Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho núi non hùng vĩ, với nhiều cảnh sông suối thác nước ngoạn mục, hệ sinh thái đa dạng, nhiều sinh cảnh đặc trưng đang tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
- -
ĐINH CÚC NHẬT VY
VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP – NÚI BÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
- -
ĐINH CÚC NHẬT VY
VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP – NÚI BÀ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2
3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
4 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 8
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 9
CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 10 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 10
1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái 10
1.1.2 Các đặc trưng của du lịch sinh thái 111
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái 111
1.1.4 Những yêu cầu của du lịch sinh thái 15
1.1.5 Du lịch sinh thái trong các vườn quốc gia 18
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 25
1.2.1 Các Vườn quốc gia phát triển du lịch sinh thái trên thế giới 26
1.2.2 Vài nét phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam 30
CHƯƠNG 2TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DLST VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP – NÚI BÀ TỈNH LÂM ĐỒNG 35
2.1 GIỚI THIỆU VỀ VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP – NÚI BÀ 35
2.1.1 Bối cảnh Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà 35
2.1.2 Mục tiêu thành lập VQG Bidoup – Núi Bà 36
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý 37
2.1.4 Các khu chức năng du lịch 38
2.1.5 Tài nguyên du lịch tự nhiên 43
2.1.6 Tài nguyên du lịch nhân văn 47
2.1.7 Cơ sở hạ tầng 50
2.2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DLST 62
2.2.1 Khách nội địa 62
2.2.2 Khách quốc tế 64
2.2.3 Hoạt động đầu tư và nguồn vốn du lịch 66
2.2.4 Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch VQG BNB 68
2.2.5 Đội ngũ cán bộ nhân viên 70
2.2.6 Hiện trạng các tuyến du lịch đã được khai thác 70
2.2.7 Hiện trạng các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 73
2.2.8 Hiện trạng hoạt động du lịch với công tác bảo tồn 73
Trang 42.2.9 Hiện trạng những lợi ích mang lại cho cộng đồng 75
CHƯƠNG 3 ĐI ̣NH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DLST VQG BIDOUP – NÚI BÀ 77
3.1 NHỮNG ĐIỂM MẠNH – YẾU – CƠ HỘI – THÁCH THỨC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DLST Ở VQG BIDOUP – NÚI BÀ 77
3.1.1 Những điểm mạnh – yếu 77
3.1.2 Những cơ hội – thách thức 79
3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DLST 80
3.2.1 Mục tiêu chung 80
3.2.2 Các định hướng cụ thể 81
3.3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DLST E RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 3.3.1 Cải thiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vậy chất kỹ thuật hạ tầng 103
3.3.2 Tăng cường giáo dục môi trường, giải pháp phát triển DLST ở Việt Nam 103
3.3.3 Giải pháp về quản lý phát triển du lịch 106
3.3.4 Giải pháp về cơ chế chính sách phát triển du lịch 108
3.3.5 Giải pháp về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực 111
3.3.6 Giải pháp về quảng bá và tiếp thị 113
3.3.7 Giải pháp về hợp tác đầu tư 114
3.3.8 Nâng cao nhận thức xã hội 115
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện nay, du lịch đã trở nên quen thuộc và quan trọng với tất cả mọi người Nếu ngày trước, con người chỉ biết lao động vất vả để kiếm sống, thì ngày nay ngoài việc lao động cống hiến cho xã hội, con người đã biết hưởng thụ, biết đi du lịch để thư giãn, giải trí sau những ngày làm việc căng thẳng Họ muốn tìm hiểu và gần gũi với thiên nhiên, tìm về cội nguồn của chính mình Chẳng hạn, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng,…và một trong những điểm dừng chân thú vị của du khách khi đến Việt Nam, đó chính là Thành phố Đà Lạt – thành phố của ngàn hoa!
Khi nói đến du lịch Thành phố Đà Lạt, những địa điểm được đề cập nhiều là: hệ thống thác (thác P‟renn, thác Cam Ly, thác Datanla,…); hệ thống hồ (hồ Xuân Hương, hồ Tuyền Lâm, Hồ Than Thở, …); hệ thống các dinh thự và kiến trúc Pháp nổi tiếng một thời; hệ thống Chùa chiền (chùa Linh Phước, Thiền viện Trúc Lâm, chùa Linh Quang, Chùa Linh Phước, …) Ở Dalat, có nhiều loại hoa đua nhau nở bốn mùa được người dân Dalat trồng trọt, chăm sóc và khoe sắc ở Công viên hoa Dalat, trên đường phố và trong vườn của mỗi gia đình, …
Và còn rất nhiều điểm du lịch khác nữa ở Thành phố Đà Lạt hiện nay vẫn chưa khai thác hết Trong đó, Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà là một trong những điểm
du lịch mới được con người đưa vào khai thác Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho núi non hùng vĩ, với nhiều cảnh sông suối thác nước ngoạn mục, hệ sinh thái đa dạng, nhiều sinh cảnh đặc trưng đang trở thành điểm dừng chân lý tưởng cho du khách muốn trải nghiệm các hoạt động
du lịch khám phá và dã ngoại Nhưng tính đa da ̣ng sinh ho ̣c phong phú và giá tri ̣ của vườn quốc gi a Bidoup – Núi Bà cũng đang đối đầu với các đe dọa Một trong những lý do dẫn đến đe do ̣a đó là áp lực lên tài nguyên rừng từ người dân
Trang 6nghèo đói sống quanh vườn Hầu hết những người dân đi ̣a phương là người dân
tô ̣c thiểu số sinh sống bằng nông nghiêp truyền thống
Sự kiện này không chỉ ảnh hưởng tới hoạt động du lịch mà còn ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa, xã hội mang tầm quốc gia và quốc tế Tôi là một học viên ngành Du lịch và hơn nữa là một người con được sinh ra và lớn lên tại Thành phố Đà Lạt –tỉnh Lâm Đồng, tôi muốn góp phần thiết thực cho chính quê hương mình thông qua những ý tưởng trong luận văn này Đó là lý do tôi chọn đề tài
nghiên cứu cho khóa luận của mình là: “NGHIÊN CỨU DU LI ̣CH SINH THÁI TẠI VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP – NÚI BÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG”
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trên thế giới
Thế kỷ 20 đã chứng kiến sự thay đổi kịch tính và liên tục của lữ hành thiên nhiên mà Châu Phi là một ví dụ điển hình Những cuộc đi săn năm 1909 của Thoedore Rooevelt để cho vào túi săn những chiếc đầu hoặc những cái sừng lớn nhất mà ông có thể tìm thấy là một điển hình đương đại
Vào những năm 70, du lịch đại chúng và du lịch không phân biệt, vẫn chủ yếu để tâm đến các con thú lớn, đã phá hoại các môi trường sống gây phiền nhiễu đến các động vật, và phá huỷ thiên nhiên Ngày nay, các hành vi này đang thay đổi Ngày càng nhiều khách tham quan nhận thức được tác hại sinh thái họ có thể gây ra cho giá trị của tự nhiên, và cho những mối quan tâm của nhân dân địa phương
Các tour du lịch chuyên hoá - săn chim, cưỡi lạc đà, bộ hành thiên nhiên có hướng dẫn và nhiều nữa - đang tăng lên Cái dòng nhỏ nhưng đang lớn lên này chính là du lịch sinh thái Và, thật ngạc nhiên khi du lịch sinh thái dang làm cho
cả nghành công nghiệp lữ hành trở nên nhạy cảm hơn với môi trường cũng như các lĩnh vực kinh tế, văn hoá và xã hội Chính vì thế, các nhà nghiên cứu khoa học du lịch trên thế giới đã cố gắng tìm ra những mô hình phát triển du lịch
Trang 7nhằm hạn chế những tiêu cực của du lịch đến với các lĩnh vực khác Mục đích nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Mô hình có mối quan hệ với phát triển bền vững là mô hình du lịch sinh thái
Các nhà nghiên cứu tiên phong và điển hình trong lĩnh vực này là Ceballos, Lascurain, Buckley, Boo,… và cùng rất nhiều nhà khoa học khác như là Dowling, Westren, Linberg – Hawkins,… Các nhà nghiên cứu này đã đưa ra hệ thống lý luận và thực tiễn về du lịch sinh thái Ngoài ra, các tổ chức quốc tế cũng quan tâ đến vấn đề này như: Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES), Quỹ bảo vệ Động vật hoang
dã (WWF) cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu và công bố nhiều khái niệm, bài học thực tễn cũng như những hướng dẫn quy hoạch và quản lỷ về du lịch sinh thái
Ở Việt Nam
Từ những năm 1990 đến nay, cùng với sự đổi mới của đất nước, ngành Du lịch
dã khởi sắc, vươn lên đổi mới quản lý và phát triển đạt được những thành quả ban đầu quan trọng và ngày càng tăng quy mô về chất lượng, dần khẳng định vai trò và vị trí của mình Trong đó du lịch sinh thái đã tập trung được sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu khoa học về du lịch và môi trường Các Hội thảo về Du lịch Sinh thái và Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam được tổ chức với sự tham gia và đóng góp nhiều bài tham luận của các tác giả Nguyễn Thượng Hùng, Võ Trí Chung, Lê Văn Lanh,…và đã có một số nghiên cứu đánh giá về tiềm năng Du lịch sinh thái ở Việt Nam (Phạm Trung Lương, Koeman,…)
Không những thế, đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng sách báo, giáo trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ,… của các tác giả Phạm Trung Lương, Lê Huy Bá, Nguyễn Song Toàn, đã nghiên cứu du lịch sinh thái ở các góc độ khác nhau
Trang 8Một số công trình nghiên cứu về VQG Bidoup – Núi Bà:
Nghiên cứu Sinh thái là một trong ba hướng khoa học – công nghệ chủ đạo của Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga, cơ quan hợp tác nghiên cứu khoa học – công nghệ đa ngành giữa Việt Nam và Liên Bang Nga do Bộ Quốc phòng Việt Nam
và Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga làm chủ quản Được sự đồng ý của Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga, sự ủng hộ của Ban Lãnh đạo VQG Bidoup –
Núi Bà dự kiến xuất bản sách chuyên khảo: “Đa dạng sinh học và đặc trưng
sinh thái Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà”
Để có đầy đủ cơ sở dữ liệu, xây dựng bức tranh toàn cảnh về các hệ sinh thái của Việt Nam, khu vực Bidoup – Núi Bà tỉnh Lâm Đồng đã được lựa chọn nghiên cứu, điều tra từ năm 2002 Sau khi VQG Bidoup – Núi Bà được thành lập, Trung tâm đã có chương trình, nội dung cụ thể hợp tác nghiên cứu với Vườn
Tuy nhiên, các nguồn thông tin trong các cuốn sách này chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái quát chứ chưa đi sâu vào phân tích các đặc điểm cụ thể, đặc biệt chưa nói tới vấn đề khai thác tiềm năng du lịch tại VQG Bidoup – Núi Bà Đây là đề tài nghiên cứu còn tương đối mới, chưa được nhiều người đề cập tới Song, đây
sẽ là một nguồn tài liệu quý để tác giả tiếp tục sưu tầm thêm tài liệu, khảo cứu
và xây dựng thành một luận văn hoàn chỉnh, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu
Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu đã có về DLST, mục tiêu chủ yếu của đề tài là nghiên cứu phát triển DLST ở VQG Bidoup – Núi Bà tỉnh Lâm Đồng dưới góc độ nghiên cứu du lịch gắn với sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và công tác bảo tồn, phải luôn coi trọng tính bền vững
Trang 9Tổ chức các cuộc vận động tuyên truyền, giáo dục người dân trong khu vực VQG nâng cao nhận thức về ý thức, trách nhiệm bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên rừng và các loài động thực vật quí hiếm hiện đang sinh sống tại VQG
Nhiệm vụ
Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
Tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn về DLST trên thế giới và ở Việt Nam
Đánh giá thực trạng, tìm ra được những thế mạnh, thách thức, rào cản và nêu lên được một số giải pháp khả thi góp phần cải thiê ̣n sinh kế cho người dân
đi ̣a phương và thiết lâ ̣p hê ̣ thống quản lý rừng bền vững có sự tham gia của người dân đi ̣a phương là quan tro ̣ng
Khẳng định lại vai trò, vị trí, giá trị của môi trường rừng trong việc góp phần tạo ra sản phẩm du lịch sinh thái đặc trưng của Đà Lạt và tiềm năng phát triển trong tương lai
Đề tài này còn góp phần vào việc quảng bá hình ảnh du lịch Đà Lạt đến với mọi người, với những du khách trong và ngoài nước về một “Thành phố Hoa”, về một “Trung tâm du lịch nghỉ dưỡng khá nổi tiếng của Việt Nam và thế giới”
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau đây:
Đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển DLST ở VQG Bidoup – Núi Bà (Các số liệu dẫn chứng trong đề tài ở phần hiện trạng chỉ giới hạn đến năm 2020)
Trang 10 Đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm vào việc khai thác hợp
lý lãnh thổ du lịch theo hướng đảm bảo các yêu cầu của DLST
Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu
Luận văn “NGHIÊN CỨU DU LỊCH SINH THÁI T ẠI VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP – NÚI BÀ , TỈNH LÂM ĐỒNG” đư ợc nghiên cứu giới hạn trên địa bàn hành chính Huyện Lạc Dương và một phần Huyện Đam Rông, Tỉnh Lâm Đồng, cách thành phố Đà Lạt khoảng 50km theo tỉnh lộ 723, nằm trong không gian mở rộng của TP.Đà Lạt khi Thành phố được nâng cấp thành Thành phố trực thuộc Trung ươngvà tập trung vào việc giới thiệu những vị trí và giá trị văn hóa và tiềm năng phát triển của du lịch Đà Lạt
Phương pháp thu thập thông tin và xử lý thông tin
Tiến hành thu thập thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn, nhiều lĩnh vực khác nhau để đảm bảo khối lượng thông tin đầy đủ, chính xác đáp ứng cho tổchức hoạt động du lịch Thông tin về đối tượng nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nên cần phải phân loại, so sánh và chọn lọc những thông tin có giá trị nhất để sử dụng trong bài viết Đây là phương pháp giúp nhận rõ những thông tin cần thiết để thành lập ngân hàng số liệu
Phương pháp điều tra, xã hội học
Phương pháp này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài
Sử dụng phương pháp này để phỏng vấn trực tiếp một số du khách tham gia du lịch và những người có trách nhiệm quản lý khu du lịch, những người cung cấp dịch vụ cho khách du lịch Qua đây có thể biết được tính hấp dẫn của khu du lịch, tâm tư nguyện vọng của du khách cũng như của người dân địa phương, những người đang trực tiếp làm du lịch từ đó có cái nhìn xác thực về tài nguyên
và hoạt động du lịch tại nơi nghiên cứu
Phương pháp điền dã
Trang 11Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống để khảo sát thực tế, áp dụng việc nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn, bổ sung cho lý luận ngày càng hoàn chỉnh hơn Việc có mặt tại thực địa trực tiếp quan sát và tìm hiểu thông tin từ những người có trách nhiệm là rất cần thiết Quá trình thực địa giúp cho tài liệu thu thập được phong phú hơn, giúp cho việc học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao và
có một tầm nhìn khách quan để nghiên cứu đề tài Đây là phương pháp vô cùng quan trọng để thu thập được những thông tin xác thực cho đề tài tăng tính thuyết phục Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn khách quan và có những đánh giá đúng đắn về vấn đề nghiên cứu Hiểu vấn đề một cách sâu sắc và tránh được tính phiến diện trong khi nghiên cứu.Thu thập trực tiếp sốliệu thông tin du lịch trên địa bàn nghiên cứu, lượng thông tin thu thập đảm bảo sát với thực tế, có độ tin cậy cao
Phương pháp thống kê, tổng hợp
Phương pháp này nhằm định hướng cho người viết thấy được tính tương quan giữa các yếu tố và từ đó thấy được hiện trạng và sự ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động du lịch tại nơi đang nghiên cứu Việc so sánh tổng hợp các thông tin
và số liệu đã thu thập được giúp người viết hệ thống được một cách khoa học những thông tin số liệu cũng như các vấn đề thực tiễn Đây là phương pháp giúp cho người viết thực hiện được mục tiêu dự báo, đề xuất các dự án, các định hướng phát triển, các chiến lược triển khai quy hoạch các dự án mang tính khoa học và đạt hiệu quả cao
Việc nghiên cứu thống kê khách du lịch có một ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi:
Các chỉ tiêu thống kê khách du lịch là những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá kết quả hoạt động của từng đơn vị kinh doanh du lịch cũng như của toàn ngành du lịch Thông qua các chỉ tiêu thống kê khách du lịch còn có thể nghiên cứu quy mô của thị trường du lịch
Các chỉ tiêu thống kê khách du lịch là cơ sở để tính các chi tiêu phân tích khác, phản ánh đặc trưng về hoạt động du lịch; ví dụ như: các chỉ tiêu đặc trưng về lưu trú, chỉ tiêu sản phẩm dịch vụ
Trang 12 Các thông tin phân tích dự báo đối với chỉ tiêu thống kê khách du lịch là
cơ sở để lập kế hoạch cho những chỉ tiêu quan trọng khác trong lĩnh vực dịch vụ; ví dụ: Lập kế hoạch về nhu cầu lưu trú , kế hoạch đầu tư cho các phương tiện giao thông vận tải du lịch, hệ thống các công trình phục vụ các hoạt động giải trí bổ trợ
Phương pháp khai thác phần mềm công nghệ thông tin
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng một số phần mềm, ứng dụng của công nghệ thông tín Phần mềm Microsoft Office dùng để xử lý các thông tin thu thập được dưới dạng văn bản, bảng biểu, công thức Phần mềm MapInfo được sử dụng để biên tập bản đồ (Vị trí VQG và vùng đệm trong tỉnh Lâm Đồng, phân khu chức năng VQG; phân bố thảm thực vật VQG; định hướng phát triển DLST VQG) phục vụ đề tài Mạng Internet dùng để tìm kiếm các thông tin
có liên quan đến đề tài, v.v Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp toán học để tính toán sức chứa một số tuyến tham quan cụ thể trong VQG v.v
Phương pháp phân tích SWOT
Phân tích những ưu khuyết điểm bên trong và những đe dọa, thuận lợi bên ngoài (S: Strenghts, W: Weakness, O: Opportunities, T: Threats)
Phối hợp các chiến lược:
Chiến lược S/O: phát huy điểm mạnh đểtận dụng thời cơ
Chiến lược W/O: không để điểm yếu làm mất cơhội
Chiến lược S/T: phát huy điểm mạnh đểkhắc phục, vượt qua thửthách
Chiến lược W/T: không để thử thách làm phát triển điểm yếu
Luận văn có những đóng góp chính như sau:
Góp phần xây dựng cơ sở lý luận, thực tiễm về du lịch sinh thái và vận dụng vào việc nghiên cứu ở VQG Bidoup – Núi Bà dựa vào tổng quan nghiên cứu đã có trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 13 Kiểm kê, đánh giá được các nguồn tài nguyên du lịch với những thế mạnh
và hạn chế để phát triển du lịch sinh thái VQG Bidoup – Núi Bà
Phân tích được hiện tượng phát triển du lịch sinh thái ở Vườn Quốc Gia Bidoup với một số chỉ tiêu cụ thể (du khách, doanh thu từ du lịch, …)
Đề xuất một số định hướng và một số giải pháp cụ thể để phát triển du lịch sinh thái của VQG dựa vào việc đánh giá những thế mạnh, điểm yếu,
cơ hội và thách thức
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về DLST
Chương 2:Tiềm năng và hiện trạng phát triển DLST VQG Bidoup – Núi Bà Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển DLST VQG Bidoup – Núi Bà
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1 Cơ sở lý luận du lịch sinh thái
1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái
Khái niệm về du lịch
Du lịch là một hiện tượng phức tạp Du lịch liên quan đến hoạt động nghỉ ngơi của con người cũng như các hoạt động kinh tế phục vụ mục đích đó Trong quá trình phát triển, nội dung của khái niệm du lịch không ngừng mở rộng Khó có thể nói định nghĩa nào là chính xác nhất, đầy đủ nhất Việc chúng ta chọn định nghĩa nào sẽ tuỳ theo quan điểm, góc độ tiếp cận và mục đích sử dụng
Khái niệm về du lịch sinh thái
“Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản
địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Định nghĩa về DLST ở Việt Nam)
Lịch sử nhân loại đã chỉ ra rằng “quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, một mặt góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân;
mặt khác, nó cũng gây ra những “vấn đề” cho môi trường sinh thái: tài nguyên
sinh vật và đa dạng sinh học đã và đang bị đe dọa đến mức báo động, các dạng tài nguyên môi trường đất, nước, không khí cũng đang trên đà suy thoái và ô nhiễm”
Cho đến nay, khái niệm DLST vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau Mặc dù, những tranh luận vẫn còn đang diễn tiến nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về DLST, nhưng đa số ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về DLST đều cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được
Trang 15giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa DLST nói theo một định nghĩa
nào chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tố cần: (1) sự quan tâm tới thiên nhiên
và môi trường; (2) trách nhiệm với xã hội và cộng đồng
1.1.2 Các đặc trưng của du lịch sinh thái
Những đặc trưng trưng cơ bản của khu du lịch sinh thái: Mỗi một điểm du lịch đều có 3 đặc trưng cơ bản nhất đó là: Tính giao thoa, chu trình sống và khả năng chịu tải (sức chứa) Tuy nhiên, đối với một khu vực phát triển DLST thì yếu tố bền vững là chủ đạo, vì vậy, khái niệm chu trình sống được đặt vào vị trí thứ yếu trong lãnh thổ DLST Do đó, 2 đặc tính quan trọng trong lãnh thổ DLST mà ta cần chú ý là: tính giao thoa và khả năng chịu tải (sức chứa)
• Tính giao thoa hoá hợp nhưng độc lập tương đối
• Khả năng chịu tải (sức chứa) của điểm du lịch
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái
1.1.3.1 Nguyên tắc hòa nhập
Sự xuống cấp của môi trường hay sự thay đổi tập tục sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương đối với một hoạt động nào đó sẽ trực tiếp làm mất đi sự cân bằng sinh thái vốn có của khu vực và hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động của du lịch sinh thái
Bảo vệ và phát huy văn hóa là nguyên tắc đặc biệt quan trọng mà hoạt DLST phải tuân thủ, bảo vệ các giá trị nhân văn là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị của môi trường, xã hội đối với một hệ sinh thái ở một nơi
cụ thể
Nói cách khác, tính hấp dẫn và sự tồn tại của hoạt động du lịch sinh thái gắn liền với việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái điển hình, vì vậy một phần thu nhập của DLST cần phải được đầu tư cho việc hạn chế các tác động tiêu cực nảy sinh và những giải pháp hiệu quả bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái Hoà nhập tự nguyện là một nguyên tắc hoạt động của DLST, khách du lịch sinh
Trang 16thái phải hòa nhập một cách tự nguyện vào môi trường tự nhiên, vào môi trường văn hóa và xã hội theo đúng nghĩa của nó Ví dụ như phải chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là cải tạo biến đổi môi trường được thuận tiện theo ý muốn của cá nhân
Bản thân ngành du lịch với những hoạt động, thiết kế cũng nhằm hoà nhập với môi trường nhằm giúp du khách nhận thức hoà nhập với thiên nhiên và cộng đồng là những kinh nghiệm để tăng cường sự hiểu biết, tăng cường sự thông cảm, có thái độ tích cực và trách nhiệm hơn là đi tìm những gì mới lạ hay thỏa mãn những ý muốn, sở thích của cá nhân mình
Thái độ hòa nhập theo không khí nhiệt tình thái quá cũng có thể gây ra những tác động xấu mặc dù hành động này xuất phát từ mục đích tốt như: cho động vật hoang dã thức ăn sẽ làm chúng mất đi khả năng tự tìm kiếm thức ăn hoặc trở nên quá thân thiện với con người, việc cho người dân địa phương tiền có thể làm thương mại hóa những hoạt động truyền thống của họ… Do đó dù khách du lịch sinh thái đã có sự tự nguyện hòa nhập nhưng du khách vẫn cần sự giúp đỡ Cần được giáo dục để có sự nhận thức đúng về vai trò bảo tồn của mình nhằm thể hiện những hành vi tích cực đóng góp cho sự bảo tồn ngành du lịch sinh thái
1.1.3.2 Nguyên tắc kết hợp sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch sinh thái
Mọi hoạt động của DLST đều hướng tới mục tiêu là bảo vệ tính bền vững nên ngoài đòi hỏi phải có nhận thức cao, kinh nghiệm tổ chức và quản lý chặt chẽ thì nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
Về mặt đạo đức và công bằng xã hội: Cộng đồng địa phương chính là chủ nhân thật sự của các nguồn tài nguyên du lịch (cả tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn) mà ngành du lịch dựa vào để thu hút du khách cho nên
họ có quyền tham gia và hưởng lợi thu được từ hoạt động mà ngành du lịch đem lại Ở những khu vực được quy hoạch thành khu DLST, môi trường sống, phương thức tổ chức sản xuất truyền thống của cộng đồng địa phương thường ít
Trang 17nhiều bị ngăn cấm hoặc hạn chế như: Không còn được tự do chặt cây, phá rừng làm rẫy, việc khai thác và đánh bắt hải sản bị hạn chế Do đó thu nhập của cuộc sống và vấn đề tồn tại của cộng đồng địa phương bị đe doạ vậy ngành du lịch sẽ khai thác được gì trong khu vực đang bị tranh chấp?
Du lịch sinh thái còn quan tâm đến sự cân bằng đời sống xã hội của cộng đồng địa phương Đây cũng chính là sự khác biệt giữa DLST với các loại hình du lịch khác
Đối với DLST, lợi ích từ du lịch cần được phân bố rộng rãi đến các thành viên trong cộng đồng Cá nhân những người tham gia trực tiếp và những người tham gia không trực tiếp Phần lớn các mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng ít nhiều có liên quan đến việc phân chia lợi ích thu được từ du lịch Nếu không được hưởng lợi ích thì chính những thành viên trong cộng đồng sẽ là những người phá hoại tích cực đến các nguồn tài nguyên du lịch của cộng đồng
Ngoài ra việc phân chia lợi ích cộng đồng trên sẽ góp phần làm giảm tính cạnh tranh không lành mạnh giữa những người tham gia làm du lịch Đây là một trong những mối đe dọa tiềm ẩn đối với việc phát triển bền vững, Các chương trình phúc lợi và xã hội của cộng đồng cần phải đem đến lợi ích cho tất cả các thành viên trong cộng đồng
Tóm lại nguyên tắc có sự tham gia của cộng đồng địa phương vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của du lịch sinh thái Nguyên tắc này tạo nên sự khác
biệt rõ rệt giữa du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác
1.1.3.3 Nguyên tắc qui mô
Dưới góc nhìn của sinh thái học trong một hệ sinh thái, khi một số lượng, một loài thay đổi đột ngột sẽ dẫn đến những tác động làm thay đổi sự cân bằng của
hệ sinh thái
Đối với hệ sinh thái nhân văn số lượng vài trăm hay vài ngàn du khách xuất hiện trong một ngày có thể tác động ít đến môi trường Nhưng trong hệ sinh thái thiên nhiên, nơi còn người là một chủng loài có số lượng nhỏ (thậm chí không
Trang 18có trong khu thiên nhiên hoang sơ nguyên thủy) thì sự xuất hiện của vài chục người với hành vi của họ có thể là tác động rất lớn thậm chí có thể dẫn đến sự hủy hoại thế cân bằng của hệ sinh thái
Nguyên tắc qui mô không chỉ áp dụng cho các hoạt động du lịch thuần tuý, chúng cũng cần phải được áp dụng cho cộng đồng địa phương để không ảnh hưởng đến hệ thực vật, không ảnh hưởng đến hệ động vật hoang dã và cảnh quan, diện tích trồng trọt, vật nuôi… Dưới góc độ xã hội nguyên tắc qui mô của cộng đồng địa phương còn là kiểm soát sự tăng dân số (trên cả hai phương diện sinh học và cơ học) nhằm thiết lập sự phát triển cân đối về kinh tế và xã hội cho cộng đồng địa phương
Với đặc trưng khác biệt về nguồn gốc của sản phẩm DLST và tính chất bền vững của nó, trong những năm qua ở lĩnh vực hoạt động DLST trên phạm vi toàn thế giới, người ta đã rút ra nhiều bài học rất có giá trị đóng góp vào lý luận và hoạt động của loại hình du lịch sinh thái
- Phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường và khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối với môi trường tự nhiên
- Không được làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, những nguyên tắc về môi trường không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên bên ngoài (tự nhiên và văn hoá) nhằm thu hút khách mà còn bên trong của nó
- Tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá trị bên ngoài và thúc đẩy
sự công nhận các giá trị này
- Các nguyên tắc về môi trường và sinh thái cần phải đặt lên hàng đầu do
đó mỗi người khách du lịch sinh thái sẽ phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trường cho sự thuận tiện cá nhân
- Phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phương và đối với ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hoá, xã hội hay khoa học)
Trang 19- Phải đưa ra những kinh nghiệm đầu tay khi tiếp xúc với môi trường tự nhiên, đó là những kinh nghiệm được hoà đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là đi tìm cái lạ cảm giác mạnh hay mục đích tăng cường thể trạng cơ thể
- Ở đây những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng của cả người hướng dẫn và các thành viên tham gia
- Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban nghành chức năng: địa phương, chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch (trước, trong và sau chuyến đi)
- Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường sự hiểu biết và sự phối hợp với các ban ngành chức năng
- Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng xử và nguyên tắc thực hiện là rất quan trọng Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động
- Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn khổ quốc tế cho ngành
1.1.4 Những yêu cầu của du lịch sinh thái
1.1.4.1 Dựa trên các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng
sinh thái cao
Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp (agri-cultural ecology), sinh thái khí hậu (ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology)
Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài Đa dạng sinh thái thể hiện ở
sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp
Trang 20lên sự sống như: đất, nước, địa hình, khí hậu đó là các hệ sinh thái systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật
(eco-(habitats) (Theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại Hộ nghị thượng
đỉnh Rio de Jannero về môi trường)
Như vậy có thể nói DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung Điều này giải thích tại sao hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt ở các vườn quốc gia, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình DLST phát triển ở những vùng nông thôn hoặc các trang trại điển hình
1.1.4.2 Đảm bảo tính giáo dục
Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được sự hiểu biết cho khách du lịch sinh thái, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu cac đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương Điều này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động DLST, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên.Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một người
phiên dịch giỏi
Các nhà điều hành du lịch truyền thống tường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi Ngược lại, các nhà điều hành DLST phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc
Trang 21bảo vệ một cách lâu dai các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương và du khách
1.1.4.3 Sử dụng lãnh thổ du lịch phù hợp với bảo tồn
Khoanh vùng sử dụng lãnh thổ du lịch
Gunn đã khẳng định việc khoanh vùng các khu vực của VQG để những lượng khách tập trung trong những trung tâm dịch vụ, sẽ không gây tác động lớn đến nguồn tài nguyên nhạy cảm và quý hiếm Vì vậy ông đã đưa ra mô hình khoanh vùng sử dụng du lịch cho một VQG như hình 1.1 dưới
Hình 1.1: Mô hình vùng sử dụng du lịch trong VQG
(Nguồn: Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà)
1 Vùng bảo vệ các nguồn tài nguyên cơ bản (đặc hữu), khu vực này được coi là vùng hạt nhân về tài nguyên, môi trường, được bảo vệ nghiêm ngặt
2 Vùng tự nhiên hoang dã, sử dụng ở mức độ thấp: Ở đây chỉ các lối mòn đi
bộ hoặc dùng các thuyền nhỏ nếu có sông/ suối chảy qua cho các hoạt động tham quan
Trang 223 Vùng dành cho các hoạt động giải trí mở rộng hơn: Ở đây có các tuyến tham quan bằng ô tô đến những điểm hấp dẫn về tự nhiên và văn hóa
4 Vùng dành cho du khách (picnic, cắm trại) trong đó có điểm đỗ xe đón khách tham quan vào tuyến trong
5 Vùng dành cho các dịch vụ du lịch của cộng đồng: Khu vực này thường ở lân cận cổng VQG hoặc ranh giới vùng đệm
1.1.5 Du lịch sinh thái trong các vườn quốc gia
1.1.5.1 Khái niệm vườn quốc gia
Năm 1872, Vườn quốc gia Yellowstone đã được thành lập như là vườn quốc gia thật sự đầu tiên trên thế giới Khi tin tức về các kỳ quan thiên nhiên của khu vực Yellowstone lần đầu tiên được công bố thì vùng đất này, khác với Yosemite, đang là một phần của lãnh thổ mà chưa một bang nào chiếm quyền quản lý, vì thế chính quyền liên bang đã chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, một quá trình chính thức được hoàn thành vào ngày 1 tháng 10 năm 1890 Nó là cố gắng và lợi ích tổ hợp của các nhà bảo tồn, các chính khách và đặc biệt là các doanh nhân (cụ thể là công ty quản lý tuyến đường sắt Bắc Thái Bình Dương, mà hành trình
đi qua Montana đã thu được lợi ích lớn nhờ sự tạo ra điểm hấp dẫn du khách này), để đảm bảo rằng Quốc hội Hoa Kỳ sẽ thông qua sắc luật nhằm thành lập Vườn quốc gia Yellowstone
Tuy vậy, chỉ 44 năm sau khi thành lập các vườn quốc gia Yellowstone, Yosemite và gần 37 vườn quốc gia, khu bảo tồn khác thì cơ quan nhà nước quản
lý toàn diện các khu vực này mới được thành lập tại Hoa Kỳ - đó là Cục Vườn Quốc gia Hoa Kỳ (NPS)
Tại các quốc gia khác, ý tưởng về thành lập vườn quốc gia như Yellowstone cũng đã dần dần được chấp nhận Tại Australia, Vườn quốc gia Hoàng gia đã được thành lập ở phía nam Sydney năm 1879 Tại Canada, Vườn quốc gia Banff (khi đó gọi là Vườn quốc gia núi Rocky) là vườn quốc gia đầu tiên của nước này vào năm 1885 New Zealand có vườn quốc gia đầu tiên vào năm 1887 Tại châu
Trang 23Âu các vườn quốc gia đầu tiên là tập hợp gồm 9 vườn tại Thụy Điển vào năm
1909 Hiện tại, châu Âu có 370 vườn quốc gia
Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, các vườn quốc gia đã được thành lập trên khắp thế giới Vườn quốc gia Vanoise trong khu vực dãy núi Alps là vườn quốc gia đầu tiên của Pháp, thành lập năm 1963 sau khi diễn ra các cuộc biểu tình ngăn chặn một dự án du lịch tại đây Đến nay hệ thống các VQG đã được hình thành trên các châu lục và các quốc gia Tại Việt Nam, Vườn quốc gia Cúc Phương thành lập năm 1966 là vườn quốc gia đầu tiên
Khái niệm
Vườn quốc gia là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nước/biển,có diện tích đủ lớn để thực hiện mục đích bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện khỏi bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc bị đe dọa cho các thế hệ hôm nay và mai sau Vườn quốc gia là nền tảng cho các hoạt động tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và các hoạt động du lịch sinh thái được kiểm soát và ít có tác động tiêu cực Theo định nghĩa của Liên Minh Quốc Tế Bảo Tồn Thiên Nhiên và Tài Nguyên Thiên Nhiên (IUCN): VQG là khu vực tự nhiên của vùng đất và hoặc vùng biển đượcchọn để bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và tương lai, loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ, không thân thiện với các mục đích của việcchọn lựa khu vực và chuẩn bị cơ sở cho cáccơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và tham quan, tất cả cáccơ hội đó phải có tính tương thích về văn hóa và môi trường
Vai trò, chức năng
- Bảo tồn và duy trì trong tình trạng tự nhiên các hệ sinh thái đặc trưng, đại diện, các quần xã sinh vật, các loài, nguồn gen; các đặc tính địa mạo, giá trị tinh thần và thẩm mỹ
- Phục vụ nghiên cứu khoa học về sinh thái, sinh học và bảo tồn
- Tham quan vì mục đích giáo dục, văn hóa, giải trí, tinh thần và du lịch sinh thái
Trang 24- Tạo điều kiện cải thiện chất lượng đời sống của người dân sống trong và xung quanh Vườn quốc gia
Tiêu chí phân loại
- Khu vực bảo tồn bao gồm một hay nhiều mẫu đại diện cho các vùng sinh thái chủ yếu, có các loài sinh vật, các hiện tượng địa chất có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục, tinh thần, giải trí hay phục hồi sức khoẻ cấp
quốc gia hoặc/và quốc tế
- Mỗi Vườn quốc gia phải có ít nhất 2 loài sinh vật đặc hữu hoặc trên 10 loài ghi trong Sách đỏ của Việt nam
- Diện tích của Vườn quốc gia cần đủ rộng để duy trì sự bền vững về mặt sinh thái học, diện tích tối thiểu trên 7.000 ha (VQG trên đất liền), trên 5.000ha (VQG trên biển), và trên 3.000ha (VQG đất ngập nước), trong đó còn ít nhất 70% diện tích là các hệ sinh thái tự nhiên có giá trị đa dạng sinh học cao
- Tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư so với diện tích Vườn quốc gia phải nhỏ hơn 5%
Mục tiêu thành lập vườn quốc gia
Hiện nay, tốc độ mất các loài trên thế giới ước tính nhanh gấp 100 lần so với trước kia, và nếu không có biện pháp bảo tồn một cách hữu hiệu thì tốc độ tiêu diệt các loài sẽ tăng lên 1.000 đến 10.000 lần (MA 2005)
Nước ta cũng đang đối đầu với tình trạng tương tự “Chúng ta đang sống trong
sự khủng hoảng biến mất các loài Sự mất mát các hệ sinh thái tự nhiên đa dạng và đẹp đẽ này trên Trái đất là mối nguy nghiêm trọng cho loài người bây giờ và trong tương lai” (IUCN) Cũng vì thế mà LHQ đã tuyên bố năm 2010 là năm Quốc tế đa dạng sinh học (ĐDSH), với chủ đề ĐDSH và phát triển, nhằm khảng định ĐDSH, sự đa dạng của cuộc sống là tài sản hữu hình và vô hình có liên hệ mật thiết với sự tồn tại của cả loài người
Để bảo tồn ĐDSH, đến nay Việt Nam cũng đã xây dựng được một hệ thống các
Trang 25phần lớn các loài động và thực vật của đất nước, nhất là các loài quý hiếm, đang
có nguy cơ bị tiêu diệt Vườn quốc gia Cát Tiên là một trong hệ thống đó, là nơi
có hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa, với địa hình núi thấp, đặc trưng của phần cuối dãy Trường sơn và vùng Đông Nam bộ Hệ sinh thái rừng Cát Tiên khá đa dạng bao gồm các kiểu: rừng lá rộng thường xanh; rừng lá rộng thường xanh nửa rụng lá; rừng hỗn giao gỗ, tre nứa; rừng tre nứa thuần loại và thảm thực vật đất ngập nước VQG Cát Tiên còn có đủ các dạng sông, suối, thác, ghềnh, thung lũng, bàu, đầm lấy và các vùng đất bán ngập nước đã làm tăng thêm giá trị về tính đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên của Vườn
VQG Cát Tiên còn có hệ động vật rất phong phú Hiện nay đã tìm thấy 113 loài thú, 351 loài chim, 109 loài bò sát, 41 loài ếch nhái, 159 loài cá và 756 loài côn trùng, trong đó có một số loài đặc hữa, quý hiếm trên thế giới và Việt nam
Do sự phong phú của đa dạng sinh học, có ý nghĩa bảo tồn thiên nhiên cao trên thế giới, tầm quan trọng của hệ sinh thái tự nhiên với cuộc sống của nhân dân các vùng xung quanh, ngày 10/11/2001, Cát Tiên được Uỷ ban UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thứ 411 của thế giới và là khu dữ trữ sinh quyển thứ 2 của Việt Nam và ngày 04/08/2005 Ban Thư ký Công ước Ramsar đã công nhận hệ đất ngập nước Bàu Sấu vào danh sách các vùng đất ngập nước quan trọng thứ 1.499 của quốc tế Và hiện nay, Vườn quốc gia Cát Tiên đã hoàn chỉnh
hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới
1.1.5.2 Quan hệ giữa du lịch sinh thái với bảo tồn tự nhiên ở các quốc gia
Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh thái được hiểu là “Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững”
Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái (The Internatonal Ecotourism Society) thì
“DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”
Trang 26Qua tìm hiểu các khái niệm trên có thể thấy rằng các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG(KBTTN và VQG) là nơi phù hợp nhất, bởi đây chính là nơi có nhiều yếu
tố hấp dẫn khách DLST
Những yếu tố này có thể là một hoặc nhiều loài động thực vật quý hiếm và đặc hữu, cuộc sống hoang dã phong tục tập quán, tính đa dạng sinh học cao, địa hình hùng vĩ, các khu di tích lịch sử hoặc văn hóa đương đại, mang tính đặc thù trong điều kiện tự nhiên Những yếu tố này sẽ làm lợi cho các đơn vị tổ chứcDLST và cộng đồng địa phương do vậy các yếu tố này sẽ được bảo vệ tốt, chính đây là mối quan hệ giữa du lịch và các Khu bảo tồn và VQG
Ở Việt Nam nói chung và ở VQG nói riêng, một yếu tố gây hấp dẫn cho khách
du lịch đó là những thông tin về đa dạng sinh học, những phát hiện mới về các loài động thực vật và những cảnh đẹp thiên nhiên Tuy nhiên cũng phải khẳng định rằng các khách đến với các khu bảo tồn và VQG không hẳn là khách DLST, mà họ chỉ có những sở thích về muốn khám phá cảnh đẹp, do vậy họ chỉ lưu lại những khu vực này với thời gian rất ngắn, họ không muốn có những trải nghiệm thực sự với thiên nhiên Nhưng không là quan trọng miễn là chúng ta có cách quản lý tốt, họ cũng là những nguồn thu lợi hiệu quả góp phần vào cho việc bảo tồn và cải thiện sinh kế cho người dân ở đây như một giải pháp trước mắt, nhưng đó không phải là đối tượng chính cho của hoạt động DLST Mà các hoạt DLST ở đây phải được xây dựng bám sát định nghĩa về DLST Nhằm đảm bảo rằng phát triển DLST không làm tổn hại đến VQG và tăng nguồn thu nhập một cách bền vững cho cộng đồng địa phương bằng các hoạt động DLST
DLST là cách tốt nhất nhằm giúp cả cộng đồng địa phương và các KBTTN & VQG Đó cũng là một hợp phần lý tưởng của chiến lược phát triển bền vững trong đó tài nguyên thiên nhiên được sử dụng như một yếu tố thu hút khách du lịch mà không gây tác hại tới thiên nhiên của khu vực Là một công cụ quan trọng trong quản lý các KBTTN & VQG Tuy vậy phát triển DLST phải đảm bảo được phát triển phù hợp với hoàn cảnh cụ thể
Trang 27Mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên
Mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên được thể hiện ở một trong ba dạng chính sau:
- Quan hệ cùng tồn tại: khi có rất ít mối quan hệ giữa du lịch và bảo tồn tự nhiên hoặc cả hai ồn tại độc lập
- Quan hệ cộng sinh: trong đó cả du lịch và bảo tồn tự nhiên đều nhận được những lợi ích từ mối quan hệ này và có sự hỗ trợ lẫn nhau
- Quan hệ mâu thuẫn: khi sự hiện diện của du lịch, nhất là du lịch đại chúng, làm hại đến bảo tồn tự nhiên
Mối quan hệ tồn tại ở dạng nào tùy thuộc vào nhiều yếu tố, song mức độ sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên của du lịch đóng vai trò quan trọng
Lợi ích du lịch mang lại cho Vườn quốc gia
Có thể khái quát một số lợi ích từ du lịch như sau:
- Tạo động lực quan trọng trong việc thiết lập và bảo vệ VQG Nghĩa là lợi ích hai chiều được hình thành khi du lịch hoạt động trong các VQG
- DLST có khả năng mang lại nguồn thu nhập lớn cho VQG Tuy nhiên mục tiêu chính của du lịch sinh thái không phải là lợi ích kinh tế thuần túy
mà là khả năng của nó trong việc góp phần bảo tồn cảnh quan thiên nhiên đẹp, tính đang dạng các hệ sinh thái, thế giới động vật phong phú và các nền văn hóa dân tộc đặc sắc
- Du lịch tạo cơ hội để du khách được tham quan, tiếp xúc và nâng cao hiểu biết về môi trường thiên nhiên, từ đó có những nhận thức tích cực trong bảo tồn tài nguyên và môi trường
- Thúc đẩy sự phát triển của các khu vực lân cận nhờ sản phẩm từ nông nghiệp và thủ công v.v
- Khuyến khích mở rộng vùng đất giáp ranh, tạo điều kiện duy trì độ che phủ thực vật tự nhiên, tăng cường bảo vệ môi trường
Trang 28- Tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương và qua đó nâng cao thu nhập của họ nhờ sự tham gia của họ trong hoạt động du lịch, từ đó giảm bớt sức ép lên môi trường VQG
Tác động tiêu cực có thể nảy sinh từ du lịch ở các VQG
Tác động tiêu cực lên các khu vực tự nhiên được bảo vệ có thể phân ra làm hai loại trực tiếp và gián tiếp Các tác động trực tiếp gây ra bởi sự có mặt của du khách, còn tác động gián tiếp nảy sinh từ cơ sở hạ tầng, dịch vụ liên quan đến hoạt động du lịch Cụ thể các tác động như sau:
- Tác động vào cấu trúc địa chất, cấu tạo đá, khoáng sản: do hoạt động leo núi, thăm hang động, thu lượm mẫu đá … làm kỷ niệm
- Tác động lên thổ nhưỡng: do hoạt động đi bộ, cắm trại, bãi đổ xe… gây ảnh hưởng đến môi trường và điều kiện sống của hệ sinh vật
- Tác động vào nguồn tài nguyên nước: tập trung số đông khách du lịch sẽ ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng nguồn nước Việc xử lý chất thải không triệt để và hợp lý sẽ làm tăng nguy cơ giảm chất lượng nguồn nước của khu du lịch và vùng lân cận
- Tác động lên hệ thực vật: hoạt động du lịch giải trí có thể tạo ra tác động đến thực vật như bẻ cành, giẫm đạp, thải khí từ phương tiện giao thông, làm đường, bãi đỗ xe, công trình dịch vụ v.v
- Tác động lên động vật: hoạt động tham quan, tiếng ồn của khách, của phương tiện giao thông khiến động vật hoảng sợ, thay đổi diễn biến sinh hoạt và địa bàn cư trú, sinh sống của chúng
Ngoài ra, việc thải rác bừa bãi có thể gây ra sự nhiễm dịch bệnh cho động vật hoang dã … Nhu cầu tiêu dùng xa xỉ các món ăn từ động vật của du khách dẫn đến việc săn lùng, buôn bán làm giảm đáng kể số lượng quần thể động vật và cuối cùng là thay đổi cấu trúc hệ sinh thái ban đầu
DLST là du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với tự nhiên và cũng không tránh khỏi tác động tiêu cực Tuy nhiên, DLST có khả năng giảm thiểu những tác động tiêu
Trang 29cực, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn, nếu được vận hành đảm bảo các nguyên tắc của nó
1.1.5.3 Quan hệ giữa du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương
Trước hết, ngoài những hấp dẫn về tự nhiên đối với khách du lịch, thì vai trò của cộng đồng địa phương cũng không thể xem nhẹ trong việc thu hút khách với những yếu tố chính về văn hóa xã hội, bao gồm:
- Truyền thống địa phương
- Lịch sử địa phương và những di sản văn hóa bản địa
- Kiến trúc
- Các món ăn địa phương
- Hàng thủ công
- Nghệ thuật, âm nhạc
- Tôn giáo, ngôn ngữ
- Cách sống
- Trang phục, phong tục, truyền thống
Trong những yếu tố này, 5 yếu tố đầu có xu hướng được khách du lịch coi là quan trọng hơn Mặc dù khách DLST quan tâm nhiều đến môi trường tự nhiên, song không thể loại trừ mong muốn tham quan, hiểu biết các vấn đề văn hóa –
xã hội của cộng đồng địa phương Thêm vào đó, địa phương lại là nơi đáp ứng các nhu cầu của khách như: nơi ăn nghỉ, tiện nghi, các phương tiện giải trí, các dịch vụ cần thiết, và ngay cả nguồn nhân lực phục vụ khách trong đó có lòng hiếu khách
Như vậy, khách du lịch đến địa phương thăm quan, dù là môi trường tự nhiên, thì vẫn có những quan hệ và tác động đến cộng đồng địa phương Đó là những tác động về văn hóa – xã hội – những ảnh hưởng mang đến cho cộng đồng địa phương do kết quả của mối quan hệ qua lại với khách
Trang 301.2 Cơ sở thực tiễn về du lịch sinh thái
1.2.1 Các Vườn quốc gia phát triển du lịch sinh thái trên thế giới
Vườn quốc gia YellowStone (Mỹ)
Địa hình nước Mỹ rộng, dài bao gồm biển – núi – hồ - sông mênh mông tít tắp Máy bay của Hãng American Airline chở hành khách đến Jacson Hole (bang Wyoming, bang rộng thứ 9 của nước Mỹ) thông thường trên các chuyến bay nội địa, với cuộc hành trình khoảng 2 giờ bay thì phi công cho máy bay bay ở độ cao vừa phải, hành khách có thể quan sát được dưới đất trong suốt chuyến bay.Khi máy bay hạ cánh, điều làm những du khách lần đầu đến Wyoming ngạc nhiên đến không ngờ là đường băng được xây dựng song song với dãy núi trải dài Sân bay như một nơi đậu dã chiến với dãy nhà ga làm bằng gỗ và thấp tè như nơi ở của những người Eskimo trong mùa đông mà thỉnh thoảng được mô tả trong những phim thế giới đó đây hoặc trong truyện
Khách đến đây trong mùa hè thường là trú chân qua đêm ở thị trấn để rồi sáng mai sẽ làm một tour du lịch tham quan Vườn quốc gia Grand Teton hay băng qua Teton để đến với Vườn quốc gia đầu tiên của thế giới là YellowStone, nơi mà cuối những năm 1990 đã bộc phát cháy rừng trên diện rộng và Tổng thống Bill Clinton lúc bấy giờ đã phải bay về thị sát và chỉ đạo chữa cháy cho rừng, nhưng vết tích của cuộc cháy rừng vẫn còn, nhiều đám cây cháy và đổ ngả nghiêng trên diện rộng vẫn còn Người ta không xê dịch, không tác động vào rừng nguyên sinh mà vẫn để như nó vốn có
Hàng năm, du khách có hai dịp để đến với Jacson Hole-Wyoming Đó là mùa đông để trượt tuyết và mùa hè để vào rừng câu cá hoặc xem thú, chứng kiến những mạch nước nóng phun lên từng chặp như vòi rồng Khu vực giữa Yellowstone trong quá khứ, hiện tại và tương lai đều nằm dưới sức mạnh của núi lửa Cách đây 2 triệu năm rồi 1,3 triệu năm và mới nhất là 640.000 năm, những trận phun núi lửa dữ dội đã xảy ra tại đây Phần trung tâm của Yellowstone bị sụp, tạo thành miệng núi lửa to khoảng 30 - 45 miles, hoặc những chỗ trũng Nhiệt nóng của sự phun trào đó vẫn truyền năng lượng cho
Trang 31những mạch nước phun của công viên, những dòng suối nóng, những lỗ phun khí và những vùng lầy Những thác nước làm nổi bật các đường ranh giới giữa những luồng dung nham và những khu vực ấm Những ngọn núi lởm chởm đe dọa vùng đồng bằng núi lửa của công viên
Cuộc sống hoang dã ở Yellowstone rất đa dạng: bò rừng, nai sừng tấm, gấu xám
- gấu đen, thiên nga kèn, cá hồi dữ Các loại thực vật được sắp xếp từ thực vật gần-sa mạc đến thực vật cỏ núi cao và núi (trên dãy Washburn) Thông Lodgepole chiếm 60% diện tích vườn quốc gia và là thành phần chiếm 80% của rừng Yellowstone trở thành vườn quốc gia hàng đầu quốc gia bởi phong cảnh hoặc đời sống hoang dã ở đây Nhưng lịch sử của nó lại có đầy ắp ở những câu chuyện cổ tích đầy màu sắc, hoặc những người thợ săn Jim Bridger và Osborne Russel và những nhà thám hiểm, những thợ chụp hình, những người vẽ bản đồ Những bức ảnh của William Henory Jackson và những bức phác họa của Thomas Mora đã tác động đến Quốc hội Hoa Kỳ trong việc thành lập Yellowstone là vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới vào năm 1872 - khoảng 65 năm sau khi cư dân ở vùng giáp ranh là John Colter trở thành người Mỹ da trắng đầu tiên "xâm nhập" vào vùng đất của người da đỏ, có nhiều mạch nước nóng phun, có hồ và rừng mênh mông này Ý tưởng "vườn quốc gia" đã trở thành một mô hình sử dụng đất đai của nhiều quốc gia Và Yellowstone đã phát triển
từ một vùng đất đầy hấp dẫn và là nơi nương náu của thú hoang dã thành nơi bảo tồn sinh quyển và di sản thế giới
Ở Yellowstone, người ta chỉ cần bỏ ra 12USD/người - tiền mua vé ở cửa VQG, khách sẽ được phát cho bản đồ khu vực Yellowstone và vùng lân cận Có bản đồ trong tay, khách muốn đi tìm đến khu vực nào thì cứ theo con đường trải nhựa ngang dọc trong các cánh rừng Nếu cần xem các khe núi nứt và đổ sụp xuống từ hàng vạn hay hàng triệu năm, tạo ra những vách núi lô nhô ăn sâu xuống lòng đất, khách cũng có thể đến đó bằng đường chỉ dẫn và có cả bãi đậu xe ôtô cho khách Hay như đến mục kích những đầm nước nóng còn bốc khói, những nơi
có đàn trâu rừng, hươu nai ra ăn cỏ; nơi có thể câu cá, cắm trại Nhưng điều thú
vị nhất là du khách được chứng kiến tận mắt dòng nước nóng phụt ra từ lòng
Trang 32đất, cao gần 10m ở thung lũng có nhiều đầm nước nóng của Yellowstone Nơi
có dòng nước phụt ra cao nhất trong thung lũng này gọi là Old Faithful (Dòng suối chung thủy, vì cả trăm năm nay, ngày nào cũng vậy, cứ đúng theo giờ quy định thì dòng nước lại phụt lên, một ngày 3 lần)
Gần 300 miles (dặm vuông, 1 miles bằng 1.609km) đường công cộng trong những cánh rừng đã chào đón các loại xe đến đây từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, sau đó là nhường lại cho tuyết phủ Dù đường mở ra vòng vèo khắp các cánh rừng nhưng tuyệt đối không có những quán xá mọc lên theo đường như ở
xứ ta Dân của xứ người được giáo dục cách ứng xử với thiên nhiên rất kỹ nên tuyệt đối không có những vụ chặt cây phá rừng hay dẫm đạp, xả rác tùy tiện Họ vào rừng khi được phép và tự biết làm gì và không được phép làm gì Hệ thống nhà vệ sinh được xây dựng trong các trạm dừng chân, nơi đó sẽ có cả quày bán
đồ lưu niệm hoặc thức ăn, nước giải khát phục vụ du khách lỡ không đem thực phẩm và nước uống Những quán như vậy không nhiều và khách khi đi tham quan VQG đều chủ động mang theo thực phẩm cho mình và gia đình Vớidu khách đến đây, dù người Mỹ hay Úc, Đài Loan hay Nhật Bản , họ ứng xử với thiên nhiên rất đúng mực và trân trọng
Vườn quốc gia Sagarmatha (Nepal)
Công viên quốc gia Sagarmatha của Nepal là Di sản thiên nhiên thế giới năm
1979 Công viên quốc gia Sagarmatha bao gồm một phần dãy Himalayas và phía Nam của đỉnh Everest, có thể có nhiều người chưa từng nghe đến công viên quốc gia Sagarmatha nhưng không thể không biết đến đỉnh Everest – vốn là nóc nhà của thế giới Công viên quốc gia Sagarmatha còn bao gồm những dòng sông băng, các thung lũng sâu và đây là nơi cư trú cua nhiều loài quý hiếm, như báo tuyết và gấu trúc…Ngoài ra sự hiện diện của người Sherpa với nền văn hóa độc đáo của họ càng làm tăng thêm nét độc đáo, đặc sắc của Di sản thiên nhiên này
Độ cao của Công viên quốc gia Sagarmatha là 6.000 m so với mặt nước biển trong khi đỉnh Everest cao 8.848 m Toàn bộ diện tích của công viên quốc gia Sagarmatha khoảng 124.400 ha gồm cả núi, sông băng và thung lũng
Trang 33Công viên nằm tại tỉnh Solu Khumbu của Nepal, nơi có sự hiện diện của tộc người Sherpa nổi tiếng Kể từ năm 1976, công viên này đã được nhiều người biết đến đặc biệt là những người yêu thích thiên nhiên Nhưng kể từ khi cuộc sống của tộc người Sherpa được báo chí thế giới nói đến thì công viên này mới thực sự nổi tiếng Hiện nay có khoảng 2.500 người Sherpa vẫn đang sinh sống tại Công viên Sagarmatha, tộc người này đã sinh sống tại đây được bốn thế kỷ Những người dân Sherpa vẫn tiếp tục truyền thống săn bắn, nuôi trồng đúng với truyền thống sinh hoạt tự nhiên của họ trong suốt những thế kỷ vửa qua
Nếu đứng từ trên cao sẽ thấy toàn cảnh Công viên quốc gia Sagarmatha vô cùng hùng vĩ Mây trắng bao phủ, núi non chập chùng, cảnh quan thiên nhiên vô cùng
ấn tượng Công viên quốc gia Sagarmatha được Unesco công nhận Di sản theo các tiêu chí: Công viên quốc gia Sagarmatha có vẻ đẹp tự nhiên với những ngọn núi cao, dòng sông băng, thung lũng sâu và môi trường tự nhiên tuyệt vời Công viên là nơi cư trú của nhiều loài động vật quý hiếm như báo tuyết, gấu trúc Bên cạnh đó khu vực này là minh chứng cho một giai đoạn quan trọng của lịch
sử tiến hóa của trái đất và là một trong những khu vực địa chất thú vị nhất trên thế giới với núi cao, tầng địa chất trẻ kèm theo dòng chảy của sông băng Một đặc điểm nữa góp phần làm phong phú cho công viên quốc gia đó là bên cạnh môi trường tự nhiên, đời sống động thực vật phong phú, cảnh quan tuyệt đẹp thì nơi đây còn là nơi sinh sống của tộc người Sherpa
Ngoài tiêu chí trên thì Công viên Sagarmatha còn được công nhận bởi tính toàn vẹn của nó Ranh giới phía Bắc của di sản được xác định bởi sự chia cắt dãy Himalaya, chạy theo dãy giữa của khu vực tự trị Tây Tạng và Nepal Công viên Sagarmatha còn có một vùng đệm bảo vệ để bảo vệ tính toàn vẹn của di sản Hiện nay, Công viên Sagarmatha là điểm đến tại Nepal thu hút được khá đông khách thăm quan quốc tế Năm 1979, số lượng khách du lịch đến với công viên chỉ có 3.600 người thì đến năm 2010 đã tăng lên 25.000 người Nguồn thu từ du lịch đã góp phần tăng trưởng kinh tế địa phương và nâng cao đời sống của người dân bản địa Tuy nhiên việc tăng số lượng khách du lịch cũng ảnh hưởng đến
Trang 34môi trường sinh thái chung và đe dọa hệ sinh thái, thảm thực vật nơi đây Bên cạnh đó thấy được nguồn lợi từ việc kinh doanh du lịch, một số doanh nghiệp
đã cho xây những đường mòn dẫn lên núi một cách bất hợp pháp Rác thải từ các hoạt động du lịch cũng đã và đang là mối đe dọa lớn đối với công viên Sagarmatha Không chỉ có vậy, việc tăng số lượng khách du lịch tăng kéo theo việc nhà hàng, khách sạn cũng gia tăng theo Nạn chặt phá gỗ trái phép trong rừng làm nhà hàng, khách sạn cũng từ đây mà ngày càng nghiêm trọng
Ngoài ra, công viên quốc gia Sagarmatha nhận được rất nhiều sự quan tâm từ cộng đồng quốc tế Rất nhiều chuyên gia và các tình nguyện viên đến từ các tổ chức khác nhau trên thế giới đã đến đây để hỗ trợ Ban quản lý Di sản thực hiện các chương trình, kế hoạch bảo tồn và phát triển Di sản thiên nhiên này
1.2.2 Vài nét phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam có 30 Vườn quốc gia, 61 khu bảo tồn thiên nhiên và 45 khu rừng văn hoá, lịch sử nên Việt Nam có lợi thế hơn nhiều nước trong khu vực trong việc phát triển DLST
Chiều dài của tuyến du lịch khá thuận tiện về đường bộ, những năm gần đây nhiều đường xá đã được nâng cấp hoàn chỉnh như đường quốc lộ mới, đường 32 v.v Về mặt lưu trú của du khách cũng có các khách sạn với tiện nghi hiện đại Nhiều tổ chức lữ hành , phục vụ thông tin liên lạc, quảng bá v.v các Sở Du lịch, các công ty kinh doanh du lịch về các làng bản, nhân dân địa phương trên tuyến điểm du lịch đã có kinh nghiệm tốt đảm bảo niềm tin gây cảm tình đối với
du khách Tuyến du lịch có thể tổ chức dài từ 4 – 5 ngày đối với toàn tuyến, tuy nhiên có thể tuỳ theo yêu cầu của du khách mà có thể phân thành một tuyến nhất định
Việt Nam nằm trong vùng châu Á, nơi mà tổ chức du lịch thế giới và nhiều nhà chuyên môn du lịch có tên tuổi đã khẳng dịnh và dự báo rằng sẽ là nơi thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất cà cũng có nhiều người đủ điều kiện đi du lịch nhất (500 triệu người) ở thế kỷ 21
Trang 35Hiện nay, số khách du lịch trong nước đã tăng lên tới 35 triệu lượt khách.Trong
đó có bao nhiêu khách thuộc đối tượng DLST? Chưa có số liệu tin cậy bởi khái niệm DLST chưa được quan tâm dẫn đến trong thống kê du lịch chưa được thể hiện Căn cứ vào số khách đến với các vùng thiên nhiên với động cơ hưởng thụ vào sản phẩm thiên nhiên như: các vườn quốc gia và bảo tồn thiên nhiên, vãn cảnh sông nước, hành trình xuyên Việt, thám không vùng vịnh hay đến các khu
tự nhiên Hạ Long, TamCốc – Bích Động … thì tỷ lệ cũng không nhỏ có thể chiếm tới 30 – 40% tổng số khách hàng năm Tuy nhiên với khái niệm đầy đủ về
du DLST vế thứ hai là ý thức, trách nhiêm với việc bảo tồn phát triển DLSTthì chưa có những tư duy, giáo dục tốt về vấn dề này Với tốc độ đô thị hoá như hiện nay chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao và cải thiện…Chắc chắn nhu cầu đi DLST sẽ tăng lên đáng kể, không còn giới hạn ở con số 4 – 5 triệu người/năm mà có thể lên đến hàng chục triệu người mỗi năm trong các năm tới đây
Xét về tiềm năng DLST của nước ta với vị trí nằm tiếp giáp với biển Đông với chiều dài trên 3200km bờ biển có nhiều, vịnh đảo và những quần thể núi đá vôi, sông, hồ, thác nước, hang động, suối nước nóng, và 3/4 diện tích núi rừng với độ dốc cao…đã tạo cho Việt nam rất phong phú và đa dạng về khí hậu và địa hình địa mạo nên rất giàu về tiềm năng sinh thái cũng như sự đa dạng sinh thái
Theo đánh giá của quốc tế, nước ta đứng thứ 16 về sự phong phú, tính đa dạng sinh học, đại diện cho vùng Đông nam Á về sự độc đáo và giàu có về thành phần loài Mặc dù bị tổn thất về diện tích do nhiều nguyên nhân trong hai thập kỷ qua, nhưng hệ thực vật vẫn còn khá phong phú về chủng loại
Tiềm năng và thế mạnh về sự đa dạng sinh thái của Việt nam hấp dẫn du lịch ở các đặc trưng sinh thái dưới đây:
- Các vùng núi đá vôi với nhiều dạng hang động như là một kho tàng cảnh quan thiên nhiên huyền bí mà trong đó Vịnh Hạ long – di sản thiên nhiên thế giới , động Phong Nha – Kẻ Bàng làm ví dụ
Trang 36- Nhiều đảo, vịnh và bãi tắm biển đẹp với các sinh thái dộng vật, thực vật biển phong phú và đa dạng
- Hệ thống vườn bảo tồn thiên nhiên đa dạng và phong phú về hệ động thực vật rừng xen kẽ với nhiều dân tộc có người sinh sống có những bản sắc văn hoá hết sức đa dạng
- Các vùng sinh thái nông nghiệp đặc trưng nền văn minh lúa nước nhiều sông lạch, miệt vườn
Sự đặc hữu về động thực vật là một hấp dẫn đối với DLST mang tính chất nghiên cứu khoa học Những nhà khoa học có thể đến đây để tìm hiểu những loài động thực vật chỉ có ở Việt nam
Sự phong phú về hệ sinh thái ở Việt nam sở dĩ có được là nhờ sự đa dạng về địa hình của đất nước Sự đa dạng về địa hình kết hợp với sự phong phú về hệ sinh thái đã cho ra đời những sản phẩm, địa điểm DLST hấp dẫn Hấp dẫn nhất phải kể đến rừng mưa nhiệt đới Vườn quốc gia Cúc Phương, Cát Bà, Ba Bể, Bạch Mã
và khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha – Kẻ Bàng, Hoàng Liên Sơn
Tuy có tiềm năng to lớn, nhưng DLST trong phạm vi cả nước nói chung và trong các khu bảo tồn nói riêng còn đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển Các hoạt động đa số mang tính tự phát, chưa có sản phẩm và đối tượng phục vụ
rõ ràng, chưa có sự đầu tư quảng bá, nghiên cứu thị trường và công nghệ phuc
vụ cho DLST, chưa có sự quan tâm, quản lý chặt chẽ của các cấp các nghành do vậy mà thực tế là sự đa dạng sinh học đang bị de doạ
Theo ước tính ở Việt nam có hơn 12000 loài cây, 275 loài động vật có vú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài động vật lưỡng cư, 2470 loài cá và hơn5500 loài côn trùng, với ước tính hơn 10% đang mắc các bệnh đặc trưng ở các loài động vật có vú, chim và cá Điều đáng buồn là hơn 28% thuộc động vật có vú, 10% loài chim và 21% loài động vật lưỡng cư và loài bò sát được liệt kê là đang
ở tình trạng hết sức nguy hiểm Một nguyên nhân to lớn là môi trường sống bị mất đi do nạn phá rừng
Trang 37Trong số 11 vườn quốc gia thì Cúc Phương, Bạch Mã, Cát Tiên đã tổ chức hoạt động DLST khá hơn Cụ thể 3 vườn này đã xây dựng được một số tuyến DLST, một số tuyến đường mòn thiên nhiên, một số hướng dẫn viên là kiểm lâm được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về DLST Các vườn còn lại cũng tổ chức hoạt động thăm quan du lịch nhưng chưa có bài bản và định hướng rõ ràng
Căn cứ vào các tiêu chí của du lịch sinh thái ta có thể nhận thấy rằng:
Mặc dù đã có những tuyến du lịch mang tính chất DLST nhưng trên thực tế chỉ
là du lịch thiên nhiên hay du lịch liên quan đến thiên nhiên
Hoạt động giáo dục, diễn giải môi trường – một yếu tố rất cơ bản để phân biệt DLST với các loại hình du lịch khác chưa được triển khai nhiều do vườn chưa quan tâm đúng mức và thiếu cán bộ am hiểu về lĩnh vực mới mẻ này Cụ thể là trên các tuyến thăm quan, đường mòn thiên nhiên còn thiếu nhiều biển chỉ dẫn, chỉ báo Một số vườn đã có một số tờ gấp và biển chỉ dẫn nhưng nội dung thông tin, thông tin quá nghèo nàn, sơ sài Một số biển chỉ dẫn làm bằng sắt tây, giấy
ép plastic nên dễ bị thiên nhiên phá huỷ Hầu hết các hướng dẫn viên mới chỉ làm nhiệm vụ dẫn đường mà họ chưa có đủ kiến thức để thực hiện nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu nhất của mình là giáo dục và diễn giải môi trường
Lợi ích từ hoạt động du lịch còn ít, chưa hỗ trợ được nhiều cho công tác bảo tồn
và phát triển cộng đồng địa phương Nhân dân địa phương chưa được thu hút nhiều vào hoạt dộng du lịch của vườn
Trang 38TIỂU KẾT
Cũng một nỗ lực nghiên cứu tiềm năng du lịch sinh thái của Việt nam, nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rất nhiều hang động ở các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên vùng núi đá vôi trên phạm vi cả nước Động Phong Nha, Chùa Hương,Tam Cốc, Bích Động, các hang động trong khu vực di sản thiên nhiên Hạ long là những điểm tham quan nổi tiếng trong và ngoài nước
Từ đa dạng về tự nhiên dẫn đến sự đa dạng về văn hoá, chính vì vậy mà người Việt nam không thuần nhất mà gồm 54 dân tộc khác nhau Đáng chú ý hơn là các dân tộc thiểu số thường sống kề gần hoặc trong các khu bảo tồn thiên nhiên
Họ hiện vẫn đang lưu giữ được phong cách sống, bản sắc văn hoá riêng và tập tục độc đáo Điều này khiến Việt nam càng trở nên hấp dẫn trên phương diện du lịch sinh thái Hiện tại đời sống của những người dân ở đây có nhiều khó khăn thiếu thốn Đây cũng là cơ hội để du lịch sinh thái thể hiện mình, đóng góp vào phát triển cộng đồng tại các điểm du lịch
Trang 39CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DLST
VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP – NÚI BÀ TỈNH LÂM ĐỒNG 2.1 Giới thiệu về Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà
2.1.1 Bối ca ̉ nh Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà
Nằm ở trung tâm của Cao Nguyên Lang Biang của tỉnh Lâm Đồng, Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà (VQG BNB) được đánh giá như là m ột trong bốn trung tâm
đa dạng sinh học ở Vi ệt Nam.VQG BNB đã được chỉ định là một khu bảo tồn thiên nhiên vào năm 1986 và sau đó được nâng cấp lên thành Vườn qu ốc gia Bidoup Núi Bà vào ngày 19 tháng 11 năm 2004theo Quyết định số 1240/QĐ-TTg ngày 19/11/2004 của Thủ tướng chính phủ VQG BNB không chỉ góp phần
to lớn vào việc bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái của khu vực, nó cũng duy trì rừng đầu nguồn cho sông Đồng Nai và sông Sêrêpôk, hai con sông chính
ở miền trung Việt Nam
Vườn trải dài trên địa hình có độ cao từ 650m đến gần 2.300m với nhiều hệ sinh thái rừng khác nhau bao gồm: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi trung bình; Rừng hỗn giao lá rộng lá kim; rừng lá kim r ừng tre nứa, rừng lùn đỉnh núi; kiểu phụ rừng rêu; đồi cỏ savan v.v Hê ̣ thực vật có 1923 loài trong đó
có 91 loài đặc hữu và 62 loài quý hiếm Ngoài ra, VQG BNB còn là môi trường sống của hơn g ần 300 loài phong lan và nhiều loại cây cổ thụ quý hàng nghìn năm tuổi đang được các thành viên của Phòng thí nghiệm vòng tăng trưởng cây của Phòng quan sát đ ịa cầu Lamont Doherty của trường Đại học Columbia ở New York nghiên cứu chuyên sâu
Vườn quốc gia là môi trường sinh sống của nhiều loài động vật bao gồm các loài thú ăn thịt, thú móng guốc, vượn, các loài chim, loài bò sát, và các loài lưỡng cư v.v Toàn cảnh quan tự nhiên của VQG BNB rất ng oạn mục nhờ vào những cánh rừng nguyên sinh là ba đỉnh núi cao sương mù quanh năm có thể lên đến
Trang 40được Trong khu vực Vườn quốc gia có nhiều thác nước đẹp hài hòa trong nhiều cảnh quan thiên nhiên khác
Có vị trí thuận tiện g ần với Thành phố Đà lạt, VQG BNB có tiềm năng to lớn cho các hoạt động DLST như đi rừng dã ngoại, xe đạp địa hình, bơi xuồng cao
su, chèo bè, ngắm chim và nh ững loài động vật hoang dã Ngoài ra những nét văn hóa của các nhóm dân tộc thiều số miền núi cũng sẽ mang lại cho du khách cái nhìn về lối sống của cộng đồng cư dân bản địa có cuô ̣c sống hài hòa với núi rừng qua nhiều thế hệ
2.1.2 Mục tiêu thành lập VQG Bidoup – Núi Bà
Bảo tồn các hệ sinh thái rừng trong vùng khí hậu á nhiệt đới, núi cao và các loài động thực vật rừng đặc hữu, quý hiếm; gắn kết với các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên kế cận để tạo thành một vùng thiên nhiên rộng lớn, góp phần cho việc bảo tồn sinh học ở cao nguyên Đà Lạt, vùng Nam Tây nguyên và vùng Nam Trung bộ
Góp phần phòng hộ đầu nguồn nước cho hệ thống sông Đồng Nai và các hồ chứa nước ở hạ lưu nhằm phục vụ các hoạt động kinh tế xã hội của Tỉnh Lâm Đồng, vùng Nam Tây nguyên, Đông Nam bộ và duyên hải cực Nam Trung bộ Bảo tồn các sinh cảnh rừng nguyên sinh để tôn tạo và phát triển kiến trúc đô thị của thành phố Đà Lạt, bảo tồn các đặc trưng văn hoá bản địa nơi cội nguồn của thành phố Đà Lạt, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục về rừng nhiệt đới, phát triển DLST và góp phần củng cố an ninh quốc phòng của Tỉnh Lâm Đồng và vùng Tây nguyên
Thủ tướng chính phủ phê duyệt 9 chương trình hoạt động của Vườn quốc gia bao gồm:
- Chương trình bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học;
- Chương trình phục hồi sinh thái rừng;
- Chương trình phòng cháy chữa cháy rừng;
- Chương trình nghiên cứu khoa học;