Bavanggazo là một trong số nguyên nhân quan trọng cản trở sự thành công của DLCĐ ở vùng sâu vùng xa Điều này đòi h i có sự hỗ trợ của các cấp chính quyền trong xây dựng CSHT du lịch
- Để đảm bảo tính bền vững của DLCĐ thì sự tham gia tích cực của người dân địa phương và sự u thác cho họ thực hiện là cần thiết, đặc biệt với du lịch vùng sâu, vùng xa, những nơi có tiềm năng du lịch nhưng chưa được phát triển Những công
ty điều hành tour cần có sự tham gia của cộng đồng để đảm bảo rằng chất lượng tour và tính xác thực, hấp dẫn của văn hoá bản địa Người dân địa phương sẽ không
có trách nhiệm cao nếu họ không thấy lợi ích của du lịch mang lại cho họ
- Người dân địa phương cần sự hướng dẫn và chia sẻ kinh nghiệm của các công ty điều hành tour để giúp họ tìm thị trường cho sản phẩm ở địa phương Các công ty
Trang 35sẽ đưa sản phẩm của địa phương vào các tour trọn gói Kinh nghiệm ở đây cũng cho thấy nếu thiếu sự hợp tác giữa cộng đồng và các công ty điều hành tour thì khả năng thành công của DLCĐ là rất thấp
- Nhờ sự cộng tác này mà khu du lịch Bavanggazo trở thành một điểm đến du lịch văn hoá - sinh thái mới có chất lượng và có tính độc đáo ở Sabah nói riêng và Malaysia nói chung
1.7.2 Một số địa phương ở Việt Nam
Vườn quốc gia Ba Bể nằm trong địa phận huyện Ba Bể, t nh Bắc Kạn, cách khoảng 150 km về phía tây bắc Hà Nội Ba Bể là một trong huyện nghèo của
t nh Bắc Kạn Năm 1988, Ban Quản lý VQG Ba Bể đã thành lập Phòng Du lịch với nhiệm vụ phát triển một loạt các hoạt động du lịch như xây dựng các tuyến đi bộ leo núi, các homestay ở các bản làng người dân tộc ở các bản Pác Ngòi và Bó Lù Năm 2002, khoảng 28.500 du khách trong đó có 8.500 khách du lịch nước ngoài đã lựa chọn ngh đêm tại một trong những bản này Ban đầu là các dịch vụ tự phát của một số gia đình phục vụ nhu cầu lưu trú và ăn uống của du khách những dịp du lịch
Ba Bể vào mùa cao điểm tại bản Pác Ngòi - ven hồ Ba Bể
Đến với bản văn hóa DLCĐ thôn Pác Ngòi (một bản cổ của dân tộc Tày) du khách sẽ được tìm hiểu bản sắc văn hóa, phong tục tập quán và hòa mình vào các làn điệu dân ca miền núi như hát then, si, lượn, múa khèn; tham gia lễ hội mùa xuân của các bản làng vào dịp tháng giêng âm lịch với các trò chơi dân gian độc đáo như: Tung còn, đua thuyền độc mộc, múa võ dân tộc, bắn cung, bắn n , đi cà kheo, bịt mắt bắt dê và thưởng thức các món ăn truyền thống của người tày như: Cá trứng nướng, Cá chép hồ Ba Bể, Lợn bản quay, Tép chua Ba Bể, Thịt lợn hun khói, Gà ta, măng nứa, rau rừng và rượu ngô men lá
Hiện nay bản Pác Ngòi có 95 hộ, trong đó có 20 hộ kinh doanh nhà ngh (homestay) và tại đây đã thành lập được 02 đội văn nghệ thường xuyên phục vụ du khách khi họ có nhu cầu Mỗi đội có từ 10 đến 20 người Nhờ đó đã duy trì và lưu giữ được những nét văn hóa đặc sắc của địa phương, thu hút đông đảo khách tham quan du lịch
Trang 36DLCĐ phát triển tại Ba Bể trong những năm qua đã đóng góp tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu lao động, xóa đói giảm nghèo, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân nơi đây được kinh doanh du lịch tại chính ngôi nhà của mình, mảnh đất mình đang sinh sống, đồng thời người dân cũng được giao lưu học h i, tiếp thu những giá trị văn hóa của các vùng miền, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, cảnh quan du lịch, bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa của dân tộc mình để từ đó phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương
Sáng kiến du lịch dựa vào cộng đồng tại khu vực Vườn quốc gia Ba Bể hỗ trợ rất nhiều cho công tác bảo tồn thiên nhiên và các bản sắc văn hóa Bản thân các thành viên trong cộng đồng được hưởng lợi ích kinh tế lớn từ hoạt động du lịch,
họ đã có ý thức chịu trách nhiệm về các chương trình vệ sinh môi trường cảnh quan, gìn giữ bản làng rất sạch sẽ và DLCĐ đã thực sự trở thành loại hình du lịch giữ vai trò chủ chốt và mang lại lợi ích cho cộng đồng Tuy nhiên, do thiếu vốn, đầu
tư chưa được quy mô và khoa học, trình độ ngoại ngữ, kiến thức văn hóa còn hạn chế nên DLCĐ tại Ba Bể chưa thực sự phát huy được hết thế mạnh của vùng “Nơi
áo chàm Hồ xanh Ba Bể” Nếu được ưu tiên hơn nữa và được quan tâm đúng mức, DLCĐ không ch có tác động tích cực đến sự phát triển du lịch ở Ba Bể nói riêng
mà sẽ đóng góp lớn cho sự phát triển chung của ngành du lịch Bắc Kạn
Những năm gần đây huyện Bắc Hà (Lào Cai) đã chú trọng phát triển “DLCĐ”, gắn liền khai thác với tôn tạo, bảo tồn vẻ đẹp thiên nhiên cùng các giá trị văn hóa
truyền thống đặc sắc của các dân tộc Mông, Dao, Tày Cũng từ hoạt động này, ời
ố người dân ư c nâng cao, góp p ầ ự vào công xóa ói,
gi m nghèo ở ị p ươ
Bắc Hà là huyện vùng cao nằm ở hướng đông bắc của t nh Lào Cai, có hơn
52 nghìn dân, thuộc 14 dân tộc, trong đó người Mông, Dao, Phù Lá, La Chí chiếm hơn 80% số dân, cư trú ở 236 thôn, bản của 21 xã, thị trấn Mỗi dân tộc, bản, làng nơi đây đều có những nét văn hóa riêng Chính bởi phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng và bản sắc văn hóa độc đáo, tinh tế đã tạo điều kiện để vùng đất này phát triển du lịch Thực hiện Chương trình phát triển dịch vụ-du lịch giai đoạn 2006-2010, huyện Bắc Hà hướng trọng tâm hoạt động vào “DLCĐ”
Trang 37Trong giai đoạn này, Bắc Hà huy động hơn 100 t đồng đầu tư xây dựng CSHT
du lịch, phát triển dịch vụ-du lịch khu vực trung tâm huyện và các điểm du lịch vệ tinh là các làng, bản; xây dựng làng, bản văn hóa gắn với phát triển DLCĐ và tổ chức các chương trình lễ hội văn hóa du lịch hằng năm Huyện cũng đầu tư phát triển và xây dựng thương hiệu cho các làng nghề truyền thống ở xã Bản Phố và Tả Van Chư, như nấu rượu ngô đặc sản, rèn đúc nông cụ, dệt thổ cẩm dân tộc Mông; đầu tư hơn 10 t đồng để mở và nâng cấp, đưa vào sử dụng hai tuyến đường du lịch: Bắc Hà-Na Hối-Bản Phố và Bắc Hà-Tả Chải-Bản Phố tới xã Bản Phố, xây dựng tuyến đường du lịch Tả Van Chư-Hang Rồng Nhù - Cồ Ván trị giá hơn năm
t đồng; hơn 800 triệu đồng xây dựng Làng văn hóa-du lịch đồng bào Mông xã Tả Van Chư Thôn Trung Đô, xã Bảo Nhai, một thôn có 82 hộ dân tộc Tày, 427 nhân khẩu hiện đang lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống giàu bản sắc, điển hình là lễ hội Lồng tồng, nơi đây còn có Đền thờ quốc công Vũ Văn Mật - di tích lịch sử, văn hóa quốc gia, tới nay, thôn Trung Đô đã có 35 hộ gia đình người Tày làm DLCĐ rất hiệu quả
Các hộ gia đình làm nhà sàn phục vụ du khách ngh ngơi tại nhà, làm dịch vụ
ẩm thực tại chợ văn hóa, thành lập các đội văn nghệ biểu diễn phục vụ khách du lịch Điển hình là nghệ nhân Vàng Seo Pao (thôn Na Kim) đã truyền dạy cho thanh niên nam nữ những điệu múa, điệu trống, kèn, hát giao duyên, thành lập đội xòe chuyên biểu diễn phục vụ các hoạt động văn hóa, văn nghệ của địa phương và phục vụ khách du lịch vào các ngày thứ bảy, chủ nhật hằng tuần, đem lại thu nhập ổn định
Sa Pa (Lào Cai) cũng là một trong những địa phương phát triển mạnh DLCĐ với các điểm du lịch bản làng được du khách tham quan nhiều như bản Cát Cát, Sín Chải, Lao Chải, Tả Van… Sự phát triển của DLCĐ ở Sa Pa đã góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc các làng bản Điển hình như bản Sín Chải, năm 2000 có tới 68% số hộ đói nghèo, đến nay ch còn 26% Các bản khác t lệ đói nghèo cũng giảm khá nhanh nhờ phát triển du lịch “Nâng cấp” xích lô thành sản phẩm du lịch Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) đang hỗ trợ cho Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch t nh Thừa Thiên-Huế tổ chức lại xích lô du lịch trên địa bàn theo mô hình DLCĐ, nhằm nâng xích lô du lịch thành
Trang 38một sản phẩm du lịch đậm bản sắc văn hoá Huế Theo thống kê của LĐLĐ TP Huế, hiện trên địa bàn TP có 232 chiếc xích lô (XL) thuộc 21 tổ tham gia dịch vụ vận chuyển khách du lịch Việc hình thành các tổ XL ban đầu là do một nhóm người thông qua quen biết tập hợp, hoạt động theo từng địa bàn riêng Các nhóm này hoạt động tự phát và độc lập, tự bảo vệ quyền lợi trong cạnh tranh với các tổ XL khác theo nguyên tắc XL ở địa bàn này không được dừng đón khách ở địa bàn khác
Những năm qua, ngành du lịch đã phối hợp với UBND TP Huế và các ngành liên quan nhiều lần tổ chức lại đội ngũ XL du lịch như: Mở các khoá tập huấn cho người lao động; thiết kế các mẫu XL du lịch mang đậm dấu ấn văn hoá Huế; cung cấp trang phục và vận động các doanh nghiệp kinh doanh du lịch hỗ trợ kinh phí sửa chữa, nâng cấp chất lượng XL theo mẫu thiết kế; bố trí bến bãi đậu
xe Đặc biệt năm 2004, Sở Du lịch phối hợp với LĐLĐ TP Huế thành lập Nghiệp đoàn Xích lô du lịch Mới đây, UBND t nh Thừa Thiên-Huế đã giao cho Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch xây dựng đề án "Tổ chức XL du lịch theo mô hình DLCĐ" để chấn ch nh hoạt động của các tổ XL tự quản, tiến tới hình thành những
tổ XL chuyên phục vụ khách du lịch
Đảo Cò Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện, Hải Dương sau 3 năm
Nam là một xã của huyện Thanh Miện nằm ở phía Nam của t nh, trong không gian thuận lợi để phát triển loại hình du lịch sinh thái cộng đồng Vốn là vùng ngập nước ven sông Hồng, có các đầm hồ rộng, trong đó kết hợp với các điểm tài nguyên du lịch lân cận có giá trị như: Đền Khúc Thừa Dụ, đền Tranh, làng nghề làm bánh gai, làm bánh đa, loại hình múa rối nước Hồng Phong…tạo nên sản phẩm du lịch sinh thái cộng đồng hấp dẫn du khách
Ngày 6 11 2012 UBND t nh Hải Dương chính thức ban hành Quyết định số
2552 QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án xây dựng mô hình điểm Phát triển Du lịch cộng đồng ở Đảo Cò Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện đến năm 2020 Quyết định số 2552 đã tạo ra một trang mới cho sự phát triển du lịch cộng đồng ở Đảo Cò
Trang 39Trong suốt thời gian 3 năm, được sự quan tâm của các cấp chính quyền, các hộ dân làm du lịch homestay đã được đào tạo, bồi dưỡng nhiều kiến thức bổ ích, những kỹ năng nghiệp vụ phục vụ khách du lịch như các lớp: Kỹ năng giao tiếp với khách du lịch; kiến thức thuyết minh, hướng dẫn khách; nghiệp vụ buồng, phòng, làm vệ sinh; nghiệp vụ xây dựng sản phẩm du lịch; cách tính giá thành sản phẩm; cách tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí cho khách du lịch; kỹ thuật nấu ăn, chế biến các món ăn phục vụ cho khách nước ngoài từ các nguyên liệu, thực phẩm của địa phương; kiến thức về vệ sinh, an toàn thực phẩm; kiến thức về phòng cháy chữa cháy…Ngoài các lớp tập huấn, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã tổ chức 3 chương trình famtrip về tuyến du lịch sinh thái cộng đồng Đảo Cò cho các doanh nghiệp lữ hành và cơ quan truyền thông để quảng bá xúc tiến du lịch Thông qua việc tổ chức chương trình để giới thiệu đến các doanh nghiệp lữ hành những sản phẩm du lịch mới của Hải Dương; đề xuất vốn đầu tư cơ sở hạ tầng để Sở Kế hoạch
và Đầu tư bố trí kế hoạch vốn
Bên cạnh vai trò của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các sở, ngành liên quan thì vai trò của UBND huyện Thanh Miện cũng góp phần tạo nên những kết quả tốt đẹp Sau 3 năm thực hiện đề án, UBND huyện Thanh Miện đã quan tâm kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý khu du lịch, đã thành lập 2 Ban quản lý liên quan: Ban quản lý dự án du lịch và bảo tồn sinh thái Đảo Cò và Ban quản lý khu Di tích Quốc gia Danh lam thắng cảnh Đảo Cò xã Chi Lăng Nam Đầu tư tôn tạo một số công trình tại khu vực Đảo Cò bao gồm Chùa Nam; Nhà Trung tâm giáo dục môi trường, khu vực sân chùa, cây đa, bến thuyền; lập Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng khu
du lịch Đảo Cò Dự án được UBND t nh phê duyệt tổng kinh phí 45 t đồng cho giai đoạn 2016 – 2020; ngoài 2 nhà ngh hiện có (nhà ngh Thanh Lịch và nhà ngh Đảo Cò) với tổng số 36 phòng ngh đã phát triển thêm được một số homestay Dịch
vụ ăn uống xung quanh Đảo Cò phát triển nhanh, tính đến nay đã có 5 nhà hàng chuyên phục vụ khách du lịch ăn uống Bên cạnh đó UBND xã Chi Lăng Nam còn kiện toàn lại tổ chức, xây dựng qui chế hoạt động của tổ dịch vụ; bài trí lại nhà trưng bày và đảm bảo vệ sinh môi trường khu du lịch Đảo Cò; triển khai việc ký
Trang 40cam kết với các hộ thôn An Dương về việc thực hiện qui chế quản lý khu du lịch của UBND huyện
Nhờ những nỗ lực trên tình hình kinh doanh du lịch đã có những thay đổi rõ rệt Khách du lịch tăng từ 30.000 lượt năm 2011 lên 45.000 lượt năm 2015, giai đoạn 2012 – 2015 tăng trưởng khoảng 14,5% năm Thị trường khách nội địa chủ yếu là khách trong t nh và các t nh Hưng Yên, Hà Nội, Hải Phòng Trong đó 25% là khách đi theo tour của các doanh nghiệp lữ hành, 75% khách tự đến
Từ năm 2013 đã có một lượng nh khách quốc tế của một số doanh nghiệp
lữ hành ở Hà Nội đi theo các tour Tràng An, Bái Đính (Ninh Bình) – Phố Hiến (Hưng Yên) - Đảo Cò - Hạ Long đến ở các homestay Mặc dù số lượng khách còn hạn chế nhưng đây là dấu hiệu khả quan để phát triển sản phẩm du lịch sinh thái cộng đồng
Giai đoạn 2012 – 2015, theo số liệu của Ban Quản lý Đảo Cò, doanh thu của Ban quản lý từ các hoạt động thu vé tham quan, chèo thuyền, trông giữ xe đạt khoảng 400 triệu đồng năm; doanh thu của các hộ kinh doanh ăn uống, lưu trú, bán hàng lưu niệm ước đạt trên 1 t đồng Do dịch vụ còn hạn chế nên doanh thu du lịch còn thấp, chủ yếu là phí tham quan, trông giữ xe và chèo thuyền, ăn uống, lưu trú
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì vẫn tồn tại nhiều hạn chế như chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế; sản phẩm du lịch chưa thật sự đa dạng và còn nghèo nàn Tốc độ tăng trưởng về lượng khách cũng như doanh thu chưa cao Công tác quy hoạch du lịch, quản lý quy hoạch còn hạn chế; chưa thực hiện được việc kè giữ Đảo Cò nên đảo ngày càng bị sói lở, diện tích thu hẹp, cây trên đảo không phát triển được trong khi số lượng cò vạc ngày càng đông Đây là dấu hiệu phát triển không bền vững cần sớm được khắc phục
Các cơ quan quản lý địa phương chưa phát huy hết vai trò, chức năng nhiệm
vụ trong công tác quản lý và tổ chức hoạt động ở khu du lịch Đảo Cò Chưa tạo được sự liên kết chặt chẽ giữa Ban quản lý với các homestay trong việc điều phối khách và quảng bá dịch vụ của các homestay với khách đến thăm quan Đảo Cò