Về mặt ý tứ, bài thơ chẳng bỏ sót một thứ gì trong bảng thành tích của mẹ, đương nhiên là tất cả đều được diễn đạt bằng thơ, giản dị nhưng không thiếu hình tượng.” [52] Hoàng Thi Anh khi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐOÀN THỊ NHƯ HUYỀN
THƠ LÊ ĐÌNH CÁNH TỪ GÓC NHÌN
TƯ DUY NGHỆ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐOÀN THỊ NHƯ HUYỀN
THƠ LÊ ĐÌNH CÁNH TỪ GÓC NHÌN
TƯ DUY NGHỆ THUẬT
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Thành
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận văn này, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Văn học trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô Viện văn học, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Bá Thành – giảng viên đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình
Một lần nữa, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc tới những người đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian qua Tôi xin gửi lời kính chúc sức khỏe và hạnh phúc tới thầy, cô, gia đình và bạn bè
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Thơ Lê Đình Cánh từ góc nhìn tư duy nghệ thuật” là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Bá Thành Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trong quá trình nghiên cứu luận văn còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu xót Vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, 05 tháng 12 năm 2016
Học viên
Đoàn Thị Như Huyền
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NHÀ THƠ LÊ ĐÌNH CÁNH 9
1.1 Tư duy nghệ thuật 9
1.2 Tư duy thơ 12
1.3.1 Tiểu sử và quá trình sáng tác 15
1.3.2 Quan niệm thơ 16
CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ LÊ ĐÌNH CÁNH 19
2.1 Cảm hứng chủ đạo 19
2.1.1 Cảm hứng về quê hương, đất nước 20
2.2.2 Cảm hứng nhân văn 26
2.2 Nhân vật trữ tình trong thơ Lê Đình Cánh 29
2.2.1 Cái tôi trữ tình 29
2.2.2 Các nhân vật trữ tình khác trong thơ Lê Đình Cánh 34
2.2.2.1 Người phụ nữ 34
2.2.2.2 Người lính 43
2.2.2.3 Nhân vật trữ tình là nhân vật trong tác phẩm văn học 49
Trang 5CHƯƠNG 3: THỂ THƠ, BIỂU TƯỢNG VÀ NGÔN NGỮ TRONG THƠ
LÊ ĐÌNH CÁNH 57
3.1 Thể thơ 57
3.2 Biểu tượng 63
3.3 Ngôn ngữ 75
PHẦN KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tư duy nghệ thuật là một trong những đề tài mang lại góc nhìn toàn diện đối với các hiện tượng thơ ca Đem đến những khám phá mới lạ khi tiếp cận tác phẩm, và khẳng định phong cách nghệ thuật của mỗi tác giả Tư duy nghệ thuật là một hoạt động nhận thức của người nghệ sĩ và là quá trình tìm tòi để nhận thức hiện thực, khái quát hiện thực theo cách chủ quan của mỗi người Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người với con người và quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ bằng ngôn ngữ
Nếu như trong lĩnh vực âm nhạc, người nghệ sĩ quan tâm đến sự thể hiện của âm thanh, hướng tới cảm nhận về thính giác của người nghe Trong hội họa, người họa sĩ chú trọng đến từng đường nét, màu sắc tác động đến thị giác của người xem Thì trong văn học, người nghệ sĩ chú trọng đến ngôn ngữ, đó
là một dạng kí hiệu mang tính thẩm mĩ, có sức gợi, sức tả tác động lên cả thị giác và thính giác của con người Sự vận động của ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện trực tiếp của quá trình tư duy Thông qua ngôn ngữ mà có thể biểu hiện được nhiều trạng thái cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật trữ tình Thơ là dòng cảm xúc của chính tác giả, những trang thơ được cảm nhận bằng những cảm xúc rất thật, rất đời thường Đó có thể là những câu chuyện được thi hóa bằng chính cảm xúc của nhân vật, hoặc đó cũng chính là cuộc sống của nhân vật Bàn về thơ, Nguyễn Bá Thành cũng đã quan niệm: “Nếu coi thơ là một thứ vũ khí, tư duy thơ phải thật sắc bén, ngôn ngữ thơ phải sắc nhọn, nghĩa là tư duy thơ sẽ phải hướng về những hình ảnh bạo lực, tư tưởng phê phán, tư tưởng đấu tranh sẽ là những tư tưởng chi phối tư duy thơ Nếu coi thơ là món ăn tinh thần, thơ phải ngọt ngào, phải nhuần nhị Dĩ nhiên thơ
Trang 7có thể đắng cay, chua chát, nhưng nó vẫn là những thứ ăn được” [39, tr.37] Nói đến thơ là nói đến những cảm nhận thông qua lớp ngôn từ và sự thi vị hóa
từ cảm xúc của nhà thơ đưa đến cho bạn đọc Không phải ai cũng thích thơ, nhưng những người có thể cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong thơ đều là những người có vốn sống phong phú và nhiều trải nghiệm trong cuộc sống Không phải ngẫu nhiên mà thơ trở thành vũ khí chiến đấu trong thời chiến, và trở thành món ăn tinh thời khi hòa bình lập lại Thơ đem đến cho người đọc những cảm nhận được ẩn sâu dưới lớp ngôn từ, được truyền tải bằng những phương tiện nghệ thuật đặc sắc mà chỉ có thơ mới biểu đạt được Nghiên cứu thơ từ góc độ tư duy nghệ thuật chúng ta có thể khai thác một cách hệ thống
và toàn diện hơn, khám phá thế giới nghệ thuật của nhà thơ từ nhiều góc nhìn khác nhau Qua đó khẳng định cái riêng, cái đặc trưng trong thơ của mỗi tác giả
Lê Đình Cánh là nhà thơ bước ra từ cuộc chiến tranh, trong thơ ông chất chứa tình cảm của đồng đội, đồng bào, của những hình ảnh về đất nước, làng xóm,… Gần gũi mà giản dị, thơ ông đem đến cho người đọc những đón nhận chậm rãi, không sục sạo, không phô trương, mà chỉ là những cảm nhận có từ cuộc sống nơi thôn quê đến thành thị, từ chiến tranh ra đến thời bình Với lối viết chuyên về thể loại thơ truyền thống của dân tộc, thơ lục bát của Lê Đình Cánh đã trở thành một điểm nhấn trong quá trình sáng tác của ông
Lê Đình Cánh từng đoạt giải: Khuyến khích, giải Nhì và giải Ba trong cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ năm 1972, 1976 và 1990
Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu về những sáng tác của Lê Đình Cánh để đưa ra những đánh giá khách quan nhất của một nhà thơ gắn cuộc đời mình với thể thơ truyền thống của dân tộc Mà đó mới chỉ là những bài cảm nhận, bình về những bài thơ hay của ông ở các tập thơ khác nhau
Trang 8Bởi những lý do trên mà đề tài muốn đi sâu tìm hiểu về thơ Lê Đình Cánh để thấy được những đóng góp của ông cho nền thơ truyền thống nói riêng và thơ
ca nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về việc nghiên cứu tư duy nghệ thuật, Nguyễn Bá Thành đã đưa ra
những nhận định và khái quát về khái niệm tư duy nghệ thuật trong cuốn Tư
duy thơ hiện đại Việt Nam Trong tác phẩm, tác giả khẳng định: “Tư duy nghệ
thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan” [39, tr.62] Tư duy thơ chính là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, mang những khả năng biểu hiện phong phú nhờ khả năng biểu hiện của ngôn ngữ thơ đa dạng Bên cạnh đó tác giả còn khẳng định thêm: Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại Về mặt nội dung nhận thức, có thể coi tư duy thơ là biểu hiện cụ thể và sinh động của những tư tưởng triết học, chính trị, đạo đức dưới dạng phổ biến nhất của một cộng đồng người Tư duy thơ còn là sự khôi phục, sáng tạo nên các biểu tượng trực quan để biểu hiện tư tưởng và cảm xúc, nhưng không phải do nhận thức cảm tính quyết định
Trong cuốn Toàn cảnh thơ Việt Nam của Nguyễn Bá Thành, tác giả cũng
khẳng định: “Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật,
là bản tốc ký nội tâm của một chủ thể, nên tác phẩm thơ trước hết, là biểu hiện trực tiếp của một cái tôi nội cảm Cái tôi đang tư duy Đối với thơ trữ tình, tư duy thơ chính là hành động sáng tạo, sáng tác thơ” [41, tr.49] Thơ trữ tình chủ yếu là để bộc lộ, biểu hiện tình cảm, tư tưởng cá nhân của người nghệ sĩ Do đó việc tự nhận thức và tự biểu hiện đó chính là bản chất sáng tạo của thơ ca Bởi vậy mà, cái tôi trữ tình chính là nhân vật trữ tình số một trong mọi bài thơ
Trang 9Những tài liệu nghiên cứu về thơ Lê Đình Cánh còn khá ít Chủ yếu là các bài viết được đăng trên báo, thông qua các cuộc phỏng vấn, những bài
bình về một số bài thơ tiêu biểu của ông Trong bài viết “Lê Đình Cánh và
dòng sông lục bát” Kim Chuông đã đưa ra nhận xét: “Dường như, làm nên
phần hơn ở một phía cái nhìn, Lê Đình Cánh, nhà thơ đượm nồng tươi xanh, hóm và tinh tế này luôn ý thức bám chặt, luôn đẩy tới cái cốt lõi nhất, cái gốc
rễ nhất của thơ Đấy là, phần hơn, phần trội vượt khác, ở một tầng chìm sâu
Ở sự phát hiện Sự khám phá Sự thấm loang của chân trời thơ trong ý nghĩa sâu xa, vang động Không ồn ào, gân guốc, dọc hành trình, Lê Đình Cánh, nhà thơ của yêu say, luôn đi giữa ba dòng Thiên – Địa – Nhân mà ngắn nhìn,
mà nhập hòa, mà con tim tự dào lên khúc hát Có cảm giác, trời phú cho ông sức rung, sức ôm trùm đa chiều giữa nội tâm và ngoại giới Những câu thơ mang vía hồn dân tộc, vía hồn đất đai, quê kiểng với bao cảm thương da diết Những bâng khuâng, thương nhớ quặng lòng Ở nhiều phía quân tâm, từ thế
sự đến nhân tình thế thái.Đến những cảnh huống giữa việc và người Giữa người và cảnh, trong biến đổi, trong “ái - ố - hỷ - nộ”…” [50] Đọc thơ Lê Đình Cánh, sự bình dị từ trong chính thể thơ đến những ý nghĩa mà tác giả mang lại luôn làm người đọc cảm nhận được sự chân thành nhất Thơ ông là những vần thơ không da diết, không đặc sắc, mà đó là những vần thơ tự nhiên nhất và mộc mạc nhất
Mỗi nhà thơ, khi viết ra những tác phẩm của mình, luôn có một cách nghĩ, một cách để sáng tạo ra những bài thơ Đối với hầu hết nhà thơ, làm thơ
là để trải lòng mình với cuộc sống, là để trút hết những gì mình cảm nhận
được qua ngôn từ Khi phỏng vấn nhà thơ Lê Đình Cánh trong bài viết “Văn
chương chính là đời sống, không phải ngôn từ” của Ngọc Trân, ông đã từng
nói: “Người làm thơ phải hết sức bình tĩnh Khi viết cứ viết hết mình, đừng nên nghĩ ngay đến việc bài thơ sẽ đăng ở báo nào và viết như thế này, liệu có
Trang 10báo nào chấp nhận không? Người viết cũng không nên viết những gì ở ngoài mình, hãy cứ đúng mình mà viết.” [53]
Nguyễn Hữu Quý khi tổng hợp lại trong bài viết “Lê Đình Cánh cái
duyên lục bát vẫn còn” đã nhấn mạnh: “Thơ là người Mỗi nhà thơ có một
chất riêng dù ai cũng đa cảm đa tình cả Lê Đình Cánh vẫn giữ được cái chất đôn hậu, nhẹ nhàng, phảng phất phong vị ca dao trong thơ lục bát Chính điều
đó đã làm nên cái duyên lục bát của anh” [54] Thơ lục bát dường như trở thành cái duyên nợ đối với nhà thơ xứ Thanh, những câu thơ mang đậm phong vị quê hương, dân tộc, cả nguồn sống bỗng chốc như dậy lên bởi ca từ, nhịp thơ nhẹ nhàng mà thấm đẫm tình người, tình đời
Bởi vậy mà, thơ lục bát cứ vương vấn trong suốt hành trình sáng tác của
Lê Đình Cánh Tuy nhiên, nhà thơ khi trả lời phỏng vấn trong bài viết “Tài
hoa Lê Đình Cánh” của Lê Tuấn Lộc: “Vốn dĩ, tôi không phải là nhà thơ,
nhưng hoàn cảnh tạo cho tôi làm thơ Thơ lục bát cũng thế Nhiều người khen tôi làm thơ lục bát hay Tôi nghĩ, tôi lười thì có Bây giờ có cá thu truyền thống rồi, hãy đốt lửa lên, riềng đấy, kho ngay… Cần gì cách tân rối rắm Đấy
là thơ lục bát món ăn truyền thống, tại sao không nhớ mà làm Đặc sản về thơ
ca Việt Nam là thơ Lục bát Lục bát nhiều câu không dịch sang tiếng Anh được.” [51]Theo nhà thơ, lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc, ông chỉ việc lấy nguyên liệu từ truyền thống và sáng tạo thành một sản phẩm, một món ăn tinh thần mang màu sắc của riêng mình Từ suy nghĩ đến quan niệm
về làm thơ của Lê Đình Cánh cứ đơn giản như chính những câu lục bát của ông
Nhà thơ Anh Ngọc giới thiệu về bài thơ “Mẹ ra Hà Nội” của Lê Đình
Cánh: “Nếu không có mấy cái địa danh như núi Nưa, Lam Sơn, Lũng Nhai và tên riêng Bà Triệu để chỉ vùng quê Thanh Hóa, thì bà mẹ này có thể đại diện
Trang 11cho hầu hết các bà mẹ nông thôn Việt Nam trong thời đại chúng ta, tức là thời đại đánh giặc và dựng xây vào nửa sau thế kỷ hai mươi Về mặt ý tứ, bài thơ chẳng bỏ sót một thứ gì trong bảng thành tích của mẹ, đương nhiên là tất cả đều được diễn đạt bằng thơ, giản dị nhưng không thiếu hình tượng.” [52]
Hoàng Thi Anh khi giới thiệu tập thơ Sông Cầu Chầy của tác giả Lê Đình Cánh trong bài “Tình trong kí ức tập thơ Sông Cầu Chầy” trên trang báo
điện tử Thanh hóa online đã viết: “Lấy ký ức làm “tâm điểm”, tác giả quy chiếu mật mã hồn mình bằng lối so sánh ẩn dụ qua những bài thơ trữ tình ra đời từ thực tiễn, hoặc qua trí tưởng tượng, qua hồi ức và qua cả những giấc
mơ mang nhiều hình ảnh thơ mộng lẫn bẽ bàng, xót xa lẫn nuối tiếc, lộng lẫy lẫn giản dị, để người đọc bị cuốn vào một “dòng sông ngôn ngữ” với muôn vàn suy tưởng, khát khao trên con đường trở về nơi đầu đời tươi trẻ.” [48] Tác giả Bulukhin Nguyễn đã viết trên trang blog của mình khi bình về
bài thơ May mà của Lê Đình Cánh: “Trong khi lục bát Đồng Đức Bốn xuất
thần, bạo liệt, có lúc bụi bặm Lục bát Nguyễn Duy tài hoa, hóm hỉnh, thì lục bát của Lê Đình Cánh cứ rỉ rả mà thâm trầm sâu cay.” [49]
Qua việc tìm hiểu các bài viết về các tác phẩm thơ của Lê Đình Cánh, chúng tôi nhận thấy, hầu hết những bài viết đều khái quát về nội dung cũng như đặc sắc nghệ thuật của thơ ông, nhất là thơ lục bát Tuy nhiên, đó mới chỉ
là những bài viết nhỏ lẻ về thể loại, hay nội dung của một hoặc một số bài thơ tiêu biểu, mà chưa có bài viết nào đưa ra những đánh giá, nhận xét có hệ thống về thơ Lê Đình Cánh Vì thế việc đi vào nghiên cứu thơ Lê Đình Cánh
từ góc nhìn tư duy nghệ thuật sẽ đưa ra những nhận xét cụ thể và những phân tích khái quát nhất để làm rõ thế giới nghệ thuật và những biểu tượng đặc sắc cũng như nhân vật trữ tình trong thơ ông
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi vào thế giới nghệ thuật thơ Lê Đình Cánh nhằm tìm hiểu về tư duy thơ tác giả Chỉ ra những đặc trưng trong tư duy nghệ thuật thơ Lê Đình Cánh thông qua nội dung và các phương thức biểu hiện như: những biểu tượng đặc sắc, ngôn ngữ, thể loại…
Để tìm hiểu về đề tài nghiên cứu thơ Lê Đình Cánh từ góc nhìn tư duy nghệ thuật, luận văn tập trung vào các tập thơ đã được xuất bản:
- Đất lành, NXB Thanh niên, năm 1986
- Người đôn hậu, NXB Hà Nội, năm 1990
- Trời dịu, NXB Quân đội nhân dân, năm 2001
- Sông Cầu Chầy, NXB Hội nhà văn, năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu những phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Với phương pháp này, chúng tôi đặt sáng tác của Lê Đình Cánh trong một tiến trình lịch sử bên cạnh các nhà thơ khác để thấy được những đặc trưng nghệ thuật của riêng ông
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Để nhằm đưa ra cái nhìn khái quát nhất dưới hệ thống luận điểm được phân tích, đưa đến độc giả những nhận xét cụ thể nhất
- Phương pháp so sánh: Nhằm đối chiếu, đưa ra những đặc điểm trong thơ Lê Đình Cánh so với những nhà văn cùng thời khác
- Phương pháp thống kê: Thống kê những thể loại trong thơ Lê Đình Cánh
- Phương pháp nghiên cứu loại hình: Phương pháp này nhằm mục đích chỉ rõ những đặc điểm quan trọng, những quy luật cấu trúc cả về nội
Trang 13dung và hình thức nghệ thuật Đưa ra cái nhìn tổng quan tư duy nghệ thuật thơ Lê Đình Cánh
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống và khá toàn diện tư duy thơ của Lê Đình Cánh Tìm hiểu thơ Lê Đình Cánh dưới góc độ tư duy nghệ thuật nhằm khám phá những nét mới trong thế giới nghệ thuật thơ Lê Đình Cánh Nghiên cứu tư duy thơ qua sự vận động và phát triển của cái tôi trữ tình, qua
hệ thống biểu tượng, ngôn ngữ và giọng điệu, nhằm tìm ra những nét khác biệt trong cách cảm, cách nghĩ, những tìm tòi sáng tạo nghệ thuật của thơ Lê Đình Cánh
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được trình bày trong ba chương: Chương 1: Một số vấn đề lí luận về tư duy thơ và quá trình sáng tác của nhà thơ Lê Đình Cánh
Chương 2: Cảm hứng chủ đạo và nhân vật trữ tình trong thơ Lê Đình Cánh Chương 3: Thể thơ, biểu tượng và ngôn ngữ trong thơ Lê Đình Cánh
Trang 14PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT
VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NHÀ THƠ LÊ ĐÌNH CÁNH 1.1Tư duy nghệ thuật
Thuật ngữ tư duy được trình bày trong cuốn “Từ điển Triết học” của
Rodanten M., Iudin P là: “hoạt động nhận thức lý tính của con người Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi của gần 16 tỉ tế bào thần kinh.” [47, tr.676] Tư duy là toàn bộ những hoạt động tâm lý của con người, chỉ có con người mới có, đó là đời sống trí tuệ của con người Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ con người với con người và quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng Truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó là toàn
bộ chức năng nhận thức của tư duy Nói đến tư duy là nói đến những hoạt động bên trong bộ óc của con người ở trạng thái sống động của nó Tư duy được sản sinh từ sự sống và gắn liền với các hoạt động của các tế bào não Là một quá trình xử lí thông tin do các khí quan cảm giác thu nhận được Tuy nhiên tư duy sẽ không nảy sinh nếu như không có ngôn ngữ Vì vậy, ngôn ngữ được coi là công cụ của tư duy Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư tưởng Không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ứng có tính chất bản năng trước hiện thực Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú hơn và ngược lại ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu vào bản chất sự vật Tư duy là hoạt động nhận thức của con người Hoạt động đó ở mỗi thời đại, mỗi dân tộc có những đặc trưng riêng, tạo thành những phương pháp tư duy khác nhau
Có rất nhiều quan điểm về tư duy nghệ thuật, tuy nhiên chúng tôi thống nhất với quan điểm của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Trang 15Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học và ý kiến của tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ hiện đại Việt Nam Trong cuốn Từ điển thuật
ngữ văn học đã nhận định: Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt dộng trí tuệ của
con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật Bản chất của
nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định Sự chuyên môn hóa lối tư duy này tạo thành đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức của nó
Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó Ngôn ngữ đó là hệ thống các ký hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện Nó có mã nghệ thuật, tức là hệ thống năng động gồm các quy tắc sử dụng ký hiệu để gìn giữ tổ chức và truyền đạt thông tin Điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật vẫn là lý tính, là trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống hóa các kết quả nhận thức Trên
cơ sở của tư duy nghệ thuật người ta tạo ra các tư tưởng và quan niệm nghệ thuật lựa chọn các phương tiện, biện pháp nghệ thuật Dạng tư duy này chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tài năng, biết cảm một các nhạy bén về viễn cảnh lịch sử
Trong cuốn Tư duy thơ hiện đại Việt Nam, Nguyễn Bá Thành đã khẳng
định: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu hiện trực quan,
là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan.” [39, tr.62] Tư duy nghệ thuật khác với tư duy khoa học ở chỗ: tư tưởng tình cảm không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng của cảm xúc, nghĩa
là “năng lượng” tình cảm còn đọng lại trong hình tượng như là một yếu tố nội dung Tư duy nghệ thuật trình bày các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan như là cuộc sống bề ngoài, như là cái ngẫu nhiên Còn tư duy khoa học trình bày sự vận động có tính tất yếu của mội sự vật và hiện tượng Tư duy
Trang 16khoa học và tư duy nghệ thuật đều phản ánh quá trình nhận thức có tính kế thừa Nhưng khác nhau ở chỗ, sản phẩm tư duy khoa học mang tính tất yếu trong quá trình tiếp nối các tri thức khoa học, còn sản phẩm của tư duy nghệ thuật thì tính tiếp nối đó không hề bắt buộc hoặc không có tính tất yếu
Hoạt động nghệ thuật là một trong những hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng, tư duy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động ấy nhằm khái quát hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ Tư duy nghệ thuật bởi vậy lấy phương tiện tư duy bằng các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được với cơ sở là cảm xúc của người nghệ sĩ thông qua trí tưởng tượng phong phú và sự liên tưởng tinh tế mà người nghệ sĩ sáng tạo nên những hình tượng, biểu tượng mới
Tư duy nghệ thuật luôn thăng hoa cùng những tài năng biết cảm nhận một cách nhạy bén về viễn cảnh lịch sử, biết nắm bắt tinh thần thời đại, biết
dự báo tương lai Tư duy nghệ thuật vì vậy gắn liền với quá trình sáng tác, bị chi phối bởi tư tưởng, quan niệm của từng nhà văn, từng thời đại, đồng thời
nó cũng thể hiện cách nhìn, cách khái quát hiện thực của riêng nhà văn, nhà thơ thể hiện đặc trưng, cá tính sáng tạo của mỗi tác giả, ở một góc độ nào đó thì tư duy nghệ thuật có sự giao cắt và làm nên phong cách nghệ thuật của người nghệ sĩ
Tư duy nghệ thuật chứa đựng nhiều yếu tố ngẫu nhiên trong quá trình sáng tạo Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo V.I.Lênin cho biết họ không hề coi nhiệm
vụ của tư duy là làm biến hóa tồn tại mà nhiệm vụ của nó chỉ là sắp xếp tồn tại về mặt ý thức Như vậy, tồn tại là nội dung của tư duy nhưng “hình thức” của nó thuộc về chủ thể sáng tạo Đối với tư duy khoa học thì “hình thức” ấy
đã được khách quan hóa theo nghệ thuật quy luật vận động của khái niệm và
Trang 17quan hệ logic giữa các khai niệm Đối với tư duy nghệ thuật “hình thức” ấy là
sự biểu hiện trực tiếp của quan niệm về vũ trị, nhân sinh và trình độ văn hóa của người sáng tạo
1.2 Tư duy thơ
Thơ ca là một loại hình nghệ thuật nằm trong phương thức biểu hiện trữ tình Nó được nuôi dưỡng trong cảm xúc của con người với nhân sinh quan, gắn với những cảm xúc ở sâu trong tâm hồn con người, với phương thức biểu đạt thông qua ngôn ngữ để giãi bày những cảm xúc đó, trở thành một tác phẩm nghệ thuật
Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhờ phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ đa dạng và phong phú: “Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự thể hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy Cái tôi trữ tình trong thơ được biển hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Thơ trữ tình coi trọng biểu hiện cái chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ [39, tr.64] “Do sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định.” [39, tr.65]
Tìm hiểu tư duy thơ là tìm hiểu sự vận động của hình tượng thơ Ngôn ngữ đối với nhà thơ là phương tiện truyền đạt đến người đọc, người nghe, đồng thời nó còn có ý nghĩa mục đích như một thứ công cụ trực tiếp của tư duy “Khả năng tự do của tư duy thơ thể hiện trong khả năng co dãn của dòng thơ, khả năng kéo dài của lời thơ, ý thơ, câu thơ Những cấu trúc thể loại truyền thống giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong hành trình vận động của hình tượng thơ Thơ 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, thơ lục bát… là những thể thơ
Trang 18ổn định, lâu đời đã làm đa dạng hóa nhưng đồng thời cũng đơn điệu hóa các kiểu tư duy thơ.” [39, tr.12] Muốn tìm hiểu thơ và tư duy thơ của từng thời kì khác nhau, từng dân tộc, hay từng tác giả khác nhau, chúng ta cần tìm hiểu những đặc trưng tư duy của mỗi thời kì, mỗi dân tộc Về mặt nội dung nhận thức, có thể coi tư duy thơ là biểu hiện cụ thể và sinh động của những tư tưởng triết học, chính trị, đạo đức dưới dạng phổ biến nhất của một cộng đồng người “Tư duy thơ là sự khôi phục là sáng tạo nên các biểu tượng trực quan
để biểu hiện tư tưởng và cảm xúc, nhưng không phải do nhận thức cảm tính quyết định” [39, tr.70]
Tư duy nghệ thuật và tư duy thơ nói riêng gần với đời sống hiện thực hơn so với tư duy khoa học vì tính chất trực quan của các biểu tượng Nhưng bản thân các biểu tượng trực quan thường mang tính chất trực giác, thậm chí đòi hỏi cao độ sự nhạy bén của giác quan Do tính chất lý tính của loại chất liệu ngôn ngữ, tư duy thơ đòi hỏi các biểu tượng phải cụ thể, sinh động Âm thanh và ý nghĩa của từ ngữ luôn luôn phải gợi cảm, khắc phục tính chất ký hiệu của ngôn ngữ để tạo nên chất thơ trực tiếp Trong đó, âm điệu hay tính tạo hình trong ngôn ngữ thơ được nhấn mạnh và đề cao, là để tăng thêm tính chất trực quan của hình tượng thơ Nhạc điệu của một dòng thơ, một bài thơ chính là sự hình tượng hóa âm thanh đời sống thực tại vằng cách khuếch đại
âm thanh của từ ngữ
Tư duy thơ là sự kết hợp giữa hai hướng nhận thức là: hướng nội và hướng ngoại Nếu mục đích biểu hiện của thơ là tâm trạng cá nhân, là những cảm xúc về thân phận của chính mình, thì đó được cho rằng hướng nhận thức của tư duy thơ là hướng nội Còn nếu mục đích biểu hiện của thơ là hiện thực cuộc sống, là bức tranh chân thực về đời sống khách quan, thì đó được cho rằng hướng nhận thức của tư duy thơ là hướng ngoại Bất kể là hướng nội hay
Trang 19hướng ngoại, tư duy thơ vẫn sử dụng những hình ảnh, những biểu tượng trực quan như những hình thức tư duy nghệ thuật khác Nguyễn Bá Thành đã viết:
“Tìm hiểu tư duy thơ là tìm hiểu sự vận động của hình tượng thơ” [39, tr.83]
Sự vận động của hình tượng thơ vốn đã có sự tồn tại của đường dân liên tưởng Nghĩa là tất cả đều được tác giả rút ra từ kho tri thức của mình một cách ngẫu nhiên, hoàn toàn không phụ thuộc vào những điều trước đó đã có sẵn
Tư duy thơ là sự khôi phục và sáng tạo ra các biểu tượng trực quan, vai trò của nhận thức cảm tính là vô cùng quan trọng nhưng không phải quyết định Những quan niệm thơ, về nhân sinh, về thời đại sẽ làm cho nhà thơ chú
ý nhiều hơn đến loại biểu tượng này hay loại biểu tượng khác Một quan niệm mới về nhân sinh, về thế sự, về nghệ thuật ra đời sẽ làm thay đổi hướng tư duy thơ Tất cả đều có thể chi phối tư duy thơ tình cảm mạnh mẽ và sâu sắc, những nhu cầu bộc lộ cảm xúc, tư tưởng, những quan niệm
Những biểu tượng trực quan ấy đã trải qua một quá trình được gọt giũa, trau chuốt, chọn lọc theo những yêu cầu của tư tưởng và nghệ thuật mà ta gọi
đó là quá trình điển hình hóa nghệ thuật Quá trình điển hình hóa nghệ thuật trong thơ là quá trình xây dựng hình tượng, làm sáng rõ tư tưởng của mình, trình bày quan niệm sống của mình bằng những biểu tượng trực quan Do đó những biểu tượng muôn hình muôn vẻ đó bao giờ cũng có một điểm chung nào đó, tức là đều chứa đựng một phần của cái chung, cái tư tưởng chủ đề của bài thơ mà nhà thơ muốn thể hiện và bộc lộ
Như vậy muốn tìm hiểu được cái hay trong tư duy thơ là một quá trình khám phá những miền đất mới, ở đó chúng ta có thể thỏa sức tượng tượng trên nền tảng của một mảnh đất đã được khai phá
Trang 201.3 Quá trình sáng tác của nhà thơ Lê Đình Cánh
1.3.1 Tiểu sử và quá trình sáng tác
Lê Đình Cánh sinh ngày 21 tháng 9 năm 1941 ở làng Phong Mỹ, tổng Thử Cốc, phủ Thiệu Hóa, sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thuộc về xã Xuân Tân, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Ông tốt nghiệp loại giỏi khoa Vật lý trường Đại học Sư phạm 1 Hà Nội năm 1965, cũng là lúc chiến tranh lan tỏa
ra cả miền Bắc Hưởng ứng phong trào “Thanh niên ba sẵn sàng”, từ năm
1065 đếm năm 1969, ông được Bộ Giáo dục cử sang Trung ương Đoàn Rồi
từ Trung ương Đoàn, ông trở thành thanh niên xung phong thời chiến do Bộ
tư lệnh tiền phương quản với nhiệm vụ chính là: Dạy văn hóa phổ thông ở Tây Trường Sơn chủ yếu ở vùng Quảng Bình, Quảng Trị Trong những năm ở chiến trường, người lính, người thanh niên thời đại ấy luôn mang trong mình tâm thế của cả một thế hệ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” Ngay cả Lê Đình Cánh cũng vậy, ông luôn tâm niệm: một là xanh cỏ, hai là đỏ ngực Thơ của Lê Đình Cánh được sáng tác chủ yếu sau năm 1985 Tuy nhiên trong khoảng thời gian ở chiến trường, tâm hồn thơ đã trỗi dậy trong con người Lê Đình Cánh Ông đã viết vài chục bài thơ đầu đời trong sổ tay của mình theo kiểu tự phát Tuy nhiên những bài thơ ấy đều bị thiêu rụi bởi bom đạn Nhưng vẫn có một bài thơ trong cuốn sổ tay ấy được một người lính chép lại và chuyền tay cho một người lính khác cùng đọc Sau đó bản thảo của bài thơ
“Giọng hò Thanh Hóa” của Lê Đình Cánh đã đến được tay nhà thơ Mai Ngọc Thanh và lần đầu tiên, nó được đăng trên Tạp chí Xứ Thanh vào giữa năm
1968
Vì là người có khả năng sáng tác nên sau khi rời chiến trường, Lê Đình Cánh trở thành biên tập viên văn học Nhà xuất bản Thanh niên từ năm 1969
Trang 21đến năm 1973, biên tập viên chương trình Tiếng thơ của Phòng Văn học – Ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam từ năm 1973
Trong quá trình sáng tác của mình, Lê Đình Cánh giới thiệu những sáng
tác của mình đến với bạn đọc qua tập thơ Đất lành năm 1986 do Nhà xuất bản Thanh niên Đến năm 1990 ông cho ra đời tập thơ Người đôn hậu, và năm
2001 là tập thơ Trời dịu Cả hai tập thơ đều là những dòng hồi ức về quá khứ,
hoài niệm về chiến tranh trong cuộc sống thời bình Cũng là một trong những nhà thơ trưởng thành và đi lên từ những cuộc kháng chiến Thơ ông lưu lại những dấn ấn về hình ảnh của những người lính, những người thanh niên trở
về từ cuộc chiến Là những con người mang trong mình những vết thương của chiến tranh cả về thể xác lẫn tinh thần, những người đồng đội ngã xuống để giành lại nền hòa bình cho đất nước, những cuộc chia tay đầy nước mắt và
máu Sau đó, Lê Đình Cánh cho ra đời tập thơ Sông Cầu Chầy, chủ yếu là
những bài thơ viết về quê hương của ông, và được sáng tác đa phần bằng thể thơ lục bát
1.3.2 Quan niệm thơ
Đối với Lê Đình Cánh, thơ ca chính là đời sống Là những gì gắn bó với nhà thơ, được viết ra với đúng những gì bản thân cảm nhận được Cuộc sống là những chuỗi ngày chiến đấu, lao động, là người có chí, Lê Đình Cánh vẫn âm thầm tự nuôi dưỡng kiến thức cũng như tâm hồn thơ của mình Trong thời kì ở chiến trường, ông đã viết vài chục bài thơ trong sổ tay của mình Tuy nhiên cuốn sổ tay đó đã bị bom đạn của chiến tranh thiêu rụi Mất đi vật lưu giữ kỉ niệm, ông đã xót xa: “Chúng có thể là thơ hoặc chưa hoàn toàn là thơ Chúng có thể chưa đạt được như mong muốn của tôi Nhưng chúng là những
kỷ niệm máu thịt một đi không trở lại của tôi.” [53]Cuốn sổ tay là những gì được ghi chép lại một cách tự phát, cũng như ông nói, đó có thể là thơ hoặc
Trang 22chưa thể là thơ, nhưng trong đó là những cảm xúc thật nhất, những kỉ niệm thật nhất được ghi chép lại Đối với Lê Đình Cánh thơ là sự xuất phát từ chính con người mình, là những gì cuộc sống để lại dấu ấn trong lòng người thi sĩ
Lê Đình Cánh đã từng nói: “Người làm thơ phải là người hết sức bình tĩnh, khi viết thì cứ viết hết mình, đừng nên nghĩ ngay đến việc bài thơ sẽ được đăng ở báo nào và viết như thế này, liệu có báo nào chấp nhận mình không? Người viết cũng không nên viết những gì ở ngoài mình, hãy cứ đúng mình mà viết.” [53] Câu nói trên của ông cũng đã phần nào nói lên quan niệm làm thơ của mình Không cần suy nghĩ về bài thơ sẽ được đánh giá như thế nào Có được đăng trên một tạp chí, hay một tờ báo nào không Mà người làm thơ hãy cứ viết, viết thật nhất với chính mình Những gì được viết bằng chính con người mình, những cảm xúc mình thấy được, đó mới là những vần thơ đẹp nhất
Trong quan niệm của Lê Đình Cánh, ông cho rằng: mình sinh ra không phải để làm thi sĩ, những gì ông viết đều là những thứ cóp nhặt từ trong đời sống Đi từ thực tại để thấy cái nhìn chân thực nhất Và đặc biệt với thể thơ lục bát được xem là thể thơ hồn cốt, truyền thống của dân tộc Với Lê Đình Cánh, ấy là thể thơ có sẵn trong kho tàng thơ ca dân tộc, mình chỉ việc lấy những thứ có sẵn đó ra, thêm một chút hương vị riêng của mình vào là có thể tạo nên một tác phẩm đậm chất dân tộc mà lại có phong vị của chính mình Những quan niệm rất đỗi giản dị, và chân thành ấy đã làm nên một nhà thơ của tình người, tình đời Trong từng câu chữ luôn phảng phất những dư vị không quá ồn ào, không quá phô trương, nó cứ bình dị, chân chất như những người nông dân “chân lấm tay bùn”
Trang 23Tiểu kết
Thơ Lê Đình Cánh chủ yếu là những bài thơ lục bát mang âm hưởng của ca dao cứ đi sâu vào lòng bạn đọc với những cảm xúc chân thật nhất Sáng tác thơ theo quan niệm riêng của mình, Lê Đình Cánh đã cho chúng ta thấy những nét mang cá tính sáng tạo của chính tác giả so với các nhà thơ khác cùng thời Để thấy được giá trị của thơ lục bát, cùng với sự phát triển của thể thơ truyền thống này trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam Những vần thơ lắng đọng được truyền tải bằng chính những giá trị tình cảm của tác giả đến với bạn đọc Tìm hiểu thơ Lê Đình Cánh qua tư duy nghệ thuật sẽ cho chúng
ta những nội dung ý nghĩa trong tư tưởng và hệ thống những biểu tượng làm nên giá trị trong thơ ông
Trang 24CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NHÂN VẬT TRỮ TÌNH
TRONG THƠ LÊ ĐÌNH CÁNH 2.1 Cảm hứng chủ đạo
Cảm hứng thường được hiểu là trạng thái tâm lý đặc biệt khi sức chú ý được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiệm để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả Cảm hứng là hứng thú sáng tạo nói chung và sáng tạo văn học nói riêng Đối với một tác phẩm văn học, nội dung tư tưởng luôn gắn liền với cảm xúc Bêlinxki khi bàn về cảm hứng nói:
“Tư tưởng thơ, đó không phải là phép tam đoạn thức, không phải là giáo điều, không phải là qui tắc, mà đó là một ham mê sống động, đó là cảm hứng” [28,
tr 268] Bêlinxki giải thích rõ hơn: “Trong cảm hứng nhà thơ là người yêu tư tưởng như yêu cái đẹp, yêu một sinh thể sống, thấm nhuần tư tưởng một cách nhiệt tình.” [28, tr.268]
Cụ thể các quan điểm của Bêlinxki, Trần Đình Sử đã đưa ra quan điểm
về cảm hứng: “Cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động Điều quan trọng là cần nhận ra cảm hứng như một lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là niềm say mê khẳng định chân lý, lý tưởng, phủ định sự giả dối mà mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực là thái độ ca ngợi, đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường.” [28, tr.268]
Khi nói về khái niệm chủ đạo, Bêlinxki quan niệm: “Trong những tác phẩm thi ca (hiểu theo nghĩa rộng: tác phẩm nghệ thuật – người soạn) đích thực, tư tưởng không phải là một khái niệm trừu tượng, được diễn tả một cách giáo điều, mà nó tạo thành linh hồn tỏa vào trong tác phẩm, giống như ánh sáng chiếu vào pha lê Tư tưởng trong sáng tạo thi ca – đó chính là cảm
Trang 25hứng… Cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi nên bởi một tư tưởng nào đó.” [18, tr.208] Đồng thời tác giả khẳng định: “Việc tìm hiểu cảm hứng chủ đạo không phải chỉ căn cứ trên một bộ phận, một thành tố nào, mà phải căn cứ trên toàn bộ lô gic nghệ thuật của tác phẩm” [18, tr.210]
Như vậy, cảm hứng là một trong những yếu tố chính hợp thành tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng được xem là trọng tâm của nghệ thuật Cảm hứng chủ đạo không chỉ toát ra từ tác phẩm mà còn xuyên suốt toàn bộ sáng tác của một tác giả
2.1.1 Cảm hứng về quê hương, đất nước
Quê hương, đất nước luôn là nguồn cảm hứng lớn và nguồn thi hứng dồi dào, bất tận của bao thế hệ nhà thơ Thi nhân luôn lấy đó làm điểm tựa của cảm xúc để vẽ nên một bức tranh có cảm xúc và có cả sắc màu Quê hương là nơi gắn liền với thuở ấu thơ, cái thuở mà lon ton chạy trước, tung tăng theo bà
ra chợ Là nơi ra sinh ra, lớn lên, dù có đi khắp năm châu bốn bể nhưng những hình ảnh về quê hương vẫn còn mãi đối với bất cứ ai
Đối với chúng ta, mỗi người đều có một quê hương riêng, một nơi mà những hình ảnh ở đó chúng ta dù có lớn lên như thế nào đi chăng nữa, sẽ không bao giờ quên được Quê hương của Lê Đình Cánh là một quê hương gắn liền với hình ảnh của người bà yêu quý, là những câu thơ mang đầy cảm xúc nhớ nhung Đó
là quê ngoại, với bến Kiều, sông Mã, là thuở lên ba chạy theo bà ra chợ:
Đâu lối rẽ về làng Thổ Phụ Bước tung tăng phiên chợ vướng chân bà
Tìm gõ cửa tần ngần quán cũ Hương chè lam phủ Quảng ùa ra!
(Quê ngoại)
Trang 26Lê Đình Cánh như muốn tìm lại chút gì đó của tuổi thơ, của cái thời vẫn còn thích theo bà đi chợ “Phiên chợ”, “quán cũ”, “hương chè lam”, những hình ảnh gợi lên những thứ đã xưa cũ Vừa cảm nhận bằng thị giác, vừa cảm nhận mùi vị quen thuộc bằng khứu giác Tất cả lắng đọng lại trong cuộc hội ngộ nơi quê nhà Nhớ về quê hương, nhớ về quê ngoại, là nhớ về quãng thời gian của một thời tuổi trẻ, tác giả vẫn lưu luyến, những cảm xúc dường như đã mai một theo thời gian, càng lớn, người ta lại càng cảm thấy những gì của tuổi trẻ, của thời gian trước càng đáng giá và đáng trân trọng:
Qua bến Kiều, ngược đường lên quê ngoại Tôi trở về, tuổi trẻ chẳng về theo
Thời gian như nước ngầm băng hoại Trái tim tôi càng sống càng nghèo!
(Quê ngoại)
Viết về quê hương, ngoài dòng sông, bến nước, là những hình ảnh về gia đình với cổng tre, nhà ngói, vườn cây, bếp lửa… Những hình ảnh đã trở thành miền kí ức in sâu trong lòng tác giả Nhớ về quê hương, là nhớ về gia đình, với những người thân, với những con đường đã in dấu bước chân thời trẻ Nhưng khi lớn lên rồi mới thấy, đi xa quê hương, mỗi lần trở về quê là lòng lại nặng trĩu, một nỗi buồn vương vấn:
Ngại về lay chiếc cổng tre Ngại gõ cửa căn nhà ngói cổ Nén hương mới cháy kề chân hương đỏ Chi chít buồn năm tháng nỗi niềm xưa
(Về Thanh)
Trang 27Cảm xúc chảy trong dòng thơ, “Về Thanh” như chất chứa một nỗi niềm của riêng Lê Đình Cánh, vừa như muốn trở lại quê hương, vừa ngại quay trở lại để rồi khi phải đi, lòng nặng trĩu nỗi niềm Không phải vì không nhớ quê hương, mà là nỗi buồn bởi “thầy mẹ mất rồi” nên “em ngại về Thanh” Trở về nơi có nhiều kỉ niệm gắn bó với mình, nơi đã chứng kiến sự ra đi của thầy, của mẹ, ngại trở về là ngại đối diện với cảm xúc của chính mình, những cảm xúc đau xót, phải cất giấu, chôn sâu, không nên đào bới lên để chính mình lại
tự cảm nhận thấy niềm đau thương khi mất đi những người thân yêu nhất Tuy nhiên, quê hương là nơi để trở về, nơi mỗi con người dù có đi đâu, xa đến mấy nhưng vẫn sẽ quay trở về Bởi nơi đó vẫn có người chờ đợi tác giả:
Em biết trong Thanh chị đợi em về
Em xin hẹn đến ngày giỗ mẹ
Em đúng hẹn bởi quê nhà có chị Mắt đen buồn như mắt mẹ ngày xưa
(Về Thanh)
Cả hai bài thơ, “Quê ngoại” và “Về Thanh” đều là hai bài thơ viết về quê hương của Lê Đình Cánh Đọc bài thơ có một nỗi buồn được trải dài trong từng dòng thơ Nỗi buồn ấy phải chăng là nỗi buồn nhớ của người con xa quê, hay là nỗi buồn của chính cảm xúc trong lòng tác giả Nó cứ khắc hoải không nguôi, vừa chậm rãi, vừa thổn thức đến kì lạ
Đất nước Việt Nam được mở rộng trong không gian thơ của Lê Đình Cánh Từ Bắc chí Nam, tác giả dường như đã đi qua rất nhiều nơi trên khắp miền tổ quốc Chúng ta bắt gặp trong không gian rộng lớn ấy với những hình ảnh của nơi tận cùng tổ quốc:
Trang 28Biển gặp đất liền qua mầu xanh rừng đước Qua dịp dàng kênh rạch dọc ngang
Ở đây không lá vàng mỗi độ thu sang Mặt trời lặn về phía biển
Đi lại suốt ngày với sông với bến Chống chèo nhiều tay mỏi hơn chân
(Thư Cà Mau) Không gian mênh mông, một vùng rộng lớn với đầy đủ màu sắc, của rừng, của biển hiện ra trước mắt Chỉ bằng sự cảm nhận của cá nhân, tác giả
đã vẽ ra một khung cảnh thiên nhiên mang những đặc điểm nổi bật của vùng sông nước Tất cả đều đang chuyển động trong guồng quay của cuộc sống Mọi sự vật, sự việc đều di chuyển từ mặt trời đến người chèo thuyền
Đi tiếp trong cuộc hành trình về nhiều miền đất mới của Việt Nam của
Lê Đình Cánh Tác giả như dẫn đường đến với những địa ranh khách nhau của miền Trung:
Trở lại cùng cát trắng Bảo Ninh Qua gió biển thổi dài sông Nhật Lệ Người Đồng Hới giã từ mưa xứ Huế Trở về quê như thuở Quảng Bình xưa
(Đồng Hới trở về)
Từ những địa danh: Bảo Ninh, sông Nhật Lệ, Đồng Hới, Huế, Quảng Bình… như mở ra một không gian rộng lớn, có sự xuất hiện của sông, của bãi cát Đọc thơ Lê Đình Cánh, độc giả như được chiêm nghiệm thêm một không gian mới, ở không gian ấy, hình ảnh của những vùng đất ta chưa đi qua, được tác giả gợi nhắc bằng những cái tên
Trang 29Ven theo bờ biển, tác giả đi tới đâu, hình ảnh của quê hương xuất hiện tới đó Từ Buôn Ma Thuật cho đến Tây Bắc Đâu đâu cũng có những hình ảnh vừa quen, vừa lạ:
Đường về bản gập ghềnh ngôn ngữ Tôi lạ lùng ngõ cấm đường kiêng Tôi lung túng giữa cà phê chín đỏ Tôi lạc rừng đêm rụng sầu riêng!
Buôn Ma Thuật hóa Buồn Mê Thật Tôi ngẩn ngơ quên cả ngày về Đất ba dan cồn cào cơn khát Đêm lửa rừng hoang dã váy ÊĐê…
(Buôn Ma Thuật)
Cà phê, đất đỏ ba dan, tiếng chiêng, tiếng chân voi… tất cả đều gợi nên những đặc điểm không cần nhắc tên người đọc cũng hình dung ra một vùng đất Tây Nguyên với nền văn hóa riêng Những ai đã từng đặt chân đến Tây Nguyên mà nhất là Buôn Ma Thuật chắc không thể không biết tới loại cà phê thơm ngon nổi tiếng nhất vùng này Mỗi một địa điểm, một vùng miền, tác giả lại đánh dấu bằng những đặc sản, hay những đặc điểm mà nổi tiếng ở vùng đó Đi đến Tây Nguyên nghe tiếng cồng chiêng, chung vui cùng người dân bên lửa trại, cảm nhận được tiếng bước chân đầy sức mạnh của những chú voi, như mang chúng ta trở về với thiên nhiên, được hòa mình vào bầu không khí, có vị mặn của đất, vị thanh của núi rừng
Miền Bắc với những đặc điểm về địa hình cũng như không gian khác với miền Nam và miền Trung Hàng loạt những địa ranh được nhắc đến như vùng Ninh Bình với núi Thúy, sông Đáy, hay Hà Nội với những địa điểm nổi tiếng như Hồ Hoàn Kiếm:
Trang 30Liễu gầy sặc khói mô tô Mái bằng cửa sắt mấp mô khoảng trời
Áo em trễ ngực như mời Tràn bia Thủy Tạ lắm lời giả say…
(Hồ Hoàn Kiếm) Không chỉ đi nhiều nơi, mà tác giả còn cảm nhận được ở mỗi vùng miền những điều khác nhau về cả con người, cả không gian sống Những không gian ấy tạo nên một nét riêng khi nhắc đến địa điểm đó Nếu nói đến Hà Nội chúng ta không thể bỏ qua những cái tên quen thuộc như: Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, cầu Long Biên, chùa Quán Sứ… Tất cả những địa ranh lớn ở Hà Nội đều được tác giả đưa vào thơ mình với những đường nét không khuôn mẫu, cũng không trau chuốt Dường như đó chỉ là những cảm xúc xuất phát từ chính những gì tác giả cảm nhận được, được thi vị hóa:
Sông Hồng mưa nắng thay phiên
Xe thồ nghe lính phục viên thở dài Phố phường nguýt sắn lườm khoai Hàng rong ế khách rao vài mớ rau…
(Qua cầu Long Biên) Không gian ngày càng trở nên rộng hơn khi tác giả đưa chúng ta đến những hình ảnh gập ghềnh, quanh co của rừng núi Tây Bắc:
Tôi trở về ga mới khang trang Cửa gương sáng như mắt người gặp nắng Qua Cốc Lếu nhịp cầu gợn sóng
Bồng bềnh ga mây trắng Sa pa…
(Tầu ngược Lào Cai)
Trang 31Đất nước Việt Nam thông qua thơ Lê Đình Cánh được tác giả khắc họa bằng những hình ảnh hết sức chân thực Không phải là những hình ảnh về núi rừng hùng vĩ, về những cảnh đẹp thiên nhiên Mà là những cảm xúc thật nhất được vẽ nên bởi chính cảm nhận của tác giả Viết về quê hương với nỗi nhớ nhung, viết về đất nước với những gì thật nhất, thơ Lê Đình Cánh luôn có một chất riêng được tạo nên trong một không gian mở Một không gian của sự chiêm nghiệm, không gian của cảm xúc được lắng đọng qua từng vần thơ
2.2.2 Cảm hứng nhân văn
Trong cuộc chiến đấu gian khổ của người lính, người thanh niên xung phong luôn có sự gắn kết của tình cảm Đó là tình cảm của đôi lứa, là tình cảm của những người đồng đội vào sinh ra tử với nhau Nhưng trớ trêu thay,
đó lại là những vần thơ nói về sự éo le, về những nỗi niềm trong tình yêu, trong cuộc sống Mà hơn cả, đó lại là những số phận bất hạnh của những cô gái hy sinh khi tuổi còn đôi mươi Lúc còn sống, họ vẫn chưa tìm thấy tình yêu của mình, vẫn phải sống với nỗi cô đơn nơi chiến trường, và khi ngã xuống rồi, tình cảm đó cũng vùi lấp theo đất:
Đã gặp người yêu chưa Anh ấy nằm cùng nghĩa trang liệt sĩ
Xa cách mãi là điều vô lý
Tự mình xóa nỗi cô đơn!
(Hóa đá vào nhau) Những cô gái Trường Sơn đã nằm xuống vẫn là những cô gái của thuở ngày xưa Họ chưa tìm được tình yêu cho mình, chưa biết đến cái cảm giác được yêu thương và quan tâm chân tình Thứ tình cảm gắn bó giữa người con trai và người con gái Có lẽ đó là thứ tình cảm ai khi trưởng thành cũng muốn
Trang 32trải nghiệm và được cảm nhận Nhất là những người con gái đang tuổi trưởng thành Gắn bó với chiến trường, với súng đạn, ngày đêm bán đi cái tuổi thanh xuân để bảo vệ cho tổ quốc Kể cả những người lính tay vác súng, lưng đeo
ba lô cũng luôn muốn có được tình yêu Và tình yêu trong thời chiến không phải là ít, những mỗi tình của cô thanh niên xung phong anh lính đã trở thành
đề tài được viết khá nhiều trong văn xuôi và thơ ca Tuy nhiên trong thơ Lê Đình Cánh, những cô thanh niên xung phong, những anh lính vẫn chưa tìm được thứ hạnh phúc ấy Thứ tình cảm mà họ đã chôn vùi theo đất, cát, theo những nỗi cô đơn cứ bám diết
Những vần thơ về tình bạn cũng nặng trĩu những nỗi buồn Đó là nỗi buồn của sự xa cách giữa sự sống và cái chết, giữa những con người đã từng
là anh em, bạn bè nơi chiến trường ác liệt:
Tôi là chú Tôi là anh Nhiều phen tưởng cỏ lên xanh nấm mồ!
Tôi về trao chiếc ba lô Chuyện cười nắng lửa không khô, nhưng ròn!
(Binh trạm vẫn còn) Người hy sinh, người ở lại cũng một nỗi buồn đau Cùng nhau chiến đấu, biết bao kỉ niệm Nhưng khi trở về, điều tàn nhẫn nhất chính là trao lại chiếc ba lô của người bạn mình cho người nhà Bao phen tưởng mình ngã xuống như người đồng đội nhưng vẫn còn sống xót để trở về gửi lại chiếc ba
lô cùng với những đồ vật của người chiến sĩ đã hi sinh
Xót xa cho chính mình, chính những cảnh ngộ chia cách mình đã trải qua, khi gặp lại nhau, những người đồng chí, đồng đội bùi ngùi ôn lại những chuyện năm xưa Kể lại cho nhau nghe những câu chuyện hồi ở rừng, những
Trang 33tháng ngày nằm cùng với bom đạn, và là sự đau xót cho những cảnh chia cắt,
âm dương tiễn biệt:
Nói về đồng đội chúng ta Đứa còn, đứa mất, đưa ra, đứa vào…
(Gặp nhau)
Lê Đình Cánh là nhà thơ của người lính, người nông dân chân lấm tay bùn Những dòng thơ ông viết đều là những cảm xúc chính từ trong con người mình Vì vậy mà những câu thơ ấy cứ đi từ trái tim của người này, qua trái tim của người khác, và lan tỏa Cảm xúc chung trong dòng cảm hứng nhân văn vẫn là nỗi lòng đau xót, thương cảm cho những số phận bất hạnh, là nỗi niềm cô đơn khi tuổi đã xế chiều:
Trưởng thành con cái đi xa
Bà về sớm Để cảnh nhà neo đơn
(Quãng đời phía sau)
Là nhà thơ của quê hương đất nước, thơ Lê Đình Cánh còn là tiếng nói,
là tiếng lòng xót thương cho vùng quê miền Trung nghèo hay xảy ra bão lũ Cuộc sống gắn liền với thiên nhiên, với những trận mưa dài, những trận lũ đi qua:
Từ Tam Điệp đến Hải Vân Một năm biết mấy mươi lần bão qua Đất gầy không kịp lành da Nhiều bom đạn lắm hồn ma cụt đầu
(Nửa ngoài miền Trung) Mỗi một vùng quê đều có những khó khăn riêng, nhưng có lẽ năm nào cũng vậy, miền Trung luôn phải chịu những trận bão, lũ kéo dài Lê Đình Cánh trải
Trang 34lòng với cuộc sống khó khăn của bà con miền Trung: “Đất gầy không khịp lành da” Nói lên niềm xót thương của mình cũng là tiếng nói của cả cộng đồng dành cho vùng đất nghèo
Cảm hứng nhân văn trong thơ Lê Đình Cánh chủ yếu là sự xót thương cho những số phận bất hạnh trong cuộc sống, trong tình yêu Họ đi vào trang thơ của Lê Đình Cánh rất chân thực mà tạo nên nhiều cảm xúc Đọc những câu thơ ấy không khỏi thổn thức, bồi hồi bởi những cảm xúc ẩn sâu trong lớp ngôn từ Là tiếng lòng của chính mình, sự thương cảm, đồng cảm đối với từng nhân vật, Lê Đình Cánh đã gợi mở nên sự rung động trong từng câu chữ ấy
2.2 Nhân vật trữ tình trong thơ Lê Đình Cánh
2.2.1 Cái tôi trữ tình
Cái tôi là một trong những khái niệm triết học cổ nhất, đánh dấu ý thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tài của mình Từ đó nhận ra mình là một con người khác với tự nhiên, là một cá thể độc lập Nội hàm của cái tôi rất rộng, nó bao hàm nhiều cách hiểu liên quan gần với việc tìm hiểu cái tôi trữ tình Các nhà triết học duy tâm như: R Đề-các, G.w.F Heeghen, H.Becxông… là những người chú ý đến cái tôi khi đề cao ý thức, chủ quan – khách quan, cá nhân – xã hội R Đề-các (1569 – 1650) đã đưa ra một định nghĩa khá nổi tiếng: “Tôi tư duy vậy là tôi tồn tại” Nhà triết học H.Becxông thì lại cho rằng con người có hai cái tôi Cái tôi bề mặt là các quan hệ của con người đối với xã hội Còn cái tôi bề sâu là phần sâu thẳm của ý thức Ý thức mới chính là đối tượng của nghệ thuật
Trên cơ sở những nghiên cứu thành tựu về con người, đặc biệt là thành tựu về triết học, tâm lý học, C.Mác đã đưa ra những định nghĩa hoàn chỉnh và đầy đủ về cái tôi như sau: “Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của
Trang 35cá tính người, có quan hệ tích cực đối với thế giới và đối với chính bản thân mình Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình Cái tôi có thể xem là cấu trúc phần tự giác.” Như vậy, cái tôi vừa mang bản chất xã hội, vừa mang bản chất cá nhân Nói về cái tôi là nói về bản chất của chủ thể trong nhận thức và sáng tạo
Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc với thế giới
và con người thông qua việc tổ chức các phương tiện thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần độc đáo mang tính thẩm mỹ nhằm truyền đạt tinh thần đến người đọc
Cái tôi trữ tình là một khái niệm tổng hòa nhiều yếu tố hội tụ theo quy luật nghệ thuật bao gồm cả ba phương tiện: bản chất chủ quan cá nhân, đây là mối liên hệ giữa tác giả với cái tôi trữ tình được thể hiện trong tác phẩm, bản chất xã hội của cái tôi trữ tình trong mối quan hệ của cái tôi trữ tình và cái ta cộng đồng, bản chất thẩm mỹ của cái tôi trữ tình là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản
Trong cuốn Toàn cảnh thơ Việt Nam,Nguyễn Bá Thành cho rằng: “Thơ
trữ tình là “bản tốc ký nội tâm” [41, tr 49] Vì vậy, về bản chất mọi nhân vật trữ tình trong thơ chỉ là những biểu hiện đa dạng dưới cái tôi trữ tình Cũng theo Nguyễn Bá Thành: “cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện của chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ” [39] Tuy nhiên, do sự chi phối của quan niệm thơ mỗi thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những vận động và thay đổi nhất định
Trang 36Cái tôi trữ tình được biểu hiện dưới hai dạng thức: cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Trong bất cứ bài thơ nào cái tôi trữ tình được coi là nhân vật số một, là linh hồn của tác phẩm được biểu hiện thông qua cái tôi trữ tình trực tiếp, mang một vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng Nhưng ở mỗi thời đại, hoàn cảnh khác nhau và đối với những nhà thơ khác nhau, mỗi quan hệ giữa chủ thể và khách thể trong tư duy thơ có sự khác nhau
Khi thơ hướng đến chủ thể, phản ánh tình cảm cá nhân – cái tôi, đó là tư duy thơ thiên về hướng nội Tiêu biểu là những bài thơ trong phong trào thơ Mới Khi thơ hướng vào phản ánh hiện thực khách quan – khách thể, đó là tư duy thơ thiên về hướng ngoại được thể hiện rõ nhất trong các tác phẩm viết trong thời kháng chiến chống Mỹ
Cái tôi trữ tình được người nghệ sĩ cảm nhận về thế giới hiện thực và biểu hiện mình qua hình tượng nghệ thuật Khi cái tôi biểu hiện dưới dạng cảm xúc trực tiếp, ta có hình thức của cái tôi trữ tình trực tiếp hay nhân vật trữ tình trực tiếp Sự khác biệt của cái tôi trữ tình tạo nên sự khác biệt phong cách của mỗi người nghệ sĩ Như vậy, chúng ta có thể hiểu, nhân vật trữ tình trực tiếp chính là cái tôi được biểu hiện dưới dạng cảm xúc trực tiếp, có thể ở trạng thái tình cảm của chính mình, những suy nghĩ riêng tư gắn với cuộc đời của nhà thơ mà đã được nhà thơ trải qua hoặc cảm nhận được
Cái tôi trữ tình tự biểu hiện khai thác thế giới nội tâm của chủ thể Cái tôi trữ tình khác về chất lượng với cái tôi nhà thơ, cái tôi trữ tình không chỉ là cái tôi nhà thơ, mà nó là cái tôi thứ hai, hoặc cái tôi đã được nghệ thuật hóa trong tác phẩm Cái tôi trữ tình được tác giả nghệ thuật hóa đó là nhân vật trữ tình quan trọng có tầm ảnh hưởng lớn trong thơ Chính lúc đó, cái tôi trữ tình được hóa thân nhập vai vào các nhân vật trữ tình khác Tuy tình cảm, cảm xúc được biểu hiện thông qua con đường gián tiếp, là cái tôi trữ tình gián tiếp,
Trang 37nhưng cái tôi của nhà thơ vẫn có mặt ở mọi nơi, vẫn xuất hiện ở từng tác phẩm
Bởi vậy, dù là hướng nội hay hướng ngoại, dù là trực tiếp hay gián tiếp thì cái tôi trữ tình vẫn là sự tổng hòa của nhiều yếu tố, là sự hội tụ, sự thanh hoa cảm xúc Cái tôi có vai trò quan trọng trong thơ với tư cách là trung tâm
để bộc lộ tất cả những suy nghĩ, tình cảm bằng một giọng điệu riêng, nhờ vậy làm nên cái tôi độc đáo không lẫn giữa nhà thơ này với nhà thơ khác Dù ở bất cứ dạng thức nào, người độc bao giờ cũng nhận ra cái tôi đang đối thoại hay độc thoại với cuộc đời, vẫn mang những dấu ấn riêng của từng chủ thể sáng tạo
Trong thơ Lê Đình Cánh, cái tôi trữ tình hồi tưởng lại hồi ở chiến trường, với những cay đắng, ngọt bùi của thời xưa Là nỗi buồn man mát của đứa con xa quê, là những lúc lòng trở nên lắng đọng bởi những khoảng khắc của thời gian… Được thể hiện bằng nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau Người lính chiến đấu trong một môi trường khắc nghiệt nhất, cùng những người đồng chí, đồng đội của mình vào sinh ra tử, tác giả nhớ lại những kí ức, những hình ảnh còn lại trong tâm trí mình:
Tôi về gặp lại mùa khô Bụi đường ngập bánh ô tô qua đèo
Áo vai đêm vá mảnh nghèo Vơi cơm lép mảnh trăng treo cửa rừng
Ở đời mặn muối cay gừng
Ai còn? Ai mất? Xin đừng quên ai!
(Binh trạm vẫn còn) Những hình ảnh vẫn đi cùng năm tháng, gặp lại mùa khô của những năm cùng đồng đội chiến đấu “từ hồi sáu lăm”, rồi những câu chuyện cười giòn tan vẫn
Trang 38nhét đầy ba lô của thời chiến đấu Biết bao kỉ niệm, về gặp lại những hình ảnh quen thuộc và những hình ảnh từ quá khứ bỗng ập về trong chính tâm tư của tác giả
Khi người lính bước ra khỏi cuộc chiến tranh, mang theo nỗi niềm cô đơn, chỉ mong có những người bạn tâm giao, để hàn huyên, trò chuyện những điều trong cuộc sống:
Sáu mươi Tôi nghỉ hưu rồi Vẫn màu áo lính quãng đời mới qua Trưởng thành Con cái đi xa
Bà về sớm Để cảnh già neo đơn
Có người, có tiếng vẫn hơn Phòng khi gió núi, nhỡ cơn mưa rừng
(Quãng đời phía sau)
Cuộc đời được hồi tưởng lại ở ngưỡng cửa lục tuần Ở cái độ mà con người ta đã sống được gần trọn vẹn cuộc đời Bắt đầu suy nghĩ lại những chuyện đã qua Và họ cảm thấy cô đơn trong chính cuộc đời mình Dòng đời
cứ chảy trôi, tuần hoàn, cảnh già neo đơn trở thành một nỗi niềm của chính tác giả Sợ sự yên tĩnh, sợ những không gian heo hút vắng tiếng người, hay nói một cách khác nhân vật trữ tình sợ nỗi cô đơn Vẫn mong muốn có người bạn, hoặc người tâm giao để những khi trái gió trở trời, hay những khi cần người bầu bạn, tâm sự sẽ có được sự sẻ chia Người trẻ có đôi khi còn chán ghét nơi đông người, muốn một mình yên tĩnh, tự do Nhưng khi về già, họ mới cảm nhận được giá trị của cuộc sống không thể thiếu được những người bạn, những người tri kỉ gắn bó với ta nhất là khi cuộc sống đã lấy đi khá nhiều thứ quan trọng của một đời người
Trang 39Và đó còn là hình ảnh của người đã trưởng thành mong ước muốn trở lại tuổi thơ, để làm những điều mình muốn, làm theo trái tim của chính mình Càng lớn con người ta càng phải suy nghĩ nhiều về cuộc sống, trái tim càng trở nên khô cằn hơn Để những lúc nhớ về tuổi thơ, chỉ mong một lần được trở lại những gì mình đang bị cuộc sống mai một đi Nỗi buồn cứ trôi trượt trong chính tâm trí nhân vật “tôi”:
Qua bến Kiều, ngược đường lên quê ngoại Tôi trở về, tuổi trẻ chẳng về theo
Thời gian như nước ngầm băng hoại Trái tim tôi càng sống càng nghèo!
(Quê ngoại)
“Cái tôi” như đang tìm kiếm lại những gì còn xót của một thời tuổi trẻ Càng sống, mới càng cảm nhận được sự công phá của thời gian, đã làm mất đi bao nhiêu giá trị trong đời Phải lo âu trong cuộc sống, phải suy nghĩ nhiều hơn, mà không biết thời gian ngoài kia đang cứ trôi đi không thể nào ngừng lại
2.2.2 Các nhân vật trữ tình khác trong thơ Lê Đình Cánh
2.2.2.1 Người phụ nữ
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nhân vật trữ tình, tuy nhiên cách hiểu đơn giản nhất về khái niệm nhân vật trữ tình được tác giả Phương Lựu
nhắc đến trong cuốn Lí luận văn học: “thông thường nội dung tác phẩm trữ
tình được thể hiện gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật
tự sự và kịch Nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong
Trang 40cách cảm, cách nghĩ Qua những trang thơ ta như gặp tâm hồn người, tấm lòng người Đó chính là nhân vật trữ tình.” [28, tr 359]
Cùng với những người lính trong chiến tranh, hình ảnh của những người
mẹ tần tảo sớm hôm, đêm ngày không ngủ để lo cho các con, tiếp sức mạnh cho cả thế hệ trẻ, góp phần không nhỏ vào cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập của dâm tộc Trong chiến tranh, biết bao nhiêu thế hệ đã nằm xuống, không phải trên chính quê hương mình, mà là sự ra đi trên những mảnh đất khách quê người Không thể trở về trong vòng tay của người mẹ ở nơi quê nhà đang ngày đêm mong mỏi Bởi vậy mà hình ảnh của những người lính xa quê đã đi vào trong cảm xúc, trong thơ ca Đằng sau hình ảnh của người lính xa quê ấy,
là hình ảnh của những người má, người bầm, luôn lo lắng cho họ như chính con ruột của mình Má luôn sẵn sàng bảo vệ cho những người chiến sĩ như gà
mẹ dang rộng đôi cánh để bảo vệ cho đàn gà con của mình trước mọi cuộc tấn công của những con diều hâu Nhà má ở, là nơi trú chân của những người chiến sĩ:
Chúng con vẫn ở nhà dân Nhà má dựng sau ngày giải phóng Chiếc giá gương như đời má sống Bốn mươi năm phủ tấm nhiễu điều
(Thư Cà Mau)
Lê Đình Cánh đã mượn ý của câu ca dao để nói về người má trong chiến tranh Cuộc đời của má giống như tấm nhiễm điều bao phủ chiếc giá gương phía bên trong trải qua ngày này tháng kia, hững chịu biết bao bụi bặm, bẩn nhơ của cuộc đời để chiếc gương phía trong mãi sáng Chỉ bằng hai câu thơ, nhưng tác giả đã nói lên tất cả những gì má phải hi sinh, chịu đựng trong chiến tranh cùng với những người con của mình Lê Đình Cánh đã ngầm ý