1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực thông tin của sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn đại học quốc gia hà nội

132 25 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ ACRL thuộc Hiệp hội thư viện Hoa Kỳ ALA, NLTT của các sinh viên đại học cần phát triển bao gồm 06 khả năng sau: Khả năng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN HỒNG MINH

NĂNG LỰC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN,

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN HỒNG MINH

NĂNG LỰC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN,

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN Chuyên ngành: Khoa học Thông tin Thư viện

Mã số: 60 32 02 03 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thị Quý

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG

Giáo viên hướng dẫn

PGS TS Trần Thị Quý

Chủ tịch Hội đồng chấm Luận văn

PGS TS Trần Thị Minh Nguyệt

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, để tài: “Năng lực thông tin của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội” là công trình nghiên

cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả về số liệu được nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Hồng Minh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp cao học ngành Thông tin - Thư viện, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của rất nhiều người

Tôi xin chân thành cảm ơn:

PGS TS Trần Thị Quý đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian theo học cao học cũng như trong thời gian thực hiện nghiên cứu đề tài Đồng thời, tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã và đang tham gia giảng dạy đã cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu về lĩnh vực thông tin - thư viện cũng như các kiến thức liên quan khác trong suốt 2 năm học vừa qua Quý thầy cô khoa Thông tin - Thư viện, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội đã hỗ trợ tận tình trong suốt quá trình theo học tại trường Phòng đào tạo sau đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa học của mình

Lãnh đạo Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi theo học chương trình đảm bảo thời gian Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, đã hỗ trợ công việc cũng như chia sẻ kinh nghiệm, cung cấp tài liệu, hỗ trợ thực hiện phiếu điều tra khảo sát giúp tôi hoàn thiện luận văn

Sau cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình tôi đã luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành chương trình học và thực hiện đề tài

Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2016

HỌC VIÊN THỰC HIỆN LUẬN VĂN

Nguyễn Hồng Minh

Trang 5

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Tính cấp thiết của đề tài 6

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

4 Giả thuyết nghiên cứu 15

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

6 Phương pháp nghiên cứu 16

7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 16

8 Dự kiến kết quả nghiên cứu 17

9 Bố cục của luận văn 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 18

1.1 Những vấn đề chung về năng lực thông tin 18

1.1.1 Các quan điểm khác nhau về khái niệm “Năng lực thông tin” 18

1.1.2 Nội dung của năng lực thông tin 20

1.1.3 Vai trò của năng lực thông tin đối với sinh viên 24

1.1.4 Các yếu tố tác động đến năng lực thông tin của sinh viên 26

1.2 Đặc điểm của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 31

1.2.1 Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển 31

1.2.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Trường 35

1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của Trường 38

1.3 Vai trò của việc phát triển năng lực thông tin cho sinh viên của Trường 39

1.3.1 Đối với việc học tập và nghiên cứu khoa học 39

Trang 6

2

1.3.2 Đói với việc tự học, tự nghiên cứu suốt đời cho sinh viên sau khi ra

trường 41

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC THÔNG TIN & CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG LỰC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 45

2.1 Thực trạng năng lực thông tin của sinh viên 44

2.1.1 Năng lực xây dựng được chiến lược tìm tin 44

2.1.2 Năng lực tìm kiếm thông tin của sinh viên 51

2.1.3 Kỹ năng đánh giá, trình bày & sử dụng thông tin của sinh viên 53

2.1.4 Việc thực hiện các văn bản pháp quy về sử dụng thông tin của sinh viên 56

2.2.Thực trạng các yếu tố tác động đến năng lực thông tin của sinh viên 60

2.2.1 Nhận thức của các bên liên quan 60

2.2.2 Nội dung chuyên đề “Năng lực thông tin” giảng dạy cho sinh viên 66

2.2.3 Phương pháp giảng dạy và đánh giá của giảng viên 68

2.2.4 Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin 70

2.2.5 Trình độ của đội ngũ cán bộ thông tin thư viện 74

2.2.6 Sự phối hợp giữa giảng viên và cán bộ Trung tâm Thông tin - Thư viện 75

2.2.7 Môi trường văn hóa của Nhà trường 77

2.3 Nhận xét chung về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân 78

2.3.1 Ưu điểm 78

2.3.2 Hạn chế & nguyên nhân 81

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÔNG TIN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 86

3.1 Chú trọng phát triển năng lực thông tin cho sinh viên của Trường 83

3.1.1 Phát triển năng lực thông tin cho sinh viên là nhu cầu khách quan 83

Trang 7

3

3.1.2 Cấu trúc Mô hình phối hợp phát triển năng lực thông tin 85

3.1.3 Điều kiện đảm bảo thực hiện mô hình hiệu quả 87

3.2 Một số giải pháp khác nhằm phát triển năng lực thông tin cho sinh viên 87

3.2.1 Hoàn thiện giáo trình “Nhập môn năng lực thông tin” 87

3.2.2 Đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá 90

3.2.3 Tăng cường các hoạt động của Trung tâm Thông tin - Thư viện 91

3.2.4 Nâng cấp và hiện đại hóa hoạt động của các Phòng tư liệu 97

3.2.5 Nâng cao nhận thức & sự phối hợp giữa các đơn vị trong Trường 103

3.2.6 Chú trọng tới trình độ cán bộ thông tin - thư viện 105

3.2.7 Nâng cấp đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin 107

3.2.8 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các loại hình sản phẩm thông tin - thư viện 107

3.2.9 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ thông tin - thư viện 109

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 121

Trang 8

ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội

KHXH&NV Khoa học Xã hội và Nhân văn

SP&DV Sản phẩm và dịch vụ

TT&TL Thông tin & Tư liệu

TT-TV Thông tin - Thư viện

2 CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

ACRL

Association of College & Research Libraries

Hiệp hội các thư viện đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ

CILIP

Chartered Institute of Library and Information Professionals

Viện Chuyên gia thông tin thư viện Chartered

Trang 9

5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢNG, SƠ ĐỒ

Biểu đổ 2.1 Mức độ sử dụng các thao tác khi bắt đầu tìm kiếm thông tin của sinh viên 44 Biểu đồ 2.2 Mức độ tham gia tìm kiếm thông tin của sinh viên qua các nguồn tin 48 Biểu đồ 2.3 Mức độ sử dụng công cụ tìm tin của sinh viên 51 Biểu đồ 2.4 Mức độ quan trọng của các tiêu chí đánh giá thông tin/ tài liệu 53 Biểu đồ 2.5 Cách sử dụng tài liệu tìm được của sinh viên 54 Biểu đồ 2.6 Hiểu biết của sinh viên về luật sở hữu trí tuệ 57 Biểu đồ 2.7 Mức độ trích dẫn tài liệu tham khảo của sinh viên 58 Biểu đồ 2.8 Mức độ cung cấp nguồn tìm kiếm tài liệu tham khảo cho sinh viên của giảng viên 76 Biểu đồ 2.9 Nhu cầu tham dự lớp học Năng lực thông tin của sinh viên 81 Biểu đồ 3.1 Ý kiến của CBTV, cán bộ phòng tư liệu về mức độ cần thiết trang bị NLTT cho sinh viên 84 Biểu đồ 3.2 Mức độ cần thiết để học các kỹ năng khi tìm kiếm thông tin 84

Bảng 2.1 Trình độ học vấn của cán bộ Trung tâm 74 Bảng 2.2 Vai trò của năng lực thông tin đối với sinh viên 80

Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức của Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN 37

Sơ đồ 3.1 Mô hình phát triển năng lực thông tin cho sinh viên Trường ĐHKHXH&NV 86

Trang 10

6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của thông tin và kinh tế tri thức - kỷ nguyên này ra đời và đang phát triển nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học & công nghệ (KH&CN), đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT) và viễn thông và đang tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Việc tiếp cận thông tin trong thời đại bùng nổ CNTT và truyền thông ngày càng trở nên dễ dàng, thuận tiện hơn Trước đây nguồn tri thức cung cấp cho con người chỉ đơn thuần là những tài liệu dưới dạng in ấn như sách, báo, tạp chí,…

Ngày nay, với sự tấn công như vũ bão của mạng truyền thông Internet, lượng thông tin khổng lồ với tốc độ tăng trưởng rất nhanh, có mặt ở mọi lúc mọi nơi, với loại hình đa dạng mà bạn đọc có thể đọc, nghe, nhìn, xem, Tuy nhiên vấn đề ở đây không nằm ở việc thông tin có được cung cấp đầy đủ hay không mà nằm ở chỗ thông tin hiện đang được cung cấp quá nhiều, quá ồ ạt và hỗn tạp Việc kiểm định chất lượng và độ tin cậy của thông tin dường như bị phó mặc cho người sử dụng Điều này đòi hỏi mỗi người phải có năng lực sàng lọc và phản hồi thích hợp đối với các nguồn thông tin không phù hợp, có chất lượng kém và không đáng tin cậy Khả năng tiếp cận và sử dụng thông tin, gọi tắt là năng lực thông tin (NLTT),

là năng lực hay kĩ năng của mỗi người trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của bản thân NLTT có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao trình độ chuyên môn và giúp con người phát triển năng lực tư duy độc lập và sáng tạo Đó chính là nền tảng của khả năng học tập suốt đời và là năng lực cần thiết trong mọi lĩnh vực, môi trường học tập

Theo Hiệp hội các thư viện đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL), NLTT là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân có thể

“nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả” Cần hiểu rõ rằng NLTT không chỉ đơn thuần là những kỹ năng cần thiết để tìm kiếm thông tin (xác định nhu cầu thông tin, xây dựng các biểu thức tìm tin, lựa chọn và xác minh nguồn tin), mà bao gồm cả

Trang 11

7

những kiến thức về các thể chế xã hội và các quyền lợi do pháp luật quy định giúp người dùng tin (NDT) có thể thẩm định thông tin, tổng hợp và sử dụng thông tin một cách hiệu quả

Có thể thấy rằng, NLTT đóng vai trò rất quan trọng trong nhiều mặt của cuộc sống Với công việc học tập và nghiên cứu của sinh viên, một lần nữa vai trò của NLTT lại được khẳng định và có thể nói rằng nó quyết định đến thành quả học tập cũng như nghiên cứu của mỗi sinh viên Môi trường học tập bậc đại học yêu cầu sinh viên cần phải chủ động và độc lập trong việc học tập và nghiên cứu với sự giảng dạy, hỗ trợ và định hướng của giảng viên Để quá trình học tập nghiên cứu này đem lại hiệu quả, một trong những kiến thức quan trọng nhất mà sinh viên cần được trang bị chính là NLTT

Cũng theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL) thuộc Hiệp hội thư viện Hoa Kỳ (ALA), NLTT của các sinh viên đại học cần phát triển bao gồm 06 khả năng sau: Khả năng xác định được phạm vi thông tin mà mình cần, khả năng tìm kiếm và truy cập thông tin hiệu quả, khả năng thẩm định chất lượng, độ tin cậy của thông tin và nguồn thông tin, năng lực kết nối thông tin mới tiếp nhận làm giàu vốn kiến thức sẵn có, khả năng sử dụng thông tin một cách hiệu quả để đạt được các mục tiêu đã đề ra, khả năng truy cập và sử dụng thông tin một cách hợp pháp và có đạo đức [62] Hầu hết các trường đại học ở Mỹ đã xây dựng chương trình phát triển NLTT cho sinh viên dựa theo các tiêu chuẩn nói trên của ARCL Nhiều trường đại học ở Anh, Australia, New Zealand,…cũng đã đề ra các tiêu chuẩn về NLTT để đào tạo cho sinh viên của mình Nhìn chung các trường đại học ở khắp nơi trên thế giới rất chú trọng đến việc phát triển NLTT cho sinh viên

Ở Việt Nam hiện nay, trong quá trình chuyển từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục bậc đại học đòi hỏi người học phải có NLTT để phục vụ yêu cầu học tập của bản thân Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) Số 02-NQ/HNTW, ngày 24/12/1996

về Định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp

hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 đã khẳng đi ̣nh: “Đổi mới ma ̣nh mẽ

Trang 12

8

phương pháp giáo dục đào tạo… bảo đảm điều kiê ̣n và thời gian tự ho ̣c, tự nghiên cứu cho ho ̣c sinh, nhất là sinh viên đa ̣i ho ̣c; phát triển ma ̣nh mẽ phong trào tự ho ̣c, tự đào ta ̣o thường xuyên và rô ̣ng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên” [10] Nghị

quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Đổi mới

căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế khẳng định quan điểm chỉ đạo: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu

trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học

đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”, “Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học” [11]

Một sinh viên được trang bị NLTT tốt sẽ đọc nhiều hơn, biết tranh luận bằng cách sử dụng thông tin từ nhiều nguồn và ở nhiều góc độ khác nhau, biết sử dụng dẫn chứng để bảo vệ ý kiến của mình, có thể kết nối các ý tưởng và các khái niệm, biết phân tích và tổng hợp thông tin, có thể trích dẫn thông tin một cách thống nhất

và chính xác, đánh giá được mức độ tin cậy và giá trị của thông tin, quản lí và tổ chức được thông tin… Như vậy giáo dục NLTT cho sinh viên là một việc làm vô cùng quan trọng đối với quá trình tín chỉ hóa chương trình đào tạo của các trường đại học ở Việt Nam

Hoạt động giáo dục đại học luôn gắn liền với hoạt động chuyển giao tri thức

và nghiên cứu khoa học (NCKH) Trong đó, một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng chuyển giao tri thức và NCKH là khả năng cung cấp nguồn tin để thúc đẩy việc tự học, tự nghiên cứu trước hết của các nhà quản

lý, của giảng viên, của sinh viên trong trường đại học Tuy nhiên, trong thời đại đổi mới phương pháp dạy và học, đòi hỏi “người dạy phải dạy thật, người học phải học thật”

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXH&NV), Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là trường đại học trọng điểm, là một trong những

Trang 13

9

trung tâm đào tạo và nghiên cứu KHXH&NV lớn nhất của đất nước, có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ nhân lực khoa học cơ bản có trình độ cao, phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Với quan điểm phát triển bền vững lấy chất lượng làm trung tâm, Nhà trường nhận thức được vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy và học Để làm được điều đó cần có sự đầu tư về nguồn lực con người và

cơ sở vật chất (CSVC), song một yếu tố tối quan trọng đó là đề cao vai trò của NLTT

Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Năng lực thông tin của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội” làm

chủ đề nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Năng lực thông tin đã và đang được rất nhiều nhà khoa học, các chuyên gia… trên thế giới và trong nước nghiên cứu, triển khai

Những nghiên cứu về lịch sử hình thành khái niệm

Về mặt lý luận, thuật ngữ “Information Literacy - Năng lực thông tin” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1974 và được phát biểu bởi Paul G Zurkowski, chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp thông tin Hoa Kỳ, nêu lên trong đề xuất gửi đến Ủy ban Quốc gia về Khoa học Thông tin - Thư viện năm 1974 tại Ủy ban Quốc gia về Khoa học Thông tin và Thư viện Zurkowski sử dụng thuật ngữ này để mô tả những hiểu biết về các kỹ năng, kỹ thuật thông tin nhằm sử dụng thông tin một cách thuần thục như những nguồn lực cơ bản để giải quyết những vấn đề mà con người gặp phải.[72, tr.6] Theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL, 1989), NLTT là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá

nhân có thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử

dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả” [62] McKie, trong tài liệu của Cheek

và các cộng sự đã khẳng định “NLTT là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin, tìm

kiếm, tổ chức, thẩm định và sử dụng thông tin trong việc ra quyết định một cách hiệu quả, cũng như áp dụng những kỹ năng này vào việc tự học suốt đời” [65, tr.2]

Công trình của Joan M Reitz trong Từ điển về Khoa học Thông tin và Thư viện

Trang 14

10

(2004) cho rằng NLTT là “kỹ năng tìm kiếm thông tin theo nhu cầu, gồm có sự am hiểu về cách tổ chức các thư viện cũng như các nguồn tài nguyên mà họ cung cấp (các dạng thông tin và công cụ tìm kiếm tự động) cùng với các kỹ thuật tìm kiếm thông thường Khái niệm này cũng bao gồm các kỹ năng cần thiết để đánh giá nội dung thông tin và sử dụng nó một cách hiệu quả, những tri thức về cơ sở hạ tầng truyền dẫn thông tin, kể cả về mặt chính trị, xã hội, ngữ cảnh văn hóa và tác động của nó Khái niệm này đồng nghĩa với kỹ năng thông tin, có thể so sánh với khái niệm kiến thức tin học” [70] Công trình của chuyên gia thông tin thư viện Chartered (CILIP) đã cho rằng “NLTT là khả năng nhận biết khi nào và tại sao bạn cần thông tin, tìm kiếm thông tin ở đâu, làm thế nào để đánh giá và sử dụng một cách có đạo đức.’ [64]

Ở Việt Nam, nghiên cứu về NLTT là vấn đề không mới nhưng vẫn được rất

đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề nêu trên Những kết quả của các công trình nghiên cứu đó sẽ giải quyết những phương diện khác nhau của việc phát triển NLTT cho NDT, điều đó đã góp phần tạo nên những cái mới, những thành tựu mới

để hoạt động TT-TV ngày càng hoàn thiện hơn Năm 2001, tác giả Nguyễn Hoàng Sơn, giảng viên Khoa TT-TV Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN đã công bố bài

báo “Tìm hiểu khái niệm kiến thức thông tin (KTTT) góp phần đảm bảo chất lượng

đào tạo cử nhân chuyên ngành khoa học TT-TV” được đăng tại Kỷ yếu hội thảo khoa học chuyên ngành TT-TV lần thứ nhất Có thể đây là bài báo đầu tiên chính

thức đưa khái niệm này vào từ vựng ngành TT-TV nước ta “Sự phát triển của

KTTT trong xã hội thông tin” của tác giả Bùi Thị Ngọc Oanh được đăng trong Kỷ yếu hội nghị khoa học sinh viên chuyên ngành thông tin-thư viện lần thứ 6 Bộ môn TT-TV trường ĐHKHXH&NV ĐHQGHN năm 2002 Các tham luận này đi vào tìm

hiểu thuật ngữ “Information Literacy” theo nhiều cách hiểu khác nhau như “năng lực thông tin”, “hiểu biết thông tin, “kiến thức thông tin” hay “kỹ năng thông tin”… Các tác giả có những cách dịch và định nghĩa khác nhau nhưng phần lớn các ý kiến

đều thống nhất nội hàm của thuật ngữ này được hiểu rằng: “NLTT là khả năng và

Trang 15

Các công trình/ bài báo nghiên cứu về lý luận NLTT như: “Nội dung của

KTTT” của tác giả Trần Mạnh Tuấn được đăng trong Tạp chí Thông tin & Tư liệu

(TT&TL) tháng 3 năm 2006, “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phổ biến KTTT ở

Việt Nam” của tác giả Lê Văn Viết đăng trong Tạp chí TT&TL tháng 3 năm 2008

“Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa KTTT và CNTT” của các tác giả Trần Bích

Diệp, Nguyễn Thị Trang Nhung

Những công trình nghiên cứu về vai trò của Năng lực thông tin

Các tham luận được đăng trong kỷ yếu hội thảo như:“Tìm hiểu KTTT và vai

trò của KTTT trong giáo dục đào tạo” của tác giả Vũ Quỳnh Nhung được đăng

trong Kỷ yếu hội nghị khoa học sinh viên chuyên ngành thông tin-thư viện lần thứ 6

Bộ môn TT-TV trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN năm 2002

Tiếp đến là Hội thảo quốc tế về NLTT lần đầu được tổ chức tại trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN vào năm 2006 đã thu hút được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm Tại Hội thảo, các chuyên gia quốc tế và Việt Nam đã trình bày nhiều tham luận về bản chất và ý nghĩa của NLTT, kinh nghiệm triển khai

chương trình đào tạo NLTT ở trường đại học như: "Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo

dục KTTT trong các nước đang phát triển ở châu Á" của GS Garry Gorman và

TS.Dan Dorner, "Cơ hội để cán bộ thư viện (CBTV) trở thành người đào tạo KTTT" của GS Russel Bowden, "Hiểu biết thông tin: tình hình và một số đề xuất" của Ths Cao Minh Kiểm, "Giáo dục kỹ năng thông tin trong hệ thống thư viện công cộng" của Ths Nguyễn Thị Kim Loan, "Bước đầu giới thiệu Information Literacy vào đổi

mới phương pháp dạy/học và công tác NCKH tại Đại học Huế" của GS.TS Huỳnh

Đình Chiến Đây là lần đầu tiên, vấn đề NLTT, hay còn gọi là "hiểu biết thông tin” được đề cập và thảo luận giữa các chuyên gia Việt Nam và quốc tế

Trang 16

12

Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Năng lực thông tin vơi giáo dục đại học

Về mặt thực tiễn, vào năm 2006, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Ngành TT-TV

trong xã hội thông tin đã công bố một chùm bài của PGS.TS Trần Thị Quý như các

bài viết “KTTT - lượng kiến thức cần có cho NDT trong hệ thống giáo dục đại học

ở Việt Nam hiện nay” và “Đổi mới nội dung, chương trình phương pháp đào tạo ngành TT-TV - yếu tố quan trọng để nâng cao KTTT cho học viên”; Bài “Vài suy nghĩ về trang bị “KTTT” cho sinh viên trong các trường đại học Việt Nam” của tác

giả Nguyễn Văn Hành, “Những tiêu chuẩn KTTT trong giáo dục đại học Mỹ và các

chương trình đào tạo kỹ năng thông tin cho sinh viên tại Trung tâm Thông tin - Thư viện (TT-TV), ĐHQGHN” của tác giả Nguyễn Huy Chương, “KTTT với giáo dục đại học”của tác giả Nghiêm Xuân Huy, “Tăng cường KTTT cho sinh viên - giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học” của tác giả Tô Thị

Hiền.Các tham luận đều nêu bật vai trò và tầm quan trọng của NLTT trong thời đại ngày nay và sự cần thiết phải đẩy mạnh đào tạo NLTT cho sinh viên

Những công trình nghiên cứu về trách nhiệm của thư viện với việc trang bị Năng lực thông tin cho người dùng tin

Ngoài ra, còn có các bài báo tạp chí trong những năm gần đây trình bày về tầm quan trọng của việc phát triển NLTT cho sinh viên trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay tại Việt Nam, đồng thời nêu bật vai trò của các trung tâm TT-TV đại học

trong việc hỗ trợ tích hợp NLTT vào giảng dạy như: “Chương trình KTTT của Thư

viện Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh” của

tác giả Dương Thúy Hương đăng tại Bản tin Thư viện - CNTT tháng 8 năm 2012;

“Đội ngũ CBTV tham gia đào tạo KTTT tại một số thư viện đại học ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Trương Đại Lượng đăng trong Tạp chí Thư

viện Việt Nam tháng 6 năm 2013; “Vai trò của các thư viện đại học trong việc hỗ

trợ tích hợp KTTT vào giảng dạy” của do tác giả Vũ Văn Sơn lược dịch được đăng

trong Tạp chí TT&TL tháng 5 năm 2013;“Yêu cầu đối với thư viện đại học trước

những thay đổi của giáo dục đại học” của tác giả Nguyễn Hồng Sinh và “Thực

Trang 17

13

trạng đào tạo KTTT tại một số thư viện đại học ở Việt Nam” của tác giả Trương Đại

Lượng được đăng trong Tạp chí TT&TL số tháng 01 năm 2014; bài báo “Trình độ

KTTT của sinh viên đại học ở Việt Nam” của tác giả Trương Đại Lượng đăng trong

Tạp chí TT&TL số tháng 5 năm 2014; “Trang bị KTTT cho sinh viên phục vụ công

tác đào tạo chất lượng cao tại Học viện Cảnh sát nhân dân” của tác giả Đỗ Thu

Thơm tại Tạp chí TT&TL tháng 02 năm 2015

Những công trình nghiên cứu về việc trang bị Năng lực thông tin cho sinh viên các trường đại học

Theo hướng nghiên cứu của đề tài, ở trong nước đã có một số công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng, điều tra nghiên cứu thực tiễn tại một số các cơ quan TT-TV là luận văn thạc sĩ Các luận văn thạc sĩ được bảo vệ liên quan đến chủ

đề này tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN là “Phát triển KTTT cho sinh viên

trường Đại học Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Ngà bảo vệ năm 2010 và “Phát triển KTTT cho sinh viên trường Đại học Y tế công cộng” của tác giả Đinh Thị

Phương Thúy năm 2013 Luận văn “Phát triển KTTT cho sinh viên trường Đại học

Bách khoa Hà Nội” của tác giả Nguyễn Ngọc Sơn năm 2011 và luận văn “KTTT của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Thị

Hằng năm 2014 là hai luận văn nghiên cứu về NLTT đã được bảo vệ tại Trường Đại

học Văn hóa Hà Nội Và gần đây nhất là luận án “Phát triển KTTT cho sinh viên

các trường đại học ở Việt Nam” của tác giả Trương Đại Lượng bảo vệ năm 2015 tại

Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

Những công trình nghiên cứu liên quan đến Trung tâm TT-TV, ĐHQGHN

Các khía cạnh tiếp cận nghiên cứu liên quan đến đơn vị khảo sát là Trung tâm TT-TV ĐHQGHN: hiện đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu, tìm hiểu về các hoạt động xoay quanh Trung tâm Những luận văn nghiên cứu về Trung tâm TT-TV,

ĐHQGHN được bảo vệ tại trường ĐHKHXH&NV là: “Xây dựng thư viện điện tử

tại Trung tâm TT-TV, ĐHQGHN: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Trần Thị

Minh Nguyệt năm 2010; “Đổi mới hoạt động TT-TV đáp ứng yêu cầu đào tạo theo

học chế tín chỉ tại ĐHQGHN” của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo năm 2010;

Trang 18

14

“Công tác mô tả biên mục tại Trung tâm TT-TV, ĐHQGHN”của tác giả Hoàng

Yến năm 2014; “Dịch vụ TT-TV hiện đại tại ĐHQGHN” của tác giả Vũ Thị Thu Hà năm 2014; “Hoạt động marketing của Thư viện James Hardiman - Đại học Quốc

gia Ireland Galway và khả năng áp dụng tại Trung tâm TT-TV ĐHQGHN” của tác

giả Hà Hải Yến bảo vệ năm 2015

Những luận văn được bảo vệ tại trường Đại học Văn hóa: “Hoàn thiện công

tác TT-TV, ĐHQGHN” của tác giả Nguyễn Văn Hành năm 2000; “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ (SP&DV) TT-TV của Trung tâm TT-TV, ĐHQGHN” của tác giả Phạm Thị Yên năm 2005; “Nâng cao chất lượng xử lý tài liệu tại trung tâm TT-TV, ĐHQGHN” của tác giả Đồng Đức Hùng năm 2005;

“Hiện đại hóa công tác phục vụ bạn đọc tại Trung tâm TT-TV, ĐHQGHN” của tác

giả Lê Minh Thu năm 2006; “Phát triển nguồn tin nội sinh của ĐHQGHN” của tác

giả Trần Thị Thanh Vân, bảo vệ năm 2010.“Nghiên cứu nhu cầu tin (NCT) tại

Trung tâm TT-TV, ĐHQGHN” của tác giả Nguyễn Bích Hạnh năm 2011; “Tài liệu

số tại Trung tâm TT-TV, ĐHQGHN” của tác giả Phạm Thị Thu năm 2011

Tuy nhiên, các đề tài trên chỉ đi sâu tìm hiểu một nội dung cụ thể mà chưa nghiên cứu về vấn đề phát triển NLTT cho sinh viên trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN Qua tổng quan tình hình nghiên cứu như vậy, tôi nhận thấy chưa có một

đề tài NCKH, luận văn hay bài viết nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện

về phát triển NLTT cho sinh viên trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN Chính vì

vậy, đề tài “Năng lực thông tin của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội” là đề tài hoàn toàn mới và không trùng lặp

bất kỳ một đề tài nào đã nghiên cứu trước đó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng Năng lực thông tin của sinh viên Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm phát triển NLTT cho sinh viên để phục vụ cho quá trình học tập, NCKH đạt hiệu quả trong bối cảnh đào tạo theo tín chỉ và đáp ứng chuẩn đầu ra hiện nay

Trang 19

15

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về NLTT Cụ thể: khái niệm NLTT, vai trò của NLTT, các tiêu chí đánh giá NLTT, các yếu tố tác động đến NLTT

- Nghiên cứu khái quát về Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

- Nghiên cứu về thực trạng NLTT của sinh viên Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao NLTT cho sinh viên Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

4 Giả thuyết nghiên cứu

NLTT của sinh viên trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN còn yếu nên việc xác định NCT, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin phục vụ học tập, NCKH chưa đạt hiệu quả Nguyên nhân có thể là do các yếu tố khách quan như sự bùng

nổ thông tin trên Internet, sinh viên chưa được trang bị kiến thức, NLTT trong chương trình đào tạo của trường, của các đơn vị phục vụ thông tin/ tư liệu như Trung tâm TT-TV, ĐHQGHN, các phòng tư liệu, hoạt động của Đoàn, Hội sinh viên… hoặc do yếu tố chủ quan là bản thân sinh viên chưa tự học hỏi và nghiên cứu nên NLTT và đạo đức trong sử dụng thông tin còn những hạn chế Vậy làm thế nào để khắc phục thực trạng trên một cách hiệu quả, là câu hỏi nghiên cứu mà luận văn cần hướng đến giải quyết Có thể, nếu có sự thống nhất cao trong nhận thức của các bên liên quan trong Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN và nội dung trang bị NLTT cho sinh viên trong việc xác định nhu cầu, phạm vị khai thác thông tin, kĩ năng tìm kiếm, thói quen sử dụng công cụ, hiểu biết sở hữu trí tuệ và trình bày thông tin được thực hiện tốt thì có thể sẽ phát triển được NLTT cho sinh viên của Trường, nhằm giúp sinh viên có thể tự kiểm soát tốt hơn và nâng cao hiệu quả quá trình học tập, nghiên cứu của mình Đó là một hành trang thiết yếu cho quá trình học tập suốt đời của mỗi sinh viên

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Năng lực thông tin của sinh viên Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

Trang 20

16

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu về NLTT của sinh viên Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN trong giai đoạn hiện nay

- Phạm vi nội dung: Phát triển NLTT cho sinh viên Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan điểm chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về sự nghiệp TT-TV, về giáo dục & đào tạo làm căn cứ để triển khai quá trình nghiên cứu

6.2 Phương pháp cụ thể

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu

- Phương pháp điều tra thực tế

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp thống kê số liệu

Phạm vi quy mô của mẫu khảo sát điều tra 200 phiếu hỏi Trong đó: 150 phiếu dành cho sinh viên có chú trọng đến các khóa đào tạo, các khoa đào tạo trong Trường; 50 phiếu dành cho CBTV Trung tâm TT-TV, ĐHQGHN và cán bộ các phòng tư liệu của các khoa, cán bộ đoàn, hội trong trường ĐHKHXH&NV

7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài

Trang 21

17

TV, ĐHQGHN xây dựng kế hoạch chiến lược bền vững để phát triển NLTT cho sinh viên, góp phần nâng cao chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước nói chung và công tác đào tạo, NCKH của Nhà trường nói riêng

- Là cơ sở và tài liệu tham khảo (TLTK) tốt cho khoa TT-TV Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN biên soạn bài giảng/ giáo trình cho môn học “Năng lực thông tin” dạy cho toàn trường

8 Kết quả nghiên cứu

Luận văn gồm 100 trang chưa kể các phần Mở đầu, Tài liệu tham khảo và Phụ lục

9 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 03 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực thông tin của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 2 Thực trạng năng lực thông tin và các yếu tố tác động đến năng lực thông tin của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 3 Các giải pháp phát triển năng lực thông tin cho sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 22

18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC THÔNG TIN

CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN,

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1.1 Những vấn đề chung về năng lực thông tin

1.1.1 Các quan điểm khác nhau về khái niệm “Năng lực thông tin”

Thuật ngữ “Năng lực thông tin” (Information Literacy) là khái niệm khá mới với nhiều người làm công tác thư viện ở Việt Nam Hiện nay có khá nhiều định nghĩa khác nhau về NLTT, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Jesus Lau (2006) cho rằng việc hiểu các định nghĩa khác nhau liên quan đến NLTT là rất quan trọng nhằm định hướng rõ ràng cho xây dựng chương trình NLTT [73] “Năng lực thông tin” đã được đề cập đến từ những năm 70 của thế kỷ trước Sự xuất hiện của thuật ngữ này gắn liền với xu thế bùng nổ thông tin tại thời điểm đó Thuật ngữ “Information Literacy” lần đầu được Paul Zukowski, chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp thông tin Hoa Kỳ, nêu lên trong Đề xuất gửi đến Ủy ban Quốc gia về Khoa học Thông tin - Thư viện năm 1974 Ông sử dụng thuật ngữ này mô tả những người “đã học được kỹ năng sử dụng các công cụ tìm kiếm thông tin cũng như các nguồn thông tin khác nhau để có được giải pháp thông tin” [76, tr.6] Theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL, 1989), NLTT là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân có

thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thông

tin cần thiết một cách hiệu quả” [66] McKie, trong tài liệu của Cheek và các cộng

sự đã khẳng định “NLTT là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin, tìm kiếm, tổ chức,

thẩm định và sử dụng thông tin trong việc ra quyết định một cách hiệu quả, cũng như áp dụng những kỹ năng này vào việc tự học suốt đời” [69, tr.2] Theo Joan M

Reitz trong Từ điển về Khoa học Thông tin và Thư viện (2004), NLTT là “kỹ năng tìm kiếm thông tin theo nhu cầu, gồm có sự am hiểu về cách tổ chức các thư viện cũng như các nguồn tài nguyên mà họ cung cấp (các dạng thông tin và công cụ tìm kiếm tự động) cùng với các kỹ thuật tìm kiếm thông thường Khái niệm này cũng bao gồm các kỹ năng cần thiết để đánh giá nội dung thông tin và sử dụng nó một

Trang 23

19

cách hiệu quả, những tri thức về cơ sở hạ tầng truyền dẫn thông tin, kể cả về mặt chính trị, xã hội, ngữ cảnh văn hóa và tác động của nó Khái niệm này đồng nghĩa với kỹ năng thông tin, có thể so sánh với khái niệm kiến thức tin học” [74]

Viện Kiến thức thông tin Úc và New Zealand cho rằng, một người có NLTT là người có khả năng:

- Nhận dạng được NCT của bản thân;

- Xác định được phạm vi của thông tin mà mình cần;

- Thẩm định thông tin và nguồn của chúng một cách tích cực và hiệu quả;

- Phân loại, lưu trữ, vận dụng và tái tạo nguồn thông tin được thu thập hay tạo ra;

- Biến nguồn thông tin được lựa chọn thành cơ sở tri thức;

- Sử dụng thông tin vào việc học tập, tạo tri thức mới, giải quyết vấn đề, và ra quyết định một cách có hiệu quả;

- Nắm bắt được các khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị và văn hóa trong việc sử dụng thông tin;

- Truy cập và sử dụng các nguồn thông tin hợp pháp và hợp đạo đức;

- Sử dụng thông tin và tri thức để thực hiện các quyền công dân và trách nhiệm

Có thể thấy rằng, thuật ngữ “Information Literacy” được dịch sang tiếng Việt theo nhiều cách khác nhau như “Kiến thức thông tin”, “Văn hóa thông tin”, “Năng lực thông tin”, “Hiểu biết thông tin” hay “Kỹ năng thông tin” Các tác giả có những cách dịch khác nhau nhưng phần lớn các ý kiến đều thống nhất nội hàm của thuật ngữ này được hiểu rằng: NLTT là khả năng nhận dạng NCT, tìm kiếm, thu thập, đánh giá và sử dụng thông tin một cách hiệu quả và hợp pháp Thuật ngữ

“năng lực thông tin” được sử dụng trong nghiên cứu này bởi nó ngày càng được

sử dụng phổ biến trong các trường đại học, các viện nghiên cứu, và các cơ quan

Trang 24

sử dụng thông tin/tài liệu Ngay từ năm 2006, trong công trình công bố tại Kỷ yếu hội thảo “Ngành TTTV trong xã hội thông tin” của Khoa TT-TV, PGS.TS Trần Thị

Quý đã cho rằng “KTTT là khả năng/kiến thức và kỹ năng tìm kiếm thu thập, đánh

giá và sử dụng thông tin một cách hiệu quả, đúng nhu cầu và hợp pháp của mọi người trong cộng đồng” [39]

NLTT gắn liền với khả năng nghiên cứu độc lập và học tập suốt đời Có nghĩa

là, người có NLTT là người có khả năng tiếp cận và áp dụng tri thức một cách tích cực, chủ động, hiệu quả trong từng phạm vi hoạt động động cụ thể của mình Các nghiên cứu trên cho thấy khái niệm NLTT rộng hơn khái niệm hướng dẫn sử dụng thư viện Hướng dẫn sử dụng thư viện đề cập đến đào tạo cho NDT các tình huống

cụ thể trong việc sử dụng thư viện trong khi đó khái niệm NLTT bao hàm cả việc phát triển kỹ năng học tập suốt đời bằng cách giáo dục NDT cách thức khai thác, sử dụng, đánh giá, trình bày và trao đổi thông tin một cách hiệu quả Hướng dẫn thư viện tập trung vào việc hướng dẫn NDT phương pháp tìm tài liệu của thư viện trong khi đó NLTT quan tâm tới tiến trình tìm kiếm và sử dụng thông tin nói chung bao gồm cả những nguồn tin trong và ngoài thư viện

1.1.2 Nội dung của năng lực thông tin

Nội dung NLTT bao gồm các thành tố: Khả năng nhận dạng NCT; khả năng

tìm kiếm thông tin; kỹ năng đánh giá, trình bày & sử dụng thông tin; đạo đức và thực hiện văn bản pháp quy về sử dụng thông tin

Khả năng nhận dạng nhu cầu tin

Là khả năng nhận ra rằng thông tin là cần thiết; hiểu được tại sao lại cần thông tin, cần bao nhiêu và những loại thông tin gì, cũng như các vấn đề liên quan (thời gian, định dạng, cách truy cập…);

Người có khả năng nhận dạng nhu cầu thông tin của chính mình là người biết:

Trang 25

21

- Xác định, định vị và liên kết nhu cầu thông tin: tìm hiểu các nguồn thông tin

cơ bản phù hợp với chủ đề cần nghiên cứu; nhận dạng các từ khoá và thuật ngữ cốt lõi; xác định hoặc sửa đổi nhu cầu thông tin của vấn đề; hỏi ý kiến của những người xung quanh để hiểu rõ chủ đề nghiên cứu hay nhu cầu thông tin khác

- Hiểu được mục đích, phạm vi và sự thích hợp của các nguồn thông tin khác nhau: hiểu được cách tổ chức thông tin, phổ biến và sự phù hợp với nội dung chủ đề nghiên cứu; hiểu được sự khác nhau giữa các giá trị, các nguồn thông tin tiềm năng; hiểu được sự khác nhau giữa nguồn thông tin cấp một và nguồn thông tin cấp hai, hiểu cách sử dụng chúng một cách khoa học với mỗi chủ đề

- Biết đánh giá lại bản chất của nhu cầu thông tin: xem lại nhu cầu thông tin ban đầu nhằm làm rõ hơn, xem xét lại hoặc thu gọn câu hỏi tìm kiếm; liên kết và sử dụng các tiêu chuẩn để tạo ra các lựa chọn, tạo ra các quyết định thông tin

- Sử dụng các nguồn thông tin để ra quyết định: hiểu được các nguồn thông tin khác nhau sẽ biểu hiện dưới những dạng khác nhau; sử dụng các nguồn thông tin một cách có hệ thống để hiểu các vấn đề cần nghiên cứu; sử dụng thông tin cho việc

ra quyết định và giải quyết vấn đề

Khả năng tìm kiếm thông tin

- Lựa chọn phương pháp hoặc công cụ phù hợp nhất để tìm kiếm thông tin: xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp; hiểu được những thuận lợi và khả năng áp dụng của các phương pháp nghiên cứu khác nhau; xác định được mục tiêu, nội dung

và cấu trúc của các công cụ truy cập thông tin; tham khảo thủ thư và các chuyên gia thông tin để xác định các công cụ tìm kiếm

- Xây dựng và thực hiện các chiến lược tìm kiếm hiệu quả: phát triển kế hoạch tìm kiếm phù hợp với phương pháp nghiên cứu; xác định chính xác từ khoá, từ đồng nghĩa và các thuật ngữ liên quan đến nhu cầu thông tin; xây dựng và thực hiện một chiến lược tìm kiếm sử dụng câu lệnh phù hợp; thực hiện tìm kiếm sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với chủ đề, môn học

- Sử dụng các phương pháp phù hợp để tìm kiếm thông tin: sử dụng các công

cụ truy cập thông tin phù hợp để truy cập thông tin dưới nhiều dạng khác nhau; sử

Trang 26

22

dụng dịch vụ thông tin phù hợp để tiếp cận nhu cầu thông tin như cung cấp tài liệu, phổ biến tin….; sử dụng cách điều tra, thư, phỏng vấn và các hình thức thẩm định khác để truy cập tới nguồn thông tin cấp một (thông tin gốc)

- Cập nhật các nguồn thông tin, CNTT, các công cụ truy cập thông tin và các phương pháp nghiên cứu: Duy trì kiến thức về vai trò của thông tin và công nghệ truyền thông; Tạo được thói quen đọc lướt các nguồn tin in ấn và điện tử

Kỹ năng đánh giá, trình bày & sử dụng thông tin

Về đánh giá, trình bày và sử dụng thông tin là người có khả năng: Áp dụng các tiêu chí để đánh giá thông tin và nguồn của nó; Tóm tắt được các ý chính từ thông tin thu thập được; Trích rút, ghi lại và quản lý thông tin; Tổng hợp thông tin để tạo

ra sản phẩm thông tin mới Cụ thể:

- Áp dụng các tiêu chí để đánh giá thông tin và các nguồn của nó: Kiểm tra và

so sánh thông tin từ các nguồn khác nhau để đánh giá mức độ tin cậy, giá trị, tính chính xác, uy tín, tính kịp thời, và quan điểm hay thiên kiến; Phân tích cấu trúc và tính logic của các luận cứ; Nhận ra bối cảnh mà trong đó thông tin được tạo ra

- Trích rút, ghi lại, và quản lý thông tin cũng như nguồn của nó: Phân biệt các loại nguồn được trích dẫn và hiểu các yếu tố và cú pháp chính xác của một trích dẫn cho các nguồn thông tin; Ghi lại mọi thông tin trích dẫn thích hợp dùng để tham khảo sau này; Sử dụng các công nghệ khác nhau để quản lý thông tin đã lựa chọn

- Tóm tắt các ý chính được tạo ra từ thông tin đã thu thập: Đọc văn bản và lựa chọn các ý chính; Trình bày lại các khái niệm trong nguyên bản bằng từ ngữ của mình; Xác định các tài liệu chính xác có thể dùng để trích dẫn sau này

- So sánh tri thức mới với tri thức trước đó để xác định giá trị gia tăng: Xác định xem thông tin có thỏa mãn việc nghiên cứu hay nhu cầu thông tin khác không; Rút ra kết luận dựa trên thông tin đã tập hợp được; Xác định độ chính xác có thể bằng cách xem xét nguồn dữ liệu, những hạn chế của công cụ hay chiến lược tìm kiếm thông tin, và tính hợp lý của các kết luận; Tích hợp thông tin mới với thông tin hay tri thức trước đó

- Chứng minh sự hiểu biết thông tin qua việc trao đổi với các cá nhân khác, các chuyên gia về lĩnh vực liên quan hoặc những người đang hành nghề

Trang 27

23

- Xác định xem câu hỏi ban đầu có cần sửa đổi không: Xác định xem nhu cầu thông tin ban đầu có phù hợp không hoặc xem có cần thêm thông tin không; Xem lại chiến lược tìm và kết hợp các khái niệm bổ sung khi cần thiết; Xem lại các nguồn tìm kiếm thông tin đã sử dụng và mở rộng ra các nguồn khác nếu cần

- Áp dụng thông tin mới và cũ trong việc lập kế hoạch và tạo ra một sản phẩm

cụ thể: Tổ chức nội dung theo cách hỗ trợ cho các mục đích và dạng thức của sản phẩm cụ thể; Kết hợp tri thức và các kỹ năng được chuyển giao từ những kinh nghiệm trước đó cho việc lập kế hoạch và tạo ra sản phẩm; Hợp nhất thông tin cũ và mới, bao gồm các trích dẫn và diễn giải, theo cách thức hỗ trợ cho các mục đích của sản phẩm

- Duy trì một hình thức ghi chép hay nhật ký về các hoạt động có liên quan tới quá trình tìm, đánh giá và truyền đạt thông tin; Suy nghĩ về những thành công, thất bại trước đây cũng như những chiến lược thay thế

- Chuyển giao sản phẩm một cách hiệu quả cho người khác: Lựa chọn một phương tiện hay hình thức truyền đạt hỗ trợ tốt nhất cho các mục đích của sản phẩm

và cho đối tượng đã dự định

Đạo đức và văn bản pháp quy về sử dụng và phổ biến thông tin

- Hiểu biết các vấn đề đạo đức, pháp lý và kinh tế xã hội liên quan tới thông tin

và CNTT: Xác định và thảo luận các vấn đề liên quan tới sự riêng tư và an toàn trong cả môi trường in ấn và điện tử; Các vấn đề về truy cập thông tin miễn phí khác với truy cập phải trả phí; Các vấn đề về sự kiểm duyệt và tự do ngôn luận; Thể hiện sự hiểu biết về sở hữu trí tuệ, bản quyền và sử dụng hợp lý các tài liệu có bản quyền

- Tuân thủ luật pháp, các quy định, các chính sách của cơ quan tổ chức liên quan tới việc truy cập và sử dụng các nguồn thông tin: Thu thập, tàng trữ và phổ biến văn bản, dữ liệu, hình ảnh hoặc âm thanh một cách hợp pháp; Thể hiện sự hiểu biết về những gì bị coi là đạo văn

- Thừa nhận việc sử dụng các nguồn thông tin của người khác: Lựa chọn một chuẩn trích dẫn nguồn tư liệu và sử dụng nó một cách nhất quán để trích dẫn nguồn tin; Gửi thông báo xin phép khi cần đối với các tài liệu có bản quyền

Trang 28

24

- Có thói quen sẵn sàng và có kỹ năng cần thiết trong việc chia sẻ thông tin với người khác theo đúng pháp luật, hợp với đạo đức và có hiệu quả

1.1.3 Vai trò của năng lực thông tin đối với sinh viên

Giúp sinh viên làm chủ các nguồn thông tin

Trước hết, cần phải thấy rõ tác động to lớn của sự bùng nổ thông tin trong thời đại mà ai cũng có thể phổ biến thông tin qua nhiều kênh khác nhau, đặc biệt là Internet Có một thực tế là ngày nay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng có thể đưa các ý tưởng và thông tin của mình lên Internet Chưa kể đến các nguồn thông tin đa phương tiện, các tài liệu dưới dạng giấy vẫn hàng ngày tăng theo cấp số nhân Điều này tất yếu dẫn đến tính phức tạp và diện phong phú của nguồn tin Vấn đề đặt ra là: làm sao kiểm soát được lượng thông tin khổng lồ đang ngày càng gia tăng một cách chóng mặt? làm sao kiểm soát được chính chính xác và độ chân thực của thông tin? Hơn thế nữa, chính do thế giới thông tin đang ngày trở nên phức tạp, xu thế liên ngành trong các lĩnh vực khoa học xuất hiện, sự xuất hiện mạnh mẽ của rất nhiều kênh thông tin đã khiến cho con người gặp không ít khó khăn trong việc giải quyết nhu cầu thông tin của chính họ Hơn lúc nào hết, họ cần có một công cụ để tiếp cận

và làm chủ thế giới thông tin một cách hiệu quả

Những thách thức như trên khiến cho nhu cầu về NLTT trở nên cấp thiết hơn bao giờ Nói cách khác, để nắm bắt và thu được ích lợi từ thế giới thông tin, các cá nhân và tổ chức nói chung và sinh viên nói riêng cần phải đặc biệt lưu tâm đến vấn đề phát triển NLTT NLTT đặc biệt hữu ích cho sinh viên trong việc tự điều chỉnh bản thân và năng lực tư duy sao cho phù hợp với hoàn cảnh mới, giúp sinh viên tự mình cập nhật và tiếp nhận tri thức mới một cách dễ dàng và chủ động

Rèn cho sinh viên khả năng học tập suốt đời

Tác giả Cropley (1997) cho rằng giáo dục học tập suốt đời gắn với việc tạo cho mỗi người cơ hội học tập một cách có hệ thống và có tổ chức ở bất kỳ thời điểm nào trong cuộc đời của họ [70] Curtain (2001) khẳng định học tập suốt đời gắn liền với vấn đề “an toàn nghề nghiệp” trước sức ép từ sự toàn cầu hóa Tác giả này cho rằng: Học tập suốt đời, hiểu theo nghĩa rộng, có thể tạo lập một cơ sở để các cá nhân có

Trang 29

25

thể quản lý tốt hơn những rủi ro về nghề nghiệp; giúp chính phủ và tổ chức, doanh nghiệp hỗ trợ cá nhân đảm bảo nghề nghiệp của mình Một chiến lược học tập toàn diện cho phép tối đa hóa các cơ hội học tập có thể được chứng thực thông qua những lợi ích mà nó đem lại cho nền kinh tế, các tổ chức doanh nghiệp, và cho chính mỗi cá nhân.[71]

Hơn thế nữa, có một thực tế không thể phủ nhận là: ngày nay, các hoạt động học tập đang diễn ra không chỉ tại các cơ sở đào tạo, mà còn có thể được tổ chức tại nhà riêng, cộng đồng, các địa điểm giải trí, nơi làm việc, thông qua các phương tiện truyền thông, bạn bè và các mối quan hệ khác Đó chính là cơ sở cho sự ra đời của

“xã hội học tập” - nơi mà người học có toàn quyền tự do lựa chọn trang bị cho mình phương thức học tập của riêng mình trên cơ sở vô số cơ hội học tập mà họ có thể có được (nhu cầu tự định hướng) Và một trong những nhân tố chủ chốt cấu thành nên khả năng tự định hướng đó chính là NLTT

Khả năng tự định hướng và tự thích nghi chính là yếu tố đặc biệt quan trọng để mỗi cá nhân có thể phát triển một cách bền vững và tích cực trong bối cảnh thị trường lao động đầy biến động Xu thế xã hội cho thấy việc thay đổi nghề nghiệp trong cuộc đời mỗi con người ngày càng diễn ra phổ biến và tất yếu.Điều này đòi hỏi mỗi người cần có khả năng tiếp cận và làm việc với những lĩnh vực kiến thức mới một cách hiệu quả Sẽ là nguy hiểm nếu như mọi người coi việc học tập chính quy của mình là công cụ cứu cánh duy nhất cho sự nghiệp của mình, đồng thời bỏ qua việc tiếp cận và áp dụng những tri thức mới liên quan đến công việc và cuộc sống cá nhân của mình Có thể nói, NLTT chính là chìa khóa xây dựng nên một “xã hội học tập”

Giúp sinh viên nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học

NCKH được xem như một thước đo chất lượng của nền giáo dục và kinh tế tri thức của một quốc gia Hoạt động NCKH ở các trường đại học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển khoa học - công nghệ vì đó là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước Chính vì vậy, NLTT đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc rèn luyện cho sinh viên, giáo viên cũng như các nhà nghiên cứu khả năng thực hiện NCKH và nâng cao chất lượng NCKH.Con

Trang 30

26

người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và quan trọng là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường

Quá trình bùng nổ thông tin, cùng với nền kinh tế tri thức đòi hỏi người làm NCKH luôn luôn phải cập nhật thông tin, tri thức mới nhất, chính xác và hiệu quả nhất nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu, thực nghiệm tạo ra những sản phẩm khoa học có chất lượng cao, có khả năng ứng dụng vào thực tiễn đất nước

Người làm NCKH giỏi phải là người đã được trang bị kỹ năng tự học, tự định hướng hay còn gọi là NLTT Họ có khả năng nhận biết NCT, định vị thông tin, tìm kiếm, sử dụng và biến nguồn tin đó thành cơ sở tri thức nhằm sáng tạo ra tri thức mới, sáng kiến, cải tiến mới phục vụ cho xã hội Các nhà khoa học lớn đều phải biết

kế thừa, tiếp thu những kiến thức của những đồng nghiệp và những người đi trước Như vậy, để có được những sản phẩm khoa học chất lượng cao, phục vụ cho

xã hội, đòi hỏi các nhà nghiên cứu nói chung và sinh viên nói riêng phải thực hiện quá trình nghiên cứu một cách nghiêm túc và tinh thần trách nhiệm cao NLTT là một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực và hiệu quả giúp hoạt động NCKH diễn ra một cách thường xuyên và thuận lợi, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu, rút ngắn quá trình ứng dụng khoa học vào thực tiễn

1.1.4 Các yếu tố tác động đến năng lực thông tin của sinh viên

1.1.4.1 Nhận thức của các bên liên quan

Về phía lãnh đạo trường đại học

Nhận thức của lãnh đạo nhà trường có vai trò quyết định đối với công tác phát triển NLTT cho sinh viên của một trường đại học

Công tác phát triển NLTT cho sinh viên chỉ có thể được đảm bảo nếu lãnh đạo các trường đại học quan tâm xây dựng và ban hành các chính sách cụ thể về phát triển NLTT; đưa NLTT vào mục tiêu giáo dục của nhà trường và lấy NLTT làm một trong các mục tiêu đánh giá đầu ra đối với sinh viên tốt nghiệp; coi trọng và phát triển môi trường học thuật Với ý nghĩa đó, nhận thức của lãnh đạo nhà trường

có vai trò quyết định đối với công tác phát triển NLTT cho sinh viên của một trường đại học

Trang 31

27

Về phía giảng viên

Nhận thức của giảng viên về sự cần thiết phải phát triển NLTT cho sinh viên là điều kiện đầu tiên và có tác động trực tiếp đến kết quả phát triển NLTT cho sinh viên Bởi vì nhận thức của giảng viên quyết định việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, kỹ thuật dạy học; ảnh hưởng đến việc hình thành động cơ học tập của sinh viên; kích thích nhu cầu sử dụng thông tin, tài liệu của sinh viên trong quá trình học tập và NCKH do đó ngay từ ban đầu giảng viên đã phải có ý thức, trách nhiệm trong việc thiết kế hoạt động dạy học nhằm phát triển NLTT cho sinh viên sau này Nhận thức của giảng viên có ảnh hưởng đến việc xây dựng mối quan hệ hợp tác giữa giảng viên và CBTV trong việc phát triển NLTT cho sinh viên Một khi giảng viên nhận thức được tầm quan trọng của NLTT và vai trò của CBTV trong việc phát triển NLTT cho sinh viên họ sẽ có thái độ tích cực hơn đối với CBTV bởi

lẽ phát triển NLTT không chỉ là trách nhiệm của CBTV mà còn là trách nhiệm của giảng viên

Về phía thư viện và cán bộ thư viện

Thư viện là giảng đường thứ hai của sinh viên, là nơi mà sinh viên học tập, nghiên cứu, tìm tòi và trao đổi thông tin với bạn bè của mình, vì vậy thư viện cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển NLTT cho sinh viên Thư viện là nơi tạo động lực học tập, nghiên cứu cho sinh viên, giúp sinh viên nâng cao khả năng tự nghiên cứu, học tập độc lập và thúc đẩy sự tìm tòi, sáng tạo của bản than Hoạt động của thư viện luôn song hành với quá trình giảng dạy, học tập của giảng viên và sinh viên Thư viện cần nhận thức được sứ mệnh của mình như là đơn

vị đầu mối trong việc phát triển NLTT cho sinh viên; phát triển NLTT cho sinh viên không phải là vấn đề thư viện mà là vấn đề giáo dục

Cũng như giảng viên, nhận thức của CBTV đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển NLTT cho sinh viên CBTV được xem là những người tiên phong trong việc trang bị NLTT cho sinh viên thông qua các hoạt động đào tạo NDT, hướng dẫn bạn đọc sử dụng thư viện, cung cấp và tư vấn cho bạn đọc về việc sử dụng các nguồn thông tin khác nhau trong và ngoài thư viện

Trang 32

28

Nhận thức được điều này sẽ giúp CBTV chủ động phối hợp với giảng viên để lồng ghép NLTT vào chương trình đào tạo

Về phía sinh viên

Nhận thức của sinh viên cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển NLTT cho sinh viên Việc phát triển mỗi kỹ năng thông tin đều liên quan đến nhận thức về tính cần thiết và vai trò của kỹ năng đó đối với cá nhân Từ đó, mới nảy sinh nhu cầu mong muốn được phát triển NLTT Để phát triển NLTT cho sinh viên thì điều quan trọng đầu tiên sinh viên phải nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa, cách thức thực hiện và có ý thức rèn luyện NLTT

Sự phối hợp giữa cán bộ thư viện với giảng viên

Lồng ghép NLTT vào chương trình giảng dạy đại học là cách tốt nhất để phát triển NLTT cho sinh viên Điều này đòi hỏi sự phối hợp giữa CBTV và giảng viên trong việc thiết kế chuơng trình giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá sinh viên, cung cấp học liệu cho quá trình dạy học và nghiên cứu, hướng dẫn giảng viên

và sinh viên các nguồn thông tin liên quan đến môn học

1.1.4.2 Chương trình phát triển năng lực thông tin dành cho sinh viên

Thời đại CNTT phát triển mạnh mẽ, sự bùng nổ thông tin dẫn đến đòi hỏi việc phát triển NLTT cho sinh viên không chỉ dừng lại đơn thuần ở việc giới thiệu và hướng dẫn tìm kiếm tài liệu trong thư viện Vì vậy, nội dung chương trình phát triển NLTT cho sinh viên cần chú trọng đến các kiến thức và kỹ năng quan trọng như: kỹ năng nhận dạng NCT; tìm kiếm và đánh giá thông tin từ các nguồn trong và ngoài thư viện; khai thác thông tin và sử dụngcó ích các thông tin đó và trên cơ sở đó, biến thông tin thành tri thức; hiểu biết các vấn đề pháp lý liên quan đến truy cập và

sử dụng thông tin; kỹ năng tư duy, kỹ năng giải quyết vấn đề dựa trên thông tin Không chỉ nội dung phát triển NLTT cho sinh viên được đổi mới mà hình thức

và phương pháp cũng cần được đổi mới, NLTT cần được lồng ghép vào từng môn học trong chương trình giảng dạy Với điều kiện hạ tầng CNTT như hiện nay, các chương trình đào tạo NLTT cần được áp dụng giảng dạy và học tập bằng các phương tiện hiện đại, tạo sinh viên hứng thú trong học tập và hình thành thói quen

sử dụng công nghệ hiện đại Ngoài ra, những người thiết kế chương trình NLTT cần

Trang 33

29

xây dựng những bài giảng trực tuyến, các diễn đàn trao đổi để về NLTT để sinh viên có thể tiếp cận chúng mọi lúc, mọi nơi

1.1.4.3 Trình độ cán bộ thông tin - thư viện

Để thực hiện phát triển NLTT cho sinh viên, các CBTV là người trực tiếp tham gia thiết kế và triển khai chương trình Họ là những người đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp với giảng viên, khoa chuyên ngành để khởi xướng, xây dựng chính sách, chương trình phát triển NLTT cho sinh viên

Trình độ CBTV thể hiện ở nhiều bình diện khác nhau như: kinh nghiệm giảng dạy, trình độ chuyên môn TT-TV, trình độ ngoại ngữ và tin học, kiến thức về các ngành đào tạo của trường đại học mà mình phục vụ, trình độ NLTT, và kỹ năng giao tiếp

Hội Thư viện Hoa Kỳ đề xuất, CBTV phải được trang bị tốt mười hai kỹ năng như: kiến thức về lĩnh vực mà trường đại học đào tạo, kiến thức về chương trình đào tạo, thiết kế bài giảng, kỹ năng quản lý, thẩm định và đánh giá, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng giảng dạy [65]

Các CBTV cần và nên có đủ các kỹ năng trên để đảm bảo việc giáo dục NLTT cho sinh viên đạt hiệu quả cao

1.1.4.4 Phương pháp giảng dạy và đánh giá của giảng viên

Phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo Phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện để giảng viên và sinh viên phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền đạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy cho sinh viên

Phương pháp giảng dạy trực tiếp tác động đến nhu cầu NLTT của sinh viên Nếu giảng viên sử dụng phương pháp giảng dạy chủ yếu là đọc chép, dẫn đến sinh viên học tập sẽ rất thụ động, không tạo được cho sinh viên thói quen tự học, tự nghiên cứu Sinh viên sẽ chỉ học thuộc những gì giảng viên đọc cho chép và sẽ không có nhu cầu tìm kiếm, xử lý, đánh giá và sử dụng thông tin khoa học trong học tập Ngược lại, nếu phương pháp giảng dạy của giảng viên là hướng dẫn, hỗ trợ, tư vấn, thúc đẩy sinh viên tự tìm kiếm, chọn lọc và sử dụng thông tin, tạo

Trang 34

30

động lực cho quá trình học tập độc lập, tự nâng cao kiến thức của mình, khi đó, nhu cầu nâng cao NLTT của sinh viên sẽ phát triển để đáp ứng yêu cầu của giảng viên trong quá trình học tập Vì vậy, dạy học theo hướng phát triển NLTT đóng vai trò quan trọng nhưng cũng cần được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực, phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh và nhiệm

vụ học tập nhất định

Song song với việc giảng dạy, đánh giá cũng là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo Nếu việc kiểm tra, đánh giá sinh viên còn thiên về kiểm tra học thuộc lòng một cách máy móc, đơn điệu thì sinh viên sẽ không có nhu cầu trang bị NLTT, sinh viên không cần tìm tòi, động não, tư duy để hiểu biết và vận dụng kiến thức học được vào việc kiểm tra bài

Nếu việc kiểm tra đánh giá được trình độ tư duy, khả năng phát triển trí tuệ cũng như năng lực vận dụng tri thức, kỹ năng của sinh viên sẽ kích thích họ tự học, phát triển tư duy độc lập và học tập dựa trên nguồn học liệu Để đáp ứng được yêu cầu của phương pháp kiểm tra, đánh giá này đòi hỏi sinh viên phải được trang bị kỹ năng nhận dạng NCT, tìm kiếm thông tin, đánh giá thông tin, sử dụng thông tin và trình bày thông tin

1.1.4.5 Hạ tầng cơ sở vật chất & công nghệ thông tin

Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và Internet đã tác động đến không chỉ giảng viên, CBTV - những người hướng dẫn, đào tạo NLTT cho sinh viên mà còn tác động trực tiếp đến sinh viên dưới góc độ là những người khai thác và sử dụng thông tin

CNTT và truyền thông đã tạo ra sự bùng nổ thông tin và làm nảy sinh nhu cầu nâng cao trình độ NLTT của NDT Trên phương diện này, CNTT đã làm thay đổi cách thức khai thác, lưu trữ, phổ biến, sử dụng thông tin của người sử dụng nói chung và sinh viên nói riêng NDT không chỉ đơn thuần tra tìm trong sách vở, tài liệu truyền thống mà ngày nay họ cần tra cứu, tìm kiếm thông tin trên mạng với rất nhiều nguồn thông tin khác nhau, nhiều phương thức, cách tiếp cận, các công cụ,

Trang 35

về NLTT cho sinh viên

CSVC, hạ tầng CNTT của Trường và trung tâm TT-TV là những hành trang quan trọng giúp nâng cao NLTT cho sinh viên thông qua việc tạo nên môi trường học tập hứng khởi cho sinh viên, giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận với các tài liệu nghiên cứu, công nghệ hiện đại…

1.1.4.6 Văn hóa nhà trường

Văn hóa nhà trường thể hiện thông qua các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, quy tắc ứng xử… được xem là tốt đẹp và được mỗi người trong nhà trường chấp nhận Văn hóa trường đại học có thể hỗ trợ công tác phát triển NLTT cho sinh viên Các chuẩn mực, giá trị, niềm tin được hình thành trong trường đại học sẽ hướng dẫn hành vi của các cá nhân và nhóm Nếu trường đại học có chính sách xây dựng môi trường học thuật, khuyến khích giảng viên và sinh viên NCKH; hạn chế và đẩy lùi các tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong học tập thì nhu cầu sử dụng thông tin khoa học cũng như nhu cầu nâng cao trình độ NLTT của cán bộ, giảng viên và sinh viên trường đó sẽ tăng lên

Văn hóa nhà trường còn thể hiện ở khía cạnh tôn trọng pháp luật và đạo đức trong nghiên cứu của giảng viên và sinh viên

1.2 Đặc điểm của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

1.2.1 Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển

Nhằm tăng cường nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, từ việc xác định giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ là

Trang 36

32

quốc sách hàng đầu, hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã ban hành nghị quyết và chỉ rõ: Cần xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia làm đầu tàu và nóng cốt cho nền giáo dục nước nhà Theo tinh thần

đó, ngày 10/12/1993, chính phủ ra nghị định 97/CP quyết định thành lập ĐHQGHN trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại ba trường đại học lớn tại Hà Nội Ngày 05/9/1994, thủ tướng chính phủ ký quyết định số 477/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của ĐHQGHN [5]

Theo tinh thần chỉ đạo và những quy định của Đảng, Nhà nước, ĐHQGHN là

cơ sở giáo dục đại học công lập bao gồm tổ hợp các trường đại học, viện NCKH thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp để đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; là trung tâm đào tạo, NCKH và công nghệ

có cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, trong đó tập trung vào lĩnh vực khoa học, công nghệ cao và một số lĩnh vực kinh tế - xã hội mũi nhọn; có chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, NCKH tiên tiến; có đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trình độ cao; có đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp và đồng bộ; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với NCKH và triển khai ứng dụng, giữa các ngành khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn, giữa khoa học và công nghệ để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài khoa học, công nghệ; định hướng phát triển thành đại học nghiên cứu ngang tầm với các đại học có uy tín trong khu vực và trên thế giới ĐHQGHN hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao; chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục và đào tạo, của Bộ Khoa học và Công nghệ về khoa học và công nghệ, của Bộ ngành khác và Ủy ban nhân dân cấp nơi ĐHQGHN đặt trụ sở trong lĩnh vực được phân công theo quy định của chính phủ và phù hợp với pháp luật Các trường đại học, viện NCKH thành viên thuộc ĐHQGHN là những cơ sở đào tạo, NCKH và công nghệ có quyền tự chủ cao, có pháp nhân tương đương các trường đại học, viện NCKH khác được quy định trong Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học và Luật Khoa học - Công nghệ

Sứ mệnh của ĐHQGHN là “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài; NCKH, phát triển công nghệ và chuyển giao tri thức đa

Trang 37

33

ngành, đa lĩnh vực; góp phần xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước; làm nòng cột và đầu tàu trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam” Trở thành đại học định hướng nghiên cứu, đa ngành, đa lĩnh vực có tính hội nhập cao, trong đó, một số trường đại học, viện nghiên cứu thành viên thuộc các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ cao và kinh tế - xã hội mũi nhọn đạt trình độ tiên tiến châu Á là tầm nhìn đến năm 2030 của ĐHQGHN Trên cơ sở đó, chiến lược phát triển ĐHQGHN đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030 sẽ tiếp tục phát huy các thành tựu, khắc phục các hạn chế nêu trên, bám sát các nghị quyết của Trung ương về đổi mới giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ, xây dựng và phát triển ĐHQGHN phù hợp với vai trò, vị thế và tình hình cụ thể của mình trong bối cảnh phát triển của đất nước

Trong hơn 20 năm thành lập và phát triển trên nền tảng 70 năm truyền thống, Trường ĐHKHXH&NV luôn được coi là một trung tâm đào tạo và NCKH xã hội

và nhân văn lớn nhất của đất nước, có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học cơ bản trình độ cao, phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì thế, nhà trường xác định sứ mệnh của mình là “đi đầu trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, nghiên cứu sáng tạo và truyền bá tri thức về khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV), phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước” Sứ mệnh tiên phong và cao cả này là cụ thể hóa cho tinh thần xây dựng một nền đại học dân tộc “Xây dựng trường thành một đại học đứng đầu đất nước về KHXH&NV, ngang tầm với các đại học danh tiếng trong khu vực, phục vụ đắc lực

sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” là mục tiêu phát triển của trường đến năm 2020

Để thực hiện được điều này, nhà trường xác định tập trung xây dựng và phát triển một số ngành, chuyên ngành đạt trình độ quốc tế trên cơ sở quốc tế hóa các chương trình đào tạo, đẩy mạnh các hoạt động học thuật và mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học đẳng cấp cao ở khu vực và trên thế giới

Để làm tròn sứ mệnh trên, nhà trường luôn coi trọng công tác xây dựng nguồn nhân lực và đổi mới chương trình đào tạo, coi đó là điều kiện cốt lõi để xây dựng và phát triển Thực hiện định hướng ấy, trường đã coi mục tiêu xây dựng đội ngũ các

Trang 38

34

nhà giáo có trình độ cao là nhân tố quyết định sự phát triển chất lượng đào tạo và NCKH Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ được quan tâm đặc biệt, với nhiều chính sách ưu đãi nhằm tạo nguồn cán bộ bổ sung, tiếp nối bền vững, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế Bên cạnh đó, nhà trường coi trọng việc hoàn thiện, nâng cao năng lực công tác quản lý, thông qua thực hiện đề án cải cách hành chính theo chuẩn ISO từ hai năm trước Quá trình chuyển đổi từ thiết chế quản lý hành chính hoá sang thiết chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao là bước chuyển có tính đột phá trong sự phát triển của nhà trường

Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN được thành lập trong bối cảnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế đang diễn ra một cách nhanh chóng Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng và đa dạng hóa ngành nghề đào tạo đã được đặt ra và thực hiện một cách kiên quyết Nhiệm vụ trọng tâm là tập trung và tiếp tục mở rộng, phát triển chương trình đào tạo chất lượng cao, trình độ cao, vừa đáp ứng nhu cầu xã hội, phát triển đất nước, vừa phù hợp với xu thế phát triển của các ngành KHXH&NV ở Việt Nam và thế giới Một trong những giải pháp đột phá để thực hiện mục tiêu đó

là nhanh chóng quốc tế hóa các chương trình đào tạo Trong đó, chú trọng xây dựng

và thực hiện các môn học, chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, để thu hút sinh viên, học viên nước ngoài đến học tập tại trường Năm 2007, nhà trường đã chuyển đổi từ phương thức đào tạo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ, hội nhập với xu thế quốc tế, đồng thời tích cực chuẩn hoá công tác tổ chức, quản lý đào tạo Định hướng trong phát triển các ngành đào tạo của trường là vừa tập trung phát triển các ngành khoa học cơ bản, khoa học liên ngành; vừa phát triển các ngành khoa học ứng dụng Bên cạnh công tác đào tạo và phát triển đội ngũ nhân lực, thành tựu nổi bật nữa của trường là NCKH, được thể hiện ở những tri thức, những lý luận về xây dựng con người, văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa Một

số kết quả nghiên cứu của trường còn góp phần cung cấp các luận cứ, cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoạch định các đường lối chính sách Hợp tác quốc tế sâu rộng là con đường tiếp cận nhanh và hiệu quả tri thức và phương pháp nghiên cứu tiên tiến, nhất là khi muốn trở thành đại học nghiên cứu Trong hợp tác quốc tế, nhà

Trang 39

35

trường vừa dựa chắc trên nền tảng những thành tựu đã có, vừa từng bước tiếp cận những tiêu chí, chuẩn mực chung của đại học khu vực và quốc tế, để sáng tạo ra những giá trị mới của KHXH&NV ở Việt Nam, lấy đó làm lợi thế so sánh, làm sức mạnh trong hợp tác và cạnh tranh, khẳng định vị thế một trường đại học đứng đầu đất nước Nhờ vậy, trường đã thiết lập quan hệ với các trường đại học và các tổ chức quốc tế Nhiều chương trình hợp tác đào tạo, liên kết, các hội thảo khoa học quốc tế đã tạo được tiếng vang và uy tín học thuật cao cả trong và ngoài nước

1.2.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Trường

Với sự phát triển và lớn mạnh của Trường ĐHKHXH&NV, hiện tại, quy mô

và cơ cấu đào tạo của Trường như sau: 16 khoa trực thuộc, 11 trung tâm nghiên cứu, 01 viện nghiên cứu, 09 phòng chức năng, Trung tâm Nghiệp vụ Báo chí và Truyền thông, Trung tâm Đảm bảo chất lượng đào tạo, Bảo tàng Nhân học và Công

ty Dịch vụ Khoa học và Du lịch

- Quy mô đào tạo đại học: 22 ngành Tổng số sinh viên: 13.959 sinh viên trong đó: 5.472 sinh viên đại học hệ chính quy; 4.571 sinh viên đại học hệ không chính quy; 3.057 học viên cao học; 297 nghiên cứu sinh; 562 sinh viên nước ngoài bao gồm: 26 sinh viên đại học; 21 học viên cao học; 8 nghiên cứu sinh và 507 học viên học tiếng Việt

* Quy mô đào tạo định hướng đến năm 2020

- Quy mô đào tạo đại học: 20 ngành Tổng số sinh viên các hệ: 11.500, trong đó:

+ Đại học hệ chính quy: 7.500

+ Đại học hệ không chính quy: 1.470

- Quy mô đào tạo sau đại học:

+ 30 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ

+ 32 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ

+ Tổng số HVCH và NCS: 2.530 (đạt 22% tổng sinh viên qui đổi)

Quy mô đào tạo đại học chính quy của nhà trường giữ ổn định trong suốt thời gian qua Nếu như năm 1995, không tính các ngành Kinh tế và ngành Luật, quy mô

Trang 40

36

đào tạo khoảng 4200 sinh viên với 9 ngành đào tạo thì năm 2015 với số ngành đào tạo đã tăng lên 22 ngành (với 29 chương trình đào tạo) thì quy mô đào tạo đạt 6050 sinh viên Như vậy, bình quân trong 20 năm qua, mỗi năm quy mô đào tạo tăng thêm khoảng 90 sinh viên

Tốc độ tăng quy mô đào tạo này sẽ thực sự có ý nghĩa khi nhìn từ phương diện chiến lược phát triển của Trường và từ góc độ đảm bảo chất lượng đào tạo bằng việc so sánh với tốc độ phát triển đội ngũ giảng viên Năm 1997, Trường có 326 giảng viên, trong đó có 15 giáo sư, 47 phó giáo sư (chiếm tỷ lệ 19%) và 115 tiến sĩ (chiếm tỷ lệ 34%) thì năm 2015, Trường có 370 giảng viên, trong đó có 97 giáo sư, phó giáo sư (chiếm tỷ lệ 26.07%), 199 tiến sĩ (chiếm tỷ lệ 53.8%) Bên cạnh đó, Trường còn có chính sách mời giảng viên kiêm nhiệm (có hợp đồng với Trường, có chế độ thù lao hàng tháng ngoài thù lao giảng dạy) với 131 người, trong đó có 11

GS, 54 PGS TS, 46 TS và một số giảng viên người nước ngoài

Hiện nay, tính đến năm 2016, tổng số cán bộ, viên chức là 531 trong đó, số cán

bộ giảng dạy là 372 người với 06 giáo sư và 91 phó giáo sư (chiếm 26,1%), 97 tiến

sĩ (chiếm 26,1%) và 165 thạc sĩ (chiếm 44,3%) Như vậy, số giảng viên có trình độ sau đại học là 359 ( chiếm 96,5%)

Có thể thấy quy mô đào tạo và số lượng sinh viên, học viên của Trường ĐHKHXH&NV là rất lớn, việc lãnh đạo Nhà trường phát triển với cơ cấu bộ máy tổ chức gắn kết là rất cần thiết Đảng uỷ là tổ chức đứng đầu có vai trò lãnh đạo mọi hoạt động của Nhà trường Dưới Đảng uỷ là Ban Giám hiệu, các tổ chức đoàn thể

và Hội đồng Khoa học - đào tạo của Trường Tiếp theo là các phòng ban, các Khoa/Bộ môn trực thuộc và các Trung tâm Dưới các Khoa/Bộ môn trực thuộc là các Công đoàn và Chi đoàn, Ban chủ nhiệm và Hội đồng Khoa học - đào tạo của các Khoa chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chi uỷ Sau cùng là các văn phòng, các bộ môn và các phòng tư liệu

Ngày đăng: 15/03/2021, 16:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w