Trong những năm gần đây, cùng với công cuộc đổi mới đất nước, nhận thức về vai trò của giáo dục – đào tạo, đối với sự nghiệp phát triển con người nói riêng và sự nghiệp công nghiệp hóa,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*******
LÊ THỊ TÌNH
VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TRONG PHÁT TRIỂN
CON NGƯỜI TOÀN DIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ TÌNH
VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TRONG PHÁT TRIỂN
CON NGƯỜI TOÀN DIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 03 01
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Văn Sơn
PGS.TS Dương Văn Thịnh TS Nguyễn Văn Sơn
HÀ NỘI – 2016
Trang 3CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Sơn Các nhận định, giả thuyết, kết luận nêu
ra trong luận văn là kết quả nghiên cứu nghiêm túc, độc lập của bản thân trên
cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu khoa học đã được công bố
Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2016
Học viên
Lê Thị Tình
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ tình cảm quý trọng và tri ân chân thành và sâu sắc nhất
tới TS Nguyễn Văn Sơn là tấm gương nghiên cứu khoa học mẫu mực, là cán
bộ hướng dẫn khoa học đã trực tiếp chỉ bảo tận tình, hướng dẫn và động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô đang công tác trong trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc
biệt là các thầy cô trong Khoa Triết học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, chia
sẻ, động viên, có những ý kiến khoa học quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại Khoa và để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ và giúp đỡ để tôi thực hiện tốt luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2016
Học viên
Lê Thị Tình
Trang 51
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3 Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC – ĐÀO
VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN 11
1.1 Vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển lịch sử 11 1.1.1 Vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển kinh tế - xã hội 11 1.1.2 Vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển con người 17 1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò và phát triển con người toàn diện 25 1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của con người trong công cuộc đổi mới đất nước 26 1.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người toàn diện trong công cuộc đổi mới đất nước 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO TRONG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY 45
2.1 Thực trạng về vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển con người toàn diện ở Việt Nam 45 2.1.1 Những thành tựu chủ yếu của giáo dục – đào tạo trong phát triển con người toàn diện ở Việt Nam trong những năm vừa qua 45 2.1.2 Những hạn chế chủ yếu của giáo dục – đào tạo trong phát triển con người toàn diện ở Việt Nam những năm vừa qua 50
Trang 62
2.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phát huy vai trò của giáo dục – đào tạo đối với sự phát triển con người toàn diện ở Việt Nam
trong những năm vừa qua 60
2.2 Một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của giáo dục – đào tạo trong việc phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay 65
2.2.1 Một số phương hướng nhằm phát huy vai trò của giáo dục – đào tạo phát triển con người Việt Nam trong thời gian tới 65
2.2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của giáo dục – đào tạo đối với sự phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 73
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đời sống kinh tế đã trở thành tất yếu Việc hội nhập, phát triển mở ra nhiều triển vọng và nguy cơ cho các nước trong quá trình phát triển Trên thực tế, mục tiêu kinh tế của các nước có sự giống nhau, đều hướng tới sự phát triển tối đa, trong khi điều kiện tự nhiên, văn hóa, con người và lịch sử phát triển lại có sự khác biệt Vấn
đề đặt ra là, sự lựa chọn chiến lược phát triển trở thành yếu tố quyết định đến việc phát huy lợi thế, tranh thủ phát huy tối đa sức mạnh của mình cho mục tiêu kinh tế
đó Trong quá trình tìm kiếm mô hình phát triển, nhiều nước lựa chọn con đường phát triển dựa trên nguồn tài nguyên dồi dào, phong phú; nhiều nước phát triển dựa trên mô hình phát huy vai trò của tri thức con người cho việc phát triển kinh tế - xã hội Mỗi mô hình đều đã mang lại những thành công nhất định Tuy nhiên, nếu như tài nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt và mang lại giá trị kinh tế thấp; thì trí tuệ - với tư cách nguồn lực không giới hạn đã khắc phục được những hạn chế đó
và ngày càng trở thành sự lựa chọn của nhiều quốc gia Nhưng nguồn lực con người không phải là một dạng “tài nguyên” thông thường mà nó bị chi phối bởi nhiều yếu
tố như: lịch sử, văn hóa, ý thức hệ, các giá trị tinh thần và giá trị Người Do đó, vấn
đề đặt ra là phát huy sức mạnh tri thức cho sự phát triển kinh tế - xã hội nhưng phải đảm bảo sự hài hòa, toàn diện và giải phóng con người
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Đặc biệt, sau 30 năm đổi mới, đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng và đạt mức thu nhập trung bình của thế giới Hơn nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Kế thừa và phát huy tinh thần đó, một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng là con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
Trang 84
phúc và phát triển toàn diện Chủ nghĩa xã hội không phải là cái có sẵn, mà là công trình do quần chúng nhân dân xây dựng nên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Quá trình này không diễn ra theo con đường bằng phẳng mà là quanh co, phức tạp
đòi hỏi phải xác định mục tiêu, bước đi cụ thể Để thực hiện mục tiêu con người
được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện không thể không nói đến vai trò của giáo dục – đào tạo Bởi lẽ, giáo
dục – đào tạo vừa là yếu tố quan trọng nhất góp phần phát huy vai trò của tri thức cho sự phát triển kinh tế - xã hội, vừa là yếu tố góp phần bồi dưỡng, phát triển nhân cách, đời sống tinh thần để con người phát triển một cách toàn diện Xuất phát từ
những lý do trên, chúng tôi đã chọn Vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển
con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có lẽ hiếm có một chủ đề nào mà lại được quan tâm nhiều như vấn đề giáo dục và con người Bởi lẽ, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự tiến bộ của nhân loại đều xuất phát từ vấn đề con người, trong đó “tri thức là sức mạnh” được hình thành, phát triển chủ yếu từ quá trình giáo dục – đào tạo Vì vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau Trong những năm gần đây, cùng với công cuộc đổi mới đất nước, nhận thức về vai trò của giáo dục – đào tạo, đối với sự nghiệp phát triển con người nói riêng và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung ngày càng được quan tâm nghiên cứu Chúng ta có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau:
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục, vai trò của giáo dục phải kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Công trình Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển
nguồn nhân lực của Viện Phát triển giáo dục xuất bản năm 2002 là sự tập hợp kết
quả nghiên cứu của một số nhà khoa học, quản lý ở nhiều lĩnh vực khoa học kinh tế
và xã hội khác nhau Trong đó, có đề xuất chính sách phát triển nguồn nhân lực nhằm triển khai thành công các mục tiêu trong chiến lược giáo dục – đào tạo để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 95
Công trình Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của Nguyễn Văn Sơn do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội phát hành năm 2002 Cuốn sách đã trình bày những vấn đề cơ bản về trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong đó, cuốn sách nhấn mạnh đến thực trạng nhằm cung cấp thêm cơ sở cho việc đổi mới, phát triển nền giáo dục đại học Việt Nam
Công trình Kết quả đào tạo sau đại học tại Trung tâm khoa học xã hội và
nhân văn quốc gia 1978 – 2003 của Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc
gia do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 2003 đã tổng kết kết quả đào tạo tại Trung tâm giai đoạn 1978 – 2003 Đồng thời, phân tích một số vấn đề có tính
lý luận và thực tiễn giáo dục đại học và đề xuất một số biện pháp cơ bản thúc đẩy đào tạo sau đại học ở Trung tâm cho giai đoạn tiếp theo
Công trình Giáo dục với phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa của tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân được công bố trên Tạp chí Phát
triển giáo dục (Số 4 - 2005) đã phân tích vai trò của giáo dục với phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao; công trình cũng chỉ ra thực trạng và một số vấn đề bất cập của giáo dục Trên cơ sở đó đề xuất một số ý kiến đổi mới giáo dục – đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Công trình Những vấn đề giáo dục hiện nay, quan điểm và giải pháp do Nhà
xuất bản Tri thức, Hà Nội phát hành năm 2008 đã phân tích quan điểm coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu; phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục – đào tạo ở nước ta và một số nước trên thế giới Từ đó, xác định một số quan điểm cơ bản về giáo dục – đào tạo ở nước ta cần phải nhận thức đúng và đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm đổi mới giáo dục – đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới
Công trình Giáo dục và đào tạo: phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI
của Trần Khánh Đức do Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội phát hành năm 2010 Cuốn sách đề cập và phân tích khá sâu sắc tình hình giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực;
Trang 106
vai trò của giáo dục và đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực nước ta trong thế
kỷ XXI; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy, đổi mới giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước
Công trình Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài, Một số
kinh nghiệm của thế giới (Chỉ đạo biên soạn - Tạ Ngọc Tấn) của Học viện Chính trị
- hành chính quốc gia do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội phát hành năm
2012 Cuốn sách đã phân tích khá sâu sắc những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực, nhân tài và phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài của một số nước trên thế giới, rút ra những kinh nghiệm bổ ích cho Việt Nam trong việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nước ta
Ngoài những công trình tiêu biểu trên còn có nhiều luận văn, luận án và các bài nghiên cứu công bố trên các tạp chí Như vậy, có thể nói các công trình trên đây
đã phản ánh bức tranh tương đối đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn về vấn đề giáo dục – đào tạo đối với sự phát triển nguồn nhân lực nói riêng và con người nói chung Ở mức độ nhất định, các công trình đề xuất các giải pháp nhằm phát triển giáo dục, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thứ hai, nhóm công trình liên quan đến lĩnh vực con người và phát triển con người, trong đó phải kể đến một số công trình:
Công trình, Triết học Mác – Lênin về con người và việc xây dựng con người
Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tác giả Vũ Thiện Vương xuất
bản năm 2001 Trong đó, tác giả đã phân tích quan điểm của triết học Mác – Lênin
về bản chất con người - cái bản chất luôn tồn tại một cách hiện thực với phương thức đặc thù là hoạt động có ý thức mà bằng hoạt động này con người đã sáng tạo ra lịch sử Tác giả cũng phân tích những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
về giải phóng con người Đồng thời, tác giả còn phân tích những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với việc xây dựng con người Việt Nam hiện đại Đánh giá thực trạng và đặt ra những vấn đề đối với việc xây dựng con người Việt Nam trước và trong đổi mới Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 3 phương hướng và 4 nhóm giải pháp để xây dựng con người Việt Nam
Trang 117
Công trình Chủ nghĩa Mác – Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam xuất
bản năm 2002 của tác giả Đặng Hữu Toàn Tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam; quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt tác giả đã dành riêng một phần cuốn sách để luận giải học thuyết Mác về con người, giải phóng con người và vấn đề phát triển con người Việt Nam
Ngoài ra, còn có các công trình như: Quan điểm Hồ Chí Minh về con người
và bản chất con người xuất bản năm 2002 của tác giả Đặng Xuân Kỳ; Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược trồng người xuất bản năm 1997 của tác giả
Trần Thành
Công trình Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của tác giả Phạm Minh Hạc công bố năm 2001 Trong tác phẩm
này, tác giả đã phân tích những đặc điểm lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội, sự tác động của khoa học công nghệ và phân tích thành tựu, kinh nghiệm của một số nước phát triển, phân tích, làm rõ vai trò phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với việc nghiên cứu con người; tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phẩm chất của con người Việt Nam
Cuốn Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa xuất bản năm 2001 của tác giả Phạm Minh Hạc Nội dung cơ bản của cuốn sách
là phân tích cơ sở khoa học của chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam giai đoạn 1996 – 2000, đồng thời nêu lên một số định hướng chiến lược và một số giải pháp nhằm xây dựng, phát triển con người Việt Nam về mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ…Đặc biệt, cuốn sách đã cụ thể hóa trong một phạm trù nhất định về mục tiêu đào tạo của nhà trường, chủ yếu ở hệ thống phổ thông và xây dựng chiến lược giáo dục toàn diện nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Về các công trình, nhóm công trình, tạp chí viết về vấn đề vai trò của trí tuệ trong việc góp phần phát triển nguồn nhân lực toàn diện, gồm các công trình sau:
Trang 128
Bài Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước công bố trên Tạp chí Triết học, số 3 – 1994 của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn; Trí tuệ -
Nguồn lực vô tận của sự nghiệp phát triển xã hội công bố trên Tạp chí Triết học, số
1 – 1993 của tác giả Phạm Ngọc Trầm; Phát huy yếu tố con người trong lực lượng
sản xuất công bố trên Tạp chí Triết học, số 1 – 1993 của tác giả Nguyễn Đình Hòa; Nguồn tài nguyên con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước công bố trên Tạp chí Thông tin lý luận, số 11 – 1994 của tác giả Nguyễn Quan
Du; Giáo dục – đào tạo – nền tảng của chiến lược con người công bố trên Tạp chí Cộng sản, số 3 – 1993 của tác giả Phạm Tất Dong; Phát triển giáo dục- đào tạo là
điều kiện bảo đảm công nghiệp hóa, hiện đại hóa công bố trên Tạp chí Đại học và
Giáo dục chuyên nghiệp, số 4 – 1995 của tác giả Lưu Đình Mạc; Nguồn nhân lực-
động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước công bố trên Tạp chí Triết
học, số 1 – 1996 của tác giả Nguyễn Thế Nghĩa
Về cơ bản, các công trình trên ít, nhiều đề cập đến vấn đề con người, vấn đề giáo dục – đào tạo dưới các góc độ, cấp độ và các giai đoạn khác nhau Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, chúng tôi cố gắng phân tích những tác động cụ thể của giáo dục – đào tạo đối với việc phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay, với mong muốn góp phần xây dựng con người Việt Nam hiện đại, toàn diện Trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới, đặc biệt trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục – đào tạo hiện nay, việc nghiên cứu làm sáng tỏ vai trò của giáo dục – đào tạo trong việc xây dựng con người mới, con người xã hội chủ nghĩa thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là việc làm cần thiết và không có sự trùng lặp với các công trình đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích: Luận văn nghiên cứu làm rõ về tình hình phát huy vai trò của
giáo dục – đào tạo trong phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay
* Nhiệm vụ:
- Phân tích vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển lịch sử và con người nói chung
Trang 139
- Phân tích thành tựu và hạn chế trong việc phát huy vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay trên ba mặt: đạo đức, thể lực và trí tuệ
- Đưa ra một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của giáo dục – đào tạo trong việc phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển con người toàn diện ở Việt Nam trong hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu:
Giáo dục – đào tạo luôn là mối quan tâm của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới trong đó có Việt Nam Ngày nay, vai trò của giáo dục – đào tạo tác động lên mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, đặc biệt đối với con người Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay dựa trên ba yếu tố: đạo đức, thể lực và trí tuệ
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn thực hiện trên cơ sở lý luận, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, giáo dục, đạo đức và nhất
là về con người
* Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phân tích - tổng hợp; lịch sử - logic; khái quát hóa Ngoài ra, tác giả còn kết hợp một số phương pháp như hệ thống hóa, đối chiếu, so sánh, thống kê…để làm rõ vấn đề mà luận văn đề cập đến
Trang 1410
6 Đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề căn bản trong việc phát huy vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay; đồng thời xây dựng một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển con người toàn diện ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về vấn đề liên quan đến giáo dục và phát triển con người
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 1511
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
1.1 Vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển lịch sử
1.1.1 Vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển kinh tế - xã hội
Trước hết, phải khẳng định rằng, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mọi dân tộc, quốc gia cũng như tiến trình phát triển chung của nhân loại Trong đó, vai trò của con người với tư cách chủ thể của mọi hoạt động và sáng tạo ra lịch sử Với việc sử dụng tri thức để cải biến giới tự nhiên theo mục đích của mình, con người đã từng bước góp phần vào
sự phát triển xã hội Quá trình phát triển đó phụ thuộc vào khả năng nắm bắt bản chất và quy luật của giới tự nhiên – tri thức Khi con người sử dụng tri thức kinh nghiệm trong quá trình sống và hoạt động, ở mức độ nhất định đã mang lại hiệu quả nhất định Tuy nhiên, để đạt tới trình độ phát triển cao, đòi hỏi con người hiểu biết sâu sắc hơn về giới tự nhiên và khi ấy, vai trò của tri thức khoa học ngày càng đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Khi nói về vai trò của tri thức đối với sự nghiệp giải phóng giai cấp, Ph Ăngghen đã khẳng định: sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân luôn đòi hỏi phải
có những kỹ sư, bác sĩ, các nhà bác học, và các chuyên gia khác Giai cấp công nhân cần thiết lập quyền lãnh đạo của mình không phải chỉ ở bộ máy chính trị, mà
họ phải cần đến những kiến thức khoa học vững chắc chứ không phải những luận điệu huênh hoang, rỗng tuếch Quan điểm của các nhà mácxít khi đề cập đến con người cũng cho rằng, con người không thể đối diện với thực tế khách quan chỉ bằng những dự định, mệnh lệnh và mơ ước tuyệt đẹp… mà con người trong thời đại ngày nay phải là con người có năng lực hoạt động thực tiễn
Trong thời đại ngày nay, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức không phải
là công việc của riêng quốc gia nào mà là mục tiêu của mọi quốc gia Trên thực tế, Nhật Bản đã xây dựng thành công những thành phố công nghệ trải rộng trên cả
Trang 1612
nước, với ý định dẫn đầu nhân loại vào làn sóng văn minh mới Hoa Kỳ đang cố níu lại vị trí siêu cường kinh tế của mình bằng mọi cách, kể cả sử dụng vũ lực quân sự Các nước thuộc cộng đồng kinh tế châu Âu đang cố gắng bứt lên trong cuộc cạnh tranh quyết liệt để sánh ngang với Nhật Bản và Mỹ Các “con rồng” châu Á tuy đi sau nhưng cũng đã làm được những điều phi thường về kinh tế… Tất cả những quốc gia này đã làm nên những điều kỳ diệu trong phát triển kinh tế - xã hội, mặc
dù họ không phải là những nước giàu tài nguyên, khoáng sản Song, với quan điểm giáo dục và chiến lược về con người đúng đắn, họ đã tạo dựng một nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở nhận thức được vai trò của giáo dục – đào tạo, sức mạnh của tri thức đã góp phần thúc đẩy các cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và xã hội thông tin tạo ra bước ngoặt trong lịch sử của loài người Cuộc chạy đua giữa các quốc gia ngày nay thực chất là sự chạy đua về khai thác, phát huy và sử dụng tri thức trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Thực tiễn đã chứng minh rằng, trong tất cả yếu tố tạo nên sự thành công của các quốc gia, đặc biệt sự phát triển vượt trội về kinh tế không có một yếu tố nào quan trọng hơn giáo dục – đào tạo Bởi lẽ, lịch sử văn minh nhân loại như một dòng chảy bất tận không ngừng Trong dòng chảy lịch sử ấy, xuất phát từ yêu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế, của sản xuất vật chất đòi hỏi phải có những tri thức Chủ thể của mọi quá trình sản xuất, của mọi tư liệu lao động, của quan hệ tổ chức quản lý là con người, trong đó giáo dục – đào tạo là công cụ khai mở tri thức mới Do vậy, sẽ là sai lầm khi không đánh giá đúng vị trí, vai trò của giáo dục – đào tạo trong các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, và “mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ có thể xuất phát từ đó mới cắt nghĩa được lịch sử” [41, tr 523] Chủ nghĩa Mác đã tìm ra câu trả lời cho động lực làm nảy sinh tri thức mới phục vụ cho quá trình sản xuất, hay nói cách khác, tri thức là động lực chính viết nên lịch sử văn minh nhân loại, mà mỗi khi tri thức hay phát minh mới ra đời đều đánh dấu một bước tiến mới của nhân loại
Trang 17số công nhân mặc “áo cổ trắng” và nhân viên dịch vụ đã vượt về số lượng so với nhân viên mặc “áo cổ xanh” Biểu tượng của làn sóng thứ ba là chiếc máy tính Đó
là sự lên ngôi của truyền thông, thông tin và tri thức khoa học
Trong lịch sử phát triển, loài người đã trải qua nhiều giai đoạn với những phương thức và huy động mọi nguồn lực khác nhau cho sự phát triển Có những giai đoạn, con người chủ yếu sử dụng sức mạnh cơ học để tạo ra của cải vật chất, sức mạnh vật chất, tài nguyên cho sự phát triển Và như thế, “con người chỉ có thể vận dụng sức lực đến một mức độ nào đó mà thôi Của cải cũng cùng một cách thể hiện như vậy Tiền của không thể mua hết tất cả, dù là núi vàng, núi bạc cũng có ngày khánh tận” [62, tr 47] Để vượt qua giới ha ̣n này đòi hỏi vai trò của tri thức với tư cách nguồn lực vô ha ̣n cả về lượng và chất Đă ̣c biê ̣t, trong thời đa ̣i ngày nay tri thức ngày càng đóng vai trò quan trọng, quyết định đối với quá trình sản xuất cũng như quá trình phát triển Và rằng, “tri thức không bị hạn chế như vậy, ngược lại, chúng ta có thể truy tầm nó mãi mãi đến tối đa” [62, tr 47] Hơn nữa, “tri thức, với tư cách là yếu tố sản xuất độc đáo, sẽ thay thế đất đai, tài nguyên, sẽ phá vỡ giới hạn địa lí, không gian, văn hóa, sẽ vượt qua lãnh thổ quốc gia, dân tộc, chủng tộc, trở thành “sức mạnh vô địch” trong xã hội Tri thức, với tư cách là nguồn tài nguyên chủ chốt sẽ thay đổi về cơ bản kết cấu xã hội, sáng tạo ra động lực phát triển mới, đồng thời, thông qua sự chuyển hóa hiện thực của các cá thể thay đổi tiến trình của
sự sống” [66, tr 10] Không chỉ đến ngày nay con người mới nhâ ̣n ra tri thức là nguồn gốc của của cải và sự giàu có của xã hô ̣i mà ngay từ cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, Nhà triết ho ̣c duy vâ ̣t Anh Ph Bêcơn đã đánh giá rất cao vai trò của tri
Trang 1814
thức và đi đến khẳng đi ̣nh “tri thức là sức mạnh”, vì thế, tri thức phải trở thành công
cụ để con người nhận thức bất cứ sự vật nào tồn tại trong tự nhiên và trong thế giới loài người Sự tìm tòi thứ chân lý ấy là sự thực hiện tồn tại do trí tuệ con người, bởi
vì con người được giao cho thiên chức kiểm soát thế giới bao la và sự khám phá bằng trí tuệ chân chính của mình, bắt thế giới phục vụ cho nhu cầu của mình Bởi vì mục đích cốt tủy của tri thức khoa học xét đến cùng là trang bị cho con người phương tiện hiện thực và năng lực biến đổi thế giới
Có thể nói, với sức ma ̣nh của tri thức, loài người đã tạo ra những biến đổi về chất chưa từng có trong lực lượng sản xuất Một thực tế chắc chắn là, với sự gia tăng sức mạnh của tri thức, khoa học, công nghệ, nguồn gốc của cải không còn dựa nhiều vào cơ bắp và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu dựa vào tri thức, khoa học
và công nghệ Đă ̣c biê ̣t, với xu thế toàn cầu hoá các lĩnh vực của đời sống xã hô ̣i, sự bùng nổ thông tin với sự ứng du ̣ng các công nghệ mới đã trở thành một vũ khí cạnh tranh có tính chiến lược trong kinh doanh, một lực thúc đẩy then chốt trong hệ thống sáng tạo của cải mới Kết quả của những biến đổi đó là các vấn đề an sinh xã hội cũng được giải quyết từng bước trong cơ cấu xã hội Và “chúng ta đương nhiên vui mừng khi thấy rằng chỉ một thành quả khoa học như máy hơi nước của Jame Watt, trong 50 năm đầu tồn tại của nó, đã đem lại cho thế giới lợi ích nhiều hơn so với những giá phải trả cho công việc phát triển khoa học kể từ lúc bắt đầu” [43, tr
thông qua quá trình tác đô ̣ng qua la ̣i giữa giới tự nhiên với bô ̣ não con người Hơn nữa, để đa ̣t được đô ̣ sâu sắc và bản chất đòi hỏi con người cần thiết phải hê ̣ thống hoá, lôgíc hoá và có “công cu ̣” cho quá trình mở mang, nâng cao tri thức Và như thế, giáo dục – đào ta ̣o là mô ̣t trong những yếu tố đóng vai trò quan tro ̣ng, quyết
đi ̣nh nhất cho sự phát huy, phát triển tri thức của mỗi cá nhân cũng như của toàn thể xã hô ̣i Vì thế Đảng ta đã khẳng đi ̣nh: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước” [21, tr 94 – 95] Không chỉ thể hiện sự nhất quán,
xuyên suốt trong quan điểm phát triển, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh và coi đầu tư
Trang 1915
cho giáo dục – đào tạo là đầu tư cho sự phát triển Giáo dục – đào tạo, khoa học - công nghệ không chỉ nâng cao dân trí, mà còn “phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển” [22, tr 77]
Trong thời đại hội nhập như hiện nay, khoa học công nghệ bùng nổ thì càng không thể thiếu vai trò của giáo du ̣c – đào ta ̣o – yếu tố chính góp phần nâng cao trình đô ̣ dân trí, phát triển khoa ho ̣c công nghê ̣ và tăng năng suốt lao đô ̣ng Theo Becker (1964), nhà kinh tế đoạt giải Nobel năm 1992 nhấn ma ̣nh: không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực, đặc biệt là đầu tư vào giáo dục Việc thực hiện những mục tiêu cải cách giáo dục đã thực sự đem lại những chuyển biến về trình độc học vấn trong cộng đồng người dân, đây là một yếu
tố thuận lợi mang tính nội sinh trong việc đẩy mạnh các hoạt động đào tạo nghề cũng như giải quyết việc làm cho người dân
Điều đó cho chúng ta thấy, khi người dân đạt được một trình độ học vấn nhất định họ sẽ có khả năng tiếp thu thông tin cũng như khả năng phát huy chuyên môn của mình một cách tốt nhất Vì vậy, trình đô ̣ của nguồn nhân lực càng cao, khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất càng ma ̣nh mẽ, sản phẩm do ho ̣ mang
la ̣i có giá tri ̣ cao nhờ vào hàm lượng tri thức ẩn dấu trong sản phẩm Mặt khác, một điều mà chúng ta dễ dàng nhận ra đó là việc đầu tư cho giáo dục – đào tạo sẽ làm tăng năng suất cho chính bản thân họ, từ đó sẽ làm nâng cao chất lượng cuộc sống Hơn thế nữa, người lao đô ̣ng vừa là người ta ̣o ra của cải, vừa là lực lượng sáng ta ̣o
ra kỹ thuật công nghệ và trực tiếp sử dụng chúng vào quá trình phát triển kinh tế
Do đó, ta có thể nhận thấy việc nâng cao trình độ học vấn và đào ta ̣o kiến thức chuyên môn sẽ quyết đi ̣nh trực tiếp đến năng suất và hiệu quả lao đô ̣ng sản xuất Ở phạm vi vĩ mô, giáo dục làm tăng kỹ năng lao động, tăng năng suất và dẫn đến thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - mô ̣t trong những tiền đề chủ yếu cho sự phát triển con người Do vậy, giáo dục được xem như là một hoạt động đầu tư làm tăng vốn nhân
Trang 2016
lực, có ích cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Chính vì thế, giáo dục – đào tạo được coi là quốc sách Nhiều nghiên cứu ở các nước phát triển chỉ ra rằng, ở những quốc gia mà người dân có trình độ học vấn cao thường có trình độ phát triển cao hơn Hầu như các học giả đều cho rằng, đào tạo là yếu tố sản xuất quan tro ̣ng trong hàm lượng sản xuất của nền kinh tế Sự đầu tư cho giáo dục – đào tạo sẽ làm tăng chất lượng lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đối với nước ta, phát triển giáo dục – đào ta ̣o luôn được coi là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, là điều kiện phát huy nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi
về số lượng và chất lượng Về phương diê ̣n số lượng, nước ta đang ở giai đoa ̣n dân số vàng – với lực lượng lao đô ̣ng dồi dào Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào số lượng thì cũng chỉ như là dựa vào sức ma ̣nh “cơ bắp” Vì thế, viê ̣c cần thiết và để tối ưu hoá
“dân số vàng” đòi hỏi phải phát huy vai trò của giáo dục – đào ta ̣o nhằm nhanh chóng tri thức hoá lực lượng lao đô ̣ng của xã hô ̣i biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước về thể lực, kiến thức, kỹ năng, trình độ và nhân cách nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu hoạt động, lao động cá nhân và sự phát triển của xã hội
Giáo dục – đào tạo nâng cao chất lượng lao động còn được thể hiện qua việc tích lũy vốn, tăng thu nhập người lao động Giáo dục – đào tạo cũng là công cụ để thế hệ trước truyền lại cho các thế hệ những tư tưởng, văn hoá cùng những giá tri ̣ tinh thần và sự tiến bộ về khoa học công nghệ Với đất nước ta hiê ̣n nay, giáo dục – đào tạo còn hướng đến thực hiện mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” hình thành đội ngũ lao đô ̣ng có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước
và yêu chủ nghĩa xã hội Giáo dục – đào tạo gắn liền với học hành, những điều học sinh học trong nhà trường cần gắn với nghề nghiệp và cuộc sống Giáo dục – đào tạo giúp đào tạo lớp người có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, có ý thức vươn lên về khoa học, công nghệ, xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, đào tạo các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà kinh doanh, nhà quản
Trang 21“con rồng châu Á” như Singapore, nền kinh tế thứ 10 thế giới như Hàn Quốc, thì Việt Nam còn châ ̣m Tuy vậy, trong thời gian vừa qua, Đảng ta đã có quan điểm và chủ trương đúng đắn về giáo du ̣c, các hoa ̣ch đi ̣nh và quản lý giáo du ̣c và cũng là cơ sở cho viê ̣c huy đô ̣ng mo ̣i nguồn lực của xã hô ̣i cho giáo duc – đào ta ̣o Đây là cơ sở để chúng ta tin tưởng về sự rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, bằng cuộc cách mạng tri thức thông qua viê ̣c không ngừng đẩy mạnh đầu tư cho giáo dục
Có thể nói, giáo dục – đào tạo trong thời đại ngày nay đã trở thành động lực hàng đầu để phát triển kinh tế - xã hô ̣i Theo ước tính, đào tạo được nâng lên một bậc thì năng suất lao động bình quân trên toàn xã hội tăng 5% Sở dĩ, giáo dục – đào tạo có vai trò to lớn như vậy là bởi, nó tạo ra đội ngũ những nhà khoa học, các chuyên gia giỏi, những kỹ sư, thợ lành nghề bậc cao trên các lĩnh vực kinh tế, khoa
ho ̣c, công nghê ̣ và văn hoá Nhờ đó, có thể sáng tạo, vận dụng thành tựu của khoa học - kỹ thuật tiên tiến, công nghệ mới, chế tạo ra những nguyên liệu thay thế cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên và những sản phẩm không có sẵn trong tự nhiên, hơn nữa, tri thức góp phần mang lại những cách thức quản lý mới đem đến hiệu quả
việc nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học - kỹ thuật, tổ chức quản lý, năng lực hoạt động của thực tiễn lao động
1.1.2 Vai trò của giáo dục – đào tạo trong phát triển con người
Thật vậy, giáo dục – đào tạo không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của lịch sử, mà còn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển con người Về phương diê ̣n xã hội, giáo dục thể hiện vai trò trong viê ̣c xây dựng và phát
Trang 2218
triển xã hội dân chủ, là yếu tố quyết định của nền dân chủ, về phương diê ̣n cá nhân,
“một nền giáo dục tốt có thể bổ sung các khiếm khuyết trong cuộc sống gia đình và thực tiễn xã hội”, bởi vì “mọi thành viên trong xã hội đều được chia sẻ các giá trị và
các thành quả của nền giáo dục” [10, tr 488] Từ đó, có thể nhận thấy vai trò của giáo dục – đào tạo được thể hiện trên một số phương diện chủ yếu sau:
Một là, giáo dục – đào tạo góp phần phát triển đạo đức, nâng cao đời văn
hóa, thẩm mỹ và tinh thần của con người
Trước yêu cầu của thực tiễn, Đảng ta đã tiến hành công cuô ̣c đổi mới toàn diện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là bước đi tiếp theo và cu ̣ thể hoá trên phương diê ̣n kinh tế Tuy nhiên, để thực hiê ̣n mu ̣c tiêu dân giàu, nước ma ̣nh, xã hô ̣i công bằng, dân chủ và văn minh thì không chỉ có kinh tế, mà còn đòi hỏi sự phát
dưỡng những phẩm giá của con người Việt Nam Trong đó, viê ̣c chú tro ̣ng bồi dưỡng, giáo du ̣c đa ̣o đức truyền thống dân tô ̣c, đa ̣o đức cách ma ̣ng là nền tảng, gốc rễ cho viê ̣c hình thành đa ̣o đức con người trong thời kỳ mới Đạo đức của người lao động trong thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi là đạo đức trung thực và sáng tạo, tâ ̣n tuy ̣, tự giác, khẩn trương, tích cực, có sự nhâ ̣n thức rõ ý thức về nghĩa vụ, bổn phận, trách nhiệm Nó đáp ứng những chuẩn mực, giá trị của đạo đức xã hội Mà dấu hiệu trưởng thành đạo đức của nó là sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa nhận thức và hành động, giữa động cơ và hiệu quả
Cùng với trí lực và năng lực, đạo đức góp phần hoàn chỉnh những nhân tố chủ yếu trong cấu trúc nhân cách của con người xã hội “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi sự phát triển con người, thực chất là một sự phát triển nhân cách Nó là
sự phát triển ở trình độ chín muồi, sản phẩm tổng hợp ở sự giáo dục và tự giáo dục, nắm bắt những kinh nghiệm xã hội vào con người qua những nỗ lực tự giác của nó, biến thành kinh nghiệm cá nhân, được thể nghiệm trong lao động và lối sống của cá nhân Nhân cách theo đó là diện mạo đặc trưng cho chất lượng phát triển của cá nhân, là sự thể hiện của cá nhân với một hệ thống chức năng xã hội của nó trong hoạt động để khẳng định những giá trị xã hội của nó, được xã hội đánh giá thông
Trang 2319
qua uy tín và ảnh hưởng của nó tới cá nhân khác, một nhân cách khác và tới xã hội nói chung” [3, tr 12] Hơn nữa, trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay, sự phát triển và tác đô ̣ng bởi kinh tế thi ̣ trường đâu đó đã có sự sói mòn những giá tri ̣ đa ̣o đức truyền thống
Mă ̣c dù kinh tế thị trường đã góp phần đưa đất nước ta từng bước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Tuy nhiên, nếu các chủ thể tham gia vào quá trình kinh tế đó không nhâ ̣n thức được hoă ̣c không được đi ̣nh hướng thì nguy cơ tha hoá, chạy theo lợi nhuận, đi ngược lại những suy nghĩ và hành động nhân tính, vô đạo đức trong ứng xử sẽ ngày càng hiê ̣n hữu và nguy cơ xa dời mu ̣c tiêu, lý tưởng giải phóng con người ngày càng trở thành mục tiêu xa vời và mang tính giáo điều
Giáo dục – đào tạo không chỉ có ý nghĩa về mặt làm giàu tri thức cho con người, mà còn góp phần làm giàu thêm đời sống văn hóa Hơn nữa, còn phát hiện, sáng tạo những giá trị còn tiềm ẩn trong đời sống nhân dân và có khả năng “hóa thân”, “thẩm thấu” vào từng yếu tố của lực lượng sản xuất, trong quan hệ sản xuất
và kiến trúc thượng tầng Vì vậy, giáo dục – đào tạo luôn luôn là nền tảng đối với chiến lược phát triển con người Văn hóa và con người là hai vấn đề thống nhất biện chứng với nhau Mọi vấn đề của con người cũng là vấn đề của văn hóa Phát huy nhân tố con người cũng chính là quá trình phát huy những giá trị văn hóa cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, để phát triển đất nước bền vững, không một quốc gia, dân tộc nào không xác định con người – với tư cách nền tảng văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất cho sự phát triển bền vững Đảng ta đã khẳng định văn hóa là “nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển, còn con người là “trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát
triển” [22, tr 75-76]
Thời đại ngày nay – sự phát triển của khoa học - kỹ thuật đã tạo điều kiện cho sự phát triển cơ sở vật chất, cho sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có con người và văn hóa trên cả hai phương diện chất và lượng Mặt khác, chỉ khi nào con người phát triển đến một trình độ văn hóa nhất định mới nhận thức và giải quyết được những yêu cầu to lớn, những nhiệm vụ phức tạp và mới mẻ mà sự nghiệp công
Trang 24những hiểm họa không dễ gì khắc phục” [40, tr 13]
Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra qua hàng ngàn năm lịch sử Nền văn hóa Việt Nam được tạo dựng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Những tinh hoa văn hóa của con người Việt Nam luôn là yếu tố nền tảng tạo nên sức sống của dân tộc, là nguồn sức mạnh chiến thắng mọi kẻ thù, sức mạnh đó luôn trường tồn và phát triển cùng dân tộc Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay, những giá trị văn hóa truyền thống là yếu tố riêng biệt, khẳng định bản sắc của dân tộc mình trước các nền văn hóa khác Đây là chất kết dính con người, các cộng đồng người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam Đồng thời, là giá trị mà mọi con dân đất Việt hướng về cội nguồn, vun đắp cho sự phát triển và là cơ
sở để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Mỗi một dân tộc đều có quyền tự hào về văn hóa truyền thống của dân tộc mình Những giá trị văn hóa đó luôn được coi là tốt, là đẹp, là có ích đối với nhu cầu con người ở mỗi thời đại Nó không chỉ có vai trò tạo dựng nên hệ giá trị chuẩn mực chung cho một dân tộc, mà đối với từng cá thể trong dân tộc ấy cũng chịu sự tác động bởi giá trị truyền thống này Bởi “một khi những quan niệm giá trị đó hình
thành và định hình thì nó có tác dụng chi phối những nhận thức, quan niệm, hành
vi, tình cảm của con người trong mỗi cộng đồng ấy” [60, tr 715] Bởi vậy, việc giáo
dục – đào tạo thế hệ trẻ không thể không quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, nhân cách, tâm hồn và truyền thống văn hóa của đất nước Những giá trị ấy vốn định hình nên nhận thức, quan niệm, hành động của con người trước hiện thực xã hội Đây được coi là một trong những nhiệm vụ của giáo dục – đào tạo trong giai đoạn hiện
Trang 2521
nay “xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính” [22, tr 40] là mục tiêu không chỉ của giáo dục – đào tạo, mà còn là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới Bởi lẽ, văn hóa và phát triển văn hóa được coi là nền tảng tinh thần vững chắc, và là sức mạnh nội sinh của sự phát triển
Mục tiêu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam được Đảng rất quan tâm Đảng ta cho rằng: “Mục tiêu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phải phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tọc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện Đảng đặc biệt nhấn mạnh “đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [23, tr.29] Có thể nói, văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng cho sự phát triển của con người Một môi trường văn hóa lành mạnh sẽ tạo điều kiện để xây dựng con người Việt Nam đẹp về nhân cách, đạo đức, tâm hồn, nâng cao trách nhiệm xã hội và ý thức công dân Văn hóa thực sự là nền móng cho sự phát triển nhân cách và tâm hồn con người Một nền văn hóa tốt, một nền văn hóa đẹp phải là một nền văn hóa có giáo dục
Hai là, giáo dục – đào tạo góp phần phát triển trí tuệ
Giáo dục có thể hiểu là quá trình được tổ chức có ý thức hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại Giáo dục – đào tạo giúp cho con người nhận thức ngày càng sâu hơn, rộng hơn về giới tự nhiên, về đời sống xã hội và những quy luật
để vận dụng vào trong hoạt động thực tiễn Những tri thức khoa học con người có được không chỉ giúp các chủ thể hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả cao, mà còn là cơ
sở để tự hoàn thiện bản thân mình và sáng tạo ra những giá trị mới Vì thế, lịch sử
Trang 2622
loài người là quá trình liên tục sáng tạo không ngừng nghỉ của nhiều thế hệ Nhờ có tri thức khoa học, con người có thể cải biến thế giới tự nhiên và đó cũng chính là quá trình cải biến bản thân mình Theo C.Mác thông qua lao động sản xuất không chỉ làm tăng của cải của xã hội, mà còn là cơ sở cho sự phát triển toàn diện của con người Thông qua sản xuất, kết hợp với giáo dục về thể lực và trí lực C.Mác viết:
Kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục đối với tất cả những trẻ em trên một lứa tuổi nào đấy, coi đó không phải chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội, mà còn là một phương pháp duy nhất để sản xuất ra con người phát triển toàn diện nữa
Tri thức là cơ sở cho việc hình thành thế giới quan và nhân sinh quan khoa học, làm cơ sở và định hướng cho hành động của con người Nhờ đó, con người nhận thức và vận dụng vào hoạt động thực tiễn Trên cơ sở tri thức, thế giới quan, nhân sinh quan khoa học đúng đắn, con người xác định mục đích và những hành động của mình Thế giới quan đóng vai trò nhân tố sống động của ý thức cá nhân, giữ vai trò chỉ dẫn cách thức tư duy và hành động của cá nhân Nó đồng thời cũng thể hiện lý luận và khái quát hóa các quan điểm và hoạt động của nhóm xã hội Thế giới quan của mỗi cá nhân được hình thành từ nhiều cơ sở khác nhau Có thể được hình thành dựa trên cơ sở niềm tin hoặc từ những tri thức con người có được Tương ứng với nguồn gốc hình thành thế giới quan, sẽ là sự phản ánh về thế giới ở các trình độ khác nhau Trong đó, thế giới quan được hình thành từ tri thức khoa học có khả năng phản ánh sâu sắc về bản chất của giới tự nhiên và đời sống xã hội Thông qua các khái niệm, phạm trù, quy luật phản ánh các trình độ phát triển ở các giai đoạn lịch sử khác nhau Thế giới quan được hình thành trên cơ sở khoa học góp phần biện giải thế giới một cách đúng đắn, vì thế, có thể giải quyết các vấn đề do cuộc sống đặt ra một cách hiệu quả nhất Ngược lại, xuất phát từ kinh nghiệm, niềm tin có thể dẫn con người đến những sai lầm hoặc không đạt được kết quả như mong muốn Việc phát huy vai trò của giáo dục – đào tạo với tư cách yếu tố bồi đắp tri thức sẽ quyết định đến việc hình thành thế giới quan của con người Mặc dù, giữa giáo dục – đào tạo và thế giới quan không phải lúc nào cũng đồng nhất
Trang 2723
Cùng với thế giới quan, nhân sinh quan đóng vai trò chi phối đến lẽ sống, mục đích, ý nghĩa, giá trị của sống con người Ý nghĩa hơn nữa, nước ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến tới xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ và văn minh và thực hiện mục tiêu, lý tưởng của giai cấp vô sản và của con người mới trong chế độ xã hội chủ nghĩa; thì phải làm cho nhân sinh quan cách mạng chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống xã hội Trong đó, giáo dục chiếm một
vị trí quan trọng hàng đầu trong việc bồi dưỡng tình cảm, lý tưởng và mục đích sống mang tính nhân văn của con người mới, con người xã hội chủ nghĩa Do đó, phát huy vai trò của giáo dục – đào tạo, đa dạng hóa các hình thức, loại hình giáo dục như thông qua những giờ học chính khoá, ngoại khóa… để trau dồi nhân sinh quan cộng sản cho người học, hình thành cho người học một hệ thống tư tưởng, tình cảm hướng tới chân, thiện, mĩ, cùng cộng đồng xây dựng cuộc sống dân chủ, công bằng, văn minh, giàu tính nhân văn, mang lại hạnh phúc cho mỗi người, mỗi gia đình và cả xã hội
Ba là, vai trò của giáo dục – đào tạo với việc phát triển thể chất
Trong lịch sử, trước khi sáng tạo ra công cụ lao động, con người đã phải tự thích nghi với môi trường ban đầu Thời kỳ mông muội, phẩm chất đầu tiên cần có, phải có và đã có là thể lực Giai đoạn này, thể lực đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự sinh tồn Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, con người từng bước thích nghi và cải thiện thể chất, từng bước tích lũy kinh nghiệm phục vụ cho cuộc sống Nói như vậy để thấy rằng, thể chất là yếu tố đầu tiên cần có, là cơ sở để phát sinh, phát triển những phẩm chất khác của mỗi cá nhân con người Thể chất khỏe mạnh sẽ thúc đẩy khả năng đón nhận và khám phá tri thức của mỗi người Ngược lại, “một thân thể yếu đuối sẽ làm bạc nhược tâm hồn”, “thân thể phải có sức mạnh
để tuân theo tâm hồn” [56, tr 55] Và để rèn luyện một kỹ năng, người ta phải bắt đầu tìm kiếm cho mình một công cụ, và để có thể dùng các công cụ này một cách hữu ích, người ta phải làm cho chúng đủ chắc chắn để chịu đựng được việc sử dụng Vậy để tập suy nghĩ, phải rèn luyện tứ chi, giác quan, khí quan - những công cụ trí năng của chúng ta; và để phát huy hiệu quả những công cụ này ở mức cao nhất có
Trang 2824
thể, thì thân thể là thứ cung cấp các công cụ ấy, cần phải cường tráng và lành mạnh Bởi vì chính cấu tạo tốt của thân thể khiến cho các hoạt động của trí óc được dễ dàng và vững chắc hơn Để có được sự cường tráng và khỏe mạnh đó, ngay từ những năm đầu tiên đón nhận sự giáo dục bên ngoài gia đình, đứa trẻ cần phải được dạy cách để bảo vệ và tăng cường thể chất
Đòi hỏi khách quan của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đối với con người Việt Nam, đó là những con người vừa nắm được tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, vừa có thể chất và có phẩm chất đạo đức cách mạng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt yêu cầu về thể lực của người lao động mới có thể đáp ứng sự đòi hỏi của cường độ, nhịp điệu và tính chất của lao động công nghiệp Sự phát triển thể lực của mỗi người, của mỗi thế hệ và của mỗi dân tộc được nhìn nhận như một nguồn vốn Do đó, nó có vai trò rất quan trọng đối với
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: Một dân tộc yếu về thể chất cũng không thể phát triển tới văn minh
hiện đại được [54, tr 11]
Có thể nói, giáo dục – đào tạo có vai trò quan trọng, quyết định trong việc xây dựng, phát triển toàn diện con người Việt Nam Đó là quá trình xây dựng nhân cách con người Việt Nam một cách toàn diện, từ phát triển thể chất, năng lực, trí tuệ với phương pháp tư duy khoa học sáng tạo, không ngừng nâng cao trình độ học vấn, văn hóa, đến bồi dưỡng và nâng cao trình độ lý luận, xây dựng thế giới quan và đạo đức cách mạng, biểu hiện chủ yếu ở lao động và lối sống, kế thừa và phát huy tinh hoa truyền thống dân tộc, đáp ứng yêu cầu của con người mới xã hội chủ nghĩa trong xã hội văn minh Sự phát triển của con người về thể chất, trí tuệ, đạo đức nói trên không phải là sự phát triển của một vài cá nhân được lựa chọn mà phải là sự phát triển của đông đảo những con người xã hội, một lớp người, một thế hệ, và cả
xã hội trong tính phổ biến
Thông qua rèn luyện thân thể bằng hệ thống các môn thể dục – thể thao Với những đòi hỏi sự nỗ lực cao của mỗi môn thể thao khác nhau, có thể hình thành và giáo dục được những phẩm chất đạo đức, nhân cách của con người một cách tự
Trang 2925
nhiên như: ý chí, lòng dũng cảm, lòng quyết tâm, sự tự tin, tính kiên trì và nhẫn nại,
ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể, ý thức đồng đội… Thể dục – thể thao làm lành mạnh đời sống văn hóa tinh thần của xã hội, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội; đặc biệt là xây dựng niềm tin và lối sống lành mạnh cho thế hệ trẻ
Cùng với sự chăm lo tới đời sống vật chất và tinh thần của người học, giáo dục thể chất với bản chất là môn học có tính vận động cao, là một phương tiện hữu ích, hợp lý giữa chế độ học tập và nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao sức khỏe, năng lực hoạt động trong tất cả các thời kỳ học tập Việc học giáo dục thể chất còn
có tác dụng quan trọng trong quá trình rèn luyện đạo đức, ý chí và thẩm mỹ cho lớp trẻ Đối với thế hệ trẻ, giáo dục thể chất và hoạt động thể thao lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Vì đây là thời kỳ nhạy cảm nhất để phát triển và hoàn thiện thể chất, nhân cách trong cuộc đời của con người Một phương pháp hiệu quả nhất, nhằm giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, trong hiện tại và cả tương lai của dân tộc, được thực hiện ngay từ tuổi đi học cho tới suốt cả quá trình lao động nghề nghiệp
Cùng với sức khỏe, trí tuệ, hoàn thiện các năng lực thể chất là yếu tố cơ bản của con người lao động mới Mỗi người cần phải có một lối sống lành mạnh, một sự phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, nhất là trong hoàn cảnh nhiều mặt trái của nền kinh tế thị trường như hiện nay Giáo dục thể chất trong nhà trường có
ý nghĩa to lớn trong việc phát huy và bồi dưỡng nhân tố con người Đồng thời góp phần nâng cao thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần và phát huy tinh thần dân tộc của con người Việt Nam, tăng cường và giữ vững an ninh quốc phòng, đặc biệt là trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò và phát triển con người toàn diện
Vấn đề con người là lĩnh vực không chỉ được các ngành khoa học quan tâm nghiên cứu trên nhiều phương diện, mà còn là trung tâm của sự phát triển đối với mọi quốc gia trong giai đoạn hiện nay Bởi lẽ, con người vừa là chủ thể, vừa là mục đích cuối cùng của mọi hoạt động, sáng tạo Đối với các nước có tư tưởng, quan
Trang 3026
điểm lấy lợi ích của quần chúng nhân dân làm mục tiêu phấn đấu thì vấn đề con người càng trở thành trung tâm của sự phát triển Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, quan niệm dân là gốc của nước đã trở thành quan niệm có tính truyền thống, xuyên suốt trong quá trình phát triển Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đặc biệt sau cách mạng tháng Tám, tư tưởng xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân ngày càng được thể hiện rõ và đi vào thực tế cuộc sống Tư tưởng, quan điểm này đã mang tính bao trùm và thể hiện mục tiêu vì sự phát triển con người, vì hạnh phúc của nhân dân Tuy nhiên, do những hạn chế về thời đại, về yếu tố thực tiễn, các quan niệm và chiến lược phát triển con người ở mỗi thời kỳ có sự khác biệt Đối với Việt Nam, trước năm 1986, đất nước có nhiều khó khăn Mặt khác, một số nhận thức của chúng ta chưa được làm sáng tỏ, sâu sắc về phương diện lý luận Vì thế, vấn đề phát triển con người ít được đề cập đến một cách trực tiếp Sau năm 1986, công cuộc đổi mới đất nước gắn liền với việc đổi mới tư duy và nhận thức Từ đó, nhiều quan điểm ngày càng được nhận thức sâu sắc và cụ thể hóa thành chính sách trong từng lĩnh vực Trong đó, quan điểm về con người và chiến lược về con người ngày càng rõ ràng hơn
1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của con người trong công cuộc đổi mới đất nước
Trong thời đại ngày nay, khi bàn về con đường phát triển của nhân loại
trong tương lai, về sự thống nhất và tính đa dạng của các quá trình lịch sử, về bản chất và các tiêu chí phát triển, trên cơ sở học thuyết C.Mác về con người, Đảng ta
đã đi đến quan niệm thống nhất rằng, ngày nay, mọi sự phát triển bền vững đều phải hướng tới mục tiêu giải phóng con người Đó là xu hướng phát triển chung, tất yếu, khách quan của tất cả các nước, mục tiêu của sự phát triển đó là con người Để đi đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trước hết
cần phải phát triển con người, chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người
Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa được đề ra từ Đại hội VI của Đảng, giờ đây, Việt Nam chúng ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
Trang 3127
hoá đất nước Định hướng phát triển của Việt Nam chúng ta, như Đảng đã nhiều lần nhấn mạnh, là nhằm mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bề vững; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng… ngày càng được tăng cường; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện môi trường sống; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh; thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Định hướng phát triển đó, về thực chất, là phát triển vì con người, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho quần chúng nhân dân lao động Mọi sự phát triển của xã hội trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá đều do con người quyết định và đều hướng về con người, vì cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn của mỗi người, mỗi gia đình trong cộng đồng dân tộc Việt Nam “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức” theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu con người, lấy sự phát triển con người Việt Nam làm thước đo chung
Không phải cho đến nay chúng ta mới nhận thấy điều đó, mà ngay từ những buổi đầu tiến hành sự nghiệp cách mạng của mình, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định
“con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta” Chăm lo cho hạnh phúc của mọi người, mọi nhà đã được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu và coi đó là nhiệm vụ trung tâm Quán triệt quan
điểm đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta đã khẳng định: “Phương hướng lớn của chính sách xã hội là; phát huy
nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa
vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích
lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội” [20, tr 321]
Để tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được trong 30 năm đổi mới, chúng ta không có con đường nào khác ngoài con đường tiếp tục “đẩy mạnh công
Trang 3228
nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức”, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây không chỉ là con đường tất yếu, là phương thức tối ưu để đi đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mà còn là “một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội” - cách mạng con người, vì con người và do con người Bởi lẽ, khi “nói về những ưu việt của chủ nghĩa xã hội”, chúng ta không thể nói khác ngoài việc khẳng định
“những ưu việt ấy không thể do ai đưa đến cho ta, cũng không thể tự nhiên mà có
Đó phải là kết quả của những nỗ lực vượt bậc và bền bỉ của toàn dân ta, với những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng” [14, tr 5 – 6]
Phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu phát triển con người Việt Nam được coi là bước đi quan trọng trong thời kỳ phát triển mới - giai đoạn từ nay đến năm 2020 Điều này đòi hỏi chúng ta phải tập trung trí tuệ, sức người, sức của, tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh
thần của Đảng đề ra là: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị – xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” [22, tr 103] Mục tiêu đó cho thấy, trong toàn bộ sự
nghiệp cách mạng của mình, khi chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có học thuyết về con người và phát triển con người được xác định là cơ sở
lý luận nền tảng, là kim chỉ nam cho hành động Đảng ta luôn coi hướng phát triển con người Việt Nam – “con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” – vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp xây dựng xã hội mới Phát triển con người Việt Nam – đó cũng chính
là động lực, là mục tiêu nhân văn, là nền tảng, là cơ sở lâu bền, tạo đà cho bước phát triển tiếp theo của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
mà Đảng đang lãnh đạo nhân dân ta từng bước thực hiện
Trang 3329
Thực tiễn ngày càng khẳng định tính đúng đắn trong quan niệm của C.Mác
về vị trí và vai trò không gì thay thế được của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, của xã hội loài người Bên cạnh chúng ta, các nước công nghiệp mới ở châu Á đã cho thấy thành công của họ trong chiến lược nâng cao chất lượng con người, coi con người là tài nguyên vô giá và đầu tư lớn cho việc nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên sức người vô giá ấy, lấy đó làm đòn bẩy phát triển kinh tế, hiện đại hoá xã hội Bản thân sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá xã hội mà chúng ta đang từng bước thực hiện với những thành công bước đầu của nó cũng ngày càng đòi hỏi mỗi chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc “những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người”, thấy rõ vai trò của con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trên thực tế và trong quan niệm của mỗi chúng ta, con người ngày càng thể hiện rõ vai trò là “chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chật và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia” Bởi vậy, để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đưa sự nghiệp cách mạng lớn lao đó đến thành công ở một nước vẫn còn trong tình trạng của một nước kém phát triển như ở nước ta hiện nay, chúng ta không thể không xuất phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc, không thể không phát triển con người Việt Nam, nâng cao đội ngũ những người lao động nước
ta lên một tầm cao, chất lượng mới Hơn nữa, đó cần được coi là động lực mạnh mẽ nhất, giúp chúng ta mau chóng thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và xây dựng xã hội ta thành một xã hội “công bằng, nhân ái”, một xã hội “thực sự tốt đẹp và tiến bộ”, mang bản sắc dân tộc và tinh thần thời đại Trong các Nghị quyết Đại hội VIII, IX,
X, XI, XII Đảng ta đã nhiều lần khẳng định; nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Với thực tiễn nước ta hiện nay, với bối cảnh quốc tế hiện thời, để phát triển con người Việt Nam, để “bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người”, “phát huy nguồn lực con người” với tư cách là yếu tố cơ bản cho sự phát triển xã hội, tăng cường kinh tế nhanh và bền vững Chúng ta “cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa
Trang 3430
có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt” trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm từng bước tăng trưởng nguồn lực con người khi phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo trở thành “quốc sách hàng đầu”, trở thành nền tảng và động lực; phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; đặc biệt là khi mà quá trình hiện đại hoá, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục – đào tạo đang diễn ra Chính vì thế mà mọi kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội phải được đặt trong mối liên hệ không thể tách rời với kế hoạch đầu tư cho chính sự phát triển về nhân cách, trí tuệ, tình cảm, niềm vui và hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình và cả cộng đồng dân tộc Việt Nam
Trung thành với tư tưởng phát triển vì con người, giải phóng con người, giải phóng nhân loại của C.Mác, trong suốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng của mình, Đảng ta đã lấy việc chăm lo cho hạnh phúc của con người làm mục tiêu phấn đấu cao nhất Luận điểm được coi là then chốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh - “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh” - đã trở thành tư tưởng quán xuyến toàn bộ sự nghiệp hoạt động của Đảng Với tư cách là Đảng cầm quyền, mọi chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng đều quán triệt, đều hướng
tới mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng chỉ rõ: “Chính sách xã hội
đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự ngiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” Liên tục những năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết về phương hướng, mục tiêu, điều kiện và giải pháp thuộc nhiều lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến sự nghiệp chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, nguồn lực con người Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là vì sự nghiệp cao cả đó
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá lấy tư tưởng phát triển con người của C.Mác làm nền tảng không có nghĩa là đặt phát triển kinh tế sau phát triển con người, mà là
ở chỗ tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá,
Trang 3531
giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Một nước vẫn đang trong tình trạng kém phát triển như Việt Nam, để thoát khỏi tình trạng đó, trước hết chúng ta cần ưu tiên cho phát triển kinh tế Trước đây với căn bệnh chủ quan, duy ý chí, chúng ta đã làm như vậy và đã phạm sai lầm Ngày nay, để tránh mắc lại sai lầm đó, phát triển kinh tế không thể không xuất phát từ chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, từ tinh thần nhân văn sâu sắc và gắn liền với hiện đại hoá đời sống xã hội Bởi lẽ, một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế chính là ở chỗ tạo ra sự cân đối, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường xã hội an toàn, lành mạnh
Phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, chúng ta không thể không lưu ý tới lời cảnh tỉnh của C.Mác về nguy cơ “tha hoá” của con người trong nền kinh tế hàng hoá C.Mác nhắc nhở chúng ta trong phát triển kinh tế phải gắn “sự nghiệp giải phóng con người” với cuộc “đấu tranh chống lại biểu hiện thực tiễn cực đoan của sự tha hoá của con người” [42, tr 561] Ngày nay, sự phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá xã hội nhất thiết phải gắn liền với cội nguồn dân tộc, với những giá trị truyền thống Chỉ có thế chúng ta mới tránh khỏi “nguy cơ tha hoá”, “làm mất bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình” Chiến lược phát triển con người trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng phải được hoạch định theo hướng đó Thêm vào đó, nó cần được xuất phát từ quan niệm C.Mác về tính thiết yếu của việc kết hợp hài hoà sự phát triển tự do của cá nhân với thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trong cộng đồng Bởi lẽ, “chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới có những phương tiện để
có thể phát triển toàn diện năng khiếu của mình và do đó, chỉ có trong cộng đồng, mới có thể có tự do cá nhân” và chỉ “trong điều kiện có cộng đồng thật sự, các cá nhân có được tự do khi họ liên hợp lại và nhờ sự liên hợp ấy” [42, tr 108]
Như vậy, xuất phát từ tư tưởng của C.Mác về sự phát triển con người, về sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng nhân loại, chúng ta có thể khẳng định rằng,
sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ở
nước ta hiện nay chính là một cuộc cách mạng - cách mạng con người Trong Tư
Trang 3632
bản, chính C.Mác đã khẳng định để sản xuất ra những con người phát triển toàn
diện, chúng ta cần phải tạo ra được một nền kinh tế phát triển, một nền văn hoá mới, một nền khoa học - kỹ thuật hiện đại, một nền giáo dục tiên tiến Việc tạo ra những thành tựu kinh tế - xã hội đó, như C.Mác nhấn mạnh, “không phải chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội mà còn là một phương pháp duy
nhất để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện nữa” [44, tr 688] - những
chủ nhân thực sự của một chế độ xã hội vì con người Coi con người là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta luôn xác định một trong những nhiệm vụ trung tâm của chúng ta hiện nay là phát huy nguồn lực con người với tư cách yếu tố cơ bản cho sự phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Phát triển nhanh và bền vững lấy việc bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản tự
nó đã nói lên rằng, sự phát triển của con người là nền tảng của chủ nghĩa nhân đạo hiện thực; là giá trị tuyệt đối và mục đích của sự phát triển, tiến bộ xã hội, là động lực quyết định sự phát triển bền vững ấy
1.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người toàn diện trong công cuộc đổi mới đất nước
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định xã hội chủ nghĩa là xã hội
“con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, phát triển toàn diện” [21, tr 68] Tại Đại hội XI, quan điểm này tiếp tục được
Đảng ta cụ thể hóa và thể hiện trong văn kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng -
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển năm 2011) Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội mà “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” [22, tr 70] Quan điểm và chiến lược về con người của Đảng không chỉ thể hiện trong giai đoạn hiện nay, mà đã được hình thành từ rất sớm Tuy nhiên, mỗi giai đoạn lịch sử, trước một hoàn cảnh, yêu cầu và mục đích mới cần thiết phải có
sự nhận thức sâu sắc, đầy đủ và toàn diện hơn nữa nhằm thực hiện tốt nhất yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, trong đó lấy con người làm trung tâm của sự phát triển Đảng ta xác định mục tiêu từ nay đến 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công
Trang 37để mọi người được phát triển toàn diện” [22, tr 100] Quan điểm trên đã thể hiện sự
nhất quán trong mục tiêu phát triển của Đảng ta, là sự tiếp nối, phát triển lên tầm cao mới những giá trị và phẩm giá con người Việt Nam trong sự vận động của kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện được mục tiêu đó, con người cần có cơ chế, môi trường thích hợp với sự phát triển của những phẩm chất mới Mở rộng dân chủ là một “công cụ” quan trọng không chỉ nhằm mục tiêu phát huy tối đa mọi nguồn lực của xã hội, mà hơn thế nữa, còn là cơ sở, tiền đề cho việc phát triển con người toàn diện, khẳng định tiếng nói và vị thế của công dân trong đời sống chính trị xã hội, khẳng định vai trò chủ thể của xã hội Trong tư duy của Đảng ta về con người, một mặt, khẳng định vai trò chủ thể của con người; mặt khác, chỉ rõ dân chủ là điều kiện để con người phát triển toàn diện và dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội là điều kiện không chỉ để khai thác sức mạnh và tạo sự đồng thuận của xã hội, mà còn để phát triển đời sống tinh thần và tôn trọng con người
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Đảng
ta đã xác định đúng đắn những khâu đột phá - những khâu đóng vai trò trọng yếu của sự phát triển Một trong 3 khâu đột phá chiến lược được Đảng ta xác định là
“phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” [22, tr
106] là tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội Nếu không giải quyết tốt khâu này,
sẽ là rào cản, kìm hãm tốc độ và hiệu quả của phát triển và dẫn đến triệt tiêu mọi động lực Do vậy, lựa chọn, xác định đúng khâu đột phá sẽ tạo tiền đề, những điều kiện và môi trường thuận lợi để giải phóng mọi tiềm năng và khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội Khi đã xác định đúng những khâu đột phá, cần có các chính sách ưu tiên, đầu tư thích đáng để tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ, căn bản, tạo động lực to lớn và là cú hích quan trọng có ý nghĩa quyết định trong việc thúc đẩy các lĩnh vực của đời sống xã hội phát triển Xét đến cùng, để có được nguồn nhân lực có chất lượng cao thì phải nâng cao chất lượng con người, mà
Trang 3834
những thành tố cơ bản của nó là thể lực, trí lực và tâm lực Việc xác định phát triển nguồn nhân lực là khâu đột phá, điều này vừa phản ánh yêu cầu của thực tiễn cách mạng và phát triển nền sản xuất xã hội, vừa tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của con người nhằm đem lại những điều kiện tốt nhất về vật chất và tinh thần để từng bước giải phóng con người
Để phát triển con người Việt Nam, Đảng ta đã đưa ra nhiều chủ trương và định hướng, trong đó, ngoài việc phát triển những tố chất con người tự nhiên còn chú trọng phát triển con người xã hội, con người dân tộc, con người lịch sử - con người mang dấu ấn của văn hóa và giá trị truyền thống Xây dựng và hoàn thiện hệ thống giá trị con người Việt Nam trong thời đại mới là một yêu cầu của thực tiễn Tiếp tục phát triển trên tinh thần và sự cụ thể hóa quan điểm đó, Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định sự cần thiết phải “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam…Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” [21, tr 106] thời kỳ mới Tư tưởng này của Đảng được tiếp tục phát triển khi cụ thể hóa thành tiêu chí và chuẩn mực của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là “xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi;
sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính” [22, tr 76 – 77] Khi
xác định tiêu chí xây dựng con người mới, Đảng ta cho rằng, yêu nước là một truyền thống quý báu của dân tộc, là tài sản vô giá, là yếu tố cốt lõi, quan trọng nhất đối với nội lực của dân tộc Do đó, phẩm chất đó phải được kế thừa, phát triển trong thời đại hiện nay Với thực tiễn cách mạng Việt Nam, truyền thống không chỉ thể hiện ở giá trị tinh thần thuần túy, mà nó phải biến thành hành động cụ thể, với hoàn cảnh và mục tiêu cụ thể - không cam chịu đói nghèo, lạc hậu Phải xây dựng đất nước phồn vinh sánh vai cùng các cường quốc trong khu vực và trên thế giới Trong giai đoạn hiện nay, ngoài những yếu tố truyền thống, giá trị tinh thần, con người Việt Nam phải có tinh thần và trách nhiệm công dân, không ngừng học hỏi, trau dồi tri thức, có ý thức và năng lực làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, nhất là phải có khả năng làm chủ khoa học, công nghệ, vận dụng đúng đắn, thành thạo các kỹ thuật,
Trang 3935
công nghệ mới, hiện đại, có tri thức để lao động, sản xuất giỏi Hơn nữa, để đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao đó, với cường độ lao động lớn, đòi hỏi mỗi người phải có ý thức rèn luyện sức khỏe, nâng cao thể lực, đủ sức lao động trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Đảng ta cho rằng, giáo dục – đào tạo là yếu tố đóng vai trò nền tảng góp phần xây dựng và phát triển con người trong giai đoạn hiện nay Do đó, phải “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” [22, tr 130 – 131] Khẳng định đổi mới cơ chế quản lý giáo dục là khâu then chốt xuất phát từ thực tiễn của giáo dục, cũng như từ yêu cầu của việc phát triển trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt, đổi mới giáo dục là cốt lõi, là khâu quyết định đến việc phát triển con người toàn diện Bên cạnh đó, phát triển đội ngũ giáo viên là khâu “tái đầu tư” có chiều sâu - nền tảng cho một nền giáo dục vừa đảm bảo chất lượng, vừa đảm bảo về số lượng Và như vậy, cùng với đổi mới cơ chế giáo dục, đầu tư phát triển đội ngũ giáo viên là “đầu tàu” cho cả hệ thống giáo dục và hơn thế nữa, là “đầu tàu” cho cả nền kinh tế và đời sống xã hội Vì giáo dục – đào tạo vừa xác lập nền tảng tinh thần, vừa là chìa khóa cho việc chinh phục giới
tự nhiên Giáo dục – đào tạo phải hướng vào việc phát triển con người có đầy đủ năng lực và phẩm chất xã hội, góp phần phát triển con người toàn diện về đức, trí, thể, mỹ
Phát triển con người là nội dung quan trọng thể hiện tính nhân văn, nhân bản sâu sắc, là mục tiêu, động lực của sự nghiệp cách mạng Con người là chủ thể của
xã hội và của mọi hoạt động Thông qua hoạt động thực tiễn, con người thúc đẩy xã hội phát triển, tạo tiền đề để tự giải phóng mình và giải phóng xã hội Xuất phát từ
đó, Đảng ta coi sự phát triển con người Việt Nam toàn diện là nhiệm vụ không chỉ
có ý nghĩa trực tiếp, trước mắt, mà còn là nhiệm vụ chiến lược lâu dài Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đều nhằm quán triệt tư tưởng chăm lo bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người theo hướng “phát triển toàn diện về chính trị,
tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà
Trang 4036
trong gia đình, cộng đồng và xã hội” [20, tr 659] Trong giai đoạn hiện nay, sự tác
động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ cùng với sự hình thành kinh tế tri thức đã tác động sâu sắc đến tính chất của thời đại, đến cơ cấu kinh tế và tính chất của nền sản xuất Nền văn minh của nhân loại đang chuyển sang văn minh trí tuệ
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi những nhân tố mới Do vậy, phát triển con người toàn diện được đặt ra như một vấn đề vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược và được xem xét trên nhiều mặt, nhiều phương diện Tuy nhiên, nội dung cốt lõi của nó thể hiện ở mấy mặt sau:
Thứ nhất, phát triển đời sống văn hoá tinh thần cho con người Coi phát triển
văn hoá hướng tới phát triển toàn diện con người là một trong những yếu tố cơ bản
để giải phóng tinh thần của nhân dân, Đảng ta đã xác định tiến hành cách mạng trong lĩnh vực tư tưởng, văn hoá là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng nhằm xây dựng con người mới, xây dựng nền văn hoá mới Văn hóa có vai trò to lớn trong sự nghiệp cách mạng, là một trong những yếu tố quan trọng để khơi dậy lòng tự tôn, tự hào dân tộc, là động lực tinh thần to lớn, là cơ sở để phát huy nội lực và cũng là tiền
đề cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Thông qua văn hoá, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựng xã hội công bằng, bình đẳng, mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Thực hiện có hiệu quả chủ trương “phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hoá, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại” và “xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá để văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một
động lực phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế” [22, tr 126] Qua đó, xây
dựng nền văn hoá “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo,
ý thức công dân, tuân thủ pháp luật” [22, tr 105] Để nâng cao chất lượng đời sống tinh thần, các hoạt động sáng tác văn hoá, văn nghệ phải hướng tới con người mới, từng bước hình thành và bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp cho con người Việt Nam Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ “nhằm xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm