Các mặt biểu hiện tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến không đồng đều, trong đó sự nỗ lực vượt khó trong làm việc của người lao động
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TỪ THỊ HƯỜNG
TÍNH TÍCH CỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÒ CHƠI GIÁO DỤC TRỰC TUYẾN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TỪ THỊ HƯỜNG
TÍNH TÍCH CỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÒ CHƠI GIÁO DỤC TRỰC TUYẾN
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THỊ MINH LOAN
Trang 3HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Minh Loan – Khoa Tâm lý học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Từ Thị Hường
Trang 4Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các phòng ban, cán bộ quản lý cùng nhân viên Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến Đó là những người đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu thực tiễn, giúp tôi có được những số liệu quý báu để góp phần vào việc hoàn thành luận văn cao học
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và bạn
bè tôi, những người đã ủng hộ tôi về mặt tinh thần, giúp tôi có thể hoàn thành luận văn của mình
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài của tôi còn nhiều thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến quý giá của các Thầy (cô) giáo
để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, 06 tháng 12 năm 2016
Học viên
Từ Thị Hường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU TÍNH TÍCH CỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 5
1.1 Tổng quan các nghiên cứu về tính tích cực làm việc của người lao động 5 1.1.1 Một số lý thuyết liên quan đến tính tích cực 5
1.1.2 Các nghiên cứu về tính tích cực của cá nhân 5
1.1.3 Các nghiên cứu về tính tích cực làm việc 8
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 17
1.2.1 Khái niệm tính tích cực của cá nhân 17
1.2.2 Khái niệm tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến 19
1.2.2.1 Khái niệm người lao động 19
1.2.2.2 Khái niệm tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến 20
1.3 Biểu hiện tính tích cực làm việc của người lao động 21
1.3.1 Sự chủ động làm việc của người lao động 21
1.3.2 Sự hứng thú làm việc của người lao động 22
1.3.3 Sự sáng tạo trong làm việc của người lao động 23
1.3.4 Sự nỗ lực vượt khó trong làm việc của người lao động 24
Trang 61.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động 26
1.4.1 Động cơ làm việc của người lao động 26
1.4.2 Nhu cầu thành tích của người lao động 26
1.4.3 Môi trường làm việc của người lao động 27
1.4.4 Thu nhập của người lao động 29
1.4.5 Chế độ chính sách, phúc lợi xã hội đối với người lao động 30
1.4.6 Thái độ của người quản lý với người lao động 32
1.4.7 Mối quan hệ với đồng nghiệp của người lao động 33
Tiểu kết chương 1: 35
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Tổ chức nghiên cứu 35
2.2 Tiến trình nghiên cứu 38
2.3 Phương pháp nghiên cứu 39
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 39
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 40
2.3.3 Phương pháp trắc nghiệm 41
2.3.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 41
2.3.5 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học 42
Tiểu kết chương 2 44
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1 Thực trạng tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến 45
3.1.1.Sự chủ động làm việc của người lao động 45
3.1.2 Sự hứng thú làm việc của người lao động 52
3.1.3 Sự sáng tạo trong làm việc của người lao động 56
3.1.4 Sự nỗ lực vượt khó trong làm việc của người lao động 61
3.1.5 Tổng hợp mức độ tính tích cực làm việc chung của người lao động 65
Trang 73.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động 76
3.2.1 Động cơ làm việc và tính tích cực làm việc 77
3.2.2 Nhu cầu thành tích và tính tích cực làm việc 82
3.2.3 Môi trường làm việc và tính tích cực làm việc 83
3.2.4 Thu nhập và tính tích cực làm việccủa người lao động 85
3.2.5 Chế độ phúc lợi xã hội và tính tích cực làm việc của người lao động 87
3.2.6 Thái độ của người quản lý và tính tích cực làm việc của người lao động 89
3.2.7 Mối quan hệ với đồng nghiệp và tính tích cực làm việc 91
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
Trang 83.8 Mức độ và biểu hiện của sự sáng tạo trong làm việc 56
3.9 Sáng tạo tronglàm việc của người lao động biểu hiện qua
3.10 Mức độ sáng tạo trong làm việc thể hiện qua hành vi 59
3.13 Mức độ tìm cách đưa ra biện pháp khắc phục khó khăn 64
3.14 Thực trạng mức độ các mặt biểu hiện tính tích cực làm việc
3.15 Tương quan giữa các mặt biểu hiện tính tích cực làm việc 67 3.16 Bảng đánh giá kết quả hoàn thành công việc của bản thân 68 3.17 Tương quan giữa kết quả công việc và tính tích cực làm việc 70
Trang 9STT Tên bảng Trang
3.19 Tính tích cực làm việc giữa quản lý và nhân viên 73
3.20 Tính tính cực làm việc của người lao động theo tình trạng hôn
3.22 Động cơ nhận dạng/đồng nhất của người lao động 78
3.25 Tương quan giữa động cơ và tính tích cực làm việc của người lao
3.26 Đánh giá môi trường làm việc của người lao động 83
3.27 Bảng đánh giá mức độ phù hợp về thu nhập đối với người lao
3.28 Thực trạng chính sách, phúc lợi xã hội của người lao động 87
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3.1 Biểu đồ thể hiện tính tích cực làm việc của người lao động 65
Trang 11DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TTCLVC
Trung học chuyên nghiệp THCN
Trung học phổ thông THPT
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Người lao động là nguồn vốn quý giá nhất của mỗi doanh nghiệp, nguồn lực con người là yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong hiện tại và
tương lai Khi nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập toàn cầu, tính chất
cạnh tranh của nền kinh tế thị trường ngày càng gay gắt thì yếu tố con người ngày càng là nền tảng và trọng yếu nhất trong mỗi doanh nghiệp Quan trọng hơn nữa là doanh nghiệp làm sao để phát huy hết nguồn lực con người, làm sao cho mỗi người lao động chủ động làm việc, say mê, hứng thú với công việc, nỗ lực vượt qua những khó khăn để đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc, mang lại năng suất cao nhất Điều đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp bên cạnh việc có các chiến lược tốt về nhân
sự, môi trường làm việc phù hợp, mức lương hợp lý…còn phải tìm cách để duy trì
và phát huy tính tích cực làm việc của người lao động Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho rằng cần có những biện pháp phù hợp để phát huy tính tích cực làm việc của người lao động, khi đó người lao động sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, từ đó dẫn đến hiệu suất và chất lượng công việc cao hơn
Công ty Cổ phần là một trong những loại hình doanh nghiệp có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, góp phần tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gần đây, hoạt động của các công ty cổ phần đã có bước phát triển, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội và tham gia giải quyết các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến là công ty tiên phong trong lĩnh vực sản xuất game giáo dục tại Việt Nam Sản phẩm game Chinh Phục
Vũ Môn là một game giải trí lành mạnh, người chơi vừa có thể giải trí, vừa học tập,
ôn lại các kiến thức, kỹ năng ở các bậc học khác nhau Bên cạnh đó, các sản phẩm của công ty chủ yếu phục vụ mục đích giáo dục: xuất bản sách, giảng dạy trực tuyến…
Việc nghiên cứu tính tích cực làm việc của người lao động không chỉ có ý nghĩa lý luận mà nó còn có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn, bởi vấn đề tích cực làm
Trang 14việc giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động làm việc, nâng cao năng suất, hiệu quả công việc của người lao động và mang lại kết quả cho doanh nghiệp Nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện, có hệ thống về tính tích cực làm việc của người lao động sẽ cho chúng ta có cái nhìn đúng đắn về vấn đề này, từ đó có thể đề ra những biện pháp, chính sách phù hợp thúc đẩy người lao động làm việc, cống hiến
và phát huy hết khả năng của mình
Những nghiên cứu về tính tích cực nói chung hiện nay dưới góc độ tâm lý học ở Việt Nam mới tập trung nghiên cứu đến tính tích cực xã hội, tính tích cực nhận thức,tính tích cực học tập ở các đối tượng khác nhau như học sinh, sinh viên, công chức nhà nước mà chưa có nghiên cứu vềtính tích cực làm việc của người lao động nói riêng Đặc biệt là trong lĩnh vực lao động, tính tích cực làm việc tại các công ty cổ phần chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống so với ý nghĩa thực tiễn mà nó mang lại Vì vậy, nghiên cứu về tính tích cực làm việc của người lao động tại công ty cổ phần không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà còn
có giá trị quan trọng về mặt thực tiễn
Chính vì những lý do trên tôi chọn đề tài:
“Tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến.”
2 Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra các mặt biểu hiện và mức độ tính tích cực làm việc của người lao động, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực của họ, từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao tính tích cực làm việc, nâng cao chất lượng hiệu quả làm
việc của người lao động tại công ty
3 Đối tượng nghiên cứu
Các mặt biểu hiện và mức độ tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến
4 Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu 150 người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến
5 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 15Các mặt biểu hiện tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến không đồng đều, trong đó sự nỗ lực vượt khó trong làm việc của người lao động là cao nhất, sự sáng tạo trong làm việc là thấp nhất Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực làm việc trong đó thu nhập của người lao động ảnh hưởng mạnh nhất
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Hệ thống một số vấn đề lý luận về tính tích cực làm việc của người lao động
và một số yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động tại Công
ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến
6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
- Nghiên cứu thực trạng mức độ tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến
- Chỉ ra cấu trúc tâm lý, các biểu hiện của tính tích cực trong làm việc cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động
- Đề xuất 1 số kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
7.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu tính tích cực làm việc của người lao động cùng 4 mặt biểu hiện và một số yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động Chúng tôi tập trung vào 4 mặt biểu hiện là: Sự chủ động làm việc, sự hứng thú làm việc, sự sáng tạo trong làm việc và sự nỗ lực vượt
khó trong làm việc
7.2 Giới hạn khách thể và địa bàn
Trong điều kiện thời gian và kinh phí có hạn, đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu trên 150 người lao động tại các cơ sở khác nhau của Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến
Trang 16Người lao động ở đây chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu về quản lý và nhân viên công ty
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận, phân tích tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Phương pháp điều tra bảng hỏi nhằm thu thập số liệu về thực trạng tích cực làm việc và các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến
- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn 14 người lao động để làm sáng tỏ kết quả nghiên cứu Trong đó có 4 người lao động giữ chức vụ quản lý, 10 người lao động là nhân viên
- Phương pháp thống kê toán học: Thống kê, xử lý số liệu thu thập được thông qua phần mềm SPSS
- Phương pháp trắc nghiệm
9 Đóng góp mới của đề tài
Tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến chưa cao Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực làm việc trong
đó động cơ làm việc của người lao động có ý nghĩa quyết định
Trong lĩnh vực tâm lý đã có những nghiên cứu nhất định về tính tích cực nhưng chưa có nghiên cứu về tính tích cực của người lao động tại doanh nghiệp cổ phần Xác định được những yếu tố chính tạo nên tích cực làm việc cho nhân viên sẽ góp phần nâng cao chất lượng công việc của người lao động cũng như giúp ban lãnh đạo có những biện pháp phù hợp để nâng cao tính tích cực của người lao động
Nêu lên được thực trạng về tính tích cực làm việc của người lao động và mối tương quan giữa các mặt biểu hiện của tính tích cực
Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tính tích cực làm việc của người lao động tại các doanh nghiệp khác
Góp phần làm cơ sở cho doanh nghiệp nâng cao chất lượng lao động, nâng cao hiệu quả công việc
Trang 17NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU TÍNH TÍCH CỰC LÀM VIỆC CỦA
NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 Tổng quan các nghiên cứu về tính tích cực làm việc của người lao động
1.1.1 Một số lý thuyết liên quan đến tính tích cực
Thuyết X và thuyết Y của Douglas Mc Gregor
Douglas Mc Gregor (1906 – 1964) là nhà tâm lý học nhân văn, khi nghiên cứu hành vi con người trong tổ chức ông đã đưa ra hai quan điểm riêng biệt về con
người: Một quan điểm mang tính tiêu cực cơ bản, gọi là Thuyết X và một quan điểm tích cực cơ bản, gọi là Thuyết Y
Theo Thuyết X, người lao động vốn dĩ không thích làm việc, lười biếng và
họ sẽ cố gắng lẩn tránh công việc bất cứ khi nào có thể Do đó, nhà quản lý phải kiểm soát hay đe dọa họ bằng hình phạt để đạt được các mục tiêu mong muốn Người lao động sẽ trốn tránh trách nhiệm, nên cần phải có sự chỉ đạo chính thức bất cứ lúc nào và ở đâu
Theo Thuyết Y, người lao động có thể nhìn nhận công việc là tự nhiên, như
là sự nghỉ ngơi hay là trò chơi Một người đã cam kết với các mục tiêu thường sẽ
tự định hướng và tự kiểm soát được hành vi của mình Một người bình thường có thể học cách chấp nhận trách nhiệm, hay thậm chí tìm kiếm trách nhiệm Sáng tạo
là phẩm chất của mọi người và phẩm chất này không chỉ có ở những người làm công tác quản lý Người lao động sẽ gắn bó với tổ chức nếu công việc giúp họ thỏa mãn nhu cầu cá nhân Dó đó nhiệm vụ của nhà quản lý là khơi dậy tiềm năng này của con người.[5] [24]
Trong thực tế, để phát huy tính tích cực làm việc của người lao động nhà quản lý có thể quản lý theo thuyết X hoặc thuyết Y hoặc sử dụng cả hai Dù là Thuyết X hay Thuyết Y thì cũng chỉ có thể phù hợp trong một tình huống nhất định nào đó
Trang 18Lý thuyết thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow
Maslow (1908 - 1970) đưa ra “lý thuyết nhu cầu” nổi tiếng vào năm 1943 Ông cho rằng nhu cầu của con người gồm có 5 loại nhu cầu và nó được sắp xếp theo một thứ bậc nhất định Các nhu cầu này được sắp xếp theo thứ tự từ thấp lên cao:
1 Nhu cầu sinh lý
2 Nhu cầu an toàn
3 Nhu cầu xã hội
4 Nhu cầu được tôn trọng
5 Nhu cầu tự thể hiện bản thân
Các loại nhu cầu này được chia làm hai nhóm đó là: Nhóm nhu cầu cấp thấp: Nhu cầu sinh lý; Nhu cầu an toàn Tiếp đến nhóm nhu cầu cấp cao được gọi
là nhóm nhu cầu phát triển bao gồm: Nhu cầu xã hội; Nhu cầu được tôn trọng; Nhu cầu tự thể hiện bản thân [5] [24]
Thuyết nhu cầu của Maslow đã có một ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp
- Đối với nhu cầu sinh lý: Trả lương tốt và công bằng, cung cấp bữa ăn trưa, ăn giữa giờ, giữa ca miễn phí; đảm bảo các phúc lợi…
- Đối với nhu cầu về an toàn: Bảo đảm điều kiện làm việc thuận lợi, bảo đảm công việc được duy trì ổn định và chăm sóc sức khoẻ tốt cho nhân viên (an toàn tính mạng, thu nhập, công việc ….)
- Nhu cầu xã hội: Người lao động cần được tạo điều kiện làm việc theo nhóm, được tạo cơ hội để mở rộng giao lưu giữa các bộ phận, khuyến khích mọi người cùng tham gia ý kiến phục vụ sự phát triển doanh nghiệp hoặc tổ chức, các hoạt động vui chơi, giải trí nhân các dịp kỷ niệm hoặc các kỳ nghỉ khác
- Nhu cầu tôn trọng: Người lao động cần được tôn trọng về nhân cách, phẩm chất, tôn trọng các giá trị của con người Do đó, cần có cơ chế và chính sách khen ngợi, tôn vinh sự thành công và phổ biến kết quả thành đạt của cá nhân một cách rộng rãi Đồng thời, người lao động cũng cần được cung cấp kịp thời thông tin phản
Trang 19hồi, đề bạt nhân sự vào những vị trí công việc mới có mức độ và phạm vi ảnh hưởng lớn hơn
- Nhu cầu tự thể hiện: Nhà quản lý cần cung cấp các cơ hội phát triển những thế mạnh cá nhân, người lao động cần được đào tạo và phát triển, cần được khuyến khích sự sáng tạo, tham gia vào quá trình cải tiến trong doanh nghiệp, được tạo điều kiện để người lao động tự phát triển nghề nghiệp
Có thể thấy rằng theo thuyết nhu cầu của Maslow, khi muốn phát huy tính tích cực của nhân viên cần xem họ đang ở thang bậc nào của nhu cầu nào để có những kích thích động lực nhất định Mỗi cá nhân khác nhau lại nằm trong những thang bậc khác nhau của tháp nhu cầu Do đó, quản lý cần nắm rõ được điều này
để tạo ra động lực thúc đẩy nhân viên cũng như làm hài lòng những nhu cầu của
họ, khi nhân viên thỏa mãn, hài lòng với nhu cầu của họ thì họ sẽ tích cực hơn trong công việc và ngược lại Theo Maslow thì các nhà quản lý nên cố gắng hết sức để làm cho nhân viên của mình có thể thuộc vào cấp bậc nhu cầu cao nhất
Lý thuyết hai nhân tố của Frederich Herzberg
Lý thuyết này nhanh chóng được nhiều người biết đến và đang được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý người lao động Có hai nhân tố ảnh hưởng tới
sự hài lòng và thỏa mãn trong công việc:
- Nhân tố duy trì (Hygiene Factor): Nó đề cập đến những khía cạnh của môi
trường làm việc như: Đồng nghiệp và sếp, bầu không khí công ty hoặc độ ồn
- Nhân tố động lực (Motivation Factor): Đề cập đến sự ảnh hưởng, tác động qua lại giữa chính người làm việc và nội dung công việc
Cả hai nhóm nhân tố này tác động một cách khác nhau về chất lượng đối với sự hài lòng trong công việc của mỗi cá nhân, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến tính tích cực làm việc của người lao động Một phát hiện đáng ngạc nhiên của Herzberg là tiền lương nhìn chung không có tác dụng tạo động lực cho nhân viên, mặc dù việc chậm trả lương sẽ làm cho mọi người chán nản Đã có một thời người
ta cho rằng tiền lương là yếu tố chủ yếu để tạo động lực Rõ ràng, tiền lương không phải là yếu tố tạo nên động lực duy nhất Tuy nhiên, nó sẽ trở nên cực kỳ
Trang 20quan trọng khi người lao động có cảm giác bị trả lương không thỏa đáng Lúc đó,
họ có suy nghĩ rất tiêu cực về công việc Một điều cần phải được nêu lên là sự chênh lệch về tiền lương có thể quan trọng hơn là số tiền được trả Nhân viên dường như thường có xu hướng quan tâm nhiều về sự chênh lệch thu nhập của họ
so với người khác hơn là về mức lương thực sự họ nhận được [24]
Môi trường làm việc từ cái nhìn của những người lao động được thiết kế tốt, không có nghĩa là điều này dẫn đến sự hài lòng trong công việc hay tích cực trong công việc, mà chỉ đóng góp vào sự bãi bỏ sự không hài lòng trong công việc
Mô hình sự hài lòng trong công việc của Herzberg
Theo ông, để phát huy tính tích cực của người lao động nhà quản lý cần phải xem xét, dựa trên từng tình huống và hoàn cảnh mà yếu tố nào cần được tác động nhiều hơn để đem lại sự hài lòng của người lao động đối với công việc để từ đó người lao động tích cực hơn trong công việc
Lý thuyết quản lý theo khoa học của Frederich Winslow Taylor
Frederich Winslow Taylor (1856 – 1915) quan niệm quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất Quan hệ quản lý giữa chủ và thợ luôn luôn mâu thuẫn gay gắt và xảy ra xung đột Nguyên nhân của mâu thuẫn giữa chủ và thợ gồm có: thái độ hờ hững thiếu trách nhiệm từ cả hai phía chủ và thợ – người quản lý và bị quản lý; nguyên nhân mâu thuẫn về lợi ích giữa người công nhân và ông chủ Taylor đưa ra phương pháp giải quyết mâu thuẫn là: Thay đổi thái độ, tinh thần trách nhiệm của cả người chủ và người thợ, đồng thời phải thỏa mãn
về lợi ích cho cả hai bên.Phân chia công việc thành các công đoạn nhỏ hơn nhằm mục đích địch mức lao động hợp lý về khối lượng công việc và thời gian tiến tới
Trang 21trả lương theo sản phẩm.Đối với người quản lý: cần được đào tạo thành nhà quản
lý chuyên nghiệp, người người lao động: cần được đào tạo sâu về chuyên môn Trong đó, ông nhấn mạnh tới việc cần phải tìm ra người công nhân giỏi nhất, lấy
đó làm căn cứ để định mức lao động và để làm gương cho những công nhân khác học tập
Sản xuất theo dây chuyềnđược Taylor áp dụng triệt để và máy móc trong quản lý nhằm tăng năng suất lao động, tạo sự thành thạo về công việc cho người công nhân Tuy nhiên, nhược điểm của nó là gây ra sự ngưng trệ của toàn bộ dây chuyền sản xuất nếu như có một bộ phận xảy ra lỗi, dẫn đến giảm năng suất lao động Và một hệ quả tiêu cực của sản xuất theo dây chuyền là gây hậu quả về tâm
lý cho người lao động do phải làm một công việc cứng nhắc, lặp đi lặp lại trong thời gian dài
Theo ông, để phát huy tính tích cực của người lao động cần chú trọng đến
“con người kinh tế” Quan niệm “con người kinh tế” của ông cho rằng: con người làm việc chỉ vì mục đích lợi ích kinh tế nên thường lười biếng, trốn việc và thích làm việc theo kiểu người lính Do vậy cần cho họ vào khuôn phép của kỷ luật và thúc ép họ làm việc bằng cơ chế thưởng phạt Và ông đưa ra cơ chế thưởng phạt theo kiểu “cây gậy và củ cà rốt” “Cây gậy” là hình phạt nếu công nhân vi phạm
kỷ luật và “củ cà rốt” là hình thức khen thưởng đối với công nhân hoàn thành tốt công việc và để khuyến khích công nhân làm việc tốt hơn nữa, để phát huy tính tích cực của nhân viên Theo ông, khi thưởng thì phải hậu để công nhân có động lực làm việc và phạt thì phải nặng để răn đe và khiến họ không dám vi phạm.Tuy nhiên, ông mới chỉ nhìn thấy và làm thỏa mãn một phần nhu cầu của người công nhân Đó là nhu cầu về sinh lý – nhu cầu thấp nhất của một con người nói chung
và người công nhân nói riêng Mà không nhìn thấy những nhu cầu cao hơn và
sự tác động của nó đến người công nhân Điểm hạn chế ở lý thuyết này là xem người lao động như một cái máy mà không có cá tính riêng [24]
Các nghiên cứu của Elton Mayo và cộng sự
Trang 22Năm 1927, Elton Mayo và cộng sự đưa ra một số kết quả nghiên cứu về việc công nhận tầm quan trọng của yếu tố tâm lý và xã hội tại nơi làm việc Các thí nghiệm khác trong năm năm tiếp theo cho thấy yếu tố con người đóng một vai trò lớn trong việc tạo động lực, làm tăng tính tích cực tại nơi làm việc và tăng năng suất
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng động lực kinh tế không phải là nguồn duy nhất làm người lao động tích cực làm việc, làm tăng năng suất Trong thực tế, trong nhiều trường hợp tiền lương vẫn chưa phải là yếu tố quan trọng nhất
Những phát hiện của các thí nghiệm Hawthorne mở rộng nghiên cứu vê môi trường làm viê ̣c và nhấn ma ̣nh vào hiê ̣u quả của hành đô ̣ng của người lao đô ̣ng
Cu ̣ thể nghiên cứu đã đưa đến một số kết luận:
- Văn hóa nơi làm việc đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất
- Điều kiện làm việc ảnh hưởng đến năng suất, nhưng lương không phải là yếu tố duy nhất kích thích
- Phong cách quản lý và lãnh đạo ảnh hưởng đến năng suất
- Sự hài lòng công việc ảnh hưởng việc sản lượng
- Các yếu tố xã hội và tâm lý như sự tương tác, lòng tự trọng và hợp tác là quan trọng cho năng suất cao
Như vậy, Elton Mayo cho rằng tiền lương không phải là yếu tố quyết định nhất trong việc nâng cao tính tích cực, nâng cao năng suất của người lao động mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như môi trường, điều kiện làm việc, phong cách lãnh đạo, bầu không khí tâm lý nhóm [24]
Lý thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol
Tư tưởng chủ yếu của thuyết Henry Fayol là nhìn vấn đề quản lý ở cả tổng thể tổ chức quản lý xí nghiệp, xem xét hoạt động quản lý từ trên xuống, tập trung vào bộ máy lãnh đạo cao với các chức năng cơ bản của nhà quản lý Ông cho rằng thành công của quản lý không chỉ nhờ những phẩm chất của các nhà quản lý, mà chủ yếu nhờ các nguyên tắc chỉ đạo hành động của họ và những phương pháp mà
Trang 23họ sử dụng Với các nhà quản lý cấp cao phải có khả năng bao quát, còn đối với
cấp dưới thì khả năng chuyên môn là quan trọng nhất
Fayol cũng đề ra 14 nguyên tắc về quản lý để vận dụng linh hoạt Qua 14 nguyên tắc quản lý hành chính, Fayol xem xét việc tổ chức công việc khoa học là công việc hàng đầu giúp nhà quản lý thành công Trong số những nguyên tắc đó
có một số nguyên tắc ảnh hưởng trực tiếp đến tính tích cực của người lao động như khuyến khích người lao động sáng tạo, chủ động, trả công lao động thỏa đáng,
xử lý hài hòa lợi ích Henry Fayol cũng chú ý đến các tác động tâm lý đối với người lao động như xây dựng bầu không khí tâm lý đồng thuận, đoàn kết nội bộ từ
đó giúp cho người lao động hài lòng hơn trong công việc, tích cực hơn trong công việc Quan niệm của Henry Fayol là chú trọng tới người lao động, quan tâm tới người lao động nhưng không có nghĩa là quản lý theo kiểu nương nhẹ [24]
1.1.2 Các nghiên cứu về tính tích cực của cá nhân
1.1.2.1 Các nghiên cứu về tính tích cực của cá nhân ở nước ngoài
- Quan điểm của các nhà Sinh học
Các nhà sinh học nghiên cứu về tính tích cực, các nhà khoa học giải thích khác nhau về tính tích cực như: Theo M Kagan thì tính tích cực của thực vật, đó
là tính hướng, là sự hướng tới những yếu tố của hoàn cảnh để tạo nên sự thay đổi, vận động, hoặc thích nghi của sinh vật đối với môi trường Hay như phát kiến của I.P.Paplôp về hệ thống tín hiệu thứ hai giúp chúng ta giải thích cơ sở sinh lý cuả tính tích cực, hoạt động của con người mà vốn mang tính chất đặc thù, khác biệt
về chất so với động vật Ông cho rằng: cơ sở sinh lý của tính tích cực chính là hoạt động của vỏ bán cầu đại não và hệ thống tín hiệu thứ hai Đây là sự khác biệt giữa con người và con vật Con vật chỉ bắt chước, chứ không có tính tích cực Chỉ
ở con người mới có tính tích cực hoạt động, hành động [Dẫn theo 22]
- Quan điểm của các nhà Tâm lý học:
+ S.Freud (Phân tâm học) cho rằng tính tích cực của con người được hiểu
như một sức mạnh tự nhiên, sinh vật giống như bản năng động vật Luận điểm cơ bản của ông là: Con người gồm ba khối (cái ấy, cái vô thức bao gồm các bản năng
Trang 24vô thức như ăn uống, tình dục, tự vệ trong đó bản năng tình dục giữ vai trò trung tâm quyết định toàn bộ đời sống tâm lí và hành vi của con người, cái ấy tồn tại theo nguyên tắc thoả mãn và đòi hỏi; cái Tôi là con người thường ngày, con người
có ý thức, tồn tại theo nguyên tắc hiện thực Cái tôi có ý thức theo ông là cái tôi giả hiệu, cái tôi bề ngoài của cái nhân lõi bên trong là “cái ấy”; Cái Siêu Tôi là cái siêu phàm, “cái tôi lý tưởng” không bao giờ vươn tới được và tồn tại theo nguyên tắc kiểm duyệt, chèn ép [34] [6]
+ Tâm lý học hành vi quan niệm hành vi của con người cũng như của động vật là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó Toàn bộ hành vi, phản ứng của con người và động vật phản ánh bằng công thức:
+ Theo Tâm lý học Mác xít: Các nhà Tâm lý học Macxit dựa vào triết học Mac- Lênin nghiên cứu vấn đề tính tích cực hoạt động của cá nhân trên lập trường quyết định luận xã hội cho rằng các thái độ hình thành nên trong quá trình phản ánh và trên cơ sở phản ánh sẽ trực tiếp biểu hiện ra ở mức độ hoạt động và ở đặc điểm số lượng, chất lượng của hiệu suất hoạt động [6]
Trang 25- Khi nghiên cứu về tính tích cực nhận thức các tác giả L.X.Vưgôtxki, X.L.Rubinstein, A.N.Lêônchiep, P.Ia.Galperin và J.Piaget cho rằng: Dựa trên quan điểm cá nhân luôn hoạt động, không có hoạt động thì cá nhân không tồn tại trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh mình Chỉ có trong hoạt động thì tính tích cực cũng như tâm lý, ý thức của con người mới bộc lộ, nảy sinh, hình thành và
phát triển [6]
- Tác giả Carrol.E.Jzard đã công bố công trình nghiên cứu về hệ thống thái
độ của con người – thành phần không thể thiếu của tính tích cực của con người, tác giả viết “có thể phán đoán vị trí xã hội trên bậc thang văn minh theo mức độ phổ biến tính tò mò trong các thành viên của nó, rằng sự phát triển và sự sụp đổ của các nền văn minh có liên quan ở mức độ nào đó, đến những bộ óc vĩ đại của những nền văn minh này theo đuổi khát vọng khái quát lý luận và tìm kiếm cái mới, chứ không phải là suy ngẫm những thành tựu của quá khứ” Tác giả đã trình bày ảnh hưởng chi phối của cảm xúc với ý thức, mức độ phát triển cao của tính tích cực Tác giả đã nghiên cứu thành phần tâm lý quan trọng của tính tích cực của con người mà biểu hiện từ mức độ thấp là “tính tò mò” và ở mức độ cao là “khao khát nghiên cứu”, khao khát khám phá cũng như tính lựa chọn trong tri giác và chú
ý [12]
1.1.2.2 Các nghiên cứu về tính tích cực của cá nhân ở trong nước
- Các nhà Tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Nguyễn Quang Uẩn…tiếp cận quan điểm duy vật biện chứng và hoạt động đều coi nhân cách là chủ thể có ý thức Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách Tính tích cực của nhân cách bao gồm các thành tố tâm lý như nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm tin, lý tưởng Các thành tố tâm lý này của tính tích cực luôn tác động qua lại lẫn nhau, được thể hiện ở những hoạt động muôn màu, muôn vẻ và đa dạng nhằm biến đổi, cải tạo, thế giới xung quanh, cải tạo bản thân con người, cải tạo những đặc trưng tâm lý của mình [6] [7]
- Tác giả Lê Thị Bừng nhìn nhận tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách và một biểu hiện rõ nét trong xu hướng của nhân cách Cá nhân không chỉ là
Trang 26đối tượng, khách thể của quan hệ xã hội mà còn là chủ thể, là một bộ phận tích cực trong sự tác động qua lại đối với thế giới khách quan và trong quan hệ với mọi người Con người tích cực là còn người sáng tạo ra lịch sử Sự sáng tạo không phải
là tự ý mà là cần thiết dưới sự tác động của những quy luật khách quan xã hội, đồng thời nó cũng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của cá nhân.[33]
- Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn Tâm lý học trẻ em cho rằng hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành Đó chính là lúc con người đang hoạt động Tính chủ thể bao hàm trước hết là tính tích cực Đây cũng là đặc tính chung của sự sống và đến con người tính tích cực phát triển tới đỉnh cao thành tính chủ động, say mê, nhiệt tình Con người là chủ thể hoạt động, đồng thời con người càng tích cực hoạt động thì tính chủ thể càng phát triển cao và do đó con người sẽ dần dần hoàn thiện chính mình Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã chỉ cho chúng ta mối liên hệ chặt chẽ giữa tính tích cực với hoạt động của con người [27]
- Tác giả Nguyễn Văn Tài trong cuốn sách Phát huy tính tích cực xã hội của
đội ngũ cán bộ nước ta có nói rằng “Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán
bộ là một quá trình phát hiện, bồi dưỡng, kích thích, phát triển, đồng thời sử dụng đúng đắn có hiệu quả tính tích cực, tự giác, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, tạo động lực phát triển của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” (Tr 40) Tác giả cũng đề cập
đến các vấn đề: vai trò nhân tố con người trong phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ, mốt số động lực phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ
và những vấn đề cơ bản để phát huy tính tính cực xã hội của đội ngũ cán bộ nước
ta hiện nay như trí tuệ hóa đội ngũ cán bộ, dân chủ hóa hoạt động của đội ngũ cán
bộ [19]
1.1.3 Các nghiên cứu về tính tích cực làm việc
1.1.3.1 Các nghiên cứu về tính tích cực làm việc ở nước ngoài
Tác giả Parker, Williams và Turner có bài viết năm 2006 về mô hình hóa các hành vi chủ động nơi làm việc Các tác giả đã nghiên cứu 282 người lao động tại nhà sản xuất dây điện ở Vương quốc Anh Các tác giả đã đưa ra kết luận rằng
Trang 27môi trường làm việc ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động, các hành vi chủ động trong công việc, yếu tố nhận thức, động lực làm việc, sự tin tưởng của đồng nghiệp có ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động [35]
Sandra Ohly và cộng sự tại Đại học Braunschweig – Đức, nghiên cứu 278 nhân viên của một công ty công nghệ cao của Đức đã kết luận rằng thái độ của người quản lý có ảnh hưởng đến sự chủ động và những hành vi sáng tạo trong công việc của nhân viên Nhân viên tích cực làm việc hơn khi có mối quan hệ với người quản lý tốt, điều đó có lợi cho sáng tạo và hành vi liên quan do nguồn lực có sẵn, có thể được sử dụng để phát triển những ý tưởng mới, người lao động tích cực hơn trong khi làm việc [37]
J Michael Crant – Đại học Notre Dame – Mỹ đã nghiên cứu hành vi chủ động trong của người lao động trong các tổ chức và ông đã đưa ra kết luận rằng sự chủ động của người lao động đã kích hoạt hiệu suất công việc cao hơn Khi công việc trở nên năng động và cạnh tranh thì hành vi chủ động và sáng kiến trong công việc trở thành yếu tố quan trọng, quyết định sự thành công của tổ chức [38]
Tác giả Daniel H Pink có viết về những nghiên cứu, kết quả động cơ thúc đẩy con người trong hơn 40 năm qua Những động cơ này góp phần tạo nên tính tích cực làm việc cho người lao động và nó ảnh hưởng đến năng suất lao động Tác giả đã chỉ ra những khác biệt giữa lý thuyết và thực tế, ông đã chứng minh rằng phương pháp củ cà rốt và cây gậy có một số hạn chế như làm giảm sút năng lực làm việc, hạn chế óc sáng tạo, chúng có thể gây nghiện cho người lao động…Củ cà rốt và cây gậy đã không còn phù hợp để thúc đẩy mọi người vượt qua những thử thách trong thời đại ngày nay mà thay vào đó là 3 yếu tố tạo động lực đó là: sự tự chủ - khao khát được làm chủ cuộc sống của mình, thành thạo – niềm thôi thúc không ngừng hoàn thiện và bổ sung kiến thức về các vấn đề bất kỳ,
lý tưởng –khao khát được cống hiến vì bản thân mình Theo tác giả, 3 yếu tố này
Trang 28là động lực chèo lái hành vi người lao động và 3 yếu tố này sẽ giúp cho người lao động tích cực hơn trong công việc [16]
Tiến sĩ Tâm lý học Paul L Marciano thuộc ĐH Yale đã đề cập đến một mô hình Respect trong tổ chức để tăng sự gắn kết, lòng trung thành, nỗ lực của nhân viên, làm tăng tính tích cực làm việc của nhân viên với các yếu tố như công nhận, trao quyền, hỗ trợ, tin tưởng, chu đáo, sự mong đợi, quan hệ hợp tác giữa mọi người Tác giả đã phân tích, chứng minh với các số liệu, thí nghiệm rằng phương pháp chủ cà rốt và cây gậy không còn thích hợp để làm tăng năng suất, nâng cao hiệu quả công việc và gắn kết nhân viên Nhà lãnh đạo, quản lý cần có sự thay đổi
để giúp tổ chức của mình làm việc có kết quả tốt hơn, năng suất hơn bằng mô hình Respect, mô hình Respect sẽ là mô hình mới để ứng dụng hiệu quả trong doanh nghiệp nhằm tăng tinh thần gắn kết, cống hiến và tính tích cực làm việc cho người lao động [14]
1.1.3.2 Các nghiên cứu về tính tích cực làm việc ở trong nước
Tác giả Trần Hương Thanh qua nghiên cứu công chức tại hai tỉnh Thái Nguyên và Phú Thọ [21] đã chỉ ra rằng tính tích cực lao động của công chức là không cao, công việc hoàn thành song chất lượng và hiệu quả không cao, một số công chức còn thiếu trách nhiệm và né tránh công việc Qua nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra được hai yếu tố quan trọng cản trở tính tích cực của công chức là thu nhập quá thấp so với công sức bỏ ra và việc quy trách nhiệm chưa rõ ràng Cũng theo tác giả, mối trường lao động và nhân cách người lãnh đạo quản lý ảnh hưởng lớn đến tính tích cực lao động của công chức Nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội [22] tác giả đã xác định mức độ tính tích cực lao động của công chức phường chủ yếu ở mức độ trung bình Trong các yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực lao động của công chức, thì phẩm chất và năng lực (mà đặc biệt là đạo đức công vụ) của họ ảnh hưởng mạnh nhất Môi trường lao động, trong đó các vấn đề như ứng xử tôn trọng,
sự công bằng, công khai, minh bạch cũng tác động mạnh tới tính tích cực lao động của công chức Ngoài ra, phẩm chất và kỹ năng công tác của cán bộ chuyên trách
Trang 29phường hay chế độ đãi ngộ đối với công chức cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tính tích cực lao động của họ
Tác giả Lãnh Thị Bích Hòa đã đề cập đến các giá trị có ảnh hưởng quyết định đến tính tích cực lao động của cán bộ công chức như nhân cách được tôn trọng, đời sống tinh thần vui vẻ…Bên cạnh đó, tác giả cũng cho chúng ta thấy nhận thức của cán bộ công chức về tính tích cực lao động của họ nhìn chung ở mức khá cao Tác giả Lãnh Thị Bích Hòa chỉ ra rằng nhu cầu lợi ích và thỏa mãn nhu cầu lợi ích là nguồn gốc và động lực của tính tích cực lao động của cán bộ, công chức và khi nhu cầu, lợi ích không được thỏa mãn sẽ cản trở tính tích cực trong lao động của các cán bộ, công chức.[ 9]
Tiểu kết: Chúng ta có thể thấy để nghiên cứu về tính tích cực có rất nhiều hướng
nghiên cứu, có tác giả chọn nghiên cứu tính tích cực xã hội, tính tính cực nhận thức, tính tích cực nghề nghiệp hay tính tích cực lao động với các đối tượng khác nhau là học sinh, sinh viên, người lao động Về cơ bản, các tác giả đều thống nhất rằng tính tích cực là hiện tượng tâm lý chỉ có thể được nảy sinh, hình thành và phát triển trong hoạt động, và bằng hoạt động Tuy nhiên chưa có tác giả nào nghiên cứu về tính tích cực làm việc của người lao động tại doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm tính tích cực của cá nhân
Đây là khái niệm khá phức tạp nên có nhiều quan điểm khác nhau:
- Trong từ điển tiếng Việt: tính tích cực được hiểu theo hai nghĩa: Một là chủ động hướng hoạt động nhằm tạo ra những thay đổi, phát triển (tư tưởng tích cực, phương pháp tích cực) Hai là hăng hái, năng nổ với công việc (tích cực học tập, tích cực làm việc) [17]
- Trong tiếng Anh khái niệm tính tích cực là “activity” để chỉ cùng lúc là hoạt động, là sự nỗ lực
- Quan điểm của các nhà Triết học: Các nhà Triết học cho rằng mỗi một sự vật bao giờ cũng thể hiện tính tích cực của nó bởi vật chất luôn vận động và phát
Trang 30triển không ngừng Các nhà Triết học chủ nghĩa Mác – Lênin xem cá nhân là sản phẩm của các quan hệ xã hội và cho rằng cá nhân tích cực tác động vào đời sống
xã hội và trở thành con người hoạt động làm phát triển xã hội Tính tích cực thể hiện ở sức mạnh của con người trong việc chinh phục, cải tạo thế giới tự nhiên, xã hội và cải tạo chính bản thân mình [6]
- Quan điểm của các nhà Sinh học: I.P.Paplôp cho rằng cơ sở sinh lý của tính tích cực chính là hoạt động của vỏ bán cầu đại não và hệ thống tín hiệu thứ hai Đây là sự khác biệt giữa con người và con vật Con vật chỉ bắt chước, chứ không có tính tích cực Chỉ ở con người mới có tính tích cực hoạt động, hành động [Dẫn theo 22]
- Quan điểm của các nhà Tâm lý học:
+ S.Freud (Phân tâm học) cho rằng tính tích cực của con người được hiểu như một sức mạnh tự nhiên, sinh vật giống như bản năng động vật Luận điểm cơ bản của ông là: Con người gồm ba khối: cái ấy, cái tôi và cái siêu tôi Cái ấy chi phối mọi hành vi, hành động của con người Như vậy, tính tích cực có thể hiểu là sức mạnh mang tính bản năng của con người [34]
+ Tâm lý học hành vi quan niệm hành vi của con người cũng như động vật
là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó Toàn bộ hành vi, phản ứng của con người và động vật phản ánh bằng công thức:
S – R (Stimulant – Reaction)
Kích thích – Phản ứng
Chủ nghĩa hành vi loại trừ ý thức và vai trò quyết định của ý thức trong sự lựa chọn các ấn tượng và cải biến chúng trong tâm hồn, cũng như trong việc lập kế hoạch cho bản thân hoạt động Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng tính tích cực là
sự đáp lại, phản ứng với kích thích bên ngoài của con người [6]
+ Theo Tâm lý học Mác xít: Các nhà Tâm lý học Macxit dựa vào triết học Mac- Lênin nghiên cứu vấn đề tính tích cực hoạt động của cá nhân trên lập trường
Trang 31quyết định luận xã hội cho rằng các thái độ hình thành nên trong quá trình phản ánh và trên cơ sở phản ánh sẽ trực tiếp biểu hiện ra ở mức độ hoạt động và ở đặc điểm số lượng, chất lượng của hiệu suất hoạt động [6]
- Tính tích cực được đề cập và nhấn mạnh như là một đặc điểm chung của sinh vật sống, là động lực đặc biệt của mối liên hệ giữa sinh vật sống và hoàn cảnh,
là khả năng đặc biệt của tồn tại sống giúp cơ thể thích ứng với môi trường [6]
- Tính tích cực gắn liền với hoạt động và hoàn cảnh bên ngoài, nó được biểu hiện như sau:
+ Nó gắn liền với sự hoạt động, được thể hiện như là động lực để hình thành
và hiện thực hoá hoạt động Ở mức độ cao, nó thể hiện ở tính chế ước, chế định trạng thái bên trong của chủ thể
+ Nó thể hiện sự thích ứng một cách chủ động với hoàn cảnh, môi trường sống bên ngoài [6]
- Như vậy, tính tích cực được nghiên cứu trong mối quan hệ với hoạt động,
nó làm xuất hiện động lực thúc đẩy con người hoạt động có hiệu quả Vì vậy tính tích cực có các tính chất sau:
+ Tính tích cực để chỉ tính sẵn sàng với hoạt động, là nhu cầu đối với hoạt động Yếu tố nhu cầu có mối liên hệ chặt chẽ với tính tích cực - đây chính là nguồn gốc của tính tích cực Tính tích cực để chỉ tính chủ động, hành động một cách có ý thức, theo chủ ý của chủ thể để đối lập với sự bị động, thụ động
+ Hoạt động đi kèm với hứng thú, hứng thú tăng cường tính tích cực của chủ thể trong hoạt động
+ Hoạt động phản ứng – Sự hoạt động của trạng thái bên trong của chủ thể với môi trường Hoạt động ý chí thể hiện tính độc lập của chủ thể với môi trường Tính chất vượt khó khăn, trở ngại trong mọi hoàn cảnh theo mục đích của chủ thể
+ Tính tích cực thực hiện chức năng biểu hiện sự thích nghi mà cao hơn là sự thích ứng, sự cải tạo và sáng tạo của chủ thể với thế giới bên ngoài Khi nói đến tính
Trang 32tích cực là phải nói đến khía cạnh chủ thể không chỉ thích ứng mà còn sáng tạo trong thế giới bên ngoài như thế nào [6]
Như vậy, tính tích cực được nghiên cứu trong mối quan hệ với hoạt động, nó làm xuất hiện động lực thúc đẩy con người hoạt động có hiệu quả
Trên cơ sở tiếp cận các quan điểm, chúng tôi cho rằng: Tính tích cực của cá
nhân là ý thức tự giác của cá nhân được biểu hiện ở sự chủ động, sự hứng thú, sự sáng tạo và sự nỗ lực vượt khó của cá nhân đó nhằm đạt kết quả cao trong hoạt
động
- Nguồn gốc tính tích cực của con người
Tính tích cực của con người không phải bẩm sinh, không phải hiển nhiên
mà có, nó không phải là năng lực sẵn có của con người khi sinh ra CacMac và Angghen đã nhấn mạnh hoàn cảnh sống là yếu tố quyết định tính tích cực của cá nhân nhưng đồng thời con người cũng cải tạo được hoàn cảnh
Những tác động bên ngoài, đặc biệt là hoàn cảnh sống, điều kiện xã hội đã gây ra những phản ứng tâm lý, những phản ứng này có thể tích cực hoặc tiêu cực
từ phía cá nhân Tức là tác động đến những nhân tố bên trong của cá nhân đó Các nhân tố bên trong tồn tại dưới dạng nhu cầu, hứng thú, động cơ và phương hướng của sự hoạt động Do đó, nguồn gốc của tính tích cực chính là nhân tố bên trong của sự phát triển nhân cách
Nhu cầu là sự kích thích bên trong đầu tiên của bất kì một hoạt động nào Mọi hành động của con người đều trực tiếp xuất phát từ nhu cầu Cac Mac đã khẳng định rằng con người sẽ không làm được gì nếu không có nhu cầu của mình kích thích hành động Có thể nói nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực của con người
Tính tích cực của con người được bộc lộ qua quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu Khi nhu cầu được thỏa mãn sẽ hình thành và phát triển hứng thú, hứng thú phát triển trên cơ sở nhu cầu và bị chi phối bởi những nhu cầu đó
Trang 33Trên cơ sở nhu cầu và hứng thú sẽ hình thành động cơ hoạt động Nếu hứng thú là nhu cầu mang màu sắc xúc cảm thì động cơ là thái độ chủ quan đối với hoạt động mà cơ sở là mục đích được tự giác đặt ra Mục đích hoạt động và kết quả hoạt động mà các cá nhân mong đợi đều được cụ thể hóa trong động cơ hoạt động,
nó chính là sức mạnh kích thích tính tích cực hoạt động của cá nhân
Như vậy, nguồn gốc của tính tích cực là hứng thu, nhu cầu và động cơ nằm trong hoạt động chủ đạo của cá nhân, nhờ đó mà có nhân có thể đạt được kết quả cao trong các hoạt động của mình [6] [7] [10] [29] [33]
1.2.2 Khái niệm tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến
1.2.2.1 Khái niệm người lao động
- Theo đại từ điển Tiếng Việt thì: “Người lao động là người bỏ công sức ra
Trang 34Khi nói đến tính tích cực làm việc là nói đến tính tích cực của chủ thể trong quá trình làm việc hay trong các hoạt động lao động của mình Cụ thể như tính sẵn sàng, hăng hái của con người đối với công việc; khả năng làm việc của con người trong việc cải tạo thế giới; sự năng động của con người
Người lao động có tính tích cực làm việc là những người luôn hiểu rõ mình phải làm những gì và mình được nhận những gì tương xứng với khả năng làm việc của mình Từ họ sẽ chủ động sắp xếp công việc của bản thân, có ý thức trong khi làm việc để đạt kết quả cao Khi gặp khó khăn, người lao động biết cách chủ động hợp tác với quản lý, đồng nghiệp và biết tìm cách vượt qua khó khăn như dành thời gian nhiều hơn cho công viêc, tham gia khóa đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn Bên cạnh đó người lao động còn thể hiện sự hứng thú, say mê trong công việc, làm việc với tất cả tình yêu và tự hào về công việc mình đang làm Cũng từ đó, người lao động có những phát kiến, sáng tạo phù hợp với công việc mình làm để hiệu quả công việc ngày một nâng cao hơn nữa
Với cách hiểu như trên nghiên cứu xác định: Tính tích cực làm việc của người lao động tại Công ty Cổ phần trò chơi giáo dục trực tuyến là ý thức tự giác của người lao động biểu hiện ở sự chủ động, sự hứng thú, sự sáng tạo và sự nỗ lực vượt khó của người lao động trong quá trình làm việc tại công ty nhằm đạt kết quả cao
1.3 Biểu hiện của tính tích cực làm việc của người lao động
Tính tích cực làm việc được biểu hiện ở các khía cạnh: Sự chủ động làm việc,
sự hứng thú làm việc, sự sáng tạo trong làm việc và sự nỗ lực vượt khó trong làm
việc của người lao động
1.3.1 Sự chủ động làm việc của người lao động
Sự chủ động làm việc hay sự chủ động trong công việc của người lao động
là yếu tố quan trọng, tạo nên sự tin tưởng, hình ảnh tốt đẹp về người lao động trong nhìn nhận đánh giá của chủ doanh nghiệp, đồng thời sự chủ động cũng là thành phần quan trọng thể hiện tính tích cực làm việc của người lao động Khi người lao động chủ động thì từ trước khi làm việc người lao động đã luôn ý thức
Trang 35được công việc của mình, trong khi làm việc và sau khi làm việc luôn có trách nhiệm với các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra
+ Chủ động trước và sau khi làm việc được biểu hiện ở người lao động đến sớm để chuẩn bị bàn làm việc, sắp xếp sẵn sàng các vật dụng để làm việc, đối với các công việc cá nhân thì thu xếp trước để không ảnh hưởng đến công việc của mình Người lao động lên kế hoạch tuần, kế hoạch tháng, phân bố thời gian hợp lý cho từng công việc cụ thể, có các phương án dự phòng nếu trường hợp xấu xấy ra Chủ động sau khi làm việc được biểu hiện: Sau khi làm xong việc người lao động
so sánh kết quả và tự đánh giá kết quả của mình xem đã tốt hay chưa, trước khi rời công ty để ý đến các thiết bị như đèn, máy in, máy photo đã tắt hết chưa, điều đó
sẽ tiết kiệm điện cho công ty và đề phòng cháy nổ, giúp công ty an toàn, đảm bảo tài liệu, tài sản và tính mạng cho công ty
+ Chủ động trong khi làm việc là người lao động có ý thức đối với công việc mình đang làm Người lao động hiểu rõ nội dung công việc mình đang làm, nắm bắt được các vấn đề, bản chất của công việc, khi vắng sếp vẫn chủ động thực hiện công việc, không trì hoãn các việc có thể làm ngay, cố gắng sử dụng tối đa các khả năng của mình, thể hiện các khả năng của mình trong công việc
+ Chủ động hợp tác với đồng nghiệp: Trong quá trình chủ động làm việc thì người lao động không tách rời với người khác và tập thể, người lao động luôn cần
sự hợp tác Sự hợp tác sẽ giúp cho hiệu quả công việc đạt cao hơn Người lao động
có tinh thần hợp tác là người sẵn sàng nhận khuyết điểm khi mình sai Trong công việc không phải mình biết hết tất cả mọi thứ mà khi gặp vấn đề khó khăn sẽ nhờ sự
hỗ trợ của đồng nghiệp, với các công việc chung của công ty thì phối hợp với đồng nghiệp hay khi đồng nghiệp bị ốm có thể gánh vác thêm công việc Tất cả cũng với mục đích là chủ động trong công việc để đạt được hiệu quả cao nhất, để thể hiện rõ tính tích cực làm việc của mình
1.3.2 Sự hứng thú làm việc của người lao động
Nói đến tính tích cực làm việc thì chúng ta không thể không nói đến sự hứng thú làm việc Sự hứng thú làm việc là thái độ đặc biệt của người lao động với
Trang 36việc làm của mình Người lao động cảm thấy tích cực, mong muốn, khát khao được làm việc, được cống hiến Vì vậy, khi có hứng thú thúc đẩy, con người ta làm việc thấy dẻo dai, lâu bền và thoải mái Nếu không có hứng thú làm việc thì con người thường không có khả năng hoàn thành bất cứ một công việc nào cả, làm việc gì cũng thường chóng chán, hay bỏ dở công việc, vô trách nhiệm Hứng thú làm việc của người lao động được biểu hiện ở cảm xúc và hành vi làm việc của họ
+ Hứng thú làm việc của người lao động thể hiện qua cảm xúc: Hứng thú làm việc làm cho con người có những cảm xúc tích cực với công việc.Người lao động cảm thấy tự hào, yêu thích công việc mình làm, làm việc với tâm trạng phấn chấn, vui vẻ Khi bắt đầu ngày mới người lao động cảm thấy sự hứng khởi trong công việc và họ luôn suy nghĩ về công việc với những ý tưởng, ấp ủ của riêng mình
+ Hứng thú làm việc của người lao động thể hiện qua hành vi: Bên cạnh người lao động hứng thú với công việc thể hiện qua cảm xúc thì họ cũng có những hành vi thể hiện ra như làm việc hăng say, không chú ý đến việc khác, thấy thời gian trôi nhanh, làm việc quên thời gian, không phải như một số người lao động luôn nhìn thời gian để đúng giờ rồi về Người lao động thấy được nhiều sự thú vị trong công việc, hào hứng chia sẻ về công việc, sự hứng thú làm cho người lao động yêu thích say mê công việc, khi gặp những khó khăn trong công việc họ sẽ biêt cách ưu tiên, sắp xếp công việc để công việc diễn ra một cách tốt đẹp và đạt kết quả tốt
Hứng thú làm việc vừa là điều kiện vừa là hệ quả của hoạt động làm việc của con người Khi là điều kiện, hứng thú trong lĩnh vực chuyên môn hay việc làm của mình làm cho con người hăng hái, tích cực hơn, nhiệt huyết hơn trong những hoạt động liên quan trong lĩnh vực chuyên môn đó, đầu tư nhiều công sức hơn, ưu tiên hơn cho công việc Hơn nữa khi làm việc với niềm say mê, thích thú thì các quá trình tâm lý tham gia vào quá trình làm việc của con người sẽ trở nên linh hoạt hơn, trôi chảy hơn, đem lại cho họ khả năng sáng tạo cao hơn Và khi hoạt động của con người đạt được kết quả cao, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hoạt động của con
Trang 37người, thì khi đó sẽ lại hứng thú hơn với hoạt động đó, làm việc với thái độ hăng say, thích thú, chỉ tập trung vào công việc mà không quan tâm đến những vấn đề khác
1.3.3 Sự sáng tạo trong làm việc của người lao động
Trong bất cứ một công việc nào nếu không có sự sáng tạo, đổi mới sẽ tạo ra
sự nhàm chán, lạc hậu so với thời đại Sự sáng tạo trong làm việc là yếu tố để thấy
rõ tính tích cực trong làm việc của người lao động Bên cạnh đó, sự sáng tạo cũng chính là thể hiện tính cá nhân và có những đóng góp hiệu quả cho sự phát triển của công ty Sự sáng tạo trong làm việc của người lao động được biểu hiện ở cảm xúc
và hành vi sáng tạo
+ Cảm xúc sáng tạo trong làm việc của người lao động: Cảm xúc là yếu tố bên trong góp phần tạo động lực thôi thúc hoặc kìm hãm mỗi cá nhân thực hiện các hoạt động trong cuộc sống, trong đó có hoạt động làm việc Cảm xúc sáng tạo tích cực là một trong những điều thể hiện sự tích cực của cá nhân Những cảm xúc sáng tạo như sự ham tìm hiểu, mày mò, thích đặt những câu hỏi mới hay mong muốn được thử nghiệm những điều mới mẻ thể hiện rõ tính tích cực trong quá trình làm việc của người lao động Mỗi chúng ta khi sinh ra đều có những khát khao, hi vọng muốn vươn tới, mỗi người có ước mơ riêng và người lao động cũng vậy Người lao động có những ấp ủ, ước mơ về công việc, nghề nghiệp của riêng mình, những ước mơ, ấp ủ đó cộng thêm niềm say mê, hứng thú họ thích phát minh ra điều mới mẻ để hoàn thành tốt hơn nữa công việc của mình
+ Sự sáng tạo trong làm việc của người lao động thể hiện qua hành vi: Sự sáng tạo trong làm việc còn được biểu hiện trong những hành vi của họ chằng hạn như người lao động tìm ra những hành vi, phương pháp làm việc hiệu quả hơn, năng suất hơn Từ đó, có những phương án xử lý khi xẩy ra vấn đề trong công việc, có những ý tưởng mới để xây dựng kế hoạch làm việc đạt hiệu quả cao nhất Bên cạnh đó, sự sáng tạo sẽ giúp cho người lao động luôn mày mò, thay đổi để cái tiến công việc, có các ý tưởng để nâng cao chất lượng công việc Do vậy trong công việc nếu người lao động có những hành vi và cảm xúc sáng tạo, được làm
Trang 38những điều mới và độc đáo của riêng mình,được thử nghệm điều gì đó khác biệt trong công việc, có thể phát triển cách thức mới và tốt hơn để thực hiện công việc thì tạo ra được sự thay đổi trong công việc hàng ngày của mình, nâng cao hơn nữa năng suất lao động, kết quả lao động, góp phần tạo cho công ty, doanh nghiệp phát triển
1.3.4 Sự nỗ lực vượt khó trong làm việc của người lao động
Sự nỗ lực vượt khó trong làm việc của người lao động là một mặt biểu hiện của tính tích cực làm việc Trong bất cứ quá trình làm việc nào cũng luôn có những khó khăn và người lao động cần nỗ lực hết mình đề vượt qua những khó khăn để hoàn thành tốt công việc của mình Mọi khó khăn đều có cách giải quyết
và quan trọng là người lao động có nỗ lực để vượt khó khăn hay không Sự nỗ lực vượt khó trong làm việc của người lao động thể hiện ở sự cố gắng của cá nhân để thực hiện công việc và cá nhân tìm cách đưa ra các biện pháp khắc phục khó khăn
+ Sự nỗ lực khắc phục khó khăn của cá nhân trong quá trình làm việc: Cá nhân nỗ lực để thực hiện công việc có vai trò rất quan trọng trong sự nỗ lực vượt khó Người lao động với những thói quen khác nhau, có thói quen tốt ( đúng giờ, giữ lời hứa, ) và cả những thói quen chưa tốt ( ngủ nướng, nói to, ỷ lại người khác…) khi tham gia vào môi trường làm việc, đòi hỏi người lao động phải điều chỉnh cho phù hợp như cố gắng từ bỏ những thói quen cá nhân để phục vụ cho nhu cầu công việc Sự sẵn sàng thực hiện công việc khó khi công ty yêu cầu cũng chính là một biểu hiện của sự nỗ lực vượt khó của người lao động trong công việc Khi đảm nhận công việc của công ty thì người lao động phải có trách nhiệm hoàn thành công việc đảm bảo cả về chất lượng và tiến độ Đối với những công việc quen thuộc đã đòi hỏi NLĐ thái độ làm việc tích cực, tuy nhiên, đối với công việc,
họ cần dành nhiều thời gian, công sức hơn để nghiên cứu, thử nghiệm công việc Trong tập thể công ty, doanh nghiệp có rất nhiều thông tin khác nhau, về công việc, về sự kiện, về cá nhân,…nhiều khi có những thôn tin không tốt về người lao động, có thể gây cho người lao động tâm lý hoang mang, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất công việc nên trong quá trình làm việc, khi có những thông tin không tốt
Trang 39về bản thân, người lao động bỏ qua để tập trung vào công việc, điều đó đòi hỏi sự
nỗ lực của người lao động
+ Sự nỗ lực đưa ra các biện pháp để khắc phục khó khăn: Bên cạnh việc cá nhân nỗ lực thực hiện công việc thì tìm cách đưa ra các biện pháp khắc phục khó khăn cũng thể hiện sự nỗ lực vượt khó của người lao động Với những người thực
sự tâm huyết với công việc thì luôn đặt câu hỏi tại sao thất bại trong công việc để tìm ra nguyên nhân và lựa chọn các giải pháp khắc phục Trong quá trình làm việc, khi gặp những khó khăn mà mình chưa thể tự xử lý, đồng nghiệp là những người
có kinh nghiệm, kỹ năng hơn mình như người lãnh đạo, quản lý, người làm lâu năm.…Bên cạnh đó người lao động tự nguyện tham gia các khóa đào tạo để nâng cao trình độ, đầu tư nhiều thời gian hơn nữa cho công việc của mình nhằm mục đích giải quyết các khó khăn vướng mắc, đạt được hiệu quả cao trong công việc…Tất cả đều thể hiện sự nỗ lực vượt khó khăn của người lao động và thể hiện tính tích cực làm việc của người lao động
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động
1.4.1 Động cơ làm việc của người lao động
Về bản chất động cơ là động lực thúc đẩy con người hành động để thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn nào đó về vật chất hoặc về tinh thần hoặc cả hai Động
cơ làm việc là thành tố chủ yếu của hoạt động làm việc, tạo nên động lực thúc đẩy, kích thích và định hướng cho hoạt động làm việc Con người làm việc với các động cơ khác nhau như có việc làm để trang trải cuộc sống, thể hiện mình, được làm việc trong môi trường tốt…Các loại động cơ sẽ là động lực, thôi thúc người lao động làm việc Động cơ bên trong sẽ thôi thúc người lao động làm việc như từ
sự yêu thích công việc của bản thân, cảm thấy vui vẻ khi làm việc, làm việc để có những khoảnh khắc vui vẻ, động cơ bên ngoài như để có tiền, có thu nhập, nâng cao mức sống của bản thân, động cơ đồng nhất như công việc mang lại mục tiêu cuộc sống, đúng với kế hoạch nghề nghiệp, với các giá trị của bản thân, động cơ vị
kỷ như muốn là người xuất sắc, người chiến thắng trong công việc, không muốn bị thất bại trong công việc, công việc ảnh hưởng đến danh tiếng Dù là động cơ nào
Trang 40thì cũng ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động, động lực để người lao động hăng say làm việc [6] [8] [33]
1.4.2 Nhu cầu thành tích của người lao động
Trong hoạt động thực tế, có một vấn đề là cùng tiến hành một loại hoạt động nhưng có người đạt kết quả cao, có người lại làm việc rất chật vật mà kết quả không cao Vấn đề nằm ở nhu cầu thành tích của người lao động Một người có nhu cầu thành tích thường mong muốn hoàn thành những mục tiêu có tính thách thức bằng nỗ lực của mình, thích thành công khi cạnh tranh và mong nhận được phản hồi về kết quả công việc của mình một cách rõ ràng Những người có nhu cầu thành tích cao có động lực làm việc tốt hơn
Nhu cầu thành tích có quan hệ với tính tích cực làm việc của người lao động Có nhu cầu thành tích cao thì dẫn đến hăng say làm việc, muốn được khẳng định mình, muốn mọi người công nhận, từ đó cố gắng đạt kết quả cao trong công việc Kết quả này lại tác động, củng cố phát sinh như cầu lao động mới và hứng thú lao động Mặt khác, khi có thành tích tốt thì người lao động sẽ làm việc tích cực, hứng thú hơn, càng muốn khẳng định mình hơn nữa Bên cạnh đó, cũng có những người lao động không có nhu cầu về thành tích, không muốn thể hiện mình, điều này ảnh hưởng đến kết quả công việc
1.4.3 Môi trường làm việc của người lao động
Môi trường làm việc sạch sẽ, thoáng mát, đảm bảo an toàn lao động là một trong những điều kiện để người lao động tập trung tốt nhất cho công việc, không
bị sao nhãng, lo lắng về môi trường làm việc Khi người lao động được đảm bảo
an toàn, họ có thể toàn tâm toàn ý cho công việc mà không lo lắng về tính mạng của mình Môi trường làm việc được trang bị đầy đủ công cụ lao động cho người lao động thể hiện sự chu đáo, quan tâm của doanh nghiệp trong từng bộ phận, từng
vị trí làm việc Điều đó giúp cho người lao động có điều kiện để hoàn thành tốt các mục tiêu, kế hoạch của mình một cách thuận lợi hơn Nếu công cụ lao động thiếu, phương tiện làm việc, môi trường không an toàn sẽ ảnh hưởng đến tính tích cực làm việc của người lao động Các phương tiện làm việc trong công ty, tổ chức