45 2.1.1.Đăc điểm hội nhập của Phật giáo với truyền thống yêu nước của người Việt từ đầu Công nguyên đến thế kỷ thứ VI... Đối với Phật giáo du nhập vào Việt Nam đã qua khoảng 20 thế kỷ,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: 60 22 03 09 Người hướng dẫn: Đỗ Thị Hòa Hới
Hà Nội - 2016
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ CHO SỰ RA ĐỜI CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI KỲ TỪ ĐẦU CÔNG NGUYÊN ĐẾN THẾ KỶ VI 10
1.1 Khái quát những điều kiện cho sự du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam (từ đầu Công nguyên đến thế kỷ VI) 10
1.1.1.Điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội 10
1.1.2 Điều kiện Văn hóa, tín ngưỡng 18
2.1 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo từ đầu Công nguyên đến thế kỷ thứ VI 27
2.1.1 Thời gian và địa điểm du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 27
2.1.2 Diện mạo của Phật giáo Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ thứ VI 33
Tiểu kết chương 1 42
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI KỲ ĐẦU BẮC THUỘC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM 45
2.1 Ba đặc điểm của Phật giáo Việt Nam thời kỳ đầu Bắc thuộc 45
2.1.1.Đăc điểm hội nhập của Phật giáo với truyền thống yêu nước của người Việt từ đầu Công nguyên đến thế kỷ thứ VI 45
Trang 32.1.2 Đặc điểm dân gian của Phật giáo Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ thứ VI 54 2.2.3 Đặc điểm dung hợp Nho – Phật – Đạo của Phật giáo từ đầu công nguyên đến thế kỷ VI 64
2.2 Ảnh hưởng của những đặc điểm trên đối với sự phát triển của Phật giáo Việt Nam 72
2.2.1.Những ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của Phật giáo Việt Nam 72
2.2 Một số vấn đề tồn tại của Phật giáo Việt Nam giai đoạn từ đầu công nguyên đến thế kỷ VI cũng như trong các giai đoạn phát triển sau 81
Tiểu kết chương 2 85
KẾT LUẬN 86 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo là tôn lớn giáo được truyền vào từ rất sớm Với số lượng tín đồ, chức sắc lớn hơn các đạo Công giáo, đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, cùng với các yếu tố lịch sử để lại, cộng thêm những tác động của yếu tố thời đại, Phật giáo ở nước ta đang là vấn đề liên quan đến chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước Do đó việc nghiên cứu Phật giáo nói chung, lịch sử du nhập, hình thành các đặc trưng, đặc điểm Phật giáo Việt Nam nói riêng là rất cần thiết
Phật giáo du nhập vào Việt Nam đã trên dưới 2000 năm, gắn bó đồng hành cùng dân tộc và có mối quan hệ khăng khít với văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và bảo vệ Tổ quốc Phật giáo có mục đích cao cả là đem lại hạnh phúc cho chư Thiên và an lạc cho loài người Trên nguyên tắc hooaf hợp, tùy thuận chúng sinh nên tuy là yếu tố văn hóa “ngoại sinh” nhưng được dân tộc Việt Nam đón nhận một cách tự nhiên, như cây có nước và được hấp thụ chuyển hóa tạo thành một bộ phận hữu cơ và tạo nên những nét đặc sắc trong văn hóa dân tộc Phật giáo theo thời gian đã có sự tiếp thu, hấp thụ, ảnh hưởng sâu đậm trong ý thức tư tưởng của người Việt hình thành nên Phật giáo Việt Nam
Phật giáo với tư tưởng hòa đồng, cùng với tinh thần từ bi và trí tuệ đã trở thành điểm tựa vững chắc, một công cụ sắc bén để giữ gìn bản sắc dân tộc, chống lại âm mưu đồng hóa của phong kiến phương Bắc suốt hơn 1000 nam Bắc thuộc trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua các thời kỳ lịch sử, tinh thần Phật giáo được vận dụng vào kế sách trị nước an dân Bản thân Phật giáo cùng các vị cao tăng cũng có những đống góp đáng kể vào sự hưng thịnh của quốc gia, trường tồn của dân tộc
Trang 5Với những đóng góp to lớn cho lịch sử dân tộc, Phật giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả, nhiều công trình có giá trị khoa học về Phật giáo cũng được công bố, nhất là những công trình nghiên cứu về những giai đoạn phát triển huy hoàng của phật giáo đặc biệt là giai đoạn Lí – Trần Tuy nhiên, để
có lịch sử huy hoàng như vậy chúng ta không thể không quan tâm đến buổi dầu lịch sử du nhập của Phật giáo Bởi nó sẽ quyết định con đường vận động và phát triển của của Phật giáo ViêtNam trong những giai đoạn tiếp theo Nhưng vì những lí do khách quan và chủ quan khác nhau, nên giai đoạn Phật giáo Việt Nam buổi dầu du nhập ít được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu
Nhìn chung, quá trình Phật giáo du nhập vào bất cứ quốc gia hay dân tộc nào (vào nước ta cũng vậy) là một quá trình mâu thuẫn và biện chứng diễn biến qua cuộc đấu tranh giữa hai xu hướng: xu hướng bản địa hóa và xu hướng bảo vệ những giá trị cốt tủy của đạo
Đối với Phật giáo du nhập vào Việt Nam đã qua khoảng 20 thế kỷ, có những thời kỳ đặc biệt thời Bắc thuộc, hai xu hướng dân tộc hóa và xu hướng bảo vệ giá trị cốt tủy của đạo lại hình như phát triển theo cùng một chiều, tương hỗ nhau tạo nên sự vận động phát triển thay vì đối kháng nhau Chính sự phát triển cùng chiều này là nhân tố quyết định hình thành nên những xu hướng của đặc điểm Phật giáo Việt Nam thời kỳ này Những đặc điểm này càng về sau càng rõ nét và
có nhiều đóng góp cụ thể cho tiến trình dân tộc cũng như sự phát triển của Phật giáo
Với nhưng lí do nêu trên nên tôi chọn đề tài: “Một số đặc điểm của Phật
giáo Việt Nam trong thời Bắc thuộc”, làm đề tài luận văn thạc sĩ Tôn giáo học
của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Phật giáo truyền vào nước ta từ đầu Công nguyên đến nay khoảng 2000 năm Suốt chiều dài tồn tại, vận động và phát triển với lịch sử dân tộc Phật giáo để lại những dấu ấn đậm nét trên bình diện rộng lớn từ tư tưởng, tình cảm, phong tục
Trang 6tập quán, lối sống văn hóa tín ngưỡng Với vai trò ảnh hưởng đa chiều sâu đậm, Phật giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả, trong đó Phật giáo thời kỳ đầu Bắc thuộc cũng được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu, dưới đây là những công trình tiêu biểu:
Một là, những công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo: Công trình nghiên
cứu sớm nhất về lịch sử Phật giáo Việt Nam là tác phẩm “Thiền uyển tập anh” Công trình tập trung nghiên cứu về hai dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn
Thông, khi viết về thời gian Phật giáo du nhập có nghi: “Giao Châu có đường
thông với Thiên Trúc Khi Phật pháp mới đên Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu đã có tới hai mươi ngôi bảo sát, độ được hơn năm trăm vị tăng, và dịch được mười lăm quyển kinh rồi” Như vậy Phật giáo đã truyền đến Giao Châu trước”[81, 84]
Đến giai đoạn trước cách mạng tháng Tám ở nước ta có hai công trình
nghiên cứu về Phật giáo là: “Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ thứ
XIII ” của Trần Văn Giáp và cuốn: “Việt Nam Phật giáo sử lược” của Thích Mật
Thể Hai công trình nghiên cứu này để lại những kiến thức và phương pháp nghiên cứu cho những người kế cận tìm hiểu và nghiên cứu về Phật giáo Tuy nhiên hai công trình này nghiên cứu với số lượng trang không nhiều nên trình bày về lịch sử Phật giáo Việt Nam còn sơ lược, đại cương Trong đó phần nghiên
cứu về thời kỳ đầu Bắc thuộc cũng không phải là ngoại lệ Lịch sử Phật giáo Việt
Nam” gồm 3 tập của Lê Mạnh Thát Trong đó tập 1 tác giả chuyên nghiên cứu về
“Lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế” với dung
lượng hơn 400 trang Đây có lẽ là cuốn sách nghiên cứu kỹ nhất từ trước đến nay
về Phật giáo từ thời kỳ đầu Bắc Thuộc Với nguồn tư liệu phong phú tác giả đưa
ra nhiều nội dung mới có giá trị như:
Về thời gian Phật giáo du nhập tác giả viết: “Nói khác đi, những truyền thuyết về sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam vào thời Hùng Vương, tuy ghi chép tương đối chậm, vào đầu thiên niên kỷ thứ 2 trở đi, không phải không có
Trang 7chứng cớ xuất hiện tương đối sớm trong lịch sử Trung Quốc Trong khi chờ đợi khai quật được di vật khảo cổ học tại cửa Nam Giới và núi Tam Đảo, ta có thể có một số ý niệm khá chính xác về sự hiện diện của Phật giáo tại nước ta vào thế
Trong công trình này tác giả còn đưa ra nhiều vấn đề nghiên cứu khác như
về: Mâu Tử, Khương Tăng Hội, các kinh điển Phật giáo (Lục độ tập kinh,Cựu
tạp thí dụ kinh, Tạp thí dụ kinh, Pháp Hoa tam muội kinh)…
Năm 2012, nhà xuất bản Phương Đông cho tái bản “Việt Nam Phật giáo sử
luận” của Nguyễn Lang Đây là công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo gồm
ba tập, trong đó phần viết về giai đoạn đầu của Phật giáo thời Bắc thuộc Nguyễn Lang đã bàn đến nhiều nội dung quan trọng như: trung tâm Phật giáo Luy Lâu, thời gian du nhập, sự kết hợp giữa Phật giáo với văn hóa tín ngưỡng bản địa, khuynh hướng phát triển của Phật giáo Việt Nam… Năm 1991, Nhà xuất bản
Khoa học xã hội Hà Nội đã cho xuất bản cuốn sách: “Lịch sử Phật giáo Việt
Nam” do Nguyễn Tài Thư chủ biên với dung lượng hơn 500 trang Đây là một
công trình nghiên cứu từ buổi đầu Phật giáo du nhập vào cho đến cách mạng tháng Tám năm 1945 Công trình này gồm năm chương trong đó chương I nghiên cứu Phật giáo Việt Nam thời kỳ đầu du nhập và Bắc thuộc (từ đầu Công nguyên cho đến thế kỷ X) do nhà nghiên cứu Phật học Minh Châu viết Riêng phần Phật giáo từ khi du nhập cho đến thế kỷ VI được tác giả trình bày, phân tích khá kỹ với dung lượng chín mươi lăm trang, nhưng chưa có phân tích các đặc điểm
Trang 8Hai là, nhóm các công trình nghiên cứu về tư tưởng Phât giáo có các công
trình tiêu biểu như: năm 1999, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, xuất bản cuốn
sách “Tư tưởng Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Duy Hinh Cuốn sách có dung
lượng hơn 800 trang và được chia làm bốn chương trong đó phần Phật giáo thời Bắc Thuộc được trình bày ở chương II với tiêu đề: Buổi dầu Phật giáo Việt Nam Trong chương II, tác giả trình bày quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo, đồng thời tác giả cũng đi sâu phân tích những kinh kệ được sử dụng trong giai đoạn này, từ đó đưa ra những phân tích, đánh giá sâu sắc như: “Như vậy vào cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III Công nguyên Phật giáo Đại thừa đã có mặt ở Giao Chỉ trực tiếp từ Ấn Độ Người Việt tiếp xúc với Phật chứ không phải Thích Ca Mầu Ni, nghĩa là với vị THẦN LINH chứ không phải với một người THẦY Giới luật với sự có mặt của Tỳ kheo và cư sĩ chứng minh Tăng già Phật giáo đã thực sự tồn tại ở Giao Chỉ”[39, 169], hay “Trong câu trả lời này Mâu Tử đồng nhất Phật giáo với Đạo giáo và Nho giáo Tư tưởng tam giáo đồng nhất đã xuất hiện Việc dùng Đạo giáo giải thích Phật giáo giải thích Phật giáo là xu hướng chung của những người dịch kinh Trung Quốc Nếu như đây chính là lời Mâu Tử thì ông là Tổ sư tư tưởng tam giáo đồng nhất”[39, 199] Đồng thời sách cũng chỉ
ra được mối tương quan giữa Phật giáo với Nho giáo và Đạo giáo
Năm 1993, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã cho
xuất bản cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” do Nguyễn Tài Thư chủ biên với
dung lượng gần 500 trang Tập 1 viết từ thời kỳ nguyên thủy cho đến thế kỷ XVIII Riêng phần Phật giáo thời kỳ Bắc Thuộc được nhóm tác giả trình bày ở phần hai của cuốn sách và bắt đầu từ chương IV - VI Điểm mạnh của cuốn sách
là chỉ ra được sự vận động và phát triển, chứng minh mốc thời gian về sự du nhập của Phật giáo vào nước ta đã không được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình Năm 2002, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, phát hành cuốn sách
“Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Hùng Hậu Trong sách
này tác giả đã nghiên cứu Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV
Trang 9dưới góc nhìn của thế giới quan và nhân sinh quan Riêng phần đầu từ khi du nhập đến thế kỷ VI, được tác giả viết khái quát trong khoảng bốn mươi trang Trong đó, có những nhận xét sâu sắc như: “Như vậy, Phật giáo Luy Lâu có một dòng Phật giáo dân gian tồn tại cho đến ngày nay, nó là sự kết hợp giữa văn hóa
Ấn Độ mà hạt nhân là Phật giáo với tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam”, hay “Ngay từ buổi đầu của sự tồn tại, Phật giáo Việt Nam thế kỷ II – III (Phật giáo Luy Lâu) đã mang trong mình những mần mống để hình thành các khuynh hướng Phật giáo Việt Nam sau này, đó là khuynh hướng Phật giáo dân gian được bắt đầu từ Khâu Đà La; khuynh hướng thiền đã có từ Khương Tăng Hội; khuynh hướng hòa đồng tam giáo lấy Phật giáo làm cơ sở của các vua Lý – Trần đã có mần mống từ Mâu Tử trong Lý hoặc luận,… Cái đầu tiên đơn sơ, mộc mạc nhưng đã chứa đựng mọi cái đa dạng, phức tạp về sau”[37, 35 – 36]
Ba là, các công trình nghiên cứu về văn học Phật giáo có nhiều trong đó
nổi bật có: năm 2001, Lê Mạnh Thát cho xuất bản Tổng tập văn học Phật giáo
Việt Nam gồm 3 tập Trong đó tập 1 tác giả đi sâu phân tích tác phẩm lí hoặc
luận và Lục độ tập kinh
Trong khi phân tích Lí hoặc luận có đoạn tác giả viết: “Như vậy, vào giữa
những năm 180 – 190 ở nước ta, cụ thể là ở Giao Chỉ đã hình thành hoàn tất một nền văn hóa mới, nền văn hóa Phật giáo Việt Nam, kết hợp thành công nền văn hóa Lạc Việt với nền văn hóa Phật giáo từ Ấn Độ đưa vào”[70, 159 – 160]
Khi phân tích Lục độ tập kinh tác giả viết: “Lục độ tập kinh tham gia tích
cực vào không những sự nghiệp truyền bá giáo lí Phật giáo, mà còn vào trách nhiệm bảo vệ văn hóa dân tộc thể hiện nguyện vọng chính đáng và trăn trở đau thương của dân tộc ta vào thời điểm tác phẩm ấy ra đời Hai nhiệm vụ ấy được thống nhất thành một thể, để cho việc thực hiện nhiệm vụ này, đồng thời hoàn thành nhiệm vụ kia Nếp sống Đạo thống nhất với cuộc sống đời không có khoảng cách phân ly, không có màu sắc phân biệt Sống đạo một cách trọn vẹn tức phục vụ đời một cách viên mãn, và sống đời một cách tốt đẹp là thể hiện đạo
Trang 10một cách cụ thể tròn đầy Yêu cầu “ngôn hành tương phò” (truyện 21), đời đạo hợp nhất, là nét đặc trưng của Phật giáo thời Lục độ tập kinh
Bốn là, một số công trình nghiên cứu đã được công bố trên báo và tạp chí
Khi đi nghiên cứu làm rõ vấn đề phân tích một số bài tạp chí trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến những đặc điểm Phật giáo Việt Nam thời Bắc thuộc như trong tài liệu số: (14), (21), (54)
Năm là, Các công trình luận văn, luận án có trực tiếp khái qua những đặc
điểm của Phật giáo Việt Nam thời Bắc thuộc như trong tài liệu số: (5) và (12) Tựu chung lại, các công trình nghiên cứu kể trên trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhiều có phân tích về những đặc điểm của Phật giáo Việt Nam thời Bắc thuộc Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ tập trung những điều kiện, tiền đề, nội dung, đặc điểm Phật giáo trong giai đoạn này Từ đó chỉ ra ảnh hưởng của nó đến sự phát triển của lịch sử Phật giáo Việt Nam Cho nên, tôi
đã chọn vấn đề: “Một số đặc điểm của Phật giáo Việt Nam trong thời Bắc
thuộc”, làm đề tài luận văn thạc sĩ tôn giáo học của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu một số của đặc điểm Phật giáo Việt Nam trong thời Bắc thuộc
cũng như ảnh hưởng của nó đến sự phát triển của lịch sử phật giáo Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài cần làm rõ ba vấn đề sau:
Một là, khái quát các điều kiện cho quá trình hình thành và phát triển
những đặc điểm của Phật giáo Việt Nam thời Bắc thuộc
Hai là, những nội dung một số đặc điểm cơ bản của Phật giáo Việt Nam
thời đầu Bắc thuộc
Ba là, chỉ ra những ảnh hưởng của Phật giáo đầu Bắc thuộc đối với lịch sử
Phật giáo Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Một số đặc điểm của Phật giáo Việt Nam thời kỳ đầu Bắc thuộc (từ đầu Công nguyên đến thế kỷ VI)
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 11- Phạm vi về mặt thời gian: Do thời Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm chứa đựng rất nhiều sự kiện với nhiều nội dung phong phú đa dạng Cho nên, để nghiên cứu được hệ thống có thấy được đặc điểm cơ bản của thời kỳ đầu trọng, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ đầu Công nguyên đến thế kỷ VI để có thể làm rõ vấn đề cần nghiên cứu và chỉ ra được sự ảnh hưởng đói với sự vận động, phát triển của nó trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
về sau Thế kỷ VI có bước phát triển đột phá trong lịch sử chống Bắc thuộc của dân tộc với sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân Còn đối với lịch sử Phật giáo là sự
ra đời của Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi
- Phạm vi về mặt không gian: nghiên cứu Phật giáo Giao Châu
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận:
Đề tài được thực hiê ̣n dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tín ngưỡng, tôn
giáo
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng được sử dụng nhằm hiểu đối tượng nghiên cứu một số đặc điểm của Phật giáo Việt Nam trong thời Bắc thuộc, từ đó thấy được quá trình vận động và phát triển của nó trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu tôn giáo học như xuất phát từ cấu trúc chúc, năng tôn giáo…
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành như: Phương pháp nhân học tôn giáo, phương pháp
sử học…
6 Đóng góp của luận văn
Trang 12Về mặt học thuật: Luận văn đưa ra những nhận thức mới có tính hệ thống, khái quát các đặc điểm của Phật giáo Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến lịch sử Phật giáo Việt Nam, bước đầu phân tích những đặc điểm này dưới góc độ Tôn giáo học
Luận văn trình bày khái quát các tiền đề, điều kiện cho quá trình du nhập
và phát triển hình thành nên các đặc điểm của Phật giáo Việt Nam trong thời đầu Bắc Thuộc Từ đó đi sâu phân tích những nội dung một số đặc điểm của Phật giáo trong thời kỳ đầu Bắc thuộc và ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển của Phật giáo Việt Nam từ góc độ tôn giáo học
Về giá trị thực tiễn: Luận văn này có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy vè Phật giáo nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo, công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến luận văn và phần mục lục, nô ̣i dung chính của luận văn được chia làm 2 chương và 4 tiết
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ CHO SỰ RA ĐỜI CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI KỲ TỪ ĐẦU CÔNG NGUYÊN ĐẾN THẾ KỶ VI
1.1 Khái quát những điều kiện cho sự du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam (từ đầu Công nguyên đến thế kỷ VI)
1.1.1.Điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội
Về chính trị
Sau khi cướp được nước Âu Lạc của An Dương Vương, nhà Triệu đã sát nhập vào Nam Việt, chẳng bao lâu nhà Hán lại thôn tính Nam Việt chia nước Âu Lạc cũ thành các quận, huyện của chúng Từ năm “Tân Mùi, [110 TCN], Hán Nguyên Phong năm thứ Nhất Nước Việt Nam đã thuộc về nhà Hán… Thời Tây Hán, trị sở của Thái thú đặt ở Long Uyên tức Long Biên, thời Đông Hán đặt tại
Mê Linh tức làng Yên Lãng”[82,154]
Năm 34, Tô Định thay cho Tích Quang làm Thái thú Giao Châu Đây là viên Thái thú tham lam tàn bạo, làm cho dân Giao Châu oán ghét, quý tộc Âu Lạc cũ cũng oán hận chính quyền đô hộ
Mùa Xuân năm 40, để trả thù nhà, nợ nước, Hai Bà Trưng lãnh đạo nhân dân tiến hành khởi nghĩa và giành thắng lợi
“Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quân nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành
Đô Kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta”[10, 56]
Phong trào khời nghĩa thắng lợi suy tôn Trưng Vương lên địa vị vua Bà, đứng đầu đất nước, là sự trỗi dậy ý thức dân tộc, ý thức tự chủ, tự mình làm chủ vận mệnh đất nước, ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng sau đó bị Mã Viện đàn áp dã man, nhưng nó nhen nhóm lên
Trang 14tinh thần yêu nước, coi độc lập dân tộc là cái quý nhất, gieo hạt giống tốt vào
truyền thống yêu nước của người Việt Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Văn
Hưu đề cao công lao của Hai Bà Trưng trong lịch sử dân tộc “Trưng Trắc, Trưng Nhị, là đàn bà, hô một tiếng là các quân Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng Vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta, đủ dựng được nghiệp bá Vương”[82, 56]
Sau cuộc đàn áp tàn bạo của Mã Viện, phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân Giao Châu bị chìm lắng đi một thời gian Chính sách nô dịch, bóc lột
và đồng hóa được đẩy mạnh hơn trước Chế độ lạc tướng cha truyền con nối của người Việt ở các quận, huyện bị bãi bỏ, chế độ quận, bộ máy cai trị các cấp của
đế chế Hán được tăng cường Nhưng hệ thống cai trị nhà Hán vẫn không với tay được xuống dưới làng xã, vẫn không phá vỡ được kết cấu gốc cơ của xã hội Việt, nghĩa là vẫn không khống chế nổi đông đảo các tầng lớp nhân dân Ngay
Mã Viện, dù đã đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vẫn phải thừa nhận
sự thật: xã hội Việt khác xã hội Hán, không thể bê nguyên xi pháp độ Hán phương Bắc sang áp dụng ở đất Việt với kết cấu làng xã bền vững
Từ năm 190 đến năm 317, chính quyền trung ương Trung Hoa suy yếu, tan rã, quan lại Hán nắm toàn bộ quyền hành ở Giao Châu như một chính quyền cát cứ Thứ sử, Thái thú dùng con em và người đồng hương làm trưởng lại, tìm mọi cách đục khoét, vơ vét của cải của nhân dân Các thế lực cát cứ luôn tìm cách chém giết nhau, đất Giao Châu là vật giành đi giật lại giữa chúng với nhau
Cuối thế kỷ thứ II đầu thế kỷ thứ III, đất nước ta nằm dưới cai trị cát cứ của cha con, anh em Sĩ Nhiếp, người gốc Hán, nhưng đã bản địa hóa, gần như một triều đình riêng Sĩ Nhiếp thuần phục triều Ngô ở Giang Đông Thời Sĩ Nhiếp, thực hiện chính sách cai trị mềm mỏng, chăm lo nhiều đến đời sống của nhân dân Vì vậy, Sử thần Ngô Sĩ Liên bàn: “Sĩ Nhiếp là Thái thú Giao Châu, người trong nước quý mến đều gọi ông là Sĩ Vương, bèn lấy Sĩ Vương xếp vào
kỷ biên niên, xếp theo lệ chính thống Đấy có lẽ là ân huệ hàng trăm năm không
Trang 15có chính thống, thái thú phương Bắc tham tàn không kể nỗi khốn khổ Một sớm
có chỗ dựa, người trong nước yên ổn tới 40 năm cho nên nhân đấy mà tôn làm Vương”[4, 96]
Sau khi Sĩ Nhiếp mất, con Sĩ Huy chống lại Ngô, đất Cửu Chân cũng bất phục tùng Ngô sai tên thứ sử Lã Đại đem quân sang tiêu diệt thế lực cát cứ của
họ Sĩ, Lã Đại cũng đem quân tiến đánh Cửu Chân, tàn sát hàng vạn người “Giặc Ngô chính hình bạo ngược, Phú Liễm không biết thế nào là cùng, vẫn một lối vơ vét của cải vô hạn định, gọi là nộp cống Lại bắt hàng nghìn, hàng vạn trai tráng đất Việt, xích trói lại đem sang Ngô bắt đi lính làm bia thịt, trong cuộc hỗn chiến phong kiến Tam Quốc: Ngụy, Thục, Ngô Trước sau với dân ta, nhà Ngô thực thi một kiểu cách “đều lấy binh uy mà ức hiếp”, kiểu cách của một chính quyền quân sự, dựa vào địa chủ thực dân Hán ở Giang Nam mà lập triều đình cát cứ”[50, 242]
Trước chính sách cai trị tàn khốc của nhà Ngô, năm 248 cả Giao Châu lẫn Cửu Chân đã nổi dậy khởi nghĩa chống nhà Ngô, đánh chiếm các thành ấp Trong phong trào chống Ngô, cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu có thanh thế vang dội hơn cả Trung tâm của quân khởi nghĩa là vùng núi Tùng Sơn, giáp ranh giữa hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình Cảm phục chí khí hiên ngang cứu nước của
Bà Triệu, dân chúng theo phục Bà rất đông Các thành ấp của giặc Ngô đều bị triệt hạ, quan lại giặc từ Thái thú đến Huyện trưởng kẻ bị giết, kẻ chạy trốn Từ Cửu Chân cuộc khởi nghĩa đã lan ra Giao Châu ở ngoài Bắc Thứ sử Giao Châu mất tích “Một câu nói, tương truyền là lời Bà Triệu phát ra trên núi nghĩa nghìn thu còn vang vọng mãi: Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang san, cởi ách nô
lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người ta”[50, 245]
Đứng trước nguy cơ tan rã của chính quyền đô hộ ở Giao Châu, triều Ngô
đã cử danh tướng Lục Dận sang đàn áp Khởi nghĩa Bà Triệu thất bại,nhưng hình ảnh người phụ nữ kiên cường bất khuất, người nữ anh hùng dân tộc, quyết nối
Trang 16chí Bà Trưng, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ muôn thuở không mờ trong tâm trí người dân Việt
Từ cuối thế kỷ thứ III đến đầu thế kỷ thứ VI triều đình trung ương phương Bắc suy yếu, sức ly tâm chính trị ở Giao Châu ngày một lớn Nam triều với các triều Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần mức độ tập quyền rất yếu, dẫn đến cơ hội cho các cuộc nổi dậy ở Giao Châu Từ triều Tấn đến triều Lương thực tế là một chính quyền cát cứ hoặc do bọn chỉ huy quân sự địa phương, hoặc ở trong tay bọn Thứ sử, Thái thú “lập nghiệp” trên đất Giao Châu lâu đời, biến thành “cư tộc” bản địa Chính những “cư tộc” này đã từng bước đứng ra nhận nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc thay thế cho các tầng lớp quý tộc, bộ lạc cũ với đại diện như Bà Trưng, Bà Triệu
Tình hình chiinhs trị ở Giao Châu vào nửa cuối thế kỷ thứ VI là một thời điểm đột phá lớn trong lịch sử hơn ngàn năm chống Bắc thuộc của dân Việt, nó đánh dấu bằng cuộc khởi nghĩa lớn của Lý Bí, sau đó là thời kỳ độc lập, tự chủ tạm thời “Vua họ Lý, tên húy là Bí người Thái Bình, phủ Long Hưng Tổ tiên là người Bắc, cuối thời Tây Hán khổ về việc đánh dẹp, mới tránh sang đất phương Nam, được bảy đời thì thành người Nam Vua có tài văn võ, trước làm quan với nhà Lương, gặp loạn trở về Thái Bình Bấy giờ bọ thú lệnh tàn bạo hà khắc, làm
ấp cướp phá ngoài biên, Vua dấy binh đánh đuổi được, xưng là Nam Đế, đặt quốc là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên”[82, 178]
Tóm lai, có thể thấy rằng khởi nghĩa của Lý Bí thắng lợi nhờ được kế tục, phát huy từ truyền thống đấu tranh giành lại độc lập dân tộc, mà cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã phất cờ đầu tiên trong thời kỳ chống giặc Bắc thuộc Nhưng đại biểu cho dân tộc thời kỳ này không còn là các lạc tướng, lạc hầu quý tộc Âu Lạc
cũ, là tầng lớp hào trưởng địa phương Việc Lý Bí xưng đế, định đô, đặt niên hiệu riêng, đúc tiền riêng, lấy Nam đối chọi với Bắc, lấy Việt để đối sánh với Hoa Những điều này nói lên sự trưởng thành vượt bậc của ý thức dân tộc, lòng
tự tin vững chắc ở khả năng tự mình vươn lên, phát triển một cách độc lập Đó là
Trang 17sự ngang nhiên phủ định quyền làm “bá chủ thiên hạ” của hoàng đế phương Bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực, khẳng định phương Nam là một thực thể độc lập, là chủ nhân của đất nước, nhất quyết làm chủ vận mệnh của mình Đây làdấu hiệu
rõ rệt thể hiện sự trưởng thành của người Việt từ trong thực tiễn bi thương Sự trưởng thành này được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau mà trong đó chúng tôi nhận thấy có kết quả của sự hội nhập và tiếp biến giữa hai nguồn mạch văn hóa từ Ấn Độ và Trung Hoa đặt trên cơ tầng văn hóa bản địa Trong đó có vai trò nổi trội thuộc về sự lan tỏa, hội nhập của văn hóa Phật giáo vào trong nền văn hóa tín ngưỡng truyền thống của người Việt và văn hóa Việt có đủ năng lực tiếp nhận sự hội nhập này
Về tình hình kinh tế
Từ đầu Công nguyên trở về sau, Việt Nam bước vào thời đại đồ sắt phát triển Công nghệ đúc đồng vẫn giữ địa vị quan trọng nhất trong việc chế tạo đồ dùng hằng ngày, đồ tế lễ, binh khí, … Trong các mộ táng thời kỳ này, tìm thấy rất ít vũ khí bằng đồng, công cụ hầu như không có Những công cụ, vũ khí chủ yếu được chế tạo bằng sắt, đến những đồ dùng nhỏ cũng được chế tạo bằng sắt Truyền thống chế tạo bằng sắt ở địa phương có từ trước Công nguyên, thời đại Đông Sơn sự truyền bá kỹ thuật rèn đúc sắt, gang từ miền nội địa Trung Quốc xuống, qua di dân Hán Sự giao lưu với Thiên Trúc (Ấn Độ), một trung tâm lớn
về sản xuất vàng, bạc, đồng, sắt, chì, thiếc hẳn cũng có tác dụng thúc đẩy nghề luyện kim miền đất Việt Trên nền tảng đồ sắt phát đạt, thông qua cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân để phát triển sản xuất nông nghiệp cũng như toàn
bộ nền kinh tế quốc dân có những bước phát triển đáng kể, là cơ sở cho đời sống tinh thần được nâng lên
Trang 18cho đất, có công cụ sắt trong tay dân có thể tiến hành khai hoang trên một diện tích đất rộng lớn hơn trước Đi đôi với việc phổ biến kỹ thuật cày bừa bằng trâu,
bò với việc sử dụng nông cụ sắt, công trình thủy lợi cũng được phát triển (đắp đê ngăn mặn, phòng lụt, đào kênh dẫn thủy nhập điền) Kỹ thuật cày bừa bằng châu,
bò, việc dùng nông cụ sắt một cách phổ biến, việc phát triển các công trình thủy lợi đê điều Khiến cho sản xuất nông nghiệp năng suất tăng lên rõ rệt Đầu thời Bắc thuộc, triều Tây Hán còn phải chở lúa gạo xuống nuôi quan lại và sĩ tốt đóng
ở Giao Chỉ Đến thời Công nguyên, số thóc thuế nhà Hán vơ vét được ở đây đã lên tới 13.600.000 hộc tương đương khoảng 272.000 tấn thóc Ở đây có sự tăng cường rõ rệt áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế Nhưng những lực lượng sản xuất vẫn lớn lên ngay dưới điều kiện thống trị ngoại bang[50, 252-253]
Bên cạnh trồng lúa, người dân còn trồng khoai, đậu và nhiều loại cây có
củ khác Ngoài làm ruộng người dân còn làm vườn, đối tượng của nghề làm vườn là các loại cây rau, dưa, cây ăn quả …
Về chăn nuôi, ngoài trâu, bò, chó, lợn, gà, vịt, người dân còn nuôi voi để cưỡi, dùng trong chiến đấu, tải đồ, kéo xe…
Tóm lại, nông nghiệp thời kỳ này có sự chuyển biến, là một nền nông nghiệp thâm canh có miệt ruộng, miệt vườn, ngũ cốc, tằm tang, ao hồ thả cá, thả rau muống, chuồng trại chăn nuôi gia súc
Thủ công nghiệp
Nhân dân Việt vốn nổi tiếng khéo tay, thành thạo trong lĩnh vực thủ công nghiệp từ lâu đời Giờ đây thủ công nghiệp cũng có những bước phát triển đáng
kể, nhiều nghề thủ công mới ra đời do học hỏi từ nước ngoài
Kỹ thuật rèn sắt đã phát triển, nghề đúc đồng thủ công vẫn sản xuất dụng
cụ gia đình, những mặt hàng mỹ nghệ như gương đồng, đồ đồng mạ vàng, đai lưng mặt nạ …
Nghề gốm tiếp tục phát triển trên vốn liếng kinh nghiệm cổ truyền, tiếp thu ảnh hưởng kỹ thuật từ Trung Quốc
Trang 19Nghề phụ quan trọng và phổ biến nhất của nhân dân Việt Nam là nghề dệt
và nghề đan lát, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa …
Giao thông vận tải và thương nghiệp
Trên cơ sở phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp, việc buôn bán trong, ngoài nước có những bước phát triển mới Những dòng sông, những con
đê ven sông và những con đường liên làng nối liền dần các huyện trong quận, các quận trong châu lại với nhau
Đường biển là con đường thông thương quan trọng, nối liền Giao Châu với Trung Quốc Biển cũng là gạch nối giữa Giao Châu và Champa cùng các nước miền biển phương Nam và Ấn Độ Dương
Ở giai đoạn trước cũng như giai đoạn này, người ta thấy tại Giao Châu đã hình thành nên những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa – tôn giáo, ở đồng bằng dọc theo những con sông lớn: Long Biên trên sông Cầu và Ngũ Huyên Khê, Luy Lâu trên sông Dâu, sông Đuống, Mê Linh trên sông Nhị, có thành và
có thị Trung tâm chính trị, quân sự cũng dần dần trở thành trung tâm kinh tế, có chợ, có bến, trên bến dưới thuyền hình thành nên chợ búa Ngoài mạng lưới chợ quê là chợ huyện, chợ quận, chợ châu Luy Lâu, Long Biên có nhiều quan, quân Hoa Hán, cũng có nhiều ngoại kiều tới trú ngụ, buôn bán và truyền đạo Ngoài người Hán còn có người Hồ (Ấn Độ, Trung Á) và các cư dân phi Hoa, phi Việt khác, tiền đồng Trung Quốc vẫn lưu hành Như vậy, từ đầu Công nguyên (hay trước đó ít lâu) đã tồn tại các luồng thương mại quốc tế, bắt đầu từ hải cảng A –
lê – xăng đri tỏa sang Nam Ấn Độ, đến Miến Điện và thông với Trung Quốc Mặt khác họ tiếp tục vượt biển qua miền bán đảo Đông Dương mà giao thiệp buôn bán với Nam Hoa[50, 275-260]
Việc trao đổi giữa Giao Châu với các nước cũng có tác dụng kích thích nhất định đối với việc phát triển nền kinh tế cũng như văn hóa Một số mặt hàng thủ công của nước ta được xuất cảng, một số kỹ thuật của nước ngoài được nhân
Trang 20dân ta tiếp thu Qua trao đổi kinh tế, việc giao lưu văn hóa giữa các nước cũng được đẩy mạnh
Về mặt xã hội
Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VI, như phần trên phân tích, sức sản xuất tại làng xã, với nhiều công cụ và dụng cụ bằng sắt, tre, gỗ, đá, tuy bị kìm hãm nhiều song cũng dần dần phát triển Rõ ràng sản xuất qua xã hội Giao Châu ở thời Bắc thuộc mang tính chất hai mặt đối kháng Mỗi bước tiến trong sự phát triển sản xuất, mua được bằng những hy sinh đau khổ tận cùng của nhân dân lao động Từ thời Mã Viện, chế độ lạc tướng đã bị xóa bỏ, chính quyền đô hộ đã nắm giữ được cấp huyện, nhưng nó vẫn không khống chế nổi cơ sở hạ tầng của
xã hội Giao Châu là những làng xã
Cơ cấu làng xã vẫn là những “bầu trời riêng” của người Việt trên ý nghĩa
đó ta có thể nói rằng: người Việt mất nước nhưng làng không mất Do không nắm được cơ sở bên dưới của xã hội, nhà Hán chủ trương muốn giữ được đất đai mới chiếm được, phải thực hiện chính sách đồn điền, dời tội nhân, dân nghèo người Hán xuống ở lẫn với người Việt, xâm chiếm và khai phá ruộng đất, lập đồn điền Do cống phu, tô thuế nặng nề, do chiến tranh và thiên tai phá hoại mùa màng, do ruộng đất công dần dần bị quan lại đô hộ và hào trưởng địa phương xâm đoạt, nhiều dân làng người Việt bị phá sản, phải bán mình, bán vợ, đợ con cho các nhà quyền quý Hoa Việt để làm nô tì
Như vậy, bên cạnh sự tồn tại phổ biến của các làng xã mang tính chất ít nhiều tự trị, đã xuất hiện một số nhỏ đồn điền của chính quyền đô hộ, một số trại
ấp của bọn quan lại, địa chủ gốc Hán ở nước ta “sinh cơ lập nghiệp” cùng một số thị trấn xóm làng người Hoa Một hiện tượng xã hội rất quan trọng xảy ra trong thời đại Bắc thuộc là những trào lưu di dân từ phương Bắc xuống nước ta Đó là những người Hán phạm tội bị lưu đày, những người dân từ nội địa Trung Quốc
di cư xuống phía Nam Cuối đời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc, miền Trung
Trang 21Nguyên rối loạn, các sĩ phu Trung Quốc sang Giao Châu lánh nạn, nương tựa Sĩ Nhiếp có hàng trăm người
Những sĩ phu, những quan lại người Hán lập nghiệp nhiều đời ở Giao Châu dần dần đã Việt hóa Trong số đó không ít người trở thành những địa chủ, những dòng họ có thế lực ở Giao Châu Tầng lớp hào trưởng địa phương người Việt hẳn vẫn dựa trên cơ sở ruộng đất công hữu của các vùng xóm làng và thao túng việc phân phối ruộng đất, hoa lợi ruộng đất công, bóc lột nhân dân Sử Trung Quốc không nói đến họ có nhiều ruộng đất hay không, chỉ nói rằng họ giàu có về châu, bò, trống đồng, châu báu, nô tì và hùng cứ ở hương thôn
Tóm lại,từ thế kỷ thứ II một số người Việt (như Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng …) xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội được đi học chữ Hán, sau đó thi
đỗ và được làm quan Nhìn chung, tầng lớp hào trưởng địa phương người Việt bị lấn hiếp về kinh tế, chèn ép về chính trị, vì vậy họ có nhiều mâu thuẫn với bọn quan lại và chính quyền Trung Hoa Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào nhân dân chống chính sách đồng hóa của kẻ xâm lược, tầng lớp hào trưởng địa phương người Việt ngày càng có tinh thần dân tộc mạnh mẽ Vai trò lịch sử của
họ là lãnh đạo phong trào nhân dân vùng lên quật đổ chính quyền đô hộ, giành lại quyền độc lập tự chủ Họ còn có vai trò chủ động tiếp biến Phật giáo thành yếu tố có lợi cho sự nghiệp khôi phục quyền tự chủ, thừa nhận sự lựa chọn của dân chúng với Phật giáo
1.1.2 Điều kiện Văn hóa, tín ngưỡng
Từ trong các làng xã, người Viêt sống trong điều kiện bị Bắc thuộc vẫn có
ý thức bảo tồn và phát huy cái vốn liếng văn hóa bản địa, nội sinh tích lũy qua hàng nghìn năm về trước Đành rằng trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân phải sống cảnh “chim lồng, cá chậu” luôn bị áp đặt văn hóa ngoại lai chủ yếu mang tính cưỡng bức Nhưng xã hội bao giờ cũng là xã hội của nhân dân, nhân dân vẫn sống trong một môi trường sinh thái cụ thể quen thuộc, không ngừng đấu tranh
để phát triển văn hóa tự mở lấy đường đi
Trang 22Trong thời kỳ Bắc thuộc, giao tiếp văn hóa Việt – Hán khi đó được diễn ra dưới hình thức cưỡng bức Tuy vậy, ngay dưới chế độ cưỡng bức và bóc lột thống trị, bị trị, trên quan hệ giữa các cộng đồng tộc người, nhân dân ta phân biệt con đường truyền bá văn hóa cưỡng bức của bọn thống trị và con đường tiếp xúc, giao lưu văn hóa tự nguyện của nhân dân đôi bên Đất nước ta tuy rất xa miền nội địa Trung Quốc, nhưng từ sông Trường Giang trở về Nam, đồng bằng Nhị Hà là một dải châu thổ rộng lớn, phì nhiêu, thu hút nhiều người phương Bắc xuống sinh sống và lập nghiệp ở Giao Châu, tạo điều kiện cho sự xâm nhập của các thiết bị vật chất, kỹ thuật cũng như những thiết chế xã hội – văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng
từ Hán vào xã hội Việt
Tuy nhiên, quá trình tiếp xúc văn hóa Hán – Việt không chỉ có một chiều như vậy, nhiều thành quả văn hóa vật chất của nhân dân ta truyền sang miền nội địa Trung Hoa, như kỹ thuật trồng lúa hai vụ, trồng khoai lang, kỹ thuật làm đường mía… Mặt khác, trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á, với vị trí địa lý thuận lợi và tài nguyên phong phú của mình, Giao Châu còn có quan hệ trao đổi kinh tế, văn hóa với nhiều nước miền biển phương Nam, với Ấn Độ, Ba Tư, với miền Trung và Trung Cận Đông Do đó, văn hóa Việt cổ cũng hấp thu một số thành tựu văn hóa của nước đó Giao Châu là một cái cầu chuyển tải văn hóa Đông Nam Á, Ấn Độ, phương Tây vào nội địa Trung Hoa Giao Châu và bán đảo Đông Dương nói chung, đóng vai trò trung gian của sự giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và Trung Quốc, giữa Đông và Tây
Với bề dầy văn hóa cổ truyền, hình thành rõ nét bản sắc, trong quá trình tiếp thu văn hóa ngoại lai, người Việt vẫn giữ được bản sắc riêng của mình, đồng thời tiếp thu những yếu tố văn hóa ngoại lai phù hợp với văn hóa “Trên cơ sở một vốn liếng văn hóa bản địa vững chắc, hấp thu các yếu tố văn hóa Đông Nam
Á, Ấn Độ, Trung Á và Tây Á … có tác dụng trung hòa ảnh hưởng to lớn của Trung Hoa khiến cho văn hóa Việt cổ thời Bắc thuộc vẫn mang tính chất độc đáo, đặc thù khác và vẫn có thể phân biệt với văn hóa Trung Hoa và vẫn duyên
Trang 23dáng mềm mại hơn trong sắc thái hòa đồng văn hóa Điều đáng tự hào là ở chỗ, trong khi chịu ảnh hưởng của những quốc gia và những nền văn minh lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, và mặc dù sự giao lưu với Trung Quốc tiến hành dưới hình thức cưỡng bức, nhân dân ta đã biết “dân tộc hóa” những yếu tố vay mượn Nhân dân ta đã biến những của cải đi vay thành tài sản của dân tộc đặng bồi dưỡng xây dựng và phát triển nền kinh tế và văn hóa dân tộc”[50, 269]
Từ Lạc Việt, Âu Việt đến Việt và Nam ở thế kỷ thứ VI (và tiếp tục sau đó), trải qua nhiều thế kỷ ở nơi đây, trên đất Giao Châu này đã diễn ra quá trình hòa trộn, dung hợp nhiều tộc người, chủ yếu là dung hợp Việt cổ - Hán về các phương diện nhân chủng, văn hóa, xã hội Song phương hướng chủ yếu là Việt hóa (ngược với vùng đất Việt khác ở trên cũng có sự dung hợp Việt – Hán sang phương hướng chủ yếu là Hán hóa) Khi kẻ địch ồ ạt kéo quân xuống xâm chiếm đất đai, đàn áp tàn bạo nhân dân ta, đại bộ phận người Việt không rời bỏ nơi chôn nhau, cắt rốn của mình đi di tản, trái lại vẫn kiên trì bám đất, bám làng, bám chắc địa bàn sinh tụ của dân tộc, đấu tranh để sinh tồn phát triển
Biểu hiện rõ rệt của sự bảo tồn giống nòi và văn hóa Việt được chống đồng hóa là sự bảo tồn tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ, tiếng nói của dân tộc Tiếng nói
là một thành tựu văn hóa, là một thành phần của văn hóa Tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ được xác lập từ xưa ở miền Đông Nam Á, điều đó chứng tỏ cái gốc tích lâu dài, bản địa của dân tộc ta trên dải đất này Trong thời Bắc thuộc, tiếng Việt hấp thu nhiều yếu tố ngôn ngữ Hán, ngay cả trong vốn từ vị cơ bản và trong các hư từ, nhưng nhân dân ta đã hấp thu ảnh hưởng Hán ngữ một cách độc đáo, sáng tạo, Việt hóa từ ngữ ấy bằng cách dùng, cách đọc, tạo thành lớp từ mới, sau này ta gọi là lớp từ Hán – Việt
Từ thời Hùng Vương, đã có nền phong hóa riêng của người Việt cổ, tuy còn giản dị, chất phác Đến thời Bắc thuộc, bọn đô hộ gia sức đưa vào nước ta nhiều thứ lễ giáo Trung Hoa, ở những mặt nhất định có ảnh hưởng trực tiếp đến phong hóa Việt Tuy nhiên, khả năng thích ứng mạnh mẽ với mọi tình thế, người
Trang 24Việt vẫn giữ gìn được truyền thống dân gian của nền phong hóa Việt Những mặt
lễ giáo của Trung Hoa ít nhiều tăng cường sự áp chế trong gia đình và củng cố chế độ phụ quyền (từ đầu Công nguyên trở về trước tính chất phụ quyền trong gia đình Việt còn mờ nhạt), mặt khác nó không thể ngăn cản được sự củng cố ở mức nhất định những phong tục truyền thống của xã hội làng xóm người Việt Ví như lòng tôn kính tổ tiên và biết ơn với cha mẹ tổ tiên, đối với dân tộc ta, những tổ tiên được biết ơn hơn hết là người có công dựng nước và giữ nước Bất chấp sự ngăn chặn, cấm đoán của bọn đô hộ, các đến thờ Vua Hùng, Vua Thục, Tản Viên, Hai Bà Trưng, Bà Triệu và các nữ tướng, … vẫn được người Việt xây dựng
Nét đặc biệt, lòng tôn vinh, kính trọng phụ nữ của phong hóa Việt cổ, lễ giáo Trung Hoa có đặc trưng là sự khinh miệt phụ nữ cố sức thắt chặt họ vào cỗ
xe “tam tòng, tứ đức” nhưng vẫn không ngăn cản được truyền thống dũng cảm đánh giặc, lãnh đạo nhân dân đánh giặc của Hai Bà Trưng, Bà Triệu… Vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội vẫn được đề cao Cùng với phong tục dùng trống đồng, nhiều tục lệ cổ truyền khác vẫn được giữ vững như tục cạo tóc hay búi tóc, xăm mình, chôn cất người chết trong quan tài hình thuyền, thân cây khoét rỗng, tục nhuộm răng, ăn trầu cau Phần cốt lõi của văn hóa tinh thần, là tư tưởng ngày trước thường biểu hiện chủ yếu dưới hình thức tín ngưỡng, tôn giáo …
Phong tục tập quán thời đầu Bắc thuộc nhìn chung còn thuần hậu chất phác Đó là phong hóa và tín ngưỡng của một cư dân sống trong khung cảnh của nền văn minh nông nghiệp lúa nước đang phát triển Tín ngưỡng của người Việt
là tín ngưỡng đa thần, trong đó có nhiên thần và nhân thần
Tục thờ đá: Núi là nơi con người sinh ra, con người từ trên núi xuống
đồng bằng rồi ra biển Núi nối với trời cao là biểu hiện của sự linh thiêng, nơi có nhiều kỳ quan (tiên cảnh), nhất là hang động với những hình thù kỳ lạ của thạch nhũ, thường là nơi trú ngụ của thần linh, có đường lên trời, có đường hầm xuống
Trang 25sâu lòng đất … Núi là biểu tượng cho sự vững chắc trường tồn, người Việt thờ thần núi khắp nơi Hầu như các công trình thờ phụng đều đặt trên núi, đến như giữa Hà Nội, không có núi người ta phải đắp núi để thờ, đó là núi Nùng Theo quan niệm của người Việt, đá là phần cứng rắn nhất của núi, là hình núi thu nhỏ,
là nơi trú của thần linh, trở thành bùa hộ mệnh của cả cộng đồng
Tục thờ thần sông, biển, thần nước: Nước ta là văn hóa sông nước (lục
địa) và biển cả (hải đảo) Sông, biển hùng vĩ với con người là quyền năng vô hạn Khi hiền hòa thì cho con người mọi thứ, nhất là nước để sống, nhưng khi giận dữ thì thật kinh hãi; lụt lội cuốn băng những gì có trên mặt đất Từ thờ thần sông, biển, con người thờ thần nước để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, con người được rửa mát, hưởng hạnh phúc Có thể nói, thờ thần nước rất sôi động và có mặt trong nhiều lễ hội, tập trung vào giai đoạn chuyển mùa – vào mùa mưa và bắt đầu vào vụ sản xuất của người Việt
Nghi lễ phồn thực và tục thờ sinh thực khí: Tín ngưỡng phồn thực là
chung của cư dân nông nghiệp, nó được thể hiện phong phú và rất sớm trong đời sống xã hội người Việt Tư duy âm – dương tương hợp được hình thành trước sự sinh sôi nảy nở của con người và muôn vật thông qua sự giao phối đực - cái, đàn ông - đàn bàn Đặc biệt, là ma lực kích động hấp dẫn của tình dục, con người đã thần thánh hóa ma lực và thờ phụng để cầu xin sự sinh sôi nảy nở và liên tưởng đến sức mạnh sinh sản của đất đai, sự giao hòa giữa trời (dương) và đất (âm) sẽ mang lại sức sống, sự sinh sôi nảy nở Người ta thờ sinh thực khí (Yoni – linga),
Trang 26tổ chức các trò diễn trong các lễ hội dưới hình thức ma thuật thiêng liêng, nhằm kích động tính dục của thần thánh, trời đất, ruộng đồng, cây cối … để cho cây trồng đơm hoa kết trái, vật nuôi sinh đẻ nhiều, con người sinh con đẻ cái,… [23,
103 -104]
Thờ nhân thần: Bắt nguồn từ tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình, sau được
mở rộng thành tục thờ cúng những người có công với cộng đồng, những ông tổ nghề, tổ làng, tổ cả nước, tổ tiên là những người đã khuất Việc thờ cúng bắt nguồn từ hai quan niệm; một là chết không phải là hết, người thân chết vẫn có mối quan hệ gần gũi với những người đang sống trong gia đình, phải thờ cúng để
tổ tiên phù hộ độ trì và không quấy phá Hai là “uống nước nhớ nguồn” thờ cúng những người đã khuất để tỏ lòng tưởng nhớ đến công ơn sinh thành Đó là sợi dây bền vững xuất phát từ tình cảm cộng đồng nối quá khứ với hiện tại và tương lai tạo nên tính liên tục trong sự đứt đoạn của các cộng đồng tộc người từ gia đình, làng nước
Ngoài những tổ tiên trong gia đình, những người khi sống có công lao với đất nước, cũng được người Việt thờ cúng để tưởng nhớ công ơn như: Bà Trưng,
Bà Triệu,… thờ Vua Hùng để nhớ về nguồn gốc của người Việt
Như vậy, tất cả những tín ngưỡng nguyên thủy trên đây được khuôn vào
ba yếu tố chủ yếu: Tín ngưỡng đa thần, tín ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Chúng thâm nhập, đan xen vào với nhau, vô cùng huyền bí Trên nền tín ngưỡng của người Việt, các tôn giáo ngoại lai du nhập vào và cấy lên làm cho nó càng thêm đa dạng, pha trộn, rất khó bóc tách và nhận thức một cách minh bạch
Nho giáo: vốn là những tư tưởng triết lý, luân lý, đạo đức, thể chế cai trị
đã có ở Trung Hoa từ thời Tam Đại, nhất là thời Chu, đến cuối đời Xuân Thu (thế kỷ thứ VI – V TCN) được Khổng Tử và các môn đệ của ông hệ thống hóa, rồi sau này soạn thành kinh (Ngũ kinh, Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu); những Thư (là tứ Thư, Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử) tạo thành Khổng
Trang 27giáo, kinh điển của Nho gia Nho giáo, còn gọi là Khổng giáo, từ thời Hán trở đi dần dần trở thành ý thức tư tưởng chính thống nhất của giai cấp thống trị Trung Hoa Nho giáo chủ trương “tôn quân, đại thống nhất” Ba cương lĩnh cơ bản của Nho giáo (tam cương) là “Đạo Vua – tôi”, “Đạo cha – con”, “Đạo chồng – vợ”
Cùng với “tam cương” là “ngũ thường” năm phép ứng xử luân lý và đạo đức là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Lễ đặc biệt được đề cao “tiên học lễ”, tức là tôn trọng trật tự đẳng cấp hiện hành Mẫu người lý tưởng của đạo Nho giáo là người
“quân tử” tức là người cúi mình tuân theo mệnh trời (thiên mệnh), trung với Vua, hiếu với cha, mẹ…
Ngay từ thời Tây Hán, trong chừng mực nhất định, “lễ giáo” Nho giáo đã bắt đầu thâm nhập vào xã hội Việt cổ làm công cụ nô dịch nhân dân ta về tư tưởng và tinh thần “Nho giáo với nội dung như trên hoàn toàn không hợp với một xã hội vừa mới thoát thai từ thời Văn Lang – Âu Lạc, chế độ lạc hầu, lạc tướng như xã hội nước ta hồi đầu Bắc thuộc Dân ta lúc bấy giờ không cần Nho giáo, Nho giáo vào nước ta bị bọn thống trị Trung Quốc áp đặt Thế nhưng tình hình về sau có khác Khi nền tảng và cơ cấu xã hội Việt Nam ít nhiều mang tính chất phương Bắc thì Nho giáo lại là một yêu cầu, một thứ học thuật tư tưởng mà người trong nước cần phải tiếp thu”[84, 79]
Từ đầu Công nguyên hai thái thú ở Giao Chỉ, Cửu Chân là Nhâm Diên, Tích Quang “dựng học hiệu dạy lễ nghĩa” Đời Hán Minh đế (58 – 75), người Giao Châu là Trương Trọng, chăm học ăn nói giỏi được cử làm kế lại quận Nhật Nam, sau được cử làm thái thú Kim Thành Đến thế kỷ thứ II, có Lý Tiến, Lý Cầm học giỏi thi đỗ ra làm quan vào thời Hán
Đến khi Sĩ Nhiếp, đời Nam Hán Mạt – làm thái thú ở Giao Chỉ thì Nho giáo và việc học Nho được phổ biến rộng rãi hơn trước trong tầng lớp quý tộc thống trị ở Giao Châu Nói về công lao của Sĩ Nhiếp trong việc truyền bá Nho giáo sử thần Ngô Sĩ Liên nói “Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, là một nước
Trang 28văn hiến là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đến sau, há chẳng lớn sao? Con không hiền là tội của con thôi”[50, 164]
Mục đích của việc truyền bá Nho giáo ở nước ta lúc bấy giờ là để đào tạo lên những người làm việc cho chính quyền Hán Trước hết là con em người Hán thống trị ở Giao Châu và sau đó là những người chạy loạn từ Trung Hoa sang, vì
lý do nào đấy đã ở lại Nhưng người Việt cũng tham gia học, một số người trong
họ yên tâm phục vụ chính quyền đô hộ, học Nho là để sử dụng, cũng có người học Nho để nắm được kiến thức đương thời, để có thêm cơ sở suy nghĩ về tương lai đất nước mình còn đang rối ren, chưa tìm ra manh mối
Sang thời Tam Quốc – Lục Triều, ở Trung Hoa, Nho giáo tạm thời đình đốn, Phật giáo và Lão giáo thịnh hành hơn Song Nho giáo vẫn được tiếp tục truyền bá, tuy không bao giờ có thể coi là rực rỡ tại Giao Châu Thời Tôn Quyền (225 – 252), Ngu Phiên bị đày sang Giao Châu, tuy là thân tù tội nhưng giảng học không biết mệt mỏi, môn đồ thường có đến vài trăm người Đỗ Tuệ đời Tống – Tấn cũng chăm mở mang trường học nhằm truyền bá ý thức hệ Nho giáo Tống thư chép rằng: Đỗ Tuệ cấm đoán thờ cúng bậy bạ, hẳn là cấm những tín ngưỡng cổ truyền của người Việt Trong thời kỳ này, chế độ sĩ tộc rất thịnh hành, tầng lớp quý tộc phân biệt thứ bậc, thân sơ, tôn ti rất kỹ càng, nhân thế sĩ phu chuyên tâm nghiên cứu và chú giải kinh lễ, đặc biệt là phần tang lễ Từ đó,
lễ giáo được xem là yếu tố chủ yếu của Nho giáo
Như vậy, trong những chừng mực nào đó, Nho giáo ít nhiều thâm nhập vào xã hội Việt Nam Nhưng Nho giáo chưa thể xem là thịnh hành trên đất Việt
Số người được học hành, đỗ đạt chẳng có là bao, vả lại việc truyền bá Nho giáo vào đất Việt theo gót chân của quân xâm lược nên bị người Việt phản ứng quyết liệt Vì vậy, Nho giáo trong thời đầu Bắc thuộc chỉ phát triển ở một vài trung tâm châu trị, quận trị
Cùng với Nho giáo, Lão – Trang và Đạo giáo cũng được truyền sang đất Việt và trở thành một bộ phận trong tư tưởng, quan niệm của người Việt Đạo
Trang 29Lão – Trang (Đạo gia), là đạo phải suy tôn Lý Đam (Lão Tử) làm tổ sư Tương
truyền Lão Tử về cuối đời viết sách Đạo đức kinh để lại cho đời rồi đi về phía
Tây (từ đây hình thành nên huyền thoại Lão Tử thành Phật ở đất Hồ) Đặc trưng
có Đạo gia là đạo xuất thế, chủ trương “vô vi”, thoát tục cởi bỏ mọi ràng buộc của xã hội, thuận theo tự nhiên
Người kế tục, phát triển xuất sắc tư tưởng Lão Tử là Trang Chu (Trang Tử), sống ở thời Chiến Quốc, tác giả Nam Hoa kinh đầy hình tượng văn học, với phong cách lãng mạn, miêu tả con người lý tưởng là “chân nhân” Lối sống “chân nhân” gọi là “tiêu giao”, tự do, tự tại, tự nhiên hòa cùng thiên nhiên Tư tưởng Lão Trang đưa con người đến trạng thái siêu việt, tâm linh có ảnh hưởng nhiều đến thơ ca Trung Quốc và ảnh hưởng lớn đến sự hình thành Thiền tông của Phật giáo Trung Hoa
Đạo Lão – Trang trong thời kỳ Bắc thuộc chủ yếu lưu hành trong số người Hán, những người thất thế trên con đường chính trị và bị ngược đãi tìm đến Lão – Trang để an ủi mình, để yên với số phận Ảnh hưởng này lúc đầu trong số người Việt chưa nhiều, có chăng chỉ là dấu vết của khuynh hướng tự do, tự tại thể hiện trong các nhà Nho kiêm nhà thơ Việt chịu ảnh hưởng tư tưởng sách Nam Kinh của Trang Tử và thơ văn của Đào Tiềm thời Tấn Phải đến cuối thời
kỳ Bắc thuộc khi các Thiền phái Trung Quốc truyền sang ta, tư tưởng Lão Trang trong Thiền tông mới ảnh hưởng rõ nét đến các nhà tu hành Việt Nam
Nhưng Đạo giáo thì ảnh hưởng rõ rệt, Đạo giáo là một tôn giáo của Trung Quốc, không liên quan gì đến tư tưởng của Lão – Trang Nó dựa một cách hình thức vào khái niệm “Đạo” của Lão Tử và thờ Hoàng đế Lão Tử Sau khi thần thánh hóa Lão Tử, từ đó người ta quen gọi là Đạo giáo
Đạo giáo có nguồn gốc từ tín ngưỡng Sa – man giáo và ma thuật giáo của Trung Quốc và vùng du mục lân cận cổ đại hỗn hợp với rất nhiều mê tín và phương thuật dân gian và cung đình như đoán mộng, xem sao, bói rùa, cúng quỷ thần, đồng cốt, cầu tiên, chữa bệnh bằng bùa phép luyện đan Trong Đạo giáo chia thành Đạo giáo phù thủy và Đạo giáo thần tiên Đạo giáo phù thủy có đại diện tiêu biểu là Vu Cát sống ở cuối thế kỷ thứ II đầu thế kỷ thứ III tại đất Ngô,
Trang 30có biệt tài làm phù thủy (vẽ bùa trong nước), chữa bệnh hiệu nghiệm như thần Đạo giáo thần tiên có đại diện tiêu biểu là Cát Hồng sống ở thời Đông Tấn (326 – 334) ông là người ham mê luyện đan để cầu sống lâu và viết sách thần tiên Đạo giáo thần tiên và phù thủy đều ảnh hưởng đến nước ta trong thời Bắc thuộc Các quan lại nhà Hán ở đây ngoài Nho giáo, ít nhiều chịu ảnh hưởng của Đạo giáo Mâu Tử ở cuối thế kỷ thứ II, chạy sang Giao Châu từng đọc sách của Đạo giáo nhưng có thái độ hoài nghi “Mâu Tử đã học kinh truyện Chư Tử, sách không kể lớn nhỏ, không quyển nào không thích, tuy không ưa binh pháp nhưng vẫn đọc, tuy đọc sách thần tiên bất tử, dẹp mà không tin cho là dối trá”[72, 263]
Sĩ Nhiếp cũng là người tin theo Đạo giáo “Vương mất, trước Vương ốm, đã chết
đi ba ngày, người tiên là Đổng Phụng cho một viên thuốc hòa vào nước ngậm, rồi đỡ lấy đầu mà lay động, một chốc lát mở mắt động tay, sắc mặt bình phục dần dần, ngày hôm sau ngồi dậy được, bốn ngày lại nói được, rồi trở lại bình thường”[82, 164] Chính Cao Biền tiết độ sử An Nam thời Đường là người rất tin theo Đạo giáo, còn người Việt Nam lúc bất giờ vừa chịu ảnh hưởng Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy Chịu ảnh hưởng của Đạo giáo phù thủy vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ sung những nội dung cần thiết mà tín ngưỡng dân gian chưa có, vì đó là con đường hy vọng để khắc phục những khổ đau, bệnh tật, tuy hy vọng đó chỉ mang tính chất an ủi Tin theo Đạo giáo thần tiên vì người Việt vốn có tâm hồn lãng mạn, muốn có cuộc đời dài lâu, muốn có cuộc sống tốt đẹp Những hình tượng sơ nguyên của Lạc Long Quân, Tản Viên, Sơn Tinh, Phù Đổng Thiên Vương, … đều dần dần bị Đạo giáo hóa và thần tiên hóa
Như vậy cùng với Nho giáo, Đạo giáo thì Phật giáo cũng được truyền sang Giao Châu và trở thành một tôn giáo, một học thuyết về giải thoát có ảnh hưởng từ thời đầu Bắc thuộc
2.1 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo từ đầu Công nguyên đến thế kỷ thứ VI
2.1.1 Thời gian và địa điểm du nhập của Phật giáo vào Việt Nam
Thời gian Phật giáo du nhập vào nước ta hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau Câu chuyện huyền thoại liên quan đến sự có mặt sớm nhất của Phật
giáo ở nước ta là “Truyện Nhất dạ trạch” trong Lĩnh Nam trích quái của Vũ
Trang 31Quỳnh và Kiều Phú Truyện kể rằng vào đời Hùng Vương thứ 3 “Có người lái buôn giàu có nói rằng: “Quý nhân bỏ một dật vàng ra ngoài mua vật quý, sang năm có thể thành mười dật” Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng chúng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do trời phú cho, nay hãy đem vàng cùng phú thương ra bể buôn bán” Có núi Quỳnh Viên, trên núi có am nhỏ, bọn lái buôn thường ghé lại uống nước Đồng Tử lên am chơi, có tiểu tăng tên gọi Ngưỡng Quang truyền phép cho Đồng Tử, Đồng Tử lưu học ở đó, giao tiền cho lái buôn mua hàng Sau lái buôn quay lại chở Đồng Tử về Sư tặng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón mà nói rằng: “Linh thiêng ở những vật này đây” Đồng Tử về giảng lại đạo Phật, Tiên Dung bèn giác ngộ, bỏ phố phường, chợ búa, cơ nghiệp rồi cả hai đều tìm thày học đạo”[62, 51]
Năm 257 trước Công nguyên, đất nước của Vua Hùng đã về tay Thục Phán (An Dương Vương) Theo truyền thuyết từ đời Hùng Vương thứ 3 đến An Dương Vương còn 17 đời Vua nữa Nếu vậy, Phật giáo phải truyền vào nước ta trước năm 257 trước Công nguyên, khoảng hai đến ba thế kỷ nữa
Hòa thượng Thích Đức Nghiệp trong sách Đạo Phật Việt Nam đã viết:
“Biết rằng Đồ Sơn là một địa danh, chỉ cách Hải Phòng 12 km thì chắc chắn, vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch, hai ngài Sona và Uttara đã tới đây thuyết pháp và cùng với nhân dân địa phương đã xây bảo tháp Asoka để kỷ niệm”[57, 28]
Tác giả sách trên viết tiếp cuộc nói chuyện với một cụ ông ở địa phương sau một lần đi chiêm bái thắng cảnh chùa Hang – Cốc Sơn tự (Đồ Sơn – Hải Phòng): “Thời xưa vào cuối thời Hùng Vương, ở đây có một vị sư tên là sư Bần (Bần tăng), người Ấn Độ, lập bàn thờ Phật và tu ở trong hang núi này và sau đó cũng viên tịch ở đây Bởi vậy, dân địa phương gọi là chùa Hang, hay Cốc Sơn tự Biết rằng khi còn bình sinh sư Bần có giảng đạo cho Chử Đồng Tử”[57, 32]
Từ những căn cứ trên, Hòa thượng Thích Đức Nghiệp khẳng định, Phật giáo bắt đầu truyền vào Việt Nam 300 năm trước Thiên chúa Nghĩa là tới nay (1994, Phật lịch 2537), được 2300 năm
Trang 32Học giả Lê Mạnh Thát, trong cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1 (từ
khởi nguồn đến thời kỳ Lý Nam Đế), đã căn cứ vào truyện Chử Đồng Tử và
những thư tịch cổ để xác định nhà sư Phật Quang xuất hiện ở cửa Sót vào thời điểm nào? “Thực tế thì ngay trong sử ký ta đã tìm thấy những tiếng Phạn được phiên âm ra tiếng Trung Quốc, cụ thể như từ Lưu Ly, điều này cho thấy nước Trung Quốc đã biết nước Ấn Độ từ lâu Nói cách khác, từ những thế kỷ đầu Dương lịch Quan hệ buôn bán giữa thương nhân hai nước Ấn Độ và Trung Quốc đã được thiết lập… Nói cách khác là vào những thế kỷ trước và sau Dương lịch, đã có những quan hệ giữa Trung Quốc và các nước khác về đường biển thông qua Việt Nam Cho nên, giả thiết sự tồn tại của nhà sư Phật Quang giữa thế kỷ thứ III hay thứ II trước Dương lịch có thể chứng minh được”[74, 25]
Như vậy, theo học giả Lê Mạnh Thát, Phật giáo truyền vào nước ta vào khoảng thế kỷ thứ III hay thứ II trước Công nguyên
Bên cạnh những quan điểm trên cho rằng Phật giáo truyền vào nước ta từ trước Công nguyên, còn có những quan điểm khác lại cho rằng Phật giáo truyền vào nước ta khoảng những thế kỷ đầu Công nguyên Dưới đây là những quan điểm tiêu biểu
Trong cuốn: Thiền uyển tập anh, có ghi lại câu hỏi của Hoàng Thái hậu Ỷ
Lan đã nêu lên với Thông Biện về đạo Phật được truyền vào nước ta từ bao giờ (năm 1096), Thông Biện quốc sư đã dẫn lời Đàm Thiên để trả lời: “Giao Châu
có đường thông với Thiên Trúc, khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp thì ở Giao Châu đã có hơn hai mươi ngôi bảo sát, độ được hơn năm trăm vị tăng,
và dịch được mười lăm quyển kinh rồi” Như vậy là do Phật giáo đã truyền đến Giao Châu trước Bấy giờ ở bên ấy đã có các vị tăng như Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác,…”[81, 84]
Theo câu trả lời này, Phật giáo truyền vào Trung Quốc, Việt Nam đã có một nền Phật giáo tương đối hoàn chỉnh, tức bao gồm chùa chiền, một đoàn thể tăng sĩ và kinh sách đầy đủ Điều đáng tiếc là Thông Biện không cho ta biết Phật giáo truyền vào nước ta cụ thể vào khi nào? Tuy nhiên, căn cứ vào những nhân
Trang 33vật ông đưa ra thì vào khoảng thế kỷ thứ II, thế kỷ thứ III Dương lịch ở nước ta
đã có nền Phật giáo tương đối hoàn chỉnh
Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, phần viết về Sỹ Nhiếp cũng có nói
đến Phật giáo: “Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết, kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có mấy mươi người”[82, 163] Sĩ nhiếp còn được biết đến trong lịch sử Phật giáo khi ông là người ra lệnh tạc tượng Tứ Pháp Như vậy, với những cứ liệu trên, đồng thời căn cứ vào niên đại của thời Sĩ Nhiếp, có thể thấy rằng Phật giáo có mặt ở
nước ta từ thế kỷ thứ II Nguyễn Lang trong: Việt Nam Phật giáo sử luận, đưa ra
quan điểm sau: “Đạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch Tài liệu chắc chắn cho rằng vào hạ bán thế kỷ thứ hai, tại nước ta đã có một trung tâm Phật giáo phồn vinh và quan trọng rồi, nhưng có thể đạo Phật du nhập vào nước ta trong thế kỷ đầu của kỷ nguyên”[49, 15] Như vậy, theo Nguyễn Lang, Phật giáo du nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ I Công nguyên
Nguyễn Duy Hinh trong cuốn: Tư tưởng Phật giáo Việt Nam đã căn cứ vào
nhiều sử liệu khác nhau, nhất là tài liệu Sĩ Nhiếp để đưa ra quan điểm của mình
“Người ta giải thích người Hồ là người Ấn Độ, người Hồ đốt hương là nhà sư Ấn
Độ đến Dâu gia nhập vào tập đoàn Sĩ Nhiếp Sĩ Nhiếp làm Thái thú Giao Chỉ năm
187, bức thư ghi vào biên niên năm 207, trong thư nói Sĩ Nhiếp cầm quyền đã hơn 20 năm thì tương đối phù hợp Nhưng như vậy, người Hồ cầm hương theo hầu Sĩ Nhiếp sớm nhất là năm 187 Liệu người Hồ đến Dâu từ đó hay trước đó? Trước đó bao lâu? Quan hệ Đông Dương với Ấn Độ có khá sớm ít ra từ đầu Công nguyên, nghĩa là 200 năm trước thời Sĩ Nhiếp Có ba tư liệu liên quan đến vấn đề
này: Truyện Man Nương trong Lĩnh Nam trích quái, quyển Lý hoặc luận của Mâu Bác, quyển thứ 13 của sách Xuất Tam Tạng lý tập ghi về Khương Tăng Hội”[39, 174–175]
Tóm lại, thông qua những dẫn chứng ở trên chúng ta thấy rằng: thời gian Phật giáo du nhập vào nước ta đã không thống nhất một thời gian cụ thể, mà có
Trang 34sự phân chia giữa hai quan điểm trước và sau Công nguyên Đứng trước vấn đề này, trên quan điểm cá nhân, tôi ủng hộ những quan điểm của Nguyến Lang, Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Hùng Hậu, cho rằng Phật giáo du nhập vào nước ta vào khoảng đầu Công nguyên
Thời gian du nhập của Phật giáo như phân tích ở trên cũng chưa thật sự cụ thể, xác thực Địa điểm du nhập Phật giáo đầu tiên vào nước ta cũng có ba địa điểm khác nhau
Đồ Sơn (Hải Phòng); Claude Madrolle, tác giả sách Bắc Bộ xưa hiểu thuật
ngữ Nê Lê theo nghĩa là bùn đen (Nê: là bùn, Lê: là đen) Từ đó, đưa ra giả thiết
Nê Lê là vùng Đồ Sơn (Hải Phòng), vì từ Móng Cái đến Bắc Trung Bộ thì bãi biển đều có cát vàng, riêng chỉ có bãi biển ở Đồ Sơn có bùn đen Do vậy, nhiều nhà viết lịch sử Phật giáo như Hòa thượng Thích Đức Nghiệp, nhà nghiên cứu Ngô Đăng Lợi, đều nghiêng về Đồ Sơn là nơi phái đoàn truyền bá Phật giáo đầu
tiên đến Việt Nam Các nhà nghiên cứu này cũng dựa vào bài thơ chữ Nho: Tháp
Sơn hoài cổ, trong gia phả của gia đình ông Hoàng Gia Lũy trong đó có câu:
Núi Quỳnh Viên (Hà Tĩnh); Trong sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, của
học giả Lê Mạnh Thát viết “Việc đồng nhất núi Quỳnh Viên là ngọn núi nằm ở phía Nam cửa Sót ngày nay không phải là mới mẻ gì Ngay từ thời Phan Huy
Trang 35Chú, khi viết Lịch triều hiến chương loại chí hai tờ 15b1 đã đồng nhất và cho ta
biết là Uyên Sơn ở hữu ngạn của cửa Nam Giới “Uyên Sơn ở bên phải cửa Nam Giới, tương truyền có nền nhà của Chử Đồng Tử tại đó Thơ vua Thánh Tông có câu: “Danh sơn vẫn nhắc cổ Quỳnh Viên” tức chỉ núi này vậy” Nói thẳng ra,
vào thế kỷ XV khi Kiều Phú và Vũ Quỳnh hiệu đính và cho ra hai bản Lĩnh Nam
chích quái khác nhau, Quỳnh Viên đã thực sự là một danh sơn, một ngọn núi nổi
tiếng đối với nhân dân ta thời đó và trước kia Nó dứt khoát không phải là ngọn núi thần thoại, càng không phải là ngọn núi không có địa điểm cụ thể tại đất nước ta Nó là một ngọn núi nằm tại cửa Sót và trên núi Quỳnh Viên này còn có
ngôi chùa cổ Bản Lĩnh Nam chích quái mà ta có ngày nay hoặc do Kiều Phú
kiểu chính lại vào năm 1490 hoặc do Vũ Quỳnh san định lại vài năm sau đó, vào
năm 1493, từ một bản Lĩnh Nam chích quái nói tới núi Quỳnh Viên này phải có
một địa chỉ cụ thể Vì thế, khi Chử Đồng Tử đã được nhà sư Phật Quang truyền dạy đạo Phật tại núi Quỳnh Viên, ta có thể chắc chắn sự việc này đã xảy ra tại cửa biển Nam Giới hay cửa Sót”[74, 21-22]
Tây Thiên (Vĩnh Phúc): Trong kỷ yếu Hội thảo khoa học “Mấy vấn đề Phật giáo ở Tây Thiên Tam Đảo – Vĩnh Phúc”, Tỳ kheo Thích Kiến Nguyệt trụ trì thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên đã cho rằng: Tây Thiên là cái nôi đầu tiên của Phật giáo Việt Nam “Tuy nhiên, với những bậc chân tu theo đạo Phật thường tìm chốn “Sơn lâm cùng cốc” để tĩnh tu, để buông xả thân tâm, sống đời thiểu dục tri túc và giải thoát … Trong vùng Bắc Bộ, chỉ có vùng Tam Đảo núi non liên hoàn hùng vĩ, cảnh trí u nhã, có suối chảy nước trong, thác ghềnh non cao rừng rậm, thâm u tịch tĩnh, thích hợp cho người tu thiền Hơn nữa vào thời Hùng Vương, Tam Đảo ở gần Kinh đô nước Văn Lang, nên có thể nơi đây được đoàn hoằng pháp của hai ngài Sona và Uttara lựa chọn để hoằng dương Phật pháp Đầu tiên các Ngài cất am thiền, thỉnh thoảng đến Kinh đô khất thực hóa duyên Khi số lượng Phật tử đông đảo, các Ngài xây thành Nê Lê (cũng tương đương với chùa Địa Ngục) và dựng tháp A Dục Một câu hỏi được đặt ra, tại sao lại gọi
Trang 36là thành Nê Lê? Theo chúng tôi có thể thời bấy giờ từ ngữ còn nghèo nàn, lại thêm đạo Phật mới truyền sang, người dân chưa biết đặt tên gọi nơi tu hành thờ Phật, chỉ thấy chùa xây bằng đá giống thành trì nên gọi là thành Nê Lê? Và sau quen miệng, nên người dân địa phương vẫn gọi là Nê Lê Sau này, khi Phật giáo Trung Quốc truyền sang, nhờ giao lưu văn hóa chúng ta có thêm những từ ngữ
để gọi nơi thờ Phật là Tự Thế nên, thành Nê Lê đổi thành “Địa Ngục tự” mà Lê
Quý Đôn đã miêu tả trong Kiến Văn Tiểu Lục…
Theo Hòa thượng Thích Thanh Từ, thuật ngữ “Tây Thiên” phát xuất từ ý nghĩa “Nơi các nhà sư Tây Thiên (sư Ấn Độ) tu hành” vì theo trong kinh sách, thuật ngữ “Tây Thiên” để chỉ nước Ấn Độ, cũng như thuật ngữ Đông Độ để chỉ nước Trung Hoa Do đó, trong khi chờ đợi sự phát hiện mới về khảo cổ học ở Tây Thiên, qua sử liệu và lịch sử phát triển dân tộc, chúng tôi nghiêng về hướng suy nghĩ, Tây Thiên là cái nôi của Phật giáo Việt Nam”[100, 35-37]
Như vậy, từ ba địa điểm nêu trên, chúng ta thấy rằng; luận chứng địa điểm đầu tiên Phật giáo vào Việt Nam mới chỉ dừng lại ở những suy đoán dựa trên những nguồn sử liệu còn sơ sài và chưa thật rõ ràng Vì vậy, để xác định được địa điểm đầu tiên vẫn còn đòi hỏi các nhà nghiên cứu tìm hiểu, đào sâu hơn nữa, nhất là thông qua khảo cổ học
2.1.2 Diện mạo của Phật giáo Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế
kỷ thứ VI
Đạo Phật ra đời vào thế kỷ thứ VI – V trước Công nguyên ở miền Bắc Ấn
Độ, trong vương quốc Ca – pi – la – vát – xtu gần biên giới Nepan Đạo Phật phản ánh lòng bất bình của quần chúng đối với chế độ đẳng cấp hà khắc và quyền uy độc đoán của đẳng cấp thống trị Bà – la – môn Người sáng lập đạo Phật là Đức Thích Ca Mâu Ni, thuộc dòng dõi quý tộc, con vua (thái tử) Phật giáochủ trương pháp tính bình đẳng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính và đều có thể thành Phật, từ chỗ tự giác, tiến lên làm nghĩa vụ giác tha Đức Phật khuyên mọi người nên tiết chế dục vọng, có tinh thần vô ngã, vị tha, làm điều lành tránh điều
dữ, Đức Phật là biểu trưng cho sự “Từ bi và trí tuệ”, cho đạo đức, lối sống lý tưởng
Trang 37Nội dung thuyết Nhân quả nghiệp báo của Phật giáo du nhập vào có sự phù hợp với tín ngưỡng dân gian người Việt như việc ông Trời trừng phạt kẻ ác, cứu giúp ban thưởng người lành Thuyết luân hồi cũng phù hợp với quan niệm linh hồn tồn tại sau khi chết và cũng phù hợp với nhận xét về sự tuần hoàn của
cỏ cây cư dân nông nghiệp…
Cũng như bất cứ một tôn giáo nào, trên đường phát triển Phật giáo chia thành nhiều tông phái khác nhau, với hai dòng chính là Tiểu thừa (Nam tông), và Đại thừa (Bắc tông) Phật giáo vào nước ta, nó biến dạng khá nhiều, bởi đạo Bà
La Môn, bởi những thêm bớt trên đường truyền giáo vào đất Việt, cũng phải có những biến hóa cho phù hợp với phong tục tập quán của nhân dân bản địa
Người Việt với nền văn hóa tín ngưỡng đặc sắc đã nhanh chóng tiếp nhận hấp thụ sự du nhập của Phật giáo Việc một văn hóa mới được chấp nhận phụ thuộc vào tính cách người dân bản địa Đối với người Việt, tính cách đó được hình thành trên nền văn hóa lúa nước Công việc trị thủy là một yếu tố khách quan cần có sự hợp sức của tập thể dần dần tạo nên mô thức sống cộng đồng kiểu làng xã Với kiểu kiến trúc làng xã, người Việt thường cư xử với nhau bằng
“tình làng nghĩa xóm”, xử sự mọi vấn đề thường lấy tình cảm để giải quyết, chứ
ít sử dụng đến lý lẽ Như vậy, để duy trì được mối quan hệ làng xóm thì mọi thành viên phải cần đến sự tự giác cao, tinh thần trách nhiệm vì cộng đồng, nếu không mô hình tập thể dễ bị phá vỡ Phật giáo với tư tưởng Đại thừa là “Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn”, đã cung cấp bồi đắp yếu tố quan trọng này trong việc kết nối, phát huy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết xóm làng, lớn hơn là góp phần củng cố, phát triển tinh thần dân tộc
Sự hòa hợp giữa Phật giáo với văn hóa tín ngưỡng bản địa, nhanh chóng hình thành nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu Đời Hán, có ba trung tâm Phật giáo; trung tâm Lạc Dương ở Hà Nam (kinh đô nhà hậu Hán); trung tâm Bành Thành ở Giang Tô, thuộc hạ lưu sông Trường Giang; trung tâm Luy Lâu ở đất nước ta Ở Bành Thành, khoảng năm 65, Sở Vương Anh rất sùng Hoàng Lão và
Trang 38Phật giáo; bấy giờ ở đó đã có một đoàn thể Phật giáo vừa Tăng già vừa cư sĩ Năm 71 Sở Vương Anh mất, nhiều người thân thuộc dời Bành Thành, lập chùa Hứa Xương ở Lạc Dương, trung tâm Lạc Dương được thành lập có thể ảnh hưởng của trung tâm Bành Thành Đời Hán Hoàn Đế lên ngôi năm 165, trở thành một trung tâm quan trọng Hán Hoàn Đế cũng lập bàn thờ Lão Tử và Phật
ở trong cung
Phật giáo được truyền vào Bành Thành bằng đường biển, nếu là đường biển thì đạo Phật chắc chắn quan Giao Châu trước Bởi vì, Giao Châu là điểm giao tiếp quan trọng và chủ chốt giữa Trung Quốc và thế giới bên ngoài Trung tâm Phật giáo Luy Lâu có thể thành lập sớm hơn các trung tâm Bành Thành và Lạc Dương Trung tâm Luy Lâu có thể là một căn cứ và bàn đạp cho Phật giáo đi sâu vào miền nội địa Trung Quốc “Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc, khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu đã có hơn hai mươi ngôi bảo sát, độ được hơn năm trăm vị Tăng, và dịch được mười lăm quyển kinh rồi”[81, 84]
Giao Châu ở sát ngay các nước chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ và
sử dụng Phạn ngữ, lại gần gũi với văn minh Trung Hoa, ở đây đã dùng chữ Hán Giao Châu thuận lợi về mặt địa lý cùng ngôn ngữ văn tự cho sự truyền bá của Phật giáo từ Ấn Độ và Trung Hoa Hằng năm, đều có thuyền chở cống phẩm từ Giao Châu lên miền hạ lưu Trường Giang, từ đó cống phẩm mới được vận chuyển tiếp về Lạc Dương Chắc rằng các Tăng sĩ Ấn Độ đã dừng nghỉ một thời gian ở Luy Lâu học tiếng và chữ Hán, tìm hiểu hình thành chính trị, văn hóa Trung Hoa rồi mới theo thuyền buôn chở cống phẩm đi tiếp lên miền Bắc
Như vậy, trung tâm Luy Lâu được hình thành do sự viếng thăm của những thương nhân và Tăng sĩ Ấn Độ, theo thuyền buôn từ biển vào Trong các chuyến
đi xa hàng năm về phương Đông tìm mua hương liệu, quế, tiêu, ngà voi, vàng… các thương thuyền Ấn Độ thường đặt bàn thờ Quán Thế Âm Bồ tát và Đức Phật Nhiên Đăng, nổi tiếng là những vị che chở cho thủy thủ được an lành ngoài biển
Trang 39khơi Cũng trong các chuyến đi này, nhằm mục đích cầu nguyện và cúng dường Tam Bảo, thương nhân thường thỉnh theo thương thuyền một số vị Tăng sĩ Cuối thế kỷ thứ I trước Công nguyên, khuynh hướng Phật giáo Đại thừa đã nảy nở tại
Ấn Độ, các trung tâm A-ma-va-ra-ti, Na-ga-giu-na-kon-da ở miền ven biển Đông Nam Ấn Độ, dần dần trở nên trung tâm Phật giáo Đại thừa quan trọng và phát triển, ý hướng mang Phật giáo truyền sang nước khác
Từ những căn cứ trên, chúng ta thấy rằng đạo Phật tại Giao Châu chắc chắn do từ Ấn Độ truyền sang trực tiếp, mãi về sau mới lại từ Trung Hoa truyền xuống Thương gia Ấn Độ đến Giao Châu ở lại đây cho đến sang năm, chờ gió mùa Đông Bắc để trở về Ấn Độ, một số Tăng sĩ có thể ở hẳn lại Luy Lâu, họ sống với người Việt và Hoa Kiều, rồi ảnh hưởng tới những người này bằng tiếng nói, lối sống đạo Phật Người Việt tiếp thu nhiều thành tựu văn hóa, vật chất, ngôn ngữ và tinh thần Ấn Độ trong đó có đạo Phật
Với sự phát triển của trung tâm Phật giáo Luy Lâu đã làm cho không khí học thuật diễn ra sôi động Trong môi trường này, tập luận thuyết đầu tiên về
Phật giáo bằng chữ Hán: Lý hoặc luận, được viết tại Giao Châu vào cuối thế kỷ
thứ II, tác giả là Mâu Bác (Mâu Tử, có thể là pháp danh, giống như Phật tử - Mâu là Mâu Ni), sinh vào khoảng năm 165 – 170, người Thương Ngô Cuối đời Hán Linh đế, sang Luy Lâu cùng với mẹ, ở đây ông đã đọc các kinh sách của Nho, Lão và học Phật Ông viết cuốn sách này để đáp lại những khích bác về Phật giáo của những người không theo đạo Phật, nhất là những người theo Nho, Lão qua Giao Châu tị nạn Chắc chắn rằng ở Luy Lâu ông đã học Phật và thụ giới xuất gia
Sự phát triển của trung tâm Phật giáo Luy Lâu, được khẳng định trong
Đại Việt sử ký toàn thư nói về thời Sĩ Vương (Sĩ Nhiếp 187 – 226), một người
khoan hậu khiêm tốn, sáng suốt, mưu trí Ông có uy tín hơn người và theo thư của Viên Huy gửi cho Thượng thư lệnh Tuân Úc “Khi ra vào thì đánh chuông, khánh, uy nghi đủ hết, kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát
Trang 40bánh xe để đốt hương thường có mấy mươi người, vợ cả, vợ lẽ đi xe che kín, bọ con em cưỡi ngựa dân quân theo hầu, người đương thời ai cũng không hơn được”[82, 163] Lê Mạnh Thát cho rằng lối sống này của Sĩ Nhiếp hoàn toàn xa
lạ với phong tục tập quán Trung Quốc Như vậy, Sĩ Nhiếp không chỉ xây dựng chính nền văn hóa mới kết hợp giữa văn hóa Lạc Việt với văn hóa Ấn Độ, đại diện là Phật giáo đủ sức chống trả sự đồng hóa về văn hóa từ phía Bắc
Theo Cổ Châu Phật bản hạnh hiện được lưu giữ dưới dạng ván khắc tại
chùa Dâu, có ghi vào đời Sĩ Vương
“Có thày ở mãi Tây Thiên Luyện đạo tu thiện, hiệu Khâu Đà La Lập am dưới cội cây đa
Trụ trì cảnh ấy nhật đà tụng kinh”[42, 103]
Có Khâu Đà La qua Luy Lâu, ở đây ông đã gặp Tu Định, làng Mãn Xá
Do cảm mến đạo hạnh của Khâu Đà La, Tu Định đã cho con đi theo học đạo, đây chính là căn nguyên nảy sinh ra Tứ pháp
Như vậy, từ thế kỷ thứ II, ở Giao Châu đã có sự thành lập Tăng đoàn, dịch kinh, dựng tháp làm chùa và có cả sáng tác nói về Phật Những hình thức sinh hoạt Phật giáo thô sơ hơn hẳn được thực hiện từ trước đó, những kính điển Phật
giáo đầu tiên được phiên dịch hay chuyển dịch tại Giao Châu như: Lục Độ tập
kinh, Tứ thập nhị chương, Tạp thí dụ kinh, đã nêu lên những quan điểm cơ bản về
Phật, Pháp, Tăng, quan niệm về Niết Bàn, luân hồi, nghiệp báo, từ bi, bố thí, diệt dục và cả về thiền định… Qua những kinh này và sách Lý hoặc luận, ta thấy rõ tín ngưỡng bình dân về Bụt đã xâm nhập vào Phật giáo Giao Châu và ở trung tâm Phật giáo Luy Lâu, Phật giáo có tinh thần hòa đồng với các tín ngưỡng dân gian,