1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh các thành ngữ tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng hán và tiếng việt

139 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xin chân thành cảm ơm... Nhưng do hai dân tộc có truyền thống văn hoá khác nhau nên cách suy nghĩ cũng có sự khác nhau... Trích lại các câu danh ngôn trong tác phẩm củ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

SO SÁNH CÁC THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN

CÁCH ĂN CÁCH MẶC TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội, 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

SO SÁNH CÁC THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN

CÁCH ĂN CÁCH MẶC TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học

Mã số : 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt

Hà Nội, 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Việt Nam, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô, các giáo sư của trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, và của rất nhiều bạn bè, tôi xin gửi lời cảm ơn đối với tất cả các thầy cô, các bạn đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt, cảm ơn thầy đã dành nhiều thời gian để chỉ bảo tận tình, hướng dẫn cách làm và đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn một cách thuận lợi

Xin chân thành cảm ơm

Tác giả luận văn

Lý Diễm Kiệt

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương I 4

MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 4

1.1 Về khái niệm thành ngữ trong tiếng Hán 4

1.1.1 Cách hiểu thành ngữ trong tiếng Hán 4

1.1.2 Nguồn gốc của thành ngữ tiếng Hán 6

1.2 Về khái nhiệm tục ngữ trong tiếng Hán 8

1.2.1 Cách hiểu tục ngữ trong tiếng Hán 8

1.2.2 Tính chất và phạm vi của tục ngữ tiếng Hán 10

1.2.3 Phân loại tục ngữ tiếng Hán 12

1.3 Về khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt 14

1.3.1 Khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt 14

1.3.2 Nguồn gốc thành ngữ tiếng Việt 17

1.4 Về khái niệm tục ngữ trong tiếng Việt 21

1.4.1 Khái niệm tục ngữ trong tiếng Việt 21

1.4.2 Phân biệt tục ngữ và thành ngữ tiếng Việt 24

Chương II 28

ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC VÀ PHƯƠNG THỨC TẠO NGHĨA CỦA CÁC THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN CÁCH ĂN CÁCH MẶC TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 28

Trang 5

2.1 Đặc điểm về cấu trúc các thành ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc

trong tiếng Hán 28

2.1.1 Khái niệm về thành ngữ bốn chữ trong tiếng Hán 28

2.1.2 Cấu trúc của thành ngữ liên quan đến cách ăn, cách mặc trong tiếng Hán 29

2.2 Đặc điểm về cấu trúc các tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Hán 39

2.2.1 Cấu trúc của ngạn ngữ tiếng Hán 40

2.2.2 Cấu trúc của từ ngữ quen dùng tiếng Hán 42

2.2.3 Cấu trúc của yết hậu ngữ tiếng Hán 44

2.3 Đặc điểm về cấu trúc các thành ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Việt 47

2.3.1 Đặc điểm chung và các quy tắc cấu tạo thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng 46

2.3.2 Đặc điểm chung và các quy tắc cấu tạo thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng 49

2.3.3 Đặc điểm chung của cấu tạo thành ngữ so sánh 50

2.4 Đặc điểm về cấu trúc các tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Việt 51

2.4.1 Kết cấu tục ngữ một mệnh đề 52

2.4.2 Kết cấu tục ngữ hai mệnh đề 52

2.4.3 Kết cấu tục ngữ ba mệnh đề 54

Trang 6

2.4.4 Kết cấu tục ngữ bốn mệnh đề 55

2.5 Đặc điểm về tạo nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Hán và tiếng Việt 55

2.5.1Con đường tạo nghĩa của các thành ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Hán 55

2.5.2 Con đường tạo nghĩa của các tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Hán 58

2.5.3 Con đường tạo nghĩa của các thành ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Việt 64

2.5.4 Con đường tạo nghĩa của các tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Việt 67

2.6 Tiểu kết 69

Chương III 70

SO SÁNH CÁC THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN CÁCH ĂN CÁCH MẶC TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 70

3.1 Hiểu biết văn hóa qua thành ngữ và tục ngữ 70

3.1.1 Khái niệm văn hóa 70

3.1.2 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 71

3.1.3 Giá trị của ngôn ngữ thành ngữ và tục ngữ đối với văn hóa 74

3.2 Những đặc điểm giống nhau và khác nhau của các thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt 76

Trang 7

3.3 Tiểu kết 82 KẾT LUẬN 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

MỞ ĐẦU

Trang 8

1 Lý do chọn đề tài

Hai nước Trung Quốc và Việt Nam đều có lịch sử văn hoá lâu đời Cách ăn cách mặc có thể phản ánh được bối cảnh văn hoá và đặc trưng dân tộc của mỗi một dân tộc, bên cạnh đó nó còn có quan hệ chặt chẽ với cuộc sống nhân dân, nên có nhiều thành ngữ, tục ngữ nói về cách ăn cách mặc Hai nước Trung Quốc và Việt Nam thường rất coi trọng cách ăn cách mặc và thích sử dụng các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến lĩnh vực này Ở thời Chiến quốc Trung Quốc đã có nhà chính trị nói “王者以民为天,民以食为天” (vương giả dĩ dân vi thiên, dân dĩ thực vi thiên), trong câu này có thể thấy rằng thức ăn là quan trọng nhất đối với nhân dân Vì vị trí địa lý rất đặc biệt giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam, nên trong quá trình giao tiếp văn hoá, chính trị, kinh tế, cách ăn cách mặc hàng ngày của người Hán và người Việt có nhiều nét tương đồng Nhưng

do hai dân tộc có truyền thống văn hoá khác nhau nên cách suy nghĩ cũng có sự khác nhau Nhằm phân tích những điểm giống nhau và khác nhau về thành ngữ, tục ngữ nói về cách ăn cách mặc giữa Trung Quốc và Việt Nam, chúng tôi xuất phát từ góc độ đặc điểm cấu trúc và đặc điểm ngữ nghĩa

Tuy đã có nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về thành ngữ và tục ngữ, nhưng hiện chưa có công trình nào tiến hành so sánh cách ăn cách mặc cả hai nước Trung Quốc và Việt Nam trong thành ngữ, tục ngữ một cách hệ thống, nên đây sẽ là công trình đầu tiên về lĩnh vực này Do vậy,

Trang 9

nghiên cứu các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong

tiếng Hán và tiếng Việt rất cần thiết Đây chính là lý do tôi chọn đề tài So sánh các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách ăn, cách mặc trong tiếng Hán và tiếng Việt

2 Mục tích của đề tài

Mục đích nghiên cứu luận văn là so sánh các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách ăn, cách mặc trong tiếng Hán và tiếng Việt thông qua phân tích những đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của chúng

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ phân tích những đặc điểm giống nhau và khác nhau của các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Hán và tiếng Việt trong các từ điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Hán và tiếng Việt

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh Ngoài ra, luận văn còn sử dụng thủ pháp thống kê

6 Tư liệu nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu dựa trên từ điển và các nguồn tư liệu:

- Từ điển thành ngữ Tân Hoa, Nhà xuất bản Thương vụ, 2011

- Từ điển yết hậu ngữ Tân Hoa, Nhà xuất bản Thương vụ, 2010

Trang 10

- Từ điển ngạn ngữ Tân Hoa, Nhà xuất bản Thương vụ, 2006

- Từ điển từ ngữ quen dùng Tân Hoa, Nhà xuất bản Thương vụ,

2007

- Thành ngữ tiếng Việt, Nguyễn Lực, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2009

- Từ điển tục ngữ Việt, Nguyễn Đức Dương, Nhà xuất bản Tổng hợp

TP Hồ Chí Minh, 2010

Các nguồn tài liệu được sử dụng trong luận án sẽ được liệt kê trong phần phụ lục

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo theo quy định, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài

Trong chương này luận văn trình bày quan niệm của các nhà Hán ngữ học và Việt ngữ học về thành ngữ, tục ngữ

Chương 2: Đặc điểm về cấu trúc và phương thức tạo nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Hán và tiếng Việt

Trong chương này luận văn trình bày hai vấn đề về đặc điểm cấu trúc và đặc điểm tạo nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách

ăn cách mặc trong tiếng Hán và tiếng Việt

Chương 3: So sánh các tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc

Trang 11

trong tiếng Hán và tiếng Việt

Trong chương này, phân tích những đặc điểm giống nhau và khác nhau về các thành ngữ, tục ngữ của hai thứ tiếng Hán và tiếng Việt

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trang 12

1.1 Về khái niệm thành ngữ trong tiếng Hán

1.1.1 Cách hiểu thành ngữ trong tiếng Hán

ta sử dụng hiện nay là thành ngữ Hoặc là xuất phát từ kinh truyện, hoặc là xuất phát từ ca dao, ngạn ngữ, đa số được truyền khẩu trong xã hội, được người ta biết rõ.)

a) Hàm ý của một thành ngữ thường không phải là ý nghĩa thành phần tổ chức của nó;

b) Kết cấu thành ngữ chặt chẽ, tổ chức của nó cố định, không thể

Trang 13

thay đổi thành phần tùy ý.” [16]

《Hán ngữ hiện đại》giải thích là: “Thành ngữ là những từ tổ cố định hình thành trên cơ sở thực tiễn ngôn ngữ lâu dài, giải thích ý nghĩa thành ngữ không thể chỉ thông qua phương pháp đơn giản như lý giải mặt chữ ”

“Nếu không có yêu cầu đặc biệt, kết cấu thành ngữ không thể thay đổi tùy ý, các thành phần tổ chức cũng không thể thay đổi tự do ” “Chức năng thành ngữ đương tương với một từ, nhưng so với từ thì thành ngữ thường có sức biểu hiện, có tính hình ảnh.” [17]

Theo quan điểm của Ông Sử Thức, thành ngữ của tiếng Hán có thể giải thích như sau: “ Tất cả được tiếp tục dùng lâu dài trong ngôn ngữ, được thừa nhận bởi thói quen sử dụng theo quy ước, thường có hình thức kết cấu và thành phần tổ chức cố định, có ý nghĩa đặc biệt, không thể nhìn chữ đoán nghĩa, chức năng trong câu tương đương với định hình từ tổ hoặc câu ngắn trong một từ, thì gọi là thành ngữ.” [9,tr12]

“Trong ngôn ngữ” là chỉ khẩu ngữ Bởi vì đa số thành ngữ được phát triển do tục ngữ truyền miệng trong dân gian Một tục ngữ được sử dụng trong khẩu ngữ lâu dài, được nhân dân chấp nhận, rồi thông qua lựa chọn, hoàn thiện thành thành ngữ Trong ngôn ngữ viết, quá trình này bao gồm hai giai đoạn là khẩu ngữ và ngôn ngữ văn tự

“Được tiếp tục dùng lâu dài”, “lâu dài” nghĩa là bao lâu? Có thể là vài chục năm hoặc vài trăm năm, chỉ cần thành ngữ này từ lúc xuất hiện

Trang 14

nó được mọi người thường xuyên sử dụng

“Có hình thức kết cấu và thành phần tổ chức cố định”, nghĩa là kết cấu ngữ pháp cố định nên trật tự từ của thành ngữ không thể thay đổi tùy ý Thành ngữ giống như từ, cũng trên cơ sở được thừa nhận bởi thói quen sử dụng theo quy ước được nhân dân chấp nhận, không nên thay đổi theo ý mình Có khi chỉ thay đổi một từ sẽ làm cho người ta hiểu sai

1.1.2 Nguồn gốc của thành ngữ tiếng Hán

Trước hết ta có thể trả lời như thế này: nguồn gốc chủ yếu của thành ngữ là tục ngữ cửa miệng Nói một cách đơn giản thì thành ngữ xuất hiện từ dân gian Đương nhiên, không phải là tất cả thành ngữ đều xuất hiện từ dân gian, có một số thành ngữ nảy sinh từ sách cổ Ví dụ “项庄舞剑, 意在沛公” (Hạng trang vũ kiếm, ý tại bái công)xuất từ《史记》(<Sử Ký>):

Thành ngữ từ đâu đến? Từ hai ví dụ trên ta có thể bổ sung là: nguồn gốc thứ yếu thành ngữ do những văn nhân các triều đại trước sáng

Trang 15

tạo ra Nói một cách đơn giản là xuất từ văn bản Chúng tôi bây giờ phân biệt nguồn gốc của thành ngữ tỉ mỉ hơn

Nguồn gốc của thành ngữ chủ yếu có hai phương diện rất quan trọng, xuất phát từ “cửa miệng” và xuất phát từ văn bản Những tục ngữ cửa miệng dân gian lưu truyền lâu dài và những tục ngữ mới sản sinh từ hiện đại, trong đó có một số thông qua lựa chọn, đúc kết, hoàn thiện sau mới trở thành thành ngữ trong văn bản, còn có một số vẫn lưu truyền bằng truyền miệng Tục ngữ truyền miệng dân gian là nguồn gốc vô tận của thành ngữ, từ trước và sau này cũng như vậy Đúc kết thành ngữ từ những tục ngữ truyền miệng là nguồn gốc chủ yếu người ta sáng tạo thành ngữ mới, tức là một phía quan trọng đến từ nhân dân

Nguồn gốc của thành ngữ chủ yếu còn có một phương diện là xuất phát từ văn bản Phương diện này bao gồm ba con đường chính cho chúng ta sưu tập thành ngữ:

a) Những câu cú được tổng kết hoặc trích lại từ các tác phẩm nổi tiếng trong các triều đại trước, thông qua lựa chọn, đúc kết lâu dài thì trở thành những thành ngữ cổ được sử dụng đến nay

b) Các tác giả hiện đại thông qua giao lưu văn hoá, thông qua phiên dịch, có thể tiếp nhận một số thành ngữ nước ngoài Nguồn gốc của thành ngữ nước ngoài chủ yếu có hai loại, thứ nhất là xuất từ tục ngữ cửa miệng dân gian nước ngoài, thông qua lựa chọn, đúc kết và hoàn thiện đã trở thành thành ngữ Thứ hai là xuất từ các tác phẩm nước ngoài, thông

Trang 16

qua lựa chọn, đúc kết trở thành

c) Những tác giả hiện đại cũng có thể tham khảo các thành ngữ cũ được lưu truyền trong tục ngữ truyền miệng dân gian và văn bản trước, rồi từ đó sáng tạo thành ngữ mới

Theo nội dung trước, ta có thể biết rõ thành ngữ xuất phát từ

“truyền miệng” và xuất pháp từ văn bản Học tục ngữ truyền miệng tương đối đơn giản, không cần phân loại nữa So với nguồn gốc tục ngữ thì nguồn gốc thành ngữ trong văn bản không thống nhất, có thể nghiên cứu tỉ mỉ hơn Nguồn gốc của thành ngữ trên văn bản, dù có nguồn gốc từ bản địa hay có nguồn gốc từ nước ngoài cũng có thể được chia thành sáu loại sau:

a Xuất phát từ những truyền thuyết thần thoại

b Xuất phát từ ngụ ngôn

c Xuất phát từ các sự kiện lịch sử

d Xuất phát từ các tác phẩm văn học

e Trích lại các câu danh ngôn trong tác phẩm của văn nhân

f Trích lại những tục ngữ cửa miệng dân gian được trích dẫn trong tác phẩm của văn nhân

1.2 Về khái niệm tục ngữ trong tiếng Hán

1.2.1 Cách hiểu tục ngữ trong tiếng Hán

Tục ngữ là một hình thức ngôn ngữ có phong cách dân gian và

Trang 17

được đông đảo quần chúng ưa thích, trong văn học thời trước Tần đã có một số lượng lớn ghi chép Từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước, đặc biệt là sau những năm tám mươi, các nhà ngôn ngữ đã bắt đầu coi trọng sự nghiên cứu tục ngữ, các tác phẩm liên quan cũng ngày càng nhiều hơn Trong từ điển “Từ Hải” xuất bản vào năm 1979, tục ngữ được giải thích là: “ Những câu thông tục thịnh hành trong dân gian và mang tính tiếng địa phương nhất định Chủ yếu chỉ ngạn ngữ, lời nói thô tục và những thành ngữ truyền miệng thường dùng.”[14]

Theo sự nghiên cứu sâu về tục ngữ, đã xuất hiện rất nhiều định nghĩa khác nhau về tục ngữ Nói chung , có thể lí giải theo nghĩa rộng và lí giải theo nghĩa hẹp Xin lấy ba ví dụ sau rất có tính tiêu biểu:

a) Chủ trương hai lí giải cùng tồn tại.《Thử luận tục ngữ dân gian》của ông Lữ Hồng Niên cho rằng: “ Tục ngữ có thể có lí giải theo nghĩa rộng và lí giải theo nghĩa hẹp Tục ngữ lí giải nghĩa rộng là chỉ tất cả câu cú thông tục được thịnh hành trong dân gian, bao gồm ngạn ngữ, yết hậu ngữ, thành ngữ cửa miệng, cách ngôn, danh ngôn, cụm từ quen dùng, câu nói đùa v.v ; tục ngữ lí giải theo nghĩa hẹp là chỉ ngạn ngữ, yết hậu ngữ v.v , và ngoài ngạn ngữ, yết hậu ngữ ra, không bao gồm những từ tổ định hình xuất từ dân gian.” [4]

b) Cách lí giải theo nghĩa hẹp.《Tính chất và phạm vi của tục ngữ》của ông Vương Cần cho rằng, từ góc độ yêu cầu chuẩn hoá ngôn ngữ thì cách nói “tục ngữ nghĩa rộng ” còn thiếu [18]Vì vậy, ông Vương Cần chủ

Trang 18

trương vứt bỏ thành ngữ, ngạn ngữ, yết hậu ngữ và từ ngữ quen dùng trong nghĩa rộng của tục ngữ, và những tài liệu từ vựng cố định được đóng lại thì gọi là “nghĩa hẹp của tục ngữ”, gọi tắt là tục ngữ Nên tục ngữ là “cộng một địa vị và cấp bậc” với thành ngữ, ngạn ngữ, yết hậu ngữ và từ ngữ quen dùng

c) Cách lí giải theo nghĩa rộng 《Cổ kim tục ngữ》của ông Khuất Phác cho rằng, “ Cái gọi là tục ngữ nghĩa hẹp, bất cứ là chỉ ngạn ngữ, từ ngữ quen dùng hay là lời nói thô tục, đều không thể phản ánh được toàn

bộ tình hình của khái niệm tổng thể và hình thái đã được hình thành trong lịch sử Hán ngữ”; chỉ có những tục ngữ nghĩa rộng thông thường, tức là

“tục ngữ Hán ngữ là chỉ những từ tổ định hình hoá hoặc là hướng về định hình hoá, bao gồm thành ngữ cửa miệng, ngạn ngữ, cách ngôn, yết hậu ngữ, cụm từ quen dùng và lời nói thô tục, chúng mới là nội dung cơ bản của khái niệm tổng thể và bộ phận chủ thể hình thái ngữ thể của tục ngữ Hán ngữ ” [6,tr16,17]Nên quan hệ giữa tục ngữ và thành ngữ, ngạn ngữ, cách ngôn, yết hậu ngữ, từ ngữ quen dùng, lời nói thô tục là “quan hệ giữa chủng và loại”

1.2.2 Tính chất và phạm vi của tục ngữ

Người ta có thể xác định tính chất và phạm vi của tục ngữ như thế nào? Trước hết, phải làm rõ thế nào là “ngữ”

Trước đây, có một cách nói khá phổ biến, cách nói này cho rằng

Trang 19

tính chất và chức năng của “ngữ” tương đương với một từ Rất nhiều học gỉả chấp nhận cách nói này và cách nói này được viết vào tài liệu giảng dạy, hình như đã thành định luận Nhưng có học giả nêu thắc mắc, họ cho rằng tuy “ngữ” và “từ” có điểm chung, ví dụ đều là đơn vị ngôn ngữ, nhưng điểm không thống nhất giữa “ngữ” và “từ” mới quan trọng hơn Có thể tổng kết có bốn điểm không thống nhất:

a “Ngữ” là sự tổ hợp của từ và từ, nó lớn hơn đơn vị ngôn ngữ của từ;

b “Ngữ” là đơn vị ngôn ngữ mang tính tự thuật mà không phải là mang tính khái niệm;

c Tính cố định kết cấu của “ngữ” mang tính chất tương đối;

d Nói về góc độ ngữ pháp thì chức năng của “ngữ” nhiều hơn

“từ”

Nên chúng ta có thể định nghĩa “ngữ” là đơn vị ngôn ngữ có tính tự thuật hình thành do sự tổ hợp từ và từ, kết cấu tương đối cố định, là đơn vị ngôn ngữ tính tự thuật mang nhiều chức năng

Thứ hai, phải làm rõ “ngữ” là một hệ thống Ông Vương Lực nói:

“ Tính hệ thống ngữ âm và ngữ pháp của một loại ngôn ngữ đều rất dễ hiểu, nhưng chỉ có tính hệ thống của từ vựng thường bị người ta coi nhẹ, người ta nghĩ là mỗi một từ trong từ vựng rời rạc như cát vụn, thực ra từ và từ có liên hệ mật thiết.”[11,tr545] “Ngữ” cũng không phải rời rạc như cát vụn, ngữ và ngữ còn có liên hệ chặt chẽ, từ vựng cũng có tính hệ

Trang 20

thống

Thứ ba, tục ngữ phải phân biệt rõ “nhã” và “tục”

Trong văn hiến có thể biết, “ngữ”ở thời trước Tần đa số là tục ngữ Trước “ngữ” thường thêm “bỉ”(鄙), “dã”(野), “lí”(里,俚) v.v Điều này có thể cho rằng “ngữ” mang tính dân gian Nhưng mà từ vựng là một hệ thống, tình hình nội bộ không đơn giản

Trong hệ thống từ vựng, ngoài tục ngữ ra còn có “nhã ngữ” Nhã ngữ đều tập trung trong thành ngữ, đặc trưng chủ yếu là xuất phát từ hệ thống văn bản, cấu trúc nhã ngữ đa số là thành phần văn ngôn

Ngoài nhã ngữ ra, các thành viên khác trong hệ thống từ vựng đều là tục ngữ Tục ngữ không những mang đặc điểm của ngữ (ví dụ tục ngữ là sự tập hợp của từ và từ, kết cấu tương đối cố định, là đơn vị ngôn ngữ tính tự thuật mang nhiều chức năng) ra, còn có hai đặc điểm sau:

Thứ nhất, tục ngữ là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, có tính quần chúng;

Thứ hai, tục ngữ chủ yếu sử dùng trong dân gian, có tính khẩu ngữ và tính thông tục

Thông qua phân tích những vấn đề trên, chúng ta có thể định nghĩa tục ngữ là những đơn vị trong từ vựng Hán ngữ do quần chúng nhân dân sáng tạo, sử dụng và lưu truyền trong dân gian, mang tính khẩu ngữ và tính thông tục

Theo định nghĩa này, tục ngữ trước hết phải bao gồm ngạn ngữ

Trang 21

Ông Lư Thúc Tương cho rằng ngạn ngữ là “tục ngữ điển hình”[5] Quan điểm này rất hợp với quan niệm truyền thống của nhân dân Trung Quốc, cũng hợp với thực tế của Hán ngữ từ cổ chí kim

Ngoài ngạn ngữ ra, tục ngữ phải bao gồm yết hậu ngữ và từ ngữ quen dùng, còn những thành ngữ cửa miệng, tức là tục thành ngữ Vì tục thành ngữ và nhã thành ngữ có tính chặt chẽ về mặt kết cấu, có tính mơ hồ về mặt giới hạn, đa số tác phẩm và từ điển nghiên cứu thành ngữ đều đã liên quan tới tục thành ngữ và nhã thành ngữ, nên khi thảo luận về vấn đề tục ngữ thì không bao gồm tục thành ngữ

1.2.3 Phân loại tục ngữ tiếng Hán

Như đã kể trên, tục ngữ phải bao gồm ngạn ngữ, cụm từ quen dùng và yết hậu ngữ Ở đây, chúng ta có thể định nghĩa ngạn ngữ, cụm từ quen dùng và yết hậu ngữ trước

Nói một cách khái quát, ngạn ngữ là kết quả kinh nghiệm thực tế của con người, thường được biểu hiện qua những từ ngữ tốt đẹp, có thể sử dụng trong đời sống hàng ngày, là những ngữ ngôn có thể quy định hành vi của con người Cụm từ quen dùng là một loại từ tổ cố định thường được sử dụng trong cuộc sống, cách thức thường là cố định ba âm tiết, nhưng có kết cấu linh hoạt và mang mầu sắc tu từ mạnh mẽ Yết hậu ngữ là một loại hình thức ngôn ngữ đặc biệt mà xuất phát từ thực tiễn trong đời sống nhân dân Trung Quốc, nó thú vị, ngắn gọn và giàu hình ảnh Yết hậu ngữ do hai bộ phận cấu thành, bộ phận trước có tác dụng

Trang 22

“dẫn dắt”, giống như ra câu đố, bộ phận sau thì là lời giải câu đố, nên trong đời sống hàng ngày người ta rất thích nói yết hậu ngữ

Tục ngữ bao gồm ngạn ngữ, cụm từ quen dùng và yết hậu ngữ đã dần dần trở thành nhận thức chung của người ta Vấn đề trước mắt là phân loại tục ngữ có thể sử dụng tiêu chuẩn gì, phải xác định phạm vi của các ngữ loại, phải làm rõ biên giới của các ngữ loại

Khi thảo luận về tính chất của ngữ, chúng tôi nhấn mạnh ngữ là đơn vị ngôn ngữ tự thuật Tính tự thuật là đặc trưng chủ yếu để khác biệt ngữ và những đơn vị ngôn ngữ đã định hình như từ, chuyên danh ngữ, chuyên dùng ngữ Khi phân loại tục ngữ phải chú ý đặc trưng này Lấy nội dung và phương thức tự thuật làm tiêu chuẩn, tục ngữ có thể chia thành ba loại sau:

(1) Biểu thuật ngữ

Đặc điểm của biểu thuật ngữ là có tính tri thức, nội dung rất phong phú, vừa có nhận thức của sự vật khách quan, vừa có kinh nghiệm thực tiễn trong xã hội Ngạn ngữ thuộc về biểu thuật ngữ Phương thức trình bày của biểu thuật ngữ rất đa dạng Có thể là trực trần, có thể là tỉ dụ Bất cứ sử dụng phương thức gì, biểu thuật ngữ đều thông qua nhận định hoặc là suy lí để thể hiện nhận thức tư tưởng Ví dụ: 巧妇难为无米之炊(Không có gạo, tuy vợ khéo tay cũng không thể nấu được cơm)

(2) Miêu tả ngữ

Đặc điểm của miêu tả ngữ là miêu tả hình tượng và tình trạng con

Trang 23

người hoặc sự vật, miêu tả tình trạng của hành vi động tác Từ ngữ quen dùng thuộc về miêu tả ngữ Miêu tả ngữ cũng sử dụng thủ pháp trực trần, mở rộng và tỉ dụ Nhưng so với biểu thuật ngữ thì tất cả miêu tả ngữ đều không đủ tính tri thức và không sử dụng phương thức tư duy lôgíc như nhận định, suy lí Ví dụ: 打牙祭(Được bữa sướng miệng)

(3) Viện dẫn ngữ

Đặc điểm của viện dẫn ngữ là nó được tổ chức bởi hai bộ phận mào đầu và tự thuật mang tính chú thích Viện dẫn ngữ thường được gọi là yết hậu ngữ ví dụ: 哑巴吃黄连——有苦说不出(Người câm ăn quả hoàng liên khổ nhưng không nói ra được.)

Chúng tôi chia tục ngữ thành ba loại “biểu thuật ngữ——ngạn ngữ”, “miêu tả ngữ——cụm từ quen dùng” và “viện dẫn ngữ——yết hậu ngữ”, đây là phân loại tầng thứ nhất của tục ngữ Các ngữ loại cũng có thể phân loại nữa, và cấu thành hệ thống phân loại của tục ngữ Phân loại tục ngữ theo nhiều góc độ khác, còn có thể phá vỡ giới hạn giữa ngạn ngữ, từ ngữ quen dùng và yết hậu ngữ, chẳng hạn có thể phân loại theo ngữ nghĩa

1.3 Về khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt

1.3.1 Cách hiểu thành ngữ trong tiếng Việt

Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong vốn từ của một ngôn ngữ Tiếng Việt có một khối lượng thành ngữ rất lớn, phong phú và đa

Trang 24

dạng Cùng phát triển với tiếng nói dân tộc, thành ngữ dần dần hình thành, được nhân dân sử dụng như một công cụ giao tiếp chung Phát triển thành ngữ là một trong những cách tốt để bổ sung cho vốn từ Thành ngữ đã góp phần làm giàu, làm đẹp cho tiếng Việt về nhiều phương diện

Mặt khác, do được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài của nhân dân Việt Nam, thành ngữ lại là những cụm từ cố định, hay những ngữ cố định, có nội dung ngữ nghĩa sâu rộng, nên nó cũng giữ được nhiều khái niệm thuộc về truyền thống Những khái niệm này đã phản ánh nhiều mặt tri thức về giới tự nhiên và đời sống xã hội của các thời đại đã sản sinh ra nó trên đất nước Việt Nam

Trước Cách mạng tháng Tám, những sách sưu tập tục ngữ, ca dao đều sắp xếp lẫn lộn tục ngữ và thành ngữ Vũ Ngọc Phan chỉ ra: “ Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn Về mặt hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải một câu hoàn chỉnh ”[18,tr21] và “Nội dung của thành ngữ là nội dung của những khái niệm”

Nguyễn Lực chỉ ra ba đặc tính của thành ngữ tiếng Việt:

a.) Về mặt kết cấu hình thái, thành ngữ tiếng Việt phổ biến thuộc loại cụm từ cố định, cũng có thể có thành ngữ tính cố định cao, kết cấu vững chắc, đạt mức một ngữ cố định

b.) Ngoài kết cấu hình thái, còn cần phải xem về mặt biểu hiện

Trang 25

nghĩa của thành ngữ

c ) Xem xét quá trình vận động và sử dụng thành ngữ tiếng Việt cũng là một vấn đề phức tạp [16,tr10,11,12]

Hoàng Văn Hành cho rằng: theo cách hiểu thông thường thì thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày, đặc biệt là trong khấu ngữ.[10,tr 31]

Tính cố định về hình thái – cấu trúc của thành ngữ được thể hiện ở những đặc điểm sau:

Một là, thành phần từ vựng của thành ngữ, nói chung là ổn định, nghĩa là, các yếu tố tạo nên thành ngữ hầu như được giữ nguyên trong sử dụng, mà trong nhiều trường hợp không thể thay thế bằng các yếu tố khác Hai là, tính bền vững về cấu trúc của thành ngữ thể hiện ở sự cố định về trật tự các thành tố tạo nên thành ngữ

Tính bền vững về hình thái – cấu trúc của thành ngữ có nhiều nguyên nhân khác nhau:

a Có thể đó là hệ quả của quá trình mờ nhạt về ngữ nghĩa của các thành tố và những mối quan hệ ngữ pháp giữa chúng Các yếu tố này mất

đi mối liên hệ ngữ nghĩa với các yếu tố xung quanh, do đó ít nảy sinh quan hệ thay thế

b Có thể do đặc điểm nguồn gốc của thành ngữ từ truyện cổ tích, truyền thuyết, điển cố sách vở

Trang 26

c Có thể do tính vần điệu, tiết tấu, quan hệ đối, điệp

d Tính thoả đáng về biểu thị

e Tính không bình, thường về cú pháp

Tính ổn định, cố định về thành phần từ vựng và cấu trúc của thành ngữ hình thành là do thói quen sử dụng của người bản ngữ Dạng ổn định của thành ngữ là dạng chuẩn, mang tính xã hội cao Cái dạng chuẩn này của thành ngữ không phải là “chết cứng”, mà trong sử dụng, nó vẫn linh hoạt Nói là chuẩn nghĩa là có sự bắt buộc, có tính quy định của xã hội nhưng không vì thế mà hạn chế sự sáng tạo của cá nhân, đặc biệt là của những cây bút tài năng Tính bền vững của thành ngữ trong hệ thống chuẩn và tính linh hoạt của nó trong sử dụng là hai mặt không hề mâu thuẫn, không hề loại trừ nhau

Đặc trưng nổi bật thứ hai của thành ngữ là tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa Nó biểu thị những khái niệm hoặc hiểu tượng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật Nói một cách khác, thành ngữ là những đơn vị định danh của ngôn ngữ Nội dung của thành ngữ không hướng tới điều được nhắc đến trong nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên thành ngữ, mà ngụ ý điều gì đó suy ra từ chúng

1.3.2 Nguồn gốc của thành ngữ tiếng Việt

Giống như các từ trong ngôn ngữ, thành ngữ là những đơn vị có sẵn, xuất hiện dần dần từ nhiều nguồn, vào nhiều thời điểm khác nhau và

Trang 27

được sử dụng rộng rãi, tự nhiên trong đời sống xã hội Các kết quả nghiên cứu đã xác nhận rằng các yếu tố tạo nên thành ngữ vốn là những từ độc lập, tức những đơn vị định danh có nghĩa từ vựng và chức năng cú pháp ổn định Nhưng trong hệ thống thành ngữ của mỗi ngôn ngữ cũng có những thành ngữ, xét trên qua điểm đương đại, không dễ dàng nhận biết được ý nghĩa của các yếu tố; do đó, việc suy xét nghĩa thành ngữ cũng như việc tìm kiếm nguồn gốc của nó trở nên khó khăn hơn

Quan hệ giữa các yếu tố trong thành ngữ, xét về cú pháp, âm vận và ngữ nghĩa nói chung là rõ ràng, có quy luật Song cũng có khá nhiều trường hợp, các yếu tố cấu tạo thành ngữ kết hợp với nhau không theo luật thường mà theo lối nói tắt, nói gộp hoặc theo cách kết hợp, cách so sánh lạ, bất ngờ khiến cho việc nhận biết nội dung toàn thành ngữ và việc tìm kiếm xuất xứ của nó trở nên rất khó khăn

Ngoài ra, việc tồn tại các biế́́́n thể thành ngữ biểu đạt cùng một ý nghĩa hay biểu đạt các ý nghĩa, các sắc thái nghĩa khác nhau, cũng gây khó khăn đáng kể cho việc luận giải nghĩa thành ngữ và truy tìm xuất xứ của nó

Nhưng nhờ vào khảo sát những trường hợp phổ biến, có quy luật về ngữ nghĩa, cấu tạo của thành ngữ của các ngôn ngữ khác nhau, người

ta cũng phát hiện ra được những nguồn chủ yếu, phổ biến, tạo nên hệ thống thành ngữ của một ngôn ngữ Có mấy con đường hình thành hệ thống thành ngữ của tiếng Việt như sau:

Trang 28

Sử dụng thành ngữ tiếng nước ngoài dưới các hình thức khác nhau

Trong tiếng Việt, thành ngữ vay mượn nước ngoài chủ yếu là các thành ngữ gốc Hán được đọc theo âm Hán Việt Những thành ngữ này khi mượn vào tiếng Việt, có thể được giữ nguyên hình thái – ngữ nghĩa, dịch từng chữ(một phần hoặc tất cả các yếu tố), hoặc dịch nghĩa chung của thành ngữ, có thay đổi trật tự các yếu tố cấu tạo

Những thành ngữ mượn được sử dụng trong hình thức nguyên dạng chiếm tỉ lệ khá lớn so với toàn bộ thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt Theo thống kê, trong tổng số 354 thành ngữ mượn từ tiếng Hán trong tiếng Việt, có 71 thành ngữ giữ nguyên dạng, chiếm khoảng 20% [10,tr 45]

Hầu hết thành ngữ gốc Hán đều được mượn từ tiếng Hán Bạch thoại Song , do quá trình tiếp xúc trực tiếp giữa người Việt với dân cư Trung Quốc là người Quảng Đông, Quảng Tây, trong tiếng Việt xuất hiện một ít thành ngữ mượn nguyên dạng nhưng được đọc theo âm Quảng Đông

Thành ngữ gốc Hán mượn nguyên dạng chủ yếu dùng trong văn viết và mang tính chất sách vở rõ rệt Chúng ta có thể tìm thấy các thành ngữ này trong các tác phẩm văn học cổ, trong văn phong chính luận trước và nay Xin dẫn một ví dụ trong bài viết của Hồ Chí Minh: “Việt Nam ta

có câu tục ngữ có thực mới vực được đạo, Trung Quốc cũng có câu tục

Trang 29

ngữ dân dĩ thực vi tiên.”

Thành ngữ mượn Hán được dùng trong hình thức dịch một bộ phận ra tiếng Việt, giữ nguyên bộ phận còn lại và cấu trúc thành ngữ gốc

Ví dụ, dịch yếu tố hữu thành có trong thành ngữ hữu thủy hữu chung tạo thành một hình thức mới có thuỷ có chung

Thành ngữ mượn từ tiếng Hán được dùng trong hình thức dịch toàn bộ các yếu tố ra tiếng Việt tương đương và giữ nguyên cấu trúc Ví

dụ: ra sống vào chết dịch từ xuất sinh nhập tử, cưỡi ngựa xem hoa dịch từ tẩu mã khán hoa, đứng ngồi không yên dịch từ toạ lập bất án

Thành ngữ mượn được dùng trong hình thức dịch nghĩa chung của

thành ngữ ra tiếng Viết Ví dụ, miệng ăn núi lở được dịch từ toạ thực sơn băng, đủ ăn đủ mặc được dịch từ phong y túc thực

Cả bốn tiểu loại này đều có biến thể đồng nghĩa trong sử dụng theo cặp nguyên dạng – dịch (từng chữ, dịch ý) Ví dụ, chúng ta đều gặp

trong văn bản các hình thức như trăm trận trăm thắng và bách chiến bách thắng hoặc có chung có thuỷ bên cạnh có trước có sau Điều này khiến

cho thành ngữ gốc Hán có được giá trị sử dụng đặc biệt linh hoạt, dễ thích hợp với các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau Ngoài thành ngữ gốc Hán, trong tiếng Việt còn có một số thành ngữ được mượn từ ngôn ngữ của các dân tộc anh em, hoặc từ các ngôn ngữ Ấn, Âu, Anh, Mỹ nhưng số lượng không đáng kể

Bộ phận chủ yếu của hệ thống thành ngữ tiếng Việt là những đơn

Trang 30

vị được cấu tạo từ chất liệu Việt ngữ bằng ba con đường sau đây: định danh hoá các tổ hợp từ tự do, tạo thành ngữ mới theo mẫu của thành ngữ đã có trước và liên kết các thành ngữ có nguồn gốc khác nhau tạo thành một thành ngữ có nguồn gốc khác nhau tạo thành một thành ngữ mới Trong số các phương thức trên, phương thức biến tổ hợp tự do thành thành ngữ và phương thức loại suy theo mẫu có sẵn giữ vai trò quan trọng hàng đầu

Định danh hoá các tổ hợp từ tự do thành một cụm từ cố định, có tính ổn định về thành phần, chặt chẽ về cấu trúc, chỉnh thể về ngữ nghĩa Điểm khác nhau chủ yếu giữa tổ hợp từ tự do và thành ngữ là ở chỗ, các yếu tố cấu tạo nên chúng mang những thuộc tính khác nhau Nói một cách khái quát, tổ hợp từ tự do không có ý nghĩa từ vựng vì không phải là đơn vị của hệ thống từ vựng ngôn ngữ Ngược lại, trong thành ngữ, các yếu tố cấu tạo tuy vốn có nguồn gốc là từ, nhưng các thuộc tính của từ (như có ý nghĩa từ vựng, có chức năng cú pháp) đã nhược hoá hoàn toàn

Ở đây, ý nghĩa từ vựng của các yếu tố đã tan biến đi, thay vì nó là ý nghĩa quan hệ biểu trưng bậc hai; quan hệ cú pháp giữa các yếu tố bị đứt gãy, mờ nhạt, thay vào đó là các mối liên hệ nội tại giữa các yếu tố bên trong một chỉnh thể

Từ tổ hợp từ tự do đến thành ngữ là quá trình chuyển từ quan hệ cú pháp thành quan hệ hình thái Hệ quả của quá trình này là hiện tượng cố định hoá thành phần và cấu trúc của tổ hợp tự do, hiện tượng nhược

Trang 31

hoá ngữ nghĩa của các thành tố từ nghĩa đen, nghĩa sự vật – từ vựng đến nghĩa bóng, nghĩa liên đới, khái quát và hiện tượng nảy sinh nghĩa từ vựng mới có tính biểu trưng, vốn không có trong các thành tố của nó trong tổ hợp từ tự do – tiền thân của thành ngữ

Thông qua phân tích quan điểm giao tiếp ngôn ngữ, nguyên nhân của việc chuyển từ tổ hợp tự do thành thành ngữ chính là nhu cầu về sự phản ánh một cách cô đọng hình ảnh các khái niệm vốn đã có cái biểu đạt trước đó trong ngôn ngữ

Phổ biến hơn cả là những thành ngữ xuất hiện bằng con đường mô phỏng theo mẫu cấu trúc của các thành ngữ đã có trước Ưu thế của phương thức này là cho phép tạo ra một cách dễ dàng, nhanh chóng và hàng loạt các thành ngữ có thành ngữ tính cao, trong thời hạn ngắn Nói cách khác, phương thức này cho phép tạo ra được các đơn vị thành ngữ tính không cần qua thời gian sử dụng lâu dài như phương thức thành ngữ hoá từ tổ nói trên

1.4 Về khái niệm tục ngữ trong tiếng Việt

1.4.1 Cách hiểu của tục ngữ trong tiếng Việt

Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là "trí khôn dân gian" Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt

Trang 32

bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn

Với các đặc thù như ngắn gọn, dễ nhớ, giàu hình tượng, giàu nhịp điệu, gần gũi với mọi người mà tục ngữ là một loại hình văn hóa dân gian

có mối quan hệ mật thiết nhất với lời ăn tiếng nói của nhân dân

Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau những kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ

Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác Nó được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài

Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu

tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Tục ngữ có tính

chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ

Trang 33

Đa số các câu tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách Các kiểu ngắt nhịp thường dựa vào cơ sở: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ Hình thức đối: đối thanh, đối ý Thường thường tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán

Qua các tài liệu sáng tác văn học ở Việt Nam, trong tình hình thư tịch như hiện nay, cho phép khẳng định các công trình nghiên cứu về tục ngữ đã bắt đầu xuất hiện ở khoảng đầu thế kỷ XIX, được biên soạn bằng cả chữ Nôm và chữ quốc ngữ Điển hình là các công trình bằng chữ Nôm như “Nam phong nữ ngạn thi” của Ngô Đình Thái (thế kỷ 19), “Đại nam quốc túy ” của Ngô Giáp Đậu (thế kỷ 19), và một số tác phẩm khuyết danh như “Khẩu sử ký”, “Phong ngôn tục ngữ”,….Các công trình bằng chữ quốc ngữ thì rất phong phú: “Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn” của Huỳnh Tịnh Của (xuất bản năm 1897), “Sách truyện biến ngôn và tục ngữ thường dùng cùng phép lịch sự” (khuyết danh, năm 1907), “Nam ngạn chính cẩm” của Phạm Quang San (2 tập, năm 1918), “Tục ngữ cách ngôn” của Hàn Thái Dương (năm 1920), “Phong dao, ca dao, phương ngôn, tục ngữ ” của Nguyễn Văn Chiểu (năm 1936),…Đây mới chỉ là các công trình đã được đăng lên báo chí, còn trên thực tế thì số lượng các công trình nghiên cứu về tục ngữ có thể còn nhiều hơn

Công trình sưu tập tục ngữ công phu nhất, có nội dung phong phú

Trang 34

nhất trong thời kỳ này phải kể đến “Tục ngữ phong dao” của Nguyễn Văn Ngọc, xuất bản lần đâu năm 1928 Riêng tập 1 của bộ sách này đã giới thiệu khoảng 6500 câu tục ngữ và thành ngữ, cho tới hiện nay ở Việt Nam

nó vẫn được coi là một trong những công trình sưu tập tục ngữ Việt Nam

có qui mô lớn nhất

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, có thêm một số các tác phẩm sưu tập, biên soạn tục ngữ có qui mô như tác phẩm của Nguyễn Văn Ngọc, như “Tục ngữ và dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan được xuất bản lần đầu năm 1956, sau đó bộ sách này được đổi tên là “ Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” vào năm 1971 ở lần in thứ 7, có sửa chữa và bổ sung; một tác phẩm đồ sộ khác là “ Hợp tuyển văn học Việt Nam” tập 1 được xuất bản năm 1972, tác phẩm này đã tuyển chọn giới thiệu 365 câu tục ngữ, v.v

Những cách hiểu về tục ngữ và con số thống kê trên đây đã được ông Chu Xuân Diên trình bảy trong cuốn “Tục ngữ Việt Nam” Chúng tôi hoàn toàn đồng ý cách hiểu về tục ngữ như vậy, vì cách hiểu này có thể dễ hiểu hơn với người nước ngoài Chúng tôi coi đây là cơ sở lý thuyết để nghiên cứu đề tài của luận văn

1.4.2 Phân biệt tục ngữ và thành ngữ trong tiếng Việt

Tất cả các công trình sưu tập trên đã đóng góp vào việc bảo tồn và giới thiệu được một phần quan trọng vốn tục ngữ cổ truyền của dân tộc

Trang 35

Việt Nam Trước tiên quan sát phương pháp biên soạn của các công trình này sẽ thấy, hầu hết các tác phẩm giới thiệu trên đây đều không giới thiệu riêng biệt giữa tục ngữ và ca dao, thành ngữ, đặc biệt là không phân biệt với thành ngữ Tục ngữ và thành ngữ ít khi được người ta xem xét một cách rạch ròi như là hai loại hình sáng tạo dân gian khác nhau, thể hiện rõ

nét nhất là phần đông đều quan niệm rằng Tục ngữ và Thành ngữ đều là những hiện tượng ngôn ngữ

Quan niệm mơ hồ, coi tục ngữ cũng như thành ngữ đều là những hiện tượng ngôn ngữ như vậy có liên quan tới khuynh hướng chọn cách trình bày tục ngữ theo những tiêu chí hoàn toàn có tính chất hình thức.Đó

là cách trình bày tục ngữ theo trật tự ABC của các chữ cái đầu câu và theo trật tự số chữ ít nhiều của mỗi câu Những người biên soạn tục ngữ sau đó nhận thấy rằng cách trình bày theo những tiêu chí hoàn toàn có tính chất hình thức chưa phản ánh được bản chất của tục ngữ; do đó một số người đã tìm đến với cách trình bày tục ngữ theo những tiêu chí nội dung, theo đề tài của tục ngữ Cách trình bày này ngày càng được các nhà sưu tập, biên soạn tục ngữ Việt Nam áp dụng rộng rãi, chứng tỏ tục ngữ ngày càng được xem như là một hiện tượng ý thức xã hội chứ không phải chỉ như là một hiện tượng ngôn ngữ Một số ví dụ điển hình như “Tục ngữ ca dao dân ca” của Vũ Ngọc Phan, “Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội” của Triệu Dương, Phạm Hòa, Tảo Trang, Chu Hà…

Trong quá trình đi tìm sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ, thì

Trang 36

ý kiến của Dương Quảng Hàm trong sách Việt Nam văn học sử yếu (xuất

bản lần đầu năm 1943) là một trong những ý kiến được chú ý, ông viết:

“Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [8,tr15], với cách nói này thì thấy bộc lộ ra tục ngữ được coi là một hiện tượng ý thức xã hội mà thành ngữ chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ Nhưng Vũ Ngọc Phan vẫn nhận xét rằng định nghĩa như vậy cũng vẫn chưa được rõ lắm, vì chưa đề ra được các tiêu chí cụ thể để phân biệt tục

ngữ với thành ngữ Sau đó, trong sách Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan đã viết như sau “Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn

một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê

phán Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu,

mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn” [18, tr31] Ở đây rõ ràng sự phân biệt tục ngữ với thành ngữ được dựa trên hai tiêu chí là: Sự khác nhau trong nội dung và kết cấu ngữ pháp của tục ngữ và thành ngữ

Trong cách nhìn của ngữ nghĩa học, thì tục ngữ không chỉ là câu theo cách hiểu thông thường và nội dung của nó cũng không phải chỉ là phán đoán Có thể nhận định tục ngữ là câu - thông điệp nghệ thuật Khi nói tục ngữ là câu - thông điệp nghệ thuật, là cùng một lúc chúng ta đã chú ý đến hai đặc trưng bản chất, không tách rời nhau của nó:

Trang 37

Một là, tục ngữ là câu, nhưng là loại câu đặc biệt, khác với mọi câu nói thông thường ở từ cách của nó là làm thông điệp nghệ thuật

Hai là, tục ngữ là thông điệp nghệ thuật, nhưng là loại thông điệp nghệ thuật đặc biệt, khác với mọi thông điệp nghệ thuật khác ở chỗ hình thức của nó chỉ là một câu

Từ hai đặc trưng bản chất này, có thể thấy tục ngữ là chỉnh thể có cấu trúc đa diện Nên không thể chỉ thấy mặt này mà không thấy mặt kia trong cấu tạo của nó

Tục ngữ cũng như ca dao, “rất hay mà lại ngắn” (Hồ Chí Minh,

1960, tr.698), lời ít mà ý nhiều, giản dị mà sâu sắc, cá biệt mà điển hình Mỗi tục ngữ là một thông điệp nghệ thuật Vì thế, muốn tiếp cận tục ngữ một cách có hiệu quả thì không thể không tính đến những đặc trưng bản chất của nó

Xem vậy dù thấy thành ngữ và tục ngữ tuy có một số nét tương đồng có thể chuyển hoá lẫn nhau, những về bản chất là khác nhau, xét cả về hình thái cấu trúc cũng như về mặt ngữ nghĩa, nội dung biểu đạt và chức năng của chúng trong giao tiếp xã hội

Trong cách nhìn của ngôn ngữ học tri nhận với việc nghiên cứu không gian, thời gian Hữu Đạt chỉ rằng: “con người cũng như bất cứ sự vật, hiện tượng nào tồn tại trong thế giới đều liên quan chặt chẽ với không gian, thời gian Nói cách khác, không có sự vật hiện tượng nào lại tồn tại bên ngoài không gian, thời gian ” [6,tr 12] Nên nghiên cứu thành

Trang 38

ngữ, tục ngữ bằng phương pháp của ngôn ngữ học tri nhận sẽ giúp chúng tôi nhìn thấy mối quan hệ bên trong giữa mô hình nhận thức của tư duy với cấu trúc ngôn ngữ Chẳng hạn, để tạo ra một loạt các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến “văn hóa ăn”, “văn hóa mặc”, người Việt trước hết nhận thức “ăn như thế nào?” và “mặc như thế nào?” Trả lời cho các câu hỏi này, ăn và mặc sẽ hướng đến các nghĩa: sướng/khổ, nhiều/ít, đẹp/xấu [6,tr 29]

Thành ngữ, tục ngữ giữa hai nước có rất nhiều điểm giống và khác nhau Nhưng trong phạm vi của luận văn, tôi xin phân tích và so sánh các câu thành ngữ, tục ngữ có chủ đề về cách ăn cách mặc trong tiếng Hán và tiếng Việt

CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC VÀ PHƯƠNG THỨC TẠO NGHĨA

Trang 39

CỦA CÁC THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN CÁCH ĂN

CÁCH MẶC TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT

2.1 Đặc điểm về cấu trúc các thành ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Hán

Trong thành ngữ tiếng Hán, thành ngữ bốn âm tiết chiếm một số lượng lớn vì vậy chúng tôi sẽ trình bày một số khái niệm liên quan đến thành ngữ bốn âm tiết trước

2.1.1 Khái niệm về thành ngữ bốn âm tiết trong tiếng Hán

Trong thành ngữ tiếng Hán, thành ngữ bốn âm tiết chiếm tỷ lệ khá lớn nên có nhiều người hiểu sai khái niệm này Họ cho rằng thành ngữ phải có bốn âm tiết Trên thực tế thành ngữ cũng có thể có ba âm tiết, năm âm tiết, sáu âm tiết, tám âm tiết và mười sáu âm tiết Ví dụ: 民以食

为天 ( dân dĩ thực vi thiên),不食人间烟火 (chẳng ăn thức ăn chín trên trần thế), 饱食终日,无所用心 ( chỉ biết ăn cả ngày không đi làm gì cả) v.v

Vì sao thành ngữ bốn âm tiết có thể chiếm phần lớn và thành ngữ bốn âm tiết hình thành như thế nào? Theo ý tôi có ba lý do sau đây:

a Thành ngữ chủ yếu xuất xứ từ ca dao, ngạn ngữ Ca dao, ngạn ngữ được lưu truyền bằng hình thức truyền khẩu, và có rất nhiều ca dao, ngạn ngữ có cấu tạo bốn âm tiết

b Thành ngữ còn xuất phát từ tác phẩm văn học, trong tiếng Hán

Trang 40

cổ có nhiều từ đơn âm Văn nhân chủ yếu sử dụng từ đơn âm, thông qua suy nghĩ tỉ mỉ sáng tạo ra những câu ngắn bốn chữ, rồi dần dần trở thành thành ngữ

c Trong xã hội phong kiến, rất nhiều thành ngữ phi bốn chữ được hoàn thiện thành thành ngữ bốn chữ

2.1.2 Cấu trúc của thành ngữ liên quan đến cách ăn, cách mặc trong tiếng Hán

Vì thành ngữ tiếng Hán phần lớn là loại bốn âm tiết nên nó có tính đối xứng và tính đối ứng Về mặt cấu trúc, thành ngữ tiếng Hán thường được chia thành 7 loại là: 主谓结构 (kết cấu chủ vị), 述宾结构 (kết cấu thuật tân), 述补结构 (kết cấu thuật bổ), 状心结构 (kết cấu trạng tâm), 并列结构 (kết cấu song song), 承接结构 (kết cấu tiếp nối), 定心结构 (kết cấu định tâm)

2.1.2.1 Kết cấu “chủ vị”

Kết cấu của loại thành ngữ này do chủ ngữ và vị ngữ cấu thành Trong kết cấu “chủ vị” có nhiều hình thức tổ chức khác nhau nên có thể chia thành các tiểu loại khác nhau, có thể phân tích các tiểu loại thông qua các thành ngữ như sau:

Loại a: loại này do một kết cấu thứ cấp song song và một từ hai

âm tiết cấu thành Hai từ trước là danh từ chuyên dụng hoặc là từ hai âm tiết Hai từ sau là kết cấu “thuật bổ” hoặc kết cấu “chủ vị”

Ngày đăng: 15/03/2021, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w