Trong bức tranh văn học đầy sắc màu của văn chương đương đại, nhà văn Nguyễn Dậu xuất hiện lặng lẽ, điềm đạm nhưng để lại một dấu ấn không thể phai mờ.Thành tựu văn học của ông, đặc biệt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Văn học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Dục Tú là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn các bạn học viên cùng lớp, những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2016
Học viên
Lê Thị Khánh Vân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Cấu trúc của luận văn 6
CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN NGUYỄN DẬU TRONG DIỆN MẠO TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 7
1.1 Diện mạo truyện ngắn Việt Nam đương đại 7
1.1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa 7
1.1.2 Những thành tựu của thể loại truyện ngắn 13
1.2 Tác giả Nguyễn Dậu và hành trình sáng tác 21
1.2.1 Tác giả Nguyễn Dậu 21
1.2.2 Hành trình sáng tác 24
2.1 Giới thuyết về nhân vật văn học 30
2.1.1 Đặc điểm nhân vật trong văn học giai đoạn trước 1986 33
2.1.2 Đặc điểm nhân vật trong văn học giai đoạn sau 1986 38
2.2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu 42
2.2.1 Nhân vật cô đơn 42
2.2.2 Nhân vật dị biệt 48
2.2.3 Nhân vật tha hóa 52
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN DẬU 58
3.1 Cốt truyện 58
3.1.1 Cốt truyện truyền thống 60
Trang 53.1.2 Cốt truyện hiện đại 64
3.2 Tình huống truyện 69
3.3 Không gian nghệ thuật 74
3.3.1 Không gian hiện thực 76
3.3.2 Không gian ảo 81
3.4 Thời gian nghệ thuật 84
3.4.1 Thời gian hiện thực 86
3.4.2 Thời gian tâm lý 89
3.5 Giọng điệu trần thuật 92
3.5.1.Giọng chiêm nghiệm triết lý 92
3.5.2 Giọng điệu cảm thương 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6Trong bức tranh văn học đầy sắc màu của văn chương đương đại, nhà văn Nguyễn Dậu xuất hiện lặng lẽ, điềm đạm nhưng để lại một dấu ấn không thể phai mờ.Thành tựu văn học của ông, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn quả thực dày dặn và có phong cách riêng không trộn lẫn
Tuy nhiên, do nhiều vấn đề về lịch sử, truyện ngắn Nguyễn Dậu trong nhiều thập kỉ không được nhắc đến trong các tài liệu học tập và nghiên cứu
Từ đó, cũng chưa có một công trình dày dặn nào đi sâu nghiên cứu về tác giả này Thẩm định về sáng tác của Nguyễn Dậu chủ yếu là các bài phê bình, nhận xét về từng tác phẩm, đánh giá chất lượng của từng truyện ngắn, từng tập truyện… mà thiếu một sự hệ thống nhất định trong việc nhận diện truyện ngắn của nhà văn này Cũng đã có một số những bài nhận xét khái quát về truyện ngắn Nguyễn Dậu nhưng hầu hết là các bài viết ngắn, chưa làm rõ được những nét đặc sắc của truyện ngắn Nguyễn Dậu Bởi thế luận văn này một mặt mong muốn khái quát lại một cách có hệ thống về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Dậu, mặt khác đi sâu vào tìm hiểu thế giới nghệ
Trang 7thuật của truyện ngắn Nguyễn Dậu Đồng thời, luận văn cũng muốn đóng góp một vài ý kiến chủ quan đối với hiện tượng truyện ngắn Nguyễn Dậu, dù là rất nhỏ ở một số khía cạnh, phương diện nào đó, hi vọng góp phần có cái nhìn đúng đắn, toàn diện hơn đối với truyện ngắn Nguyễn Dậu Từ đó, khẳng định lại vị trí của ông, đánh giá một cách thỏa đáng đóng góp của nhà văn cho thể loại truyện ngắn nói riêng, văn học Việt Nam đương đại nói chung
2 Lịch sử vấn đề
Truyện ngắn Nguyễn Dậu như đã nói là một hiện tượng văn học không mới nhưng đã có thời gian dài bị lãng quên Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Dậu được nhắc đến chủ yếu là các bài giới thiệu ngắn theo dạng tiểu sử trong các tuyển tập văn học vùng miền Một số bài viết về ông có tác giả là những đồng nghiệp, yêu mến và trân trọng cuộc đời người nghệ sĩ ghi lại, như để nhắc nhớ, để tiếc thương cho một tài năng bị vùi dập trong bão tố lịch sử
Tiểu sử nhà văn Nguyễn Dậu được nhắc đến qua vài dòng ngắn ngủi trong thư mục của thư viện Hải Phòng và qua các bài viết của đồng nghiệp Trong đó, chủ yếu ghi lại năm sinh năm mất, quê quán và một vài nét về quá trình làm việc của ông Về sự nghiệp văn chương, cũng chỉ có một số bài viết giới thiệu sơ lược về quá trình từ cầm bút đến thành danh của nhà văn Nguyễn Dậu
Bài viết Nhà văn Nguyễn Dậu và sức sống của ngòi bút của tác giả Vũ Quốc Văn đăng trên trang vanthoviet.com (1/9/2011) đã khái quát về chặng
đời nhọc nhằn, truân chuyên mà cũng vô cùng vẻ vang của nhà văn Nguyễn Dậu Bên cạnh việc biên niên lại cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn, tác giả
Vũ Quốc Văn, với lòng yêu kính và tiếc thương một nhân cách, một tài năng,
đã hé lộ cho người mến mộ ông thấy được một Nguyễn Dậu có phần đời nhiều cay đắng Bị phê phán từ sự kiện tác phẩm bị “xét lại” của văn học
Trang 8những năm 1960 mà theo lối phê bình lúc đó gọi các tác phẩm viết theo kiểu
“tự nhiên chủ nghĩa”, tiểu thuyết Mở hầm cùng với các tiểu thuyết như Nhãn
đầu mùa (Xuân Tùng, Trần Thanh), Mùa hoa dẻ (Văn Linh) đã bị giới phê
bình lúc đó khai tử Cuộc đời nhà văn bẵng đi nhiều năm phải xa rời nghiệp viết, nhưng ông không hề nản chí mà vẫn âm thầm quay trở lại với vẹn nguyên tình yêu nghề
Với Nguyễn Dậu - Nhọc nhằn sông Luộc, tác giả Kiến Văn (đăng trên
tạp chí Văn nghệ Quân đội ra ngày 22/09/1911) lại tập trung vào quãng đời
sau khi tiểu thuyết Mở hầm bị phê phán Nguyễn Dậu đã quay trở lại nghiệp viết sau 28 năm dừng bút sau sụ kiện Mở hầm Bài viết đã cho thấy một tác
giả vẫn vẹn nguyên niềm say mê với nghiệp viết, đặc biệt, các sáng tác sau này của ông lại càng dồi dào một tinh thần lạc quan, truyền tải được niềm vui sống và khao khát thiện lương đến người đọc
Bài Nhà văn Nguyễn Dậu và nhà văn Vũ Bão, hai người anh, hai bàn
phím, một giấc mơ… của nhà văn Nguyễn Khắc Phục đăng trên trannhuong.net (16/7/2013) lại từ một kỉ niệm về hai chiếc máy chữ - món
quà của các nhà văn đồng nghiệp gửi tặng nhà văn Nguyễn Dậu và nhà văn
Vũ Bão để kể về cuộc đời Nguyễn Dậu với rất nhiều yêu mến Kỉ niệm tuy nhỏ nhưng là những kí ức dù ít ỏi nhưng vô cùng đáng quý về nhà văn Nguyễn Dậu mà bạn văn của ông còn lưu giữ Từ đó, người đọc thấy được một nhà văn đã trải qua đủ cay đắng ở cả sự nghiệp lẫn đời sống cá nhân nhưng vẫn say sưa viết Và như nhà văn Nguyễn Khắc Phục chiêm nghiệm:
“hai người anh, hai bàn phím gõ chữ mà cùng một giấc mơ: Mơ văn chương
tử tế giúp ích cho đời, văn chương cho thỏa chí tang bồng hồ thỉ, văn chương
là sống, yêu, hi vọng và hướng tới những điều tốt đẹp nhất…”, những tác phẩm mà nhà văn để lại, đặc biệt ở giai đoạn sau Đổi mới, đã chứng minh giá trị nhân văn sâu sắc đằng sau những trang viết vô cùng hấp dẫn của ông
Trang 9Từ sau 1975, đời sống xã hội và văn hóa Việt Nam bước sang một thời
kì mới, thời kì thống nhất đất nước, tự do, hòa bình và dân chủ Từ đó trở về sau, văn học thoát khỏi những ràng buộc thời chiến, mở rộng đôi cánh tự do, thỏa sức vẫy vùng ở mọi đề tài và đa cách thể hiện Các nhà văn càng ngày càng xuất hiện nhiều hơn, với lượng tác phẩm dồi dào và giàu sức sáng tạo Trong giới phê bình, nghiên cứu văn học, có một xu hướng ưu tiên và hướng đến các tên tuổi mới, với nhiều phá cách trong lối viết và cách lựa chọn đề tài Với các nhà văn viết từ trong chiến tranh bước sang thời kì Đổi mới, phê bình văn học chủ yếu hướng đến các tên tuổi quen thuộc như Bảo Ninh, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp… Cái tên Nguyễn Dậu dường như bị lãng quên Về vấn đề này, một phần được lí giải bởi những thăng trầm trong nghề viết khiến cái tên của ông bẵng đi nhiều thập kỉ trên văn đàn
Với tình hình đó, một lần nữa, giá trị văn chương của Nguyễn Dậu cần được khẳng định lại Với gia tài truyện ngắn đầy hơi thở đương đại được nhà văn viết từ sau năm 1975 đến thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, văn học Việt Nam
có thêm một sắc thái mới, không trộn lẫn với bất cứ tác giả nào Luận văn Thế
giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu hy vọng sẽ đưa lại cái nhìn
đầy đủ và chi tiết hơn về thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài hướng tới việc giải quyết những vấn đề sau:
3.1 Chỉ ra và phân tích được những biểu hiện về thế giới nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Dậu thông qua các kiểu nhân vật
3.2 Chỉ ra và phân tích được một số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu như cốt truyện, tình huống truyện, không gian, thời gian nghệ thuật, giọng điệu trần thuật
Từ việc giải quyết những vấn đề trên luận văn giới thiệu đến bạn đọc
Việt Nam một tên tuổi xuất sắc của nền văn học Việt Nam đương đại Từ đó
Trang 10có cái nhìn đầy đủ những thành tựu cũng như đặc điểm của truyện ngắn Nguyễn Dậu trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của đề tài là Thế giới
nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu, khảo sát trong các tập truyện ngắn
của ông được viết từ sau năm 1986
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Dậu, tập trung ở các tập truyện ngắn được viết từ sau năm 1986, bao
gồm: Con thú bị ruồng bỏ (1990), Đôi hoa tai lóng lánh (1996), Bảng lảng
hoàng hôn (1997), Gió núi mây ngàn (2000)
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sẽ có sự đối sánh với các tác phẩm khác cùng nằm trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi đưa vào sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phuơng pháp phân tích, tổng hợp
- Phuơng pháp loại hình
- Phuơng pháp phân tích văn bản
Quá trình nghiên cứu đề tài đồng thời sử dụng các thao tác: so sánh - đối chiếu… nhằm bổ trợ cho việc triển khai đề tài
6 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu về đơn vị tác giả từ sự khảo sát mô hình thế giới nghệ thuật, luận văn đưa lại những hiểu biết về một tác giả truyện ngắn có phong cách riêng độc đáo của văn học đương đại Việt Nam Từ đó, giúp bạn
Trang 11đọc và giới nghiên cứu có được hình dung rõ nét và chính xác hơn về một tác
giả có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam đương đại nhưng dường như
đang bị lãng quên trong một thời gian dài Đồng thời khẳng định về một thời
đại văn học Việt Nam, đạt nhiều thành tựu trong thời gian gần đây
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3
chương:
Chương 1: Truyện ngắn Nguyễn Dậu trong diện mạo truyện ngắn Việt Nam đương đại
Chương 2: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Dậu
Trang 12CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN NGUYỄN DẬU TRONG DIỆN MẠO
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Diện mạo truyện ngắn Việt Nam đương đại
1.1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa
Đời sống xã hội luôn vận hành theo quy luật của sự biến đổi Ở mỗi giai đoạn lịch sử, nhà văn với tư cách chủ thể sáng tạo luôn là nhân tố chịu sự va đập của đời sống Mỗi người viết với bản lĩnh và tài năng, vốn sống, vốn văn hóa, tri thức và sự trải nghiệm sẽ chịu những ảnh hưởng tác động khác nhau
Từ thực tiễn đời sống vào sáng tác là cả một quá trình thẩm thấu và khúc xạ qua lăng kính của người nghệ sĩ Mỗi giai đoạn văn học luôn có những đặc thù do sự quy định của lịch sử, đời sống tinh thần, ý thức nghệ thuật và khả năng sáng tạo của người cầm bút Văn học Việt Nam đương đại trải qua bốn thập kỉ ghi dấu nhiều đổi thay, trong đó sự biến động của đời sống lịch sử, xã hội, văn hóa đóng một vai trò quan trọng lên thành tựu của văn học đương đại nói chung, truyện ngắn đương đại nói riêng
Trước hết, phải kể đến ngọn nguồn những điều kiện thuận lợi từ truyền thống văn học nước nhà mà truyện ngắn Việt Nam đương đại được thừa hưởng Từ những năm đầu của thế kỉ XX, chữ Quốc ngữ đã thay thế chữ Nôm, chữ Hán trong sáng tác văn học Đây được xem như là dấu hiệu đầu tiên của quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc Sang đến những năm 30 của thế kỷ XX, cùng với quá trình hiện đại hóa văn học, truyện ngắn đã có những bước chuyển rõ rệt trở thành một bộ phận quan trọng, làm nên diện mạo của nền văn học dân tộc Nhờ tiếp thu kinh nghiệm của phương Tây, truyện ngắn được viết theo lối mới, mới từ cách xây dựng nhân vật đến nghệ thuật kể chuyện, ngôn ngữ… Truyện ngắn trong giai đoạn 1930 – 1945 chưa bao giờ phong phú và đặc sắc như thế, với nhiều tác giả, tác phẩm có dấu ấn, phong cách riêng Truyện ngắn trữ tình của Thạch Lam, Thanh Tịnh; truyện
Trang 13ngắn phong tục của Bùi Hiển, Kim Lân; truyện ngắn hiện thực phê phán của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng Văn học hiện thực tập trung phơi bày thực trạng bất công thối nát của xã hội, đi sâu phản ánh tình cảnh khốn khổ của tầng lớp nhân dân với sự cảm thông sâu sắc Đã
có những trang miêu tả phân tích tâm lý đạt tới trình độ bậc thầy như truyện ngắn của Nam Cao Chủ đề thế sự được các nhà văn đã đề cập đến với thái độ phê phán xã hội trên tinh thần dân chủ và nhân đạo Chỉ sau hơn một thập niên, chúng ta đã thấy xuất hiện nhiều tác phẩm đặc sắc Với một bề dày truyền thống như thế, truyện ngắn đương đại có được một điều kiện khá thuận lợi để tạo đà phát triển sau này Sau năm 1975, đặc biệt từ sau thời kì đổi mới, truyện ngắn với những cách tân về nội dung, hình thức đã mang đến cho nền văn học Việt Nam thêm nhiều khí sắc mới Văn xuôi nước nhà từ đây đã có nhiều “thay da đổi thịt” Bên cạnh đội ngũ nhà văn trưởng thành từ hai cuộc chiến như Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu là sự xuất hiện của hàng loạt cây bút trẻ đầy triển vọng như Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu… Sự phát triển đó một phần chính là nhờ nền tảng, như một sức bật được tạo đà từ những thành tựu văn xuôi đầu thế kỷ XX
Một yếu tố quan trọng khác phải kể đến là những biến động xã hội sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bối cảnh đó đã làm nảy nở nhu cầu được đổi mới trên mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có nghệ thuật Đại thắng mùa xuân năm 1975 kết thúc thắng lợi, mở ra một thời kì mới trong lịch sử dân tộc Niềm vui chưa trọn vẹn khi ta phải đối mặt với nhiều thách thức, biến động thời hậu chiến Đời sống khó khăn, niềm tin vào lí tưởng lung lay, sự khập khiễng cách sống Nam Bắc sau thống nhất, những yếu tố đó đã tác động đến xã hội nói chung và đến lực lượng văn nghệ sĩ nói riêng Với sự nhạy cảm riêng có, những nhà văn có sự thay đổi từ trong nhận thức, những va đập
Trang 14mạnh mẽ từ cuộc sống thôi thúc họ thay đổi cách nhìn, cách thể hiện đời sống vào văn học Trong bối cảnh đó, tháng 12 năm 1986, đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam đề ra chương trình đổi mới toàn diện, kêu gọi toàn Đảng, toàn dân nhìn thẳng vào sự thật của đất nước và cuộc sống nhân dân, đáp ứng mọi đòi hỏi của thời đại Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về “đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật phát triển lên một bước” ra đời đúng lúc Đây chính là vận hội cho một nền văn học đang khát khao đổi mới Một dấu mốc quan trọng là cuộc gặp gỡ của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh với gần 200 nghệ sỹ trí thức đại diện cho các ngành điện ảnh sân khấu vào tháng
10 năm 1987 tại Hà Nội Tại đây, Tổng bí thư đã phát biểu và chỉ rõ đặc điểm
và hiện trạng văn hóa, nghệ thuật nước ta Tổng Bí thư đã chỉ ra: nhìn từ nhiều năm qua, Đảng chưa thật sự coi trọng vai trò của văn hóa, hoạt động nghệ thuật phải chịu sư áp đặt, không có tính dân chủ Đây chính là những nguyên nhân gây nên sự khó khăn trong đời sống nghệ thuật Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh kêu gọi các nghệ sĩ hãy thay đổi cách viết cho phù hợp với tình hình đất nước Cuộc sống đổi thay sẽ kéo theo sự thay đổi nhu cầu thẩm
mỹ và nhu cầu thưởng thức Bối cảnh xã hội mới là ngọn nguồn cảm hứng sáng tạo mới cho nghệ sĩ Nó còn có ý nghĩa khi các nhà văn đang ôm ấp những hoài bão, khát vọng sáng tạo Với tinh thần đó, nhà văn như được cởi trói, có điều kiện để viết một cách tự do hơn Tự do trong sáng tác là một động lực quan trọng cho sự xuất hiện một lực lượng nhà văn mới đông đảo Bên cạnh đó, Việt Nam với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đang đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, một mặt giúp kinh tế phát triển, mặt khác, đưa lại nhiều hệ lụy về xã hội, đời sống Sự đầu tư về cơ sở hạ tầng tỉ lệ thuận với sự xuất hiện và phát triển của các trung tâm kinh tế, văn hoá Các đô thị ồn ã,
Trang 15đông đúc với những toà nhà cao tầng san sát mọc lên lấn dần và thay thế những vùng ngoại ô trong mát, những làng quê yên bình trước đây Nền kinh
tế theo cơ chế thị trường được hình thành về cơ bản là một trong những thành tựu đáng ghi nhận Đồng thời chính nó lại khiến cho sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần, tình cảm của con người Quan hệ cộng đồng khép kín trong luỹ tre làng với làng
xã, xóm giềng, dòng họ vốn rất bền chặt cũng theo đó rạn nứt, lỏng lẻo đi Quan hệ tình nghĩa tương thân tương ái vốn là quan hệ chủ yếu giữa con người với con người trước đây cũng bị quan hệ buôn bán thị trường xâm lấn
mà mất đi vẻ đẹp truyền thống của nó
Trong xu thế mở cửa, việc giao lưu với các nền văn hoá trên thế giới được Đảng và nhà nước ta khuyến khích Nhờ phương tiện giao thông thuận lợi cũng như sự bùng nổ của truyền thông đại chúng mà việc hội nhập đa phương với thế giới bên ngoài trở nên dễ dàng hơn Lối sống Tây phương theo con đường đó du nhập ồ ạt vào nước ta Không khí cởi mở có được sau chủ trương đổi mới của Đảng cộng với tinh thần dân chủ du nhập theo các trào lưu tư tưởng và lối sống Tây Âu là điều kiện dẫn đến dân chủ hóa trở thành xu thế lớn của xã hội và trong đời sống tinh thần của con người từ những năm 80 trở đi Đồng thời, trong xu thế mở cửa, toàn cầu hoá, chúng ta cũng phải đối diện với những biến động dữ dội trong nền chính trị thế giới, những vấn đề nóng bỏng mà nhân loại đang phải cùng nhau tìm cách giải quyết
Con người, đặc biệt ở các đô thị lớn được sống trong một thế giới tiện nghi, một đời sống vật chất đầy đủ và giữa rất nhiều luồng thông tin đa chiều Những biến đổi trong xã hội cũng khiến cho nhịp sống chậm của nền nông nghiệp lúa nước trước đây đang được dần thay thế bởi nhịp sống hối hả, nhanh gấp của guồng máy công nghiệp Những điều kiện vật chất và tinh thần
Trang 16này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của con người Việt Nam, đặc biệt là thanh thiếu niên
Những biến động trong hoàn cảnh xã hội tác động sâu sắc đến trạng thái tâm lí, cách nghĩ, cách cảm của con người Việt Nam Một mặt con người được sống trong không khí dân chủ, không bị ràng buộc, bó hẹp như trước đây Con người được tự do bộc lộ cái tôi cá nhân của mình, được nói lên quan điểm, tư tưởng của mình một cách thoải mái hơn Nhưng mặt khác, trước sự
xô bồ của cuộc sống vận động theo cơ chế thị trường, trong thế giới của tiện nghi, đồ vật và trong sự hỗn dung của vô vàn các nguồn thông tin, con người bỗng trở nên bé nhỏ, đơn độc Con người ngày càng hoang mang, hoài nghi,
âu lo trước hiện thực đầy bất trắc
Trong thời mở cửa, với không khí dân chủ hoá thì việc giao lưu văn hóa, văn học với nước ngoài ở nước ta càng trở nên dễ dàng Văn học Việt Nam đang hoà nhập với bầu khí quyển chung hiện đại, hậu hiện đại của thế giới Văn học nước ta đang tiếp thu những thành tựu văn hoá, văn học của thế giới
để làm phong phú cho đời sống văn học của chính mình; đồng thời cũng có nhiều cơ hội để phổ biến những thành tựu của mình ra thế giới Nhiều tác phẩm của các nhà văn nước ngoài, nhiều lý thuyết sáng tác và phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học hiện đại được dịch và giới thiệu khá công phu trong nước ta Đặc biệt là các sáng tác của các nhà văn có nhiều cách tân, đổi mới trong tư duy, quan niệm cũng như trong nghệ thuật của nền văn học hậu hiện đại có ảnh hưởng to lớn đến các nhà văn trong nước Có thể kể tên các nhà văn có ảnh hưởng lớn đó như: Bơnơt So, Franz Kafka, Bectôn Brêcht, Ơnixt Hêminguây, Anbe Camuy, Xamuyen Bêcket, Ơgien Iônexcô, Dan Brow, Mạc Ngôn, Haruki Murakami… Các nhà văn trẻ nước ta còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các nhà văn 7X, 8X của Trung Quốc (bởi trong những năm gần đây sáng tác của họ được dịch rất nhiều ở Việt Nam) như: Vệ Tuệ,
Trang 17Miên Miên, Trương Duyệt Nhiên, Quách Kính Minh, Xuân Thụ… Một loạt các lý thuyết của thế kỉ XX về văn hoá học và thi pháp học của Bakhtin, về loại hình học cấu trúc của Propp, về xã hội học văn học của Excapit và của Gonman, về phân tâm học của Frơt và của Jung, chủ nghĩa cấu trúc của Lôtman, chủ nghĩa hình thức Nga, mĩ học tiếp nhận của Jauxơ, về lý thuyết tiếp nhận văn học theo kiểu hiện tượng học của Ingarđin… cũng đã được dịch
và giới thiệu khá tường tận Các nhà văn Việt Nam đang chịu ảnh hưởng của bầu không khí chung văn hoá thế giới – một không khí đang nóng lên từng ngày bởi những chuyển động mãnh liệt của các xu hướng, khuynh hướng khác nhau Những nỗ lực của các nhà nghiên cứu, của đông đảo bạn đọc, ngoài việc phát hiện cái hay, cái đẹp của tác phẩm cũng có tác dụng định hướng cho sáng tác và đòi hỏi những sáng tạo, nỗ lực từ phía đội ngũ sáng tác
Cũng trong không khí tự do, dân chủ, việc in ấn, cho ra đời một quyển sách hiện nay không mấy khó khăn Sự kiểm duyệt không quá gắt gao, cơ chế bao cấp đã xoá bỏ càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc cho ra đời một cuốn sách Các phương tiện truyền thông, báo chí, nhà xuất bản… sẵn sàng làm công việc quảng bá tác phẩm mới đã góp phần khuyến khích nhiệt tình sáng tạo của nhà văn Đặc biệt, trong cơ chế thị trường, các nhà in làm việc với tôn chỉ hàng đầu là lợi nhuận thì ước muốn của một nhà văn muốn có một tuyển tập cho riêng mình trở nên khá dễ dàng Việc đổi mới quản lý trong lĩnh vực nghệ thuật cũng góp phần nhất định cho quá trình đổi mới văn học Cách thức quản lý ngày càng tỏ ra có chuyên môn hơn, có ý thức tôn trọng tài năng, khuyến khích sáng tạo cũng đã khiến người viết hăng hái hơn trong việc làm mới mình Mặt khác, việc xâm nhập của văn học dịch khiến bạn đọc có thêm điều kiện để mở mang “tầm đọc” của mình Những cách thể hiện mới mẻ của văn học nước ngoài đã thống trị văn hóa đọc cũng là một áp
Trang 18lực buộc văn học trong nước phải làm mới mình, phát triển để kịp tầm đón đợi của người đọc Đặc biệt, lực lượng độc giả chuyên nghiệp cũng ngày càng được mở rộng, họ vừa là bạn đọc, vừa là nhà phê bình, một phần định hướng cách thức, khiến văn học không ngừng phải sáng tạo để không bị bạn đọc “bỏ rơi”
Trên cơ sở đó, từ năm 1986 đến nay, văn học phát triển song song với những chuyển biến của đất nước Các nhà văn mang trong mình quan điểm sáng tác mới, ngôn ngữ văn học được hiện đại hóa cho phù hợp với sự phát triển của thời đại Không khí dân chủ trong đời sống xã hội đã tạo điều kiện cho văn học phát triển mạnh mẽ và toàn diện Các thể loại văn học như thơ, truyện ngắn, kí, tiểu thuyết phát triển khá đồng đều và có những bước đột phá quan trọng, đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần làm nên diện mạo phong phú cho văn học nước nhà
1.1.2 Những thành tựu của thể loại truyện ngắn
Thành tựu văn học nói chung không chỉ thể hiện ở thể loại truyện ngắn
mà nó bao quát toàn bộ đời sống văn học, trên nhiều thể loại, nhiều phương diện Tuy nhiên, thành tựu nổi bật của văn xuôi Việt Nam đương đại được ghi dấu đặc biệt bởi thể loại truyện ngắn Truyện ngắn là thể loại tập trung nhiều yếu tố của một nền văn học đang đổi mới Truyện ngắn phát triển ồ ạt về số lượng, mạnh mẽ về chất lượng Tất cả những bề bộn, đa chiều của cuộc sống đều được đưa vào truyện ngắn một cách cụ thể, sinh động Do đặc trưng của một thể loại có hình thức nhỏ, gọn nên truyện ngắn có thể luồn lách vào mọi ngõ ngách tâm hồn con người, bám sát hiện thực đa chiều của cuộc sống, thậm chí, soi rọi vào cả thế giới tâm linh Cũng bởi hình thức nhỏ gọn này và thêm lợi thế của một thể văn xuôi, nên khác với thơ – trừu tượng và thiên cảm xúc, khác với tiểu thuyết – cồng kềnh và kén bạn đọc, truyện ngắn chiếm
Trang 19được nhiều hơn cả sự đón đợi của người đọc, chất xúc tác quan trọng để thể loại này có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn so với các thể loại khác
Thành tựu ở thể loại truyện ngắn có thể được khái quát trên nhiều phương diện nổi bật Trước hết, có thể thấy được sự nở rộ, đua chen của các thế
hệ nhà văn trong hoạt động sáng tác Từ sau Đổi mới, chúng ta được chứng kiến cảnh tượng văn học nước nhà khởi sắc với sự xuất hiện của những nhà văn ở các lứa tuổi khác nhau, sinh ra trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau, có thể gặp nhau hoặc đối nghịch trong quan niệm về cuộc sống và văn chương, nhưng các thế hệ cầm bút đều đang nỗ lực sáng tạo, ở mỗi thế hệ đều quy tụ những ngòi bút tạo nên được một phong cách nghệ thuật của riêng mình
Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, văn học đương đại Việt Nam từ năm 1975 đến nay trải qua ba giai đoạn: 1975 - 1985, 1986 – 1993 và 1994 đến nay, và ở mỗi giai đoạn đều có một thế hệ nhà văn đông đảo về số lượng,
đa dạng về phong cách văn học Trong đó, chặng hai từ 1986 đến những năm đầu thập niên 1990 là giai đoạn quan trọng nhất Đây là giai đoạn đất nước chuyển mình từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường với tất cả những biến động của đời sống hết sức phong phú và phức tạp Truyện ngắn là thể loại phổ biến, thích hợp với mọi công chúng, bạn đọc Quan niệm hiện thực của các nhà văn đang mở ra những tầm nhìn mới, con người được nhìn nhận dưới góc
độ thế sự đời tư và được khám phá trong quan hệ với cõi đời, với mọi người
và chính nó Nhà văn quan tâm hơn đến số phận riêng tư, nhân cách, những đấu tranh, giằng xé, lựa chọn và khát vọng, cả hạnh phúc lẫn khổ đau, được mất, vui buồn của con người
Bởi vậy, giai đoạn này đánh dấu nhiều tên tuổi, tạo nên diện mạo mới cho văn học nước nhà Trước hết là sự đổi mới của các nhà văn đã có bề dày sáng tác
ở giai đoạn trước như Nguyễn Minh Châu – nhà văn tiên phong ở thể loại truyện
ngắn với những tác phẩm: Bức tranh (1982), Bến quê (1985), Cỏ lau (1987)
Trang 20Nguyễn Minh Châu luôn ý thức “đi tìm hạt ngọc ẩn giấu bên trong bề sâu tâm hồn con người” Bên cạnh đó là một Nguyễn Khải vẫn thống nhất và biến hóa trong ngòi bút triết luận tỉnh táo Với cách kể chuyện tự nhiên, dân dã nhưng sâu sắc, Nguyễn Khải đã góp phần không nhỏ vào sự đổi mới văn học với các tập
truyện ngắn Một người Hà Nội (1990), Một thời gió bụi (1993), Hà Nội trong
mắt tôi (1995) Xuất hiện vào thời kì đầu Đổi mới đóng góp chung nổi bật của
thế hệ nhà văn này là đoạn tuyệt với lối viết hiện thực tô hồng quen thuộc cũ để nói lên sự thực bằng hình ảnh, bằng biểu tượng, bằng ẩn dụ, bằng kí hiệu ngôn ngữ Một mặt, họ vừa phản ánh được bộ mặt thật của xã hội, mặt khác, họ đưa ra lối viết độc đáo, trình bày hiện thực khác hẳn với những người đương thời Như lời nhận xét của nhà phê bình Thuỵ Khuê về Nguyễn Huy Thiệp: Ông đã tạo ra
“khuynh hướng cực thực sắc bén, ngôn ngữ phũ phàng, cô đọng và đã ảnh hưởng sâu xa đến những người đi sau” Đó cũng là tinh thần chung của thế hệ nhà văn giai đoạn này
Từ cuối những năm 1990 đến nay, trong xu thế đời sống xã hội ổn định, văn học cơ bản cũng trở lại với quy luật mang tính đời thường, nhưng không tách rời định hướng tư duy nghệ thuật trong những năm đầu đổi mới Thế hệ nhà văn giai đoạn này còn rất trẻ, sinh ra trong những năm 70, 80 của thế kỷ trước,
họ đang rất nỗ lực sáng tạo những giá trị mới cho văn học Họ đã viết và đang viết những tác phẩm vượt ra ngoài khuôn sáo cũ Nhiều cây bút có sự bứt phá trong cách thể hiện từ đề tài, bút pháp tạo cho mình một phong cách rất riêng Nguyễn Huy Thiệp khai thác nhiều đề tài với ngòi bút sắc lạnh đến tàn nhẫn
Phạm Thị Hoài có tập truyện ngắn Mê Lộ (1989) mang dấu ấn của triết học và kĩ thuật phương Tây đậm nét Năm 2004, với truyện ngắn Bóng đè, Đỗ Hoàng
Diệu đã tạo nên một cuộc tranh luận sôi nổi trên văn đàn Tác phẩm được xây dựng dựa trên một câu chuyện nhiều tính dục Với lối viết táo bạo, Đỗ Hoàng Diệu đã qua những khát khao tình dục của người phụ nữ gửi đến độc giả những
Trang 21thông điệp giàu ý nghĩa về cuộc sống Năm 2005, Nguyễn Ngọc Tư thật sự gây
ấn tượng trên văn đàn với truyện ngắn Cánh đồng bất tận Rồi Nguyễn Thị Thu
Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Y Ban, Hồ Anh Thái… Truyện ngắn của các tác giả thường xoay quanh cuộc sống thường nhật ẩn chứa nhiều tư tưởng sâu sắc So với truyện ngắn trước đó, giai đoạn này thật sự có một bước tiến mới Sáng tác của những ngòi bút trẻ có sự đa dạng trong cách trình bày hiện thực, chú ý đến nhiều khía cạnh khác nhau của xã hội hiện đại và sự can đảm nói lên những điều đáng nói, không sợ sức ép của những tư tưởng bảo thủ
Có thể lược dẫn ở đây theo chiều vận động của thời gian và không gian mở
ra từ Đổi mới mà truyện ngắn đã tạo dựng Đoàn Lê, Nguyễn Quang Lập, Y Ban, Tạ Duy Anh, Nguyễn Quang Thiều, Bảo Ninh là những “kiến trúc sư” lứa đầu Xuất hiện trên các diễn đàn Sông Hương, Văn nghệ quân đội, Văn nghệ, họ
đã nhanh chóng khẳng định được ngòi bút của mình Y Ban, Tạ Duy Anh, Nguyễn Quang Thiều đều định hình từ trong cuộc thi truyện ngắn 1989 của Văn nghệ quân đội Riêng Tạ Duy Anh còn để lại một dấu ấn khó nhòa bằng truyện
ngắn xuất sắc Bước qua lời nguyền trên tuần báo Văn nghệ (1989) Cả ba nhà
văn này đều viết rất khỏe sau đó, gặt hái nhiều thành công, trở thành những cây bút truyện ngắn vững chãi dù đặt bút ở nhiều thể loại Hòa Vang, Hồ Anh Thái, Trần Đức Tiến, Phạm Ngọc Tiến, Cao Duy Sơn cũng xuất hiện cùng lúc này nhưng những tác phẩm để lại nhiều tiếng vang đều từ thập kỷ 90 trở đi Cùng lúc với sự xuất hiện của một thế hệ nhà văn mới: Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Xuân Hà, Phan Thị Vàng Anh, Phan Triều Hải, Lưu Sơn Minh … Ở đấy, những cây bút nữ đã để lại một ấn tượng sâu đậm về
nữ tính và nữ quyền Mỗi người một vẻ, họ đã làm thành một giai đoạn có thể nói là rực rỡ nhất của văn học giới nữ Việt Nam Trong khi ở giới bên kia, cũng định hình những giọng văn hết sức độc đáo và mới lạ, nhất là trong cách mà họ ứng xử với xã hội và nghệ thuật Sang thế kỷ XXI, các nhà văn như Phong Điệp,
Trang 22Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Ngọc Thuần, Đỗ Hoàng Diệu, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Danh Lam,…đã làm nên một gương mặt truyện ngắn Có thể khẳng định mà không sợ quá lời rằng thành tựu của truyện ngắn Việt Nam đương đại là rõ rệt, phong phú, đa dạng và sâu sắc
Các thế hệ nhà văn đang nỗ lực không ngừng trên con đường sáng tạo
Dù con đường họ đang đi có theo những ngã rẽ khác nhau nhưng họ đang chung sức hợp lực để đưa nền văn học nước nhà phát triển, hoà nhập vào dòng chảy hiện nay của văn học thế giới.Với ý thức sâu sắc về nghề nghiệp, các nhà văn Việt Nam đang dồn hết tâm huyết, tài năng của mình để khai thác những vỉa tầng nội dung mới và tìm tòi những thể nghiệm mới trong hình thức nghệ thuật, từ đó đưa văn học nước nhà thoát khỏi quán tính của những quan niệm văn học cũ, thoát khỏi sự trì níu của lối viết truyền thống để tiếp cận với văn học hiện đại, hậu hiện đại thế giới
Thành tựu của truyện ngắn còn được thể hiện thông qua sự thay đổi của chủ đề, đề tài, cách viết Hiện thực cuộc sống ngày càng bộn bề, xã hội ngày càng phức tạp Tư tưởng, tâm lí, tình cảm của con người hôm nay đã khác trước rất nhiều Nhu cầu, thị hiếu thẩm mĩ của công chúng văn học cũng đã thay đổi Nhiều vấn đề cốt lõi của cuộc sống cũng như của văn học trước đó vốn được xem là chân lí hiển nhiên thì bây giờ cũng được xem xét lại, trở thành những vấn đề tranh cãi, bàn thảo trong và ngoài giới văn học Các trào lưu, khuynh hướng văn học và lí luận nghệ thuật hiện đại của thế giới được giới thiệu ở Việt Nam, tác động tới sự tìm tòi, sáng tạo của nhà văn và làm biến đổi cả thị hiếu công chúng Tất cả thay đổi đó “đặt hàng” cho văn học những sản phẩm mới khác trước về chất
Có thể nói chưa bao giờ nhu cầu đổi mới, nhu cầu khai phá những vỉa quặng mới của hiện thực đời sống, nhu cầu đi tìm giọng điệu riêng lại cấp bách như lúc này Từ khi “người mở đường tinh anh và tài năng” Nguyễn
Trang 23Minh Châu “đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ” thì đổi mới văn học như một lớp sóng dậy lên, liên tục cho đến hôm nay Nó cuốn đi những quan niệm đã cũ về văn chương và những dấu tích của nó Thay vào đó
là những quan niệm mới về chức năng của văn học, chức năng của người nghệ sỹ, quan niệm mới về hiện thực và con người… Văn học từ những năm
80 của thế kỉ trước đến nay được chứng kiến sự đổi mới mạnh mẽ trên nhiều phương diện: đề tài, chủ đề và cách viết Bên cạnh sự đổi mới vẫn nằm trong khuôn khổ của truyền thống, đáng chú ý có những cách tân hết sức táo bạo, trở thành “mũi nhọn đột phá” vào quan niệm văn chương truyền thống
Không bằng lòng với những đề tài, chủ đề quen thuộc đã được khai thác trong các sáng tác của các nhà văn đi trước, những nhà văn của thời đại mới đang rất nỗ lực để tìm tòi, khai phá những mảng hiện thực mới, hoặc nhìn chúng dưới những góc nhìn mới Đó là một trong những con đường để xoá bỏ
“chủ nghĩa đề tài” đã thống trị một thời gian dài trong văn học nước ta và di chứng của nó vẫn để lại cho đến hôm nay
Tương ứng với những khám phá về mặt nội dung ấy phải là những thể nghiệm mới về cách viết Bên cạnh những thể nghiệm đầy sáng tạo, mang tính thẩm mĩ, có giá trị nghệ thuật cao còn có những sáng tạo phi thẩm mĩ, mang tính cực đoan, gây ra nhiều tranh cãi Nhưng những thay đổi về hình thức ấy đã chứng tỏ rằng văn học hiện nay đang đứng trước nhu cầu đổi mới rất quyết liệt mong tạo nên những giá trị đích thực của thời đại mới Văn xuôi thời kì đổi mới
đã đem lại nhiều tìm tòi, biến đổi trong nghệ thuật trần thuật Nếu trong mỗi sáng tác của văn xuôi truyền thống thường chỉ xuất hiện một điểm nhìn thì giờ đây nó được chuyển dịch vào nhiều nhân vật, nhiều người kể chuyện với nhiều điểm nhìn khác nhau để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của mình và
để cho các ý thức cùng có quyền phát ngôn, cùng đối thoại
Trang 24Văn xuôi đương đại không còn quá đề cao vai trò của cốt truyện như trong truyền thống mà có xu hướng nới lỏng cốt truyện Vai trò của cốt truyện
bị hạn chế một cách tối đa, thậm chí không có cốt truyện hoặc có nhưng bị đảo lộn một cách không có trật tự hoặc là sự sắp xếp những mảng không hề quen biết bên cạnh nhau Về nghệ thuật xây dựng nhân vật, văn xuôi có nhiều nét mới, tiểu biểu là: nhân vật được xây dựng như một đề án mở và nhân vật mang tính chất biểu trưng
Truyện ngắn vốn là một thể loại nổi trội trong văn xuôi hiện đại Việt Nam Từ thời kì đổi mới, truyện ngắn cũng được đa dạng hóa về kiểu loại Truyện ngắn thế sự nhằm thể hiện một mảnh nhỏ của dòng đời chảy trôi miên viễn, truyện ngắn triết luận rất gần với ngụ ngôn, truyện ngắn như là tiểu thuyết rút gọn lại, truyện ngắn gần với bút ký ghi lại những cảm xúc của một
cá nhân… Đó là những loại truyện phổ biến hiện nay Loại truyện ngắn
“mini” được rộ lên ở một thời điểm, như là sự chống lại lối viết truyện ngắn quá dài trong truyền thống
Sự đổi mới của văn học không chỉ do sự thay đổi của hiện thực cuộc sống, thị hiếu thẫm mĩ của công chúng văn học… mà còn xuất phát từ quy luật nội tại của văn học Sáng tạo là quy luật bất biến của văn học Văn học luôn phải đổi mới, tự làm mới mình Các nhà văn không thể bằng lòng với cách viết cũ, cách nghĩ cũ mà phải luôn tìm tòi và khám phá Văn học đã trải qua một chặng đường dài với không biết bao nhiêu sáng tạo, tìm tòi của người nghệ sỹ, tạo nên những huyền thoại, những cây cổ thụ trùm bóng lên một thời đại, những thành công đóng đinh vào lịch sử Trên một nền hiện thực, trong một hạn định của ngôn từ dường như người đi trước đã khai thác đến kiệt cùng Đây là thời văn chương (của sự) cạn kiệt (chữ dùng của John Barth) Phải chăng càng về sau, người nghệ sỹ càng bị/ được quy luật sáng tạo của
Trang 25văn chương câu thúc, dồn đẩy? Những rào cản phải vượt qua là động lực lớn thôi thúc người nghệ sỹ sáng tạo nên những giá trị mới
Một thành tựu nổi bật nữa của các thể loại văn xuôi nói chung và thể loại truyện ngắn nói riêng là sự thay đổi quan niệm về đối tượng phản ánh của văn học, tức là sự thay đổi quan niệm về hiện thực, con người của các nhà văn Hiện thực được phản ánh không còn giản đơn, xuôi chiều, không còn bó hẹp trong một phạm vi nhất định nào như trước đây Mặt tiêu cực, mặt trái của hiện thực, cái xấu, cái ác được mổ xẻ, phanh phui đến tận cùng Hiện thực nhiều khi xuất hiện trong tác phẩm là cái chưa biết, không thể biết hết, hiện thực phức tạp cần khám phá, tìm tòi Con người cũng được nhìn nhận với tất
cả những phức tạp, những góc khuất, những bí ẩn, những tầng sâu không thể khám phá hết, cùng những khát vọng, nhu cầu mang tính nhân bản Không còn con người hoàn hảo, hoàn toàn “sạch sẽ”, mà chỉ còn những nhân vật khuyết thiếu, “không trùng khít với chính mình”, mang trên mình những bụi bặm của đời Các sáng tác của các nhà văn: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Châu Diên, Thuận, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư… thể hiện một cách rõ nét những đổi mới đó
Sự thành công của truyện ngắn thời đổi mới, hình như cho thấy những kinh nghiệm lựa chọn thể loại đã lặp lại một lần nữa, trong cách truyện ngắn chiếm giữ vị trí thống soái trên văn đàn, như đã từng có ở cuộc tiếp xúc với thế giới bên ngoài mấy chục năm đầu thế kỷ XX Người ta hay cắt nghĩa hiện tượng này dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, ở phẩm tính ưa những cái đẹp nhỏ nhắn, hài hòa, tinh tế và/hoặc dựa vào tâm lý sáng tạo của nhà văn Việt Nam, cũng ở tài năng tỉa tót, đẽo gọt những cái đẹp nhỏ nhắn, hài hòa, tinh tế Nhưng có một thực tế vượt lên trên những diễn giải mang nặng tính chất ý hệ như vậy: kết quả của nỗ lực làm mới ý thức và ngôn ngữ văn
Trang 26chương Dấn thân xã hội hay thuần túy nghệ thuật hình như không đơn thuần xuất phát từ các trạng huống của quá trình đổi mới Chính sự tham dự của nhà văn vào đời sống hiển hiện như một lựa chọn tất yếu ngẫu nhiên đã mở rộng biên độ nghệ thuật cho nhà văn trong việc đồng nhất hoạt động văn chương và hoạt động xã hội Đó là một đặc điểm rất độc đáo của văn học từ Đổi mới Và truyện ngắn đã làm tốt được điều này một phần cũng nhờ chính vào tính chất ngắn gọn và chụp bắt thời điểm của nó Một cách có ý thức và trách nhiệm
1.2 Tác giả Nguyễn Dậu và hành trình sáng tác
1.2.1 Tác giả Nguyễn Dậu
Nhà văn Nguyễn Dậu tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Song, gọi theo họ
mẹ là Trương Mẫn Song Ông quê gốc ở huyện Hoài Đức, Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội Nguyễn Dậu sinh ngày 25 - 10 - 1930 tại xóm Cống Xuất, khu
Xi măng Hải Phòng
Là một nhà văn nhưng ông còn là một người lính, và cuộc đời binh nghiệp của ông bắt đầu khi ông mới 15 tuổi Ông học xong lớp Nhất trường Giăng Duypuy (Jean Dupuis) cũng là lúc cách mạng tháng 8 nổ ra, Nguyễn Ngọc Song tham gia công tác tuyên truyền địch vận ở Hải Phòng Tháng 11, năm 1946, ông gia nhập quân đội, học trường Thiếu sinh quân rồi phục vụ ở
bộ binh, pháo binh, quân y Sau cách mạng Trung Quốc thành công năm
1950, ông được quân đội cử sang Trung Quốc học khóa đào tạo sĩ quan Hoà bình lập lại, ông chuyển ngành làm việc ở phòng Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục chính trị, rồi lần lượt công tác ở xưởng phim, biên tập viên Nhà xuất bản phổ thông, tòa soạn báo Văn nghệ và công tác tại Sở văn hoá Hà Nội Giai đoạn này, ông là một trong số rất ít nhà văn trẻ thời ấy dám từ bỏ cuộc sống phố phường Hà Nội, “tha lôi” cả vợ con theo mình về tận vùng than Cẩm Phả để lao động và viết văn Những người thợ mỏ thấy Nguyễn Dậu là người lanh lợi liền bầu ông làm tổ trưởng tổ cuốc than trong hầm lò Thống Nhất Ngoài thời
Trang 27gian đi lò, về đến nhà Nguyễn Dậu lại ngồi vào bàn cặm cụi ghi lại những cảm xúc, góp nhặt những chi tiết đời sống để thai nghén nên tác phẩm
Hai năm lăn lộn ở vùng than, Nguyễn Dậu trở thành một thợ lò thực thụ Rồi một tai nạn lao động đã khiến ông buộc phải bỏ nghề Nhưng nhờ có thời gian làm thợ cuốc than này, Nguyễn Dậu đã có tư liệu và cảm hứng để viết
nên bộ tiểu thuyết Mở hầm Dù thiên tiểu thuyết ấy có lúc đã gặp phận chìm
nổi lênh đênh, nhưng đến nay, những người am tường văn học Việt mỗi khi nhớ lại thời kỳ đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vẫn
không quên nhắc đến những tác phẩm như Mở hầm của Nguyễn Dậu, Phá vây
của Phù Thăng, và coi đó như là một ghi nhận về những cuốn sách của một thời đã qua
Không còn đủ sức khỏe đi lò cuốc than nữa, Nguyễn Dậu trở về Hà Nội tiếp tục tìm cho mình một cuộc phiêu du mới Ông vẫn quyết đeo đuổi đồng hành cùng nghiệp văn chương mơ ước của mình Lần này Nguyễn Dậu lên
mỏ thiếc Tĩnh Túc, về Hải Phòng, rồi vào Khu 4, đến công trường, xưởng máy, trận địa thâm nhập thực tế, tìm hiểu lấy tài liệu sáng tác
Trong giai đoạn giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, Nguyễn Dậu có mặt ở hầu khắp các vùng đất máy bay Mỹ bắn phá ác liệt nhất như là một phóng viên chiến tranh Ông đã đến các trọng điểm vùng Thanh - Nghệ Tĩnh như cầu Bùng, cầu Giát, phà Ghép… Trong suốt những tháng ngày ngút trời bom đạn, sục sôi khí thế chiến đấu ấy, Nguyễn Dậu bất chấp hiểm nguy, quên hết mọi nỗi riêng tư sống chết, dành toàn bộ tâm lực cho khát vọng lớn của mình là đi, sống và viết
Trước cũng như trong thời gian này, Nguyễn Dậu lại tiếp tục công bố
dồn dập các tập truyện ngắn mới Huệ ngọc, Trở lại đảo (Nhà xuất bản Phổ thông), Người ngoại ô (Nhà xuất bản Văn học), cùng với hàng trăm bài báo
phản ánh không khí chiến đấu nóng hổi ngoài tuyến lửa nơi mình đang bám
Trang 28trụ Sau năm 1975, để sinh nhai, Nguyễn Dậu đi vào miền Nam, sang tới đất Campuchia, đến đầu những năm 80 mới quay về Hà Nội và trở lại văn đàn với hàng loạt truyện ngắn, trong đó nhiều truyện đã gây được tiếng vang khá lớn, ghi một dấu ấn mới trong lòng bạn đọc
Quãng thời gian sống ẩn dật ở Hà Nội, Nguyễn Dậu nổi tiếng trong giới
tứ chiếng Hà Thành Có nhiều câu chuyện truyền miệng xung quanh cuộc đời ông phó cạo – nhà văn Nguyễn Dậu Tuy cuộc sống cực khổ, gặp nhiều hắt hủi nhưng Nguyễn Dậu vẫn giữ được cách sống phong lưu nghệ sĩ, có trách nhiệm và say mê với đời Ban ngày, dẫu vất vả kiếm từng đồng bạc để mưu sinh, thì ban đêm, nhà văn vẫn say mê với từng con chữ Nghiệp cầm bút, tưởng đã lãng quên ông, nay lại trở lại, dồi dào sinh lực, nảy nở những ý tưởng mới, cách viết mới Những tác phẩm ông để lại trong giai đoạn này, cũng như những câu chuyện văn chương bên lề đã cho thấy tinh thần sống tích cực đó của nhà văn Nguyễn Dậu rất có trách nhiệm bảo vệ những di sản văn hóa Hà Nội, nhất là vấn đề bảo tồn rùa Hồ Gươm, ông từng viết bút kí
Rùa Hồ Gươm như một cách lên tiếng đầy trách nhiệm bằng văn chương Đây
cũng là thời gian thai nghén nhiều tập truyện ngắn, đánh dấu một thời kì mới trong văn nghiệp của ông, đưa Nguyễn Dậu vào hàng tên tuổi những nhà văn đương đại với cái nhìn mới, cách thể hiện mới về cuộc sống
Được hưởng thụ nền giáo dục Tây học từ nhỏ, lớn lên trải qua nhiều trường lớp nhà binh, học tập ở nước ngoài, Nguyễn Dậu có một nền tảng văn hóa vững vàng, bài bản, có cơ hội tiếp thu những nền văn hóa hiện đại từ sớm Điều này cũng đã góp phần tạo nên phong cách hiện đại trong văn chương của ông Nguyễn Dậu cũng sớm có mặt từ những ngày đầu cách mạng Tháng Tám nổ ra, trưởng thành theo từng giai đoạn lịch sử của đất nước và cảm nhận được không khí của từng thời kì Từ đấu tranh chống ngoại xâm đến công cuộc xây dựng kinh tế đất nước, nhà văn mang trong mình ăm ắp
Trang 29chất liệu để viết nên những trang văn mang đầy hơi thở lịch sử, thời cuộc Sự nghiệp văn chương của ông trải dài suốt chặng dài cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ, bước sang cả địa hạt văn học sau Đổi mới, và trở thành một cái tên không thể không nhắc đến trong đội ngũ những nhà văn đương đại Việt Nam
Sự kiện tiểu thuyết Mở hầm bị phê phán là cú sốc lớn trong cuộc đời
Nguyễn Dậu Nhà văn tưởng đã vĩnh viễn bỏ nghiệp văn chương, nhưng hai mươi tám năm sau, ông lại viết, viết một cách hăm hở, háo hức, và vẫn vẹn nguyên say mê Những người bạn văn đương thời của ông vẫn kể về ông với biết bao trân trọng và yêu mến, xen lẫn cả cảm thương chính bởi tình yêu vừa mãnh liệt, vừa ngây thơ của ông dành cho văn chương, cái ngây thơ đáng quý bởi nó giúp ông bảo toàn được tài năng và đam mê của mình
Tìm hiểu về nhà văn Nguyễn Dậu, có thể thấy cuộc đời ông đã trải qua nhiều thăng trầm, vui ít nhưng buồn nhiều Tuy thế, ông luôn giữ cho mình được một trái tim nồng đượm yêu thương, luôn náo nức trước thời cuộc và sẵn sàng xả thân cho lí tưởng Tuy đã có lúc gặp phải những tai ương cay đắng, nhưng ông vẫn hết lòng tin yêu và bền bỉ sáng tác Tinh thần đó đã được chuyển hóa vào trong thành tựu văn nghiệp của ông với hành trình gần năm mươi năm cầm bút
1.2.2 Hành trình sáng tác
Nhà văn Nguyễn Dậu gia nhập làng văn từ lúc 25 tuổi (1955), bắt đầu
từ tiểu thuyết Nữ du kích Cam Lộ và đặc biệt đã trở thành một hiện tượng đương thời làm sửng sốt nhiều người với tiểu thuyết Mở hầm (1961) Và
chỉ trong một thời gian rất ngắn ông đã có hàng loạt tập truyện ngắn và tiểu thuyết trình làng
Cuộc đời văn chương của Nguyễn Dậu nhìn tổng quát có thể chia làm hai chặng đường Chặng đường thứ nhất gồm những tác phẩm xuất hiện từ
năm 1955 đến năm 1962, khép lại với sự kiện tiểu thuyết Mở hầm Văn ông
Trang 30ở giai đoạn này ngồn ngộn sức sống của sự tươi nguyên, đó cũng chính là kết quả từ những tháng ngày lăn lộn với thực tế lao động ở các nhà máy, hầm mỏ để thu nhận tư liệu từ cuộc sống của những người thợ Các tác
phẩm tiêu biểu giai đoạn này là các tiểu thuyết Đôi bờ (Nxb Thanh niên, 1958), Mở hầm (Nxb Thanh niên, 1961), Vòm trời Tĩnh Túc (Nxb Lao Động, 1963), các tập truyện ngắn Ánh đèn trong lò (Nxb Văn học, 1961),
Huệ Ngọc (Nxb Văn học, 1962)…
Chặng thứ hai là những sáng tác sau Đổi mới Bẵng đi hai mươi tám
năm sau sự kiện Mở hầm bị phê phán, Nguyễn Dậu lại cầm bút với nguyên
vẹn tình yêu dành cho văn chương và thể hiện một bút lực mới, và như ông nói, “để viết bù cho mấy chục năm không viết” Mở đầu với truyện ngắn
Ngựa phi trong bão tuyết in trên Tuần báo Người Hà Nội, hơn hai mươi
truyện ngắn của Nguyễn Dậu ào ạt xuất hiện trên các báo: Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, Người Hà Nội, Lao động, Tác phẩm mới Trong đó, có
nhiều truyện vào loại xuất sắc, như Con thú bị ruồng bỏ, Mật rắn, Rùa hồ
Gươm, Chó sói gửi chân…
Vào tuổi sáu mươi, bút lực Nguyễn Dậu dồi dào lạ thường Từ văn phong, lối mô tả, cách khai thác đề tài đến ý tưởng tác phẩm, người đọc có thể
thấy một Nguyễn Dậu tài hoa và sâu sắc hơn người Trong Ngựa phi trong
bão tuyết nhân vật Nguyễn Tầm Tư có số phận đầy thua thiệt, nhưng vẫn sống
được, vẫn giữ được tâm hồn và khí phách của mình trước cuộc sống Nguyễn Tầm Tư, sau này, còn xuất hiện nhiều lần trong các tác phẩm khác của Nguyễn Dậu Một lần, ông thổ lộ rằng, Tầm Tư, tiếng Việt nói lái thành Từ Tâm (có nghĩa là lòng thành) Và Tầm Tư, trong tiếng Hán, hàm nghĩa tìm tòi, suy nghĩ, lại hàm nghĩa sự rút ruột nhả tơ của con tằm (ti tư cũng là tơ, tằm tơ) Như thế, Nguyễn Tầm Tư là nhân vật nhà văn ký thác tâm nguyện và chí hướng của ông Chỉ hơn hai mươi truyện ngắn xuất hiện trong một thời
Trang 31gian ngắn, Nguyễn Dậu trở thành nhà văn được nhiều bạn đọc yêu quý, cả bạn đọc từng biết văn chương của ông ba mươi năm trước, cả bạn đọc sinh sau những năm sáu mươi Ông viết về những con chó săn của một ông tướng,
mà thật nhiều niềm vui và đau đớn Ông viết về những con rùa ở Hồ Gươm,
mà thật nhiều lo âu, phấp phỏng, buồn thương Ông viết về mật rắn, về ngựa nòi, về câu cá bằng một hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên cũng như những suy ngẫm thẳm sâu về cõi người Ông trình bày những chuyện về con người với tất cả sự chiêm nghiệm của ông suốt mấy chục năm trường phiêu bạt Người đọc được tiếp nhận từ những truyện ngắn Nguyễn Dậu nhiều bài học về cuộc sống lăn lóc đầy khổ đau Qua văn ông, người đọc thấy yêu thêm đồng loại, thấy tin ở những ngày sắp tới Ngay sau khi xuất hiện ào ạt trên báo, hơn hai mươi truyện ngắn của Nguyễn Dậu được xuất bản thành sách Và sách của
ông cũng liên tiếp ra đời: Tiểu thuyết Nàng Kiều Như (Nxb Lao Động 1993), các tập truyện ngắn Con thú bị ruồng bỏ (Nxb Hội nhà văn, 1994), Rùa Hồ
Gươm (Nxb Hà Nội, 1994), Đôi hoa tai lóng lánh (Nxb Văn học, 1995), Hương khói lòng ai (Nxb Văn học, 1995), Phật tại tâm (Nxb Văn học, 1997), Bảng lảng hoàng hôn (Nxb Văn học, 1997)…Văn phong giai đoạn này của
ông giản dị, trầm tĩnh, tìm đến sự sâu lắng trong xúc cảm, không ào ạt, sắc bén như văn chương thời kỳ trước đây Cho đến những ngày cuối cùng của
cuộc đời, ông vẫn không ngừng cầm bút sáng tác Chấm dứt kiếp hoang chính
là truyện ngắn cuối cùng của ông được in trên mặt báo chỉ ít ngày sau khi ông qua đời vào ngày 24 tháng 07 năm 2002 tại Hải Phòng
Vốn thông thạo Pháp văn, Trung văn lại có năng khiếu văn nghệ nên trong thời gian phục vụ trong quân đội, Nguyễn Dậu đã sáng tác thơ ca, tấu hài, kịch, chèo Ngoài ra ông còn có một số ấn phẩm dịch thuật khác, là một
dịch giả với nhiều tác phẩm khá nổi tiếng như: Bí thư xã, Người da đen nước
Mỹ, Ngôi sao đỏ Đổng Tôn Thuỵ đăng in trên một số tạp chí nước ngoài
Trang 32Nguyễn Dậu là một nhà văn cần cù miệt mài làm việc với một ý thức đầy tinh thần trách nhiệm về người cầm bút Trong bài viết "Đội ngũ nhà văn Việt Nam viết truyện ngắn đương đại" của nhà nghiên cứu Lê Dục Tú in trên Văn nghệ Quân đội ra ngày 8/11/2012, nhà văn Nguyễn Dậu được nhắc đến trong đội ngũ những nhà văn gạo cội đã "lột xác", đổi mới ngòi bút để bắt kịp với những biến chuyển của thời cuộc, bên cạnh các gương mặt quen thuộc khác như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Vũ Bão, Nguyễn Kiên, Mai Ngữ, Đỗ Chu, Dương Duy Ngữ, Phạm Hoa, Xuân Thiều
Đánh giá về ông, đã có một số bài viết, những nhận định sâu sắc Theo tác giả Nguyễn Đình Thi: “Nguyễn Dậu là một cây bút sắc sảo và bạo dạn” Ngô Vĩnh Bình lại có nhận xét so sánh ví von: “Nếu có thể ví văn đàn với bóng đá thì nhà văn Nguyễn Dậu là cầu thủ hiệp một đá khá xuất sắc, hiệp hai
bị treo giò, vào đá hai hiệp phụ lại ghi được những bàn thắng đẹp mắt làm
mọi người hân hoan và sửng sốt Trong bài viết Di chúc của người “Mở
hầm”, tác giả Bảo Vũ với một sự ái mộ và nể phục người đàn anh trong văn
chương này đã nhận định: “Nói đến sự nể phục đối với một nhà văn là không cần thiết Anh ta đi qua cõi đời này với sứ mệnh của một nhà truyền giáo Đó
là công việc khuyến thiện và tôn vinh Con Người Trong giáo phái có thể anh
ta chỉ ở đẳng cấp thấp; nhưng những gì người thầy tu khổ hạnh ấy để lại cho đời, dù chỉ là một dấu vết mờ nhạt thôi, cũng đủ để người ta cúi mình trước nấm mồ của anh”
Tác giả Anh Chi trong bài viết Nhà văn Nguyễn Dậu, trình bày một cách
khá toàn diện về cuộc đời cũng như sự nghiệp văn chương của Nguyễn Dậu
và đã đưa ra được một số nhận xét khái quát về từng mảng sáng tác của nhà văn này Với mảng tác phẩm thứ nhất: “Nguyễn Dậu lăn xả vào thực tế lao động ở các nhà máy hầm mỏ; và với sức trẻ, ông viết say mê, gấp gáp Văn ông giai đoạn đó ngồn ngộn sức sống Sự tươi nguyên, nên có thể bị coi là tự
Trang 33nhiên chủ nghĩa” Với mảng tác phẩm thứ hai: “Văn ông giai đoạn này vững vàng về bố cục, mạnh bạo trong suy tư, sắc sảo trong mô tả, và đặc biệt sâu lắng trong xúc cảm”
Có thể thấy, cả trên văn đàn và trong đời sống thường ngày, nhà văn Nguyễn Dậu đã thể hiện mình là một tài năng, một nhân cách lớn, được bạn
bè đồng nghiệp và bạn đọc nhiều thế hệ yêu mến Trong tiến trình truyện ngắn đương đại Việt Nam, nhà văn Nguyễn Dậu cùng với các tên tuổi lớn khác đã làm nên một giai đoạn rực rỡ trong văn học nước nhà Tìm hiểu về sự nghiệp văn chương của ông, mà cụ thể là ở lĩnh vực sáng tác truyện ngắn, sẽ đưa lại cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về nhà văn Nguyễn Dậu, một nhà văn xứng đáng nhận được sự ưu ái và mến mộ của bạn đọc qua nhiều thời kì
Trang 34TIỂU KẾT
Văn học Việt Nam đã và đang trải qua một giai đoạn vô cùng sôi động
và đạt được nhiều thành tựu từ sau khi chiến tranh kết thúc Những đổi thay của cuộc sống hòa bình mang lại đã tạo nên một bối cảnh thuận lợi cho văn học nghệ thuật được cởi trói và bung cánh Trên bệ phóng thuận lợi về lịch sử,
xã hội và văn hóa, văn học Việt Nam đương đại đã ghi dấu ấn với nhiều những tên tuổi nhà văn có sức sáng tạo dồi dào, có ý thức làm mới văn chương để bắt kịp với đời sống mới, con người mới Trong đó, truyện ngắn Việt Nam đương đại đã cho thấy ưu thế của mình và thành tựu nổi bật hơn cả
Là một nhà văn khởi bút từ trong chiến tranh, bước sang thời kì Đổi mới, Nguyễn Dậu trở lại với một bút lực mới mẻ, dồi dào, say sưa với nghiệp viết Cuộc đời và văn nghiệp nhiều sóng gió, truân chuyên của Nguyễn Dậu không làm ông thui chột niềm yêu nghề, yêu đời mà trái lại, như một chất xúc tác ngược, làm ông thêm say sưa, viết là để trả nợ những năm tháng trầm luân của cuộc đời mình Bên cạnh đó, Nguyễn Dậu còn cũng cho thấy một quan niệm về nghệ thuật vô cùng sâu sắc Với ông, nghề viết không chỉ để phụng
sự nghệ thuật và đam mê cá nhân mà còn là phương tiện để thanh lọc cuộc sống, khơi dậy thiện lương ở con người Thế giới nghệ thuật đặc sắc trong văn chương ông được thể hiện trên nhiều phương diện, sẽ được làm rõ ở những chương sau
Trang 35CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN DẬU
2.1 Giới thuyết về nhân vật văn học
Nhà văn Tô Hoài cho rằng: “nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” [26, tr 127] Theo đó, nhân vật không chỉ là nơi bộc lộ tư tưởng, chủ đề tác phẩm mà còn là nơi tập trung các giá trị nghệ thuật của tác phẩm Như vậy nói đến nhân vật văn học là nói đến những con người cụ thể bằng xương bằng thịt được nhà văn xây dựng trong tác phẩm thông qua các phương tiện văn học Theo từ điển thuật ngữ văn học: “nhân vật văn học là những con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân
vật văn học có thể có tên riêng Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha, cũng có thể không
có tên riêng như thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện Kiều… Khái niệm nhân
vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Chẳng hạn có thể
nói: nhân dân là nhân vật chính trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, đồng tiền là nhân vật chính trong Ơ-gê-ni Gơ-răng-đê của Banzac” [48, tr 135]
Những sự vật, những đồ vật này trở thành nhân vật khi được "người hóa", nghĩa là cũng mang tâm hồn tính cách như con người Cho nên không phải ngẫu nhiên mà nhà văn Tô Hoài đã cho "chiếc quan tài" trong truyện ngắn cùng tên
của Nguyễn Công Hoan là nhân vật Ông viết: "Trong truyện ngắn Chiếc quan
tài của Nguyễn Công Hoan nhân vật không phải là người mà là một chiếc quan
tài Nhưng chiếc quan tài ấy chẳng phải là vô tri mà là một sự thê thảm, một bản
án tố cáo chế độ thảm khốc thời Pháp thuộc Như vậy "chiếc quan tài" cũng là một thứ nhân vật" [26, tr 1262] Tuy nhiên, “nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” [48, tr 38]
Trang 36Biểu hiện nhân vật trong tác phẩm rất đa dạng Có nhân vật hiện ra khá đầy đặn từ ngoại hình cho đến nội tâm, từ hành động cho đến tiểu sử như trong tác phẩm tự sự Có nhân vật lại chỉ hiện ra qua ngôn ngữ như trong kịch bản văn học Có nhân vật lại chỉ được bộc lộ qua cảm xúc, ý nghĩa như nhân vật trong tác phẩm trữ tình Lại có nhân vật không được miêu tả chân dung, ngoại hình, hành động nhưng người đọc vẫn nhận ra qua "giọng văn" như nhân vật người kể chuyện Có nhân vật hiện ra như con người bình thường ở ngoài đời Lại có nhân vật hiện ra với hình ảnh "ba đầu sáu tay", "mặt xanh nanh vàng" như quỉ sứ, hay lăn tròn long lóc như "sọ dừa" Có nhân vật chỉ đơn giản là những con vật, những đồ vật được nhân hóa Có thể nói nhân vật hiện ra muôn màu, muôn vẻ Nhận diện nhân vật văn học là một việc làm quan trọng được đặt ra Muốn nhận diện nhân vật cần phải căn cứ vào những đặc điểm gắn liền với nhân vật Trước hết có thể dựa vào tên gọi của nhân vật Thông thường mỗi nhân vật đều có tên gọi riêng, có thể đó là một cái tên riêng cụ thể như Thạch Sanh, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Thúy Kiều, Kim Trọng, Chí Phèo, Huấn Cao, v.v Ngoài ra cũng có khi chúng ta dựa vào tên gọi theo dấu hiệu nghề nghiệp, đặc điểm giới tính, tiểu sử, hay một đặc điểm đặc biệt nào đó của nhân vật như bác nông dân, lão địa chủ, chàng mồ côi, thằng ngốc, chú lùn, chàng thợ săn, bà hoàng hậu, nàng công chúa, chàng hoàng tử Và cũng có khi tên nhân vật trong tác phẩm là tên gọi những con vật, đồ vật đã được nhân hóa như mèo con, cáo, thỏ, rùa, cái bàn, bông hoa, cành cây , hoặc là tên gọi những nhân vật tưởng tượng: mụ phù thủy, con quỉ ba đầu sáu tay, Ngọc Hoàng, Diêm Vương, Thần, Tiên, Bụt
Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào riêng tên gọi thì có khi chưa nhận diện đúng nhân vật, chẳng hạn với loại nhân vật là những con vật, đồ vật được nhân hóa Do đó, với loại nhân vật này, cần phải xem đã được "người hóa" chưa, nghĩa là những nhân vật này đã được tác giả gắn cho những đặc điểm
Trang 37mang tính chất người như biết nói, biết suy nghĩ, biết buồn vui? Cho nên sau tên gọi thường là những đặc điểm về tiểu sử, tính cách của nhân vật Nhưng, ngay từ tên gọi thì nhiều đặc điểm của các nhân vật đã được bộc lộ như anh trai cày, chàng ngốc, mụ phù thủy Các đặc điểm nghề nghiệp tiểu sử, tính cách đã cho độc giả nhận biết nhân vật một cách sâu sắc hơn ý nghĩa xã hội
mà nhân vật khái quát
Nhân vật văn học cũng có những đặc điểm khác với nhân vật của các loại hình nghệ thuật khác Trước hết do hình tượng văn học là hình tượng "phi vật thể" cho nên nhân vật văn học là nhân vật của tưởng tượng, liên tưởng chứ không phải "hữu hình", "nhìn thấy được" như trong điêu khắc, hội họa hay điện ảnh, sân khấu Qua ngôn từ, người đọc tưởng tượng và hình dung nhân vật theo khả năng liên tưởng của mình Qua văn Nam Cao người đọc hình dung ra Lão Hạc, Lang Rận, Trương Rự, Thứ, Điền, Hộ Qua văn Nguyễn Tuân người đọc tưởng tượng vẻ đẹp đầy khí phách của Huấn Cao, vẻ đẹp cường tráng của người lái đò sông Đà Khả năng và đặc điểm liên tưởng của mỗi người không giống nhau cho nên nhân vật văn học được cảm nhận cũng
không hoàn toàn giống nhau Mỗi người sẽ có "gương mặt" nhân vật riêng
của mình Mặt khác, do hình tượng văn học là hình tượng "thời gian" cho nên nhân vật văn học là nhân vật quá trình Nhân vật văn học hiện dần ra trong quá trình Muốn tiếp nhận được người đọc phải "hồi cố", nhớ lại những gì xảy
ra cho nhân vật trước đó Nói gọn lại, nhân vật trong tác phẩm văn học là những con người hay những sự vật mang cốt cách của con người được xây bằng các phương tiện của nghệ thuật ngôn từ
Ý nghĩa của nhân vật thể hiện ở khả năng biểu đạt của nó trong tác phẩm Sáng tạo ra nhân vật, nhà văn nhằm thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và các quan niệm về các nhân vật đó trong các quan hệ xã hội Mỗi nhân vật xuất hiện sẽ là một "tiếng nói" của nhà văn về con người, về cuộc đời Đọc một nhân
Trang 38vật do vậy ta không chỉ hiểu một số phận, một cuộc đời mà còn hiểu ý nghĩa cuộc đời đằng sau mỗi số phận đó Đằng sau số phận nàng Kiều là những khái quát về "tài - mệnh", "tài - tình" trong xã hội lúc bấy giờ Đằng sau "số đỏ" của Xuân Tóc Đỏ không chỉ là sự "may mắn" của một anh nhặt ban quần mà còn là suy xét về sự "lên ngôi" của cái giả, những chuyện tưởng như "biết rồi" mà vẫn phải "khổ lắm, nói mãi" Cho nên không thể đánh giá, phán xét nhân vật như những con người thật ngoài đời, mà phải đánh giá ở những khái quát nghệ thuật
mà nó thể hiện qua tác phẩm Có như vậy mới xem xét nhân vật như là một hiện tượng thẩm mĩ chứ không phải như một hiện tượng xã hội học
Sức sống của một nhân vật ngoài tính sinh động của sự miêu tả còn chính là ý nghĩa điển hình mà nó khái quát Những nhân vật xây dựng thành công và có sức sống lâu bền đều là những nhân vật có giá trị điển hình sâu sắc Đó là những nhân vật không chịu nằm yên trên trang sách mà đã bước từ trang sách ra giữa cuộc đời Đó là những nhân vật đã làm cho tên tuổi các nhà văn trở thành bất tử
2.1.1 Đặc điểm nhân vật trong văn học giai đoạn trước 1986
Marxim Gorki đã từng nói “văn học là nhân học”, tức là khoa học về con người Bởi vậy, con người và quan niệm về con người là trung tâm của văn học Con người trong văn học không phải con người tự nhiên trần trụi, cũng không phải con người xã hội chung chung mà là con người cụ thể đã được mã hóa qua cái nhìn chủ quan của người nghệ sĩ, là biểu hiện cụ thể, sinh động quan niệm nghệ thuật và thế giới quan của nhà văn vào con người
Nhân vật là hình thức cơ bản để miêu tả con người, để thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Quan niệm nghệ thuật về con người là sự cắt nghĩa, lý giải, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó
Trang 39Một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời với con người mới, với cách hiểu mới về con người, hoặc bắt đầu bằng việc suy nghĩ lại các khám phá nghệ thuật của những người đi trước Văn học Đổi mới cũng bắt đầu từ việc thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, đó là điều kiện nảy sinh những kiểu nhân vật mới mà trước kia chưa có
Văn học giai đoạn trước năm 1986 với quan niệm về con người anh hùng nên gắn liền với nó là kiểu nhân vật duy nhất – nhân vật sử thi Nhìn nhận một quá trình văn học của nước ta trong khoảng năm mươi năm gần đây, có thể thấy được sự thay đổi trong việc tạo dựng hình tượng nhân vật Trong giai đoạn trước thời kì đổi mới, tức là trước năm 1986, nhân vật văn học còn chịu ảnh hưởng của kiểu xây dựng nhân vật truyền thống Nhân vật trong truyện ngắn chủ yếu là kiểu nhân vật loại hình, con người được nhìn nhận ở góc độ con người cộng đồng, con người công dân với những nét tính cách đơn giản, xuôi chiều Hình tượng trung tâm của văn học giai đoạn này là người chiến sĩ, nông dân, công nhân… trên các mặt trận chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Mặc dù số lượng các tác phẩm văn xuôi thời kì này rất phong phú nhưng nhìn chung nhân vật ít có khuôn mặt chung Các tác phẩm văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi nên nhân vật luôn hiện lên với tư thế “con người sống với cộng đồng, xả thân vì nghĩa lớn, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong sự gắn bó với cộng đồng… Con người quen sống trong quần thể ít có dip đối diện với bản thân, sống với chính mình” [ 42, tr 36]
Sự đổi mới ở quan niệm nghệ thuật về con người thì vấn đề nhân vật của
văn xuôi “Hậu chiến”, những tác phẩm viết về chiến tranh sau chiến tranh sau
1975 trở thành vấn đề trung tâm của người sáng tác cũng như giới nghiên cứu, phê bình Cảm hứng chính của văn xuôi “hậu chiến” là suy ngẫm về chiến tranh trong hoàn cảnh mới, của những con người vừa bước ra khỏi chiến tranh, người còn khét mùi bom đạn, suy nghĩ, hành động còn đậm “chất
Trang 40lính” Từ trước cao trào Đổi mới, trong bài tiểu luận Viết về chiến
tranh (1978), Nguyễn Minh Châu đã đặt ra câu hỏi cho hướng đi của tiểu
thuyết nói riêng,văn xuôi nói chung về đề tài chiến tranh sau chiến tranh Sự lựa chọn duy nhất là “phải viết về con người” với “tất cả những mặt tính cách
đa dạng, phải phơi bày trong đời sống thực” mà đã nhiều thập kỉ qua “tạm thời giấu mình trên trang sách” Tiểu thuyết chiến tranh không thể để các nhân vật bị sự kiện lấn át, “chỉ đóng vai trò làm đường dây để xâu các sự kiện lại với nhau” [8, tr 24] Với độ lùi thời gian năm, mười năm là đủ để nhà văn nhìn lại quá khứ với những suy nghĩ, chiêm nghiệm sâu sắc về số phận con người ở khía cạnh mà trước đây luôn bị “gác lại” trước số phận dân tộc: khía cạnh bi kịch cá nhân Cảm hứng bi kịch là cội nguồn cho sự xuất hiện của một loại nhân vật mang diện mạo tinh thần hoàn toàn mới trong văn xuôi về chiến tranh sau 1975 Sự xuất hiện của kiểu nhân vật mới trong văn xuôi chiến tranh
- con người suy tư, con người bi kịch - là dấu hiệu quan trọng khẳng định sự đổi mới tư duy nghệ thuật và xác lập lộ trình mới của văn học Việt Nam hiện đại Trong văn học trước 1986 nhân vật trung tâm đáng chú ý nhất là hình tượng người lính, họ đi ra từ chiến tranh nên có nhiều suy ngẫm về vấn đề số phận con người trước cuộc sống mới, những suy nghĩ về cái sự được và mất trong cuộc đời Người lính trong văn xuôi hậu chiến, họ không xuất hiện trong những sự kiện đạn bom ác liệt mà chủ yếu trong trạng thái suy tư, chiêm
nghiệm, “sống với thời gian hai chiều” Người lính trong tiểu thuyết hậu chiến
vừa là con người của thời hiện tại, của cuộc sống thường ngày vừa là con người của quá khứ trong nhu cầu nhận thức lại quá khứ ấy Cho nên, họ cô đơn, lạc lõng trong cuộc sống hiện tại, còn quá khứ tuy đã thành ký ức nhưng luôn là nỗi ám ảnh khôn nguôi, đeo đẳng suốt cuộc đời họ Hệ quả của nhận thức mới về lịch sử, về hiện thực và con người đã khiến văn xuôi hậu chiến
dần hướng vào việc khám phá người lính dưới góc độ cá nhân, đời tư Sự đổi