Danh mục các chữ viết tắt IBBS: Chương trình giám sát hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI STI: Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục STD Sexually Transmitted Diseases: Các bệnh lâ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………
TRỊNH THỊ THU HÀ
NHÓM NAM MẠI DÂM ĐỒNG GIỚI
VÀ NHỮNG NGUY CƠ XÃ HỘI
(Nghiên cứu tại Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………
TRỊNH THỊ THU HÀ
NHÓM NAM MẠI DÂM ĐỒNG GIỚI
VÀ NHỮNG NGUY CƠ XÃ HỘI
(Nghiên cứu tại Hà Nội)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Lê Thị Quý
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt 3
Danh mục các bảng biểu 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7
2.1 Ý nghĩa khoa học: 7
2.2 Ý nghĩa thực tiễn: 8
3 Mục tiêu nghiên cứu 8
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Giả thuyết nghiên cứu: 14
7 Khung lí thuyết 15
NỘI DUNG CHÍNH 16
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn 16
1 1 Lý thuyết sai lệch chuẩn mực xã hội và thuyết tương tác biểu trưng – sự gán nhãn 16
1 2 Các khái niệm công cụ 20
1.3 Tổng quan các nghiên cứu về mại dâm đồng giới nam trên thế giới và ở Việt nam 20
1.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 27
Chương 2: Bán dâm đồng giới nam: Đặc điểm xã hội, những hành vi nguy cơ và tình trạng HIV/AIDS, STD 31
2.1 Những đặc điểm chung nhóm nam bán dâm đồng giới 31
2.2 Đời sống tình dục của nam bán dâm và vấn đề sử dụng các chất gây nghiện 40
Trang 42.2.1 Đời sống tình dục 40
2.2.1.1 Lần đầu quan hệ tình dục 40
2.2.1.2 Hoạt động tình dục trong 30 ngày qua của người tham gia nghiên cứu 51
2.2.1.3 Lần quan hệ tình dục gần đây nhất 54
2.2.2 Hiện trạng sử dụng các chất kích thích, gây nghiện 60
2.3 Tình trạng và kiến thức về bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm 66
2.3.1 Tình trạng HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục 66
2.3.2 Kiến thức về bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm 70
Kết luận và khuyến nghị 72
1 Kết luận 73
2 Khuyến nghị 76
2.1 Về các chương trình giảm hại 76
2.2 Về mặt chính sách 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Danh mục các chữ viết tắt
IBBS: Chương trình giám sát hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI
STI: Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục
STD (Sexually Transmitted Diseases): Các bệnh lây truyền qua đường tình dục MSM (man who have sex with man): Người có quan hệ tình dục đồng giới nam MSW (man sex worker): Bán dâm đồng giới nam
HIV: Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người
AIDS (Acquired Immuno Deficiency Syndrome): Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
SHAPC: Trung tâm phòng chống STD/HIV/AIDS
HBV: Siêu vi viêm gan B
HCV: Viêm gan siêu vi C
Về nguyên tắc khuyết danh trong luận văn:
Tất cả các tên người được sử dụng trong luận văn đều không phải tên thật của những người cung cấp thông tin; để đảm bảo sự trôi chảy của các câu chuyện thực địa, tôi sử dụng các tên người đầy đủ (mà không viết tắt, ví dụ như Hùng chứ không phải H)
Trang 6
Danh mục các bảng biểu
Danh mục bảng
Bảng 2.1: Nơi ngủ qua đêm trong 30 ngày qua của nam bán dâm
Bảng 2.2: Đặc điểm tình dục tự nhận của nam bán dâm tham gia nghiên cứu
Bảng 2.3: Đặc điểm người khách hàng đầu tiên của trai bán dâm
Bảng 2.4: Số khách hàng và số lần quan hệ tình dục với khách hàng 30 ngày qua Bảng 2.5: Mối quan hệ giữa nam bán dâm và khách hàng ở lần quan hệ tình dục
gần đây nhất
Bảng 2.6: Những thực hành tình dục với khách hàng gần đây nhất
Bảng 2.7: Tỷ lệ sử dụng bia rượu trong 30 ngày qua của nhóm nam bán dâm
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Tuổi lần đầu tiên quan hệ với khách hàng nam giới
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ các hình thức quan hệ tình dục lần gần nhất với bạn tình nữ Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ đã từng sử dụng chất ma túy trong nhóm nam bán dâm
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục của nam bán dâm
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nam mại dâm đồng giới và những người đồng tính (người có khuynh hướng tình dục đồng giới) là một hiện tượng mới nổi lên gần đây ở Việt Nam, và nó đang được dư luận, báo chí hết sức quan tâm tìm hiểu Tuy nhiên hiện tượng đồng tính hay những người có khuynh hướng tình dục đồng giới không phải bây giờ mới xuất hiện; hiện tượng này cũng không phải là một hệ quả xã hội như nhiều bài báo đã đề cập mà đồng tính là một hiện tượng tự nhiên cũng giống như khuynh hướng tình dục dị giới trong xã hội loài người; mặc dù khuynh hướng tình dục đồng giới luôn
bị phê phán, bài trừ trong các trường phái đạo đức xã hội và tôn giáo
Ở Việt Nam hiện tượng đồng tính cũng không phải bây giờ mới xuất hiện nhưng thực sự bây giờ vấn đề đồng tính mới được báo chí và dư luận quan tâm nhiều đến vậy Hầu hết các bài báo đều đề cập người đồng tính với sự khác người,
dị biệt và có đời sống tình dục xấu xa, đáng phê phán; đặc biệt sự xuất hiện của nhóm trai bán dâm cho những người đồng tính càng làm dư luận có ác cảm nhiều hơn với nhóm này
Nhóm nam bán dâm đồng giới thường là những chàng trai trẻ phục vụ cho nhu cầu tình dục của những người nam giới khác để nhận lấy tiền hoặc quà tặng, hoặc một vật chất nào đó khác Và cho dù có khá nhiều bài báo, có nhiều phóng sự
và cả những nghiên cứu về nhóm mại dâm đồng giới nam thì cho đến nay hiện tượng này vẫn là một vấn đề hoàn toàn mới, bởi vì người ta chưa có được một bức tranh đầy đủ, toàn cảnh và những hiểu biết toàn diện về nhóm này; đặc biệt với cả hiện tượng mại dâm đồng giới nam cũng là một câu chuyện mới trong giới nghiên cứu và dư luận xã hội
Trước đây khi nói đến mại dâm, chúng ta thường nghĩ ngay đến hoạt động mại dâm dị giới, đó là nữ bán dâm cho nam hoặc nam bán dâm cho nữ; vì vậy khi xuất hiện những người nam giới bán dâm cho nam giới hoặc nữ giới bán dâm cho
nữ giới thì có vẻ như là chuyện hết sức kì lạ Chính vì là như vậy nên hầu hết chúng
Trang 8ta đang nhìn nhóm mại dâm đồng giới nam này với con mắt hết sức tò mò, lạ lẫm và
kì thị ghê gớm Chính quyền, luật pháp cũng chưa có chế tài cụ thể cho nhóm người này Mại dâm nói chung ở nước ta là đang bị cấm, nhưng những quy định cụ thể đối với mại dâm nam đồng giới lại chưa có nên nhóm này vẫn hoạt động khá nhộn nhịp
mà không bị cấm đoán gì, có chăng họ chỉ bị bắt khi vướng vào các tội danh khác như trộm cắp, buôn lậu, ma túy…
Theo kết quả của các nghiên cứu, điều tra đã hoàn thành về nam bán dâm đồng giới, ví dụ như: “Chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI” (IBBS) trên 790 đồng tính nam tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 – 2006 cho thấy nhiều nam giới quan hệ tình dục đồng giới trả lời có bán dâm trong vòng 1 tháng trước thời điểm điều tra (22% ở Hà nội và 41% ở thành phố
Hồ Chí Minh) Điều đáng chú ý là những người nam quan hệ tình dục đồng giới trả lời có bán dâm phần lớn cũng đều trả lời có tiêm chích ma túy (mặc dù không có thông tin về loại hành vi nào xuất hiện trước, nghiện ma túy hay bán dâm), nhưng chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy giữa hai loại hành vi này có mối quan hệ với nhau Nghiên cứu này cũng cho thấy trong số nam đồng tính có bán dâm thì nhiều người cũng có mua dâm nữ: Ở thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ này là 28% trong nhóm nam có bán dâm và 6% trong nhóm nam không bán dâm (tỉ lệ này chưa có con số
cụ thể tại Hà nội) Thực tế những người này vừa là nam bán dâm vừa là khách hàng mua dâm của nữ mại dâm; điều đó cho thấy sự giao thoa phức tạp về hành vi nguy
cơ trong nhóm nam bán dâm, và nó cũng phù hợp với các báo cáo xuất hiện ở các nước trong khu vực như Thái Lan hoặc Philippines Một nghiên cứu khác ở nhóm nam bán dâm ở Hà Nội do nhóm nghiên cứu của Đơn vị nghiên cứu Sức khỏe cộng đồng, Đại học Y Hà Nội thực hiện năm 2007 cũng cho thấy: hơn 80% nam giới trong tổng số 110 mẫu là nam thanh niên từ các tỉnh khác về Hà nội; khoảng 75% nói mình bán dâm là vì lí do kinh tế, tuy nhiên cũng có khoảng hơn 20% nói rằng việc bán dâm là do muốn có quan hệ tình cảm và tình dục với một người đàn ông khác Như vậy lí do bán dâm của họ không phải là đơn giản chỉ vì tiền
Trang 9Xuất phát từ các hình thức quan hệ tình dục chứa đựng nhiều nguy cơ như các hành vi quan hệ tình dục hậu môn và mạng lưới bạn tình đa dạng về giới tính, tuổi tác, quốc tịch; cộng thêm cả sự thiếu chủ động trong việc thực hiện các biện pháp tình dục an toàn khiến cho những người bán dâm đồng giới nam có nguy cơ cao đối với các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS Chính vì vậy nghiên cứu này của tôi nhằm tìm hiểu về những nguy cơ xã hội mà những người trong nhóm mại dâm đồng giới nam này có thể vướng phải; cụ thể hơn là nguy cơ đối mặt với các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS là hệ quả của đời sống tình dục đa dạng và lối sống thiếu kiểm soát của họ
Nghiên cứu của tôi là về vấn đề “Nhóm nam mại dâm đồng giới và những nguy cơ xã hội”, trong đó tôi tập trung nghiên cứu về các hành vi nguy cơ liên quan đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS của nhóm nam mại dâm đồng giới trên địa bàn Hà Nội
Nghiên cứu về một quần thể ẩn như nhóm nam mại dâm đồng giới có rất nhiều khó khăn và thách thức, nhưng may mắn tôi đã được tham gia và nghiên cứu
“Các đặc điểm nhân khẩu học, xã hội học và nguy cơ lây nhiễm một số bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm mại dâm đồng tính nam tại một số thành phố lớn ở Việt nam” do Trung tâm nghiên cứu đào tạo HIV, Trường đại học Y Hà nội thực hiện trong năm 2008 đến năm 2010 Tôi đã tham gia nghiên cứu này từ giai đoạn đầu tiên, xây dựng bộ công cụ cho nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu và có một quá trình dài 2 năm đi điền dã ở các khu vực xuất hiện của nhóm nam mại dâm đồng giới Chính trong quá trình đi điền dã và tham gia vào hoạt động của nghiên cứu nói trên tôi đã có quyết tâm để thực hiện đề tài của bản thân mình
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học:
Nghiên cứu này có sử dụng hai lý thuyết để phân tích đó là: lý thuyết về sai lệch chuẩn mực xã hội và lý thuyết về tương tác biểu trưng – sự gán nhãn Trong phạm vi của một nghiên cứu nhỏ, tôi rất mong có thể kiểm chứng những lý thuyết
mà mình đã học vào thực tế xã hội, cụ thể hơn là ở nhóm nam mại dâm đồng giới ở
Trang 10Hà nội Từ đó tôi có thể hiểu sâu sắc hơn về lý thuyết mà mình đã học, đồng thời có thể vận dụng tốt lý thuyết trong tương lai ở các nghiên cứu sắp tới
Ngoài ra những kết quả tôi tìm được từ nghiên cứu này có thể giúp được phần nào những bạn sinh viên mong muốn tìm hiểu về nhóm mại dâm đồng giới nam có được một góc nhìn mới về nhóm này
2.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thực trạng nhóm mại dâm đồng giới nam và tính nguy cơ cao của họ với căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác Qua đó sẽ cho chúng ta biết rõ hơn về nhóm mại dâm đồng giới nam, sẽ góp phần vẽ được một bức tranh đầy đủ về nhóm này và nhận diện họ được trong các nhóm xã hội, đồng thời qua việc đánh giá được nguy cơ cũng như tình trạng mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục của họ để có những biện pháp can thiệp hiệu quả lên chính nhóm này và có các biện pháp phòng trừ cho cộng đồng Ngoài ra nghiên cứu này cũng giúp cho các nghiên cứu khác hoặc những người quan tâm đến vấn đề này có những kiến thức nhất định về nhóm mại dâm đồng giới nam
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thực trạng cuộc sống của những người bán dâm đồng giới nam: những hành vi nguy cơ với các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/AIDS Sự liên hệ giữa những hành vi nguy cơ với các kết quả xét nghiệm bệnh của họ có thể cho chúng ta biết yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh, mang tính quyết định đến khả năng phòng tránh bệnh tật cho bản thân những người bán dâm đồng giới nam và xa hơn là phòng tránh cho cộng đồng Qua đó cũng có thể đưa ra những kế hoạch can thiệp hiệu quả và phù hợp hơn cho nhóm mại dâm đồng giới nam
3.2 Nhiệm vụ cụ thể:
* Mô tả một số đặc điểm kinh tế - xã hội cơ bản của nhóm mại dâm đồng giới nam tham gia nghiên cứu
Trang 11* Mô tả thực trạng thực hành các hành vi nguy cơ cao trong nhóm mại dâm đồng giới nam Cụ thể: Cuộc sống tình dục đa dạng bạn tình; đa dạng hình thức quan hệ tình dục; việc sử dụng các biện pháp tình dục an toàn; sử dụng chất kích thích, chất gây nghiện có ảnh hưởng đến các hành vi tình dục
* Mô tả thực trạng mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS của nhóm mại dâm đồng giới nam tham gia nghiên cứu Kiến thức của
họ về các bệnh lây truyền qua đường tình dục
* Đưa ra những biện pháp can thiệp, những hướng giải quyết cho nhóm mại dâm nam đồng giới để hạn chế những hành vi nguy cơ và phòng tránh bệnh lây truyền qua đường tình dục cho bản thân họ
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu này là: Nhóm nam mại dâm đồng giới và những nguy cơ xã hội (Nghiên cứu tại địa bàn Hà Nội)
4.2 Khách thể nghiên cứu:
- Những người nam giới có hoạt động bán dâm cho một người nam giới khác
để nhận tiền hoặc vật chất Những người này phải đảm bảo các tiêu chí sau: là nam giới có quan hệ tình dục với một người nam giới khác và nhận được vật chất trong vòng 90 ngày qua; nằm trong độ tuổi từ 16 đến 35 tuổi tính ở thời điểm tham gia điều tra; cư trú tại Hà Nội trong khoảng thời gian 1 tháng trở lên
- Bác sĩ tư vấn cho nhóm nam bán dâm đồng
- Những người dân vẫn thường xuyên tiếp xúc và có nhiều trải nghiệm cùng những người bán dâm đồng giới nam tại các địa bàn công cộng như hồ Hoàn kiếm,
hồ Thiền Quang, hay các khu vực kín như khu tẩm quất nam Quan Thánh
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: Nghiên cứu này được tiến hành ở Hà nội
- Về mặt thời gian: Nghiên cứu diễn ra trong khoảng từ tháng 1/2009 đến tháng 10/2010, thời gian để điều tra bảng hỏi là từ tháng 3/2010 đến tháng 10/2010
Trang 12Trước thời gian đó là các hoạt động thực địa, xây dựng đề cương, xây dựng bảng hỏi phục vụ điều tra
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Công thức tính cỡ mẫu tham gia nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu Dự án “Các đặc điểm nhân khẩu học, xã hội học và nguy
cơ lây nhiễm một số bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm mại dâm đồng tính nam tại một số thành phố lớn ở Việt nam” đã sử dụng công thức tính cỡ mẫu sau để tính toán mẫu nghiên cứu cho địa bàn Hà Nội:
n =
N
q p z ME
ME q p z
2 2
Trong đó:
n: có mẫu nghiên cứu cần có
N: quần thể nghiên cứu cứu (nhóm nam bán dâm đồng tính tại địa bàn nghiên cứu
p: tỷ lệ HIV (+) trong nhóm nam bán dâm
q = 1 – p
ME: khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ HIV (+) thu được từ mẫu nghiên cứu so với quần thể
o = 0,05 => z (z1-o/2) = 1,96
Như vậy, cỡ mẫu nghiên cứu tại Hà Nội sẽ là:
- N = 400 (dựa trên con số ước tính của Donn Colby và cộng sự năm 2003)
- p = 0,08 (dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự năm 2004)
- ME = 0,03
Vậy cỡ mẫu nghiên cứu tại Hà nội là 176 đối tượng Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn bảng hỏi và làm các xét nghiệm bệnh trên số 176 người này
Trang 13Vì nhóm mại dâm đồng giới nam là một quần thể ẩn, họ rất khó để nhận biết
và tiếp cận cũng như có thể mời họ tham gia vào nghiên cứu, nên nghiên cứu viên
đã phải xây dựng một kế hoạch tìm kiếm và tiếp cận với nhóm này và tạo dựng mối quan hệ với họ trước khi mời họ về tham gia nghiên cứu
Phương pháp lựa chọn mẫu sẽ là Time – location sampling Phương pháp này dựa trên cơ sở: mỗi một nhóm xã hội thường có những tụ điểm nhất định mà ở đó
họ thường gặp gỡ, chia sẻ với nhau và để tiến hành các hoạt động mang đặc trưng của nhóm Với nhóm mại dâm đồng giới nam cũng vậy Nghiên cứu viên đã tiến hành tham khảo ý kiến của những người có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực mại dâm đồng giới nam và có tham khảo các nghiên cứu trước đó để nhận diện những địa điểm ban đầu nhóm này thường xuất hiện
Kết quả ban đầu là một số địa điểm như hồ Hoàn Kiếm, hồ Thuyền Quang, khu vực Quan Thánh và các tụ điểm Spa, các quán bar, club dành cho người đồng tính Sau đó nghiên cứu viên tiến hành đi thực địa tại các địa điểm này, các buổi thực địa được xây dựng làm sao đảm bảo tiêu chuẩn: các khung giờ xuất hiện tại địa bàn đảm bảo được xuất hiện đầy đủ trong vòng 1 tuần và đảm bảo để các nhóm xã hội trên địa bàn dần quen với sự có mặt của nghiên cứu viên và dần chấp nhận nghiên cứu viên như một thành viên trong bối cảnh chung ở địa bàn; dần dần có những tiếp xúc ban đầu với các đối tượng là trai bán dâm đồng giới, nghiên cứu viên có những tiếp xúc ban đầu với họ, làm quen với họ, quan sát cuộc sống của họ, những thói quen, cách làm việc, các mối quan hệ trong nhóm… Sau đó, nghiên cứu viên sẽ xây dựng một bảng biểu các ngày trong tuần và các khung giờ khác nhau tại các địa điểm, các khung giờ đó phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn có ít nhất 8 người trong nhóm chủ đích (tức những người bán dâm đồng giới nam) có xuất hiện trong vòng 2 tiếng Các khung giờ đó sẽ được ghi lại, trong quá trình điều tra, các điều tra viên sẽ đến địa bàn, tại các địa điểm đó và “bắt” đối tượng về tham gia nghiên cứu
Tuy nhiên, phương pháp chọn mẫu Time – location sampling chỉ mới áp dụng được một nửa quá trình thu nhận người tham gia điều tra thì số lượng người tham gia nghiên cứu trên các địa bàn dần cạn kiệt Điều đó cũng do nhiều yếu tố
Trang 14chủ quan và khách quan khác nhau Về khách quan: thời gian thu nhận người tham gia điều tra gần với thời điểm Hà nội tổ chức lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long Hà nội nên các địa điểm công cộng những người bán dâm nam thường xuất hiện như
Hồ Hoàn Kiếm, hồ Thuyền Quang và một số quán bar trên phố cổ bị quản lí hết sức gắt gao khiến cho nhóm đồng tính không dám xuất hiện; hoạt động của nhóm này lui về các địa điểm kín là thông qua điện thoại, qua má mì dẫn khách hoặc tìm nhau trên mạng Chính vì vậy rất khó khăn trong việc tìm người
Về chủ quan: tuy nhóm nghiên cứu viên đã đi thực địa rất tích cực trong khoảng thời gian trước khi thu nhận đối tượng nhưng nhóm đồng tính nam, đặc biệt
là nhóm bán dâm đồng giới nam luôn muốn giấu kín bản thân nên để tiếp cận và nói chuyện với họ hết sức khó khăn; việc mời họ về phòng để phỏng vấn và lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm lại càng khó khăn hơn Đặc biệt là nhóm nam bán dâm cao cấp trong các quán Bar, các Spa hay những nhóm chỉ liên lạc qua điện thoại hoặc qua mạng rất khó có thể tiếp cận được với họ
Vì những khó khăn đó, nghiên cứu quyết định sử dụng cả phương pháp Hòn tuyết lăn (Snow ball) để thu thập người tham gia nghiên cứu Phương pháp này sử dụng những người đã tham gia nghiên cứu để họ giới thiệu những người bạn của mình cùng tham gia
a Hạn chế sai sót trong quá trình thu nhận người tham gia nghiên cứu:
Để hạn chế trường hợp thu nhận nhầm đối tượng, tức thu nhận nhầm người không phải trai bán dâm đồng giới, nhóm nghiên cứu đã xây dựng một quy trình chuẩn cho đối tượng tham gia nghiên cứu
Quy trình gồm có:
- Phỏng vấn sàng lọc: tất cả những người được các nghiên cứu viên tiếp cận ở địa bàn thực địa hay những người được giới thiệu tham gia nghiên cứu đều được phỏng vấn 1 phiếu sàng lọc ngắn Người đủ tiêu chuẩn mới được mời về vòng
2 tham gia nghiên cứu chính thức Tiêu chí lựa chọn đối tượng là: Nam giới từ 16 đến 35 tuổi, có quan hệ tình dục với nam giới và nhận được các vật chất trong vòng
90 ngày qua kể từ ngày phỏng vấn sàng lọc
Trang 15- Phỏng vấn bảng hỏi: Những người đủ tiêu chuẩn sẽ được mời về trường đại học Y tham gia điều tra ngang và lấy mẫu xét nghiệm
- Mẫu xét nghiệm bệnh gồm có mẫu máu, mẫu dịch hậu môn và dịch bộ phận sinh dục Bác sĩ tư vấn lấy mẫu bệnh phẩm vừa là người tư vấn phòng bệnh cho đối tượng tham gia nghiên cứu vừa là người có trách nhiệm nhận diện những người đã tham gia để tránh trường hợp những người đến tham gia lần 2 vì muốn nhận được lợi ích từ nghiên cứu (tiền tham gia nghiên cứu vòng 2 là 150 nghìn đồng cho mỗi đối tượng)
5.3 Phương pháp thu thập thông tin
5.3.1 Phân tích tài liệu
Dựa trên các nghiên cứu trước đó về đề tài đồng tính nam và các tài liệu sách báo trong nước, ngoài nước về nhóm mại dâm đồng giới nam để có cái nhìn đầy đủ,
đa chiều và sâu sắc hơn về nhóm mại dâm đồng giới nam Từ đó có được tổng quan
về vấn đề nghiên cứu cũng như địa bàn nghiên cứu
5.3.2 Phỏng vấn bằng bảng hỏi
Như đã nói ở trên, nghiên cứu này là một nghiên cứu nhỏ nằm trong đề tài lớn về “Các đặc điểm nhân khẩu học, xã hội học và nguy cơ lây nhiễm một số bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm mại dâm đồng tính nam tại một số thành phố lớn ở Việt nam”; do vậy các dữ liệu để phân tích cho nghiên cứu này được lấy
từ bộ bảng hỏi dài 49 trang về đặc điểm nhân khẩu, vấn đề sử dụng các chất kích thích rượu, bia, thuốc lá, ma túy, phần quan hệ tình dục với bạn tình nữa; quan hệ tình dục với bàn tình nam giới; các vấn đề về sức khỏe tinh thần, sức khỏe thể chất
và tiền sử bệnh tật, khám chữa bệnh… Các thông tin phù hợp với nghiên cứu nhỏ này sẽ được lọc và xử lí trên phần mềm thống kê SPSS
Số lượng mẫu cho bảng hỏi định lượng là 176
Vì nghiên cứu lớn tại trường Đại học Y Hà nội vẫn đang trong quá trình thực hiện nên sau mỗi lần phỏng vấn đối tượng tôi sẽ tiến hành nhập liệu luôn và tiến hành các phân tích sơ bộ
Trang 16và 1 bác sĩ tư vấn có nhiều kinh nghiệm làm việc với nhóm mại dâm nam
5.3.4 Quan sát và ghi nhật kí thực địa
Để có những hiểu biết ban đầu về nhóm mại dâm đồng giới nam cũng như những người có quan hệ đồng tính trên địa bàn Hà Nội, các nghiên cứu viên đã có một quá trình dài hơn 2 năm đi thực địa trên các địa bàn các nhóm này thường xuất hiện Trong quá trình thực địa, các nghiên cứu viên đã trở thành một thành viên được chấp nhận trong không gian địa bàn tiếp cận; họ có nhiều cơ hội nói chuyện, tâm sự và tìm hiểu về cuộc sống cũng như tâm tư của những người đồng tính, những trai bán dâm Sau mỗi buổi đi thực địa, các nghiên cứu viên viết nhật kí thực địa để ghi chép lại những hoạt động xảy ra trên địa bàn và những mô tả, phân tích
về nhóm mại dâm nam Những bài nhật kí thực địa này là những tài liệu hết sức quý báu trong quá trình phân tích, viết báo cáo về người đồng tính và nhóm mại dâm nam này
5.4 Xử lí thông tin
Những thông tin định lượng thu được sẽ được nhập và xử lí bằng SPSS
5.5 Phân tích thông tin
Sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích biến tương quan, phân tích trường hợp
6 Giả thuyết nghiên cứu:
- Nhóm nam mại dâm đồng giới có các hành vi nguy cơ như: Quan hệ tình dục không an toàn với đa dạng bạn tình và đa dạng hình thức quan hệ tình dục; sử dụng các chất kích thích gây nghiện như ma túy, rượu, bia
- Tỉ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS trong nhóm mại dâm đồng giới nam khá cao
Trang 17- Kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục nhóm mại dâm đồng giới nam còn chưa đầy đủ
7 Khung lí thuyết
Mại dâm đồng giới nam
Lý Thuyết Sai lệch chuẩn mực
Kiến thức về bệnh STDs, HIV
Tình trạng HIV/STDs Của nhóm bán dâm
nam
Trang 18NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
1 1 Lý thuyết sai lệch chuẩn mực xã hội và thuyết sự gán nhãn
* Lý thuyết sai lệch chuẩn mực xã hội
Sai lệch xã hội được đề cập đến nhiều trong các lý thuyết xã hội học, cụ thể như trong trường phái cấu trúc, chức năng, mà nổi bật là tác giả Emily Durkheim; hay lý thuyết xung đột của Robert Merton
Khi nói về sai lệch xã hội hay sự lệch chuẩn là nói đến khía cạnh hành vi không chuẩn, không phù hợp với các quy tắc, giá trị, chuẩn mực của xã hội, của nhóm hoặc của cộng đồng Tùy theo văn hóa, theo các đặc điểm nhóm hay những cộng đồng xã hội khác nhau và ở những thời điểm lịch sử khác nhau mà các hành vi lệch chuẩn có sự thay đổi Nói như vậy có nghĩa một hành vi nào đó không phải luôn luôn là lệch chuẩn trong một xã hội, một cộng đồng ở một thời điểm xác định;
có thể hiện tại đó là lệch chuẩn nhưng ở một thời điểm khác nó không còn là lệch chuẩn hoặc ngược lại
Sự lệch chuẩn chỉ tồn tại trong mối quan hệ với các tiêu chuẩn văn hóa, không có hành động lệch chuẩn nào mang tính vốn có hay nói đúng hơn là một hành vi được coi là lệch chuẩn trong mối quan hệ với những tiêu chuẩn văn hóa cụ thể Những tiêu chuẩn văn hóa khác nhau ở các tiểu văn hóa…; hơn nữa các tiêu chuẩn văn hóa còn thay đổi theo thời gian nên quan niệm về sự lệch chuẩn cũng khác nhau và thay đổi theo thời gian Ví dụ như như những năm gần đây, ở Việt nam, hút thuốc lá, đặc biệt là hành vi hút thuốc ở nơi công cộng được coi là hành vi lệch lạc trong khi trước đó nó là một việc hoàn toàn bình thường
Sự lệch chuẩn là kết quả của việc người khác xác định về sự việc, hiện tượng
đó như thế nào: Một hành vi có được xem là lệch chuẩn hay không còn tùy thuộc vào hoàn cảnh, chủ thể thực hiện và vị thế của chủ thể hành động trong xã hội Ví
Trang 19đến đâu thì những người chứng kiến cũng dễ dàng chấp nhận nhưng cũng những hành động đó nhưng do một chủ thể khác không phải là nhà thơ, không phải một nghệ sĩ thực hiện thì dễ bị gán cho đó là hành vi lệch chuẩn Ví dụ như phong cách
ăn mặc quái dị của nàng ca sĩ Lady Gaga ở Mỹ được xem là phong cách nhưng nếu
có một người khác ở Việt nam cũng mặc những trang phục đó ra đường thì sẽ bị xem như một người tâm thần!
Các tiêu chuẩn liên quan đến lệch chuẩn xã hội và cách thức xác định sự lệch chuẩn có mối quan hệ mật thiết với quyền lực xã hội: Theo mô hình mâu thuẫn xã hội, đặc biệt là tư tưởng của Karl Marx, các tiêu chuẩn văn hóa, nhất là luật pháp, thường bảo vệ quyền lợi cho những người có thế lực Chẳng hạn như việc đóng cửa một nhà máy không còn sản sinh lợi nhuận nằm trong quyền hợp pháp của chủ sở hữu nhà máy, mặc dù nếu làm như vậy thì sẽ khiến hàng nghìn công nhân viên bị mất việc, lâm vào cảnh khốn cùng Hoặc dù đều có những hành vi giống nhau thì trong nhiều trường hợp, người không có quyền lực bị xem là lệch lạc và có thể chịu hình phạt trong khi người có quyền lực thì không Tựu chung lại, cả tiêu chuẩn văn hóa và các cách thức áp dụng nó đều liên quan đến các hình mẫu bất công xã hội
Trong xã hội học, lệch chuẩn được giải thích khác nhau ở mỗi một trường phái Ở trường phái cấu trúc chức năng, sự lệch chuẩn lại góp phần quan trọng cho hoạt động liên tục của xã hội Emile Durkhiem khẳng định sự lệch lạc không có gì bất thường, nó là một bộ phận gắn liền với mọi xã hội và nó có bốn chức năng chính: Thứ nhất, sự lệch chuẩn khẳng định giá và tiêu chuẩn của văn hóa; thứ hai,
sự lệch chuẩn làm sáng tỏ ranh giới của đạo đức thông qua các phản ứng với những sai lệch; thứ ba, thông qua sự phản ứng của cộng đồng với những lệch lạc xã hội làm tăng tính thống nhất của xã hội; thứ tư, sự lệch lạc khuyến khích sự thay đổi xã hội vì nó đưa ra các biện pháp thay đổi các giá trị và tiêu chuẩn đang tồn tại
* Lý thuyết gắn nhãn hiệu
Lý thuyết gắn nhãn hiệu là một lý thuyết xã hội học nghiên cứu hành vi ứng
xử của con người theo trường phái tương tác biểu trưng qua đó khẳng định hành vi tuân thủ hay sai lệch của một người do kết quả của quá trình người khác xác định
Trang 20hay gắn nhãn Lý thuyết này đặc biệt nhấn mạnh tính tương đối trong việc đánh giá hành vi sai lệch, cùng một hành vi có thể định nghĩa khác nhau trong các tình huống khác nhau Ví dụ như một phụ nữ là nạn nhân của hành vi sàm sỡ đôi lúc cũng bị coi là sai lệch bởi giả định sai lầm rằng họ đã khuyến khích kẻ có hành vi sàm sỡ
đó
Người đưa ra những quan điểm nền móng cho thuyết gán nhãn là nhà xã hội học nổi tiếng người Mỹ George Herbert Mead (1863 – 1931) Mead phân tích các tôi là nền tảng sự tồn tại của con người, nó chính là nhận thức cá nhân về tình trạng
là một thực thể khác biệt trong xã hội
Nhìn hiện tượng đồng tính và mại dâm đồng giới ở xã hội Việt nam hiện nay cũng có thể thấy rõ quan điểm của lý thuyết này Đồng tính nam hoặc đồng tính nữ được giới khoa học khẳng định đó là một đặc điểm mang tính tự nhiên và đã tồn tại
từ rất lâu cùng với xã hội loài người Tuy nhiên, nhìn ở khía cạnh văn hóa xã hội, hiện tượng đồng tính đang được xem như một hiện tượng sai lệch Người ta có thể gán nhãn cho những người có khuynh hướng tình dục đồng giới hoặc những người
có quan hệ tình dục với người đồng giới là “bệnh hoạn”, “ghê sợ”, “không thể chấp nhận” và đi ngược thuần phong mỹ tục
Quá trình gán nhãn hiệu lên một hành vi được xem là lệch lạc có hai giai đoạn, theo Edwn Lemert (1912 – 1996), một nhà xã hội học người Mỹ cho rằng hai giai đoạn đó là lệch lạc sơ cấp và lệch lạc thứ cấp; ông cũng đã giải thích ảnh hưởng của việc một người bị xem là lệch lạc có thể thay đổi hành vi sau này của họ ra sao Một người lần đầu tiên bị gán nhãn giệu sai lệch chính là sai lệch sơ cấp Người này
đã bị coi là sai lệch thì nhãn hiệu này trở thành một phần trong sự nhận dạng xã hội
và sự tự nhận thức về bản thân của người đó Cơ chế này khiến cho họ hành động theo những “kỳ vọng” của người khác, hay nói đúng hơn là họ sẽ thực hiện những
gì mà xã hội đã gán cho họ, bằng cách thực hiện những hành vi sai lệch tiếp theo Những hành vi sau lệch tiếp theo này được gọi là sai lệch thứ cấp
Cũng như vậy những người bị gán cho nhãn hiệu đồng tính hoặc mại dâm nam có thể sẽ có những sai lệch thứ cấp như cố tình che dấu về khuynh hướng tình
Trang 21dục của mình hoặc cố gắng bán dâm trong bí mật, tránh để người khác biết về công việc của mình Những sai lệch thứ cấp này trong nhóm đồng tính nam khiến cho họ
có thể phải đối mặt với những nguy cơ về mặt bệnh tật và các nguy cơ xã hội khác Gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo có đề cập đến nhiều trường hợp người đồng tính bị giết, bị cướp hoặc bị bạo hành mà nguyên nhân sâu
xa chính là vì những kẻ cướp giật nắm bắt được tâm lí luôn muốn che giấu bản thân của người đồng tính với gia đình, bạn bè và những người xung quanh nên thường
họ hay lựa chọn các địa điểm kín, vắng người qua lại để tìm kiếm sự thỏa mãn nhu cầu tình dục; đấy cũng chính là những nơi họ dễ bị bạo hành, bị cướp hoặc bị giết
Nhóm mại dâm đồng giới nam hiện tại đang bị xã hội hết sức lên án vì nó vi phạm nghiêm trọng các chuẩn mức đạo đức xã hội Chính vì bị lên án nhiều và bị gán nhãn nên những người làm công việc bán dâm đồng giới luôn có cảm giác tội lỗi, xấu hổ và tự kì thị bản thân mình Họ không dám công khai công việc của mình với gia đình, bạn bè và cả với những người khác; chính vì vậy họ bị cô lập bản thân với các dịch vụ hỗ trợ phòng ngừa các nguy cơ xã hội đối với bản thân Ví dụ, một cậu bé mới xuất hiện ở các địa điểm công viên công cộng sẽ không thể biết về những cách để từ chối hoặc tránh xa nguy cơ có thể bị dụ dỗ trở thành một trai bán dâm đồng giới Bởi vì những vấn đề liên quan đến bán dâm đồng giới là điều xấu
xa, là điều cấm kị và những người khác ngoài công viên luôn muốn chứng tỏ mình đứng ngoài cái sự xấu xa đó ngay cả khi bản thân họ là một trai bán dâm Hoặc một cậu thanh niên làm nghề bán dâm đồng giới nam muốn che dấu bản thân mình với những người khác khiến cậu ta sẽ không thể tiếp cận được với các dịch vụ giảm hại trong cộng đồng hiện đang được cung cấp rất nhiều nhờ các dự án quốc gia cũng như các dự án phi chính phủ Bởi vì các dịch vụ giảm hại đó được người xung quanh ngầm hiểu là dành cho những người “có vấn đề”, tức là có liên quan đến mại dâm, đến những chuyện xấu xa
Cũng theo lý thuyết sai lệch xã hội, hiện tượng mại dâm đồng giới nam sau khi qua giai đoạn bị gắn nhãn sai lệch, nó có thể bị triệt tiêu hoặc phát triển và được
xã hội chấp nhận như mọi hiện tượng bình thường khác trong xã hội Giai đoạn đó
Trang 22có thể sớm hoặc muộn tùy thuộc vào sự vận động của bản thân nhóm mại dâm đồng giới nam và sự biến đổi của các chuẩn mực đạo đức liên quan đến mại dâm đồng giới
1 2 Các khái niệm công cụ
Khái niệm đồng tính và đồng tính nam
Trong phạm vi đề tài này, đồng tính là từ dùng để chỉ một người bị hấp dẫn
về mặt tình yêu hay tình dục với một người cùng giới tính; hoặc chỉ những người có quan hệ yêu đương, có quan hệ tình dục với người đồng giới trong một hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài
Đồng tính nam là những người nam giới bị hấp dẫn về mặt tình yêu hoặc tình dục với một người nam giới khác Trong tiếng anh, những người đồng tính nam được gọi là Gay
Mại dâm và mại dâm đồng giới nam
Mại dâm là hoạt động sử dụng các dịch vụ tình dục giữa một người mua dâm
và một người bán dâm để trao đổi tiền bạc, vật chất hay quyền lợi
Mại dâm đồng giới nam chỉ hoạt động trao đổi tình dục giữa hai người đàn ông, trong đó có người mua dâm và người bán dâm để lấy tiền, vật chất và các quyền lợi khác Khái niệm trao đổi tình dục ở đây rộng hơn rất nhiều so với quan điểm thông thường cho rằng bán dâm chỉ để lấy tiền; vì thực tế qua nghiên cứu sơ
bộ cho thấy những người nam giới đã trao đổi tình dục lấy các quà tặng, lấy một chỗ ăn nghỉ qua đêm hay thậm chí là một cái bánh mì với một người đàn ông khác
có nhu cầu thỏa mãn nhu cầu tình dục từ họ
1.3 Tổng quan các nghiên cứu về mại dâm đồng giới nam trên thế giới và
ở Việt nam
Trên thế giới, những nghiên cứu về hiện tượng đồng tính nam và cả mại dâm đồng giới nam cũng chỉ mới nổi lên từ những thập niên 80 của thế kỉ trước Đặc biệt, năm 1981 những ca có HIV đầu tiên được phát hiện là 5 thanh niên có sinh hoạt tình dục đồng giới lại Los Angeles (Mỹ) thì các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu xã hội mới có nhiều những nghiên cứu, tìm hiểu về khuynh hướng tình dục
Trang 23đồng giới, vấn đề mại dâm nam và những hệ lụy của nó Thời gian đầu mới phát hiện căn bệnh AIDS ở người đồng tính nam, người ta cũng coi AIDS là căn bệnh của những người đồng tính luyến ái
Đầu những năm 1980, G W Levi Kamel đến từ trường đại học California, San Diego đã dành ra hai năm rưỡi nghiên cứu về những tương tác mang tính tích cực của mại dâm nam Trên cơ sở lý luận của lý thuyết tương tác biểu trưng, Kamel
đã chỉ ra một vài kiểu quan hệ bán dâm – mua dâm có tác động tích cực, dựa trên cơ
sở tuổi tác, những định hướng về giới tính, những phong cách riêng do giới tính tạo
ra, và những sở thích riêng về giới tính Ông đã đề cập đến 3 nhóm chính là: (1) Những kẻ bán dâm còn trẻ tuổi, non tơ và là người đồng tính, và những kẻ mua dâm
“cáo già” không tìm được những chàng trai đủ trẻ để đáp ứng nhu cầu của họ (2) Những kẻ bán dâm đầy nam tính và những kẻ mua dâm muốn “vượt rào” vì luôn cảm thấy không hài lòng về sự nữ tính, ẻo lả của những người đồng tính nam khác (3) Những kẻ bán dâm chuyên nghiệp và những khách mua dâm “kín đáo” – thường
là những người đàn ông nông thôn đã có gia đình hoặc những người ở vùng ngoại ô,
họ không thể tiếp cận được với thế giới của người đồng tính
Cũng trong nghiên cứu này, Kamel thấy rằng không phải tất cả những người bán dâm nam đều là người đồng tính; một số trong họ còn phân vân chưa rõ về giới tính của mình và trên thực tế nhiều người vẫn có nhu cầu quan hệ tình dục với người khác giới Vậy lý do họ chấp nhận làm công việc bán dâm là gì?
Một nghiên cứu khác được D Kelly Weisberg thực hiện tại Washington D.C tìm ra rằng 87% những người bán dâm nam trả lời rằng chính tiền đã khiến họ làm công việc này Ngoài ra, 72% những người trong nghiên cứu thừa nhận có sử dụng chất kích thích trong khi bán dâm, đây cũng là một nguyên nhân làm tăng áp lực về tiền bạc lên bản thân họ Weisber chỉ ra rằng: “Những kinh nghiệm và hiểu biết sớm
về tình dục của những thanh niên này dạy cho họ về giá trị thân thể của mình như một loại tài sản có thể đem ra để mua bán; Từ khi còn rất trẻ, họ đã bắt đầu nhận ra rằng quan hệ tình dục có thể đem đến cho họ nhiều tiền bạc” [9, tr.35]
Trang 24Việc sử dụng chất kích thích trong nhóm mại dâm nam xảy ra khá phổ biến, theo Robert McNamara, một nhà nghiên cứu tại thành phố New York city và là tác giả của cuốn sách “The time Square Hustler” thì “hầu như tất cả những người bán dâm thường sử dụng một vài loại thuốc kích thích nào đó và họ trở nên nghiện thuốc” [8, tr.12] Những chất kích thích loại mạnh như cocaine và heroin được những người nam giới hành nghề mại dâm tại Chicago sử dụng rất phổ biến
Bên cạnh những nguy cơ có liên quan đến việc sử dụng chất kích thích, nhưng thanh niên làm nghề mại dâm cũng có nguy cơ rất cao đối với các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, trong đó có HIV, nhưng điều đánh nói là đa phần họ không quan tâm và cũng không nhận thức được những nguy cơ này Cũng theo McNamara, những người bán dâm thường có nhận thức sai lầm về những căn bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, như việc họ tin rằng họ có thể phân biệt được khách hàng nào bị nhiễm bệnh hay không thông qua việc quang sát bên ngoài thấy anh ta trông sạch sẽ hoặc trông bệnh tật Đó thực sự là một niềm tin rất ngây thơ và nguy hiểm
Hơn nữa, McNamara cũng đã tiến hành điều tra cơ chế thích nghi và tìm ra một thực tế rằng một số người bán dâm sau khi biết mình nhiễm bệnh đã tỏ ra lãnh đạm, che giấu nó và vẫn tiếp tục hành nghề bán dâm Điều này hết sức nguy hiểm vì khả năng một người bán dâm nam có thể lây bệnh cho người bạn tình của anh ta là rất cao do đặc điểm quan hệ tình dục của nam giới và nam giới Hành vi quan hệ tình dục hậu môn trong nhóm đồng tính nam rất phổ biến; tuy nhiên hành vi này thực sự rất nguy hiểm cho những người thực hành chúng bởi hậu môn không có cơ chế tiết dịch bôi trơn và giảm đau khi quan hệ tình dục như cơ quan sinh dục của phụ nữ Hơn nữa, niêm mạc trực tràng có nhiều mao mạch, dễ bị tổn thương, xây xước khi sinh hoạt tình dục qua đường này Những vết xước nhỏ không thể nhận thấy bằng mắt thường trên bề mặt của niêm mạc hậu môn xảy ra trong lúc giao hợp
là đường xâm nhập của HIV
Theo tạp chí Boston Globe (2007), ở Mỹ bệnh giang mai hay xảy ra ở những người đồng tính luyến ái nam do họ không sử dụng bao cao su trong quan hệ tình
Trang 25dục Một điều đáng lo lắng là nhiều người trong số họ có tư tưởng hưởng thụ quan
hệ tình dục không an toàn (không dùng bao cao su), có thể cả họ và bạn tình đã mắc AIDS nên không cần giữ gìn hoặc họ ỷ lại những thuốc mới có thể giúp họ được Chính vì vậy mà những người đồng tính luyến ái nam được xếp vào nhóm những người có nguy cơ cao bị lây nhiễm HIV/AIDS (đồng tính nam, nghiện chích ma túy, gái mại dâm…)
Ở Trung Quốc sự lan truyền của HIV trong cộng đồng người đồng tính nam đang tăng lên ở Trung Quốc lục địa từ 0,4% đến 5,8%; đồng thời nhóm đồng tính nam cũng có tỉ lệ rất cao bị các bệnh lây truyền qua đường tình dục và không có các hành vi tình dục an toàn khi có quan hệ hậu môn [7, tr.15]
Ở Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về nhóm mại dâm nam; kể cả những nghiên cứu về đồng tính nam cũng rất ít Hầu hết các nghiên cứu về đồng tính nam, mại dâm nam được thực hiện là nhờ các nguồn tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ của nước ngoài
Các tổ chức khác nhau đưa ra những dự đoán hoặc ước tính số người đồng tính một cách khác nhau Theo một báo cáo được công bố tại hội nghị khoa học kỹ thuật do Bệnh viện da liễu thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 26/9/2006 thì chưa
có những số liệu chắc chắn, đáng tin cậy về số lượng đồng tính nam ở Việt nam Tuy nhiên, theo bác sĩ Trần Bồng Sơn, một người nghiên cứu và tìm hiểu nhiều về đồng tính, số đồng tính ở Việt nam ước tính khoảng 70.000 người Nhưng theo một nghiên cứu khác do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện tại Việt nam, con số này lại vào khoảng 50 đến 125 nghìn người
Một nghiên cứu khác của Viện nghiên cứu kinh tế, xã hội và Môi trường hợp tác với Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã thực hiện một cuộc thăm dò trực tuyến mang tên “Đặc điểm kinh tế, xã hội của nam giới có quan hệ tình dục đồng giới tại Việt nam” Nghiên cứu được thực hiện bằng cách đăng tải bộ câu hỏi trả lời trực tuyến trên 5 diễn đàn dành cho người đồng tính ở Việt nam bằng cách đặt đường link dẫn đến bộ câu hỏi Đã có 3.231 người đủ yêu cầu (là nam giới, sống tại Việt nam, trên 18 tuổi và có quan hệ tình dục với nam giới trong vòng 12 tháng qua)
Trang 26tham gia trả lời Qua đó cho thấy, những người tham gia ở độ tuổi từ 20 – 30 tuổi, 60,66% cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh, 12,17% cư trú tại Hà nội, còn lại là ở các tỉnh, thành phố khác Trình độ học vấn của người tham gia cao, 67,99% có trình độ đại học, cao đẳng hoặc học nghề, 10,15% trình độ sau đại học, còn lại là trình độ từ câp 1 đến cấp 3 Về tình trạng công khai giới tính: 64,25% hoàn toàn giữ bí mật hoặc gần như là bí mật về tình trạng đồng tính; 24,96% lúc công khai, lúc bí mật, chỉ có 5.31% gần như là công khai và 2,49% hoàn toàn công khai [10, tr.3] Tuy nhiên cuộc thăm dò này chỉ hướng đến một bộ phận trong cộng đồng người đồng tính ở Việt nam là những người dùng internet nên chưa mang tính đại diện cho cộng đồng người đồng tính nói chung
Trong vài ba năm trở lại đây, những nghiên cứu về nhóm đồng tính nam hay nhóm mại dâm đồng giới thường được tiến hành dưới khía cạnh xem các nhóm này
là những nhóm nguy cơ cao với căn bệnh thế kỉ HIV/AIDS Trong giai đoạn năm
2005 – 2006, Bộ y tế đã công bố kết quả chương trình “Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STIs (IBBS) tại Việt nam” Nghiên cứu này bao gồm số liệu về tỷ lệ hiện nhiễm HIV/STIs và hành vi nguy cơ cao trong nhóm nghiện chích
ma túy, phụ nữ mại dâm và người đồng tính nam tại các tỉnh, thành phố Tuy nhiên với đối tượng đồng tính nam, nghiên cứu này chỉ tiến hành thu nhận đối tượng tại
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Số lượng đồng tính nam tại Hà nội là 397 người, và 393 người tại Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu này cho thấy trong số người đồng tính nam tham gia nghiên cứu ở Hà nội có 60,1% nằm trong độ tuổi từ 20 đến 25 tuổi, 17,5% ở độ tuổi dưới 20, còn lại là trên 25 tuổi Về nghề nghiệp: có 35,3% trong số họ là sinh viên, 33,5% tự kinh doanh, còn lại rải rác ở các ngành nghề khác như nhân viên văn phòng, nhân viên bán hàng, dịch vụ hoặc làm các công việc bất hợp pháp, thất nghiệp… Về đặc điểm tự nhận: phần lớn trong
số họ tự nhận mình là bóng kín (86,8%); số nhận là nam giới bình thường chiếm 12,5%, số nhận là bóng lộ chỉ có 0,3% Nghiên cứu này cũng ghi nhận con số dương tính với HIV khá cao trong nhóm đồng tính nam: 9,4% Tuy nhiên, con số hiện nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm MSM ở nghiên cứu
Trang 27này lại không cao: tỷ lệ hiện nhiễm giang mai chỉ có 0,1%; tỷ lệ hiện nhiễm lậu sinh dục là 3,1% và Chlamydia là 7,6% Đặc biệt, trong nghiên cứu này cũng ghi nhận nhiều MSM không cho rằng “nhận tiền khi quan hệ tình dục” có nghĩa là mại dâm Theo họ, số tiền này được hiểu là “quà tặng” sau khi quan hệ tình dục với một MSM và không có sự mặc cả Những người MSM có báo cáo có quan hệ tình dục nhận tiền với bạn tình nam giới có xu hướng có quan hệ tình dục với nữ mại dâm nhiều hơn; đồng thời MSM có quan hệ tình dục nhận tiền với nam giới có xu hướng tiêm chích ma túy nhiều hơn MSM không quan hệ tình dục nhận tiền Và tỷ lệ MSM tham gia nghiên cứu này đã từng sử dụng và tiêm chích mà túy là 23%, một con số không hề nhỏ [2, tr.27]
Năm 2007, nhóm nghiên cứu tại trường đại học Y Hà nội đã tiến hành một nghiên cứu về “Đặc điểm dịch tễ và các nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs trên nhóm nam bán dâm đồng tính tại Hà Nội” Nghiên cứu này đã tiến hành tìm và phỏng vấn
110 người nam giới từ 15 tuổi trở lên nhận có quan hệ tình dục với nam giới khác
và nhận được lợi ích vật chất trong thời gian 12 tháng trước điều tra Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu đặc điểm nhân khẩu, đặc điểm tình dục, hoạt động mại dâm, các vấn đề sức khỏe và nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy:
Về đặc điểm nhân khẩu: phần lớn người tham gia nghiên cứu còn rất trẻ, có 77,3% người trong số người tham gia là dưới 25 tuổi; họ hầu hết là người ngoại tỉnh (79,1%) và hầu hết cũng chưa kết hôn (89,1%) Họ cũng có mức thu nhập trung bình tháng qua khá cao (3,45 triệu đồng/ tháng) so với trình độ học vấn của họ (53,7% có trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên)
Về đặc điểm tình dục: số người tự nhận mình là đàn ông có tỉ lệ khá cao (76,4%) và có khuynh hướng tình dục dị giới cũng cao (73,6%)
Về công việc bán dâm: trong số 110 người tham gia nghiên cứu thì thời gian
họ bán dâm đồng giới chủ yếu là dưới 1 năm (49,1%); bán dâm trong khoảng 1 đến
5 năm là 36,4%, còn lại là bán dâm được trên 5 năm (14,5%) Số lượng khách trung
Trang 28bình của người bán dâm đồng giới tham gia nghiên cứu là 11,7 người trong 90 ngày qua
Về các vấn đề sức khỏe: trong số 110 người tham gia gia nghiên cứu, tỉ lệ người có sử dụng ma túy là 34,7% Tỉ lệ họ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng khá cao, nhiễm HCV là 12,5% và nhiễm HBV là 10,41%; nhiễm giang mai, lậu, Chlamydia là 7,3% Tỉ lệ nhiễm HIV của nhóm này là 2,1%, đây là tỉ lệ thấp hơn nhiều so với kết quả của IBBS kể trên
Một nghiên cứu mới được tiến hành năm 2009 do Trung tâm phòng chống STDs/HIV/AIDS (SHAPC) tiến hành về đề tài: “Tình dục đồng giới nam ở Việt nam, sự kỳ thị và hệ quả xã hội” tại 6 thành phố gồm: Hà nội, Thái nguyên, Đà nẵng, Nha trang, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần thơ Nghiên cứu này đề cập đến những áp lực từ phía gia đình, cộng đồng và dư luận xã hội lên người đồng tính khiến họ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống ngay cả ở gia đoạn học sinh, đi làm
và không được sự hậu thuẫn của gia đình
Nghiên cứu này cho rằng: “Sự kỳ thị của gia đình và cộng đồng đối với người đồng tính nam đã làm cho cuộc sống của người đồng tính nam, đặc biệt là “bóng lộ” gặp khó khăn về nhiều mặt, hoặc gây ra những hệ quả xấu không chỉ cho người đồng tính nam mà còn cho xã hội Một thực tế cần phải nhìn nhận đó là nhiều người đồng tính nam, khi bỏ nhà ra đi họ không có việc làm ổn định, họ kiếm sống bằng những nghề lao động từ do hoặc phải sống bằng những nghề mà xã hội không mong muốn như lô đề, cờ bạc, trộm cắp… Họ dễ bị đẩy vào hoàn cảnh gia đình không hạnh phúc phải li thân, li hôn với vợ do bị gia đình ép lập gia đình; do bị kỳ thị họ cũng khó khăn tìm kiếm được bạn tình và dễ bị bạo lực tình dục” [3, tr.19]
Qua những nghiên cứu về đồng tính nam và mại dâm đồng giới nam ở Việt nam cho thấy đề tài này vẫn còn là một đề tài mới và còn rất nhiều mảng kín chưa được phát lộ hết để các nhà nghiên cứu sau này tiếp tục tìm hiểu Trong nhóm đồng tính nam và mại dâm đồng giới nam cũng đang tồn tại nhiều vấn đề xã hội và nếu không nghiên cứu, không có những hỗ trợ kịp thời các vấn đề đó sẽ trở nên nặng nề hơn, mang lại hậu quả nghiêm trọng hơn
Trang 291.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành tại Hà Nội, tập trung ở các quận nội thành Điều này không có nghĩa ở các quận ngoại thành không tồn tại mại dâm nam hay có những người nam giới quan hệ tình dục đồng giới để nhận vật chất mà do đặc điểm nhóm mại dâm đồng giới nam thường tập trung nhiều hơn ở các khu vực nội thành đông người và cũng dễ để ẩn thân
Hà nội là thủ đô của cả nước với diện tích 3.324,92 km2
và với dân số 6.448.837 người (tính đến 1/4/2009) Hà nội có 10 quận nội thành và 18 huyện ngoại thành, một địa bàn rộng, nhưng nghiên cứu này chỉ tập trung trên địa bàn 9 quận nội thành là: Quận Đống Đa, Hoàn Kiếm, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hoàng Mai, Ba Đình, Long Biên, Thanh Xuân, Hai Bà Trưng Đây là những địa bàn có những cơ
sở, những địa chỉ xuất hiện nhóm mại dâm đồng giới nam hoặc xuất hiện nhóm đồng tính nam và có thể tiếp cận được với họ
Nhóm mại dâm đồng giới nam là một quần thể ẩn vì rất khó cho một người khác có thể nhận diện được một người có nằm trong quần thể mại dâm đồng giới nam hay không; họ cũng không tập trung trong một khoảng không gian nào nhất định nên khó để có thể tìm họ; đặc biệt những người mại dâm đồng giới nam là nhóm bị xã hội kỳ thị và tự kỳ thị nhiều nên họ luôn muốn che giấu công việc của mình với người khác, do đó việc tìm thấy họ đã khó, tiếp cận, tạo được lòng tin từ
họ còn khó hơn
Sau quá trình khá dài đi thực địa ở các địa điểm công cộng và khu vực tẩm quất, mát xa nam ở Hà nội; các nghiên cứu viên của trung tâm nghiên cứu đào tạo HIV/AIDS, Đại học Y Hà nội đã xây dựng được một mạng lưới các địa điểm có xuất hiện nhóm nam mại dâm đồng giới để tiếp cận và làm quen với họ Các địa bàn thực địa gồm có: hồ Hoàn Kiếm, hồ Thuyền Quang, công viên Thống Nhất, khu tẩm quất, mát xa Quan Thánh, các spa, xông hơi ở Tôn Đức Thắng, Kim Liên; các quán bar như Go Go club… Dành cho những người đồng tính; khu nhà nghỉ đường Nguyễn Văn Cừ ngay đầu cầu Long Biên và góc tiếp giáp giữa còn đường này với
đê Sông Hồng
Trang 30Hai khu vực công cộng tập trung khá nhiều mại dâm đồng giới nam là hồ Hoàn Kiếm và hồ Thuyền Quang Trên hai địa bàn này luôn có một vài nhóm các cậu thanh niên làm nghề bán dâm cho nam giới, cùng với họ là các má mì, những người dẫn mối, tìm khách cho đội ngũ bán dâm đồng thời tuyển dụng thêm những nhân lực mới cho đội ngũ bán dâm nam này Cả ở hai hồ đều có một vài má mì qua lại, nói chung họ vẫn thường xuyên gặp gỡ, liên lạc với nhau Thường nhiều nhóm trẻ lang thang sau một thời gian dạt ở hồ Hoàn Kiếm bị công an đuổi, bắt hay tự cảm thấy chán thì chuyển xuống hồ Thuyền Quang Ở hai địa bàn này, những người làm nghề mại dâm đồng giới dễ tiếp cận hơn so với các địa bàn khác vì đặc điểm đây là địa bàn công cộng, có nhiều quán nước trà ở trên hồ là địa điểm họ tụ tập, tìm khách hàng và nghỉ ngơi sau mỗi lần đi với khách Tuy nhiên, nghiên cứu viên để được họ quen mặt, được nhận diện và chấp nhận như một thành viên của địa bàn cũng mất một khoảng thời gian không ít
Đặc điểm của nhóm bán dâm nam trên hồ thường có những điểm đặc biệt như: phần lớn họ còn rất trẻ, nhiều cậu thanh niên còn chưa đến 20 tuổi; họ thường
ra hồ chơi hoặc đi dạt, đi lang thang trên hồ và “bị” một người đồng tính, một má
mì dụ dỗ bán dâm; sau đó có thể họ sẽ trở thành người bán dâm chuyên nghiệp Những người bán dâm nam trên các hồ này cũng có nhiều người là sinh viên, học sinh; nhưng những người này thường rất khó tiếp xúc do họ lo sợ thông tin cá nhân
bị tiết lộ
Khu vực tẩm quất, mát xa ở Quan Thánh, Hàng Bún và kéo dài sang Nguyễn Trường Tộ có rất nhiều quán tẩm quất nam Ở các quán này 100% nhân viên của quán là nam giới và hầu hết các nhân viên nam của quán có phục vụ nhu cầu tình dục cho khách hàng nam khi họ có nhu cầu
Các quán tẩm quất ở Quan Thánh bắt đầu xuất hiện từ năm 1998, trước đó các hoạt động tẩm quất nam đã tồn tại tuy nhiên nó chỉ mới nằm ở phạm vi các cá nhân đi tẩm quất dạo, tẩm quất di động trên các đường phố Sau đó tẩm quất đã được tổ chức chuyên nghiệp hơn thành các cửa hàng, các cơ sở tập trung các nhân viên và có chỗ để làm việc kín đáo, sạch sẽ, tiện nghi hơn
Trang 31Ban đầu quán tẩm quất đầu tiên ở Quan Thánh là quán ở đối diện vườn hoa Hàng đậu, sau đó nhận thấy sự hiệu quả của hoạt động tẩm quất nam nhiều cơ sở khác đã mọc lên, dần dần tạo nên con phố Quan thánh với hoạt động tẩm quất nam khá nổi tiếng ở Hà nội
Theo các nhân viên ở các quán thì tất cả các quán tẩm quất nam ở đây đều có phục vụ khách hàng là những người có nhu cầu tình dục đồng giới, chỉ có sự khác nhau là: Có một số quán chủ yếu phục vụ khách đồng tính, một số quán khác thì có nhiều khách tẩm quất đơn thuần hơn Những quán phục vụ khách đồng tính chủ yếu
là các quán tẩm quất ở đường Nguyễn Trường Tộ, các quán ở đối diện vườn hoa Hàng Đậu Chính vì vậy nhân viên ở các quán này cũng được chọn lựa kĩ lưỡng hơn, đổi mới thường xuyên hơn do sở thích của những người khách hàng luôn thích người mới, người lạ
Nhân viên ở các quán tẩm quất thường là những thanh niên ở từ nông thôn ra,
mà nhiều nhất là đến từ các tỉnh lân cận Hà nội như Bắc giang, Bắc Ninh, Hưng yên Xa hơn nữa là đến từ Thanh Hóa, rải rác đến từ các tỉnh miền trung và có một
số ở miền nam, vùng tây nam bộ
Nhân viên được tuyển vào các cơ sở tẩm quất chủ yếu qua giới thiệu (những người làm trước giới thiệu cho những người cùng địa phương hoặc bạn bè đến làm cùng), hoặc do chủ quán về các vùng quê để tuyển người, có ít trường hợp người lao động tự đến xin việc, trừ khi họ đã được giới thiệu trước đó hoặc biết về các hoạt động ở các quán tẩm quất này
Các quán thường hoạt động đến tầm 3, 4 giờ sáng Khi trên đường phố bắt đầu xuất hiện các hoạt động kinh doanh đầu tiên, những người đi chợ sáng là lúc các quán tẩm quất đóng cửa, là giờ nghỉ ngơi của các nhân viên và cả chủ quán sau một đêm làm việc
Ở các địa bàn khác như những “động” mại dâm nam ở Quan Thánh, ở Kim Liên, Nguyễn Hữu Tước do những người đồng tính mở để phục vụ người trong giới rất khó để tiếp cận vì họ thường thuê hoặc ở trong những căn nhà rất biệt lập và nếu
có vào được bên trong thì cũng không có điều kiện để nói chuyện, chia sẻ với nhân
Trang 32viên trong đó Điều này cũng đúng với nhân viên các nhà nghỉ bên Gia Lâm Họ bị
má mì quản lí rất chặt chẽ nên dường như không có thời gian tiếp cận với người lạ hoặc tiết lộ thông tin liên quan đến công việc của “má mì”
Các quán bar, xông hơi, các quán cà phê dành cho người đồng tính cũng khó tiếp cận do đặc điểm về tính riêng tư khi khách hàng đến những nơi này thường muốn yên tĩnh hoặc tìm kiếm bạn tình Những người đến các địa bàn này cũng thường là những người có tiền, sang trọng nên việc tiếp xúc, chuyện trò với họ cũng khó hơn
Mỗi một địa bàn có xuất hiện người đồng tính hay mại dâm đồng giới nam lại
có những đặc điểm riêng; và cách thức để thâm nhập được vào không gian riêng của những người đồng tính hay trai bán dâm ở mỗi địa bàn này cũng không giống nhau
Vì vậy, các nghiên cứu viên làm việc trong đề tài liên quan đến người đồng tính phải mất rất nhiều thời gian cho việc tìm hiểu về địa bàn, về cách tiếp cận và nhiều thời gian hơn nữa cho việc tiếp cận thực tế các đối tượng người đồng tính và trai bán dâm; sau đó có thể mời họ về tham gia nghiên cứu
Trang 33Chương 2: Bán dâm đồng giới nam: Đặc điểm xã hội, những hành vi
nguy cơ và tình trạng HIV/AIDS, STD
2.1 Những đặc điểm chung nhóm nam bán dâm đồng giới
Nam bán dâm đồng giới không chỉ là một nhóm nhỏ với những đặc điểm kinh tế, xã hội thuần nhất mà qua những đối tượng đã tham gia nghiên cứu và quá trình dài tiếp xúc với họ cho thấy nhóm này rất da dạng về đặc điểm kinh tế, xã hội
và văn hóa
Về độ tuổi: tuổi trung bình nhóm nam bán dâm tham gia nghiên cứu là 22,31 tuổi; phần lớn họ ở độ tuổi từ 20 đến 25 tuổi (58,1%), ở độ tuổi dưới 20 chiếm 23,4% và nhóm trên 25 tuổi chiếm 18,6% Mặc dù nghiên cứu chỉ thu nhận những người dưới 35 tuổi, nhưng qua cơ cấu tuổi của nhóm tham gia cho thấy độ tuổi từ
20 đến 25 tuổi vẫn nhiều hơn cả Độ tuổi này là độ tuổi trẻ, đang trong giai đoạn đầu của quá trình gia nhập lực lượng lao động chính của xã hội và họ cũng phải tự
lo trang trải cho cuộc sống của bản thân mình
Độ tuổi trẻ của nhóm nam bán dâm còn bị quy định bởi nhu cầu của khách hàng đồng tính Đa số khách hàng mua dâm đồng giới đều muốn bạn tình của mình
là một chàng trai trẻ, khỏe mạnh, ngoại hình đẹp và quan trọng hơn nữa là phải thay đổi liên tục để tạo cảm giác mới mẻ
Các đối tượng tham gia nghiên cứu phần lớn là người ngoại tỉnh (chiếm 82%)
số đối tượng tham gia nghiên cứu, số ít còn lại (18%) là sinh ra ở Hà Nội Quê quán của đối tượng tham gia nghiên cứu phân bố rải rác ở khắp các tỉnh thành trong cả nước, nhưng tập trung nhiều hơn ở khu vực phía bắc như các tỉnh Bắc Giang (9,6%), Hưng Yên (9%), Hà Tây (8,4%); có cả những đối tượng đến từ khu vực phía nam như thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau; các tỉnh miền trung như Quảng Nam, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa Điều đó cho thấy sự đa dạng về khu vực sinh sống của nhóm nam bán dâm và có sự giao thoa giữa các nhóm bán dâm nam ở các khu vực bắc, trung, nam Càng ngày do sự hiện đại hơn của các phương tiện truyền thông đại chúng và mạng lưới giao thông công cộng khiến cho khoảng cách giữa các tỉnh, các vùng ngày càng được thu hẹp; nhờ vậy những khách hàng đồng tính ở
Trang 34Hà Nội có nhiều cơ hội được phục vụ bởi những trai bán dâm trẻ và lạ từ các khu vực khác, kể cả từ khu vực tây nam bộ, khá xa so với thủ đô Những người ở xa này thường di cư ra thủ đô vì công việc bán dâm; tức họ đã từng bán dâm và mục đích
ra Hà Nội để tiếp tục kiếm tiền nhờ nghề bán dâm này Nó khác với những cậu thanh thiếu niên lang thang ở các khu vực công cộng như các hồ hay các công viên
[Nghiên cứu viên đã từng phỏng vấn sàng lọc tại một cơ sở mại dâm nam trên đường Tôn Đức Thắng, ở đó có khoảng 10 cậu thanh niên bán dâm, họ đều là người phía nam, quê ở thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai, tất cả 10 người họ đều nhận rằng họ đã làm công việc bán dâm nam này từ khi ở thành phố
Hồ Chí Minh; họ ra Hà Nội làm nghề vừa là làm mới bản thân vừa tăng khả năng kiếm tiền do khách hàng đồng tính ở Hà Nội luôn thích nam giới phía nam với những yếu tố mới lạ] [Nhật kí thực địa ngày 30/08/2010]
Ở các khu vực công cộng như hồ Hoàn Kiếm hay hồ Thuyền Quang có một lực lượng không nhỏ các cậu thanh niên đi bụi (bỏ nhà ra đi) ở các tỉnh lân cận Hà Nội đổ về; đây là lực lượng chính bổ sung cho đội ngũ bán dâm nam ở các khu vực công cộng này Mục đích ban đầu của các cậu hầu hết không phải vì công việc bán dâm nhưng sau đó lại tham gia vào đội ngũ này
Trình độ học vấn của nhóm bán dâm nam tham gia nghiên cứu nhìn chung ở mức độ trung bình và phân tán ở nhiều trình độ khác nhau Cụ thể tỷ lệ đối tượng học hết cấp 3 chiếm số đông (35,3%), tỷ lệ học hết cấp 2 là 19,2%, tỷ lệ học hết cấp
1 và thấp hơn chỉ chiếm con số ít 4,2%; đặc biệt, tỷ lệ đối tượng đang học cao đẳng, đại học, trung cấp hoặc đã tốt nghiệp các trường này cũng khá cao (16,2%) Tỷ lệ học vấn cao (học trung cấp, cao đẳng, đại học) chủ yếu nằm ở nhóm sinh viên tham gia bán dâm kiếm thêm tiền ăn học hoặc một số bạn tuy đã ra trường nhưng chưa tìm được việc, hiện đang sống cùng với những người đồng tính với vai trò là
“chồng” (bạn tình thường xuyên) của họ Nhóm có học vấn cao này rất khó tiếp cận
họ vì họ thường hoạt động ẩn (gặp khách hàng bằng cách liên lạc qua điện thoại, qua internet mà ít khi xuất hiện ở các khu vực công cộng hoặc tiếp xúc với người lạ); nghiên cứu viên thường phải nhờ những tiếp cận viên là người đồng tính ở các
Trang 35câu lạc bộ đồng tính và tiếp cận viên là những người đồng đẳng (sinh viên có bán dâm nam) để tìm và mời họ tham gia điều tra
Hầu hết số đối tượng tham gia nghiên cứu đều chưa lập gia đình (94%), điều này phù hợp với độ tuổi vẫn đang còn trẻ của họ Tỷ lệ đã lập gia đình hoặc li thân/
li dị chỉ chiếm một con số nhỏ (6%)
Thu nhập bằng tiền mặt của những đối tượng tham gia nghiên cứu trong tháng trước điều tra không đồng đều nhau; mức thu nhập trong tháng vừa rồi của các đối tượng phân bố rất không đồng đều trong khoảng từ không có thu nhập bằng tiền mặt trong tháng vừa đến có thu nhập 40 triệu trong tháng qua, đây là sự cách biệt rất lớn Tuy nhiên mức thu nhập trung bình của nhóm tham gia nghiên cứu trong tháng vừa qua là khá cao: 5,59 triệu đồng; giá trị trung vị của mẫu đạt mức 4 triệu, tức có một nửa số người tham gia điều tra có thu nhập trên 4 triệu đồng/tháng trong tháng vừa qua
Khi chia thành các nhóm thu nhập thì: Nhóm thu nhập dưới 1 triệu đồng/ tháng chiếm 9% số đối tượng tham gia điều tra, nhóm thu nhập từ trên 1 đến 3 triệu trong tháng vừa qua chiếm 33,5% số đối tượng; nhóm thu nhập từ trên 3 triệu đến 5 triệu chiếm 21,6% số đối tượng; nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm có thu nhập trên 5 triệu, chiếm 35,9% Thu nhập cao hay thấp phụ thuộc vào nơi nam bán dâm làm việc, nhóm khách hàng họ hướng đến, thâm niên trong nghề và độ “đẹp trai” của bản thân họ Thường nhóm làm việc trong các quán tẩm quất, ở các động mại dâm, các quán bar, xông hơi có mức thu nhập cao và ổn định hơn so với nhóm bán dâm trên hồ hay trên các địa bàn công cộng Những người có thu nhập thấp nhất thuộc nhóm thiếu niên lang thang ở các địa bàn công cộng Nhóm này trẻ và rời bỏ gia đình khi còn nhỏ, chưa đủ tuổi thành niên; họ thường bỏ nhà ra đi vì nhiều lí do, hoặc bố mẹ không quan tâm, hoàn cảnh gia đình éo le như bố mẹ mất, bố mẹ li dị…, có bạn do bị bố mẹ mắng, hoặc chán học muốn bỏ đi chơi theo bạn bè hoặc chẳng vì một lí do gì cả Nhóm này còn trẻ, thiếu kinh nghiệm sống nên khi đi ra các địa bàn công cộng như các hồ, các công viên và sống vạ vật ở đó thường bị
Trang 36người đồng tính hoặc những má mì, những người dẫn mối dụ dỗ vào con đường bán dâm
[Thường thời gian đầu mới đi bụi còn ít tiền mang từ nhà đi các cậu ăn ở trong nhà nghỉ, nhưng đến khi hết tiền lại ra sống ngoài ghế đá, chịu đói, chịu khát; rồi đến khi đói đến mức phải chấp nhận đi bán dâm cho những người đồng tính nam; giá bán dâm của nhóm này rất thấp, có khi chỉ vài chục nghìn, cá biệt có những khi bán dâm xong các cậu cũng chỉ nhận được một cái bánh mì, một bữa cơm chứ không nhận được tiền; các cậu này thường cũng dễ bảo hơn nên được những người đồng tính ít tiền lựa chọn; họ cũng dễ chấp nhận quan hệ hậu môn hơn do quan hệ hậu môn kiếm được nhiều tiền hơn hẳn (gấp đôi hoặc gấp ba lần so với quan hệ miệng hoặc tay).][Nhật kí thực địa hồ Thuyền Quang, ngày 23/7/2010]
Ngoài công việc bán dâm nam, những người tham gia điều tra còn làm nhiều nghề khác để có thu nhập vì với nhiều người đi bán dâm là trường hợp bất đắc dĩ chứ họ hoàn toàn không xem đó là một nghề kiếm tiền chính; hoặc tiền bán dâm không đủ cho họ chi trả trong cuộc sống Trong tháng vừa qua, tỷ lệ có các nguồn thu nhập từ những công việc khác bên cạnh bán dâm nam ở nhóm tham gia nghiên cứu là: nhận được sự hỗ trợ từ gia đình: 19,2%; 6% làm bồi bàn; 4,2% làm nhân viên bảo vệ; 24% làm ở các cơ sở tẩm quất – matxa không có mại dâm, sàn nhảy, quán bar; 5,4% ăn trộm, cướp giật; 4,2% làm xe ôm; 8,4% chơi lô đề, cờ bạc… Hầu như tất cả các công việc này cũng chỉ là những công việc tạm thời, không cố định; nguy cơ họ bị thất nghiệp cũng rất lớn
Khi được hỏi về nơi bạn hiện đang sống (hay thường xuyên ngủ qua đêm) trong 30 ngày qua, những người tham gia điều tra đã cho kết quả như sau:
Bảng 2.1: Nơi ngủ qua đêm trong 30 ngày qua của nam bán dâm
(Người)
Tần số
(%)
Sống trong phòng trọ cùng người khác (không
Trang 37ở một nơi nào (6,2%) và ngủ ở những nơi khác (27,3%): những nơi khác này thường là các quán tẩm quất nơi họ làm việc và ngủ qua đêm luôn ở đó, thường mỗi quán tẩm quất có dành 1 phòng cho nhân viên ngủ, nghỉ hoặc là các nhà má mì thuê những ngôi nhà biệt lập làm động mại dâm, vừa là nơi bán dâm, vừa là nơi ăn ngủ của nhân viên; ngoài ra còn có những trường hợp ăn ngủ tại quán internet nơi họ thường xuyên chơi game, chat ở đó
Đặc biệt những người không có nơi ngủ cố định thường là trai bán dâm ở các địa bàn công cộng; nơi ngủ của họ phụ thuộc nhiều vào việc ngày hôm đó họ có đi làm hay không, có tiền hay không Sau một thời gian dài đi thực địa, nghiên cứu viên nhận thấy có một hiện tượng xảy ra và lặp đi lặp lại rất nhiều ở các nhóm trai bán dâm ở địa bàn công cộng (những người kiếm sống ở các hồ như hồ Hoàn Kiếm,
hồ Thuyền Quang hay ở các công viên) là lối sống hưởng thụ của họ Mỗi khi một trai bán dâm ở hai hồ nói trên có khách và kiếm được tiền, lập tức họ sẽ tiêu rất hoang phí vào việc ăn uống, ngủ nghỉ ở khách sạn, đi chơi trên sàn nhảy hay bao gái cho đến khi hết số tiền đó; và đến ngày hôm sau nếu không có khách, không có tiền
Trang 38họ sẽ phải nhịn đói và ngủ ngoài ghế đá Dường như họ không hề có sự chuẩn bị cho tương lai, mặc dù tương lai rất gần như đến ngày hôm sau không có tiền họ sẽ phải sống như thế nào Và ta cũng có thể thấy nhiều nghịch lý trong lối sống của họ; như việc họ sẵn sàng tìm mọi cách để có tiền: bán dâm, ăn cắp, cướp giật…, họ có thể thấy có lỗi, thấy áy náy, thậm chí khổ sở về công việc mình đã làm (nghiên cứu của Ford cho thấy có 27,3% số trai bán dâm tham gia nghiên cứu của họ đã có ý định tự tử, và có 8,18% đã từng thực hiện việc tự tử do cảm thấy tội lỗi và mệt mỏi với công việc bán dâm và cuộc sống của mình); tuy nhiên, họ hầu như không có kế hoạch cụ thể để phấn đấu cho tương lai của mình, việc rời bỏ môi trường phức tạp ở các địa bàn công cộng như bờ hồ, công viên hoặc ngừng bán dâm trừ khi họ bị đào thải bởi những người khách hàng đồng tính do họ không còn là yếu tố mới mẻ hấp dẫn khách hàng
Thế giới nam bán dâm đồng giới thực sự không đơn giản chỉ là những người đàn ông “không biết xấu hổ” dùng vốn tự có của mình để kinh doanh; mà mỗi người luôn có những trăn trở, lo lắng không chỉ về yếu tố đạo đức xã hội của công việc bán dâm mà cả về khuynh hướng tình dục và con người thực sự trong họ là gì Điều này thể hiện rất rõ trong quá trình phỏng vấn bảng hỏi những nam bán dâm tham gia điều tra ngang khi họ được hỏi về giới tính tự nhận của bản thân mình: có 75,6% tự nhận mình là đàn ông; 5,1% nhận mình là đàn bà; 4,0% nghĩ rằng mình là người chuyển giới; 15,3% không rõ đặc điểm giới của bản thân họ là gì Ngay cả với những người nhận mình là đàn ông, họ cũng luôn lo lắng và băn khoăn về việc
họ có quan hệ tình dục với một người nam giới khác, liệu khi đó họ có còn là người đàn ông đúng nghĩa, vì những người đàn ông thực sự chỉ quan hệ tình dục với bạn tình nữ mà thôi Điều đó đã làm họ mất phương hướng trong một thời gian ngắn và không biết tự nhận mình là đàn ông gì khác; cho đến khi điều tra viên phải giải thích rõ ràng về việc bản thân họ nghĩ mình là ai, là đàn ông hay phụ nữ và không phụ thuộc vào cách nhìn của những người khác; khi đó họ mới nhận mình là đàn ông, họ vẫn nghĩ mình là đàn ông Những người nhận mình là phụ nữ, là người chuyển giới là những người đồng tính thực sự và mặc dù với vẻ ngoài đàn ông
Trang 39nhưng bên trong họ lại nghĩ mình là phụ nữ Số người phân vân không rõ đặc điểm giới của bản thân họ là gì thường là những người lưỡng giới, họ có ham muốn với
cả bạn tình nam và bạn tình nữ, và số này cũng không nhỏ trong những người tham gia nghiên cứu (15,3%)
Bảng 2.2: Đặc điểm tình dục tự nhận của nam bán dâm tham gia nghiên cứu
(Người)
Tần số
(%)
Tôi chủ yếu thấy hấp dẫn về mặt tình dục với phụ nữ,
Tôi chủ yếu thấy hấp dẫn về mặt tình dục với đàn ông,
Tôi thấy hấp dẫn về mặt tình dục với các đàn ông và phụ
Họ bán dâm hoàn toàn vì mục đích kiếm tiền hoặc vì những giá trị vật chất nào đó khác chứ không vì những cảm xúc cá nhân hay vì lý do tình cảm Những người này luôn trong tâm trạng không thoải mái, xấu hổ, dằn vặt vì phải làm những việc bản thân không thích, không hứng thú; hơn nữa công việc đó lại bị cả xã hội lên án, xem
là xấu xa
Số người nói rằng mình chỉ có ham muốn tình dục với đàn ông chiếm con số không lớn 14,8% Đây là những người bán dâm trong giới (tức bản thân họ cũng là người đồng tính, họ đi bán dâm vừa mục đích kiếm tiền vừa được thỏa mãn nhu cầu
Trang 40tình dục) Tuy nhiên những người này thường không được khách hàng đồng tính ưa thích do họ bị khách hàng xem như người “cùng giới”, vì vậy để bán dâm họ thường phải che giấu khuynh hướng tình dục đồng giới của mình
Những người có khuynh hướng tình dục lưỡng giới chiếm con số không hề nhỏ: 32,4% (gồm cả những người chủ yếu thấy hấp dẫn về mặt tình dục với đàn ông, thỉnh thoảng với cả phụ nữ và những người chủ yếu thấy hấp dẫn về mặt tình dục với phụ nữ, thỉnh thoảng với cả đàn ông) Họ là những người có thể quan hệ tình dục với cả hai giới và đạt được khoái cảm Một số người trong nhóm này cho rằng sau khi có một thời gian quan hệ tình dục với nam giới khiến họ bị nhiễm
“đồng tính” và trở nên thích thú khi quan hệ tình dục với nam; đây cũng là một vấn
đề đang gây tranh cãi trong giới khoa học; có hai trường phái, trong đó trường phái cho rằng khuynh hướng tình dục đồng giới có thể lây; nếu nó có thể lây thì đồng tính sẽ bị xem như là một bệnh và có thể chữa trị; trường phái cho rằng đồng tính không thể bị lây nhiễm do nó là yếu tố nội sinh trong bản thân con người, do yếu tố gen quyết định và vì vậy đồng tính là tự nhiên chứ không phải là bệnh, không thể lây lan
Khi được đưa cho một tấm thẻ ghi các từ gọi tên bản thân mình, tỷ lệ cao nhất số người tham gia nghiên cứu đã chọn là từ đàn ông với 47,3% (câu hỏi là: từ nào dưới đây mô tả đúng nhất về bạn; các đáp án trong tấm thẻ gồm có: đồng cô, gay, bóng kín, bóng lộ, hai phai, đàn ông, trai bán dâm, trai bao, đồng tính, pê đê, dì – là những từ thường được sử dụng để gọi trong nhóm đồng tính nam) Những người tự gọi tên mình là trai bán dâm chiếm 10,2% số người trả lời; người nhận mình là trai bao chiếm 6%; người nhận mình là gay có 10,8%; nhận là hai phai có 9%; 7,8% gọi mình là bóng kín
Thường nhiều người không nghĩ rằng mình là trai bán dâm và không nhận mình là trai bán dâm mà là một người đàn ông bình thường bởi việc phải thỏa mãn nhu cầu tình dục cho một người đàn ông khác chỉ là chuyện bất đắc dĩ khi họ túng thiếu tiền bạc, đến một thời điểm nào đó họ không quá lo lắng về chuyện tiền, chuyện cơm áo hàng ngày họ sẽ không làm công việc bán dâm nữa Ngay như việc