1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc dao tinh phú thọ hiện nay

113 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Nghiên cứu về nhân tố chủ quan, về văn hóa dân tộc Dao đã được sự quan tâm của nhiều học giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể chia các công trình nghiê

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



LÊ THỊ HỒNG ĐÀO

VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA

DÂN TỘC DAO TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN THÚY VÂN

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thúy Vân

Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Tác giả luận văn

Lê Thị Hồng Đào

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC DAO Ở PHÚ THỌ HIỆN NAY 13

1.1 Nhân tố chủ quan và vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 13

1.1.1 Khái niệm: “nhân tố chủ quan” 13

1.1.2 Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc 18

1.1.3 Vai trò của nhân tố chủ quan trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 29

1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ 36

1.2.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội và lịch sử của dân tộc Dao ở Phú Thọ 36

1.2.2 Bản sắc văn hóa của người Dao ở Phú Thọ 42

Chương 2 VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC DAO TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 56

2.1 Thực trạng vai trò của nhân tố chủ quan trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ 56

2.1.1 Thực trạng hoạt động của các chủ thể lãnh đạo đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ 56

2.1.2 Thực trạng hoạt động của những người chủ di sản đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ 64

2.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao tỉnh Phú Thọ 73

2.3 Phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ hiện nay 79

Trang 5

2.3.1 Yêu cầu của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Dao ở Phú Thọ 79

2.3.2 Phương hướng của việc nâng cao vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao tỉnh Phú Thọ hiện nay 82

2.3.3 Giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao tỉnh Phú Thọ hiện nay 87

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 107

Trang 6

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

PT - TH: Phát thanh - truyền hình TT&TT: Thông tin và Truyền thông

VH - TT&DL: Văn hóa - Thể thao và Du lịch VHNTDG: Văn học nghệ thuật dân gian

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta có 54 dân tộc cùng cư trú, mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng của mình được kết tinh cùng với lịch sử dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển Cùng với dòng chảy thời gian và những biến động của lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc cũng vận động và biến đổi theo những quy luật nhất định với sự đan xen giữa các yếu tố mới và cũ để làm nên những nét độc đáo rất riêng của mỗi dân tộc và góp phần tạo nên bản sắc văn hóa chung của cả dân tộc Việt Nam

Ngày nay, đứng trước xu thế toàn cầu hóa, các quốc gia dân tộc trên thế giới vừa có cơ hội để phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, có cơ hội giao lưu

và tạo thêm nhiều giá trị văn hóa mới làm giàu thêm cho bản sắc văn hóa của dân tộc mình, đồng thời những nguy cơ về sự đồng hóa văn hóa, sự đánh mất bản sắc văn hóa và sự bất bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa cũng xuất hiện Hơn nữa, các thế lực thù địch vẫn luôn tiến hành âm mưu diễn biến hòa bình, đặc biệt là trên mặt trận văn hóa - tư tưởng nhằm chống lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Do vậy, việc khẳng định hệ giá trị văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc đang là vấn đề cấp thiết, vừa có tính thời sự, vừa có tính lâu dài với nước ta Trong nhiều văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước đã đề ra chủ trương, giải pháp cụ thể về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương: Phải tiếp tục cụ thể bằng hệ thống các chính sách mạnh, tạo điều kiện cần thiết để văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam

Trang 8

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa ở nước ta, nếu các điều kiện khách quan là yếu tố quy định nên các đặc điểm và nội dung của văn hóa thì nhân tố chủ quan đóng vai trò thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của các yếu tố văn hóa Nhân tố chủ quan có thể kể đến như: sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý điều hành của Nhà nước và các đoàn thể nhân dân nhằm xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh Đặc biệt, sự sáng tạo của quần chúng nhân dân chính là yếu tố cơ bản của sự tồn tại và phát triển văn hóa, là chủ nhân thực sự của nền văn hóa dân tộc trong mọi thời đại

Người Dao là một trong 54 dân tộc anh em sinh sống ở Việt Nam, với nhiều nhóm khác nhau, cư trú tại các bản động vùng sâu, vùng xa thuộc nhiều vùng, miền của đất nước trong đó có nhóm Dao Tiền và Dao Quần Chẹt định

cư ở Phú Thọ Mặc dù số lượng cư dân không lớn, song dân tộc Dao vẫn giữ được nét văn hóa độc đáo của mình, không bị trộn lẫn với bất cứ dân tộc nào khác ở địa hình tỉnh trung du và miền núi như Phú Thọ, sự phong phú về cảnh quan, môi trường đã tác động lớn đến đời sống văn hóa người Dao nơi đây, làm nên những nét văn hóa dân gian khá đa dạng của người Dao như lễ hội, trang phục, thơ, ca, tín ngưỡng, các điệu múa… mang đậm triết lý nhân sinh Tuy nhiên, trước những biến đổi không ngừng của hiện thực, trong sự phát triển kinh tế và bối cảnh toàn cầu hóa đã làm biến thái và mai một ít nhiều các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Dao Trong những nguyên nhân dẫn tới sự biến đổi đó, có nguyên nhân quan trọng nằm trong chính bản thân con người, những chủ nhân thực sự kế thừa văn hóa của dân tộc ấy Cho nên, việc bồi dưỡng, nâng cao nhận thức và vai trò lãnh, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân; giáo dục ý thức, tinh thần chủ động giữ gìn, phát huy tinh hoa văn hóa của mỗi tộc người, mỗi người dân là hết sức cần thiết

Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao tỉnh Phú

Trang 9

Thọ hiện nay” để nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ chuyên ngành Triết học

của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về nhân tố chủ quan, về văn hóa dân tộc Dao đã được sự quan tâm của nhiều học giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể chia các công trình nghiên cứu này thành những mảng sau:

- Những nghiên cứu về nhân tố chủ quan và vai trò của nhân tố chủ quan trong hoạt động thực tiễn:

+ Nghiên cứu về nhân tố chủ quan và phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong hoạt động thực tiễn được nhiều học giả quan tâm, có thể kể ra một

số công trình nghiên cứu và bài viết sau đây: “Điều kiện khách quan và nhân

tố chủ quan trong xây dựng con người mới ở Việt Nam”, Luận án Phó tiến sĩ

của Nguyễn Thế Kiệt, Hà Nội, 1988; “Phát huy vai trò của nhân tố chủ quan

trong việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc

sĩ của Phạm Thị Phương Thảo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà

Nội, 2001; “Phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong hoạt động của hệ

thống chính trị cấp cơ sở ở Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay”, Luận án Tiến sĩ của

Nguyễn Hồng Lương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,

2005; “Những yếu tố cơ bản làm tăng cường chất lượng của nhân tố chủ

quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội” của Trần Bảo, Tạp chí Triết học số 3

tháng 9/1991; “Một cách tiếp cận về cặp phạm trù “điều kiện khách quan” và

“nhân tố chủ quan” của Phạm Văn Nhuận, Tạp chí Triết học số 6 tháng

6/1999

+ Các công trình, bài viết của các tác giả này đã xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng để xem xét cái khách quan, chủ quan, nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan, quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân

tố chủ quan, vấn đề phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, của quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa

Trang 10

- Các công trình nghiên cứu về văn hóa và văn hóa các dân tộc thiểu

số nói chung:

+ Dưới góc độ triết học có các công trình, bài viết như: Vũ Thị Kim

Dung, Cách tiếp cận vấn đề văn hóa theo quan điểm triết học Mác, Tạp chí Triết học, số 1/1998; Vũ Đức Khiển, Văn hóa với tư cách một khái niệm triết

học và vấn đề xác định bản sắc văn hóa dân tộc, Tạp chí Triết học, số 6/2000;

Nguyễn Huy Hoàng, Văn hóa trong nhận thức duy vật lịch sử của Các Mác, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000 và Mấy vấn đề triết học văn hóa, Nxb

Văn hóa Thông tin, Viện Văn hóa, Hà Nội, 2002

+ Các công trình, bài viết về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển

như: Chương trình nghiên cứu cấp nhà nước KX.06, "Văn hóa, văn minh vì sự

phát triển và tiến bộ xã hội"; Trần Ngọc Hiên, "Văn hóa và phát triển - từ góc nhìn Việt Nam", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993; Phạm Văn Đồng, "Văn hóa và đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Phạm Xuân Nam,

"Văn hóa vì sự phát triển", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998

+ Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có: Lò Giàng Páo, "Tìm

hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số", Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997

Ngô Văn Lệ, "Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam", Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998 Nguyễn Khoa Điềm, "Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số

trong cuộc sống hôm nay", Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 7/2000 “Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người”, Nxb Văn hóa Dân tộc, Tạp chí văn

hóa nghệ thuật Hà Nội, 2003 “Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Thái ở Tây Bắc hiện nay (qua thực tế ở tỉnh Sơn La)”, Luận văn thạc sĩ triết

học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006 của Phạm Thị Thảo…

+ Các công trình nghiên cứu này cũng đã xem xét, nghiên cứu về văn hóa theo quan điểm duy vật biện chứng, mối quan hệ giữa văn hóa với sự phát triển và tiến bộ xã hội, văn hóa của các dân tộc thiểu số trong mối quan hệ với

sự phát triển và tiến bộ xã hội, tiến lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề giữ gìn và

Trang 11

phát huy bản sắc văn hóa của các tộc người trong sự vận động và phát triển của dân tộc

- Những công trình, bài viết về văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ:

+ Nguyễn Hữu Nhàn “Lịch sử người Dao ở Phú Thọ”, Sở Văn hóa

Thông tin Thể thao và Hội Văn nghệ Dân gian Phú Thọ, 2002 Trần Quang,

“Từ việc nghiên cứu phong tục, tập quán dân tộc Mường, Dao nghĩ về cuộc vận động xây dựng nếp sống mới với đồng bào dân tộc ít người”, Tổng tập

VNDG đất tổ, Sở Văn hóa Thông tin Thể thao và Hội Văn nghệ Dân gian Phú

Thọ, 2002 Nguyễn Tham Thiện Kế, “Trang phục của người Dao và của

nhóm Dao Tiền”, Sở Văn hóa Thông tin Thể thao và Hội Văn nghệ Dân gian

Phú Thọ, 2002 Đặng Xuân Tuyên, “Tục cấp sắc của người Dao quần chẹt

dưới chân núi Vọ”, Sở Văn hóa Thông tin Thể thao và Hội Văn nghệ Dân

gian Phú Thọ, 2002

+ Những công trình, bài viết trên đã tìm hiểu được lịch sử của người Dao ở Phú Thọ, những nét văn hóa đặc thù của dân tộc Dao, giới thiệu được những phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục… truyền thống của người Dao

ở Phú Thọ

Các công trình trên đã làm rõ được một số nội dung cơ bản về nhân tố chủ quan, mối quan hệ giữa nhân tố chủ quan với điều kiện khách quan, về văn hoá, văn hoá dân tộc Dao, về mối quan hệ giữa các yếu tố khách quan với văn hóa, đề cập tới vai trò của nhân tố chủ quan trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề:

“Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở tỉnh Phú Thọ hiện nay” Đó chính là hướng nghiên cứu chính

mà đề tài muốn tiếp cận

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích của luận văn:

- Trên cơ sở hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về nhân tố chủ quan và vai trò của nhân tố chủ quan; về các giá trị văn hoá dân tộc Dao ở

Trang 12

Phú Thọ, luận văn đi vào phân tích thực trạng vai trò của nhân tố chủ quan với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Dao ở Phú Thọ, từ

đó đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn:

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về nhân tố chủ quan và vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

- Trình bày các điều kiện cho sự ra đời của văn hóa Dao, chỉ ra nét đặc thù của văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ

- Phân tích thực trạng vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ

- Nêu một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: vai trò của nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao

Phạm vi nghiên cứu: dân tộc Dao ở Tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận:

- Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

- Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã công bố có nội dung liên quan đến luận văn

Trang 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, lý giải, làm rõ các vấn đề như : lịch sử

và logic, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, khái quát hóa, trừu tượng hóa

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần tìm hiểu những nét văn hóa đặc thù của dân tộc Dao ở Phú Thọ

- Tìm hiểu thực trạng vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc Dao ở tỉnh Phú Thọ

- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

có 2 chương, 5 tiết:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhân tố chủ quan trong việc giữ

gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở tỉnh Phú Thọ hiện nay

Chương 2: Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn và phát huy

bản sắc văn hóa dân tộc Dao tỉnh Phú Thọ hiện nay: Thực trạng và giải pháp

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC DAO

Ở PHÚ THỌ HIỆN NAY

1.1 Nhân tố chủ quan và vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

1.1.1 Khái niệm: “nhân tố chủ quan”

Mọi quá trình vận động và phát triển của xã hội đều diễn ra thông qua

sự tác động của cái khách quan và cái chủ quan, mà nội dung cơ bản của nó chính là sự tác động qua lại giữa tính quyết định của cái khách quan và tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình hoạt động cải tạo thế giới của nhân tố chủ quan của con người Để làm rõ nội hàm khái niệm “nhân tố chủ quan” trước hết cần làm rõ một số khái niệm có liên quan gần đến nó như các khái niệm: “chủ quan”, “khách quan”, “chủ thể”, “khách thể”

- Khái niệm “chủ quan”, “khách quan”, “chủ thể”, “khách thể”

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “chủ quan”, tuy nhiên từ cách tiếp cận triết học có thể hiểu: “Chủ quan là ý thức của chủ thể” [44, tr.192] Hoặc: “Chủ quan là những gì thuộc về chỉ đạo hoạt động của chủ thể” [51, tr.92]

Có lẽ, hiểu cái chủ quan theo cách hiểu thứ hai sẽ chính xác hơn, vì khi xem xét các hoạt động của con người với những sản phẩm của họat động đó đều thấy: chúng bao giờ cũng chứa đựng những dấu ấn của cái chủ quan Tất nhiên không thể coi tất cả những cái mang dấu ấn chủ quan đều thuộc về cái chủ quan Hơn nữa, cái chủ quan cũng không chỉ đơn thuần chỉ là ý thức như một số học giả quan niệm mà nó còn bao gồm cả yếu tố thể lực, yếu tố tinh thần như: tri thức, tình cảm, ý chí… của con người, và chính cả bản thân hoạt

Trang 15

động của con người nữa Như vậy, có thể khẳng định: chủ quan là tất cả

những gì thuộc về chủ thể và phụ thuộc vào chủ thể

Về phạm trù “khách quan”, cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Từ cách tiếp cận triết học khái niệm khách quan được hiểu là những gì tồn tại không phụ thuộc vào ý thức con người, tồn tại một cách tự nó, theo những quy luật tất yếu trong hiện thực Trên thực tế, khi muốn khẳng định cái gì là khách quan phải đặt nó trong mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể Khách

quan được hiểu là tất cả những gì tồn tại ngoài chủ thể và không phụ thuộc

vào ý thức, ý chí của chủ thể

Vậy “chủ thể”, “khách thể” là gì?

Có học giả cho rằng “Chủ thể là con người (cá nhân hoặc nhóm) tiến hành hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn” [51, tr.92] Có học giả lại khẳng định “Chủ thể là con người có ý thức, ý chí và đối lập với khách thể bên ngoài” [51, tr.192]

Con người với tư cách là chủ thể, là con người thực tiễn, con người hành động, với đặc trưng cơ bản là năng lực hoạt động sáng tạo khách thể (bao gồm tự nhiên, xã hội) và chỉ trong quá trình nhận thức, cải tạo giới tự nhiên và cải tạo đời sống xã hội thì con người mới bộc lộ mình với tư cách là chủ thể của lịch sử

Như vậy, có thể hiểu: “chủ thể” - đó là con người với những cấp độ khác nhau (có thể là cá nhân, nhóm hay cả một giai cấp) đã và đang thực hiện một quá trình hoạt động nhằm cải tạo khách thể tương ứng Và nếu hiểu “chủ thể” như vậy thì cũng có thể hiểu “khách thể” - là tất cả những gì mà chủ thể hướng vào nhằm nhận thức và cải tạo nó

Theo cách hiểu này khách thể chỉ là một bộ phận của thế giới khách quan, được con người hướng vào nhận thức và cải tạo Khách thể có thể là những hiện tượng, quá trình của giới tự nhiên, cũng có thể là những gì con

Trang 16

người tạo ra trong hoạt động lao động sản xuất, là các quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội…

Chủ thể và khách thể có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, quy định lẫn nhau, mặt này làm tiền đề cho mặt kia Chủ thể nhận thức và cải tạo khách thể một cách tích cực và sáng tạo theo mục đích của mình, nhưng chính khách thể lại quy định chủ thể, vì khách thể tồn tại độc lập với chủ thể và luôn vận động theo các quy luật vốn có một cách khách quan, do vậy, chủ thể phải nhận thức

và hành động theo đúng quy luật của khách thể mới đem lại hiệu quả tích cực

Trong quá trình hoạt động thực tiễn, chủ thể khi tác động lên khách thể

và biến đổi nó theo mục đích của mình Không phải lúc nào chủ thể cũng sử dụng tất cả năng lực, phẩm chất, yếu tố vốn có của mình mà chỉ huy đông một phần, một bộ phận các yếu tố tạo thành cái chủ quan trong quá trình tương tác với khách thể, cái đó tạo thành “nhân tố chủ quan”

- Khái niệm “nhân tố chủ quan”

Về khái niệm “nhân tố chủ quan” đã có nhiều quan điểm với những nội dung và mức độ khái quát khác nhau Có ý kiến đồng nhất NTCQ với hoạt động có ý thức của con người nói chung Có quan niệm lại đồng nhất NTCQ với ý thức, tư tưởng xã hội hay hoạt động tự giác của con người Những quan niệm trên đây có tính hợp lý ở chỗ đã chỉ ra vai trò của ý thức, tính tự giác trong hoạt động của con người Nhưng chính sự nhấn mạnh này lại rất dễ dẫn đến tình trạng “chủ quan hóa” hoạt động của con người Về vấn đề này A.K.V Leđôp đã viết: “…Nhân tố chủ quan không phải là ý thức nói chung (cũng hệt như hoạt động), mà là cái ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kích thích và phương châm của hoạt động Nói cách khác là ý thức đã biến thành đặc điểm nhất định của hành vi, của hoạt động của chủ thể” [60, tr.69]

Như vậy, giữa NTCQ và chủ thể có sự thống nhất nhưng không đồng nhất Sự thống nhất biểu hiện ở chỗ: nhân tố chủ quan thuộc về chủ thể, song khác nhau ở chỗ: nhân tố chủ quan là khái niệm chung chỉ những yếu tố, đặc

Trang 17

trưng cấu thành phẩm chất của chủ thể, được chủ thể huy động và trực tiếp tạo ra năng lực cũng như động lực của chủ thể nhằm nhận thức hoặc biến đổi khách thể cụ thể Vì vậy, A.K.V Le đôp khẳng định: “…Không phải chính các giai cấp, tập đoàn, đảng phái, nhà nước… mà là những thuộc tính, những phẩm chất, những trạng thái của chúng biểu hiện trong hoạt động đóng vai trò nhân tố chủ quan” [60, tr.67]

Theo cách tiếp cận của triết học Mác-Lênin, có thể hiểu:

“Nhân tố chủ quan là những gì thuộc về chủ thể (thuộc về con người), tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động của chủ thể và cả bản thân hoạt động đó” [32, tr.16]

Như vậy, NTCQ không phải là mọi yếu tố tạo thành cái chủ quan, mà

nó chỉ là cái trực tiếp tham gia vào hoạt động của chủ thể, NTCQ là một bộ phận của cái chủ quan được chủ thể huy động sử dụng trực tiếp trong quá trình tác động lên khách thể của chủ thể NTCQ không phải là ý thức nói chung của chủ thể, mà nó là ý thức trực tiếp chỉ đạo hoạt động của chủ thể Ngoài các yếu tố như năng lực thể chất, ý thức chỉ đạo và định hướng hoạt động thực tiễn thì NTCQ còn bao hàm ngay cả bản thân hoạt động đó nữa, nếu thiếu hoạt động của con người sẽ không thay đổi được hiện thực và không thể trở thành NTCQ

Cũng cần lưu ý: khái niệm NTCQ cũng không đồng nhất với khái niệm nhân tố con người Nhân tố con người là tất cả những gì thuộc về con người trong hoạt động cải tạo thế giới, NTCQ có phạm vi hẹp hơn nhân tố con người vì nó chỉ thể hiện vai trò của chủ thể trong một hoạt động xác định

Về mặt cấu trúc, NTCQ bao gồm: Tri thức, ý thức, tình cảm và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn của chủ thể, được biểu hiện ra trong hoạt động của chủ thể Những phẩm chất này bao giờ cũng có hai mặt tích cực hoặc tiêu cực Trong cấu trúc của NTCQ, các nhân tố cấu thành đều có vai trò quan trọng và có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đa số các nhà nghiên cứu cho

Trang 18

rằng nhân tố tri thức là cơ bản nhất vì nó là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh của ý thức chủ thể

Tri thức, quan điểm tư tưởng sẽ tạo niềm tin của chủ thể trong hoạt động, là ý chí quyết tâm của chủ thể trong quá trình cải tạo thế giới ý thức của chủ thể tồn tại với tư cách là yếu tố của NTCQ, là bộ phận ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kích thích và phương châm của hoạt động Khi tri thức, quan điểm, niềm tin và ý chí của chủ thể hòa quyện và thống nhất biện chứng với nhau sẽ tạo thành nhân tố chủ quan

Nói tới NTCQ là nói tới hoạt động có ý thức của chủ thể để sáng tạo ra lịch sử, là nói tới những hoạt động thực tiễn của họ để giải quyết những nhiệm vụ lịch sử nhất định Mác viết: “Tư tưởng căn bản không thực hiện được gì hết Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [34, tr.76] Như vậy cấu thành NTCQ còn bao gồm cả quá trình hoạt động thực tiễn của chủ thể đối với một khách thể xác định

Gắn liền với khái niệm NTCQ cũng cần làm rõ về “điều kiện khách quan” Khi nói tới ĐKKQ, các học giả cũng đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau như “ĐKKQ là những gì tạo nên một hoàn cảnh hiện thực”, “ĐKKQ là một phần của cái khách quan”, tuy nhiên, nó đều thống nhất với nhau ở một quan điểm cơ bản là: “ĐKKQ là những gì tồn tại không phụ thuộc vào ý thức,

ý chí của chủ thể và chi phối hoạt động của chủ thể” [31, tr.16]

Chúng tôi thống nhất với quan điểm: ĐKKQ là tổng thể những mặt, những nhân tố tạo nên hoàn cảnh hiện thực, trong đó chủ thể sống và thực hiện mọi hoạt động ở những thời điểm nhất định

ĐKKQ luôn mang tính cụ thể, nó chính là những yếu tố vật chất, tinh thần, những quy luật khách quan, những khả năng tiềm ẩn có thể xảy ra trong tương lai… Đây là những điều kiện cụ thể để tạo nên hoàn cảnh, môi trường, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của chủ thể tại một thời điểm lịch sử nhất định Nó quyết định hoạt động của chủ thể, do vậy việc lựa chọn nắm bắt

Trang 19

hoàn cảnh như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động thực tiễn của chủ thể

Giữa NTCQ và ĐKKQ có mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau, trong đó: ĐKKQ quy định vai trò của NTCQ còn NTCQ có tác động đến sự biến đổi của ĐKKQ Trong mối quan hệ này, ĐKKQ là tính thứ nhất, quy định NTCQ cả về nội dung, phương hướng và hoạt động thực tiễn Nhưng NTCQ không bị động trước hoàn cảnh mà luôn lấy ĐKKQ làm điểm xuất phát, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan NTCQ là những cái thuộc về chủ thể, cho nên nó không thụ động trước ĐKKQ Vai trò tích cực, sáng tạo của NTCQ thể hiện ở chỗ: trong hoạt động xã hội, cùng với sự chín muồi của những yếu tố khách quan thì cũng phải có sự chín muồi của NTCQ mới có thể biến khả năng trở thành hiện thực Thực chất vai trò của NTCQ ở đây chính là sự phát hiện ra những khả năng khách quan trên cơ sở những điều kiện, phương tiện vật chất vốn có của hoàn cảnh để biến đổi hoàn cảnh theo quy luật vận động vốn có của nó

Muốn phát huy vai trò của NTCQ không thể tách rời những ĐKKQ đang có, không thể hoạt động một cách tùy tiện, không tính tới các quy luật của tự nhiên, xã hội Đó phải là sự biến đổi không ngừng của bản thân chủ thể mới có thể thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, cải tạo thế giới khách quan thành công, ngày càng nâng cao hơn chất lượng cuộc sống cho con người cả

về vật chất và tinh thần và ngày càng hoàn thiện chính bản thân con người

1.1.2 Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc

- Một số khái niệm cơ bản về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc

+ Khái niệm văn hóa: Tuy được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, song

khái niệm văn hóa bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: nghĩa rộng

và nghĩa hẹp

Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa

Trang 20

được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử…) Giới hạn theo không gian, văn hóa dùng để chỉ các giá trị đặc thù của từng vùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa đồng bằng Bắc Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ các giá trị trong từng giai đoạn (văn hóa Hùng Vương, văn hóa Đông Sơn…) [58, tr.5-6]

Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem là tất cả những gì con người sáng tạo ra Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo

và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của

nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [40, tr.431]

Federico Mayo, Tổng giám đốc UNESCO đã viết trong tạp chí Người

đưa tin UNESCO (số 11- 1989) như sau: “Đối với một số người, văn hóa chỉ

bao gồm các kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise” [58, tr.18]

Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hóa” tại Pháp (21/1/1998), Tổng thư kýý UNESCO định nghĩa:

Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng

Trang 21

như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một

hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [56, tr.23]

Như vậy, UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã hội Văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác

Nghiên cứu về văn hóa, các nhà văn hóa Việt Nam cũng đưa nhiều định nghĩa khác nhau: “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật chất của hoạt động con người, là giá trị và phương thức xử thế được công nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho một cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau” [28, tr.11] Định nghĩa này nhấn mạnh trong văn hóa bao gồm các sản phẩm vật chất và các hệ thống giá trị các mẫu mực xử thế và các hệ thống hành vi Vấn đề cần được nhấn mạnh ở đây là trong khái niệm văn hóa, điều quan trọng là phải được thừa nhận hoặc

có nhiều khả năng được thừa nhận trong một nhóm xã hội, và được truyền bá cho các cá thể hoặc các nhóm trong cộng đồng

“Văn hóa là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chất người trong tất cả các dạng hoạt động của họ, là tổng thể các hệ thống giá trị -

cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn và lịch sử xã hội của mình” [47, tr.14]

Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người Chúng ta có thể khẳng

định: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh

và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua

quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường xung quanh

Lịch sử văn hóa là lịch sử của con người và loài người: Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành người Điều đó có nghĩa là tất cả

Trang 22

những gì liên quan đến con người, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi là văn hóa Có thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tinh thần, là sự thể hiện những lực lượng đó trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực sản xuất tinh thần của con người Từ đó, văn hóa được chia làm hai lĩnh vực cơ bản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thần không phải bao giờ cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường được “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất Ngoài

ra, còn các giá trị tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập quán…

Ở Việt Nam, khi luận bàn về văn hóa của dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa, hai cấp độ khác nhau: ở phạm vi hẹp, văn hóa dân tộc đồng nghĩa với văn hóa của một tộc người, văn hóa dân tộc hoặc văn hóa tộc người + tộc danh, là một chi tiết của văn hóa nói chung Phạm vi rộng, văn hóa dân tộc là văn hóa chung của cả cộng đồng tộc người sống trong cùng một quốc gia

Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũng như những quan hệ xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụ của một tộc người, phản ánh những nhận thức, tâm lý, tình cảm, tập quán riêng biệt được hình thành trong lịch sử của tộc người đó ở các quốc gia đa dân tộc, văn hóa của các tộc người đan xen, hấp thụ lẫn nhau tạo nên nét chung của văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng dân tộc, và mỗi nền văn hóa đều có những giá trị riêng của nó

+ Giá trị văn hóa: “là cái dùng để căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá,

so sánh nền văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác, là cái

để xác định bản sắc văn hóa của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền

Trang 23

thống, phong tục, tập quán, lối sống của một dân tộc trên nền tảng các giá trị chân, thiện, ích, mỹ” [44, tr.19]

Bản chất đặc trưng của văn hóa là chiều cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát vọng nhân văn biểu hiện ở hoạt động sống của mỗi cá nhân, cộng đồng, dân tộc Mục đích của giá trị văn hóa là nhằm hướng tới các giá trị nhân bản, hướng tới sự hoàn thiện của mỗi cá nhân và của cộng đồng, dân tộc Mặc dù, tiêu chuẩn của các giá trị văn hóa của các cộng đồng, dân tộc là khác nhau Giá trị văn hóa còn mang tính khách quan, không phụ thuộc vào bất cứ cái gì

từ bên ngoài áp đặt vào để trở thành văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc Không thể căn cứ vào văn hóa của một dân tộc nào đó để làm tiêu chí xem xét, đánh giá nền văn hóa của các dân tộc còn lại là cao hay thấp, phát triển hay không… điều đó sẽ rơi vào bệnh chủ quan, tạo nên sự nô dịch hay sự áp đặt về văn hóa

Có thể nói, giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc như là “mật mã

di truyền xã hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc đó,

đã được tích lũy lắng đọng trong quá trình hoạt động của mình Chính quá trình đó đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ Cộng đồng sẽ bền vững khi nó trở thành dân tộc Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa, bởi: “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc; một dân tộc đánh mất truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả” [46, tr.13] Một dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc ấy đã đánh mất chính mình, một nền văn hóa có tính dân tộc, là nền văn hóa mang đầy đủ bản sắc của dân tộc Chính vì vậy, việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc, là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn vong của mỗi dân tộc

- Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc:

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Bản sắc chỉ tính chất, mầu sắc riêng, tạo thành phẩm cách đặc biệt của một vật” [50, tr.87]

Trang 24

Bản sắc văn hóa có thể hiểu là cái cốt lõi, nội dung, bản chất của một nền văn hóa cụ thể nào đó, là những nét văn hóa riêng có của nền văn hóa một dân tộc Những nét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, vật thể và phi vật thể Các giá trị văn hóa này ra đời gắn với chính điều kiện môi sinh mà dân tộc ấy thích nghi và phát triển qua các giai đoạn phát triển khác nhau của một dân tộc Những giá trị văn hóa ấy, cho dù

có trải qua những thăng trầm, biến cố của lịch sử nó không những không mất

đi, mà cùng với thời gian, nó còn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp, cái phù hợp của văn hóa các dân tộc khác làm phong phú, đặc sắc hơn cho văn hóa dân tộc mình, làm cho nó là nó chứ không phải là cái khác Bản sắc văn hóa thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, ý thức của một cộng đồng, bao gồm: cội nguồn, cách tư duy, lối sống, truyền thống, sáng tạo văn hóa, khoa học kỹ thuật…

Khái niệm bản sắc văn hóa có hai quan hệ cơ bản: quan hệ bên ngoài là dấu hiệu phân biệt các cộng đồng với nhau, quan hệ bên trong chỉ tính đồng nhất mà mỗi cá thể trong cộng đồng phải có Bản sắc văn hóa là sức mạnh nội tại của dân tộc Nó là hạt nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này qua đời khác Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc luôn

là chính mình:

Một dân tộc qua các biến cố lịch sử một lúc nào đó, một thời đại nào đó

có thể mất độc lập, bị người ngoài đô hộ nhưng nếu dân tộc ấy vẫn giữ được tiếng nói của mình, vẫn giữ được vốn văn nghệ dân gian, vẫn giữ và phát triển được bản sắc văn hóa của mình, thì dân tộc ấy vẫn nắm chắc trong tay chìa khóa của sự giải phóng, chìa khóa của tự do, độc lập [9, tr.18]

Bản sắc văn hóa còn là mối liên hệ thường xuyên, có định hướng của cái riêng (văn hóa dân tộc) và cái chung (văn hóa nhân loại) Mỗi dân tộc trong quá trình giao lưu văn hóa, sẽ cống hiến những gì đặc sắc của mình vào kho tàng văn hóa chung Đồng thời tiếp nhận có lựa chọn, nhào nặn thành giá

Trang 25

trị của mình, tạo ra sự khác biệt trong cái đồng nhất đó chính là bản sắc văn hóa của một dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc không phải là một biểu hiện nhất thời, nó có mối liên hệ lâu dài, sâu sắc và bền vững trong lịch sử và đời sống văn hóa dân tộc

Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa và thường được biểu hiện thông qua văn hóa Vì vậy, có thể coi bản sắc dân tộc của văn hóa hoặc bản sắc văn hóa dân tộc: “Bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn hóa nào cũng được xếp vào bản sắc Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa nào giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóa khác là bản sắc” [59, tr.13]

“Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hòa những khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng… trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó” [9, tr.37]

Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tới bản sắc riêng của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõi của bản sắc dân tộc Bởi bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ

và rõ nét hơn ở văn hóa Sức sống trường tồn của một nền văn hóa khẳng định

sự tồn tại của một dân tộc, khẳng định bản sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy

Bản sắc văn hóa dân tộc có hai mặt giá trị Giá trị tinh thần bên trong

và biểu hiện bên ngoài của bản sắc dân tộc có mối quan hệ khăng khít củng cố thúc đẩy nhau phát triển Văn hóa không được rèn đúc trong lòng dân tộc để

có bản lĩnh, trở thành sức mạnh tiềm tàng bền vững thì bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ mờ phai Ngược lại, nếu văn hóa tự mình làm mất đi những màu sắc riêng biệt, độc đáo của mình, sẽ làm vơi chất keo gắn kết tạo thành sức mạnh bản lĩnh của văn hóa

Nguồn gốc tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc có thể do nhiều yếu tố như: hoàn cảnh địa lý, nguồn gốc chủng tộc, đặc trưng tâm lýý, phương thức

Trang 26

hoạt động kinh tế… Nhưng bản sắc văn hóa dân tộc, không thể không xuất phát từ những yếu tố tạo thành dân tộc Vì thế hiểu khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc phải hiểu theo khái niệm phát triển, khái niệm mở Nó không chỉ là hình thức mà còn là nội dung đời sống cộng đồng, gắn với bản lĩnh các thế hệ các dân tộc Việt Nam Nghị quyết hội nghị BCH TW lần thứ V khóa VIII của Đảng đã chỉ rõ:

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ýý chí

tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc… Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo [16, tr.21]

Bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sức sống của từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là các giá trị do lịch sử để lại được thế hệ sau tiếp nối, khai thác và phát huy trong thời đại của họ để tạo nên dòng chảy liên tục của lịch

sử văn hóa các dân tộc Khi đã được hình thành, truyền thống mang tính bền vững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân

và cộng đồng Tuy nhiên, khái niệm bản sắc văn hóa không phải là sự bất biến, cố định hoặc khép kín mà nó luôn vận động mang tính lịch sử cụ thể Trong quá trình này nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo lập những yếu tố mới để thích nghi với đòi hỏi của thời đại Truyền thống cũng không phải chỉ bao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm

cả các giá trị từ bên ngoài được tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hóa nó, biến nó thành nguồn lực nội sinh của dân tộc

Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gồm nhiều loại hình, nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều sắc màu, nhiều mức độ và quy mô khác nhau, tạo nên giá trị to lớn là nền tảng bền vững của bản sắc dân tộc Nguồn nuôi dưỡng vô

Trang 27

tận tâm hồn và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc Đây là kho của cải vô giá, di sản vô cùng quý báu của văn hóa Việt Nam Việc nhận diện đúng về bản sắc văn hóa mỗi dân tộc và các dân tộc thành viên là việc làm hết sức có ýý nghĩa Bởi lẽ, việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải có sự chặt chẽ, hài hòa và thực hiện theo định hướng, đường lối của Đảng, Nhà nước và ý thức dân chủ tự nguyện của nhân dân

- Những yếu tố tác động tới bản sắc văn hóa dân tộc:

Thứ nhất: sự tác động của môi trường kinh tế

Văn hóa và kinh tế là hai phương diện khác nhau của đời sống con người, nhưng giữa chúng có mối quan hệ gắn bó với nhau Trong mối quan hệ

đó, cơ sở kinh tế sẽ quyết định nội dung, tính chất, hình thức biểu hiện của văn hóa

C.Mác và Ph.Ăgghen khi tiếp cận văn hóa dưới góc độ chính trị học đã chỉ rõ nguồn gốc phát sinh của văn hóa chính là từ cơ sở kinh tế, nền kinh tế như thế nào thì sẽ sản sinh và quy định sắc thái văn hóa của xã hội như thế ấy Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) Đảng cộng sản Việt Nam đã viết:

“Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh

tế Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển [16, tr.55]”

Trong thời đại hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa, văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc chắc chắn sẽ có nhiều sự biến đổi Khi hội nhập kinh tế quốc

tế sẽ đem lại nhiều cơ hội phát triển và tiến bộ cho xã hội bởi nó trực tiếp thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội và hợp tác quốc tế, đẩy nhanh sự chuyên môn hóa sản xuất trong các quốc gia và giữa các quốc gia với nhau Các vấn đề liên quan tới nhu cầu cuộc sống của con người được thỏa mãn một cách tối đa, chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao rõ rệt, mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong văn hóa theo đó cũng được khẳng

Trang 28

định Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, của thông tin đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá, lưu giữ, bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Nó cũng tạo cơ hội lớn cho việc giao lưu, tìm hiểu, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm giàu thêm truyền thống văn hóa của dân tộc mình

Bên cạnh đó, khi hội nhập kinh tế quốc tế, con người không chỉ tiếp thu mặt tích cực mà còn tiếp thu cả những ảnh hưởng tiêu cực của nó Đó là lối sống thực dụng, ích kỷ, mê đắm lợi ích vật chất và xu hướng làm giàu không lành mạnh Nó dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo, sự suy thoái về đạo đức và sự tôn thờ những văn hóa lai căng, nó làm cho tệ nạn xã hội ngày càng tăng lên Không chỉ có vậy, sự phụ thuộc ngày càng lớn của các nước nghèo vào những nước giàu dẫn tới nguy cơ bị đồng hóa về văn hóa, dần dần đánh mất đi bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình Trong tình hình ấy, văn hóa của các dân tộc ít người cũng bị ảnh hưởng và tác động không nhỏ: kết cấu hạ tầng (điện - đường - trường - trạm) được đầu tư để kinh tế đồng bào phát triển nhưng ngược lại cũng làm mất dần đi cối xay tay, cối giã gạo Cơ chế thị trường, kinh tế hàng hóa phát triển thì nhà sàn, khung cửi, quần áo dân tộc cũng mai một dần, thị trường âm nhạc ngày một rầm rộ, các kênh thông tin và giải trí ngày càng nhiều thì nhu cầu thưởng thức âm nhạc dân gian cũng ngày càng giảm, thậm chí nếu không muốn nói là có nguy cơ mất hẳn

Tuy nhiên, cũng không thể không thừa nhận: quốc tế hóa là một xu thế khách quan của lịch sử, nó sẽ còn tiếp tục phát triển, và chắc chắn nó diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của con người Do đó, mỗi quốc gia cần nhận thức đúng đắn bản chất của thời đại, lựa chọn đúng đắn con đường phát triển

để hạn chế thấp nhất những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa

Thứ hai: tác động của lĩnh vực chính trị - tư tưởng

Quá trình hợp tác và giao lưu văn hóa với các quốc gia khác đã tạo cơ hội mở rộng khả năng tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho đời sống của con người ngày càng được nâng cao Nhưng cùng với nó, các thế lực

Trang 29

thù địch cũng thường xuyên lợi dụng chính trị - tư tưởng để tuyên truyền các quan điểm sai trái, những lối sống không lành mạnh nhằm lôi kéo quần chúng nhân dân vào những hoạt động chống lại lợi ích của chính quốc gia ấy Qua đó, nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, tính thống nhất bền vững văn hóa của dân tộc đó

Sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực phản cách mạng dùng các hình thức tuyên truyền, quảng bá với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ như: Internet, truyền hình vệ tinh… tấn công vào hệ tư tưởng và văn hóa XHCN, đặc biệt là tư tưởng của giới trẻ nhằm xóa nhòa bản sắc văn hóa dân tộc, mục đích cuối cùng là đồng hóa văn hóa toàn thế giới Bởi vậy, để lưu giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, không bị đồng hóa thì vấn đề hết sức quan trọng là vai trò của NTCQ - của chính bản thân con người

Thứ ba: tác động của đạo đức, lối sống, nhu cầu hưởng thụ văn hóa…

Những yếu tố như đạo đức, lối sống, nhu cầu hưởng thụ văn hóa… mà chúng ta đề cập thuộc lĩnh vực ý thức xã hội, nó tồn tại và phụ thuộc vào môi trường, vào thời điểm lịch sử mà con người đang sống Về thực chất, nó chính

là hệ quả của quá trình phát triển và tác động của kinh tế đến cộng đồng Tuy không tác động trực tiếp nhưng có thể thấy những yếu tố trên lại ảnh hưởng rất lớn đến sự hưng thịnh của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa của một quốc gia Những yếu tố này phụ thuộc nhiều vào môi trường xã hội, vào kinh tế, vào điều kiện lịch sử nên không thể tránh khỏi sự đan xen, đấu tranh giữa những yếu tố tích cực và tiêu cực trong văn hóa

Trong đời sống hiện nay, những quốc gia đang phát triển luôn luôn quan tâm tới các chính sách nhằm điều chỉnh mọi biến đổi trong đời sống tinh thần của xã hội Bên cạnh những yếu tố tích cực như sự năng động ngày càng tăng lên trong đời sống tinh thần của con người, sự nhạy bén tiếp thu các giá trị văn hóa mới tiến bộ… thì những biểu hiện tiêu cực đang diễn ra ngày càng nhiều Đó là lối sống cá nhân, thực dụng, vị tiền, ham vật chất, lối sống buông thả, sùng ngoại, bài xích, quay lưng lại với văn hóa truyền thống đang càng

Trang 30

ngày càng nhức nhối Hiện nay, một bộ phận dân cư (chủ yếu là giới trẻ) đang

có tư tưởng sính ngoại, lối sống buông thả, coi thường pháp luật, coi thường

nề nếp gia phong và làm biến dạng các giá trị chân - thiện - mĩ truyền thống Cuộc sống công nghiệp hiện đại ngày nay cũng tạo áp lực lớn cho con người, khiến họ dễ lao vào những cuộc ăn chơi nhằm giải tỏa áp lực, và họ tìm đến với văn hóa ngoại lai, còn những giá trị văn hóa dân tộc muốn hưởng thụ nó đòi hỏi phải có thời gian, sự thư thái và sự trải nghiệm xem ra không hợp với nhu cầu của họ Hơn nữa, những hủ tục, tập quán lạc hậu trong xã hội cũ vẫn còn tồn tại dai dẳng trong nếp nghĩ của nhiều tầng lớp người trong xã hội mà muốn thay đổi được nó, cũng cần có một thời gian khá dài Một số nơi còn biến chính sách bảo tồn văn hóa thành dịp để trục lợi, để hành nghề mê tín dị đoan Tất cả những biểu hiện phi văn hóa ấy đang kìm nén, níu kéo quá trình hội nhập văn hóa thế giới của các quốc gia

Những giá trị, bản sắc văn hóa lâu đời của dân tộc đã và đang bị ảnh hưởng không nhỏ bởi chính những biến động nhiều chiều của đạo đức, lối sống, nhu cầu hưởng thụ văn hóa… Nó vô hình chung đã làm cản trở cả quá trình phát triển kinh tế- xã hội, quá trình hội nhập kinh tế của các quốc gia

Do vậy, vai trò của NTCQ cần phải được nâng cao trong vấn đề gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Không chỉ các yếu tố trên, một số phương diện xã hội khác như pháp luật, tôn giáo… cũng tác động không nhỏ tới vấn đề văn hóa Để vừa gìn giữ, vừa phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc thì đòi hỏi sự tích cực, sáng tạo không ngừng của NTCQ trong hoạt động thực tiễn

1.1.3 Vai trò của nhân tố chủ quan trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao vai trò của NTCQ chính là việc nâng cao tính chủ động, tính tích cực của chủ thể hoạt động trong hoạt động thực tiễn nhằm đạt mục đích đã đề ra Như trên đã phân tích, nhân tố chủ quan của chủ thể ở đây bao gồm: bộ máy chính quyền

Trang 31

nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và người dân cùng với toàn bộ tri thức, tình cảm, ý chí, năng lực hoạt động thực tiễn của họ tác động tới văn hóa

- Những biểu hiện chủ yếu của vai trò NTCQ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc:

Thứ nhất: vai trò của các chủ thể lãnh đạo thể hiện trong việc phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và thực hiện kế hoạch giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Trước hết, vai trò của NTCQ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc

văn hóa dân tộc thể hiện trong việc lãnh đạo của Đảng Cộng sản nhằm xây dựng và ban hành những chủ chương, đường lối, chính sách phục vụ cho hoạt động văn hóa

Trong nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) Đảng cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: “Xây dựng văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo” [16, tr.16] Xây dựng, bảo vệ và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, trong đó tổ chức Đảng không chỉ có vai trò chủ chốt vạch ra phương hướng, chiến lược, sách lược, nhiệm vụ và các giải pháp lớn để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thành công các nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa theo đúng định hướng XHCN mà còn cả việc tạo ra những điều kiện, tiền

đề cho việc hiện thực hóa những nhiệm vụ đó Các hoạt động liên quan đến văn hóa hết sức đa dạng và phong phú, nó đòi hỏi phải có sự phối hợp, thống nhất chặt chẽ của các tổ chức, nó đòi hỏi chủ thể lãnh đạo phải có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực nghề nghiệp, có tâm huyết, có trí tuệ, có hiểu biết sâu rộng mọi mặt của đời sống xã hội Có vậy họ mới có thể đưa ra được những quyết sách hơp lý, đúng đắn, đảm bảo sự hài hòa và biện chứng giữa các yếu

tố chính trị, kinh tế, đạo đức… với văn hóa, những quyết sách đưa ra phải có tính thuyết phục cao để thu hút mọi lực lượng xã hội tham gia Có một thực tế

dễ nhận thấy là đôi khi chủ trương, đường lối, nghị quyết thì đúng nhưng

Trang 32

khâu tổ chức lại gặp yếu kém, từ đó dẫn đến việc thực hiện lại chưa đúng Trình độ của các cấp ủy, ban ngành, đoàn thể một số nơi chưa đáp ứng được yêu cầu cho nên nảy sinh mâu thuẫn giữa chủ trương với thực tiễn quản lý đời sống văn hóa ở các địa phương Do vậy, tính thống nhất của các thiết chế xã hội sẽ tạo tính khả thi cao cho các hoạt động thực tiễn về vấn đề văn hóa Chính các cơ quan ở địa phương là người nắm rõ nhất thực tiễn văn hóa ở địa phương ấy, vì hơn ai hết, là người sinh sống ở đó, họ là người nắm rõ hoàn cảnh, phong tục tập quán, suy nghĩ và lối sống của nhân dân ở địa phương mình Bởi vậy, các chính sach của nhà nước phải bám sát vào thực tiễn, gắn với các cơ quan công quyền ở địa phương Bên cạnh đó, tổ chức Đảng cũng còn có vai trò lựa chọn, phát hiện và bồi dưỡng năng lực cho cán bộ và hình thành nên cơ chế phối hợp cho các ngành theo quan hệ hàng dọc hoặc hàng ngang từ trung ương đến địa phương nhằm đảm bảo tính thống nhất và chặt chẽ trong các hoạt động văn hóa

Bên cạnh đó, chúng ta thấy vai trò của NTCQ trong việc giữ gìn và

phát huy bản sắc văn hóa dân tộc còn được thể hiện trong hoạt động của Nhà nước và chính quyền các cấp với các hoạt động văn hóa

Đây là yếu tố mang tính cơ bản bởi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được thực hiện thông qua chính hoạt động quản lý và điều hành này của các cơ quan nhà nước Hoạt động phối hợp quản lý, điều hành của Nhà nước và các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là kế hoạch đầu tư, phát triển kinh tế -

xã hội có tác động rất lớn đến sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Các cán bộ quản lý với tri thức khoa học, trí thức nghiệp vụ và năng lực điều hành của họ sẽ sử dụng các lực lượng vật chất và tinh thần sẵn có để tác động làm biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích nhất định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng một môi trường văn hóa với các hệ thống giá trị tốt đẹp của nó Hơn nữa, trong quá trình phối hợp hoạt động, các cán bộ quản lý

Trang 33

điều hành cũng có điều kiện bồi dưỡng năng lực cho bản thân, nâng cao vai trò của NTCQ, đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động của mình

Không chỉ có vậy, vai trò của NTCQ trong việc giữ gìn và phát huy bản

sắc văn hóa dân tộc thể hiện trong hoạt động của các đoàn thể nhân dân

Các tổ chức đoàn thể bao gồm: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân và đứng đầu là Mặt trận Tổ quốc Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức đoàn thể này phối hợp hoạt động với nhau, với nhà nước, với chính quyền các cấp, đặc biệt là với các cơ quan quản lý văn hóa nhằm vận động, thu hút quần chúng nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực hiện các chương trình kinh tế,

xã hội, làm sống dậy các phong trào giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa

Vai trò của NTCQ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc còn thể hiện trong hoạt động phối hợp hoạt động của các tổ chức đoàn thể nhân dân thể hiện trong cơ chế phối hợp một cách khoa học các hoạt động của các tổ chức và khả năng hoạt động thực tiễn của bản thân mỗi chủ thể Trong hoạt động thực tiễn, vai trò của các chủ thể thể hiện:

- Nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, phát hiện những hiện tượng tiêu cực, những tư tưởng lệch lạc, bên cạnh đó còn phát hiện cả ra những nhân tố mới tiến bộ, những khả năng khách quan có lợi cho

sự nghiệp phát triển văn hóa, nhân rộng điển hình và tạo điều kiện thuận lợi

để biến khả năng thành hiện thực

- Phát hiện những điểm bất hợp lý trong cơ chế, chính sách, những yếu

tố cản trở tính tích cực sáng tạo của quần chúng nhân dân Từ đó góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý cần thiết để có thể vừa đảm bảo sự tự do hưởng thụ văn hóa, vừa đảm bảo tính định hướng và mục tiêu phát triển của đất nước

Cuối cùng, vai trò của NTCQ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc

văn hóa dân tộc còn thể hiện ở hoạt động của các cấp ngành văn hóa thông tin trong quản lý, hướng dẫn các hoạt động văn hóa

Trang 34

Ngành văn hóa thông tin là ngành chuyên trách về văn hoá nên vai trò của các chủ thể trong ngành văn hóa với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là rất quan trọng Nó thể hiện trong nhiệm vụ: tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân về những định hướng, giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác văn hóa thông tin thuộc thẩm quyền mình phụ trách Nó cũng thể hiện trong việc tổ chức hướng dẫn và triển khai các chủ trương, đường lối, chính sách về văn hóa của cấp trên đến địa bàn cơ sở, nhất là các chính sách về đại đoàn kết dân tộc, chính sách phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chính sách bảo tồn, phục dựng văn hóa dân tộc… Ngành văn hóa thông tin cũng thể hiện vai trò của mình trong việc tuyên truyền, duy trì thường xuyên các hoạt động văn hóa, thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia sáng tạo, phổ biến và hưởng thụ các giá trị văn hóa Ngành văn hóa thông tin cũng lên kế hoạch trang bị những phương tiện phục

vụ cho các phong trào hoạt động, khuyến khích nhân dân chủ động tìm hiểu, bảo tồn và hưởng thụ văn hóa dưới nhiều hình thức

Như vậy, vai trò của NTCQ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện qua sự tổ chức hoạt động một cách đồng bộ của các thiết chế văn hóa Nó là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò lãnh đạo của tập thể với vai trò của cá nhân phụ trách Các hoạt động giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của các chủ thể với toàn bộ tri thức, năng lực của họ thể hiện sự sáng tạo, nghiêm túc của mọi ban, ngành từ Trung ương đến địa phương trong các hoạt động văn hóa

Thứ hai: Vai trò của quần chúng nhân dân thể hiện trong tính tích cực, chủ động, sáng tạo đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Chúng ta đã đề cập tới vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, vai trò xây dựng và hỗ trợ văn hóa của các đoàn thể nhân dân, nhưng cần khẳng định rằng: chủ nhân thực sự của nền văn hóa dân tộc trong mọi thời đại chính là quần chúng nhân dân Quần chúng nhân dân vừa là

Trang 35

người sáng tạo ra các giá trị văn hóa, vừa là người hưởng thụ, lưu truyền, gìn giữ những giá trị văn hóa ấy Đề cập tới vấn đề này, danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh đã nói: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo Nhưng quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội Quần chúng còn là những người sáng tác nữa… Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng” [39, tr.250]

Quần chúng nhân dân sáng tạo các giá trị văn hóa ngay trong quá trình lao động vật chất, trong quá trình sống, thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích vật chất của chính bản thân họ Do vậy, sự sáng tạo của quần chúng nhân dân chính là nhân tố cơ bản của sự tồn tại và phát triển của xã hội Quần chúng nhân dân sáng tạo văn hóa bằng chính cuộc sống của mình Thông qua các hoạt động thường nhật như lao động sản xuất, chiến đấu chống giặc ngoại xâm, trong văn học nghệ thuật, trong phong tục tập quán như cách ăn, ở, mặc… văn hóa được hình thành, phát triển và dần dần được lưu truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác

Tuy nhiên, bên cạnh việc sáng tạo, gìn giữ và phát huy các yếu tố tiến

bộ của văn hóa mang đầy ý nghĩa nhân văn thì những tư tưởng phong kiến, những yếu tố phản văn hóa, phản tiến bộ, những hủ tục cũng vẫn còn tồn tại trong đời sống cộng đồng mà để xóa bỏ được nó cần một thời gian lâu dài và một lực lượng vật chất to lớn Do vậy, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, trở thành mục tiêu và động lực để phát triển kinh tế thì vai trò của những người có trình độ cao - của đội ngũ trí thức đóng vai trò quan trọng Sự hiện diện của đội ngũ trí thức trong sáng tạo văn hóa như là một biểu hiện của chất lượng cuộc sống Những phát minh khoa học, những công trình nghệ thuật, những sáng tác văn học, những sản phẩm lao động của đội ngũ trí thức thực sự quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi quốc gia Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) đã khẳng định: “Đội ngũ trí thức gắn

Trang 36

bó với nhân dân giữ vai trò trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa” [16, tr.57]

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế tri thức như hiện nay, với chức năng riêng của mình, đội ngũ trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững nền tảng tinh thần cho xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại mới Đội ngũ trí thức có xuất thân từ nhân dân, họ là những người hoạt động trí tuệ, có chức năng chủ yếu là sáng tạo những giá trị tinh thần cho xã hội nên ảnh hưởng của họ đến quần chúng nhân dân là rất lớn Bằng những sáng tạo văn hóa, người trí thức có thể truyền tải những tư tưởng, đạo đức, lối sống, quan niệm, tín ngưỡng, những triết lý nhân sinh đến quần chúng nhân dân Họ là lực lượng nòng cốt, là chủ thể trong toàn bộ quá trình giữ gìn những tinh hoa văn hóa, tiếp nhận và phát huy những tinh hoa

ấy, hướng quần chúng nhân dân đến những cách nhìn nhận tốt đẹp và nhân bản trong cuộc sống Nhưng cũng cần lưu ý, đội ngũ trí thức đều xuất thân từ nhân dân nên khi tác động đến đời sống tinh thần, họ bộc lộ cả những mặt tích cực và tiêu cực do sự không thuần nhất cả về tư tưởng, tình cảm và trình độ

Quần chúng nhân dân không chỉ có vai trò sáng tạo văn hóa, mà còn là người giữ gìn nó Những làn liệu dân ca, những câu hò vè, những áng văn thơ, những tư tưởng nghệ thuật đều do quần chúng nhân dân bảo tồn và lưu giữ Những nghệ nhân trong các lĩnh vực văn hóa chủ yếu đều là những người lao động bình thường, họ là những người mang trong mình cả một kho tàng

đồ sộ văn hóa dân gian, và thông qua các hoạt động truyền bá dưới nhiều hình thức (mà văn hóa dân gian chủ yếu là hình thức truyền miệng), họ bảo tồn và gìn giữ văn hóa để nó không bị mai một đi và qua đó còn bồi đắp thêm tâm hồn và tư tưởng cho thế hệ sau

Như vậy, quần chúng nhân dân là chủ thể thực sự trong sáng tạo và hưởng thụ văn hóa Nó thể hiện trong quá trình lao động vì nhu cầu vật chất, mong muốn được thỏa mãn nhu cầu của chính mình cả về vật chất và tinh

Trang 37

thần Khi nhu cầu hưởng thụ vật chất và tinh thần ngày càng cao thì nhu cầu sáng tác và sức sáng tạo của quần chúng càng được phát triển Tuy vậy, để ngày càng phát huy vai trò của quần chúng nhân dân và đặc biệt là vai trò của đội ngũ trí thức trong sáng tạo, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thì đòi hỏi có sự quan tâm sát sao và đồng bộ của các cấp, các ban ngành Nó đòi hỏi Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân phải nâng cao trình độ lý luận, bán sát thực tiễn, xây dựng môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa với mục tiêu cao nhất là vì con người Bên cạnh đó, chính sách thu hút, đãi ngộ hiền tài, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là điều đáng quan tâm Các ban ngành cũng cần phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng và nhà nước đến quần chúng nhân dân để họ có thể hiểu, từ

đó đảm bảo và phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của họ trong việc giữ gìn

và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa tiến bộ của nhân loại vì mục tiêu xây dựng một nền văn hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ

1.2.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội và lịch sử của dân tộc Dao ở Phú Thọ

1.2.1.1 Đặc điểm kinh tế

- Về nguồn gốc lịch sử

Người Dao là một trong 54 dân tộc anh em sinh sống ở Việt Nam, với nhiều nhóm khác nhau, cư trú tại các bản động vùng sâu, vùng xa thuộc nhiều vùng, miền của đất nước Theo các nhà nghiên cứu dân tộc học, người Dao vốn xuất xứ ở tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc) thiên di vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XX Họ đi bằng đường thủy qua Móng Cái (Quảng Ninh) hoặc đường bộ từ Trung Quốc sang Việt Nam [57, tr.131]

Cuộc thiên di của người Dao vào Phú Thọ có lẽ là cuộc thiên di tập trung, có tổ chức nhất mà dấu tích còn để lại trong tín ngưỡng, phong tục tập

Trang 38

quán và những bản gia phả, thông hành mà người Dao đương đại nhiều lần được đọc hoặc được nghe

Truyền thuyết kể lại rằng: Một năm hạn hán đói rét, người Dao phải đốt lửa sưởi, khi đi soi cá, vô ý đã làm cháy cầu Vàng của nhà vua Vua định chu

di tam tộc, nhưng nhờ có quan đại thần xin tha từ tội chết xuống đuổi cả bộ tộc đi biệt xứ Bà Đặng Thị Hành, ông Bàn Đức Hội và ông Triệu Thông là 3 người dẫn đầu đoàn người Dao sang Việt Nam tìm nơi cư trú Nhưng khi vào biên giới Việt, họ không biết tiếng lại có vũ khí phòng thân nên bị binh lính canh phòng bắt giam vì tưởng họ là giặc Sau đó, do đọc được “Quá sơn bảng văn” (giấy thông hành), biết họ là dân lành, vua Lê đã cho thả tự do và cho họ ngược theo sông Hồng đi tìm đất sống

Đến vùng ngã ba Bạch Hạc (Bạch Hạc - Việt Trì) thấy đất đai tốt tươi, màu mỡ lại có ba con sông lớn, biết là mạn ngược sẽ có nhiều rừng cây, là nơi thích ứng cho cuộc sống du canh du cư sau này, ông Hành và ông Hội cùng tùy tùng quay về Trung Quốc đưa dân làng thiên di sang Việt Nam Họ đóng bảy chiếc thuyền, tổ chức cho các họ người Dao vượt biển Móng Cái (Quảng Ninh) vào cửa sông Hồng rồi lên ngược Khi đang đi ngoài biển, gặp sóng to gió lớn, bốn thuyền của họ bị đánh bật ra xa bờ Những người ở trên thuyền lâm nạn phải nhảy lên xin với trời đất cho họ tai qua nạn khỏi, sau này sẽ làm Tết Nhảy để tạ ơn cứu mạng Riêng họ Triệu Mốc bị gió bão đẩy thuyền đi xa hơn nên phải khất sẽ làm lễ Tầm đàng để tạ ơn Họ Triệu Mốc cập bờ ở Thanh Hóa, còn các họ khác dạt vào cửa sông Hồng, ngược đến Bạch Hạc, họ

bỏ thuyền, lên bờ sinh sống [42, tr.3-4]

Người Dao cư trú ở Phú Thọ chỉ có hai nhóm nhỏ trong cùng một nhóm lớn “Những người Dao ở Việt Nam, đứng về mặt ngôn ngữ mà xét, có thể chia thành hai nhóm lớn ứng với hai phương ngữ, thuộc phương ngũ thứ nhất có hai nhóm lớn: Dao Đại bản và Dao Tiểu bản, thuộc phương ngữ thứ hai cũng có hai nhóm: Dao Quần trắng và Dao Làn tiẻn” [57, tr.134]

Trang 39

Theo sự nhận định ấy thì ở Phú Thọ chỉ có Dao Quần Chẹt (hay Dao Quần chít) thuộc nhóm Đại Bản và Dao Tiền (hay Dao đeo tiền) thuộc nhóm Tiểu bản

Trong quá trình hòa nhập với cư dân bản địa, người Dao không chỉ bảo tồn, lưu giữ những nét bản sắc riêng của dân tộc mình mà còn chịu ảnh hưởng không nhỏ những nét văn hóa truyền thống của cư dân bản địa

- Về vị trí địa lý

Người Dao sống chủ yếu ở vùng núi, sau đó, theo chính sách vận động đồng bào về sống định canh định cư, làm lúa nước nên họ chấm dứt nạn du canh du cư, phát nương làm rẫy Người Dao Phú Thọ chỉ sống ở một vài xóm riêng rẽ trong một làng Mường Người Mường bao giờ cũng ở thấp hơn người Dao Người Dao Tiền tập trung cư trú tại 28 bản động vùng cao thuộc 12 xã của huyện Tân Sơn như: bản Dù, Cỏi, Lùng Mắng (xã Xuân Sơn), Xinh Tàn (xã Thượng Cửu), Láy (xã Yên Lương), Tảng (xã Tam Thanh)… Người Dao Quần chẹt tập trung cư trú tại 19 bản động vùng cao thuộc 8 xã của huyện Yên Lập như: xã Nga Hoàng, Trung Sơn, Thượng Long… và tập trung cư trú tại 9 bản động thuộc 7 xã của huyện Thanh Sơn như: xã Võ Miếu, xã Thu Cúc, Khả Cửu… Dân số người Dao ở Phú Thọ chỉ đứng thứ hai sau dân tộc Kinh và Mường Toàn tỉnh hiện có 11.126 người Dao, chiếm 0,9% dân số toàn tỉnh và chiếm tỉ lệ 6% dân số các dân tộc thiểu số trên địa bàn quê hương đất Tổ Đến nay, 12/13 huyện, thị, thành có người Dao sinh sống, song chỉ có

ba huyện là Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập có đồng bào Dao sinh sống tập trung thành xóm, bản

- Đặc thù về kinh tế

Người Dao sống bằng nghề chính là trồng lúa nương và lúa nước (những xóm người Dao ở vùng hạ sơn mới trồng lúa nước) Ngoài ra, họ còn tra ngô, săn bắt thú rừng Thời gian phát nương khoảng tháng 2, tháng 3, khi cây khô thì đốt nương, đến tháng 4, tháng 5 thì đi tra hạt thóc Người ta dùng

Trang 40

cây vót nhọn một đầu, người đi trước chọc lỗ, người đi sau vãi lúa xuống lỗ từ 5-7 hạt Nếu được mưa thì khoảng 3-4 ngày thì lúa nở, không đực mưa phải mất đến 10 ngày Trên nương trồng lúa, người Dao còn trồng xen cả ngô, khi ngô tốt và dày thì tỉa bớt đi cho lúa lên Tập quán trồng lúa nước mới hình thành khi họ hạ sơn, hiện nay, người Dao Tiền ở Phú Thọ còn giữ nguyên tập quán canh tác kiểu nương rẫy: lúa nương có nếp tẻ, đỗ dài (có thể ăn như rau hoặc để già bóc lấy hạt đồ lẫn với gạo nếp), khoai nương (khoai Mán) có giá trị dinh dưỡng cao Mỗi gia đình đều trồng trên nương hoặc trong vườn nhà các loại gia vị như: ớt, húng, hẹ, hành, gừng… Đặc biệt, người Dao còn rất giỏi trong việc hái lá rừng làm thuốc chữa bệnh

Người Dao ở Phú Thọ còn rất khéo léo trong chế tác trang phục và dệt vải, phụ nữ đảm trách hầu hết các quy trình làm ra y phục Phụ nữ Dao ai cũng biết dệt vải bằng khung cửi, ngoài ra, họ còn biết dệt hoa, đây là nét đặc sắc trong kỹ thuật Dao Những bộ phận không dệt được người Dao thêu hoặc

in hoa văn Sau đó được đem đi nhuộm chàm, nước nhuộm chàm là keo chàm ngâm nước hòa với một số lá làm dung môi như lá riềng, lá sơn thục, lá huyết

dụ, lá nhân trần, lá sả và nước tro bếp Quá trình chế tác trang phục thể hiện

sự kỳ công của người Dao, trong các nhóm Dao, chỉ có nhóm Dao Đeo tiền mới biết in hoa văn bằng sáp ong, còn lại là thêu hoa văn trên váy áo

Nghề thủ công truyền thống của người Dao là nghề rèn, làm đồ trang sức bằng bạc (nghề này rất phát triển ở nhóm Dao đeo tiền), nghề làm giấy Tuy nhiên, những nghề thủ công này mới chỉ dừng lại ở mức tự cấp tự túc, phục vụ cho nhu cầu của gia đình và làng xóm xung quanh chứ chưa có điều kiện để phát triển

Cơ chế thị trường đã tác động lớn đến tập quán canh tác và chăn nuôi của đồng bào trong thời gian gần đây Việc trao đổi, mua bán các mặt hàng trong các làng bản có người Dao sinh sống cũng nhộn nhịp không kém gì các chợ ở miền xuôi, đây là điều kiện thuận lợi cho người dân thoát dần các tập

Ngày đăng: 15/03/2021, 18:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w