1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách tự sự trong phim của trần anh hùng qua ba bộ phim

103 83 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các phim đó, có ba bộ phim: Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng được thực hiện với Bối cảnh và Con người Việt Nam qua phong cách kể chuyện ấn tượng của đạo diễn Trầ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

=====  =====

LÝ ANH TÂM

PHONG CÁCH TỰ SỰ TRONG PHIM CỦA TRẦN ANH HÙNG

QUA BA BỘ PHIM: MÙI ĐU ĐỦ XANH, XÍCH LÔ

VÀ MÙA HÈ CHIỀU THẲNG ĐỨNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

=====  =====

LÝ ANH TÂM

PHONG CÁCH TỰ SỰ TRONG PHIM CỦA TRẦN ANH HÙNG

QUA BA BỘ PHIM: MÙI ĐU ĐỦ XANH, XÍCH LÔ

VÀ MÙA HÈ CHIỀU THẲNG ĐỨNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Mã số: 60210231

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Tiến sĩ PHÙNG NGỌC KIÊN

Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Chuyên ngành: Văn học phương Tây, Nghệ thuật học

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài 6

1.1 Mục đích: 6

1.2 Ý nghĩa: 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

3.1 Đối tượng: 12

3.2 Phạm vi nghiên cứu: 12

4 Phương pháp nghiên cứu 13

4.1 Phương pháp: 13

4.2 Cơ sở lý luận: 14

4.3 Giả thuyết khoa học: 14

5 Cấu trúc của luận văn 15

CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG 16

1.1 Các lý thuyết nghiên cứu 16

1.1.1 Lý thuyết tác giả: 16

1.1.2 Giao lưu và tiếp biến văn hóa: 19

1.1.3 Tự sự và phong cách tự sự 20

1.2 Giới thiệu về đạo diễn Trần Anh Hùng 21

1.2.1 Tiểu sử, sự nghiệp: 21

1.2.2 Phong cách sáng tác: 22

1.3 Các phim tiêu biểu của đạo diễn Trần Anh Hùng 23

1.3.1 Mùi đu đủ xanh (L'odeur de la Papaye verte) – 1993 23

Trang 4

1.3.2 Xích lô (Cyclo) – 1995 25

1.3.3 Mùa hè chiều thẳng đứng (À la verticale de l'été) – 2000 27

CHƯƠNG II: TẠO HÌNH CÂU CHUYỆN 30

2.1 Tạo hình 30

2.1.1 Bối cảnh, nhân vật: 30

2.1.1.1 Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte) 31

2.1.1.2 Xích lô (Cyclo) 37

2.1.1.3 Mùa hè chiều thẳng đứng (The Vertical Ray of the Sun) 42

2.1.2 Ánh sáng: 51

2.1.2.1 Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte) 51

2.1.2.2 Xích lô (Cyclo) 53

2.1.2.3 Mùa hè chiều thẳng đứng (The Vertical Ray of the Sun) 56

2.2 Liên kết tạo hình 61

2.2.1 Âm thanh: 62

2.2.1.1 Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte) 62

2.2.1.2 Xích lô (Cyclo) 64

2.2.1.3 Mùa hè chiều thẳng đứng (The Vertical Ray of the Sun) 65

2.2.2 Màu sắc: 66

2.2.2.1 Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte) 66

2.2.2.2 Xích lô (Cyclo) 67

2.2.2.3 Mùa hè chiều thẳng đứng (The Vertical Ray of the Sun) 69

2.2.3 Những liên kết ngầm: 70

2.3 Những phân đoạn quan trọng 71

2.3.1 Mở đầu: 71

2.3.1.1 Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte) 71

Trang 5

2.3.1.2 Xích lô (Cyclo) 73

2.3.1.3 Mùa hè chiều thẳng đứng (The Vertical Ray of the Sun) 74

2.3.2 Cao trào: 74

2.3.2.1 Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte) 75

2.3.2.2 Xích lô (Cyclo) 75

2.3.2.3 Mùa hè chiều thẳng đứng (The Vertical Ray of the Sun) 76

2.3.3 Kết thúc: 77

2.3.3.1 Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte) 77

2.3.3.2 Xích lô (Cyclo) 78

2.3.3.3 Mùa hè chiều thẳng đứng (The Vertical Ray of the Sun) 78

Tiểu kết: 78

CHƯƠNG III: NHỊP ĐỘ KỂ CHUYỆN 81

3.1 Nhịp độ sự kiện 81

3.1.1 Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte) 82

3.1.2 Xích lô (Cyclo) 83

3.2 Nhịp độ quay phim 84

3.2.1 Góc quay: 85

3.2.2 Chuyển động máy quay: 88

3.2.3 Cảnh quay dài: 90

3.3 Nhịp độ mở đầu, kết thúc 93

3.3.1 Mở đầu: 93

3.3.2 Kết thúc: 94

Tiểu kết: 95

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 6

là Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte) – 1993 được xem như một luồng

gió mới, rất ấn tượng được thể hiện với phong cách đặc trưng của đạo diễn Trần Anh Hùng Sau đó đạo diễn Trần Anh Hùng còn cho ra đời các tác phẩm như

Xích lô (Cyclo) – 1995; Mùa hè chiều thẳng đứng (The Vertical Ray of the Sun)

– 2000; I come with the rain – 2009; Rừng Nauy (Norwegian wood) – 2010;

Vĩnh cửu (Eternity) – 2016 Trong số phim của đạo diễn Trần Anh Hùng đã có

vài phim đạt một số giải thưởng, gây được tiếng vang trong nước và quốc tế

Trong các phim đó, có ba bộ phim: Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng được thực hiện với Bối cảnh và Con người Việt Nam qua phong

cách kể chuyện ấn tượng của đạo diễn Trần Anh Hùng Chúng tôi sẽ tìm các điểm nổi bật, những điểm tương đồng trong sáng tác của ba phim để chứng minh nghiên cứu này là cần thiết, khẳng định những nỗ lực sáng tạo nghệ thuật trong điện ảnh của đạo diễn, với tên đề tài: “Phong cách tự sự trong phim của Trần

Anh Hùng qua ba bộ phim: Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng”

Lý do chọn đề tài: điện ảnh Việt Nam trong thời kỳ mở cửa, vào những năm

90 trong số các đạo diễn nước ngoài và Việt kiều về Việt nam làm phim thì chỉ

Trang 7

có đạo diễn Trần Anh Hùng là thực hiện liên tiếp ba bộ phim với đề tài nói về

Việt Nam Mùi đu đủ xanh được bấm máy năm 1992 tại Pháp, Xích lô quay tại Sài Gòn năm 1994, Mùa hè chiều thẳng đứng thực hiện tại Hà Nội và Hạ Long năm 1999 Hai trong ba phim đạt được một số giải thưởng Quốc tế, đã gây sự

chú ý và xôn xao tranh luận trong giới điện ảnh Cả ba phim đều nói về đề tài Việt Nam, con người và phụ nữ Việt nam, các phim có nhiều điểm tương đồng

trong phong cách sáng tác Với các lý do trên, nên chúng tôi chọn ba phim Mùi

đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng của đạo diễn Trần Anh Hùng

để làm đề tài nghiên cứu trong luận văn này

1.2 Ý nghĩa:

Phân tích các bộ phim Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng

của Trần Anh Hùng là phân tích, đánh giá các chi tiết, các dẫn chứng, từ đó đưa

ra góc nhìn về kỹ năng, thẩm mỹ, phong cách tự sự của đạo diễn trong phim điện ảnh Các lựa chọn để thể hiện hình ảnh trong phim, sự khai thác về hình ảnh trong phim của đạo diễn Trần Anh Hùng sẽ cho thấy phong cách sáng tạo của ông

Việc thực hiện đề tài này cũng giúp cho người thực hiện có cơ hội mở mang

về kiến thức, thẩm mỹ, về phong cách tự sự trong phim… để phục vụ cho nghề nghiệp đang làm Với việc tìm hiểu phong cách tự sự trong phim, đã đặt ra khả năng nhìn nhận dấu ấn cá nhân, khả năng sáng tạo và vai trò của nhà đạo diễn, nhà quay phim trong việc tạo hình về nhân vật, bối cảnh, ánh sáng, màu sắc, góc máy, chuyển động máy quay… tìm ra những điểm tương đồng giống nhau trong

ba phim Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng đã tạo nên phong

cách riêng biệt của Đạo diễn Trần Anh Hùng trong các tác phẩm điện ảnh

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trước đây, vào thời điểm các tác phẩm của đạo diễn Trần Anh Hùng được công chiếu đã có rất nhiều các bài phê bình trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước, các tin tức, điểm phim, một vài bình luận ngắn trên báo chí, các bài phỏng

vấn, bài viết cảm nhận, góp ý, nhận xét… về ba phim Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng của đạo diễn Trần Anh Hùng Nhiều bài viết, tác giả

đã đánh giá cao thành công về mặt hình ảnh trong các bộ phim của đạo diễn Trần Anh Hùng

Trên Vnexpress (Thứ sáu, 23/7/2010, 10:09 (GMT+7)), Dạ Vũ ở mục Ý

kiến độc giả đã có những phân tích thú vị về Phong cách Trần Anh Hùng trong

“Mùi đu đủ xanh” Theo tác giả bài viết, “phong cách Trần Anh Hùng xuyên

suốt bộ phim, biểu hiện rõ nét qua tiết tấu đều chậm rãi (monotone)” Yếu tố này được thể hiện qua cử chỉ của các nhân vật: “Hầu hết nhân vật thường đi lại, cử động một cách từ tốn, nhẹ nhàng Hầu như không hoặc ít có những hành động mạnh, gấp gáp, di chuyển nhanh Lời thoại của nhân vật cũng rất ít, được nói chậm Giữa những đoạn đối thoại của các nhân vật thường có một khoảng im lặng hoặc chỉ có một nhân vật nói còn nhân vật kia không đáp lời” Tiếp đó là việc quay phim “Kết hợp với chuyển động từ từ của nhân vật, máy quay cũng thường di chuyển chậm theo chiều tiến của nhân vật - thường theo chiều ngang Cách quay ấy rất phù hợp với diễn xuất từ tốn, nhẹ nhàng của diễn viên cũng như với không khí chung của bộ phim Đạo diễn Trần Anh Hùng đã thể hiện những quan sát tinh tế của mình qua những khuôn hình cận và đặc tả được sử dụng rất nhiều trong phim Đó như những cái nhìn ghi nhận tỉ mỉ về thiên nhiên,

vì thế máy quay thường đứng yên tạo nên những cảnh tĩnh khá lâu Những cảnh khá dài ấy (khoảng từ vài chục giây trở lên) lại thường được đặt nối tiếp với

Trang 9

nhau, làm cho hiệu quả tiết tấu chậm càng rõ hơn” Dạ Vũ cũng chỉ ra việc kịch bản của Trần Anh Hùng hủy bỏ tính nhân quả, khiến cho ngay cả cái gọi là mối tình tay ba qua phong cách xử lý của đạo diễn đã “ghìm các xung đột, mâu thuẫn, không thể hiện hết và đẩy chúng đến cao trào [24] những sự kiện gây kịch tính như tình huống bà chủ nhà bị ông chồng lấy hết tiền bạc rồi bỏ đi hay cả sự việc ông chủ trở về bất ngờ trong mảng một, hay mâu thuẫn mối tình tay ba ở mảng hai đều không được đẩy lên để tạo sự căng thẳng mà lại bị ghìm xuống, xử

lý một cách nhẹ nhàng” Cuối cùng, tính nữ cũng là một điểm nhấn trong phong

cách của đạo diễn gốc Việt: “Qua những nhân vật trong phim, ta nhận ra những nét đặc trưng rất Việt: đó là thân phận nhẫn nại, cam chịu, hy sinh của người phụ

nữ Chính tiết tấu chậm thể hiện ở chuyển động của cả nhân vật và máy quay, lời thoại đã góp phần xây dựng nên tính cách thầm lặng, nhẫn nhịn của những nhân vật như Mùi, bà chủ nhà, bà mẹ chồng ” Tác giả Đỗ Lệnh Hùng Tú trên

Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 351 và 352 (9 và 10/2013) viết về Kỹ thuật và nghệ thuật thể hiện khuôn hình phim truyện lấy phim Mùi đu đủ xanh như một ví

dụ để phân tích Ông tập trung xem xét phương thức tạo hình qua kịch bản, qua

kỹ thuật dựng cảnh, qua đạo cụ, qua xây dựng hình tượng nhân vật, bằng ánh sáng và ống kính máy quay, qua nghệ thuật montage, kỹ thuật âm thanh để đi đến kết luận về vai trò đạo diễn tổng hợp, hòa tan các hiệu quả tạo hình trong

phim Theo tác giả, “trong Mùi đu đủ xanh, tiết tấu chậm không đồng nghĩa với

loãng, và nếu để ý, ở những cảnh quay dài luôn có những dấu nhấn nhỏ bé, nằm

ở ánh mắt, nét môi, chút ngập ngừng, cách bài trí đồ vật… tạo nên nét chấm phá cần thiết” Nhiều đồ vật nhỏ được chọn lọc tinh tế, sắp xếp có ý đồ đã tạo nên sự thích thú cho người xem, “vừa là khám phá của đạo diễn, vừa là khám phá của khán giả, khi nhìn về nước Việt thân yêu từ đôi mắt của một người con xa quê

Trang 10

hương” Ông cho rằng “Nhờ động tác lia máy, góc nhìn và hình ảnh mô tả được

mở rộng gấp bội, cho phép quan sát sự vật, tạo nên góc nhìn chủ quan” trong

phim của Trần Anh Hùng Cùng với đó, “tông màu vàng được sử dụng khá nhiều (sàn nhà, bức tường), xen lẫn với các màu sắc khác, tạo ra sự tương phản, nổi bật Hình ảnh chủ đề của phim, mủ đu đủ trắng chảy trên thân quả xanh, tạo ấn tượng thị giác mạnh” Nghệ thuật quay phim nhấn mạnh ở việc “máy quay cũng thường di chuyển chậm theo chiều tiến của nhân vật - thường theo chiều ngang” Tốc độ chậm “từ những cách triển khai đầu mỗi cảnh phim, góc máy thường đứng im rồi di chuyển dần theo hướng di chuyển của nhân vật Những cảnh khá dài ấy lại thường được đặt nối tiếp với nhau, làm cho hiệu quả tiết tấu chậm càng

Trang 11

tả “ngôn ngữ điện ảnh được phát huy: nét mặt, hành vi, cử chỉ, hình ảnh, biểu tượng, ẩn dụ, ánh sáng, âm nhạc Và cả sự im lặng nữa Và khi có lời nói thì lời nói cũng mang tính miêu tả Một ngôn ngữ điện ảnh phong phú như vậy phụ thuộc rất nhiều vào góc quay, cách quay, khuôn hình” Từ đó ông đặt câu hỏi về tầm vóc của các nhà làm phim Việt kiều trong một so sánh với Trung Quốc cũng như giả định một sự kích thích đối với tư duy nghệ thuật của các đạo diễn trong nước

Như vậy những người ghi nhận thành công của đạo diễn Trần Anh Hùng mới chỉ nhìn nhận ông như một nhà làm phim trẻ có được giải thưởng Các bài báo đã chỉ ra những đặc điểm khá nổi bật dễ thấy của phim Trần Anh Hùng, nhưng thường dừng quy mô phê bình chứ chưa như một đối tượng nghiên cứu thuộc phạm vi lý luận Còn phong cách tự sự trong phim của ông từ góc nhìn tác giả trong ba bộ phim có đề tài Việt Nam theo chúng tôi vẫn chưa được ai nhìn nhận một cách toàn diện, chưa có đề tài nào nghiên cứu chi tiết, có hệ thống trên phạm vi các nghiên cứu quốc tế cũng như Việt Nam

Với đề tài “Phong cách tự sự trong phim của Trần Anh Hùng qua ba bộ

phim: Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng”, chúng tôi khẳng

định rằng các hình thức thể hiện về mặt hình ảnh một cách sáng tạo, độc đáo, và

có sự lặp đi lặp lại của Trần Anh Hùng chính là phong cách nghệ thuật của ông Với khẳng định này, không chỉ nhằm đánh giá các đóng góp mang tính tác giả của ông đối với phim điện ảnh, mà còn đặt ra khả năng về trào lưu mới, khi các nhà đạo diễn tài năng đóng góp các quyết định mang tính tác giả vào các tác phẩm điện ảnh Và điều cần thiết, là chúng ta có cái nhìn khách quan hơn, cởi

mở hơn để ghi nhận những điều đó

Trang 12

Ở Việt Nam, hiện tại chưa có công trình nghiên cứu sâu về các tác phẩm điện ảnh của đạo diễn Trần Anh Hùng Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi phân tích phim, đánh giá khách quan trên cơ sở lý luận thực tế những gì được thể hiện trên phim Chúng tôi sẽ tìm các điểm nổi bật, các điểm tương đồng về phong cách để chứng minh nghiên cứu này là cần thiết, khẳng định những nỗ lực sáng tạo, phong cách tự sự của đạo diễn qua các phim điện ảnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng:

Đối tượng của đề tài luận văn là vấn đề “phong cách tự sự” được thể hiện trong bộ ba phim của Trần Anh Hùng Nghiên cứu về phong cách được thực hiện thông qua các kỹ thuật tạo hình nhân vật, tạo hình bối cảnh, sử dụng ánh sáng, màu sắc, góc quay phim, montage… các vấn đề về hình ảnh, về tạo hình trong các tác phẩm của đạo diễn, ghi nhận giá trị và những mối quan hệ giữa phong cách cá nhân với phong cách của xã hội hiện tại, cá tính sáng tạo và thẩm mỹ thời đại

Phim Xích lô được thực hiện với sự hợp tác sản xuất của Hãng phim Giải

phóng (nay là công ty cổ phần phim Giải phóng), Hồng Kông và Pháp Phim được bấm máy vào năm 1994 tại Sài Gòn, được ghi hình bằng phim nhựa màu

Xích lô được công chiếu năm 1995, sau đó được telecine và số hóa Vào thời kỳ

Trang 13

đó, phim đã từng bị cấm chiếu ở Việt Nam do có một số cảnh bạo lực, máu me, một số phân đoạn nhạy cảm (do phim màu nên hình ảnh rất rõ và ấn tượng)

Do điều kiện kỹ thuật, những bản phim minh họa trong luận văn được chúng tôi sử dụng từ các bản DVD và internet, nên còn những thiếu sót về màu sắc và kích thước

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp:

Thực hiện nhiệm vụ của đề tài này là tìm hiểu những sáng tạo cá nhân, chú trọng sự khác lạ của mỗi bộ phim, chỉ ra những đặc điểm chung tạo nên sự độc

đáo trong ba phim Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng của đạo

diễn Trần Anh Hùng Từ đó làm rõ những cụ thể, khác lạ, sáng tạo, ngoại lệ và thách thức trong những bộ phim ông thực hiện

Trong luận văn, trước hết chúng tôi tiến hành đọc các bài viết, các cuộc phỏng vấn có liên quan tới đạo diễn Trần Anh Hùng cũng như cả ba bộ phim

Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng Tiếp theo chúng tôi sử

dụng biện pháp đọc và phân tích phim Việc tập trung xem phim, đọc phim, tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các chi tiết trong phim cho phép chúng tôi thấy được phong cách tự sự trong phim của đạo diễn Trần Anh Hùng qua bộ ba

Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng Cùng với đó, chúng tôi

thống kê tất cả các cảnh quay trong ba bộ phim, với thời lượng các cảnh quay, nội dung và kỹ thuật quay phim đáng chú ý Từ đó tìm những nét chung qua việc tạo hình bối cảnh, nhân vật, ánh sáng, màu sắc, âm thanh, nhịp độ chuyện, quay phim, góc quay, cảnh quay dài, ẩn dụ, quan điểm, thói quen phong cách… trong

ba phim của đạo diễn Trần Anh Hùng Tổng hợp các đặc trưng nổi bật trong phong cách của đạo diễn Trần Anh Hùng

Trang 14

Cuối cùng chúng tôi tiến hành xem xét các phương diện chính yếu của phim, cách tổ chức nó thành các hệ thống mang tính phạm trù, trừu tượng, liên tưởng hay tự sự và hệ thống phong cách phim phản ánh trong cách sử dụng kỹ thuật, nghệ thuật tạo hình bối cảnh, nhân vật, ánh sáng, màu sắc, âm thanh, montage, ý nghĩa các yếu tố về quay phim… Từ đó chúng tôi nêu ra các giả định

về phong cách tạo hình của nghệ thuật quay phim, các quy ước và ý nghĩa chung, nhấn mạnh vào sự giống nhau của ba bộ phim Chỉ ra các đặc điểm chung được thể hiện qua những hình ảnh trong phim, đã góp phần rất lớn hình thành nên phong cách riêng biệt của đạo diễn Trần Anh Hùng như thế nào

4.2 Cơ sở lý luận:

Với đề tài này, chúng tôi tiếp cận từ lý thuyết phong cách của các giả, của

các nhà làm phim độc lập, căn cứ theo việc phân tích ba bộ phim Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng Qua các phân tích, cho thấy ba bộ

phim trên đã thể hiện rõ phong cách đặc trưng của đạo diễn Trần Anh Hùng Phim của đạo diễn Trần Anh Hùng là sự kết hợp của các yếu tố câu chuyện, kết cấu phim không có cốt truyện, dàn dựng, tạo hình về bối cảnh, nhân vật, âm thanh, ánh sáng, màu sắc, nhịp độ kể chuyện, cách quay… để tìm ra phong cách

tự sự, cách kể chuyện đặc trưng trong phim do đạo diễn Trần Anh Hùng thực hiện Từ nền tảng lý thuyết, tìm những điểm chung, phương thức gây ấn tượng, phong cách đặc trưng riêng biệt của đạo diễn Trần Anh Hùng về nghệ thuật tạo hình thông qua ngôn ngữ điện ảnh đặc sắc của ông khi thực hiện các phim về đề

tài Việt Nam như: Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng

4.3 Giả thuyết khoa học:

Đối với nghệ thuật điện ảnh, ở đó sự quy định của các yếu tố kỹ thuật, của cách làm việc nhóm như một đặc trưng quan trọng, “cá nhân ngày càng bị tấn

Trang 15

công bởi các quá trình tiêu chuẩn hóa và tha hóa”, cùng với đó là phải tính đến

“sự xuất hiện thị trường đại chúng cho các sản phẩm công nghệ”, do thế “việc có phong cách riêng trở thành cái đảm bảo cho sự toàn vẹn của cá nhân, cho quan

hệ tự do và nhân bản của cá nhân đối với thế giới” [1, tr 267]

Chúng tôi cho rằng phong cách một tác giả trong điện ảnh được thể hiện vô cùng phong phú, ở nhiều mặt khác nhau Trong giới hạn luận văn về bộ ba phim của Trần Anh Hùng có đề tài Việt Nam, có thể nói đến hai phương diện tiêu biểu

dễ nhận thấy từ khía cạnh biểu đạt tự sự điện ảnh Đó là việc tạo hình câu chuyện và nhịp độ kể chuyện Khía cạnh thứ nhất chú trọng những góc nhìn tĩnh

đối với sự biểu đạt về hình ảnh Bởi chúng ta đều thấy điện ảnh của Trần Anh Hùng vô cùng trau chuốt đến góc độ tạo hình theo lối hội họa Khía cạnh thứ hai

nhấn mạnh đến sự lưu chuyển của những biểu đạt đó, đến tính động của đặc

trưng nghệ thuật điện ảnh Dù chưa thể đầy đủ, nhưng chúng tôi hy vọng việc

phân tích kỹ càng hai phương diện này phần nào thể hiện được phong cách tự sự của Trần Anh Hùng

5 Cấu trúc của luận văn

Trên cơ sở xác định phạm vi nghiên cứu và cơ sở lý luận, chúng tôi dự định triển khai trên ba chương như sau:

Chương 1: Các vấn đề chung

Chương 2: Tạo hình câu chuyện

Chương 3: Nhịp độ kể chuyện

Trang 16

CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Các lý thuyết nghiên cứu

1.1.1 Lý thuyết tác giả:

Trong nghiên cứu phim, cách tiếp cận tác giả bắt đầu xuất hiện từ các bài phê bình phim trên tạp chí Pháp Cahiers du Cinéma trong những năm 1950 Phương pháp này được áp dụng bởi các nhà phê bình và đạo diễn, trong đó có Jean-Luc Godard, Francois Truffaut, Jacques Rivette, Eric Rohmer và Claud Chabrol Luận điểm này xuất phát từ bài tiểu luận của Truffaut năm 1954 có tên

“Xu hướng tất yếu của điện ảnh Pháp” [5, tr 137] Theo John Caughie: “Chính với dàn cảnh, tác giả đã làm biến đổi nguyên vật liệu mà anh ta được giao cho; vậy nên chính trong dàn cảnh - trong việc bố trí cảnh phim, di chuyển máy quay,

vị trí máy quay, sự di chuyển từ cảnh quay này đến cảnh quay khác - tác giả đã

tạo nên dấu ấn cá nhân trong phim” [5, tr 141-142] Đồng thời nhà nghiên cứu phim Warren Buckland còn cho rằng: “Các đạo diễn làm phim với sự thống nhất

về đề tài và phong cách thì được gọi là tác giả Ngược lại, các đạo diễn không có

sự nhất quán về đề tài và phong cách trong các tác phẩm của mình thì được gọi

là đạo diễn thông thường và chỉ được xếp ở vị trí các nhà chuyên môn đơn thuần chứ không phải nghệ sĩ” [5, tr 135] Trong “Phim tác giả - Tác giả phim”, Graham Roberts và Hearther Wallis (Đại học New York) đã đánh giá: “Nếu các nhà làm phim được nhìn nhận như tác giả, họ phải trình chiếu ra hàng loạt phim

có những nét đặc trưng “tác giả” rõ rệt, đại thể:

- Phong cách thị giác - dàn cảnh và quay phim

- Cấu trúc tự sự và các thủ pháp kể chuyện

- Đặc điểm nhân vật riêng và những tình huống

- Hệ chủ đề đặt ra” [21]

Trang 17

Vấn đề tự sự trong phim có thể hiểu là câu chuyện được đạo diễn sắp xếp các chuỗi hình ảnh được thực hiện với việc tạo hình bối cảnh, nhân vật, màu sắc,

âm thanh, nhịp độ chuyện, nhịp độ quay phim, góc quay cảnh quay… theo nội dung của các sự việc và khi kết thúc có ý nghĩa gì cho người xem Thông thường cách tự sự trong phim theo cách thức ba hồi với cốt truyện, nhân vật, sự việc nhưng cách kể chuyện trong phim của đạo diễn Trần Anh Hùng không tuân theo cách truyền thống đó Các tác phẩm điện ảnh của ông thường không có cốt truyện, nhưng tác phẩm vẫn đạt hiệu quả về mặt nghệ thuật, người xem vẫn thích, hiểu và cảm nhận được mọi sự việc theo lối kể chuyện của đạo diễn Trần Anh Hùng đã từng khẳng định về phong cách làm phim rất riêng của ông rằng:

“Tôi chỉ có thể nói đơn giản rằng: khi đã chán với cách làm phim thông thường, một số đạo diễn, trong đó có tôi, muốn thể hiện một thủ pháp điện ảnh mới - đó

là tìm cách thoát ra khỏi câu chuyện phim hoặc không kể chúng như phong cách truyền thống nữa” [13]

Như vậy, luận văn này sẽ lần lượt phân tích các yếu tố như tạo hình về bối cảnh, nhân vật, ánh sáng, màu sắc, âm thanh, góc quay, chuyển động của máy quay, các cảnh quay dài mang tính nhất quán trong các tác phẩm của đạo diễn

Trần Anh Hùng Cụ thể là phân tích trong ba phim Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng để chứng minh phong cách tự sự trong phim của đạo

diễn Trần Anh Hùng

Vai trò của Đạo diễn và Quay phim:

Trong tự sự điện ảnh, vai trò đạo diễn và quay phim có vai trò khác nhau, nhưng gắn bó chặt chẽ với nhau như hình với bóng Vai trò đạo diễn rất quan trọng trong quá trình thực hiện bộ phim, là cha đẻ của một bộ phim Ngoài việc phải có tri thức về văn học, hội họa, âm nhạc, kiến trúc, nghiệp vụ chuyên

Trang 18

môn… người đạo diễn cũng cần phải tìm hiểu và có kiến thức về máy quay, hiệu quả của ống kính, thủ pháp về quay phim, về ánh sáng… để có thể làm việc với quay phim trong việc sáng tác phim, sử dụng tốt các ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ cho điện ảnh Ánh sáng trong điện ảnh là một yếu tố rất quan trọng, quyết định cho nội dung hình ảnh, cảm quan sự việc, các cung bậc cảm xúc, sự

ấm áp, nhẹ nhàng trong khung hình, độ tương phản, hiệu quả đặc biệt… Do đó đạo diễn, quay phim phải nắm vững các kiến thức liên quan về ánh sáng, các trang thiết bị phục vụ cho việc bố trí ánh sáng cho phim Đạo diễn cũng phải nắm rõ các thiết bị điện ảnh hiện có trên thị trường và các nhà cung cấp, để kết hợp với quay phim có thể chọn lựa máy quay phim, ống kính và phụ kiện, các thiết bị hỗ trợ quay (như crane, track, flying cam, cable cam, steady cam, gimbal) cho phù hợp với nội dung kịch bản, đáp ứng các yêu cầu của đạo diễn và nhà sản xuất để có tác phẩm đạt hiệu quả cao về thẩm mỹ và kinh tế Khi hội tụ đầy đủ các yếu tố trên, với tài năng cùng với bản lĩnh nhà đạo diễn sẽ yêu cầu và thuyết phục được nhà sản xuất cung ứng mọi yếu tố về kỹ thuật, thiết bị, bối cảnh, hiệu quả đặc biệt… để phục vụ cho ý đồ thể hiện của đạo diễn theo nội dung kịch bản

Quay phim là người trực tiếp điều khiển thiết bị quay phim, quản lý trực tiếp những gì có trong khung hình, làm việc theo ý đồ của đạo diễn Nhà quay phim không phải là người thợ bấm máy, không đơn thuần là người chỉ điều khiển máy quay, mà phải là một nghệ sĩ có tâm hồn Là người biết xúc động trước những cảnh đẹp trữ tình, hiểu được tâm lý, cảm xúc của nhân vật… hợp tác chặt chẽ với đạo diễn thì nhà quay phim mới tạo được những khung hình đẹp, màu sắc hài hòa và sinh động phù hợp với nội dung kịch bản Nhà quay phim có thể sử dụng các thủ pháp của chuyển động máy quay để tạo ra những cú máy

Trang 19

đẹp, phù hợp với tùng tình huống, từ đó có được những hình ảnh hàm chứa được các ý tưởng nghệ thuật, có sức khơi gợi, bùng nổ cảm xúc, lôi cuốn người xem Quay phim phải chủ động công việc, phải có trách nhiệm quản lý tất cả mọi việc liên quan đến các khung hình của mình, phải tập trung vào từng cảnh quay, về ánh sáng, về động tác máy như zoom, pan theo chuyển động của nhân vật… Từ

đó mới có được những hình ảnh tốt với ánh sáng đẹp, bố cục hài hòa, mang tính nghệ thuật cao phục vụ tốt cho nội dung kịch bản và ý đồ của đạo diễn Ngoài những kiến thức cần thiết của ngành điện ảnh và các ngành liên quan đến nghệ thuật thì đạo diễn, quay phim phải là người có kinh nghiệm sống, kỹ năng làm việc khoa học, kỹ năng xử lý tình huống, để có thể vượt qua mọi trở ngại Đạo diễn, quay phim phải biết tìm hiểu tâm lý mọi người, biết giao thiệp để biết cách

xử sự, làm việc một cách tinh tế khéo léo với các thành phần đoàn phim và các

sự việc xung quanh Phải có đạo đức nghề nghiệp, có tâm với nghề đang theo làm Bất cứ nhà sản xuất phim nào cũng đều muốn hợp tác với đạo diễn và quay phim giỏi Đó là những người phải làm khán giả không còn để ý, không nhận biết những người làm phim đã làm như thế nào, làm ra sao… vì sự chú ý của người xem đã bị lôi cuốn, bị hút vào các đối tượng các nhân vật trong phim, vào không gian, vào chủ thể của hình ảnh, nó được thể hiện một cách tuyệt vời theo nội dung phim

1.1.2 Giao lưu và tiếp biến văn hóa:

Lý thuyết này dùng để diễn giải quá trình thay đổi hoặc biến đổi của một số loại hình nghệ thuật, do sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài Quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa là sản phẩm của sự trao đổi nghệ thuật, góp phần xây dựng và phát triển nền điện ảnh Việt Nam, gắn liền với với sự phát triển của xã hội Trong đề tài này, lý thuyết được sử dụng nhằm nêu lên các giá trị đời sống văn

Trang 20

hóa của người Việt thông qua lĩnh vực điện ảnh Điều này đặc biệt có ích với các tác phẩm điện ảnh của đạo diễn Trần Anh Hùng, khi có sự tiếp xúc và giao lưu loại hình nghệ thuật thứ 7 giữa hai nền điện ảnh Á – Âu

sử dụng và kết hợp chúng; tức là những dạng thức chức năng của ngôn ngữ văn học” [1, tr 262] Trong nghiên cứu văn học, loại hình nghệ thuật có trước điện ảnh, phong cách trong văn học được hiểu là “Những nét chung, tương đối bền vững của hệ thống hình tượng, của các phương thức biểu hiện nghệ thuật, tiêu biểu cho bản sắc sáng tạo của một nhà văn, một khuynh hướng văn học, một nền

văn học dân tộc nào đó” [1, tr 263] Cũng trong cuốn Từ điển 150 thuật ngữ văn học (Nxb ĐHQG, 1999) này, Lại Nguyên Ân nhấn mạnh rằng “phong cách

có sự thể hiện cụ thể trực tiếp: những đặc điểm phong cách dường như hiện diện

ở bề mặt tác phẩm, như là sự thống nhất hiển thị và cảm giác được của tất cả các

yếu tố chủ yếu thuộc về hình thức nghệ thuật Trong nghĩa rộng, phong cách là

Trang 21

nguyên tắc xuyên suốt tác phẩm, khiến tác phẩm có tính chỉnh thể, có giọng điệu, và màu sắc thống nhất” [1, tr 264]

Do vậy chúng tôi cho rằng phong cách tự sự trong bộ ba phim có đề tài Việt

Nam có thể được xem xét ở những yếu tố tự sự lặp lại như một cách biểu đạt cho

một nguyên tắc thống nhất xuyên suốt quá trình sáng tạo chúng Điều đó khiến cho việc tự sự trong phim của Trần Anh Hùng có những giọng điệu, tông màu, tiếng nói, biểu đạt khác biệt

1.2 Giới thiệu về đạo diễn Trần Anh Hùng

1.2.1 Tiểu sử, sự nghiệp:

Đạo diễn Trần Anh Hùng đang làm việc với máy quay ở hiện trường

Trang 22

Mùi đu đủ xanh (L'odeur de la Papaye verte) – 1993; Xích lô (Cyclo) – 1995; Mùa hè chiều thẳng đứng (À la verticale de l'été) – 2000, I come with the rain – 2009; Rừng Nauy (Norwegian wood) – 2010; Vĩnh cửu (Eternity) – 2016

Trong những tác phẩm điện ảnh trên thì có ba phim nói về chủ đề Việt

Nam, đó là các phim: Mùi đu đủ xanh, Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng Câu

chuyện được kể trong ba phim chỉ nói về bối cảnh và con người việt Nam, qua phong cách thể hiện đương đại rất ấn tượng của đạo diễn Trần Anh Hùng Trong

ba phim thì Mùi đu đủ xanh (L'odeur de la Papaye verte) được trao giải “Caméra

d'or” [Máy quay vàng] cho quay phim xuất sắc tại liên hoan phim Cannes 1993

và Giải César cho phim đầu tay xuất sắc của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Kỹ thuật điện ảnh Pháp Ngoài ra phim còn nhận “đề cử Oscar” cho phim nói tiếng nước ngoài hay nhất tại Oscar 66 Năm 2015, phim được chọn vào danh sách

“100 bộ phim châu Á hay nhất mọi thời đại” tại Liên hoan phim Busan, đứng ở

vị trí thứ 66 Sau đó, phim Xích lô (Cyclo) được giải thưởng Sư tử vàng cho

phim hay nhất tại liên hoan phim Venice lần thứ 52 và giải Nhạc phim hay nhất

George Delerue tại liên hoan phim Flandre 1995 Còn phim Mùa hè chiều thẳng đứng (À la verticale de l'été) được chọn chiếu ở hạng mục “Một góc nhìn” (Un

certain regard) tại Liên hoan phim Cannes 2000

1.2.2 Phong cách sáng tác:

Trần Anh Hùng sinh sống, học tập, làm việc tại Pháp đương nhiên có sự ảnh hưởng của nền văn hóa cũng như điện ảnh Pháp và châu Âu Tuy nhiên, khi thực hiện một số dự án phim điện ảnh thì đạo diễn không theo tuân theo công thức truyền thống ba hồi, kể chuyện không theo thứ tự, phim không có cốt truyện Đạo diễn sáng tác phim theo phong cách đương đại, sử dụng nghệ thuật sắp đặt, ngôn ngữ cơ thể Sử dụng các phương pháp so sánh, tượng trưng, song

Trang 23

song, tâm trạng, phục hiện, tỉnh lược Ngôn ngữ điện ảnh, ẩn dụ, ấn tượng được khai thác triệt để Tư duy tốt về hình ảnh, làm tăng giá trị thẩm mỹ hình ảnh để phục vụ các ý đồ của đạo diễn trong sáng tác Tiết tấu chậm rãi, nhưng tạo cảm giác chân thật, có nhiều cảm xúc cho người xem, với những hình ảnh được thể hiện bằng ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ điện ảnh

1.3 Các phim tiêu biểu của đạo diễn Trần Anh Hùng

1.3.1 Mùi đu đủ xanh (L'odeur de la Papaye verte) – 1993

Phim Mùi đu đủ xanh (L'odeur de la Papaye verte) được hoàn thành năm

1993 có độ dài 104 phút Chuyện phim kể về cuộc sống đi làm thuê của nhân vật Mùi (do Lư Mẫn San và Trần Nữ Yên Khê thủ vai) Mùi là một cô bé mồ côi

mẹ, tính tình hồn nhiên, ngây thơ và ôn hòa, luôn quan sát luôn tò mò, thích thú,

bỡ ngỡ về những gì xảy ra xung quanh Từ dưới quê nhà Mùi phải đi bộ lên Sài Gòn để làm thuê, giúp việc cho một tiệm buôn bán vải

Mùi đu đủ xanh: Mùi lúc 10 tuổi (Lư Mẫn San), buổi sáng ngày đầu tiên bên

khung cửa sổ, Mùi ngơ ngác, hồn nhiên nghe nhìn các sự vật hiện tượng diễn ra xung quanh chỗ xa lạ mà mình lần đầu đặt chân tới Với ánh sáng nhân tạo được

Trang 24

bố quang rất đẹp, chân thật, cho người xem nhận thấy là cảnh nội kết hợp ngoại ngày từ cửa sổ nhìn ra ngoài

Mùi sống và làm việc trong gia đình có ba thế hệ, bà nội (Võ Thị Hai) già yếu, suốt ngày ở trên gác chuyên tâm tụng kinh niệm Phật; ông chủ (Trần Ngọc Trung) chỉ biết lo vui chơi, đàn hát; bà chủ (Trương Thị Lộc) là trụ cột chính trong gia đình, quán xuyến mọi việc từ buôn bán, chăm sóc con…; Người con trai lớn là Trung (Souvannavong Kéo); người thứ hai tên Lãm (Đỗ Nhật) và đứa

út tên Tín (Neth Gérard) Hằng ngày Mùi phụ công việc trong nhà, giặt đồ, lau dọn nhà cửa… và học cách nấu nướng do bà vú Ti (Nguyễn Ánh Hoa) hướng dẫn, dạy bảo Mùi là một cô bé rất siêng năng và chăm chỉ nên được bà chủ thương mến Trong câu chuyện, giai đoạn người chồng bỏ đi lần sau cùng đã lấy tất cả tiền, vàng, nữ trang hiện có trong nhà, lúc trở về thì ông bị bệnh và qua đời Thời gian trôi qua, mười năm sau với nhiều biến đổi của xã hội và gia đình buôn vải Bé Mùi đã lớn, trưởng thành là một thiếu nữ dịu dàng, đáng yêu (Trần

Nữ Yên Khê) Mùi được chuyển qua làm thuê cho một nhạc sĩ tên Khuyến (Vương Hoa Hội) – là bạn của Trung Khuyến đã đính ước, nhưng anh thường tập trung cho âm nhạc nhiều hơn là thời gian dành cho vị hôn thê Qua thời gian sống chung trong nhà, gặp nhau hằng ngày, được sự quan tâm săn sóc, chăm lo chu đáo từ mâm cơm đến chiếc áo Cảm thương sự nhẹ nhàng, tinh khiết của Mùi, Khuyến nảy sinh tình cảm và đã bày tỏ với Mùi Qua nhiều lần để ý hai người, vị Hôn thê biết được tình cảm của Khuyến dành cho Mùi, do đó lễ đính hôn bị hủy bỏ Từ đó, Khuyến chính thức có mối quan hệ với Mùi, quan tâm tới Mùi nhiều hơn, dạy Mùi cách đọc, viết Những hình ảnh êm đềm, hạnh phúc của Mùi và Khuyến là đoạn kết thúc phim

Trang 25

Mùi đu đủ xanh: Khuyến dạy học cho Mùi (Trần Nữ Yên Khê), được sắp đặt với

bố cục hài hòa, ánh sáng chân thật tạo cho người xem cảm nhận được không gian ấm áp hạnh phúc êm đềm của hai nhân vật Mùi và Khuyến

1.3.2 Xích lô (Cyclo) – 1995

Phim Xích lô (Cyclo) hoàn tất năm 1995, có độ dài 123,43 phút Chuyện

phim được kể xoay quanh các mối liên hệ giữa các tuyến nhân vật: Gia đình Xích lô với các thành viên trong nhà; Băng nhóm xã hội đen - Xích lô; Nhà thơ - Chị Xích lô; Băng nhóm xã hội đen với các công việc của họ; bà Chủ - Nhà thơ; Các tuyến nhân vật phụ khác Xích lô (Lê Văn Lộc) là một thanh niên chất phác,

mồ côi cả cha lẫn mẹ, mưu sinh bằng nghề chạy xích lô ở Sài Gòn Xích lô sống trong một căn hộ cũ chung với gia đình gồm: ông Nội làm nghề bơm vá xe đạp, Chị (Trần Nữ Yên Khê), Em gái đang đi học Trong lúc chạy xe, do không cẩn thận, Xích lô bị cướp xe, đó là xe được thuê của bà Chủ (Nguyễn Như Quỳnh)

Vì nợ chiếc xe nên Xích lô bị buộc phải theo băng nhóm của Bà chủ dưới sự kềm kẹp trực tiếp và trấn áp bạo lực của Nhà thơ (Lương Triều Vỹ) – y là tình

Trang 26

nhân của bà Chủ Băng đảng này chuyên làm những việc vi phạm pháp luật, đã thực hiện nhiều tội ác: cướp của, giết người, phá hoại tài sản, bảo kê gái, bán ma túy… Nhân vật Nhà thơ với hình dáng, bộ mặt thư sinh, điển trai nhưng đã có những hành động tàn ác, đầy bạo lực, y đã cùng với các đệ tử chuyên thực hiện những phi vụ phạm pháp Nhà thơ là người đã yêu Chị của Xích lô Nhưng Nhà thơ và băng đảng cũng đã đưa Chị của Xích lô vào làm gái mại dâm, phục vụ cho nhiều nhân vật với vẻ bên ngoài rất trí thức nhưng rất bệnh hoạn Chuyện phim cứ thế tiếp diễn, cùng với các tội ác… sau cùng Nhà thơ đã giết gã khách làng chơi Trong phần kết của câu chuyện, Nhà thơ đốt nhà tự sát; Xích lô thì đang bị hoang tưởng, vật vã với cơn say thuốc, thuốc kích thích của đàn em Nhà thơ đưa Xích lô sử dụng để lấy tinh thần chuẩn bị đi gây án Đứa con trai bị thiểu năng của bà Chủ đang chơi ở ngoài đường, bị mấy đứa trẻ con cài pháo đốt đã giật mình nên chạy băng ra đường thì bị xe cứu hỏa đụng chết (xe cứu hỏa này đang trren đường chạy đến để chữa đám cháy từ căn phòng mà Nhà thơ đốt để tự sát)… Sau đó, mọi sự việc trở lại bình thường như chưa có việc gì xảy ra Xích

lô được tự do, rời khỏi băng đảng phạm tội, trở về sinh sống với nghề đạp xích

lô, người chị cũng trở về nhịp sống cũ cùng với gia đình Đoạn gần cuối phim, trong niềm hạnh phúc chung của gia đình Xích lô trên chiếc xe xích lô có ông Nội, Chị và Em gái thong thả dạo trên các nẻo đường của Sàigòn

Trang 27

Xích lô: Xích lô chở ông Nội, Chị và Em gái trên đường phố Sài Gòn trong ánh

nắng ấm áp của Sài Gòn, là bối cảnh đường phố thật và ánh sáng thật

1.3.3 Mùa hè chiều thẳng đứng (À la verticale de l'été) – 2000

Phim Mùa hè chiều thẳng đứng (À la verticale de l'été) được công chiếu

vào năm 2000, phim có độ dài 112,41 phút Nội dung của phim kể về đời sống, sinh hoạt của một gia đình, và mối quan hệ tình cảm của ba chị em gái Bối cảnh

và nhân vật trong phim được thể hiện với nhiều hình ảnh đẹp, thơ mộng, với những nét đẹp xưa và cổ kính của Hà Nội Câu chuyện xoay quanh các sự kiện, lối sống, tâm tư, khát khao của từng thành viên trong một gia đình gồm có bốn chị em Chị cả Sương (Nguyễn Như Quỳnh), chị hai Khanh (Lê Khanh), em trai thứ ba tên Hải (Ngô Vũ Quang Hải) và em gái út Liên (Trần Nữ Yên Khê) Chuyện về sự mâu thuẫn trong mỗi cá nhân, về đời sống hôn nhân của vợ chồng Sương - Quốc (Chu Hưng): Sương hẹn hò với một doanh nhân Sài Gòn (Lê Tuấn Anh), Quốc có vợ lẻ và con riêng Vợ chồng Khanh - Kiên (Trần Mạnh Cường) với những hạnh phúc, sự hiểu lầm, sự ghen tuông với Ngân (Đoàn Việt Hà) Hải làm nghề diễn viên, chuyên đóng các vai phụ không thoại Cô em út làm cho

Trang 28

quán nước của chị Sương, út Liên ở chung với anh trai và là cô gái luôn mơ mộng, ảo tưởng Một gia đình, bốn chị em là bốn số phận với những mảnh ghép khác nhau, với các mâu thuẫn đời thường, các xung đột trong hôn nhân, trong tình cảm… Nhưng sau các sự việc xảy ra, tất cả mọi vấn đề đều được giải quyết với kết thúc êm đẹp

Một cảnh trong Mùa hè chiều thẳng đứng có đủ ba chị em Sương, Liên, Khanh

đang vừa làm gà để giỗ mẹ vừa trò chuyện vui vẻ với nhau Đây là cảnh quay ngoại ngày nhà của Sương với ánh sáng nhân tạo được bố quang một cách hài hòa, phân biệt được ngoại ngày và nội ngày

Một cái nhìn tổng quan về nội dung của bộ ba phim Trần Anh Hùng mà chúng tôi quan tâm cho thấy dường như ông muốn thoát khỏi quan niệm thường gặp ở phim thương mại Bởi “phim truyện giữ lấy cái nghi thức: nó buộc phải đưa khán giả tới sự hé lộ một sự thật hay một giải pháp, thông qua một số lượng nhất định các chặng bị bắt buộc, những mẹo cần thiết Một phần quy tắc tự sự nhằm giải quyết sự tiến bước chậm chạp hướng đến giải pháp và sự kết thúc của

Trang 29

câu chuyện, sự tiến bước trong đó R Barthes nhìn ra sự mâu thuẫn của mọi truyện kể: đưa đến sự hạ màn cuối cùng nhưng lại đồng thời đẩy lui ra xa” [20,

tr 86] Trong phim của Trần Anh Hùng, phần cốt truyện hầu như không cho thấy những tiến triển kiểu đó, không có những cốt truyện tiền định hay tiên báo Và như vậy phong cách tự sự của ông không nằm ở nội dung được kể, mà chìm sâu trong cái hình thức mang tính biểu đạt sâu sắc của loại hình nghệ thuật biểu diễn

là điện ảnh Đó thực sự là một thành công của đạo diễn và là một thách thức đối với khán giả ở mọi cấp độ, khán giả đại chúng, khán giả mê phim và khán giả nhà phê bình Căn cứ vào các luận điểm của lý thuyết tác giả trong việc nghiên cứu phim, các khái niệm về ngôn ngữ điện ảnh, về đạo diễn, quay phim, tìm hiểu

về tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, các tác phẩm điện ảnh của đạo diễn Trần Anh Hùng… là tiền đề, là nền tảng căn cứ để chúng tôi tiếp tục thực hiện chương 2 và chương 3 của luận văn này từ khía cạnh tạo hình câu chuyện và nhịp độ kể chuyện

Trang 30

CHƯƠNG II: TẠO HÌNH CÂU CHUYỆN 2.1 Tạo hình

Tạo hình trong phim là sự sắp đặt, sắp xếp, dàn cảnh của đạo diễn và nhà quay phim về mọi thứ có trong khung hình Trong đó tạo hình về bối cảnh, nhân vật và ánh sáng là điều kiện quan trọng nhất Về không gian tức bối cảnh xảy ra câu chuyện, được đạo diễn, quay phim, họa sĩ thiết kế phải lên kế hoạch thực hiện như thế nào, ra sao Ví dụ bối cảnh là một ngôi nhà: địa điểm, kiến trúc xây dựng, màu sắc, trang trí… tất cả phải đúng với hoàn cảnh lịch sử câu chuyện xảy

ra và ý đồ của đạo diễn

Về nhân vật, trong giai đoạn chuẩn bị thì đạo diễn và bộ phận liên quan phải tìm diễn viên phù hợp vai diễn, sau đó các bộ phận hóa trang, phục trang, đạo cụ… sẽ thực hiện việc hóa thân nhân vật như thế nào, ra sao theo ý đồ của đạo diễn và nội dung kịch bản Đạo diễn và quay phim sẽ “phù phép” cho nhân vật qua diễn xuất của diễn viên, để có được một nhân vật hoàn hảo phù hợp theo nội dung kịch bản và ý đồ đạo diễn

Ánh sáng trong điện ảnh là một yếu tố rất quan trọng, quyết định cho nội dung hình ảnh, cảm quan sự việc, các cung bậc cảm xúc, sự ấm áp, nhẹ nhàng trong khung hình, độ tương phản, hiệu quả đặc biệt… Để thực hiện được điều

đó, với tư duy sáng tác nghệ thuật riêng thì nhà quay phim phải lập kế hoạch thực hiện: sử dụng ánh sáng nào phù hợp với kịch bản, cơ số thiết bị chiếu sáng,

bố trí ánh sáng ra sao, kinh phí Từ đó, mới có được những hình ảnh và màu sắc phù hợp nội dung với nhiều cảm xúc, ấn tượng mang tính thẩm mỹ cao

2.1.1 Bối cảnh, nhân vật:

Bối cảnh, cảnh trí trong phim đã được đoàn phim chọn lọc, thiết kế và dàn dựng công phu, tỉ mỉ, kết hợp với ánh sáng, màu sắc, bố cục… đã tạo ra từng cảnh như một bức tranh, bức ảnh Tạo được cảm giác sống động trong từng

Trang 31

khuôn hình, cho người xem được đắm chìm, hòa quyện cùng nhân vật trong phim Thiết kế bối cảnh giống với hoàn cảnh lịch sử của câu chuyện nên đã thuyết phục được người xem tin và cảm nhận rất thật với ngoài đời Sắp đặt các bối cảnh liền kề, hợp lý, có chiều sâu, dễ nhìn dễ nhận ra không gian xảy ra sự việc trong các phân đoạn, trường đoạn Tạo hình cho các nhân vật rất bình dị, chân thật, theo ngôn ngữ hình thể, nghệ thuật sắp đặt đương đại đã làm nổi bật được tính cách, số phận, hoàn cảnh của nhân vật trong phim Hóa trang, phục trang, đạo cụ, được chuẩn bị, chọn lọc kỹ, chỉn chu, tôn trọng sự thật, phù hợp với từng nhân vật, sự kiện, từng bối cảnh, tạo cảm xúc thật cho diễn viên và người xem Tạo hiệu ứng mạnh cho người xem, có cảm giác như đang hiện diện trong không gian của câu chuyện

2.1.1.1 Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte)

- Bối cảnh:

Câu chuyện được kể trong phim Mùi đu đủ xanh vào thời điểm những năm

50 của thế kỷ trước trong bối cảnh của Sài Gòn, miền Nam Việt Nam Trong quá trình chuẩn bị, đạo diễn Trần Anh Hùng và nhà sản đã cùng nhau tính toán rất kỹ khi tìm bối cảnh quay Nếu thực hiện tại Việt Nam, bối cảnh sẽ có để đáp ứng theo nội dung phim vì câu chuyện phim nói về Việt Nam, con người Việt Nam Nhưng sẽ tốn rất nhiều kinh phí vì phải đưa tất cả mọi thứ sang Việt Nam, do đó đạo diễn đã thuyết phục được nhà sản xuất phục dựng lại hai bối cảnh là nhà của gia đình buôn vải và nhà của Khuyến trong phim trường tại Pháp Đạo diễn và

bộ phận thiết kế, đạo cụ đã rất kỹ lưỡng, chăm chút từng chi tiết nhỏ, tất cả phục trang đạo cụ đều được làm lại như thật, đa phần phải vận chuyển từ Việt Nam sang Pháp Phim có hai bối cảnh chính, bao gồm: nhà của gia đình buôn bán vải

và nhà của Khuyến (bạn của Trung, con cả của nhà buôn bán vải) Việc lựa chọn

Trang 32

và xây dựng bối cảnh trong Mùi đu đủ xanh là một công việc nhiều tốn kém và

đầy thách thức Đạo diễn Trần Anh Hùng và nhà thiết kế quyết tâm xây dựng bằng được hai căn nhà gỗ theo đúng tiêu chuẩn kiến trúc nhà của Việt Nam thời bấy giờ Mục đích của các nhà làm phim là phải làm sao có thể thể hiện đúng hình ảnh đời sống văn hóa Việt Nam trong phim

Từ cảnh 00:00:29 đến 01:10:00, nhà của một gia đình buôn bán vải, vật liệu

và sản phẩm về may mặc Trong gia đình, có 3 thế hệ sinh sống thể hiện mối quan hệ tam đại đồng đường của văn hóa Việt Nam, cụ thể là ở Sài Gòn thời kỳ những năm 1950 của thế kỷ trước Thời kỳ Việt Nam còn đang trong giai đoạn chiến tranh Họa sĩ thiết kế đã dựng lại bối cảnh căn nhà bằng gỗ với các dãy hành lang, các chi tiết nội thất theo đúng lối kiến trúc Việt Nam ngày đó, kể cả các đạo cụ phục trang cũng được chăm chút một cách cẩn thận trong từng phân đoạn phim (tủ đựng chén, bếp, quang gánh, nón lá, áo dài, hàng tre, bụi chuối…) Trong trường hợp này, thiết kế tổng thể của bối cảnh đã vượt qua chức năng làm nền mà trở thành một yếu tố kể chuyện trong phim Như vậy có thể thấy đạo diễn thông qua việc thiết kế bối cảnh để giới thiệu về không gian văn hóa của câu chuyện Theo chúng tôi đây là một thành công về mặt dàn dựng của đạo diễn Trần Anh Hùng

Phim có thời lượng 104 phút, theo thống kê thì chỉ riêng bối cảnh chính đã chiếm của gia đình buôn vải đã chiếm 70 phút trong toàn bộ phim (khoảng 70 phần trăm) Điều này chứng tỏ Trần Anh Hùng muốn thể hiện một câu chuyện hoàn toàn hướng nội, để thể hiện tâm lý đời sống văn hóa của người Việt Nam

Rõ ràng, điều này cho ta thấy chủ ý sáng tác mạnh mẽ của đạo diễn Trần Anh Hùng với bối cảnh phải giống như thật mặc dù bộ phim được sản xuất hoàn toàn bởi kinh phí của nước ngoài

Trang 33

Mùi đu đủ xanh: quầy buôn bán của gia đình, hướng nhìn ra đường, Bà chủ và bà

Ti đang kiểm tiền khi vừa giao dịch với khách hàng Cảnh dựng được tỉ mỉ với các đạo cụ đầy đủ, chi tiết với từng phần nhỏ dù là hậu cảnh

Từ cảnh 01:10:01 đến 01:41:35, căn nhà của nhân vật Khuyến, bạn Trung (con cả của gia đình buôn vải), là bối cảnh của phần thứ hai trong bộ phim Câu chuyện xoay quanh mối quan hệ giữa ba người, Mùi - Khuyến và vị hôn thê của Khuyến Đạo diễn đã xử lý những khung hình gắn liền với bối cảnh để thể hiện mối quan hệ tay ba này Ban đầu Mùi khi tiếp xúc với Khuyến luôn có một khoảng cách và một vật cản xuất hiện trong khung hình (một bức tường, ô cửa

sổ, tủ…) Những vật cản và khoảng cách này từ từ biến mất khi mối quan hệ của hai nhân vật này được gắn kết, trong cảnh 01:27:18 đến 01:29:40 khi hôn thê của Khuyến giận bỏ về trong mưa

Trang 34

Mùi đu đủ xanh: trong cảnh dựng, đây là một phần trong nhà Khuyến với các

khung cửa, vách, hậu cảnh có chậu cây kiểng đều phối màu xanh Ánh sáng từ ngoài hắt vào cho người xem phân biệt được đây là cảnh buổi sáng sớm

Hai bối cảnh chính, tất cả các cảnh trí và đạo cụ đều được dựng trong phim trường, thiết kế thực hiện theo đúng ý đồ của đạo diễn và quay phim Do đó, tổ chế tác hoàn toàn chủ động trong việc sáng tạo nghệ thuật như dàn cảnh, vị trí đặt máy quay, chuyển động của máy quay theo nhân vật, bố trí các thiết bị chiếu sáng, thiết bị hỗ trợ quay…

- Nhân vật:

Do hai bối cảnh trong phim Mùi đu đủ xanh là cảnh dựng trong phim

trường ở Pháp nên các diễn viên được chọn đa phần là nghiệp dư và đều sinh sống ở nước ngoài, duy chỉ có bà vú Ti (Nguyễn Ánh Hoa) là diễn viên từ Việt Nam sang Đạo diễn Trần Anh Hùng đã chọn Trần Nữ Yên Khê (là vợ của đạo diễn) vào vai Mùi lúc trưởng thành có dáng người mảnh khảnh, tươi trẻ với gương mặt khả ái, mang nét đẹp cổ điển phù hợp với vai diễn và vóc dáng của người Việt Nam Khi xem phim, chúng ta có thể nhận thấy rõ trong phim có hai

Trang 35

phần chính rõ rệt, đó là: giai đoạn Mùi lúc 10 tuổi và giai đoạn mười năm sau khi Mùi đã trưởng thành là một thiếu nữ, đi làm thuê cho người nhạc sĩ trẻ tên Khuyến, là bạn của Trung (gia đình buôn vải)

Nhân vật chính: cô bé Mùi lúc nhỏ và khi lớn, với vai trò như một người dẫn chuyện đã dẫn dắt người xem chứng kiến và hiểu rõ được không gian – thời gian với các sự việc xảy ra qua từng giai đoạn trong câu chuyện của bộ phim Thông qua nhân vật Mùi, người xem đã được nghe và thấy cuộc sống, những sinh hoạt hằng ngày, những đặc trưng của người dân Việt trong một khu phố ở Sài Gòn - Việt Nam vào những năm 50

Mùi đu đủ xanh: nhân vật Mùi lúc nhỏ và khi lớn do hai diễn viên không chuyên

là Lư Mẫn San, Trần Nữ Yên Khê thủ vai

Trang 36

+ Mùi khi lớn (Trần Nữ Yên Khê): với gương mặt khả ái, dịu dàng, người xem thấy được sự ngây ngô, ngoan hiền, tình cảm, chân chất, cam chịu số phận, nhưng vẫn chăm chỉ, chịu khó tìm tòi, học hỏi, dám nghĩ, dám yêu, luôn thích nghi với môi trường mới

Nhân vật phụ:

- Bà Chủ (Trương Thị Lộc), hình ảnh người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, dịu hiền, chịu thương chịu khó Làm tròn bổn phận đạo dâu con, và người vợ người

mẹ chỉ chuyên tâm chăm sóc cho chồng, con từ miếng ăn giấc ngủ

- Khuyến bạn Trung (Vương Hoa Hội), nhạc sĩ, sống và yêu bằng cả tâm hồn người nghệ sĩ

- Các nhân vật khác như: ông Chủ (Trần Ngọc Trung); ba người con trai là Trung (Keo Souvannavong), Lãm (Đỗ Nhật), Tín (Neth Gérard) Bà vú Ti

(Nguyễn Ánh Hoa); bà Nội (Võ Thị Hai); ông Thuận (người si mê bà Nội); Vợ Trung; Hôn thê của Khuyến

Chỉ mới qua những hình ảnh trong cảnh đầu phim 00:00:29 đến 00:02:32, với nét mặt ngây ngô, vầng trán cao lộ vẻ thông minh của Mùi; với cử chỉ hơi rụt

rè, lễ phép qua giao tiếp của cô bé, cùng với phục trang là chiếc khăn cũ quấn trên đầu, chiếc áo bị rách vai, đạo cụ là hai chiếc túi vải cũ, người xem đã phần nào có thiện cảm và hiểu được xuất thân của nhân vật Qua hình ảnh của những nhân vật nữ trong phim, người xem nhận ra những nét đặc trưng cơ bản rất Việt Nam: đó là thân phận hiền lành, nhẫn nhịn, cam chịu, hy sinh và cần mẫn của người phụ nữ Việt Nam

Trang 37

Mùi đu đủ xanh: Bé Mùi lúc 10 tuổi, đang dò dẫm tìm đường đến ngôi nhà mà

mình làm thuê, đây là cảnh quay dài và là cảnh mở đầu phim

2.1.1.2 Xích lô (Cyclo)

Trong ba phim khảo sát chỉ có duy nhất Mùi đu đủ xanh là quay trong phim trường, hai phim Xích lô và Mùa hè chiều thẳng đứng thì được thực hiện

với bối cảnh thật, đường phố thật, sử dụng ánh sáng thật với một số cảnh

- Bối cảnh: có các bối cảnh chính sau

Bối cảnh thứ nhất: căn hộ của nhân vật Xích lô là một căn phòng cũ kỹ, tồi tàn,

ẩm thấp, dột nát, chật hẹp nằm trong một tòa nhà chung cư cũ nhưng vắng vẻ tuy rằng chung cư nằm trong khu đông đúc dân cư ở quận 5 Sài Gòn Đây là nơi Xích lô bị giam lỏng, dùng để tạm trú trước và sau khi gây án; Xích lô phải ở đó

để chờ lệnh của Nhà thơ và bà Chủ giao lệnh thực hiện các phi vụ phạm tội như tưới nước bẩn kho gạo, đốt kho… bị đánh đập, dụ dỗ và được hai tên đàn em của Nhà thơ dạy cách thực hiện phạm tội ác; Nơi này cũng là chỗ Xích lô sinh hoạt

cá nhân hằng ngày, tự hành hạ mình… nhiều sự việc, biến cố, chuyển biến tâm

lý của Xích lô đều xảy ra ở trong căn hộ này Tuy phim được thực hiện trên bối

Trang 38

cảnh thật, nhưng các nhà làm phim đã cho thiết kế phục dựng, chỉnh sửa, sắp đặt các vật dụng đạo cụ trong căn hộ này rất chi tiết, tỉ mỉ như trần nhà bị dột, sàn nhà ẩm ướt, ban công cũ kỹ, những dây điện chằng chịch, các vật dụng, những

đồ bỏ đi, táp lô cũ với dây điện bị rò rỉ chạm tay vào là bị điện giựt xẹt lửa… Tất

cả những đạo cụ, cảnh trí trong phim đã cho người xem nhận rõ đây là một căn hoang tàn, tạm bợ, chỉ dành cho những kẻ phạm tội trú ẩn, những người xấu mới dám đặt chân vào đây

Bối cảnh thứ hai: căn hộ của Nhà thơ - cánh tay đắc lực và là tình nhân của bà

Chủ, y là người điều hành trực tiếp các vụ phạm tội như phá hoại tài sản nhà nước, giết người, vận chuyển và buôn bán ma túy, bảo kê gái mại dâm Bối cảnh này nằm trong khu chung cư đối diện với chung cư của Xích lô, là nơi trú ngụ của y, chỗ chứa chấp gái bán hoa, cũng là nơi phục vụ cho khách làng chơi, phục

vụ những kẻ biến thái bị ám ảnh tình dục Đây là chỗ có nhiều tội ác, dơ bẩn, cũng chính là nơi kết thúc cuộc đời của Nhà thơ, một kẻ đã phạm nhiều tội lỗi,

kẻ có nhiều mâu thuẫn bên trong của một người đa nhân cách

Bối cảnh thứ ba: nơi Bà chủ sống cùng đứa con trai bị thiểu năng, trạc tuổi của

Xích lô Đây là chỗ ở và điều phối các công việc phạm tội, vi phạm pháp luật của băng nhóm xã hội đen, tất cả do bà Chủ quản lý Câu chuyện trong căn hộ của bà Chủ: mọi việc đều xảy ra ở một căn phòng, có một cái giường, nơi bà Chủ thường xuyên ngồi chơi với con trai Đây cũng là nơi bà ta làm việc, điều hành băng nhóm tội phạm, trong đó trực tiếp quản lý các phi vụ là Nhà thơ, hai tên cận vệ của Nhà thơ và Xích lô Cũng trong căn hộ của bà Chủ, còn có một phòng với chiếc giường ngủ, chỉ thấy khi có phân đoạn bà Chủ ở chung với Nhà thơ Với các hình ảnh trong phim, người xem thấy rõ tuy rằng là bà Chủ nhưng

Trang 39

căn hộ của bà ta cũng không hơn gì các căn hộ khác Cũng nằm cùng chung một khu dân cư lao động, ở một quận tại Sài Gòn vào hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ Ngoài ra, còn có bối cảnh của gia đình Xích lô, nằm trong một xóm lao động nghèo, căn hộ ở sát một dòng kênh nước đen Nơi đây Xích lô ở chung với ông Nội, Chị và Em gái Trong căn hộ của Xích lô, câu chuyện thường tập trung ở không gian bếp, được thể hiện với các cỡ cảnh toàn hẹp, trung cảnh, cận cảnh làm cho người xem hiểu rõ hơn đây là không gian chật hẹp Là nơi chính để sử dụng cho mọi sinh hoạt trong gia đình hằng ngày, trò chuyện, nấu ăn đạo diễn không cần cảnh toàn rộng để mô tả căn phòng cho người xem, đây cũng là một phong cách thể hiện của tác giả Tuy nhiên với cách dàn cảnh, diễn xuất của diễn viên, cách đặt góc máy, sự chuyển động của máy quay, bố trí ánh sáng, màu sắc… người xem vẫn hình dung và hiểu rõ được không gian thời gian xảy ra câu chuyện về gia đình Xích lô Khi gia đình Xích lô tập hợp lại vào buổi chiều tối hằng ngày, sau khi bốn người đều đi làm, đi học, kiếm tiền về đều tập trung ở chỗ có cái bếp, nơi chị của Xích lô nấu ăn Các thành viên trong nhà đều gom những đồng tiền công đã kiếm được trong ngày để đưa cho chị của Xích lô, là người quản lý chi tiêu trong cuộc sống của gia đình Không gian bếp, nơi nấu ăn,

là nguồn sống để tồn tại được đạo diễn sử dụng để kể các sự việc trong gia đình Xích lô, đó cũng là ý đồ trong việc tạo hình bối cảnh để phục vụ cho nội dung kịch bản của những người sáng tác, cụ thể là đạo diễn và quay phim

Ngoài các bối cảnh chính, phim Xích lô còn có các bối cảnh phụ như: các

địa điểm gây án, thực hiện tội ác; góc chung cư cũ hoang vắng, sân thượng là nơi

hành quyết của băng nhóm phạm tội do tên đao phủ với cách hát ru tra tấn tư

tưởng nạn nhân trước khi ra tay; vũ trường nơi giao dịch môi giới gái mại dâm cho khách làng chơi; kho gạo; quán ăn; trường học; lò giết mổ heo; đường phố

Trang 40

v.v… Các bối cảnh xảy ra các câu chuyện trong phim đều tập trung trong một vài địa điểm ở Sài Gòn, đều là bối cảnh thật Nhưng có sự sắp đặt, sắp xếp của đội ngũ thiết kế kết hợp với nhà quay phim, tổ ánh sáng để dựng, dàn cảnh như thế nào, ra sao, … tất cả để phục vụ tốt cho nội dung kịch bản và ý đồ đạo diễn Đội ngũ thiết kế và nhà quay phim phải sắp đặt tính toán mọi việc để tổ quay, tổ ánh sáng có thể: có vị trí đặt máy cố định, máy di động, có chỗ để đặt được nhiều góc máy khác nhau, góc cao, góc thấp… có chỗ đặt các thiết bị chiếu sáng, thiết

bị hỗ trợ quay Tuy rằng phim Xích lô được thực hiện trên bối cảnh thật, tức là ít

nhiều cũng bị động về mặt thiết kế, kết cấu có sẵn của các ngôi nhà nhưng đạo diễn, nhà quay phim cộng với sự kết hợp chuẩn bị chu đáo của đội ngũ thiết kế,

họ vẫn làm tốt các bối cảnh để phục vụ cho nội dung của từng phân đoạn, trường đoạn của phim Tất cả mọi việc đều được ê kíp tính toán kỹ lưỡng, khoa học, lôgic, chỉn chu Nên khi xem phim, khán giả hoàn toàn tin và dễ hiểu câu chuyện được kể của đạo diễn nhờ những hình ảnh được mô tả rất chân thật, tạo được không khí mang đậm “chất” Việt Nam, với những góc máy, những chuyển động của máy quay, của ánh sáng, âm thanh, âm nhạc… qua diễn xuất của diễn viên Các bối cảnh như nhà của Xích lô, nhà của Bà chủ, nơi ở của Nhà thơ, nơi giam lỏng và tạm trú của Xích lô… tất cả bốn bối cảnh đó đều là cảnh thật Nhưng được sự thiết kế lại, sắp đặt các cảnh trí, đạo cụ v.v… do đội ngũ thiết kế thực hiện với sự kết hợp, quản lý của nhà thiết kế điện ảnh và nhà quay phim theo ý đồ của đạo diễn và nội dung câu chuyện

Bốn bối cảnh trên đều có một điểm tương đồng, là tất cả đều là những căn

hộ nghèo, nằm trong khu dân cư lao động đông đúc, nơi có những căn nhà xưa

cũ, ẩm thấp dột nát Với tạo hình bối cảnh đó, đã cho người xem dễ hình dung,

dễ hiểu hơn hơn nội dung câu chuyện Và những ai đã từng biết đến Sài Gòn

Ngày đăng: 15/03/2021, 17:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w