Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập.. Phạm vi nghi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: 60 22 03 08
Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Thị Phượng
Hà Nội - 2014
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn của TS Ngô Thị Phượng Các kết quả nghiên
cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn có xuất xứ rõ ràng
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, trước hết em xin chân
thành cảm ơn sự dạy dỗ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong
khoa Triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội trong suốt thời gian em học tập và
nghiên cứu tại khoa, tại trường
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn TS Ngô Thị Phượng đã
trực tiếp hướng dẫn tận tình và chu đáo trong quá trình em thực hiện và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá
trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Học Viên
Dương Thị Huế
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 11
C h ư ơ n g 1 PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1 Quan niệm về trí thức và khái quát về đội ngũ trí thức trên địa bàn thủ đô Hà Nội 11
1.2 Hà Nội trong bối cảnh hội nhập và vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội 34
1.3 Quan niệm về phát huy vai trò của đội ngũ trí thức và những nội dung cơ bản trong phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 54
C h ư ơ n g 2 PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 55
2.1 Thành tựu trong phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập 55
2.2 Hạn chế trong phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập 70
2.3 Giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của việc phát huy vai trò đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 97
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 113
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của cách mạng KHCN hiện đại, các quốc gia, ở những cấp độ khác nhau, đang bước vào thời kỳ xây dựng, phát triển kinh tế tri thức và xã hội thông tin Càng ngày giá trị của tri thức, vai trò của đội ngũ trí thức càng được đề cao như là nguồn lực quan trọng đặc biệt, phản ánh sức mạnh của mỗi một quốc gia trong cuộc chạy đua, cạnh tranh toàn cầu
Vì vậy, mọi quốc gia đều ưu tiên cho chính sách phát triển nguồn lực trí tuệ, đội ngũ trí thức nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững
Ở nước ta, không phải chỉ đến những năm đầu thế kỷ XX, vai trò của trí thức mới được đề cao mà ngay từ thế kỷ XV ông cha ta đã coi: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp Vì thế mà các vị thánh đế và minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sỹ, vun trường nguyên khí là việc đầu tiên” [71] Theo tinh thần đó, hiếu học đã trở thành truyền thống của người Việt Nam Chính truyền thống quý báu đó, dân tộc ta trải qua hàng nghìn năm, với bao thăng trầm, nhưng vẫn sản sinh rất nhiều bậc anh hùng hào kiệt, các trí thức tài năng Họ đã đóng góp công sức và trí tuệ không nhỏ cho sự hưng thịnh của nước nhà
Đẩy mạnh CNH, HĐH theo định hướng XHCN, tranh thủ những cơ hội lớn trong bối cảnh hội nhập là vấn đề đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Trong điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, nguồn lực tài chính còn eo hẹp, việc phát huy vai trò nguồn lực con người, đặc biệt là vai trò của đội ngũ trí thức là một yêu cầu tất yếu và cấp bách hiện nay
Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não về chính trị - hành chính quốc gia, đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học giáo dục và giao dịch quốc tế của
cả nước Sau gần 30 năm đổi mới và hơn 10 năm thực hiện nghị quyết 15-NQ/TW
của Bộ Chính trị Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời
kỳ 2001 - 2010, Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện, tạo sự chuyển
Trang 8biến căn bản trong đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của cả nước Trong quá trình xây dựng và phát triển, Thủ đô Hà Nội đã vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu “Thủ đô anh hùng”, ba lần được tặng thưởng Huân chương Sao vàng và được tổ chức UNESCO vinh danh là “thành phố vì hòa bình” Trong những thành quả đó, có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị Về phương hướng, nhiệm vụ phát
triển thủ đô giai đoạn 2011-2020 đã xác định: “Trong 10 năm tới, trên cơ sở vận
dụng sáng tạo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2011-2020 gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội, huy động tối đa sức mạnh tổng hợp cả về vật chất và tinh thần của Thủ đô và cả nước xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội xứng đáng với vai trò là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, một động lực phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước; có kinh tế - xã hội phát triển toàn diện, bền vững, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường, hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh Phấn đấu để Hà Nội thực sự là địa phương đi đầu, về đích sớm 1 - 2 năm sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; đóng góp ngày càng quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [9] Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cao cả đó, đòi hỏi sự
nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân Hà Nội, của cả nước, trong đó có vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức trên địa bàn thủ đô Hà Nội
Đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có số lượng đông đảo, chất lượng cao và đa dạng về cơ cấu Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, đội ngũ này ngày một phát triển, là đại diện cho đỉnh cao trí tuệ của trí thức Việt Nam Là một
bộ phận đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đội ngũ trí thức trên
Trang 9địa bàn Thủ đô Hà Nội đã có những đóng góp to lớn cho Thủ đô Hà Nội nói riêng
và đất nước nói chung, như: cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình hình thành, phát triển chủ trương đường lối phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu mới của bối cảnh hội nhập hiện nay, tham gia phản biện, giám định xã hội về KHCN để giữ vững định hướng XHCN trong bối cảnh hội nhập Đặc biệt, đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là lực lượng quan trọng nhất trong thực hiện chiến lược xây dựng Thủ đô - Văn hiến - Anh hùng - Hòa bình - Hữu nghị…
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thế mạnh với những đóng góp tích cực vào
sự nghiệp phát triển của Thủ đô và đất nước, đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội còn có hạn chế, bộc lộ những bất cập trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong bối cảnh hội nhập hiện nay Vì vậy, làm rõ thực trạng phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô, từ đó có những giải pháp thích hợp để tiếp tục phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô là một đòi hỏi cấp thiết mà thực tiễn đang đặt ra, một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, cần được luận giải một cách nghiêm túc và khoa học Để góp phần đáp ứng đòi hỏi đó, chúng tôi đã chọn
vấn đề “Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh
hội nhập” làm đề tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam
và đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội Có thể phân chia các công trình đó theo nhóm các vấn đề sau:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam
- GS Phạm Tất Dong (chủ biên) (2001), Định hướng phát triển đội ngũ trí
thức Việt Nam trong CNH, HĐH, Nxb CTQG, Hà Nội Cuốn sách trình bày tổng
quát những yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đối với đội ngũ trí thức… Phân tích tương đối toàn diện cả về mặt lịch sử triển vọng và thực trạng hiện nay của đội ngũ trí thức… Đề xuất những định hướng, chính sách về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam (từ năm 2000 đến năm 2010), về không ngừng nâng cao học vấn cho toàn dân, nhất là việc trí thức hóa công nông theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 10- Nguyễn Văn Sơn (2001), Cơ cấu và chất lượng trí thức giáo dục đại học ở
nước ta hiện nay, luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội Trên cơ sở làm rõ những nét cơ
bản về thực trạng cơ cấu và chất lượng đội ngũ trí thức giáo dục đại học, từ đó đề xuất một số giải pháp lớn nhằm xây dựng đội ngũ này có cơ cấu hợp lý và chất lượng cao để góp phần xây dựng nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay nói riêng cũng như công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta nói chung
- Trịnh Quang Cảnh (2002), Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam
trong công cuộc đổi mới, luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội Trong luận án này, tác
giả đã làm rõ những đặc điểm của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số, đi sâu phân tích thực trạng đội ngũ này ở nước ta hiện nay và đề xuất phương hướng, những giải pháp chủ yếu để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu
số (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía bắc) trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
- Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt
Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Trong công trình này, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích
một cách khá công phu về vị trí, vai trò và thực trạng nguồn lực trí tuệ của đất nước, tác giả đã tập trung xây dựng hệ thống các giải pháp thiết thực, cấp bách nhằm phát huy có hiệu quả nguồn lực này trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
- Lê Quang Quý (2005), Xây dựng trí thức ngành kiến trúc trong công cuộc
đổi mới ở nước ta hiện nay, luận án tiến sĩ khoa học Triết học, Hà Nội Trong luận
án này, tác giả đã trình bày những đặc điểm, vai trò, thực trạng và dự báo xu hướng phát triển của đội ngũ trí thức ngành kiến trúc Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước, xác định yêu cầu, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ trí thức ngành kiến trúc Việt Nam trong những năm tới
- Nguyễn Đắc Hưng (2005), Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất
nước, Nxb CTQG, Hà Nội Trong công trình này, khái niệm trí thức, nguồn gốc
hình thành, vị trí vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong giai đoạn hiện nay được tác giả nghiên cứu khá kỹ Tác giả cũng đã trình bày một số vấn đề bức xúc đang đặt ra cho đội ngũ trí thức nước nhà và đề xuất một số phương hướng xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức
Trang 11- Ngô Thị Phượng (2007), Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt
Nam trong sự nghiệp đổi mới, Nxb CTQG, Hà Nội Trong cuốn sách này, tác giả đã
phân tích rõ khái niệm trí thức khoa học xã hội và nhân văn và vai trò của họ đối với sự phát triển của xã hội; phân tích những đặc điểm và xu hướng phát triển của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam; xác định những vấn đề đặt
ra đối với đội ngũ này dưới tác động của sự nghiệp đổi mới đất nước; đánh giá những thành tựu, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân cũng như xác định mâu thuẫn nảy sinh trong việc thực hiện vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong những năm vừa qua; đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của đội ngũ này đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới hiện nay
- PGS.TS Phan Thanh Khôi (2008), Đóng góp của đội ngũ trí thức vào chủ
trương, đường lối hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Lý luận chính trị, số 3, tr 17-20
Trong bài viết này tác giả đã phân tích những đóng góp của đội ngũ trí thức vào đường lối hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Đồng thời đưa ra các giải pháp để đội ngũ trí thức Việt Nam làm tốt hơn vai trò này
- Võ Văn Thắng (2013), Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ
CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Tạp chí Triết học, số 2, tr 52-58 Tác giả đã bàn
về khái niệm trí thức trong bối cảnh hiện nay; thực trạng về đội ngũ trí thức và đưa
ra các giải pháp cơ bản nhằm phát huy hơn nữa vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
- TS Lưu Minh Trị (chủ biên) (1999), Phát huy nguồn lực chất xám phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô, Nxb CTQG, Hà Nội Công trình
đã nêu lên một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát huy nguồn lực chất xám, bài học từ việc sử dụng trí thức và nhân tài trong lịch sử dân tộc, đánh giá chính sách phát huy nguồn lực chất xám phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
- Nguyễn Xuân Phương (2004), Vai trò của trí thức Thủ đô Hà Nội trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, luận án tiến sỹ Triết học, Hà Nội
Trang 12Trên cơ sở trình bày nhiệm vụ CNH, HĐH của đất nước nói chung, Hà Nội nói riêng, tác giả cho rằng: với tư cách là bộ phận quan trọng nhất của trí thức cả nước, trí thức Thủ đô đã và đang giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển của Thủ đô nói riêng và đất nước nói chung Thông qua việc đánh giá thực trạng của trí thức Thủ đô, tác giả đề xuất nhiều giải pháp quan trọng nhằm phát huy vai trò của đội ngũ này vào công cuộc CNH, HĐH đất nước hiện nay
- Nguyễn Duy Tưởng - Chu Thanh Hải (2010), Hào khí Thăng Long - Hà
Nội thời đại Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Cuốn sách đã khái quát
lịch sử Thủ đô Hà Nội, tập hợp những sự kiện tiêu biểu nhất trong lịch sử đấu tranh cách mạng, chống ngoại xâm của Hà Nội từ ngày có Đảng lãnh đạo, từ đó khẳng định Hà Nội là Thủ đô của phẩm giá con người, Hà Nội là nơi hội tụ nhân tài - nguyên khí của dân tộc
- GS Trần Quốc Vượng (2010), Danh Nhân Hà Nội, Nxb Quân đội nhân dân,
Hà Nội Thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa cũng là vùng đất địa linh nhân kiệt, là nơi hội tụ nhân tài nhân sỹ của cả nước Tạo nên một Hà Nội tài hoa thanh lịch giàu truyền thống lịch sử và văn hiến như ngày nay có một phần
không nhỏ của những vị hiền tài Cuốn sách Danh nhân Hà Nội không chỉ đơn
thuần là một cuốn sách kể lại tiểu sử danh nhân càng không phải là cuốn sách nhìn nhận các nhân vật lịch sử thông qua các con số ghi chép ngày tháng hoạt động bình thường, chúng ta có thể thấy tác giả tiếp cận những con người này dưới những góc
độ văn hóa, đặt những nhân vật trong bối cảnh lịch sử mà họ đang sống Có thể thấy đây không phải là cuốn sách kể về danh nhân thông thường mà là cuốn sách nói về danh nhân, xem xét những con người của lịch sử với thái độ nghiêm túc, tinh thần khoa học với nhiều tìm tòi, khám phá mới mẻ, hấp dẫn
- GS Trần Văn Bính (chủ biên) (tái bản và sửa chữa) (2010), Văn hóa Thăng
Long - Hà Nội hội tụ và tỏa sáng, Nxb CTQG, Hà Nội Ở cuốn sách này, tác giả đã
khẳng định Hội tụ và Tỏa sáng là đặc trưng của văn hóa Thăng Long Hà Nội trong suốt chiều dài lịch sử Đặc trưng ấy cần phải được nhìn lại, tìm kiếm, phân tích, đánh giá và rất cần phải được phát huy trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Thủ đô Cuốn sách “Văn hóa Thăng Long - Hà Nội hội tụ và tỏa sáng” là một cố gắng bước
Trang 13đầu của các trí thức, các nhà khoa học lịch sử, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật Thủ đô thiết thực chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
- Lương Quang Hiển (2013), Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo xây dựng
và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức từ năm 1997 đến năm 2007, luận án tiến sỹ
Triết học, Hà Nội Luận án làm rõ quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về đội ngũ trí thức Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ trí thức Hà Nội, trên cơ sở đó làm rõ đặc điểm tiêu biểu của trí thức Thủ đô Hà Nội Phân tích thành công, hạn chế của quá trình Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, bổ sung hoàn thiện chính sách về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới
v.v…
Nhìn chung các công trình trên đây đã đi sâu luận giải và làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức nước ta nói chung và đội ngũ trí thức Thủ đô Hà Nội trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn:
Luận văn làm rõ vai trò, thành tựu và hạn chế trong việc phát huy vai trò của của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập, từ đó đề xuất các giải pháp cơ bản tiếp tục phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
Nhiệm vụ của luận văn:
- Làm rõ quan niệm về trí thức, khái quát về đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ
đô Hà Nội
- Nêu những cơ hội và thách thức đối với Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
- Trình bày vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
Trang 14- Phân tích những thành tựu và hạn chế trong phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thực tiễn:
- Luận văn thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức và công tác trí thức Luận văn cũng kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến
nội dung luận văn
- Cơ sở thực tiễn của luận văn là kết quả của những hoạt động, nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
Phương pháp nghiên cứu:
-Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
- Kết hợp các phương pháp lịch sử - lôgic, phân tích, tổng hợp, quan sát, thu thập phân tích so sánh số liệu…
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng mà luận văn tập trung nghiên cứu là việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
Phạm vi nghiên cứu:
Đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là những trí thức đang sinh sống, công tác và học tập trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, ở các cơ quan, viện nghiên cứu, trường học của Trung ương và Hà Nội…
Phạm vi thời gian nghiên cứu chủ yếu từ khi thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) - Đại hội đánh dấu giai đoạn đất nước
bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH trong bối cảnh hội nhập
Trang 156 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn trình bày một cách tương đối hoàn chỉnh về thực trạng phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội; từ đó đề xuất các giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ này đáp ứng yêu cầu của đất nước trong bối cảnh hội nhập
7 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn cung cấp thêm cơ sở để các cơ quan lãnh đạo, quản lý xây dựng, hoàn thiện chính sách phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy
và học tập, những vấn đề liên quan đến trí thức trong các khoa học lý luận chính trị
và các chuyên ngành khoa học khác
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 2 chương 6 tiết
Trang 16NỘI DUNG
C h ư ơ n g 1. PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP: CƠ SỞ
LÝ LUẬNVÀ THỰC TIỄN 1.1 Quan niệm về trí thức và khái quát về đội ngũ trí thức trên địa bàn thủ đô
Hà Nội
1.1.1 Quan niệm về trí thức
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường hiểu đơn giản và chưa đầy đủ về trí thức Thông thường người có được tấm bằng cao đẳng trở lên thì đều được gọi là trí thức Cách hiểu này đã tầm thường hóa khái niệm trí thức và do đó đã tầm thường hóa giới trí thức Theo nhiều nhà khoa học “trí” thuộc về hiểu biết, “thức” thuộc về lương tri Trí thức là những người biết mình, biết người, hiểu biết xã hội và phụng sự xã hội, gắn sự nghiệp của mình với sự phát triển xã hội, và do đó, trí thức phải là người có đức độ Cho nên, nói đến “chuẩn” của người trí thức, người ta thường nhấn mạnh đến một lượng kiến thức lớn, nhưng đồng thời lại nói đến tinh thần sáng tạo và phẩm chất đạo đức
Thuật ngữ “trí thức” được dùng ở nhiều nước trên thế giới và có nguồn gốc từ tiếng La tinh: Intelligentia nghĩa là thông minh, có trí tuệ, hiểu biết, có suy nghĩ Từ nửa sau của thế kỷ XIX, khái niệm này trở nên thông dụng, người ta thường dùng nó
để chỉ những người có học vấn cao, chuyên thực hiện lao động trí óc phức tạp
Xuất phát từ nhiều cách nhìn và phương pháp tiếp cận khác nhau, cho đến nay có đến hàng trăm khái niệm hay định nghĩa về trí thức Sự phong phú về khái niệm trí thức cho thấy việc xác định chính xác và đầy đủ nội hàm khái niệm trí thức, quả thật không dễ, chính vì vậy khái niệm trí thức và giới trí thức vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, mỗi khái niệm đều có sự hợp lý của nó
Theo từ điển Triết học của Nxb Tiến bộ (năm 1986) định nghĩa: “Trí thức - tập đoàn xã hội gồm những người làm nghề lao động trí óc Giới trí thức bao gồm
kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức” [78]
Trang 17Theo V.I.Lênin trí thức: “… bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự
do nói chung, các đại biểu của lao động trí óc (tức là những người mà người Anh gọi là brain worker), khác với những đại biểu của lao động chân tay’’ [82, tr 372]
Khi bàn về khái niệm trí thức, cần đặc biệt lưu ý quan điểm của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về trí thức Trong Sửa đổi lối làm việc, sau khi đánh giá cao vai trò của
những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trí thức là gì?”, “Trí thức là hiểu biết Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản Khoa học tự nhiên do đó mà ra Hai
là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội Khoa học xã hội do đó mà ra Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác”, “Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh
giặc, không biết làm nhiều việc khác Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì
cả Thế là y chỉ có tri thức một nửa Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí
thức hoàn toàn Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí
thức đó áp dụng vào thực tế” [48, tr 13-14]
Tuy định nghĩa trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không theo cách định nghĩa mang tính chất tu từ của các nhà ngôn ngữ học, nhưng bằng cách diễn đạt dễ hiểu, Người cho thấy rõ trí thức là ai và ai là người trí thức chân chính hay nói như Người
là trí thức hoàn toàn
Một số người khác lại cho rằng những người hoạt động trí óc trong lĩnh vực nào thì chỉ được coi là trí thức trong lĩnh vực chuyên môn đó, còn ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ đang làm, có nghĩa là ở các lĩnh vực khác thì họ chỉ được coi là những người bình thường như bao người khác Nếu quan niệm trong phạm vi hẹp như vậy thì những người được coi là trí thức sẽ rất hạn chế Một loại ý kiến lại cho rằng trí thức là những người sáng tạo những giá trị về vật chất, giá trị tinh thần hoặc
cả hai và mức độ đánh giá về trí thức phụ thuộc vào mức độ sáng tạo, như vậy, cho phép phân loại trí thức ở những tầng bậc khác nhau Có những trí thức tầm cỡ thế giới, có trí thức tầm cỡ khu vực, có trí thức tầm cỡ quốc gia Một số người lại cho
Trang 18rằng trí thức là người sử dụng trí óc một cách sáng tạo, họ thuộc lớp những người thông minh nhất trong xã hội, có khả năng phát triển cao độ để hiểu biết và lý giải những vấn đề nảy sinh trong xã hội Họ được đào tạo đến trình độ có khả năng hoạt động trong các lĩnh vực khoa học hay nghệ thuật, hoặc có khả năng hoạt động liên quan đến tư duy ở mức độ cao hơn những người bình thường hay nói cách khác là những người chuyên lao động trí óc…
Hiện nay, thế giới đang trong thời kỳ hội nhập, với sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông và Internet, đòi hỏi ngày càng cao những phẩm chất của người trí thức Một mặt, họ phải dũng cảm nói lên ý kiến của mình, đấu tranh vì những giá trị tiến bộ của nhân loại như tự do, bình đẳng, hạnh phúc, thịnh vượng, công bằng; phải trung thực, độc lập, sáng tạo, tự chủ, góp sức mình cho sự nghiệp phát triển của đất nước Mặt khác, họ phải có trách nhiệm và cân nhắc về những điều mình nói và mình viết, vì chúng có tác động sâu sắc đến xã hội Trong số các tính cách của trí thức thì tính trung thực là quan trọng nhất Không trung thực thì trí thức chỉ có tri thức giả, đạo đức giả và hậu quả của những sự “giả” ấy sẽ gây ra những thảm họa cho con người Người trí thức mang những giá trị tốt đẹp không phải tự nhiên mà
có, họ phải được giáo dục, rèn luyện trong một thời gian dài Tuy nhiên, trong khoảng thời gian con người sống và hoạt động sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chính trị và KT-XH, nhất là chịu ảnh hưởng bởi sự tác động về chính sách và cách thức giáo dục từ gia đình đến xã hội làm cho nhân cách của con người cũng có sự biến đổi
Qua một số quan niệm, định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy rằng dù góc độ tiếp cận khác nhau, song những quan niệm, định nghĩa này đều dựa vào một số đặc trưng cơ bản của trí thức
Thứ nhất, trí thức là người lao động trí óc phức tạp sáng tạo
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động của mình tác động vào tự nhiên, nhằm khai thác và cải tạo tự nhiên theo những phương thức nhất định, phục vụ cho nhu cầu của mình Phương thức mà con người sử dụng để tác động vào tự nhiên trong các thời đại và ngay cả trong một thời đại cũng khác nhau
Trang 19Họ có thể tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới tự nhiên thông qua lao động chân tay hoặc lao động trí óc Nói tới trí thức là nói tới hoạt động lao động sáng tạo bằng trí óc Lao động trí óc là một trong những cách thức mà một bộ phận trong xã hội sử dụng để tác động đến tự nhiên một cách gián tiếp Lao động trí óc xuất hiện
là kết quả của sự phân công lao động trong xã hội và phát triển lực lượng sản xuất
Sự xuất hiện lao động trí óc dẫn đến sự ra đời một tầng lớp lao động đặc biệt trong
xã hội - tầng lớp trí thức Tuy nhiên, lao động trí óc là lĩnh vực tương đối rộng, bao gồm lao động trí óc giản đơn và lao động trí óc phức tạp Lao động trí óc giản đơn
và phức tạp phân biệt với nhau ở mức độ hao phí năng lượng thần kinh trung ương trong quá trình làm việc Lao động trí óc phức tạp cần sự hao phí thần kinh trung ương cao hơn để thực hiện những hoạt động phức tạp của tư duy như phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, khái quát hóa, trừu tượng hóa về những sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội thành lý luận, tri thức khoa học mới, có tính sáng tạo Còn lao động trí óc giản đơn chỉ là những hoạt động lặp đi lặp lại nhiều lần và dần dần thành thói quen, phản xạ Lao động trí óc giản đơn thường không tạo ra tri thức khoa học mới mà chỉ tạo ra những tri thức kinh nghiệm thông thường Vì vậy, không phải tất cả những người lao động trí óc đều là trí thức, mà chỉ những người lao động trí óc phức tạp mới có khả năng trở thành người trí thức
Thứ hai, sản phẩm lao động của trí thức là tri thức khoa học mới
Tri thức khoa học phản ánh bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, phản ánh mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức lý tính, bắt nguồn từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm thông qua lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức - lao động trí óc phức tạp Sản phẩm lao động của trí thức chính là tri thức khoa học, sản phẩm này
có đặc điểm là tồn tại ở dạng tinh thần, có tính kế thừa nhưng không lặp lại, có giá trị xã hội cao Vì vậy lao động của trí thức là lao động mang tính sáng tạo rõ nét
Thứ ba, trí thức là người có trình độ học vấn, chuyên môn cao
Để thực hiện được hoạt động lao động trí óc phức tạp, sáng tạo nhằm tạo ra những tri thức khoa học, trí thức phải là những người có trình độ học vấn và chuyên
Trang 20môn sâu Tuy nhiên, tiêu chí trình độ học vấn để xác định trí thức mang tính lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện KT-XH, hoàn cảnh cụ thể, mặt bằng dân trí, nội dung giáo dục của từng quốc gia, dân tộc
Hiện nay, ở nhiều nước nói chung và Việt Nam nói riêng, trong điều kiện của nền giáo dục hiện đại, tiêu chí để xác định trí thức là từ trình độ cao đẳng trở lên Với trình độ kiến thức ban đầu như vậy, người trí thức mới có khả năng để thực hiện lao động sáng tạo thực sự Song, tiêu chí về trình độ học vấn mới chỉ là một dấu hiệu để xác định trí thức, chứ chưa đủ để trở thành trí thức Có những người có trình độ đại học, thậm chí trên đại học, nhưng lao động của họ không đảm nhiệm chức năng của người trí thức - sáng tạo tri thức khoa học, thì cũng chưa phải là trí thức Ngược lại, có những người không có bằng cấp, chủ yếu là tự học hỏi và từ thực tiễn lại có được lượng tri thức phong phú, có nhiều sáng tạo tri thức mới vẫn có thể coi là trí thức, thậm chí còn là nhà khoa học vĩ đại như Robert Owen, Phridich Ăngghen, Albert Einstein… Hay ở Việt Nam thời kỳ phong kiến, phụ nữ không được đến trường nhưng lại có những nữ trí thức điển hình như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm… Vì vậy, văn bằng chỉ là chứng nhận về trình độ học vấn, còn để được công nhận là trí thức phải được xã hội kiểm định chất lượng thông qua hoạt động thực tiễn
Trình độ học vấn là tiêu chí bắt buộc để trở thành người trí thức là điều kiện cần song chưa đủ, bởi vì, trên thực tế, bằng cấp mới chỉ là tiêu chí ban đầu của kiểu lao động trí óc, có khi nó chỉ là dấu hiệu bề ngoài nếu bằng cấp của một người không tương xứng với khả năng vốn có của họ Có những người trình độ học vấn cao nhưng không tham gia công việc lao động sáng tạo khoa học phức tạp của người trí thức mà tham gia vào hoạt động của các nhóm xã hội khác thì họ cũng không đóng vai trò của người trí thức thực sự Do đó trình độ học vấn là một điều kiện cần thiết để xếp vào đội ngũ trí thức, nhưng trình độ phải tương xứng với năng lực thật sự và còn phải tham gia vào công việc lao động sáng tạo khoa học phức tạp thì mới là người trí thức thực thụ Điều đó nói lên rằng, trình độ học vấn là điều kiện cần thiết để trở thành người trí thức, nhưng đó không phải là tiêu chuẩn quyết định tính chất đặc thù trong lao động sáng tạo của trí thức
Trang 21Bên cạnh trình độ học vấn, người trí thức còn phải được trang bị kiến thức sâu về chuyên ngành, có phương pháp nghiên cứu khoa học Kiến thức sâu về chuyên ngành là cơ sở và điều kiện cho lao động sáng tạo khoa học của trí thức Đó không chỉ là những kiến thức được trang bị trong nhà trường mà còn là sự tìm tòi, thể nghiệm, là những kinh nghiệm thực tiễn của bản thân đúc kết lại Để tham gia vào quá trình lao động sáng tạo khoa học, người trí thức phải đi sâu nghiên cứu chuyên ngành mà mình được đào tạo hoặc tham gia nghiên cứu khoa học Có kiến thức sâu về chuyên ngành thì họ mới có thể sáng tạo ra những sản phẩm khoa học đích thực đúng với tiềm năng, sở trường của họ
Thứ tư, trí thức tham gia (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội
Trí thức có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Trí thức góp phần phát triển những học thuyết, định hướng chính cho sự vận động của một giai cấp, một chính đảng, một quốc gia Họ là lực lượng chủ chốt trong nghiên cứu
cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất, trí thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Mặt khác, họ còn là lực lượng chủ yếu duy trì, phát triển nền văn hóa dân tộc, xây dựng, phát triển con người Họ thực hiện chức năng đào tạo trí thức mới cho đất nước, chức năng phê phán xã hội, tích cực tham gia các hoạt động xã hội Trí thức còn có trách nhiệm lớn trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu của thời đại, qua đó góp phần làm cho xã hội phát triển bền vững Ngày nay, trí thức là một chủ thể của cách mạng KHCN hiện đại, đang dần trở thành một bộ phận đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế tri thức
Hiện nay trong xã hội vẫn tồn tại những quan niệm khác nhau về bản chất xã hội của trí thức Do đó, cần phải làm rõ sự khác biệt trong tính chất lao động của trí thức Chúng ta không nên nhầm lẫn giữa tầng lớp trí thức với những người lao động trí óc Tại sao lại hay nhầm lẫn như vậy? Bởi lẽ, trong thời đại ngày nay, khi mà khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, đã có sự xích lại gần nhau giữa lao động trí
óc và lao động chân tay Chính vì thế khi chúng ta phân biệt cần phải biết xác định
rõ sự khác biệt trong tính chất lao động của tầng lớp trí thức
Trang 22Sự khác biệt giữa những người lao động trí óc như trí thức và những viên chức hoạt động trong lĩnh vực hành chính, hậu cần, dịch vụ… Lao động của các viên chức này không phải là lao động trí óc phức tạp nên không bắt buộc họ phải có học vấn cao, mặc dù xu hướng nâng cao trình độ học vấn của tầng lớp này là cần thiết Trái lại, trí thức là tầng lớp lao động sáng tạo ra các giá trị tinh thần, vật chất cho xã hội, hoạt động của trí thức là hoạt động trí óc phức tạp nên bắt buộc họ phải
có học vấn cao Tính chất đặc thù của tầng lớp trí thức chính là hoạt động sáng tạo
ra các tri thức khoa học Sự phân biệt về lao động của trí thức và viên chức chính là
ở nội dung và tính chất của lao động trí óc và học vấn Trong đó, viên chức lao động phức tạp nặng về vận dụng tri thức đã biết, còn trí thức là người lao động trí
óc phức tạp, sáng tạo dựa trên trình độ học vấn cao
Không nên coi trí thức là một bộ phận cao cấp của công nhân, mặc dù thành phần xuất thân của trí thức hiện nay chủ yếu từ công nhân, nông dân, trí thức phục vụ nền chuyên chính công nông và được trang bị bằng tư tưởng của giai cấp công nhân Xét một cách tổng thể thì đội ngũ trí thức ngày càng có vai trò to lớn trong khối liên minh công - nông và họ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội
Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt và đặc thù Tầng lớp này không thuộc
về một giai cấp nào duy nhất, mà hình thành như một nhóm xã hội theo cách nhìn của
xã hội học, có đặc điểm lao động và phương thức sản xuất riêng để sản xuất và truyền
bá tri thức Trí thức đến từ nhiều bộ phận khác nhau trong xã hội: từ các giai cấp; lực lượng; tập đoàn; nhóm xã hội… Trí thức không trực tiếp tham dự vào sở hữu tư liệu sản xuất vật chất của xã hội nhưng lại rất nổi trội trong sở hữu trí tuệ Trí thức không phải là một giai cấp nên họ không có hệ tư tưởng độc lập, họ luôn có xu hướng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những yêu cầu lịch sử của thời đại mà họ đang sống, họ phục
vụ cho chế độ và cho giai cấp cầm quyền Tuy nhiên, trí thức không chỉ do giai cấp thống trị cầm quyền chi phối Tầng lớp trí thức hình thành và tồn tại trong lòng dân tộc, trong khuôn khổ từng quốc gia - dân tộc và trong cộng đồng xã hội Do đó, tầng lớp trí thức có mối liên hệ mật thiết với dân tộc và nhân dân
Chính từ những đặc trưng của trí thức, nên Đảng Cộng sản Việt Nam đã quan niệm: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực
Trang 23chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội” [25]
Quan niệm trên của Đảng thể hiện một bước phát triển mới trong nhận thức về vị trí, vai trò của lực lượng trí thức trong điều kiện hiện nay Quan niệm này đã bao quát và phản ánh khá đầy đủ đặc trưng của trí thức nói chung và trí thức Việt Nam nói riêng
Từ những quan niệm và đặc trưng nêu trên về trí thức, có thể khái quát: Trí
thức là một tầng lớp xã hội đặc thù, bao gồm những người lao động trí óc phức tạp,
có trình độ học vấn và chuyên môn cao, có đạo đức, có khả năng sáng tạo tri thức khoa học mới, đồng thời truyền bá, nhất là ứng dụng tri thức khoa học trong hoạt động thực tiễn, góp phần to lớn đến sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội và trình độ văn minh của nhân loại
1.1.2 Khái quát về đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
Hà Nội là một địa danh hình thành rất sớm trong lịch sử dân tộc, với bề dày truyền thống trên một ngàn năm văn hiến Mặc dù có nhiều tên gọi tương ứng với các thời kỳ lịch sử khác nhau như: Thăng Long, Đông Đô, Đông Kinh, v.v., nhưng
Hà Nội luôn được chọn là nơi định đô của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam giành được độc lập,
Hà Nội được Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ quyết định là Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Từ năm 1976 đến nay, sau khi đất nước thống nhất, Hà Nội tiếp tục là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển Thủ đô, Hà Nội được điều chỉnh nhiều lần Chỉ tính từ năm 1961 đến nay Thủ đô Hà Nội đã có tới bốn lần điều chỉnh địa giới hành chính: năm 1961 và 1978 điều chỉnh mở rộng, năm 1991 điều chỉnh thu hẹp Đặc biệt, để xứng tầm với vị thế Thủ đô của đất nước có trên 100 triệu dân trong tương lai và để đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH Thủ đô và đất nước, thực hiện Kết luận số 19-KL/TW, ngày 28-01-2008 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Quốc hội khóa XII ban hành Nghị quyết số 15/2008/QH12, ngày 29-05-2008 về việc điều chỉnh, mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan,
Trang 24bao gồm: Hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của tỉnh Hà Tây vào thành phố Hà Nội; chuyển toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và của 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung (huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình) về thành phố Hà Nội Thủ đô Hà Nội được mở rộng đã tạo ra thế
và lực mới, thời cơ và triển vọng to lớn, đồng thời là tiền đề, và động lực quan trọng
để Hà Nội phát triển nhanh, toàn diện và bền vững
Thủ đô Hà Nội được biết đến như là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục Là nơi đặt trụ sở các cơ quan Trung ương của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất cả nước Là trung tâm lớn về văn hóa, nơi hội tụ, kết tinh
và lan tỏa truyền thống văn hóa và những giá trị, nét đẹp văn hóa đặc sắc, tiêu biểu của
cả nước Là địa danh tiêu biểu cho truyền thống “Văn hiến - Anh hùng - Hòa bình - Hữu nghị” của dân tộc Việt Nam Đặc biệt Thủ đô Hà Nội là trung tâm lớn về KHCN, GDĐT, y tế, xã hội của cả nước và có uy tín trong khu vực; là nơi tập trung nhiều cơ
sở, trung tâm nghiên cứu, đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng, phát triển KHCN của đất nước, là nơi tập trung nhiều nhất các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và những cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong thời gian qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội, đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có điều kiện phát triển nhanh, phong phú
và đa dạng, là một bộ phận tiêu biểu và đại diện cho trí thức Việt Nam Có thể khái quát về đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội qua những đặc điểm tiêu biểu sau :
Thứ nhất, đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có số lượng đông đảo, chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng trí thức của Việt Nam
Xuất phát từ khái niệm trí thức, thực tiễn phát triển Thủ đô Hà Nội, chúng tôi quan niệm đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là những người lao động trí óc, được đào tạo cơ bản, có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên, có khả năng sáng tạo khoa học, hoạt động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, KHCN… đang sinh sống và làm việc trên địa bàn Thủ đô Hà Nội Tuy nhiên, hiện nay
Trang 25chưa có sự nhất quán trong điều tra, thống kê về đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô
Hà Nội, nên chúng tôi chưa có được con số chính xác về đội ngũ này Mặc dù vậy, thông qua một số nguồn tư liệu, chúng tôi có thể khẳng định, đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội chiếm tỷ lệ không nhỏ trong lực lượng trí thức ở Việt Nam
Theo số liệu cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở của Cục Thống kê Hà Nội, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có khoảng gần 40 vạn người có trình độ tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên Còn theo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, tính đến thời điểm hiện nay đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội theo đã tăng lên gần 50 vạn người, chiếm gần 30% tổng số người
có trình độ cao đẳng, đại học trên cả nước Qua số liệu trên có thể thấy trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là một lực lượng đông đảo và đang phát triển nhanh Nếu năm
1999 trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có 253.287 người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên [54], thì đến nay con số đã tăng lên gần 50 vạn, tăng gấp 2,5 lần
Là một trong hai trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội lớn nhất của cả nước,
Hà Nội là nơi tập trung số lượng lớn các trường đại học, cao đẳng và học viện trên
cả nước Đó là cái “nôi” đào tạo đội ngũ trí thức cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2010 số trường đại học, cao đẳng và học viện trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là 103 trường chiếm 24,2 %
so với cả nước; năm 2011 là 102 trường chiếm 23,4 % so với cả nước; năm 2012 là
102 trường chiếm 23,2% so với cả nước; năm 2013 là 105 trường chiếm 23,5 % với
cả nước và đến năm 2014 là 110 trường, chiếm 23,9 % so với của cả nước (xem Phụ lục 1) Căn cứ vào đây, thì số lượng trí thức trong các trường đại học, cao đẳng và học viện trên địa bàn Thủ đô Hà Nội chiếm khoảng ¼ số lượng trí thức trong các trường đại học, cao đẳng và học viện của cả nước
Sự phát triển về số lượng đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội còn thể hiện rõ ở một số cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học lớn như: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Đại học Bách khoa Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội; Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội…
Trang 26Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, là cơ quan sự nghiệp thuộc chính phủ Việt Nam, có chức năng nghiên cứu những vấn đề cơ bản về khoa học xã hội Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển nhanh, bền vững theo định hướng XHCN; tổ chức tư vấn và đào tạo sau đại học về khoa học xã hội; tham gia phát triển tiềm lực khoa học xã hội của cả nước Từ đơn vị tiền thân là Ban nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học, sau 60 năm xây dựng và phát triển, hệ thống tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tương đối hoàn chỉnh với 6 cơ quan giúp việc Chủ tịch Viện, 35 viện và trung tâm nghiên cứu chuyên ngành, 33 thư viện và thông tin -
tư liệu, 33 tạp chí khoa học được Bộ văn hóa - thông tin cấp giấy phép hoạt động Cùng với sự phát triển về tổ chức, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có một đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hùng hậu gồm gần 2.000 người, trong đó có gần 1.700 cán bộ nghiên cứu, với 16 Giáo sư; 125 Phó Giáo sư; hơn 200 Tiến sĩ khoa học và Tiến sĩ; hơn 500 Thạc sĩ, chiếm gần 50% tổng số cán bộ của Viện [76]
Cũng như vậy, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là một viện nghiên cứu đa ngành đa lĩnh vực, cơ quan trực thuộc Chính phủ Việt Nam Thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ; cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội; đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao Hiện nay Viện có 51 đơn vị trực thuộc bao gồm: 6 đơn vị giúp việc Chủ tịch viện do Thủ tướng Chính phủ thành lập; 34 đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học (27 đơn vị do Thủ tướng Chính phủ Thành lập và 7 đơn vị do Chủ tịch Viện thành lập); 6 đơn vị sự nghiệp khác (5 đơn vị do Thủ tướng Chính phủ Thành lập và 01 đơn vị do Chủ tịch Viện thành lập); 04 đơn vị tự trang trải kinh phí và 01 doanh nghiệp Nhà nước Tính đến tháng 12/2013, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có tổng trên 4.000 cán bộ, viên chức, trong đó có 2.649 cán bộ trong chỉ tiêu biên chế được giao; 44 Giáo sư, 161 Phó Giáo sư, 35 Tiến sĩ khoa học, 706 Tiến sĩ, 781 Thạc sĩ và 794 cán bộ, viên chức có trình độ đại học Trong đợt phong chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư năm 2013, Viện Hàn lâm
Trang 27Khoa học và Công nghệ Việt Nam có 4 nhà khoa học được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư và 17 nhà khoa được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Phó Giáo sư Có thể khẳng định, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
có lực lượng cán bộ có trình độ cao khá đông và đều trên hầu hết các lĩnh vực của khoa học tự nhiên Cụ thể số Tiến sĩ và Tiến sĩ khoa học, Giáo sư và Phó Giáo sư của Viện liên tục tăng qua các năm: năm 2009 số lượng Tiến sĩ và Tiến sĩ khoa học
là 670, năm 2010 là 678, năm 2011 là 674, năm 2012 là 714 và năm 2013 là 741; số Giáo sư và Phó Giáo sư năm 2009 là 237, năm 2010 là 245; năm 2011 là 224, năm
2012 là 223 và năm 2013 là 205 (xem Phụ lục 2)
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, là trường đại học đa ngành về kỹ thuật được thành lập ở Hà Nội ngày 15 tháng 10 năm 1956 Trường luôn là một trong những trường đại học kỹ thuật hàng đầu của nền giáo dục Việt Nam với bề dày lịch
sử, và nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trường đã được Đảng và Nhà nước tặng nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý Tổng số cán bộ, công chức gồm 1.950 cán bộ, với 1.192 giảng viên và 394 cán bộ phục vụ giảng dạy
và nghiên cứu khoa học Trong đó, Nhà giáo nhân dân và Nhà giáo ưu tú là 154; Giáo
sư và Phó Giáo sư là 399; Tiến sĩ khoa học và Tiến sĩ là 703; Thạc sĩ là 1.200 Đây là đội ngũ cán bộ, trí thức có uy tín, kinh nghiệm, nhiệt huyết trong hoạt động đào tạo nghiệp vụ và quản lý, trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ [74]
Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong hai đại học lớn nhất của cả nước Tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội là Viện Đại học Đông Dương do chính quyền thuộc địa Pháp thành lập năm 1906 Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập Trường Đại học Quốc gia Việt Nam trên cơ sở kế thừa Viện Đại học Đông Dương Khi Pháp trở lại Đông Dương sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Viện Đại học Đông Dương đổi tên thành Viện Đại học Hà Nội Năm 1993 Chính phủ Việt Nam trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại ba trường đại học lớn hiện có ở Hà Nội: Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (cũ) và Trường Đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội thành một cơ sở giáo dục lấy tên là Đại học Quốc Gia Hà Nội Hiện nay, Đại học Quốc Gia Hà Nội có 7 trường đại học thành
Trang 28viên; 5 viện nghiên cứu; 5 khoa trực thuộc; 4 trung tâm nghiên cứu, đào tạo trực thuộc
và 11 đơn vị phục vụ Đây là nơi tập trung đông đảo các giáo sư đầu ngành, với 120 chuyên ngành đào tạo đại học, 121 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 118 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ Một cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu và ứng dụng KHCN,
đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, giữ vai trò nòng cốt, quan trọng trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam Theo số liệu về tổ chức cán bộ năm học 2012 - 2013 (theo trình độ đào tạo, chức danh), Đại học Quốc Gia Hà Nội có 21 Tiến sĩ khoa học,
806 Tiến sĩ, 1.330 Thạc sĩ, 44 Giáo sư, 274 Phó Giáo sư (xem Phụ lục 3)
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội gọi tắt là Liên hiệp Hội Hà Nội được thành lập năm 1992 theo Quyết định số 591/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Hiện nay Liên hiệp Hội có 38 Hội thành viên bao gồm 32 Hội chuyên ngành và 6 Hội cơ sở (xem Phụ lục 4) với tổng số hơn 50 nghìn hội viên là những cán
bộ khoa học đã nghỉ hưu và đang công tác tại các cơ quan, đơn vị của thành phố Hà Nội và Trung ương, trong đó có nhiều nhà khoa học có chuyên môn giỏi đầu ngành của các lĩnh vực KHCN Liên hiệp Hội có 23 đơn vị khoa học và công nghệ được thành lập theo Luật KHCN và theo chức năng hoạt động của Liên hiệp Hội (xem Phụ lục 5)
Những con số của các đơn vị tiêu biểu trên là cứ liệu đỏ, để chúng tôi khẳng định vị trí và vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
Thứ hai, đội ngũ trí thức trên địa bàn thủ đô Hà Nội là đại diện cho đỉnh cao trí tuệ của trí thức Việt Nam
Thủ đô Hà Nội không chỉ là một trung tâm chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam mà còn là trung tâm khoa học kỹ thuật, trên địa bàn Thủ đô hiện nay có hơn một trăm viện nghiên cứu ở hai trung tâm Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội và nhân văn cùng các học viện, trường đại học, cao đẳng và các bộ ngành Hàng năm, Thủ đô Hà Nội tổ chức một số lượng lớn các hội thảo, hội nghị với các tổ chức quốc
tế song phương và đa phương Phần lớn các công trình nghiên cứu khoa học cấp quốc gia đều được thực hiện và bảo vệ tại Hà Nội Có thể khẳng định Thủ đô Hà Nội là nơi hội tụ nhân tài của đất nước, tập trung hầu hết các chuyên gia đầu ngành đang công tác, nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở Thủ đô Đó đều là những trí
Trang 29thức có hàm lượng chất xám cao, có vai trò hết sức to lớn đối với sự nghiệp xây dựng Thủ đô Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Công Trí, trong tổng số người
có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên trên địa bàn Thủ đô Hà Nội: có tới 332 Giáo
sư chiếm 74,1% so với số Giáo sư cả nước; 1.371 Phó Giáo sư, chiếm 64,1% so với
số Phó Giáo sư của cả nước; 3.184 Tiến sĩ và Tiến sĩ khoa học, 5.072 Thạc sĩ chiếm 52,5% so với cả nước [72] Tỷ lệ bình quân trí thức trên một vạn dân trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là 844, gấp 4 lần mức bình quân trung của cả nước [52] Trình độ tri thức khoa học, công nghệ quản lý, doanh nhân được tăng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển KHCN, GDĐT, KT-XH và nhu cầu đội ngũ cán bộ cho thời kỳ phát triển mới Đặc biệt, lực lượng trí thức trẻ không những tăng nhanh về số lượng
mà chất lượng cũng được nâng lên Trình độ ngoại ngữ, tin học đã giúp trí thức trẻ
có khả năng rất lớn trong lao động sáng tạo Rất nhiều trí thức trẻ có trình độ trên đại học, nhiều người đang phụ trách nhiều công trình khoa học lớn có giá trị của Thủ đô và đất nước
Các công trình nghiên cứu của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, được công bố trên các tạp chí, hội nghị khoa học quốc gia và quốc tế ngày càng tăng Theo “Kỷ yếu nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thành phố Hà Nội 2001-2005” của Sở khoa học và công nghệ thành phố Hà Nội, có tới
373 đề tài, công trình nghiên cứu Trong đó, các công trình nghiên cứu tập trung vào các chương trình như: nghiên cứu khoa học phục vụ chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH Thủ đô; xây dựng các luận cứ khoa học nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả KT-XH của Hà Nội; một số vấn đề chủ yếu về đổi mới hệ thống chính trị và bảo đảm an ninh, quốc phòng ở Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn hiện nay; giữ gìn, phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa 1000 năm Thăng Long Hà Nội; những luận cứ khoa học cho việc đánh giá quá trình đổi mới ở Thủ
đô và định hướng phát triển đến năm 2010 Đặc biệt riêng Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam, năm 2010, công bố 1.573 công trình khoa học, trong đó
Trang 30336 công trình tiêu biểu được công bố trên các tạp chí uy tín đạt tiêu chuẩn ISI, tăng hơn 26 % so với năm 2009 [72]
Bên cạnh năng lực chuyên môn, đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Theo số liệu của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, tỷ lệ đảng viên là giáo viên thuộc ngành GDĐT Thủ
đô Hà Nội là 18%, riêng ngành giáo dục đại học chiếm tới 75%, ngành KHCN và môi trường là 38,5%, ngành y là 38%, ngành thể dục thể thao là 20% [54] Sau 5 năm (2006-2010), thực hiện Nghị quyết số 20-NQ /TU (2005) “Về đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bổi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2006-2010”, toàn Đảng bộ thành phố Hà Nội đã tổ chức được 8.206 lớp với trên 1 triệu lượt học viên được đào tạo bồi dưỡng (trong đó có 10.544 lượt cán bộ diện Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội quản lý) Từ đầu năm 2006 đến năm 2012, thành phố đã có 1.496 cán bộ học cao cấp lý luận chính trị, 526 cán bộ dự lớp bồi dưỡng nâng ngạch chuyên viên cao cấp, 484 cán bộ dự lớp bồi dưỡng nâng ngạch chuyên viên chính Trong tổng số 933 cán bộ Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội quản lý, có
855 người (91,6%) có trình độ cử nhân và cao cấp lý luận; 76 người (8,2%) có trình
độ trung cấp và 2 người (0,2%) sơ cấp lý luận Trong đó, các chức danh cán bộ chủ chốt, như: Thường vụ, Phó Chủ tịch, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố; cấp trưởng, phó các Sở, Ban, Ngành, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp thành phố; Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, thị xã và các Đảng bộ trực thuộc Thành ủy đã có 100%
số cán bộ tốt nghiệp cử nhân hoặc cao cấp lý luận chính trị [5, tr 133]
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc khối chính quyền cũng được tiến hành thường xuyên với yêu cầu, phạm vi và chất lượng ngày càng được nâng cao Hàng năm, đã mở hàng trăm lớp, đào tạo, bồi dưỡng cho hàng trăm lượt cán bộ, công chức Trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hà Nội ngày càng được nâng lên, hiện nay có 52.819 người có trình độ đại học, 413
Trang 31Tiến sĩ, 3.625 Thạc sĩ, 2.896 người có trình độ cao cấp, cử nhân lý luận, 8.743 người có trình độ trung cấp lý luận [5, tr 133-134]
Thứ ba, đội ngũ trí thức trên địa bàn thủ đô Hà Nội có sự đa dạng về nguồn, hình thức, ngành nghề đào tạo và lĩnh vực hoạt động
Sự hợp lý về mặt cơ cấu của trí thức, sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp bảo đảm
sự phối hợp một cách nhịp nhàng, linh hoạt giữa các bộ phận trong các hoạt động sáng tạo Những tiến bộ trong chính sách xây dựng đội ngũ trí thức, xu thế phát triển đất nước trong thời đại mới đã từng bước tạo cho trí thức nước ta nói chung và đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội nói riêng có sự đa dạng về lĩnh vực hoạt động Điều này thể hiện ở các khía cạnh khác nhau:
Một là, nguồn đào tạo của trí thức trên địa bàn Thủ đô ngày càng phong phú,
đa dạng Ngoài nguồn đào trong nước, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế tạo
ra cơ hội to lớn để mỗi người có điều kiện tham gia học tập ở nước ngoài theo những hình thức khác nhau Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, với chính sách đối ngoại rộng mở trí thức có thể lựa chọn việc học tập ở bất cứ quốc gia nào, từ quốc gia phát triển đến đang phát triển, cùng chế độ chính trị hoặc khác chế độ chính trị Với điều này, trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội đặc biệt có ưu thế và có nhiều cơ hội hơn hẳn các tỉnh và thành phố khác trong cả nước Hiện nay, trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội đã và đang được đào tạo ở hầu hết các quốc gia, trong đó phải
kể đến như: Nga, Pháp, Nhật, Mỹ, Canada, Hà Lan…
Hai là, ngành nghề đào tạo của trí thức ngày càng được mở rộng Xu hướng này là mang tính khách quan phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và thời đại trong giai đoạn mới Theo đó, trong giai đoạn hiện nay, ngoài những ngành nghề mang tính “truyền thống”, xuất hiện nhiều loại hình ngành nghề mới như: hành chính công, chính sách công, công nghệ đa phương tiện… Sự phát triển này phản ánh xu thế mới của lực lượng sản xuất và phân công lao động trong xã hội trong thời đại kinh tế tri thức và đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội cũng theo đó được đào tạo ở nhiều ngành khác nhau
Ba là, hình thức đào tạo ngày càng phong phú và đa dạng Quan điểm và chính sách GDĐT ở nước ta hiện nay nói chung và của thành phố Hà Nội nói riêng
Trang 32đã và đang tạo điều kiện cho mọi người có điều kiện học tập nâng cao dân trí, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Mỗi người có thể chọn cho mình những hình thức đào tạo khác nhau nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cá nhân Những yếu tố này làm cho cơ cấu của đội ngũ trí thức trên địa bàn cũng trở lên phong phú và đa dạng Các loại hình đào tạo có thể kể đến như: hệ chính quy, hệ cử tuyển, vừa học vừa làm, liên thông, văn bằng 2, đào tạo từ xa…
Minh chứng cho sự phong phú và đa dạng về lĩnh vực hoạt động của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, nơi tập trung một số lượng đội ngũ trí thức lớn trên địa bàn Thủ đô Hà Nội Hiện nay Liên hiệp Hội có 38 hội thành viên bao gồm 32 hội chuyên ngành và 6 hội
cơ sở và 23 đơn vị khoa học và công nghệ Trong đó tập trung đầy đủ trí thức hoạt động trên các lĩnh vực chuyên ngành như: khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ môi trường, GDĐT, khoa học xã hội nhân văn, khoa học y dược, khoa học quản lý, kinh doanh, nông lâm thủy sản… (xem Phụ lục 4, Phụ lục 5)
Trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội tập trung nhiều nhất ở lĩnh vực KHCN
và môi trường, chiếm 20,06% Sự tăng nhanh trí thức KHCN là phù hợp với định hướng phát triển của Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội Hiện nay trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có 130 trung tâm nghiên cứu KHCN thuộc các loại hình nhà nước,
tư nhân, các tổ chức đoàn thể - xã hội; trên 14.000 nhân lực (những người có trình
độ đại học trở lên) KHCN đang làm việc tại các Sở, Ban, Ngành thành phố Trình
độ nhân lực KHCN đã từng bước được nâng cao, đáp ứng tốt hơn cho sự nghiệp phát triển kinh tế thủ đô, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế Ngoài các tổ chức KHCN truyền thống thuộc loại hình nhà nước, đã xuất hiện những loại hình tổ chức mới với đội ngũ nhân lực năng động: hình thành 13 trung tâm tư nhân họat động KHCN; 34 trung tâm loại hình đoàn thể xã hội; 6 tổ chức KHCN có vốn nước ngoài Việc có mặt trên địa bàn Thủ đô lực lượng đông đảo các viện nghiên cứu thuộc các ngành KHCN khác nhau, đặc biệt là công nghệ cao đã và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Hà Nội tiếp tục phát triển các ngành công nghiệp chủ lực: điện - điện
Trang 33tử - thông tin; cơ - kim - khí; dệt - may - da giầy; chế biến thực phẩm; vật liệu mới; phát triển các ngành dịch vụ; trình độ cao chất lượng cao [52]
Trong lĩnh vực KHXH&NV có số lượng trí thức khá lớn, với 47.503 người, chiếm 18,75% tổng số trí thức trên địa bàn; trong đó có 4.212 người có trình độ trên đại học So với trí thức các ngành khoa học khác thì tăng chậm, nhưng trí thức trình độ cao lại tăng nhanh, so với năm 1989 tăng gấp 2,3 lần (năm 1989 là 1.909 người) [35]
Trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có một lực lượng trí thức văn hóa - nghệ thuật khá đông đảo Trong đó có nhiều người chuyên lao động sáng tạo, phổ biến, giảng dạy, biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhu cầu đời sống của nhân dân Hầu hết trí thức trong lĩnh vực này đều tham gia hoạt động trong các tổ chức Liên hiệp Hội Văn học
- nghệ thuật Hà Nội, với 1.943 người, trong đó có 28% đảng viên [54] Nhiều hội thành viên có những hoạt động tích cực, đang có chiều hướng phát triển mạnh, thu hút được nhiều hội viên tham gia như: Hội âm nhạc, Hội điện ảnh, Hội kiến trúc…
Lực lượng nhà báo, bao gồm báo hình, báo nói, báo viết của Hà Nội khá mạnh Sự phát triển nhanh chóng của phương tiện công nghệ thông tin đại chúng cả
về số lượng, nội dung và hình thức cũng đã thu hút nhiều nhà khoa học vào lĩnh vực này Tính đến năm 2012 trên địa bàn thành phố Hà Nội có 470 tòa soạn báo, tạp chí, chiếm 65,6% số tòa soạn báo, tạp chí trên cả nước (của cả nước là 716 tòa soạn báo, tạp chí); số đài truyền hình là 6 chiếm 8,82% số đài truyền hình của cả nước (của cả nước là 68 đài truyền hình) [67]
Trong lĩnh vực GDĐT có số lượng tương đối lớn, theo số liệu thống kê của Cục thống kê Việt Nam về số giáo viên, sinh viên đại học và cao đẳng phân theo địa phương năm 2012 thì riêng trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có tới 24.599 giáo viên, chiếm tới 28.2% số giáo viên đại học, cao đẳng trên cả nước (của cả nước là 87.160 giáo viên); số sinh viên là 674.112 chiếm 30,9% số sinh viên của cả nước (của cả nước là 2.178.622 sinh viên) [68] Từ khi thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình trường lớp, bên cạnh đội ngũ giáo viên các trường quốc lập còn có giáo viên các trường dân lập, bán công, tư thục Vì vậy, cùng với việc tăng nhanh đội ngũ giáo viên trong biên chế, ngành GDĐT còn sử dụng nhiều giáo viên và cán bộ giảng viên đã nghỉ hưu làm việc theo chế độ hợp đồng
Trang 34Ngành GDĐT Hà Nội quản lý 26.437 người thì có 13.072 người có trình độ đại học, cao đẳng, bằng 48,5% tổng số cán bộ, giáo viên trong ngành GDĐT Hà Nội; trong đó có 201 người có trình độ trên đại học, bằng 1,55% tổng số người có trình độ đại học, cao đẳng trong ngành Tại 43 trường cao đẳng, đại học do Ban Cán
sự đại học của Thành ủy quản lý có 10.500 giáo viên có trình độ đại học trở lên, trong đó có 901 Giáo sư và 2.505 Tiến sĩ và Tiến sĩ Khoa học và 2.624 Thạc sĩ [54]
Trí thức trên lĩnh vực y tế phát triển khá tốt, hoạt động có hiệu quả trong việc chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho nhân dân Theo số liệu điều tra của Cục Thống kê Việt Nam thì tính đến năm 2012 trên địa bàn Hà Nội có 3.174 bác sĩ, 2.769 y sĩ, 4.146 y tá và 1.180 nữ hộ sinh, dược sĩ cao cấp là 310, dược sĩ trung cấp
là 432, dược tá là 375 người; số cơ sở khám chữa bệnh là 673 trong đó bệnh viện là
41, phòng khám khu vực là 49, trạm y tế xã, phường cơ quan xí nghiệp là 577 [66] Theo số liệu thống kê của Ban tổ chức chính quyền thành phố Hà Nội tính đến thời điểm năm 2001 thì trong tổng số 3.182 cán bộ, công chức thuộc ngành y tế, thì có 2.784 người có trình độ cao đẳng, đại học, bằng 56,4% tổng số cán bộ, công chức thuộc ngành Trong đó có 145 người có học vị Tiến sĩ, nhiều Giáo sư đầu ngành, chuyên gia y tế giỏi [54] và đến thời điểm hiện nay con số đó tuy chưa có sự thống
kê cụ thể những chắc chắn sẽ có chiều hướng phát triển lên cả về số lượng lẫn chất lượng Đội ngũ này trực tiếp khám chữa bệnh cho nhân dân, vừa tham gia giảng dạy tại các trường đại học, nghiên cứu khoa học trong các tổ chức khoa học kỹ thuật của thành phố Các giáo sư, các bác sĩ, các nhà khoa học thuộc ngành y tế đã có những đóng góp rất quan trọng trong việc khám chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, xã hội hóa y tế
Ngoài ra, trong tổng số trí thức của Thủ đô Hà Nội có nhiều người trực tiếp hoạt động trong các khu vực sản xuất, kinh doanh Họ vừa làm nhiệm vụ tư vấn, phổ biến tiến bộ khoa học kỹ thuật, vừa góp phần tạo ra sản phẩm cho xã hội Những năm 1997-2001, trong số các giám đốc doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội (kể cả doanh nghiệp nhà nước và nước ngoài) có 85% giám đốc có trình độ đại học
và trên đại học [35] Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương
Trang 35Đảng (khóa IX) đã tạo môi trường thuận lợi phát triển kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân, chắc chắn số lượng trí thức tham gia vào thành phần kinh tế này càng tăng, yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao mới đáp ứng được yêu cầu sản xuất Tuy nhiên, một số doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với mức lương cao đã có sức hút nhiều trí thức giỏi, nhất là trí thức trẻ vào làm việc trong các doanh nghiệp này Theo số liệu của Cục Thống kê Hà Nội, năm 2004 có 4.237 người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đang làm việc trong các công ty nước ngoài; trong đó có khoảng 230 người có trình độ trên đại học Trong số này, nhiều người do nhu cầu vật chất đơn thuần đã không làm việc với ngành nghề được đào tạo Đây là một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để có những chính sách thu hút những trí thức giỏi, trí thức trẻ tài năng vào các doanh nghiệp trong nước và của thành phố Hà Nội; đồng thời có những giải pháp thích hợp trong đào tạo và giải quyết việc làm cho các trí thức trẻ có tài năng
Thứ tư, đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có môi trường và điều kiện thuận lợi trong đào tạo, bồi dưỡng và lao động
Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa, KT-XH, KHCN…, trung tâm ngoại giao của cả nước nên đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có điều kiện tiếp cận nhanh với các tiến bộ mới về văn hóa, KHCN, với tình hình chính trị, KT-
XH trong nước và quốc tế Họ được tiếp cận, nắm bắt nhanh nhạy cái mới để nâng cao kiến thức, nghiên cứu khoa học và vận dụng các tri thức khoa học mới vào cuộc sống Thủ đô Hà Nội là nơi tập trung các trường cao đẳng, đại học, học viện và các viện nghiên cứu nhiều nhất so với các địa phương khác trong cả nước Ở đó, trí thức
có điều kiện tham gia nghiên cứu khoa học, có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và hợp tác khoa học, thuận lợi trong việc tham gia nghiên cứu các công trình, dự án khoa học mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế trên tất cả các lĩnh vực khoa học khác nhau
Thủ đô Hà Nội là nơi có truyền thống văn hiến, là trung tâm để trí thức bốn phương hội tụ Lực lượng trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội không chỉ là những người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, còn có rất đông trí thức từ các địa phương khác trong cả nước đang sinh sống và hoạt động trên địa bàn Thủ đô Hà Nội Vì vậy đội
Trang 36ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội luôn được bổ sung nguồn lực phong phú, đa dạng, luôn có sự hội nhập giao thoa tạo ra một sự tiếp biến và biến đổi không ngừng Họ có điều kiện học tập, trao đổi, liên kết, hợp tác trong khoa học để nâng cao kiến thức, họ luôn nhạy cảm với cái mới, tự tin với khả năng khoa học của mình, kiêu hãnh và vinh dự là người trí thức đang làm việc ở một trung tâm văn hóa, khoa học kỹ thuật của đất nước, phấn đấu để được đóng góp sức lực và trí tuệ của mình không chỉ cho Thủ đô mà cả nước
Phần lớn trí thức trình độ cao được đào tạo ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây Số này đã được rèn luyện, thử thách, có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học Trí thức trẻ chủ yếu được đào tạo trong nước, một số ít được đào tạo ở các nước tư bản chủ nghĩa Đa số trí thức trẻ được đào tạo cơ bản, rất nhạy bén với cơ chế mới, năng động, sáng tạo; trong đó có nhiều người có trình độ cao, có khả năng sáng tạo khoa học Đây là điều kiện thuận lợi để trí thức có thể học hỏi lẫn nhau trong phương pháp nghiên cứu khoa học, nhưng cũng sẽ có những khó khăn nhất định trong nghiên cứu khoa học, nhận thức tư tưởng chính trị, kinh nghiệm thực tiễn…
Đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội cao hơn so với trí thức của các địa phương khác (trừ thành phố Hồ Chí Minh), nhưng không đều giữa các bộ phận Sự phân hóa đó một phần là do khả năng cống hiến và năng lực trí tuệ của họ tạo ra, nhưng chủ yếu là do những hạn chế của cơ chế quản lý Thực tế cho thấy sự phân hóa thể hiện ở hai xu hướng rõ nét: một là, thu nhập của trí thức ở khu vực sản xuất vật chất cao hơn khu vực sản xuất phi vật chất, thu nhập của trí thức có địa vị lãnh đạo, quản lý cao hơn trí thức chỉ làm nghiên cứu khoa học, chuyên môn Hai là, trí thức có điều kiện đi nghiên cứu, khảo sát ở nước ngoài, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa, có mức sống cao hơn so với các trí thức nghiên cứu trong nước Nhìn chung, trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
có điều kiện thuận lợi hơn trong việc nâng cao thu nhập của mình Đời sống tinh thần của trí thức trên địa bàn Thủ đô rất phong phú Họ có điều kiện tiếp xúc nhanh với các nền văn hóa, cả trong nước và thế giới, được tiếp cận với nhiều kênh thông tin khác nhau, với trình độ KHCN tiên tiến… Đời sống vật chất và tinh thần tốt đã
Trang 37tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội trong việc học tập nâng cao trình độ, nghiên cứu khoa học, giao lưu, hợp tác khoa học
Thứ năm, đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội vừa thực hiện trách
nhiệm đối với sự phát triển của đất nước vừa thực hiện trách nhiệm đối với sự phát triển của Thủ đô Hà Nội
Bước vào thời kỳ CNH, HĐH đất nước và trong điều kiện hội nhập quốc tế, vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô đối với sự phát triển của Hà Nội nói riêng và đất nước nói chung lại càng to lớn Cũng nhờ sự đóng góp to lớn đó mà trí thức trên địa bàn Thủ đô được tôn vinh và trên thực tế đã trở thành bộ phận tiêu biểu của trí thức Việt Nam Vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô được thể hiện ở những mặt cơ bản sau:
Là một bộ phận trí tuệ quan trọng của Đảng, Nhà nước và thành phố Hà Nội, cùng với trí thức cả nước, đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô đi sâu nghiên cứu để làm rõ hơn những khó khăn, thuận lợi trong phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; làm sáng tỏ thêm các quan điểm CNH, HĐH trong điều kiện mới nhằm tạo ra bước chuyển đổi căn bản, toàn diện trên các mặt của đời sống xã hội như tư vấn, phản biện, giám định những chủ trương, chính sách phát triển KT-XH của Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng bộ máy Nhà nước…
Trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội phát huy mạnh mẽ vai trò động lực của KHCN trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, đi đầu trong việc nghiên cứu, đưa các tiến bộ KHCN vào sản xuất, kinh doanh nhằm góp phần đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế, đủ sức cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt, đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ
đô Hà Nội có vai trò rất quan trọng trong việc tham gia xây dựng các dự án, đề xuất các giải pháp phát huy có hiệu quả các khu công nghiệp tập trung các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, cải tạo các cơ sở sản xuất kỹ thuật lạc hậu, gây ôi nhiễm môi trường, triển khai công nghệ mới vào các ngành công nghiệp mũi nhọn như: điện tử, thông tin, cơ khí, dệt - may, da giày, chế biến thực phẩm, vật liệu mới v.v của Thủ
đô và các địa phương khác trong cả nước
Trang 38Đối với Thủ đô Hà Nội, đội ngũ trí thức có nhiệm vụ nghiên cứu, tư vấn xây dựng các chương trình, dự án như: xây dựng các phương án phát triển du lịch văn hóa - sinh thái, du lịch truyền thống, lễ hội, danh lam thắng cảnh; xây dựng triển khai các phương án phát triển thương mại - dịch vụ - tài chính theo hướng xây dựng Hà Nội thành trung tâm lớn về thị trường hàng hóa, xuất nhập khẩu và dịch vụ văn minh, hiện đại Trong đó cần tập trung cho các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng và tăng cường quản lý thị trường, phát triển đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính viễn thông trên cơ sở công nghệ hiện đại; tiếp nhận và triển khai các dự án lớn về các lĩnh vực kinh tế quan trọng này
Đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội đi đầu trong nghiên cứu, triển khai các công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn nhằm từng bước hiện đại hóa nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị; phát triển các ngành trồng trọt, chăn nuôi, nông sản; xây dựng có qui hoạch các vùng chuyên canh trồng rau sạch, hoa, cây ăn quả, chăn nuôi có hiệu quả kinh tế cao; phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm nhằm tăng giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ; củng cố các làng nghề truyền thống, phát triển kinh tế trang trại; xây dựng kinh tế ngoại thành gắn với quá trình đô thị hóa và xây dựng nông thôn mới Trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, phổ biến các tri thức KHCN tiên tiến trong đời sống sản xuất của nhân dân; nâng cao chất lượng GDĐT, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ và kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với cơ cấu KT-XH để thực hiện CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh hội nhập hiện nay Đặc biệt trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có vai trò quan trọng trong việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, phát triển đội ngũ của mình và cả nước
Đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô có nhiệm vụ nâng cao chất lượng GDĐT, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các cấp học, ngành học; xây dựng chiến lược đào tạo nghề, khắc phục tình trạng mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu đào tạo; xây dựng các phương án
Trang 39khuyến khích các thành phần kinh tế, các cơ sở sản xuất, kinh doanh… tham gia đào tạo nghề, gắn với giải quyết việc làm nhằm tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo
Trên mặt trận văn hóa tư tưởng, đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội góp phần giáo dục cho nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ XHCN, thúc đẩy tính tích cực về phong trào cách mạng của quần chúng, phát triển các giá trị tốt đẹp của xã hội của Thủ đô ngàn năm văn hiến nhằm bồi dưỡng con người Việt Nam và Hà Nội về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, nhân cách; phê phán những quan điểm sai trái, đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, các tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đến uy tín của Đảng và Nhà nước Đồng thời, trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có nhiệm vụ nghiên cứu, tổng kết các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc của đất nước, của Hà Nội ngàn năm văn hiến, khôi phục bảo tồn, phổ biến các giá trị truyền thống tốt đẹp của Thủ đô và đất nước
1.2 Hà Nội trong bối cảnh hội nhập và vai trò của đội ngũ trí thức trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
1.2.1 Cơ hội và thách thức đối với Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
Thuật ngữ “hội nhập” trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng nước ngoài (tiếng Anh là “international integration”, tiếng Pháp là “intégration internationale”) Đây là một khái niệm được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế
và kinh tế quốc tế, ra đời từ khoảng giữa thế kỷ trước ở châu Âu, trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức và Pháp) nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu
Hội nhập là “một quá trình trong đó các phần tử được tiếp nhận vào một hệ thống sao cho sau đó chúng không khác gì với những phần tử cũ, như là so các phần tử này với nhau” [36, tr 108] Theo nghĩa đó, một quốc gia hội nhập vào hệ thống toàn cầu nhằm mục đích để tiếp nhận những giá trị của văn minh tiến bộ mà thế giới đã đạt được và đưa những giá trị thuộc thế mạnh của quốc gia đó vào cộng đồng nhân loại
Việt Nam đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
và chủ động hội nhập quốc tế, do vậy chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và thường xuyên trước các thay đổi của bối cảnh quốc tế và khu vực Các tác động của bối cảnh quốc
Trang 40tế đến phát triển kinh tế Việt Nam sẽ tác động trực tiếp sâu sắc tới Hà Nội với tư cách
là Thủ đô của cả nước Quan hệ đối ngoại của Thủ đô Hà Nội ngày càng được tăng cường và phát triển Đến nay, Thủ đô Hà Nội đã có quan hệ hữu nghị và hợp tác với trên 70 Thủ đô, thành phố của hơn 60 nước và vùng lãnh thổ Hoạt động đối ngoại được mở rộng khá toàn diện trên các lĩnh vực, góp phần nâng cao vị thế và đưa Thủ
đô tham gia tích cực vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Năm 2010, Hà Nội là một trong ba tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước về năng lực hội nhập kinh tế quốc tế
Bối cảnh hội nhập hiện nay đã tạo ra cho Thủ đô Hà Nội những cơ hội lớn, đồng thời cũng xuất hiện những thách thức không nhỏ cho sự phát triển KT-XH của Thủ đô Hà Nội
Cơ hội đối với Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
Chiều hướng cải cách và điều chỉnh đường lối, chính sách mạnh mẽ của các nước trên thế giới đã và đang tác động ngày càng to lớn đối với công cuộc đổi mới kinh tế của cả nước cũng như của Thủ đô Hà Nội Đây có thể coi là tác động tích cực hàng đầu của bối cảnh quốc tế hiện nay Cùng với cả nước, Thủ đô Hà Nội có điều kiện tận dụng các nguyên tắc phi kì thị và cạnh tranh công bằng; được hưởng những
ưu đãi dành cho nước đang phát triển về quy chế tối huệ quốc vô điều kiện, ưu đãi về thuế quan; được cung cấp thông tin về tự do hóa mậu dịch, về các quy tắc, kỹ thuật, thủ tục hải quan, các tiêu chuẩn thuế… Đây là cơ hội để Thủ đô Hà Nội mở rộng thị trường và loại bỏ được những thiệt thòi khi chưa gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế
Có cơ hội để xây dựng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh trong tham gia phân công sản xuất và hợp tác quốc tế, qua đó mà thay đổi cơ cấu tổng sản phẩm, cơ cấu mặt hàng, mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân
Tranh thủ được vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của các nước đi trước để đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH Thủ đô, tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật cho công cuộc xây dựng CNXH Các công nghệ, tri thức khoa học hiện đại mang đặc điểm là tác động nhanh chóng, xuyên suốt tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Nếu có sự chuẩn bị tốt
về nguồn lực con người có trình độ cao thì đây là một cơ hội lớn giúp Thủ đô Hà Nội có