1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thái độ của học sinh trường thpt chợ đồn huyện chợ đồn tỉnh bắc kạn về vấn đề bạo lực học đường

183 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 7,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Thái độ của học sinh trường Trung học phổ thông Chợ Đồn, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn về vấn đề bạo lực học đường” nhằm tìm hiểu thái độ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, mọi kết quả đạt được trong đề tài nghiên cứu này hoàn toàn mới, không có sự sao chép các nghiên cứu khác Các kết quả nghiên cứu chưa từng được công bố hoặc sử dụng trong bất kỳ hình thức nào

Lời cam đoan này là đúng sự thực và tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Học viên

Nguyễn Thị Mây

Trang 4

Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Tâm lý học đã giúp em có được cơ sở lý thuyết vững vàng và tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô và cảm ơn các em học sinh trường THPT Chợ Đồn đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình điều tra

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do khả năng có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những lời góp ý của các thầy cô

để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2017

Học viên

Nguyễn Thị Mây

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3

6 Giả thuyết khoa học 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 5

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Những nghiên cứu về bạo lực học đường 5

1.1.2 Những nghiên cứu về thái độ 12

1.1.3 Những nghiên cứu về thái độ của học sinh với vấn đề bạo lực học đường 17

1.2 Một số vấn đề lý luận của đề tài 18

1.2.1 Lý Luận về thái độ 18

1.2.2 Lý luận về bạo lực học đường 23

1.2.3 Khái niệm thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với bạo lực học đường 31

1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của học sinh với vấn đề bạo lực học đường 35

1.3.1 Các yếu tố chủ quan 35

1.3.2 Yếu tố khách quan 37

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2: Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 41

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 41

2.2 Tổ chức nghiên cứu 42

2.2.1 Giai đoạn nghiên cứu xác định đề tài 42

Trang 6

2.2.2 Giai đoạn nghiên cứu xây dựng đề cương 42

2.2.3 Giai đoạn xây dựng cơ sở lý luận 42

2.2.4 Nghiên cứu thực tiễn 43

2.3 Các phương pháp nghiên cứu 44

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu 44

2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 45

2.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 49

2.3.4 Phương pháp quan sát 49

2.3.5 Phương pháp thống kê toán học bằng xử lý số liệu 50

Tiểu kết chương 2 52

Chương 3: Kết quả nghiên cứu 53

3.1 Thái độ của học sinh trường Trung học phổ thông chợ Đồn đối với vấn đề bạo lực học đường 53

3.1.1 Thái độ của học sinh với vấn đề bạo lực học đường thể hiện ở mặt nhận thức 53

3.1.2 Thái độ của học sinh đối với vấn đề bạo lực học đường thể hiện ở mặt cảm xúc 65

3.1.3 Thái độ của học sinh với vấn đề bạo lực học đường thể hiện ở mặt hành vi 70 3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của học sinh đối với vấn đề bạo lực học đường 81

3.2.1 Yếu tố cá nhân học sinh 83

3.2.2 Yếu tố khách quan 86

Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 102

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Đặc điểm mẫu khách thể 44

Bảng 3.1 Nhận thức về hành vi bạo lực học đường của học sinh 54

Bảng 3.2 Sự đồng tình với các hành vi BLHĐ của học sinh 56

Bảng 3.3: Cảm xúc của học sinh khi chứng kiến hành vi BLHĐ 65

Bảng 3.4: Mức độ thực hiện các hành vi BLHĐ của học sinh 73

Bảng 3.5 Sự khác biệt nam nữ đối với việc thực hiện hành vi bạo lực thể chất 74

Bảng 3.6: Sự khác biệt về hành vi bạo lực tình dục giữa nam và nữ 77

Bảng 3.7: Sự khác biệt của học sinh ở các khối trong việc phải chịu các hành vi bạo lực học đường 79

Bảng 3.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi BLHĐ 82

Bảng 3.9 Kỹ năng xử lý tình huống của học sinh 83

Bảng 3.10: Sự khác biệt nam nữ khi đánh giá sự ảnh hưởng do cha mẹ ly hôn 87

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Hình 1.1 Thuyết cấp bậc nhu cầu của A Maslow 36

Biểu đồ 1: Nhận thức của học sinh về hình thức bạo lực thể chất 58

Biểu đồ 2: Nhận thức của học sinh về hình thức bạo lực vật chất 59

Biểu đồ 3: Nhận thức của học sinh về hình thức bạo lực tinh thần 60

Biểu đồ 4: Nhận thức của học sinh về hình thức bạo lực tình dục 62

Biểu đồ 5: Nhận thức về hậu quả của BLHĐ 64

Biểu đồ 6: Nhóm cảm xúc tích cực khi chứng kiến hành vi BLHĐ 67

Biểu đồ 7: Cảm xúc của học sinh khi bị thầy cô giáo nhắc nhở nặng lời 69

Biểu đồ 8: hành vi của học sinh khi chứng kiến BLHĐ 71

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đều biết rằng trường học là nơi cung cấp cho các em học sinh những tri thức khoa học cũng là nơi rèn luyện nhân cách, đạo đức cho các em, bồi dưỡng cho các em tâm hồn trong sáng, dạy dỗ các em những quan niệm đúng đắn

về cuộc sống, về lòng nhân ái, bao dung Ở lứa tuổi cắp sách đến trường, các em thường không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, xích mích đối với những người xung quanh Trước đây, đó cũng chỉ là những chuyện bình thường, người ta cãi nhau như để tranh luận, để tìm ra cái sai của mỗi người, để tập nói tiếng xin lỗi, cảm

ơn và đôi khi lại có thêm người bạn mới Còn với hiện tại, những vấn đề này không chỉ đơn thuần là tranh cãi để tranh luận mà đã tiến triển thành những mâu thuẫn, xích mích và dẫn tới những hành vi bạo lực học đường

Bởi vậy, thời gian gần đây, tình trạng bạo lực học đường (BLHĐ) đang diễn

ra tràn lan Theo số liệu thống kê từ đường dây nóng được Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ

em (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) công bố trong những ngày cuối năm

2012, so với 10 năm trở về trước, số vụ bạo hành tại trường học tăng gấp 13 lần Bạo lực học đường hiện đang có xu hướng gia tăng, kể cả số lượng vụ việc lẫn tính chất nghiêm trọng [48] Còn theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong một năm học xảy ra gần 1.600 vụ việc học sinh đánh nhau ở trong và ngoài trường học Trong đó cứ khoảng trên 5.200 học sinh thì có một vụ đánh nhau, cứ hơn 11.000 học sinh thì có một em bị buộc thôi học vì đánh nhau Những vụ việc này trở thành hồi chuông báo hiệu sự gia tăng bạo lực trong lứa tuổi học sinh [49] Mức độ nghiêm trọng của các vụ bạo lực học đường được thể hiện rõ qua những đoạn video

do chính các em quay lại và đưa lên mạng xã hội trong những năm gần đây Những hành vi này dẫn tới những hệ quả vô cùng nghiêm trọng về mặt thể chất như bầm tím, gẫy xương, trầy xước, tổn thương ngoài da thậm chí là tử vong Hơn nữa, nạn nhân của hành vi bạo lực sẽ phải chịu tổn thương lớn về mặt tinh thần chẳng hạn như nạn nhân sẽ rơi vào trạng thái lo âu, buồn bã, chán nản, căng thẳng, mệt mỏi Bản thân những học sinh có hành vi bạo lực sẽ bị bạn bè xa lánh, phải chịu các hình

Trang 9

Đối với các em ở tuổi Trung học phổ thông (THPT), tính tự trọng đặc biệt phát triển Các em thường không chịu được sự xúc phạm của người khác đối với mình Một câu nói hay một hành động xúc phạm của người khác có thể là nguyên

cớ gây xung đột, thậm chí ẩu đả ở lứa tuổi này Chính vì thế, mà không ít những vụ BLHĐ xảy ra chỉ vì những lời nói tưởng chừng rất đơn giản, có lúc như vô tình hay chỉ vì thoáng nghe bạn nói xấu mình ở đâu đó Tính tự trọng phát triển cũng là một trong những nhân tố tạo nên tâm lý bốc đồng ở học sinh lứa tuổi này Tâm lý bốc đồng là điểm yếu làm cho học sinh dễ bị kích động bởi người khác Đó cũng là một trong những nguyên nhân dễ dẫn đến hành vi bạo lực các em lứa tuổi này

Xét riêng đối với trường THPT Chợ Đồn của huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn thì đây là một trường THPT ở miền núi cũng là trường THPT duy nhất của huyện nên những học sinh trong trường là con em từ tất cả các xã khác nhau trong huyện hội tụ về thị trấn để học tập Việc xuất phát từ nhiều địa phương khác nhau làm nên

sự đa dạng về mặt tính cách cho những học sinh của trường Với nền tảng gia đình của các em là văn hóa làng xã, việc người dân dùng vũ lực để giải quyết các mâu thuẫn là chuyện không hiếm thấy, điều đó phần nào ảnh hưởng tới quá trình phát triển nhân cách của các em và hành vi ứng xử của các em khi gặp các tình huống khác nhau Vậy khi đứng trước tình huống xảy ra BLHĐ thì học sinh có suy nghĩ gì, thái độ như thế nào, cảm xúc và hành động của các em ra sao? Đó là điều mà chúng tôi băn khoăn Mặc dù với diễn biến phức tạp của thực trạng BLHĐ như hiện nay có nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã đi sâu tìm hiểu, phân tích nguyên nhân cũng như tìm ra các giải pháp hạn chế BLHĐ nhưng hiện tại chưa có đề tài nào nghiên cứu trên địa bàn huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn

Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Thái độ của học sinh trường

Trung học phổ thông Chợ Đồn, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn về vấn đề bạo lực học đường” nhằm tìm hiểu thái độ của học sinh đối với vấn đề BLHĐ, từ đó có thể

làm rõ nguyên nhân của tình trạng trên Chúng tôi hy vọng có thể đưa ra các giải pháp nhằm giúp các em nâng cao nhận thức và có thái độ phù hợp với BLHĐ

Trang 10

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Thái độ của học sinh THPT khi chứng kiến các hành vi BLHĐ

3.2 Khách thể nghiên cứu

Học sinh thuộc ba khối 10, 11 và 12 và một số cán bộ, giáo viên của trường THPT Chợ Đồn, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu lý luận

- Xác định những quan điểm lý luận và phương pháp luận định hướng cho quá trình nghiên cứu

- Tổng quan tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nghiên cứu các vấn đề lý luận về thái độ, bạo lực, BLHĐ, thái độ của học sinh về BLHĐ, các yếu tố ảnh hưởng đến BLHĐ

5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

5.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thái độ của học sinh THPT Chợ Đồn về vấn

đề BLHĐ trên ba mặt là nhận thức, cảm xúc và hành vi

5.2 Giới hạn khách thể nghiên cứu

Nhóm khách thể nghiên cứu của chúng tôi gồm 360 học sinh của trường THPT Chợ Đồn, trong đó:

Trang 11

- 120 học sinh thuộc khối lớp 10

- 120 học sinh thuộc khối lớp 11

- 120 học sinh thuộc khối lớp 12

Ngoài ra, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 1 giáo viên phụ trách chung về công tác Đoàn của trường, 3 giáo viên chủ nhiệm và 7 học sinh

6 Giả thuyết khoa học

Nhận thức của học sinh trường THPT Chợ Đồn đối với BLHĐ còn nhiều hạn chế, các em có thái độ phản đối, lên án những hành vi bạo lực song chưa có hành vi can thiệp đúng mức

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

7.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi

7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

7.4 Phương pháp quan sát

7.5 Phương pháp thống kê toán học bằng xử lý số liệu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

Chương 2 Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả nghiên cứu

Trang 12

Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu về bạo lực học đường

1.1.1.1 Nghiên cứu bạo lực học đường ở nước ngoài

Ở nước ngoài, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tiến hành nhiều công trình nghiên cứu để làm rõ các vấn đề liên quan đến BLHĐ Một cuộc khảo sát gần đây của Bộ Giáo dục Nhật Bản cho thấy, số vụ bắt nạt ở cấp tiểu học và trung học đạt đến mức kỷ lục là 224.540 trường hợp trong năm 2015, tăng hơn 36.400 trường hợp so với năm trước [44]

Qua khảo sát các công trình nghiên cứu, có thể chia theo các hướng nghiên cứu chính sau:

 Nghiên cứu về các hành vi lệch chuẩn dẫn tới bạo lực học đường:

Ở các nước phương Tây, có một số công trình nghiên cứu về hành vi lệch chuẩn của học sinh, về tình trạng bắt nạt học đường có thể kể đến như sau:

Glew MG và các cộng sự (2005) tiến hành nghiên cứu trên 3520 học sinh lớp

ba, lớp bốn và lớp 5 tại Mỹ nhằm xem xét tỷ lệ bắt nạt trong trường tiểu học và mối liên quan của nó với nhà trường, thành tích học tập hành động kỷ luật và cảm giác của bản thân bao gồm: cảm giác buồn, an toàn và phụ thuộc Kết quả nghiên cứu cho thấy 23% trẻ em được khảo sát đã từng tham gia bắt nạt hoặc đã từng là kẻ bắt nạn, là nạn nhân hoặc cả hai Nạn nhân và kẻ bắt nạt có thành tích học tập thấp hơn

so với những người ngoài cuộc Tất cả 3 nhóm trên đều có cảm giác không an toàn khi ở trường học hơn so với những đứa trẻ ngoài cuộc Nạn nhân và kẻ bắt nạt nạn nhân cảm thấy rằng chúng không thuộc về trường học Chúng thường cảm thấy buồn bã nhiều hơn so với những đứa trẻ bình thường Những kẻ bắt nạt và nạn nhân của hành vi bắt nạt chủ yếu là các em trai

Các tác giả này đã đưa ra kết luận: Tỷ lệ bắt nạt thường xuyên của các học sinh tiểu học là đáng kể Đồng thời, mối liên hệ giữa hành vi bắt nạt và BLHĐ cho thấy đó là vấn đề nghiêm trọng ở trường tiểu học Bởi vậy cần thiết phải có các chương trình giảng dạy chống bạo lực dựa trên bằng chứng ở bậc tiểu học [29]

Trang 13

Bên cạnh đó, Liang H và cộng sự (2007) đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Bắt nạt, bạo lực và hành vi nguy hiểm ở học sinh trung học Nam Phi” tại nhằm kiểm tra

tỉ lệ của hành vi bắt nạt ở 5074 học sinh vị thành niên đang học lớp 8 và lớp 11 thuộc 72 trường học tại Cape và Durban, Nam Phi Nghiên cứu làm rõ mối liên quan giữa những hành vi này với mức độ bạo lực và các hành vi nguy hiểm ở thanh thiếu niên Kết quả cho thấy: Hơn 1/3 (36,3%) học sinh đã tham gia vào hành vi bắt nạt, 8,2% là kẻ bắt nạt, 19,3% là nạn nhân và 8,7% là kẻ bắt nạt người khác và bị những người khác bắt nạt Học sinh nam dễ trở thành thủ phạm và nạn nhân của những hành vi bắt nạt Bên cạnh đó, học sinh nam dễ trở thành nạn nhân của bắt nạt học đường Bạo lực và hành vi chống đối xã hội tăng lên trong hành vi bắt nạt Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những kẻ bắt nạt là nạn nhân thường thể hiện hành vi bạo lực, chống đối xã hội và có những hành vi nguy hiểm hơn so với kẻ bắt nạt Nghiên cứu cho thấy hành vi bắt nạt là một vấn đề khá phổ biến của trẻ Nam Phi Hành vi bắt nạt được xem như là một chỉ báo của các hành vi bạo lực, chống đối xã hội và hành vi nguy hiểm [31]

 Nghiên cứu về thực trạng bạo lực học đường:

Năm 2008, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) tại Mỹ đã tiến hành một cuộc khảo sát với tên gọi “Hiểu biết về BLHĐ” (Understanding school violence) trên quy mô lớn Trung tâm đã sử dụng phương pháp khảo sát, trưng cầu ý kiến và phân tích tài liệu để thực hiện đề tài này Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng và quy mô BLHĐ diễn ra tại các trường phổ thông trung học trong những giai đoạn khác nhau ở Mỹ, trong đó đặc biệt là từ năm 2005 – 2007 Nghiên cứu đã đưa ra những con số thống kê về tình trạng BLHĐ, về môi trường học đường, những hành vi đe dọa, những trường hợp bạo lực không gây tử vong và những trường hợp gây tử vong

Qua những con số này, Trung tâm đã đưa ra kết luận tình trạng BLHĐ tại

Mỹ đang ngày càng gia tăng và mức độ nguy hiểm, tính trầm trọng của nó ngày càng cao Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra những nhân tố nguy hại gây ra tình trạng bạo lực ở giới trẻ như nhân tố cá nhân, các mối quan hệ thân cận và nhân tố xã

Trang 14

hội, cộng đồng Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích những tác động trước mắt và lâu dài của BLHĐ đến học sinh phổ thông trung học nói riêng và toàn xã hội nói chung [46]

Đến năm 2012, các tác giả đã đưa ra những con số thống kê về tình trạng môi trường học đường với những hành vi đe dọa, hành vi bạo lực gây tử vong và không gây tử vong như sau: có 5,9% học sinh mang theo một loại vũ khí (như súng, dao) vào trường học trong 30 ngày trước thời điểm điều tra Tỷ lệ này ở nam lớn gấp ba lần nữ Trong 12 tháng trước cuộc điều tra, 7,8% học sinh trung học được thông báo

bị đe dọa hay bị thương tích bằng một loại vũ khí trong trường học ít nhất một lần, với tỷ lệ nam cao gấp hai lần nữ Trong 12 tháng trước cuộc điều tra, 12,4% học sinh từng tham gia vào một vụ đánh nhau tại trường ít nhất một lần Tỷ lệ này ở nam cũng cao gấp hai lần nữ Trong 30 ngày trước cuộc điều tra, 5,5% học sinh được cảnh báo những nguy cơ không an toàn nên họ đã không tới trường ít nhất một ngày Các tỷ lệ này ở nam và nữ xấp xỉ bằng nhau [51]

 Nghiên cứu về các hình thức biểu hiện bạo lực học đường

Công trình nghiên cứu của Wang.J và cộng sự năm 2009 được tiến hành tại

Mỹ với đề tài: “Bắt nạt trường học trong thanh thiếu niên tại Hoa Kỳ: thể chất, bằng lời nói, quan hệ và trên internet” đã xem xét 4 hình thức của hành vi bắt nạt trong trường học ở nhóm thanh thiếu niên Mỹ và mối liên quan với các đặc điểm về mặt nhân học xã hội, hỗ trợ của cha mẹ và bạn bè đã được khảo sát

Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ hành vi bắt nạt người khác đã từng bị bắt nạt ở trường học ít nhất 1 lần trong 2 tháng gần thời điểm khảo sát nhất là 20,8% về mặt thể chất, 53,6% bằng lời nói, 51,4% về mặt xã hội hoặc 13,6% về các trò chơi trên internet Các bạn nam dính líu nhiều hơn đến các kiểu bắt nạt thể chất hoặc bằng lời nói Nam giới cũng có xu hướng là người đi bắt nạt qua mạng, trong khi các bạn gái

có xu hướng là nạn nhận của hiện tượng bắt nạt đó Thanh thiếu niên người Mỹ gốc Phi đã tham gia bắt nạt nhiều hơn (về mặt thân thể, lời nói hay qua mạng), nhưng lại

ít trở thành nạn nhân của hình thức bắt nạt (bằng lời nói hoặc quan hệ) Nghiên cứu cho thấy sự hỗ trợ của cha mẹ có liên quan đến việc thanh thiếu niên ít dính líu đến

Trang 15

tất cả các hành vi bắt nạt nêu trên Ngoài ra, việc thanh, thiếu niên có nhiều bạn

bè sẽ có liên quan đến các hành vi bắt nạt nhiều hơn và họ cũng ít bị bắt nạt hơn

về những hình thức như thể chất, bằng lời nói và quan hệ trừ hình thức bắt nạt qua mạng

Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đưa ra những kết luận quan trọng đó là:

sự hỗ trợ của cha mẹ có thể bảo vệ thanh thiếu niên khỏi tất cả bốn hình thức bắt nạt, liên kết bạn bè theo kiểu khác với bắt nạt truyền thống và bắt nạt mạng [29]

Tổ chức phát triển cộng đồng tập trung vào trẻ em Plan International và Trung tâm nghiên cứu quốc tế về phụ nữ (ICRW) (2015) công bố báo cáo về tình trạng bạo lực trong các trường học ở châu Á Báo cáo dựa trên kết quả nghiên cứu

và khảo sát thực tế với 9.000 học sinh ở lứa tuổi 12 đến 17, các giáo viên, hiệu trưởng, phụ huynh tại 5 quốc gia Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Pakistan và Nepal, thực hiện từ tháng 10/2013 đến tháng 3/2014 Theo báo cáo này, tình trạng bạo lực trong các trường học châu Á đang ở mức báo động Trung bình cứ 10 học sinh thì có 7 em từng trải nghiệm bạo lực học đường Quốc gia có số học sinh hứng chịu nạn bạo lực cao nhất là Indonesia (84%); thấp nhất là Pakistan với 43% Chỉ tính trong 6 tháng (10/2013-3/2014), số học sinh bị bạo lực (ở mọi hình thức: tinh thần, thể xác ) tại trường học của Indonesia là 75% Việt Nam đứng thứ hai với 71% [45]

Nhìn chung các nghiên cứu đã phản ánh được một phần thực trạng BLHĐ qua những hình thức cụ thể như bạo lực, bắt nạt học đường ở một số quốc gia trên thế giới, các hình thức bạo lực, bắt nạt học đường điển hình Nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ BLHĐ ở nam cao hơn ở nữ Bên cạnh đó, các nghiên cứu còn chỉ ra được ảnh hưởng của hành vi bạo lực tới thể chất, tâm lý của thanh thiếu niên và những yếu tố giúp giảm thiểu hay gia tăng tình trạng BLHĐ

1.1.1.2 Nghiên cứu bạo lực học đường ở Việt Nam

Hiện nay, do tình trạng BLHĐ được báo chí phản ánh nhiều nên đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu về BLHĐ tại Việt Nam Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như sau

Trang 16

 Nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường

Tác giả Lê Thị Hồng Thắm và Tô Gia Kiên nghiên cứu về lĩnh vực y tế công cộng đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nguyên nhân dẫn đến BLHĐ tại trường trung học cơ sở Lê Lai – Quận 8 – Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009” Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng (điều tra bằng bảng hỏi,

áp dụng phương pháp chọn mẫu đa dạng và đồng nhất với mục đích kiểm tra chéo các thông tin của các đối tượng cung cấp; nghiên cứu định tính bao gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

Kết quả nghiên cứu thu được như sau: Các đối tượng nghiên cứu đều cho rằng hành vi BLHĐ là những hành vi như kết băng nhóm hăm dọa bạn bè, ăn hiếp người nhỏ hoặc yếu thế, có thể là hành vi trấn lột đồ - tiền của bạn khác hoặc thậm chí có thể do ghét nhau lâu ngày nên dẫn đến xô xát, đánh nhau (có hung khí hoặc không có hung khí) Đa số các đối tượng cho rằng hành vi mắng chửi nhau và hành

vi hiếp dâm không phải là BLHĐ Đa số các đối tượng nghiên cứu đều cho rằng BLHĐ ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần và liên hệ xã hội của nạn nhân Bên cạnh

đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các em có hành vi bạo lực luôn muốn chứng tỏ mình Ba mẹ các em thường la rầy, đánh đập mỗi khi các em sai phạm và ba mẹ có thái độ xúi giục các em thực hiện hành vi bạo lực khi bị người khác xúc phạm, anh chị thì không quan tâm đúng cách đến các em Nhà trường chưa tổ chức được chương trình phòng chống bạo lực học đường và không đồng nhất trong cách

xử lý các hành vi sai phạm của các em, đôi khi nhà trường còn dùng hành vi bạo lực đối với các em [19]

 Nghiên cứu khảo sát về thực trạng bạo lực học đường hiện nay:

Tác giả Phan Mai Hương đã có bài viết về “Thực trạng BLHĐ hiện nay” Chủ đề của bài viết là nhu cầu, định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam Tác giả đã trình bày khảo sát của tác giả về thực trạng BLHĐ bằng phương pháp phân tích tài liệu và các số liệu thứ cấp được công bố trên diễn đàn Nghiên cứu đã đưa ra những vấn đề trọng điểm như: BLHĐ ngày một gia tăng về số lượng

và mở rộng địa bàn; BLHĐ ngày một nguy hiểm về mức độ và tính chất bạo lực;

Trang 17

Đối tượng gây BLHĐ ngày một đa dạng; BLHĐ ngày một đa dạng về kiểu loại và phong phú về biểu hiện; BLHĐ có thể bắt nguồn từ những nguyên nhân vô cớ và vô cùng đơn giản [13]

Từ khảo sát này tác đã đưa ra kết luận rằng tình trạng BLHĐ cần được nghiên cứu, tìm hiểu sâu và cần sự góp sức của các chuyên gia tâm lý học đường

Tác giả Lê Vân Anh và các cộng sự của Viện Khoa học giáo dục Việt nam

đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Giải pháp ngăn ngừa các hành vi bạo lực trong học sinh trung học phổ thông” Đề tài giới hạn nghiên cứu các biểu hiện hành vi bạo lực, xác định nguyên nhân và một số giải pháp ngăn ngừa hành vi bạo lực trong học sinh trung học phổ thông tại các địa bàn Quảng Ninh, Nghệ An, TP Hồ Chí Minh và Gia Lai Các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu thực tiễn, phương pháp chuyên gia, điều tra xã hội học và phương pháp thống kê Đề tài đã chỉ ra những hiện tượng đánh nhau của học sinh ở một số nơi hiện nay đã bộc lộ tính chất nguy hiểm, nghiêm trọng và nguyên nhân hành vi BLHĐ hiện nay xuất phát từ nhiều yếu tố như gia đình, nhà trường, xã hội và chính bản thân học sinh Đề tài đã nghiên cứu, đánh giá thực trạng, cung cấp bức tranh mô tả đầy đủ các biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của hành vi BLHĐ trong học sinh THPT Từ nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng, các tác giả đã đề xuất 4 nhóm giải pháp ngăn ngừa hành vi bạo lực ở học sinh trung học phổ thông [36]

 Nghiên cứu về nhận thức của học sinh trung học phổ thông dẫn tới bạo

lực học đường

Tác giả Ông Thị Mai Thương đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Hành vi bạo lực trong nữ sinh trung học phổ thông”, tác giả khảo sát trên 200 khách thể tại 2 trường trung học phổ thông thuộc quận Đống Đa (Hà Nội) và đã đưa ra một số vấn

đề quan trọng trong thực trạng hành vi bạo lực của nhóm nữ sinh trung học phổ thông như mức độ xảy ra hiện tượng bạo lực trong nhà trường, phương thức, công

cụ, phương tiện tiến hành hành vi bạo lực Đề tài cũng tìm hiểu về nhận thức của học sinh về hành vi bạo lực và nguyên nhân xuất hiện bạo lực Trong đề tài, tác giả cũng chỉ ra một số yếu tố tác động đến hành vi bạo lực của học sinh như sự thiếu

Trang 18

quan tâm của cha mẹ, bạo hành gia đình, ảnh hưởng của phương tiện truyền thông đại chúng, sức ép tâm lý và bất mãn xã hội… Từ đó, tác giả đưa ra một sô kết luận, kiến nghị nhằm giúp giảm thiểu, ngăn chặn hành vi bạo lực trong nhóm nữ sinh trung học phổ thông [22]

Tác giả Trần Thị Minh Đức đã tiến hành nghiên cứu về “Gây hấn học đường

ở học sinh trung học phổ thông” Tác giả nghiên cứu về một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới BLHĐ là gây hấn Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính như phân tích tài liệu, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm; phương pháp nghiên cứu định lượng gồm trưng cầu ý kiến trên 771 học sinh trung học phổ thông ở 3 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình

Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả đi sâu vào phân tích hai nội dung chính: Nội dung thứ nhất là tình trạng gây hấn ở học sinh (trong đó có cả mức độ gây hấn

và bị gây hấn) Nội dung này còn được tác giả phân tích dựa trên cơ sở về giới Nội dung thứ hai là nhận thức của học sinh về hành vi gây hấn Từ đó tác giả đưa ra kết luận như sau: Gây hấn học đường là hiện tượng phổ biến và ngày càng trở nên nguy hiểm, tình trạng này có nguyên nhân tác động từ nhiều phía như bản thân học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội Học sinh nhận thức còn yếu về bản chất của gây hấn, nhiều học sinh đã không nhận biết được đâu là hành vi gây hấn Những hành vi gây hấn là mầm mống dẫn tới BLHĐ Do đó, việc học sinh nhận thức còn yếu về bản chất của gây hấn đã khiến cho tình trạng BLHĐ diễn ra ngày càng trầm trọng hơn Nhà trường, gia đình và xã hội vẫn chưa có biện pháp mang tính hệ thống và tích cực nhằm hạn chế vấn đề này [7, tr.42-52]

Như vậy, chỉ trong một vài năm gần đây, nhiều tác giả trong nước đã quan tâm nghiên cứu sâu hơn về vấn đề BLHĐ ở những góc độ khác nhau Các nghiên cứu đều cho thấy tình trạng BLHĐ có xu hướng gia tăng và tính chất ngày càng trở nên nguy hiểm hơn Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu đã đi sâu phân tích thực trạng BLHĐ, nguyên nhân dẫn tới thực trạng này cũng như đề xuất các giải pháp tích cực nhằm hạn chế mặt tiêu cực của BLHĐ

Trang 19

1.1.2 Những nghiên cứu về thái độ

1.1.2.1 Nghiên cứu về thái độ ở nước ngoài

Trong lĩnh vực tâm lý học xã hội ở phương Tây, vấn đề thái độ luôn là vấn

đề được nhiều các nhà khoa học chú ý và nghiên cứu Đặc biệt là các công trình nghiên cứu về thái độ của các nhà tâm lý học người ở Nga (Liên Xô) và Đức Khi nghiên cứu thái độ các nhà Tâm lý học Liên Xô đã vận dụng cách tiếp cận hoạt động và nhân cách đối với thái độ và nhu cầu trong điều kiện hoạt động của cá nhân, coi thái độ như là một hệ thống từ đó lý giải hợp lý và khoa học về sự hình thành thái độ, vị trí, chức năng của thái độ trong quá trình điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân Có thể nhắc đến các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ và hành vi của con người Đó là thuyết “Tự nhận thức” của Daryl Bem và Leon Fertinger Học thuyết của Leon Festinger và Daryl Bem đã có ảnh hưởng khá lớn tới các nghiên cứu sau này Không những thế các nhà nghiên cứu cũng đưa ra phương pháp nghiên cứu hình thành, thay đổi thái độ như phương pháp “đường ống giả vờ” cho phép đo các thái độ của con người do Edward Jones và Harold Sigall (1971) đề ra cùng “kỹ thuật lấn từng bước một” của Janathan Freedman và Scott Fraer (1966) Bên cạnh những đạt được nó cũng tồn tại những hạn chế nhất định Theo Shikiew P.M hạn chế đó là sự bế tắc trong phương pháp luận trong việc lý giải các số liệu thực nghiệm, không lý giải được các mâu thuẫn giữa thái độ và hành vi, tách rời hai thái độ với hoàn cảnh xã hội và với hoạt động [27, tr.45]

Như vậy qua nghiên cứu của tác giả Shikhirev P.M, chúng ta có thể nhận thấy: Lịch sử nghiên cứu thái độ nói riêng và khoa học tâm lý nói chung, cũng trải qua những thăng trầm cùng với lịch sử phát triển của con người Nghiên cứu của Shikhirev P.M có thể được xem là nghiên cứu vạch đường cho chúng ta khi muốn

đi sâu vào nghiên cứu thái độ ở một thời kì cụ thể nào đó Cũng ở Liên Xô trước đây, ngoài Shikhirev P.M còn có hai tác giả được coi là có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của tâm lý học hơn cả Đó là D.N Uzantze với công trình nghiên cứu về

“Thuyết tâm thế”, và V.A Iadov với nghiên cứu về “Thuyết định vị” Tuy còn nhiều những hạn chế nhưng nghiên cứu của D.N Uzantze đã đóng vai trò quan trọng, đó là

Trang 20

phương pháp luận khoa học cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu cụ thể của tâm lý học hiện đại Dựa trên thuyết tâm thế của D.N Uzantze, V.A Iadov đã phát triển thành khái niệm tâm thế nhằm điều chỉnh hành vi, hoạt động xã hội của cá nhân V.A Iadov cho rằng con người là một hệ thống các định vị khác nhau rất phức tạp, và hành vi của con người được điều khiển bởi các tổ chức định vị này V.A Iadov đã nghiên cứu thái độ ở một góc nhìn hoàn toàn mới Nó đã thiết lập được mối quan hệ giữa cách tiếp cận hành vi cá nhân từ các góc độ khác nhau như trong nghiên cứu ở Tâm lý học đại cương, Tâm lý học xã hội…Tuy nhiên, thiếu sót của V.A Iadov là

đã không làm rõ được khái niệm “định vị là gì?” Đồng thời cũng chưa chỉ ra được

cơ chế điều chỉnh hành vi bằng các định vị trong các tình huống xã hội

Ở Đức những công trình nghiên cứu về thái độ tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học xã hội như: Vnâyzơ, V đorxtơ… ngoài những vấn đề truyền thống, các nhà Tâm lý học Đức còn đề cập tới kiểu định hình thái độ,

cơ chế của thái độ, coi thái độ như là một thành tố của năng suất lao động tập thể [27; tr 50]

Một số nghiên cứu về thái độ cụ thể:

Theo tác giả G.Witzlack, về cơ bản thái độ học tập và thái độ làm việc thống nhất với nhau Ông cũng phân tích thái độ học tập trong các hình thức học tập khác nhau như thái độ học tập trên lớp, thái độ tự học Trong các hình thức học tập ấy tác giả lại đưa ra những “điểm tựa”cho sự đánh giá thái độ học tập như: sự nỗ lực nhận thức, sự sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ học tập, tự đặt ra những yêu cầu cao về thành tích học tập của bản thân, sự phản ứng với những thể nghiệm thành công hay thất bại trong học tập, tinh thần vận dụng kiến thức

N.P.Lêvitốp cho rằng thái độ học tập tích cực của người học thể hiện ở chỗ: người học chú ý, hứng thú và sẵn sàng gắng sức vượt khó khăn Tác giả đã phân tích tỉ mỉ những mặt biểu hiện này trên hành vi học tập của sinh viên trong giờ học trên lớp cũng như tự học Những nghiên cứu này rất có ý nghĩa đối với những nghiên cứu về thái độ học tập của sinh viên

Trang 21

Để chương trình phòng chống bạo lực cho thanh thiếu niên ở New York hiệu quả hơn, năm 1992, Sở Y tế New York, trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh cùng các trường công lập ở thành phố New York đã tiến hành điều tra mối liên

hệ giữa thái độ và hành vi bạo lực ở học sinh THPT Trong năm học 1991-1992, 36,1% học sinh từ lớp 9 đến lớp 12 của các trường công lập tại Thành phố New York được khảo sát cho thấy bị đe dọa tổn hại về thể chất, và 24,7% có tham gia đánh nhau ở bất cứ nơi nào (tại nhà, trường học và khu dân cư) Nhìn chung, 21% học sinh cho biết có mang theo vũ khí như súng, dao hoặc côn, có thể mang đi 1 hoặc nhiều ngày trong 30 ngày trước cuộc điều tra; 16,1% học sinh mang theo một con dao hoặc dao cạo và 7,0% mang theo một khẩu súng ngắn Nếu so sánh thì tỷ lệ các hành vi bạo lực và nguy hiểm có thể thấp hơn đáng kể trong trường học (trong đó: tỷ lệ bị đe dọa cao nhất chiếm tới 14,4%; tỷ lệ mang vũ khí chiếm 12,5%; tỷ lệ cầm dao hoặc dao cạo là 10,0%; tham gia đánh nhau là 7,7%; và mang theo một khẩu súng lục là 3,7%) so với khi đi đến trường hoặc từ trường về nhà Những học sinh tham gia đánh nhau ở trường học ít tin tưởng rằng việc xin lỗi, tránh mặt hoặc tránh xa người muốn đánh nhau với mình là cách hiệu quả để tránh các cuộc ẩu đả, những học sinh này tin rằng gia đình các em muốn các em đánh trả nếu có ai đó đánh các em trước Những học sinh đem theo vũ khí tới trường học cho rằng việc đem theo vũ khí là cách phòng tránh các cuộc ẩu đả hiệu quả; chúng cũng tin rằng gia đình mong muốn các em có thể tự bảo vệ bản thân khỏi các cuộc tấn công cho

dù là đem theo vũ khí Những học sinh này cũng cảm thấy an toàn hơn trong các cuộc ẩu đả nếu có mang theo dao hay súng ngắn

Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng hành vi bạo lực và mang theo vũ khí trong thanh niên diễn ra cả trong trường học và ngoài cộng đồng Các tác giả đã đưa ra kết luận thái độ của học sinh có ảnh hưởng từ gia đình của họ Để giảm sự xuất hiện của bạo lực trong các trường học cần đòi hỏi sự phối hợp từ các chương trình với các tổ chức cộng đồng, các nhóm phụ huynh, giáo viên, nhà nước, y tế địa phương

và các cơ quan khác phục vụ cho thanh thiếu niên nằm phòng chống bạo lực học đường [52]

Trang 22

1.1.2.2 Nghiên cứu về thái độ ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, vấn đề thái độ được quan tâm, nghiên cứu nhiều

Có thể kể đến một số đề tài nghiên cứu thực tiễn như sau:

(1) Những điều kiện tâm lý – sư phạm của việc hình thành thái độ trách nhiệm ở học sinh, thiếu niên trong hoạt động học tập và hoạt động ngoài giờ lên lớp – Nghiêm Thị phiến (Luận án Tiến sỹ Tâm lý học; 2002) Qua luận án này, tác giả

đã có những phân tích vể điều kiện tâm lý, các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ trách nhiệm ở học sinh, thiếu niên trong hoạt động học tập và hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh

(2) Thái độ đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên Học viện ngân hàng TP HCM – Lê Thị Linh Trang (Luận văn thạc sỹ Tâm lý học; 2002) Đây

là vấn đề được xã hội quan tâm và hầu như phổ biến trong giới trẻ, việc tìm hiểu thực tế và đưa ra các giải pháp phần nào đã có được cái nhìn tổng thể về vấn đề nghiên cứu và giảm các tệ nạn xã hội

(3) Thái độ của thanh niên trước tình trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình – Lý Minh Hằng (Luận văn thạc sỹ Tâm lý học; 2003) Đây cũng là vấn đề được xã hội quan tâm, qua luận văn, tác giả đã nêu bật được tình trạng bạo lực đối với phụ nữ hiện nay, thực trạng, nguyên nhân, các nhân tố ảnh hưởng, từ đó đưa ra giải pháp hạn chế bạo lực đối với phụ nữ

(4) Thái độ của thanh niên sinh viên với vấn đề phòng chống ma túy hiện nay – Lê Thu Hà (Luận văn thạc sỹ Tâm lý học; 2004) Trong luận văn này, tác giả đã nêu bật được vấn đề tệ nạn ma túy, cơ sở lý luận có liên quan đề tài, thực trạng tệ nạn ma túy và vấn đề phòng chống hiện nay, qua đó tác giả cũng đã đề xuất các biện pháp phòng chống ma túy cũng như kiến nghị với các cấp lãnh đạo trong công tác phòng chống ma túy nhằm giảm tệ nạn này đến mức thấp nhất có thể

(5) Thái độ kỳ thị của cán bộ làm công tác tuyên truyền đối với những người nhiễm HIV/AIDS – Đỗ Thị Thanh Hà (Luận văn thạc sỹ Tâm lý học; 2005) Đề tài

đã nêu bật được thực trạng hiện nay trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết liên quan, từ đó

đề xuất các biện pháp nhằm hướng thái độ của cán bộ làm công tác tuyên truyền đối với những người nhiễm HIV/AIDS theo hướng tích cực, phù hợp nghề nghiệp

Trang 23

(6) Thái độ của phụ nữ trước hành vi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình – Trịnh Thị Vân Anh (Luận văn thạc sỹ Tâm lý học; 2006) Tình trạng bao lực gia đình hiện nay đang được xã hội quan tâm, đề tài là một trong những vấn đề cấp thiết Trên cơ sở lý thuyết, tác giả đã tìm hiểu thực tế và từ đó đề xuất các giải pháp cũng như các kiến nghị đối với ngành chức năng, xã hội về vấn đề bạo lực đối với phụ nữ

(7) Thái độ của sinh viên với việc phòng ngừa nghiện ma túy ở Đại học Quốc gia Hà Nội – Chu Thị Thu Trang; 2011) Tác giả đã trình bày, phân tích thực trạng trên cơ sở lý thuyết liên quan, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm giúp sinh viên có thái độ đúng đắn với việc phòng ngừa nghiện ma túy ờ trường đại học Quốc gia Hà Nội

(8) Thái độ của phạm nhân đối với việc chấp hành chế độ lao động trong trại giam – Dương Thị Như Nguyệt (Luận văn thạc sỹ Tâm lý học; 2014) Qua thời gian nghiên cứu cơ sở lý luận va thực tế, tác giả đã trình bày và phân tích thực trạng, từ

đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức cũng như thái độ của phạm nhân đối với việc chấp hành chế độ lao động trong trại giam

(9) Nghiên cứu thái độ tình dục của sinh viên có tiếp xúc với nội dung khiêu dâm trên INTERNET – Đặng Thị Thu Mai (Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học; 2014)

Đề tài là một hiện thực xã hội, qua đề tài tác giả đã trình bày, phân tích được các thực trạng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nhận thức của sinh viên về vấn đề tình dục khi tiếp xúc với nội dung khiêu dâm trên INTERNET

Như vậy có thể thấy, vấn đề thái độ đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

và nghiên cứu thực tiễn trên nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống Điều này cho thấy, thái độ là một vấn đề có tầm quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, nghiên cứu cụ thể về thái độ với hành vi BLHĐ hiện tại còn rất ít ỏi Có thể kể đến nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mai Lan về vấn đề “Thái độ và hành động đối với hành vi BLHĐ ở nước ta hiện nay” [25] Cụ thể với đối tượng học sinh THPT thì hiện tại chưa có đề tài nghiên cứu về thái độ của học sinh THPT về vấn đề BLHĐ Bởi vậy, đây một vấn đề còn nhiều điều cần phân tích, mổ xẻ

Trang 24

1.1.3 Những nghiên cứu về thái độ của học sinh với vấn đề bạo lực học đường

Nhìn chung trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu

về vấn đề bạo lực học đường, nhất là về bạo lực giữa các em học sinh Những nghiên cứu này đã thống kê về thực trạng bạo lực bằng những số liệu cụ thể, mô tả hiện trạng về tính chất hoặc hành vi bạo lực học đường, xem xét nguyên nhân và hậu quả của nó Những nghiên cứu trên góc độ tâm lý học cũng chỉ ra rằng sự thờ ơ của học sinh, thái độ bàng quan, sự nhận thức còn hạn chế của các em là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng bạo lực học đường đang gia tăng hiện nay Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về thái độ của các

em học sinh về vấn đề này mặc dù đây là vấn đề quan trọng

Bên cạnh đó, có thể nhắc đến một số đề tài:

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh (2010) với đề tài “ Thái

độ của học sinh trường trung học cơ sở Nghi Kim (TP Vinh - Nghệ An) về vấn đề bạo lực học đường” Trong đề tài, tác giả đã nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về

thái độ, bạo lực, bạo lực học đường, thái độ của học sinh về bạo lực học đường Bên cạnh đó tác giả tìm hiểu thực trạng thái độ của học sinh trường trung học cơ sở Nghi Kim (TP Vinh - Nghệ An) về vấn đề bạo lực học đường Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế và đẩy lùi tình trạng bạo lực học đường, nâng cao nhận thức, thái độ của các em học sinh về vấn đề này

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dung (2012) với đề tài “Nhận

thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP Vinh – Nghệ An) về vấn đề bạo lực học đường” Trong đó, tác giả đã tìm hiểu nhận thức về vấn đề bạo lực học

đường của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh-Nghệ An), tìm hiểu mối quan hệ của nhận thức với thái độ và hành vi của học sinh đối với bạo lực học đường, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm ngăn chặn bạo lực học đường để hướng tới môi trường học đường lành mạnh, an toàn

Về thái độ của học sinh đối với BLHĐ được nghiên cứu chủ yếu trên các bài báo, như một số bài viết trên các trang báo Có thể nhắc đến:

Trang 25

(1) Minh Luân với bài “ Dửng dưng với bạo lực học đường” được đăng trên Báo thanh niên (25/12/2014) đã chỉ ra thái độ thờ ơ của đại bộ phận giới trẻ hiện nay với bạo lực học đường

(2) Mỹ Dung, Hà Thanh với bài “ Tại sao giới trẻ thờ ơ trước bạo lực học đường” được đăng trên báo Giao thông (22/3/2015), các tác giả đã tìm hiểu nguyên nhân và có bài phân tích về nguyên nhân khiến giới trẻ hiện nay thờ ơ trước bạo lực học đường

Tóm lại, BLHĐ được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, về thái độ của học sinh đối với bạo lực học đường vẫn chưa được nhiều tác giả nghiên cứu một cách cụ thể

1.2 Một số vấn đề lý luận của đề tài

1.2.1 Lý Luận về thái độ

1.2.1.1 Khái niệm thái độ

Từ khi khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918, cùng với rất nhiều nghiên cứu khác nhau về thái độ thì đồng thời cũng xuất hiện những định nghĩa khác nhau của các nhà tâm lý học về thái độ Mỗi định nghĩa lại bàn tới một khía cạnh của thái độ

Trong từ điển Anh - Việt, “Attitude” được dịch là thái độ, quan điểm và

được hiểu nghĩa là cách ứng xử, quan điểm của cá nhân

Trong lịch sử nghiên cứu thái độ ở phương Tây, hai nhà tâm lý học người

Mỹ là W.I.Thomas và F.Znaniecki là những người đầu tiên đưa ra khái niệm thái độ

vào năm 1918 Hai ông cho rằng: “thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối

với một giá trị” [35] Định nghĩa này chú trọng đến yếu tố chủ quan của cá nhân đối

với một giá trị khác, làm cho cá nhân có hành động này hay hành động khác mà được xã hội chấp nhận” Như vậy, hai ông đã đồng nhất thái độ với định hướng giá trị của cá nhân

Năm 1935, nhà tâm lý học người Mỹ G W.Allport đã đưa ra định nghĩa về

thái độ như sau: “thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được

tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hay ảnh hưởng năng động

Trang 26

đối với phản ứng của cá nhân hướng tới các khách thể và tình huống mà nó liên quan” [11, tr.319] G W Allport đã định nghĩa thái độ trên khía cạnh điều chỉnh

hành vi Thái độ được coi là một trạng thái tâm lý thần kinh ảnh hưởng tới hoạt động Ở cá nhân khi sắp có một hành động diễn ra thì sẽ xuất hiện thái độ nhằm chuẩn bị và điều chỉnh hành động đó

Năm 1980, Aen and Fishbein đã định nghĩa thái độ như sau: “Thái độ là sự

đánh giá tích cực hay tiêu cực đối với một đối tượng, con người hay một tình huống

cụ thể mà chúng ta cảm nhận được và có hành vi đối với chúng theo cách tích cực hoặc tiêu cực tương ứng” [24, tr.89-90]

Với cái nhìn toàn diện, bao hàm cả tâm lí học cá nhân và cả những khía cạnh của tâm lí học xã hội, khái niệm thái độ của H Hispơ và M.Forcec nhấn mạnh chức năng của thái độ đối với hoạt động chung, hoạt động hợp tác của con người trong

xã hội: “Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng bị quy định và có tính chất bắt buộc nào

đó, nảy sinh trong những nhóm nhất định và những tình huống cụ thể Về mặt lượng cũng như về mặt nội dung, sự sẵn sàng này phụ thuộc không những vào chủ thể hữu quan mà trước hết là một hiện tượng tâm lý xã hội, phụ thuộc và khuynh hướng xã hội của cá nhân, là cái gắn liền với những chuẩn mực của nhóm” [18,

tr.19]

Tác giả Robet S Feldman coi “Thái độ là khuynh hướng học tập đáp lại

bằng cách tán thành hay không tán thành một đối tượng cụ thể” [32, tr.596]

Trong hầu hết các định nghĩa, quan niệm trên đều giải thích “thái độ” dưới góc độ chức năng của nó Thái độ định hướng chức năng, hành vi ứng xử của con người, chức năng thúc đẩy, tăng cường tính sẵn sàng của những phản ứng nơi con người hướng tới đối tượng

Ở Việt Nam, trong “Từ điển Tiếng Việt” (Hoàng Phê) thái độ được định

nghĩa là “Cách nhìn nhận hoạt động của cá nhân theo một hướng nào đó trước

một vấn đề, một tình huống cần giải quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ tình cảm của cá nhân đối với con người hay một việc nào đó” [15, tr 134]

Trang 27

Những quan điểm về thái độ cũng được phản ánh trong quan điểm của các

nhà tâm lý học Việt Nam đó là quan niệm cho rằng: “Thái độ là một bộ phận cấu

thành, đồng thời là thuộc tính cơ bản của ý thức” [23, tr 48]

Theo tác giả Vũ Thị Như Quỳnh: “Thái độ là một trạng thái tâm lý chủ quan

của cá nhân, sẵn sàng phản ứng theo một khuynh hướng nhất định đối với một đối tượng nào đó, được thể hiện thông qua nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi

của chủ thể trong những tình huống, những điều kiện nhất định [18, tr.20]

Qua tìm hiểu và tham khảo những khái niệm thái độ trên, chúng tôi đồng

tình với quan điểm về thái độ của tác giả G W Allport:“thái độ là trạng thái sẵn

sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hay ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân hướng tới các khách thể và tình huống mà nó liên quan” [11, tr.319]

1.2.1.2 Đặc điểm của thái độ

Năm 1953, nhà tâm lí học người Mĩ G.V.Allport đã đưa ra 5 đặc điểm chung của thái độ dựa trên sự tổng kết 17 định nghĩa khác nhau về thái độ [11, tr.322-323]:

(1) Thái độ là trạng thái nhất định của tinh thần và hệ thần kinh

(2) Thái độ thể hiện sự sẵn sàng phản ứng

(3) Thái độ là trạng thái có tổ chức

(4) Thái độ dựa trên kinh nghiệm được tiếp thu từ trước

(5) Thái độ có ảnh hưởng, tác động, điều khiển hành vi

Ngoài ra, thái độ còn mang một số đặc điểm quan trọng tạo ra sự khác nhau của thái

độ đó là:

(6) Trị số (Hay được gọi là tính phân cực): Tính tích cực hay tiêu cực, ủng

hộ hay phản đối

(7) Mức độ: Ít hay nhiều

(8) Cường độ: Mạnh hay yếu

(9) Tính ổn định: Thời gian tồn tại của thái độ, mối liên hệ giữa nhận thức, xúc cảm, tình cảm của hành vi

Trang 28

1.2.1.3 Chức năng của thái độ

Con người có khả năng ứng xử linh hoạt, phù hợp với tác động đa dạng của môi trường chính là nhờ khuôn mẫu thái độ xác định Điều đó có một vai trò quan trọng trong đời sống tâm lí con người Việc tổng kết ý kiến của các nhà nghiên cứu

đã đưa ra một số chức năng cơ bản của thái độ như sau:

(1) Chức năng thích nghi: Nhằm đạt được mục đích đề ra Một số trường

hợp các cá nhân thay đổi thái độ do tác động của môi trường

(2) Chức năng tiết kiệm trí lực: Cá nhân tiết kiệm sức lực, năng lượng thần

kinh cơ bắp trong hoạt động nhờ các khuôn mẫu hành vi quen thuộc đã được hình thành

(3) Chức năng thể hiện giá trị: Qua sự đánh giá một cách có chọn lọc về

đối tượng, việc biểu lộ cảm xúc, hành động cũng như sẵn sàng hành động, cá nhân thể hiện giá trị nhân cách của mình

(4) Chức năng tự vệ: Chức năng tự vệ của thái độ giúp chúng ta nâng cao

lòng tự trọng và bảo vệ cơ thể chống lại những căng thẳng của cuộc sống Khi một

cá nhân có sự xung đột nội tâm (Giữa hứng thú và nhu cầu, giữa nhận thức và hành vi ), cá nhân đó thường tìm cách biện minh, tìm lí do giải thích hoặc hợp lí hoá hành vi của mình Quá trình này dẫn đến sự hình thành một thái độ mới tương ứng, giảm bớt và loại bỏ những bất đồng nội tâm

(5) Chức năng tác động điều chỉnh hành vi: Đây là chức năng quan trọng,

giúp cá nhân tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Qua chức năng này chúng ta có thể tìm hiểu được sự ảnh hưởng của thái độ đối với hành vi của cá nhân như thế nào

1.2.1.4 Cấu trúc của thái độ

Khi bàn về cấu trúc của thái độ, có rất nhiều các quan điểm khác nhau về cấu trúc thái độ Tuy nhiên phần lớn các nhà tâm lý học đồng ý với cấu trúc ba thành phần của thái độ do M.Smith (đưa ra năm 1942) Theo ông, thái độ gồm 3 thành phần: nhận thức; xúc cảm - tình cảm; hành vi - hành động của cá nhân đối với đối

Trang 29

tượng Ba thành tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau và qui định nên thái độ đối với một đối tượng cụ thể nào đó

(4) Nhận thức trong cấu trúc của thái độ thể hiện chủ yếu ở những quan điểm, những đánh giá của chủ thể về đối tượng của thái độ Đặc biệt một trong những yếu tố quan trọng nhất trong nhận thức của thái độ là quan điểm và đánh giá về mối quan hệ mà đối tượng của thái độ có được đối với mục đích quan trọng nào đó

(5) Nhận thức là một quá trình lĩnh hội tri thức kinh nghiệm, nhờ tri thức có được về đối tượng mà chủ thể có cảm xúc và có khả năng đánh giá đối tượng

Thứ hai là yếu tố xúc cảm, tình cảm

(1) Xúc cảm, tình cảm là thái độ rung cảm của cá nhân đối với sự vật, hiện tượng liên quan đến nhu cầu, cuộc sống của con người Thể hiện ở sự hài lòng, dễ chịu, đồng cảm, vui sướng, mừng rỡ hoặc khó chịu, bất bình, tức giận… tức là có cảm tình hay không có cảm tình với đối tượng và ở sự rung động, quan tâm chú ý đến đối tượng

(2) Xúc cảm tình cảm là sự biểu thị thái độ của cá nhân đối với các hiện tượng xảy ra trong hiện thực có liên quan mật thiết đến việc thoả mãn hay không thoả mãn các nhu cầu của cá nhân

(3) Xúc cảm tình cảm thúc đẩy con người trong hoạt động, giúp họ vượt qua khó khăn trở ngại trong cuộc sống, thúc đẩy và tạo điều kiện cho cá nhân nhận thức

Trang 30

về đối tượng Chính xúc cảm tình cảm đã làm cho tư duy về đối tượng tốt hơn và ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của họ Vì vậy yếu tố xúc cảm tình cảm tình cảm được xem như một chỉ bảo quan trọng khi nghiên cứu về thái độ

(4) Tuy nhiên trong quan hệ với đối tượng, xúc cảm luôn luôn mang sắc thái chủ quan của cá nhân Dựa vào tình cảm người ta thường gán cho đối tượng những thuộc tính mà có thể đối tượng không có, tạo nên sự nhận thức sai lệch về đối tượng

“Yêu nên tốt, ghét nên xấu”, phản ánh rõ ràng ảnh hưởng của tình cảm với nhận thức

Thứ ba là yếu tố hành vi:

(1) Hành vi được coi như là một cấp độ của thái độ, đó là những biểu hiện ra bên ngoài hay xu hướng hoạt động của cá nhân với đối tượng của thái độ và chia làm 2 loại: Hành vi tích cực và hành vi tiêu cực

(2) Hành vi có thể biểu hiện ra bên ngoài và được người khác đánh giá còn thái độ bên trong đối tượng với hành vi đó của bản thân được thể hiện ở sự tự đánh giá theo chuẩn mực mà chủ thể đã cảm nhận

Ba yếu tố trên có quan hệ mật thiết với nhau Trong thực tế yếu tố tình cảm thường chứa đựng các yếu tố ý thức và yếu tố hành vi có các khía cạnh của yếu tố tình cảm Có nghĩa là nếu một người nào đó thích đối tượng của thái độ (Yếu tố tình cảm) thì tin rằng đối tượng sẽ dẫn đến một điều gì đó tốt đẹp, (yếu tố ý thức) và có

xu hướng hành động một cách tích cực với đối tượng, có những hành vi mang tính tích cực nhiều (Yếu tố hành vi) Tuỳ theo tình huống mà một thành phần nào đó chiếm vị trí chủ đạo chi phối hành vi cá nhân Cấu trúc 3 thành phần là cơ sở cho việc xây dựng các thang đo thái độ khi nghiên cứu về vấn đề này

Một số nhà tâm lí học cho rằng, tỷ lệ các thành phần nêu trên trong các loại thái độ có sự khác nhau Tuỳ theo tình huống mà một thành phần nào đó chiếm vị trí chủ đạo ảnh hưởng chi phối hành vi cá nhân Cấu trúc ba thành phần này là cơ sở cho việc xây dựng các thang đo về thái độ

1.2.2 Lý luận về bạo lực học đường

1.2.2.1 Khái niệm bạo lực

Bạo lực là một hiện tượng xã hội và có nhiều cách hiểu khác nhau về bạo lực

Trang 31

Thông thường có thể hiểu bạo lực là hành vi sử dụng sức mạnh thể chất với mục đích gây thương vong, tổn hại một ai đó

Theo từ điển Anh – Việt, từ “violence” có nghĩa là bạo lực

Trong Từ điển Tiếng Việt có ghi: “Bạo lực là dùng sức mạnh để cưỡng bức,

trấn áp hoặc lật đổ” [16]

Với các quan điểm trên, bạo lực chỉ được hiểu như những hành động mang tính chất chiếm đoạt làm tổn thương đến người khác và bị pháp luật trừng trị Nói cách khác, cách hiểu như trên chỉ là hiểu theo nghĩa hẹp mà thôi Hiện nay, khái niệm bạo lực không chỉ giới hạn ở những hành động làm tổn thương đến thể chất

mà còn xét cả những hành động làm tổn thương đến tinh thần của người khác trong gia đình và ngoài xã hội

Dưới góc nhìn xã hội học thì khái niệm này được hiểu rộng hơn

“Bạo lực là việc sử dụng vũ lực để gây thương tích cho người hoặc tài sản

Bạo lực có thể gây ra đau đớn về thể chất cho người trực tiếp gây ra các hành vi bạo lực cũng như cho những người bị hại Cá nhân, gia đình, trường học, nơi làm việc, cộng đồng, xã hội, và môi trường – tất cả đều bị tổn thương do bạo lực gây ra” [46]

Dưới góc độ tâm lý học, tác giả Trần Thị Minh Đức cho rằng: “Bạo lực thể

hiện ở những việc đơn giản như khích bác, cố tình thêu dệt câu chuyện làm tổn thương người khác hay giải quyết tình huống bằng cách đấm đá nhau giữa các cá nhân và nhóm Bạo lực có mặt ở khắp mọi nơi, từ các chuyện xích mích nho nhỏ giữa những đứa trẻ trong gia đình, chuyện bố mẹ đánh mắng con, đến chuyện bắt nạt học đường , tất cả đều nhằm mục đích làm tổn thương nhau về mặt tâm lý, thể chất hay hủy hoại tài sản” [8, tr.39]

Qua việc tham khảo các khái niệm như trên, chúng tôi hiểu về bạo lực như

sau: “Bạo lực là hành vi sử dụng sức mạnh, quyền lực hay các hành động để cưỡng

bức, trấn áp, đe dọa, hành hung… làm tổn thương đến thể chất và tinh thần của người khác mà không có sự chấp thuận của người bị hại”

Trang 32

1.2.2.2 Khái niệm bạo lực học đường

Hiểu một cách đơn giản, BLHĐ là hệ thống xâu chuỗi lời nói, hành vi, mang tính miệt thị, đe dọa, khủng bố người khác, để lại thương tích trên cơ thể, thậm chí dẫn đến tử vong, đặc biệt là gây tổn thương đến tư tưởng, tình cảm, tâm lý cho những đối tượng trực tiếp tham gia Trong đó, hành vi bắt nạt được xem như là một chỉ báo của các hành vi bạo lực, hành vi gây hấn là mầm mống tiềm ẩn dẫn tới các

Tác giả Phan Mến trường THCS Võ Thị Sáu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng

Nai trong chuyên đề bạo lực học đường đã đưa ra định nghĩa như sau: “Bạo lực học

đường là những hành vi xâm phạm có chủ ý, có ý đồ, thường gây hậu quả nghiêm trọng và xảy ra trong phạm vi nhà trường Và nếu nhìn từ góc độ lấy học sinh làm trung tâm thì bạo lực học đường là sự xâm hại của học sinh đối với học sinh, sự xâm hại của học sinh đối với người bên ngoài nhà trường, là sự xâm hại của giáo viên đối với học sinh và ngược lại… Bạo lực ấy xâm phạm đến sức khoẻ hoặc danh

dự của người bị hại, hoặc xâm phạm đến tính mạng và nhân phẩm của người bị hại Bạo lực ấy không chỉ xảy ra trong phạm vi nhà trường mà nhiều khi xảy ra bên ngoài nhà trường” [26, tr.57]

Trên cơ sở tham khảo các khái niệm về BLHĐ như trên, chúng tôi đồng tình với quan điểm của nhóm tác giả Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Thị Diễm My, Huỳnh

Ngọc Trâm về BLHĐ như sau: “Bạo lực học đường là một thuật ngữ dùng để chỉ

các hành động làm tổn hại đến thể chất, tinh thần và vật chất của người khác dưới những hình thức khác nhau trong môi trường học đường” [26, tr.60]

Trang 33

1.2.2.3 Các hình thức bạo lực học đường

Có nhiều cách phân loại hành vi BLHĐ Cụ thể như phân tích trên bình diện chung nhất thì nó bao gồm hành vi bạo lực thể chất và tinh thần Bạo lực về mặt thể chất là những hành vi có sử dụng vũ lực, sức mạnh của bản thân hoặc các vật dụng, công cụ nhằm tấn công người khác Bạo lực về mặt tinh thần là những hành vi không

sử dụng vũ lực nhưng cố ý tấn công người khác bằng ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ

Theo tác giả Hoàng Bá Thịnh BLHĐ được chia thành 4 hình thức như sau [20; tr.34]

 Bạo lực về mặt tinh thần:

Trang 34

Là loại hình bạo lực không sử dụng vũ lực, tác động lên tinh thần nạn nhân, bao gồm:

(1) Mắng chửi, lăng mạ, miệt thị

(2) Bỏ rơi, không quan tâm, cô lập, tránh giao tiếp với nạn nhân

(3) Để nạn nhân luôn lo lắng, trạng thái tinh thần bất an, sống trong bầu không khí bị đe dọa hoặc bị lăng mạ với những lời lẽ mạt sát

(4) Xúc phạm khiến nạn nhân ngộ nhận, bị mất niềm tin vào chính mình, buộc họ phải tin rằng họ bị hành hạ như vậy là đúng

(5) Chụp ảnh, quay phim cảnh lăng nhục nạn nhân phát tán trên internet, điện thoại…

 Bạo lực về tình dục:

Bạo lực về tình dục học đường cũng bắt đầu diễn ra một cách khá phức tạp trong môi trường học đường Cùng với sự phát triển tâm lý xã hội của học sinh, bạo lực về tình dục học đường trở thành một hành vi cần được xem xét trên bình diện lứa tuổi, giới - giới tính…Có thể chia ra làm hai loại cơ bản: Quấy rối tình dục và lạm dụng tình dục

(1) Quấy rối tình dục: là bất kỳ một lời nói hay hành động cử chỉ có ý nghĩa tình dục ngoài ý muốn, những câu nói xúc phạm cố ý hay bất kỳ những nhận xét về tình dục của ai xúc phạm người khác (nạn nhân) và làm cho nạn nhân cảm thấy bị

đe dọa, bị làm nhục, ngấm ngầm phá hoại sự an toàn và gây ra sự lo sợ cho nạn nhân Đơn cử như những lời nói thiếu tế nhị, những lời trêu chọc, những câu bình phẩm vô văn hóa đến những hành động cố ý như sờ mó, bóp ngực, đụng chạm vào những nơi nhạy cảm… của học sinh thanh niên nam đối với học sinh nữ và ngược lại

(2) Lạm dụng tình dục: được coi là hành động lợi dụng sự thiếu hiểu biết hoặc sự thiếu kinh nghiệm, thiếu quyền lực của người khác để đạt được mục đích tình dục của mình

Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi có tham khảo quan điểm của tác giả Hoàng Bá Thịnh để tìm hiểu các mặt biểu hiện của BLHĐ

Trang 35

1.2.2.4 Nguyên nhân của bạo lực học đường

Thứ nhất là nguyên nhân xuất phát từ cá nhân học sinh

Hành vi của mỗi cá nhân phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức, nhu cầu, tình cảm của người đó

(3) Cá nhân biết mình sai nhưng vẫn cố tình vi phạm Trường hợp này do cá nhân không có khả năng kiểm soát hành vi và tự kiềm chế kém; Học sinh kém khả năng tập trung, hiếu động; Học sinh dễ bị căng thẳng về xúc cảm

Về mặt tính cách và đặc điểm tâm – sinh lý của lứa tuổi học sinh

Đó là những kiểu phản ứng nhất định của mỗi cá nhân trước một sự vật, hiện tượng: ra quyết định nhanh hay chậm, thụ động hay chủ động, phụ thuộc hay độc lập Các đặc điểm tâm – sinh lý của học sinh là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới hành vi lệch chuẩn (BLHĐ) ở các em

Bên cạnh đó, tình trạng “dư thừa sức lực” của học sinh ở lứa tuổi dậy thì khiến các em phát triển mạnh về thể chất, hưng phấn cao, kiềm chế kém Hơn nữa, các em đang muốn chứng tỏ bản thân, khẳng định cái “tôi” cá nhân, nhưng lại không biết thể hiện bằng cách nào Do đó, muốn dùng vũ lực như một cách thể hiện

sự vượt trội của mình so với bạn bè

Thứ hai là nguyên nhân xuất phát từ gia đình

Gia đình chính là xã hội thu nhỏ, đó cũng là nơi mỗi cá nhân sinh ra và lớn lên Gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng nhân cách, là nơi hình thành cho các em nhân cách sống và cách ứng xử trong xã hội, nơi giáo dục cho các em những cảm nhận đầu tiên về quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên

Trang 36

nhiên và giữa mỗi người với chính bản thân mình, Nếu không được giáo dục tốt

từ gia đình thì các em dễ mất phương hướng có những hành vi lệch lạc về tâm sinh

lý Có thể kể đến những tác động trực tiếp như: Những thành viên khác trong gia đình có cách cư xử không đúng với chuẩn mực đạo đức, lối ứng xử đó đã gieo vào đầu các em những suy nghĩ không tốt, các em cũng có những hành vi cư xử không đúng với bạn bè Chẳng hạn bố mẹ các em thường mắng chửi, đánh nhau nên dần dần các em cũng hình thành tính bạo lực, sẵn sàng chống đối; Gia đình bố mẹ ly tán hoặc thiếu vắng sự chăm sóc của bố, mẹ khiến các em bị hụt hẫng, gặp khó khăn trong việc định hướng nhân cách và thường có xu hướng bất cần, dễ bộc phát hành

vi hung tính, đánh nhau; Gia đình nhận thức còn lệch lạc, kém hiểu biết, thiếu kiến thức về giáo dục con cái dẫn đến quan tâm chiều chuộng thái quá trong nuôi dạy con, giáo dục con về đạo đức còn hạn chế

Thứ ba là nguyên nhân xuất phát từ nhà trường

Nhà trường là nơi các em học sinh học văn hóa, học kiến thức Đây là nơi mà học mà các em gắn bó chiếm đa số thời gian trong thời kỳ còn đi học Bởi vậy những gì diễn ra trong trường sẽ tạo những nét vẽ đầu tiên trong cuộc đời các em

Để dễ hiểu có thể tạm phân chia theo một số ý như sau:

(1) Giữa học sinh với học sinh: Mâu thuẫn hàng ngày của các em không lớn, rất nhỏ nhặt nhưng các em quá đề cao cái tôi của mình, chỉ đôi lời qua lại đã khiến các em mất bình tĩnh và không làm chủ được bản thân

(2) Giữa học sinh với giáo viên: Khoảng cách thế hệ khiến giáo viên và học sinh khó thấu hiểu nhau Học sinh có chuyện nhưng ngại tâm sự với giáo viên để nghe lời khuyên hay sự chỉ dẫn Trong khi đó ngoài xã hội lại vô cùng phức tạp, tuổi đời của các em còn quá nhỏ để phân biệt đúng sai hay thậm chí là biết cách ứng

xử phù hợp với tình huống phát sinh bất ngờ Sự thiếu quan tâm của người lớn càng

dễ khiến các em lầm đường lạc lối

Thứ tư là nguyên nhân xuất phát từ xã hội và các phương tiện truyền thông

Tình hình kinh tế - xã hội có diễn biến phức tạp, khoảng cách giàu nghèo giữa các gia đình, giữa các vùng miền ngày càng rõ nét, áp lực kinh tế dẫn đến giảm

Trang 37

sút vai trò của gia đình đối với việc bảo vệ và chăm sóc con cái Bên cạnh đó, công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, trẻ em được tiếp cận với các trò chơi điện tử

và mạng Internet từ khi còn rất nhỏ, từ đó, dẫn đến các hiện tượng nghiện game online, nghiện internet cũng như các trang mạng xã hội, ảnh hưởng từ các trò chơi mang tính bạo lực cao, các em bất chấp pháp luật, chuẩn mực đạo đức để được thỏa mãn “nhu cầu bạo lực” thông qua các trò chơi online, rời xa cuộc sống thực tìm đến thế ảo của internet Các ấn phẩm báo chí, sách, truyện tranh, video clip, phim ảnh mang tính bạo lực cũng ảnh hưởng rất lớn tới nhận thức của học sinh

1.2.2.5 Hậu quả của bạo lực học đường

 Ảnh hưởng tới đời sống tinh thần, tình cảm, xúc cảm

Những học sinh bị đánh, bị tống tiền sẽ vô cùng căng thẳng và hoảng sợ Thông thường ít có em nào nào dám nói lên sự thật để nhờ nhà trường và gia đình can thiệp Các em sẽ chịu đựng, lo lắng dẫn tới suy sụp về sức khỏa Từ đó, các em

dễ dàng bị trầm cảm, tâm lý sợ sệt mỗi lần đến lớp, nơm nớp lo sợ bị đánh… ảnh hưởng đến kết quả học tập Nghiêm trọng hơn, nhiều em vì quá sợ hãi và bế tắc dẫn đến nghĩ quẩn và tự kết liễu cuộc đời mình

Với những học sinh gây ra BLHĐ: các em luôn tự hào, tự mãn khi bạn bè sợ hãi, phục tùng mọi yêu cầu của mình Tuy nhiên, với tính hiếu thắng của tuổi mới lớn, các em sẽ tiếp tục gây gổ với những bạn bè khác Điều này giống như tình trạng leo thang, cấp độ bạo lực với bạn bè ngày càng gia tăng Tuy nhiên, cuối cùng chính các em lại chịu những tổn thương tâm lý nặng nề về sau này Khi những hành vi của các em bị phơi bày những học sinh này sẽ phải vào trại giáo dưỡng khi tuổi đời còn rất trẻ, học hành dang dở, bị điều tiếng xã hội chê cười Nếu không đi trại giáo dưỡng, những học trò này lại tiếp tục gây ra những “tội ác” về thể xác và tinh thần cho bạn bè mình Qua thời gian, các em sẽ bị méo mó về nhận thức, rằng không cần học hành nhiều vì việc kiếm tiền rất dễ dàng, chỉ cần đe dọa, làm người khác lo sợ, phục tùng để hưởng thụ Từ suy nghĩ đó, các em sẽ gia nhập những băng nhóm trộm cướp, bỏ dở học hành, trở thành vấn nạn cho xã hội

Trang 38

 Ảnh hưởng tới thân thể

BLHĐ có thể gây chấn thương, giảm sức khỏe đối với nạn nhân Nếu nhẹ có thể phục hồi, nặng hơn có thể bị suy nhược thần kinh hoặc có thể gây tử vong cho nạn nhân cũng như người gây ra hành vi BLHĐ

1.2.3 Khái niệm thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với bạo lực học đường

1.2.3.1 Một số đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học phổ thông

Học sinh trung học phổ thông là các em học sinh các khối lớp 10, 11, 12 của bậc trung học phổ thông Lứa tuổi của các em khoảng từ 15 đến 19 tuổi

Đến nay, học sinh trung học phổ thông được xếp vào giai đoạn lứa tuổi thanh xuân hoặc lứa tuổi đầu thanh niên Ở lứa tuổi này, học sinh trung học phổ thông có

sự phát triển về tâm sinh lý xã hội tương đối ổn định so với lứa tuổi thanh thiếu niên

từ 11, 12 tuổi đến 15 tuổi

* Sự phát triển về thể chất ở học sinh trung học phổ thông

Từ 15, 16 tuổi đến 18 tuổi là thời kỳ mà sự phát triển thể chất của con người đang đi vào giai đoạn hoàn chỉnh Chẳng hạn, sự nở nang của cơ thể giúp cho học sinh trung học phổ thông có một cơ thể cân đối, đẹp, khoẻ của người thanh niên Đây cũng là thời kỳ trưởng thành về giới tính Ở vào giai đoạn cuối THPT khoảng

18, 19 tuổi các em dần chấm dứt giai đoạn khủng hoảng của thời kỳ phát dục để chuyển sang thời kỳ ổn định hơn, cân bằng hơn Từ đặc điểm này, ở một số em đã xuất hiện nhu cầu tình dục và hoạt động tình dục thoả mãn nhu cầu này

* Sự phát triển tình cảm ở học sinh trung học phổ thông

Lứa tuổi học sinh THPT được xem là lứa tuổi không còn là trẻ con mà cũng chưa hẳn là người lớn nên có rất nhiều vấn đề nảy sinh do sự phát triển chưa thực sự hoàn thiện này

(1) Sự phát triển của tính tự trọng:

Theo Tâm lý học phát triển, học sinh THPT bên cạnh sự phát triển về trí tuệ thì tự ý thức, tự đánh giá cũng phát triển khá cao, đặc biệt là sự phát triển mạnh của tính tự trọng “Tự trọng là khả năng tự đánh giá có tính khái quát, thể hiện sự chấp

Trang 39

nhận hay không chấp nhận bản thân với tư cách là một nhân cách Biểu hiện cụ thể

là cá nhân không coi mình là tồi hơn, kém hơn những người khác… Các em thường không chịu được sự xúc phạm của người khác đối với mình Một câu nói hay một hành động xúc phạm của người khác có thể là nguyên cớ gây xung đột, thậm chí ẩu

đả ở lứa tuổi này” Chính vì thế, mà không ít những vụ BLHĐ xảy ra chỉ vì những lời nói tưởng chừng rất đơn giản, có lúc như vô tình hay chỉ vì thoáng nghe là bạn nói xấu mình ở đâu đó Tính tự trọng của học sinh THPT chưa đạt được mức độ cao với những biểu hiện tích cực của nó như: có thái độ tích cực, đúng mực đối với bản thân và biết bảo vệ nhân cách mình một cách phù hợp trong mọi hoàn cảnh Do đó,

có nhiều học sinh đã bảo vệ nhân cách của mình mang tính chất cảm tính với những hành vi sai lệch Một trong số đó là những hành vi bạo lực Tính tự trọng phát triển cũng là một trong những nhân tố tạo nên tâm lý bốc đồng ở học sinh lứa tuổi này Tâm lý bốc đồng là điểm yếu làm cho học sinh dễ bị kích động bởi người khác Đó cũng là một trong những nguyên nhân dễ dẫn đến hành vi bạo lực ở học sinh

(2) Đời sống cảm xúc của học sinh trung học phổ thông rất phong phú, đa dạng, bởi các mối quan hệ giao tiếp của các em ngày càng được mở rộng về phạm

vi và đặc biệt được phát triển về mặt chất lượng Các em đạt được mức độ tương đối

về sự bình đẳng, độc lập trong sự giao tiếp với người lớn và các bạn cùng độ tuổi

Bên cạnh nhu cầu về tình bạn, chọn bạn một cách có lý trí thì tình cảm đối với người lớn của học sinh THPT thường biểu hiện tính tự lập, có nét riêng độc đáo của cái tôi tương đối tự do Học sinh THPT hay có tâm lý cho rằng người lớn thường không đánh giá đúng, nghiêm túc những điều họ nghĩ, những việc họ làm cũng như sự trưởng thành của họ Bởi vậy, lứa tuổi này thường dễ có xu hướng xa lánh người lớn và tìm sự đồng tình, đồng cảm ở các bạn cùng lứa tuổi Đặc điểm này cùng với sự phát triển của tính tự trọng chưa cao làm cho học sinh THPT thiếu

tự chủ và thường chịu sự tác động từ bạn bè hơn là từ người lớn Đó cũng là một trong những nguyên nhân dễ xảy ra những vụ BLHĐ ở học sinh THPT khi bị bạn

bè kích động

(3) Sự tự đánh giá bản thân

Trang 40

Sự tự đánh giá về bản thân đó là quá trình cá nhân đánh giá chính mình, đánh giá năng lực, phẩm chất và vị trí của mình so với người khác

Học sinh THPT có nhu cầu tìm hiểu, đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích sống và hoài bão của mình Điều này khiến các

em quan tâm sâu sắc đến đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng của bản thân Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai, về các mối quan hệ của mình với người xung quanh Để khẳng định và tự đánh giá mình các em có xu hướng hành động theo một những cách sau:

- Tự nguyện nhận nhiệm vụ khó khăn, cố gắng hoàn thành nó Tuy nhiên

do còn hạn chế về kinh nghiệm sống nên việc tự đánh giá này đôi khi gây

ra những ngộ nhận Ví dụ, bướng bỉnh, ngang tang được hiểu là gan góc, dũng cảm; sự càn quấy được xem như một điều lạ, một cách thể hiện sự anh hùng Bởi vậy, nhiều em thực hiện những hành vi đe dọa, bắt nạn bạn khác vì nghĩ rằng đó là biểu hiện anh hùng Sự ngộ nhận sai lầm này sẽ làm gia tăng các hành vi hăm he, bắt nạt bạn bè, đây cũng là một trong những hành vi mang tính bạo lực

- Ngầm so sánh với những người xung quanh, đối chiếu ý kiến của mình với người lớn, nhất là người mà các em ngưỡng mộ, lắng nghe ý kiến của những người xung quanh về mình Nếu các em có những hành vi không phù hợp, chẳng hạn bắt nạt bạn khác nhưng lại được một nhóm bạn cổ vũ thì việc các em dễ lặp lại hành vi bắt nạt bạn khác

Nhìn chung, học sinh THPT có thể tự đánh giá bản thân một cách sâu sắc nhưng đôi khi vẫn chưa đúng đắn nên các em vẫn cần sự giúp đỡ của người lớn Một mặt, người lớn phải lắng nghe ý kiến của em các, mặt khác phải giúp các

em hình thành được biểu tượng khách quan về nhân cách của mình nhằm giúp cho

sự tự đánh giá của các em được đúng đắn hơn, tránh những lệch lạc, phiến diện trong tự đánh giá

Ngày đăng: 15/03/2021, 17:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w