Từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Liên kết nguồn lực nhằmphòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại phường Ngọc Sơn – quận Kiến An – thành phố Hải Phòng dựa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN VĂN MINH
LIÊN KẾT NGUỒN LỰC NHẰM PHÒNG NGỪA TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TRẺ EM TẠI PHƯỜNG NGỌC SƠN QUẬN
KIẾN AN THÀNH HẢI PHÒNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội-2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN VĂN MINH
LIÊN KẾT NGUỒN LỰC NHẰM PHÒNG NGỪA TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TRẺ EM TẠI PHƯỜNG NGỌC SƠN QUẬN
KIẾN AN THÀNH HẢI PHÒNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ Ngành: Công tác xã hội
Hà Nội-2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
1 Họ và tên học viên: Nguyễn Văn Minh
2 Giới tính: Nam
3 Ngày sinh: 03/10/1985
4 Nơi sinh: Xã Quốc Tuấn, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
5 Quyết định công nhận học viên cao học số /2012/QĐ-XHNV-SĐH ngày 6 tháng 8 năm 2012 của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin cam đoan trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Văn Tùng, kết quả nghiên cứu đạt được trong luận văn là do chính bản thân tôi thực hiện và chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Người cam đoan
Nguyễn Văn Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sỹ “Lliên kết nguồn lực nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại phường ngọc Sơn – quận Kiến An – thành phố Hải Phòng dựa vào cộng đồng” được hoàn thành sau một thời gian làm việc khẩn trương và nghiêm túc
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Nhà trường cùng các thầy, cô giáo Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trịnh Văn Tùng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình
Xin cảm ơn tập thể UBND phường Ngọc Sơn, các trường THCS, các Hội phụ nữ, phụ lão, đoàn thanh niên, trạm y tế, các tổ chức công giáo, các doanh nghiệp và các hộ gia đình trên địa bàn phường đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thu thập số liệu, thông tin phục vụ luận văn
Xin chân thành cảm ơn các anh chị, các bạn lớp cao học QH1-2012
đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt tới gia đình bạn bè đã luôn động viên, khích lệ giúp tôi hoàn thành khóa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Học viên thực hiện
Nguyễn Văn Minh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 18
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 18
1.1.1 Các khái niệm công cụ 18
1.1.1.1 Liên kết 18
1.1.1.2 Nguồn lực 18
1.1.1.3 Liên kết nguồn lực 20
1.1.1.4 Cộng đồng 20
1.1.1.5 Dựa vào cộng đồng 21
1.1.1.6 Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng 22
1.1.1.7 Phòng ngừa 22
1.1.1.8 An toàn 23
1.1.1.9 Cộng đồng an toàn 23
1.1.1.10 Mô hình cộng đồng an toàn 23
1.1.1.11 Trẻ em 24
1.1.1.12 Tai nạn thương tích 24
1.1.1.13 Phòng ngừa tai nạn thương tích 25
1.1.2 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 25
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài Error! Bookmark not defined 1.2.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 37
1.2.2 Phân loại các loại rủi ro do tai nạn thương tích 30
1.2.2.1 Phân loại theo chủ đích 30
1.2.2.2 Phân loại theo các nguyên nhân 31
1.2.3 Tiêu chí của một cộng đồng an toàn theo Tổ chức Y tế thế giới 33
1.2.4 Tiêu chuẩn của cộng đồng an toàn tại Việt Nam 34
1.2.5 Cơ sở pháp lý của việc giảm thiểu tai nạn thương tích trẻ em 34
1.2.5.1 Luật Quốc tế 34
1.2.5.2 Luật Việt Nam 35
Trang 6Chương 2: THỰC TRẠNG RỦI RO VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG NGỌC SƠN- QUẬN
KIẾN AN – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG HIỆN NAY 40
2.1 Thực trạng rủi ro về TNTTTE tại phường Ngọc Sơn 40
2.2 Các biện pháp phòng ngừa TNTTTE tại phường Ngọc Sơn hiện nay 47
2.2.1 Nhóm biện pháp truyền thông phòng ngừa TNTTTE 47
2.2.1.1 Tình hình thực hiện biện pháp truyền thông phòng ngừa TNTTTE….45 2.2.1.1.1 Người làm công tác truyền thông phòng ngừa TNTTTE…… 45
2.2.1.1.2 Hình thức truyền thông phòng ngừa TNTTTE……… 49
2.2.1.1.3 Nội dung truyền thông phòng ngừa TNTTTE………51
2.2.1.1.3 Mức độ quan tâm của các lực lượng trong cộng đồng đối với công tác truyền thông phòng ngừa TNTTTE………55
2.2.1.2 Đánh giá của cộng đồng về công tác truyền thông phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em……… 59
2.2.2 Nhóm biện pháp xây dựng hệ thống kỹ thuật bảo vệ trẻ em khỏi tai nạn thương tích 61
2.2.2.1 Tình hình thực hiện biện pháp xây dựng hệ thống kỹ thuật bảo vệ trẻ em khỏi tai nạn thương tích……… 61
2.2.2.1.1 Hệ thống báo hiệu nguy hiểm……….61
2.2.2.1.2 Hệ thống rào chắn ở những nơi có rủi ro cao……….64
2.2.2.2 Đánh giá của cộng đồng về nhóm biện pháp xây dựng hệ thống kỹ thuật bảo vệ trẻ em khỏi tai nạn thương tích……… 66
2.2.3 Nhóm biện pháp xây dựng nhóm công dân trách nhiệm và tự nguyện hỗ trợ trẻ em ở những tình huống dễ xảy ra rủi ro, tai nạn thương tích 69
2.2.3.1 Tình hình thực hiện biện pháp xây dựng nhóm công dân trách nhiệm và tự nguyện hỗ trợ trẻ em ở những tình huống dễ xảy ra tai nạn thương tích… 69
2.2.3.2 Đánh giá của cộng đồng về nhóm biện pháp xây dựng nhóm công dân trách nhiệm và tự nguyện hỗ trợ trẻ em ở những tình huống dễ xảy ra tai nạn thương tích………72
Trang 72.2.4 Nhóm biện pháp xây dựng các lớp tập huấn về kĩ năng phòng ngừa tai nạn
thương tích cho trẻ em và gia đình 74
2.2.4.1.Tình hình thực hiện biện pháp xây dựng các lớp tập huấn về kĩ năng phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em và gia đình… 74
2.2.4.2 Đánh giá của cộng đồng về nhóm biện pháp xây dựng các lớp tập huấn phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em và gia đình trẻ……… 75
Chương 3: HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG MÔ HÌNH CỘNG ĐỒNG AN TOÀN PHÒNG NGỪA TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TẠI PHƯỜNG NGỌC SƠN – QUẬN KIẾN AN – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 78
3.1 Nhu cầu liên kết nguồn lực của cộng đồng để phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em 78
3.2 Đánh giá nguồn lực công đồng taị phường Ngọc Sơn trong việc phòng ngừa TNTTTE 81
3.3 Mức độ sẵn sàng tham gia của các tiểu hệ thống trong việc xây dựng CĐAT phòng ngừa TNTTTE 87
3.4 Vai trò tổ chức liên kết cộng đồng nhằm phòng ngừa TNTTTE…………90
3.5 Quy trình xây dựng mô hình phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em 92
3.6 Mô hình cộng đồng an toàn phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em 106
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.3 Thực trạng rủi ro về TNTTTE tại phường Ngọc Sơn 42 Bảng 2.4 Người làm công tác truyền thông phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em48 Bảng 2.5 Mức độ tiếp cận các hình thức truyền thông phòng ngừa TNTTTE53 Bảng 2.6 Đánh giá mức độ quan tâm của các tiểu hệ thống trong cộng đồng đối với công tác truyền thông phòng ngừa TNTTTE 59 Bảng 2.7 Đánh giá của cộng đồng về hiệu quả công tác truyền thông phòng
Bảng 2.8 Thực tế tham gia làm hệ thống báo hiệu nguy hiểm của các tiểu hệ thống trong việc phòng ngừa TNTTTE 62 Bảng 2.9 Thực tế tham gia làm hệ thống rào chắn của các tiểu hệ thống trong việc phòng ngừa TNTTTE 73 Bảng 2.10 Đánh giá của cộng đồng về hiệu quả của hệ thống báo hiệu nguy
hiểm phòng ngừa TNTTTE Error! Bookmark not defined
Bảng 2.11 Đánh giá của cộng đồng về hiệu quả của hệ thống rào chắn ở những nơi
có rủi ro cao 77Bảng 2.12 Thực tế tham gia xây dựng nhóm công dân trách nhiệm và tự nguyện của các tiểu hệ thống trong việc phòng ngừa TNTTTE……… 70 Bảng 2.13 Đánh giá hiệu quả tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng nhóm công dân trách nhiệm và tự nguyện phòng ngừa TNTTTE………… 72 Bảng 2.14 Mức độ tham gia các lớp tập huấn phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em……….74 Bảng 2.15 Đánh giá hiệu quả tham gia của các tiểu hệ thống xã hội trong việc xây dựng các lớp tập huấn phòng ngừa TNTTTE………75 Bảng 3.1 Đánh giá của các tiểu hệ thống về mức độ cần thiết liên kết cộng đồng nhằm phòng ngừa TNTTTE ….82
Trang 9Bảng 3.2 Đánh giá về nguồn lực của các tiểu hệ thống xã hội trong việc liên kết phòng ngừa TNTTTE 82 Bảng 3.3 Mức độ sẵn sàng tham gia của các tiểu hệ thống trong việc phòng ngừa tai nạn thương tích 918
Bảng 3.4 Đánh giá về mức độ quan trọng của người đại diện của tiểu hệ thống trong cộng đồng trong việc phòng ngừa TNTTTE……… 90 Bảng 3.5 Chương trình lễ phát động xây dựng CĐAT 99
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Quy trình xây dựng mô hình CĐAT phòng ngừa TNTTTE 108
Sơ đồ 3.2: Mô hình cộng đồng an toàn phòng ngừa TNTTTE 109
Trang 10UNICEF QUỸ NHI ĐỒNG LIÊN HỢP QUỐC
VMIS ĐIỀU TRA LIÊN TRƯỜNG VỀ TAI NẠN THƯƠNG
TÍCH TẠI VIỆT NAM UBND ỦY BAN NHÂN DÂN
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai” Trẻ em là hạnh phúc của gia đình,
tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cuộc sống hiện tại của trẻ em sẽ ảnh hưởng tới tương lai của đất nước Vì vậy, chúng
ta cần dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em, vì một tương lai tươi sáng
Đất nước ta đang ngày càng phát triển về tất cả các lĩnh vực đem lại cuộc sống
ấm no, sung túc hơn, nhưng kéo theo đó là hàng loạt những vấn đề xã hội nảy sinh như
ô nhiễm môi trường, bạo lực, tai nạn giao thông ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống mọi người dân, trong đó có trẻ em
Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em quy định trẻ em là những người dưới 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, dễ bị tổn thương, thiếu khả năng tự bảo vệ, có những nhu cầu đặc biệt như nhu cầu được nuôi dưỡng, sống cùng cha mẹ, học tập, vui chơi…nên cần được bảo vệ, giúp đỡ để trẻ em phát triển một cách toàn diện và được thực hiện các quyền của trẻ em [36] Nhận thức được vị trí, vai trò của trẻ em trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm tới sự phát triển của trẻ em Trong Luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em số 25/2004/QH11 đã ghi rõ:
“Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu” [36]
Nếu như trẻ em luôn phải sống trong môi trường đầy rẫy những nguy hiểm, rủi
ro thì các em sẽ không được phát triển toàn diện, kèm theo đó là tâm trạng hoang mang, lo sợ Những thế hệ tương lai của đất nước như vậy tất sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trẻ em vẫn đang phải sống hàng ngày trong một môi trường có rất nhiều rủi ro
về tai nạn thương tíchvà bạo lực Mỗi ngày, mỗi giờ trôi qua, trẻ em vẫn bị sát hại khắp nơi trên thế giới, bị bóc lột sức lao động, bị tai nạn… Một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em đó là tai nạn thương tích
Hằng năm, tai nạn thương tích là nguyên nhân cướp đi sinh mạng của trăm nghìn trẻ em trên toàn thế giới [16] Không kể giới tính, dân tộc, hay tình trạng kinh tế
Trang 12xã hội, tai nạn thương tích hiện vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho nhiều lứa tuổi, nhất là ở lứa tuổi trẻ em [18]
Theo thống kê của Cục Y tế dự phòng và môi trường, từ năm 2005 – 2013 có
7253 trẻ em bị tử vong do tai nạn thương tích, trong 6 tháng đầu năm 2013 đã có khoảng 700 trẻ em bị tử vong do đuối nước chủ yếu là vào mùa hè [17]
Qua số liệu báo cáo của cơ quan chức năng, tai nạn thương tích xảy ra ở nông thôn nhiều hơn thành thị [16] Trẻ em sống ở nông thôn, trong gia đình có thu nhập thấp thường phải làm nhiều việc nhà như nấu ăn, chăm sóc em nhỏ, lau dọn và tham gia sản xuất nông nghiệp Đây là những yếu tố làm tăng nguy cơ bị tai nạn thương tích trong cộng đồng Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của phần lớn tai nạn thương tích ở trẻ
em bắt nguồn từ sự bất cẩn, thiếu quan tâm của người lớn [16] Nếu như người lớn quan tâm tới trẻ hơn, nhận thức được những nguy hiểm đang rình rập trẻ thì rất có thể những cái chết thương tâm đã không xảy ra
Đứng trước những hậu quả đáng báo động về tai nạn thương tích ở trẻ em Việt Nam, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và hoạt động thiết thực để góp phần giảm thiểu tai nạn thương tích ở trẻ: Chính sách quốc gia về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em (2001-2010); Quyết định của Bộ Y tế về việc triển khai cộng đồng an toàn trên toàn quốc (2006); Quyết định của Bộ Giáo dục về việc triển khai chương trình trường học
an toàn (2007)… Những nỗ lực trên của Nhà nước và xã hội đã góp phần giảm thiểu tai nạn thương tích ở trẻ em Tuy nhiên, cần phải có những chương trình cụ thể phù hợp với từng địa bàn, từng khu vực, điều kiện vật chất nơi trẻ sinh sống
Thực tế cho thấy phường Ngọc Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến tai nạn thương tích ở trẻ em Tại đây điều kiện sống, cơ
sở vật chất, môi trường sống đều ẩn chứa nhiều nguy hiểm cho trẻ em, đặc biệt đây là đầu mối giao thông quan trọng của trung tâm thành phố với các tỉnh vùng Duyên hải Bắc Bộ Bên cạnh đó, các giải pháp đưa ra nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em chỉ mang tính tự phát chưa có sự gắn kết, liên kết giữa các tiểu hệ thống với nhau, cho nên dẫn đến nhiều sự việc đau thương và tình trạng tai nạn thương tích ở phường Ngọc Sơn vẫn ngày càng gia tăng, năm 2012 có 45 trẻ em bị tai nạn thương tích, đến năm 2013 đã có tới 74 trường hợp trẻ em bị tai nạn thương tích [42], hơn thế nữa các giải phát đưa ra chủ yếu tập trung vào việc chống tai nạn thương tích mà bỏ
Trang 13qua công tác phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại phường Ngọc Sơn, quận Kiến
An, thành phố Hải Phòng
Dưới góc độ công tác xã hội, chúng tôi muốn tìm hiểu thực trạng rủi ro tai nạn thương tích trẻ em, những biện pháp mà cộng đồng hiện nay đang áp dụng để phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em, đồng thời đánh giá những nguồn lực của cộng đồng để tìm cách liên kết, xây dựng thành mô hình phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em
Từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Liên kết nguồn
lực nhằmphòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại phường Ngọc Sơn – quận Kiến An – thành phố Hải Phòng dựa vào cộng đồng”.Khi thực hiện nghiên cứu này,
bản thân tôi mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé cùng với các cấp, ban ngành, đoàn thể, các tổ chức trong nỗ lực chung phòng ngừa và giảm thiểu tai nạn thương tích trẻ em
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
TNTTTE là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm, vấn đề chung của toàn cầu, không của riêng quốc gia nào Để tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp TNTTTE đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này Sau đây là một số
công trình nghiên cứu về vấn đề TNTT nói chung và TNTTTE nói riêng
Theo “Báo cáo thế giới về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em” của nhóm tác giả Margie Peden, Tổng giám đốc Tổ chức Y tế thế giới, Kayode Oyegbite, Joan Ozanne-Smith, Adnan A Hyder, Christine Branche, AKM Fazlur Rahman, Frederick Rivara và Kidist Bartolomeos 2008 [19], thương tích giao thông đường bộ là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong cao trong số trẻ độ tuổi 15-19 và là nguyên nhân thứ hai trong số các thanh thiếu niên 10-14 tuổi
Tại báo cáo các nhà nghiên cứu cũng đã khẳng định: “Gánh nặng thương tích ở trẻ em là bất bình đẳng” Trẻ em ở các quốc gia nghèo hơn và ở các gia đình nghèo hơn tại các quốc gia giàu thì dễ bị tổn thương nhất Mặc dù tỉ lệ tử vong do thương tích
ở trẻ emlà thấp hơn rất nhiều tại các quốc gia phát triển, nhưng thương tích vẫn là nguyên nhân chính của tử vong
Trong báo cáo, các tác giả ngoài việc đưa ra một “bức tranh” tổng thể về TNTTTE để mọi người thấy được tầm quan trọng của việc phòng chống TNTTTE, còn
Trang 14đi sâu tìm hiểu về các loại thương tích chủ yếu như tai nạn thương tích giao thông, đuối nước, bỏng, ngã
2.2 Các nghiên cứu trong nước
Trong nhiều năm qua vấn đề tai nạn thương tích trẻ em đã được các cấp Đảng
và nhà nước hết sức quan tâm, từ việc ban hành các điều luật bảo vệ và chăm sóc trẻ
em, quyết định của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2013 – 2015, ban hành ngày 11/11/2013 số ra 2158/QĐ – TTg do Bộ Lao động thương binh và xã hội đề xuất và thực hiện, quyết định của Bộ trưởng giao thông vận tải về việc ban hành kế hoạch phòng chống tai nạn thương tích, phòng, chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2014 - 2015 đến các cuộc hội thảo về tai nạn thương tích như : Hội thảo phòng chống tai nạn thương tích trẻ em thực trạng, thách thức và các giải pháp ngày 27/10/2011 do Ban tuyên giáo trung ương tổ chức… tất cả đều nhằm mục tiêu giảm thiểu tai nạn thương tích cho trẻ em, thế hệ tương lai của đất nước Việt Nam.Cũng có rất nhiều những nghiên cứu về vấn đề tai nạn thương tích cho trẻ em trong giai đoạn gần đây ở nhiều lĩnh vực khác nhau
2.2.1 Những nghiên cứu theo tiếp cận y tế cộng đồng
Trường Đại học Y tế công cộng và các đối tác thuộc Mạng lưới y tế công cộng
đã tiến hành “Điều tra quốc gia về tai nạn thương tích năm 2001” (Điều tra liên trường
về tai nạn thương tích tại Việt Nam – VMIS) [18]
Điều tra VMIS cho thấy tỷ lệ tử vong và không tử vong do TNTT cao hơn so với các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm Trong đó, tai nạn giao thông đường bộ và đuối nước được xác định là các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho dân số Việt Nam Trong thời gian đầu, TNTT được ghi nhận là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong
ở trẻ em dưới 18 tuổi
Với thiết kế quy mô lớn và chất lượng mang tầm quốc gia, điều tra đã cung cấp một bức tranh tổng thể đúng đắn về thực trạng TNTT ở Việt Nam và là số liệu cho việc lập kế hoạch phòng chống TNTT trong những năm tiếp theo ở Việt Nam
Để thu thập số liệu cơ bản về tình hình chấn thương ở trẻ em, trong thời gian từ 7/2003 – 7/2004, Dự án phòng chống TNTTTE do Bộ Y tế và Qũy Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) triển khai, đã tiến hành “Điều tra tình hình chấn thương và các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ em dưới 18 tuổi tại các hộ gia đình thuộc 6 tỉnh Hải Dương, Hải
Trang 15Phòng, Quảng Trị, Thừa thiên Huế, Đồng Tháp, Cần Thơ, do tác giả Lê Vũ Anh” làm chủ nhiệm đề tài [2]
Dự án đã tiến hành điều tra tình hình chấn thương và các yếu tố ảnh hưởng với mục đích xác định tỷ suất chấn thương ở trẻ dưới 18 tuổi; mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến chấn thương và tử vong; và đánh giá gánh nặng do chấn thương theo mức
độ chấn thương
Kết quả phân tích chấn thương theo nguyên nhân chung cho các xã nghiên cứu cho thấy 5 nguyên nhân gây chấn thương không tử vong thường gặp là ngã, chấn thương do giao thông, chấn thương do động/súc vật tấn công, chấn thương do vật sắc nhọn, và chấn thương do bỏng Ba nguyên nhân chấn thương gây tử vong hay gặp là đuối nước, chấn thương do giao thông và ngã Hậu quả thường gặp của chấn thương là các vết cắt/trầy xước, gãy xương và bỏng Phần lớn các chấn thương là nhẹ và không
để lại di chứng, tuy nhiên chấn thương gây tử vong vẫn chiếm tỉ lệ nhỏ
Điều tra cũng đề xuất một số khuyến nghị nhằm lập kế hoạch làm giảm tỷ lệ chấn thương như xây dựng ngôi nhà an toàn, trường học an toàn và CĐAT, đồng thời nâng cao năng lực, cung cấp các trang thiết bị và nâng cao khả năng điều trị cho các cơ sở y tế
Như vậy, dưới góc độ tiếp cận y tế công cộng, những khảo sát quốc gia đã cho phép khẳng định rằng tai nạn thương tích trẻ em là một nan đề cần được can thiệt giải quyết Các khảo sát này đã chỉ ra được thực trạng và nguyên nhân tai nạn thương tích trẻ em Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực y tế công cộng đang tập trung hoặc nhấn mạnh đến yếu tố chống tai nạn thương tích trẻ em hoặc một số biện pháp đưa ra còn mang tính thiết chế vĩ mô tức là chưa đưa ra được nhiều mô hình phòng ngừa cụ thể
2.2.2 Những nghiên cứu liên ngành
Năm 2006, để làm rõ hơn về gánh nặng thực tại của vấn đề trẻ em bị ngộ độc, hoàn cảnh xảy ra, và các nguyên nhân chính đưa đến thực trạng này; từ đó đưa ra kiến nghị cho công tác phòng chống ngộ độc trẻ em, nhóm tác giả gồm Trần Tuấn, Văn Thị Mai Dung,Trần Đình Dũng, Nguyễn Thu Trang đã tiến hành nghiên cứu về “Ngộ độc trẻ em tại Thừa Thiên Huế và Đồng Tháp” [14] Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ chương trình hợp tác phòng chống TNTT của Bộ Y tế và UNICEF
Trang 16Sau điều tra, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều kết luận về vấn đề ngộ độc trẻ em như tình hình ngộ độc, nguyên nhân ngộ độc, hoàn cảnh ngộ độc, hậu quả, cách
là nguyên nhân gây tử vong thứ hai sau đuối nước
Nghiên cứu này cũng đã đưa ra những kết quả tương đối toàn diện về tình hình
tử vong do tai nạn giao thông tại Việt Nam Một trong những nguyên nhân gây tử vong cao không kém gì tai nạn giao thông là tai nạn đuối nước
Để làm rõ hơn vấn đề này nhóm nghiên cứu do tác giả Trần Thị Ngọc Lan làm trưởng nhóm đã có bài nghiên cứu về “Tổng quan tình hình đuối nước ở trẻ em Việt Nam giai đoạn 2005 – 2009” [6]
Kết quả nghiên cứu cho thấy: trẻ em là nhóm có nguy cơ tử vong do đuối nước cao, trong đó trẻ nam có nguy cơ tử vong nhiều hơn trẻ nữ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nội hiện đang là 3 tỉnh có sốtrẻ em tử vong cao nhất
Tai nạn thương tích là một trong những vấn đề xã hội nổi cộm trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng Những yếu tố quan trọng góp phần tăng tỉ lệ tai nạn thương tích hiện nay là do người dân chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòng ngừa tai nạn thương tích [4] Ngoài ra, công tác truyền thông về phòng chốngtai nạn thương tích cũng chưa được các cấp, bộ, ngành quan tâm đúng mức cả về
số lượng và chất lượng [12] Vì vậy việc xây dựng, in ấn và phân phối tài liệu tuyên truyền về phòng chốngtai nạn thương tích cho các nhóm đối tượng khác nhau trong cộng đồng là rất cần thiết để nâng cao nhận thức, giáo dục phòng chống tai nạn thương tích tại gia đình, cộng đồng và trường học, tiến tới giảm nguy cơ và thiệt hại do tai nạn thương tích gây nên
Trang 17Tác giả Khương Anh Tuấn,nghiên cứu viên Viện chiến lược và chính sách Y tế
có bài nghiên cứu “Đánh giá nhu cầu tài liệu truyền thông phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng” [13] Qua tìm hiểu và khảo sát các địa điểm được lựa chọn vào nghiên cứu, kết quả cho thấy: Nhu cầu về tài liệu tuyên truyền phòng chốngtai nạn thương tích của người dân địa phương rất lớn cả về số lượng và nội dung và hình thức của tài liệu Một số nhóm đối tượng cần tập trung tuyên truyền và nội dung truyền thông tương ứng cho từng nhóm: thanh thiếu niên, đối tượng học sinh các trường phổ thông cơ sở, đối tượng làm việc tại các công trình xây dựng, các bậc cha mẹ và các đối tượng khác trong cộng đồng
Như vậy, dưới góc độ nghiên cứu liên ngành, các nghiên cứu cũng chỉ chú trọng vào công tác chống tai nạn thương tích trẻ em và các giải pháp cũng dừng lại ở tính thiết chế vĩ
mô tức là chưa đưa ra được nhiều mô hình phòng ngừa cụ thể, chưa thực sự quan tâm tới công tác phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em
2.2.3 Một vài mô hình hành động phòng chống tai nạn thương tích trẻ em
Thứ nhất; Mô hình " Ngôi nhà an toàn" phòng chống tai nạn thương tích trẻ em
Năm 2010, Phường Nghi Thuỷ ( Thị xã Cửa Lò ) là đơn vị chọn điểm xây dựng mô hình “Ngôi nhà an toàn” và được chính quyền và nhân dân phường hướng ứng sâu rộng
Trước đó, ở phường Nghi Thuỷ là đơn vị thường xảy ra nhiều trường hợp tai nạn thương tích không đáng có, gây thiệt hại về người và của cho các hộ gia đình Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên chủ yếu là do chết đuối, tai nạn giao thông, ngộ độc thực phẩm, bỏng hay thương tích do các vật nhọn, sắc gây ra Đáng lo ngại là tỷ lệ
tai nạn thương tích xảy ra ở trẻ em rất cao
Sau gần một năm triển khai thực hiện với mục tiêu giúp cho các bậc cha mẹ và những người chăm sóc trẻ nhận biết các mối nguy hiểm xung quang nhà và trong nhà
có thể gây ra tai nạn thương tích cho trẻ; biết cách loại bỏ các mối hiểm hoạ xung quanh nhà và trong nhà có nguy cơ gây tai nạn thương tích cho trẻ em, giảm đến mức thấp nhất các loại tai nạn thương tích ở trẻ em tại cộng đồng và gia đình do các nguyên nhân do sinh hoạt hàng ngày gây ra, góp phần nâng cao ý thức của người dân về an toàn cộng đồng, đặc biệt là lấy sự an toàn của trẻ em làm trọng tâm cho công tác này Phường Nghi Thuỷ đã gặt hái được nhiều thành công khi xây dựng mô hình “cộng đồng an toàn”, “Ngôi nhà an toàn”, phường Nghi thuỷ đã khởi động dự án phòng
Trang 18chống tai nạn thương tích ở trẻ em Đến nay, mạng lưới Phòng chống tai nạn thương tích đã bao phủ toàn phường, gõ cửa từng gia đình
Ông Dương Văn Xô, Chủ tịch UBND phường cho biết, đến nay phường đã thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tai nạn thương tích, có kế hoạch xây dựng “Ngôi nhà an toàn” với sự tham gia của chính quyền, các tổ chức đoàn thể và nhân dân; tổ chức thường xuyên và hiệu quả các hoạt động truyền thông, giáo dục cho người dân về nguyên nhân và cách phòng chống tai nạn; tổ chức hàng chục lớp tập huấn cho các ban ngành, đoàn thể, các bí thư, khối trưởng và cộng tác viên về xây dựng kế hoạch, báo cáo, giám sát, sơ cấp cứu Triển khai can thiệp các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích như làm nắp giếng khơi, nắp bể, rào chắn ao, tủ thuốc gia đình, giá để phích nước, giá để dao trong gia đình hay làm tường bao, lan can, cải tạo sân chơi cho học sinh ở trường học Bởi vậy, trường hợp tai nạn thương tích tại địa phương đã giảm đáng kể, đặc biệt là các bậc phụ huynh rất phấn khởi , hưởng ứng tham gia [23]
Cũng theo ông Xô, phường xây dựng quy chế và nội dung hoạt động, BCĐ Phòng chống tai nạn thương tích đã phân công nhiệm vụ cụ thể từng thành viên, mỗi thành viên phụ trách một nhóm hoạt động chuyên đề phòng chống một lĩnh vực tai nạn thương tích Theo đó, hiệu trưởng trường THCS, tiểu học, mầm non làm tổ trưởng nhóm hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cùng xây dựng trường học an toàn; Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phối hợp với trưởng khối, các đoàn thể khác thành lập hội đồng hòa giải nhằm giảm bạo lực, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, gắn kết tình làng nghĩa xóm, đoàn tụ vợ chồng; Hội Nông dân phụ trách đảm bảo an toàn lao động trong nông nghiệp, hạn chế tối đa ngộ độc hóa chất Ban chỉ đạo cũng giao nhiệm vụ cho đội ngũ cộng tác viên đến từng gia đình, đặc biệt là những hộ có trẻ dưới 10 tuổi tư vấn về các yếu tố gây tai nạn thương tích và các biện pháp can thiệp tránh xảy ra tai nạn cho trẻ Thường xuyên giám sát, tư vấn, hỗ trợ từng hộ thực hiện các hoạt động đảm bảo an toàn như để vật sắc nhọn xa tầm tay trẻ em, nồi canh nóng phải che chắn cẩn thận Ban chỉ đạo còn đưa ra nhiều sáng kiến xây dựng và phát triển các trang thiết bị an toàn để phòng chống tai nạn cho trẻ em như làm cũi giữ trẻ, làm giá để dao, chắn bậc cầu thang, dây điện và ổ điện, hàng rào quanh ao Đoàn Thanh niên phối hợp với Công an phường, trưởng các khối và các gia đình phát quang cây che khuất, mở rộng và đổ bê-tông các đường liên thôn, liên khối; thực hiện tuyên
Trang 19truyền các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông Nhờ vậy, đã góp phần nâng cao sự hiểu biết của người dân về an toàn giao thông, cách phòng tránh và khống chế tai nạn giao thông
Anh, Nguyễn Quang Dũng, Chuyên trách Lao động, Thương binh và xã hội phường cho biết thêm: Khi có kế hoạch chỉ đạo điểm về xây dựng “Ngôi nhà an toàn”, toàn phường đã triển khai chương trình phòng chống tai nạn thương tích ở trẻ em, trong đó chú trọng công tác truyền thông trong cộng đồng, gia đình Riêng năm 2010, phường đã tổ chức ký cam kết 100% gia đình có trẻ em trong năm không có trẻ em tai nạn thương tích tại nhà, tổ chức 12 buổi tuyên truyền ở 9 khối, 9 buổi truyền thông tại các trường Tiểu học, THCS trên địa bàn về phòng chống tai nạn thương tích Với rất nhiều hoạt động nói trên, công tác đảm bảo an toàn, hạn chế xảy ra tai nạn thương tích
thực sự gắn kết tình làng, nghĩa xóm ở phường ngày càng được nâng cao Đây thực sự
là mô hình cần được nhân rộng, đặc biệt là ở vùng ven biển, đời sông còn nhiều khó khăn [23]
Nghi Thuỷ đang có kế hoạch xây dựng những khu vui chơi giải trí an toàn cho các em Hiện nay, khu vui chơi giải trí ở phường không nhiều, điều này góp phần làm cho tai nạn trẻ em tăng lên Do đó, việc tạo ra một môi trường xóm làng bình yên là rất cần thiết Đó là, đường đi không bị ổ gà, không có gạch đá, ve chai vứt bừa bãi, trang
bị đủ ánh sáng vào ban đêm Những đoạn đường có sông, suối phải có cầu, kiểm tra ao
hồ, các đường dây điện cao thế… Đây được xem là trách nhiệm thuộc về người lớn chúng ta, đặc biệt, kiến thức về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ thì tất cả mọi người ai cũng phải biết để xử lý những sơ cứu ban đầu và giúp giảm tối đa những tổn thương cho trẻ…
Thứ hai; Hiện nay Bộ Y tế đang triển khai mô hình “Trường học nâng cao sức
khỏe”nhằm tạo môi trường xanh, sạch, đẹp, an toàn, cung cấp kỹ năng bảo vệ sức
khỏe, phòng chống dịch bệnh, phòng chống tai nạn thương tích để nâng cao sức khỏe học sinh, nâng cao chất lượng học tập… Mặc dù đã triển khai thí điểm từ năm 2004 nhưng đến nay, mô hình “Trường học nâng cao sức khỏe” do Bộ Y tế phối hợp cùng
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tổ chức ở 40 tỉnh, thành trong cả nước vẫn gặp không ít khó khăn 160 trường học đầu tiên được chọn tham gia dự án có chất lượng cơ sở vật chất không đồng đều, biên chế nhân sự nơi không nơi có, kinh phí thực hiện chưa rõ
Trang 20ràng khiến các đơn vị lúng túng trong triển khai thực hiện.Tổng kết 10 năm triển khai
dự án, TS Ngũ Duy Anh, Vụ trưởng Vụ Công tác Học sinh - Sinh viên, Bộ GD-ĐT thừa nhận một trong những bất cập của quá trình triển khai dự án là chưa có cơ chế đãi ngộ, thu hút lực lượng cán bộ y tế trường học: “Hiện nay, một số địa phương đã duyệt định biên cán bộ y tế trường học, tuy nhiên nhiều nơi vẫn chưa có Bên cạnh đó, chế
độ lương bổng, chính sách đãi ngộ dành cho đối tượng này chưa được quan tâm đúng mức khiến họ không thể yên tâm công tác, cống hiến với nghề”[43]
Ngoài ra, theo Phó giám đốc Sở GD-ĐT TPHCM Trần Thị Kim Thanh, hiện nay mới có quy định biên chế cán bộ y tế trong trường học, riêng đối với cấp phòng GD-ĐT và sở GD-ĐT chưa có quy định biên chế rõ ràng Bà Thanh cho biết:
“TPHCM có 24 quận, huyện nhưng mới có 11 phòng GD-ĐT có cán bộ y tế chuyên trách, 13 địa phương còn lại phải sử dụng đội ngũ kiêm nhiệm, thiếu tính chuyên môn hóa cao”[43]
Trước thực trạng đó, Sở GD-ĐT TPHCM đã trình UBND TP Đề án “Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ chính sách cho công chức, viên chức y tế trường học giai đoạn 2014 - 2016” Nếu được phê duyệt, từ năm học 2014 - 2015, mỗi cán bộ
y tế trường học sẽ được nhận phụ cấp 600.000 đồng/tháng/người “Số tiền phụ cấp tuy không lớn nhưng qua đó chúng tôi hy vọng có thể động viên tinh thần làm việc của các cán bộ y tế, giúp anh em yên tâm công tác, bám trụ với nghề”, bác sĩ Nguyễn Tài Dũng, Phó Trưởng phòng Công tác Học sinh - Sinh viên, Sở GD-ĐT TPHCM bày tỏ
Nhân lực không có, kinh phí càng hóc búa hơn Bác sĩ Nguyễn Tài Dũng cho biết: “Hướng dẫn chi cho hoạt động y tế trường học của liên Bộ GD-ĐT và Bộ Y tế quy định, nguồn thu này được lấy từ nguồn 20% tiền đóng bảo hiểm y tế của học sinh Riêng với trẻ dưới 6 tuổi, do miễn phí bảo hiểm y tế nên tuyệt nhiên không có nguồn thu nào khiến các trường lúng túng, không biết tìm đâu ra kinh phí phục vụ công tác chăm sóc y tế trường học”[43]
Vừa qua đã xảy ra tình trạng hơn 20 phòng nha của các trường học trên địa bàn quận Gò Vấp đồng loạt đóng cửa do không có kinh phí hoạt động Nguyên nhân, theo một đại diện Sở GD-ĐT TP là do trước đây, các phòng nha này hoạt động chủ yếu nhờ vào khoản tiền đóng góp 20.000 đồng/học sinh/năm của phụ huynh Nhưng từ đầu năm học 2013 - 2014, UBND quận Gò Vấp không đồng ý cho các trường tiếp tục thu
Trang 21khoản phí này với lý do “không có trong quy định các khoản thu được phép của UBND TP” nên dù hiệu quả hoạt động đang rất tốt nhưng toàn bộ đều phải ngưng lại
Riêng đối với bậc mầm non, hiện nay chưa có quy định nguồn thu tổ chức công tác phòng, chống dịch bệnh trong trường học Trong khi đó, theo điều lệ hoạt động trường mầm non, các trường phải thường xuyên vệ sinh đồ chơi, chỗ ăn, ngủ cho học sinh tối thiểu 1 tuần/lần
Trước tình cảnh đó, các trường phải dựa vào nguồn đóng góp của phụ huynh hoặc kêu gọi các đơn vị tài trợ Bà Phạm Thị Ngọc Dung, Phó hiệu trưởng Trường Tiểu học Tiên Cát (TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) khẳng định: “Để đảm bảo môi trường xanh, sạch, đẹp cho học sinh học tập, vui chơi, chúng tôi phải tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng dân cư xung quanh, vận động sự hợp tác của phụ huynh Chỉ khi làm tốt công tác xã hội hóa, công tác chăm sóc sức khỏe cho học sinh mới đảm bảo”[43]
Qua các nghiên cứu trên đây, chúng ta có thể thấy rằng, việc nghiên cứu những vấn đề về tai nạn thương tích nói chung và TNTTTE nói riêng rất được quan tâm Đã
có sự phối hợp giữa nhà trường phối hợp với ngành y tế, phụ huynh học sinh và chính quyền, đoàn thể địa phương dựa trên tình hình thực tế mà xây dựng mô hình phù hợp Đồng thời nhà trường phối hợp với Đoàn Thanh niên, vận động có sự đóng góp từ nhiều phía mở các khóa trại hè cho các em vui chơi và học tập thêm những kỹ năng sống, mưu sinh thoát hiểm, bơi lội cũng là việc làm thiết thực hiện nay và hữu ích cho sau này đối với bản thân và cộng đồng Các công trình nghiên cứu đã đi tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của tai nạn thương tích, đưa ra bức tranh khá toàn diện về tai nạn thương tích Đặc biệt, TNTTTE rất được quan tâm vì trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại việc đưa ra thực trạng của tai nạn thương tích, chỉ ra được nguyên nhân, hậu quả và bước đầu đưa
ra được một số biện pháp mang tầm vĩ mô, các mô hình được thực hiện chủ yếu dựa vào một tiểu hệ thống trong cộng đồng chứ chưa liên kết được các loại nguồn lực khác nhau trong cộng đồng Do đó, đây là vấn đề cần phải được quan tâm nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
3.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài cố gắng ứng dụng một vài lí luận về phát triển cộng đồng dựa vào chính
nội lực của cộng đồng để hệ thống hóa các khái niệm công cụ Đề tài cũng vận dụng
Trang 22một số lý thuyết trong công tác xã hội, tích hợp một số mô hình tiếp cận dựa vào cộng đồng làm cơ sở để hướng đến việc xây dựng mô hình cộng đồng an toàn phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Có ý nghĩa đến sự phát triển của trẻ em vì trẻ em được sống trong môi trường lành mạnh thì có nhiều cơ hội trở thành những công dân có ích cho xã hội
Có ý nghĩa đối với gia đình trẻ khi người lớn có thể yên tâm làm ăn công tác
Có ý nghĩa đối với cộng đồng vì nó góp phần liên kết liên kết các tiểu hệ thống trong cộng đồng để trở thành một cộng đồng đoàn kết phát huy nguồn lực của mình để xây dựng mô hình cộng đồng an toàn cho trẻ
Có ý nghĩa đối với xã hội vì nó góp phần chứng minh rằng Việt Nam đang thực hiện tốt công ước về quyền trẻ em
Trong quá trình thực hiện đề tài góp phần tích lũy kinh nghiệm cho bản thân, giúp bản thân nâng cao một số kĩ năng của nhân viên công tác xã hội
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng để phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em
4.2 Khách thể nghiên cứu
Cán bộ xã hội và cán bộ địa phương
Các bậc cha mẹ học sinh
Cán bộ y tế tại địa phương
Đoàn thanh niên, cán bộ hội phụ nữ, hội phụ não
Các doanh nghiệp, trường học
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu liên kết dựa vào cộng đồng là nghiên cứu rộng hàm chứa rất nhiều nội dung khác nhau Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ, nghiên cứu này nhấn mạnh đến các nội dung cốt lõi sau đây:
Đánh giá thực trạng tai nạn thương tích trẻ em, đặc biệt là thực trạng các rủi ro đang rình rập có thể gây tai nạn hiện nay theo các tiêu chí về các loại tai nạn
Trang 23Trên cơ sở đánh giá các biện pháp mà cộng đồng hiện nay đang áp dụng trong phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em
Đánh giá các nguồn lực khác nhau của cộng đồng theo lí thuyết hệ thống để từ
đó cố gắng xây dựng một mô hình cộng đồng liên kết để thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em
5.2 Phạm vi không gian
Không gian nghiên cứu : Phường Ngọc Sơn – quận Kiến An – thành phố Hải Phòng
5.3 Phạm vi thời gian
Thời gian nghiên cứu : Từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014
6 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mục đích chính là tìm hiểu và tìm cách liên kết các nguồn lực của cộng đồng để nhằm xây dựng một cộng đồng an toàn phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em
6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trong việc nghiên cứu liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng
Phân tích đánh giá thực trạng rủi ro có thể gây ra tai nạn thương tích trẻ em tại phường Ngọc Sơn
Phân tích, đánh giá nhu cầu nguồn lực và tâm thế của cộng đồng trong việc xây dựng mô hình cộng đồng an toàn phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em
Xây dựng mô hình liên kết các nguồn lực dựa vào cộng đồng để phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em
7 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng các rủi ro hiện nay tại phường Ngọc Sơn có thể gây ra tai nạn thương tích trẻ em như thế nào?
Hiện nay, cộng đồng phường Ngọc Sơn có những biện pháp gì để phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em? Những giải pháp ấy đem lại những kết quả và những hạn chế gì?
Hiện nay cộng đồng đang có những nguồn lực gì trong việc phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em?
Trang 24Làm thế nào để liên kết hiệu quả nhất các nguồn lực của cộng đồng để phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em ?
8 Giả thuyết nghiên cứu
Rủi ro có thể gây ra tai nạn thương tích trẻ em tại phường Ngọc Sơn hiện nay đang nhiều
Hiện nay, cộng đồng phường Ngọc Sơn đang triển khai một số biện pháp phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em Tuy nhiên, các biện pháp phòng ngừa ấy còn bộc lộ một số hạn chế, chưa phát huy hết nguồn lực của cộng đồng
Cộng đồng phường Ngọc Sơn có nhiều nguồn lực để có thể liên kết thành mô hình phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em
Cộng đồng phường Ngọc Sơn sẵn sang tham gia xây dựng mô hình phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em do họ cảm thấy đó là nhu cầu thiết thực của bản than mình
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Đây là một nghiên cứu can thiệp dựa vào chính nội lực của cộng đồng trên cơ
sở phân tích đánh giá thực trạng rủi ro, những biện pháp và nguồn lực mà cộng đồng đang có để tìm cách kết nối họ trong một mô hình phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ
em Cộng đồng trong nghiên cứu này được nghiên cứu như là một hệ thống được cấu thành bởi các tiểu hệ thống Do vậy, nghiên cứu cố gắng đánh giá đầy đủ các loại nguồn lực có trong các tiểu hệ thống của cộng đồng Hơn nữa, nghiên cứu này tiếp cận theo quyền trẻ em
Vận dụng một số lý thuyết trong công công tác xã hội như : lý thuyết nhu cầu của Maslow, Lý thuyết hệ thống…
9.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
9.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu một số tài liệu như: các nghiên cứu về vấn đề tai nạn thương tích trẻ em trong và ngoài nước; tài liệu tai nạn thương tích, cộng đồng an toàn của các tổ chức Phi chính phủ, các cơ quan ban ngành, đặc biệt là tài liệu của Sở lao động thương binh xã hội thành phố Hải Phòng; báo cáo tổng kết tình hình kinh tế xã hội hàng năm của huyện và các xã, phường, thị trấn; báo cáo tổng kết hoạt động hàng năm của các cơ quan, đoàn
Trang 25thể quận Kiến An… và các tài liệu liên quan khác (xem phần Danh mục tài liệu tham khảo)
9.2.2 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát ngoài được chúng tôi áp dụng để tìm hiểu những loại rủi
ro đang rình rập trẻ em hiện nay tại phường Ngọc Sơn, cụ thể như: quan sát hệ thống giao thông; quan sát hệ thống ao hồ, sông suối; hệ thống day điện; góc bếp sinh hoạt của các hộ gia đình…Quan sát này cho phép chúng tôi lồng ghép ảnh vào nội dung đánh giá rủi ro có khả năng gây tai nạn thương tích trẻ em nói riêng và cộng đồng nói chung
9.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 16 cá nhân bao gồm: 01 đại diện Ban giám hiệu trường THCS; 03 trẻ em trong độ tuổi học sinh THCS (lớp 8; Lớp 9), 05 bậc phụ huynh học sinh; 01 đại diện chính quyền Phường; 01 bí thư đoàn thanh niên; 01 cán bộ
y tế; 01 cán bộ hội phụ nữ; 01 cán bộ hội phụ lão; 01 chủ doanh nghiệp tại địa phương Nội dung cốt lõi của các cuộc phỏng vấn sâu tập trung vào những vấn đề sau: (1) nhu cầu của trẻ em, gia đình và cộng đồng về một môi trường an toàn; (2) Nhận thức của cộng đồng về các rủi ro đang rình rập trẻ em; (3) Đánh giá của cộng đồng về những biện pháp hiện nay mà cộng đồng đang áp dụng để phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em; (4) Các loại nguồn lực của các tiểu hệ thống trong cộng đồng nhằm xây dựng mô hình cộng đồng an toàn; (5) Kì vọng, mong muốn và mức độ sẵn sang tham gia xây dựng mô hình cộng đồng an toàn; (6) Các biện pháp và hình thức kết nối cộng đồng
9.2.4 Phương pháp thảo luận nhóm
Chúng tôi tiến hành một cuộc thảo luận nhóm tập trung sau khi đã tiến hành các phỏng vấn sâu Tham gia thảo luận nhóm gồm 11 người, cụ thể là: 01 học sinh THCS,
01 đại diện Ban giám hiệu nhà trường, 01 cán bộ y tế, 01 cán bộ chính quyền địa phương, 01 đại diện Đoàn thanh niên, 01 đại diện Hội phụ nữ, 01 đại diện Hội phụ lão,
03 đại diện cha mẹ học sinh và 01 chủ doanh nghiệp tại địa phương
Nội dung thảo luận nhóm cũng xoay quanh sáu nội dung của phỏng vấn sâu, tuy nhiên nhấn mạnh hơn đến các biện pháp và hình thức liên kết nguồn lực
Trang 269.2.5 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp định lượng được sử dụng chủ yếu trong các nghiên cứu Xã hội học, Công tác xã hội Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên địa bàn phường, trong cuộc phỏng vấn này, chúng tôi phát ra 220 bảng hỏi, thu về được 200 bảng hỏi hợp lệ
và được xử lý qua chương trình SPSS 16.0 Chúng tôi tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên đưa theo hai danh sách gồm danh sách các hộ dân do chính quyền địa phương cung cấp (là các bậc cha mẹ có con trong độ tuổi học trung học cơ sở) và danh sách học sinh
do nhà trường cung cấp (chủ yếu là học sinh trung học cơ sở, lứa tuổi từ 12 – 13 tuổi) Mỗi nhóm xã hội này, chúng tôi lựa chọn 100 đối tượng để khảo sát
Đối với 100 học sinh, bảng hỏi được xây dựng chủ yếu vào ba nội dung chính: (1) Nhu cầu của các em về môi trường sống an toàn; (2) Nhận thức của các em về các rủi ro đang rình rập hàng ngày, gây ra tai nạn thương tích cho chính các em; (3) Mức
độ sẵn sang tham gia đóng góp nguồn lực của các em trong các buổi văn nghệ để góp phần truyền thông về sự cần thiết phải có một môi trường an toàn
Đối với 100 bậc cha mẹ có con trong độ tuổi trẻ em bảng hỏi được xây dựng với sáu nội dung cơ bản như trong phỏng vấn sâu
Bảng 1: Cơ cấu mẫu
Trang 2710 Kết cấu luận văn
Luận văn này ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị và Phụ lục, nội dung chính chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2 Thực trạng về các biện pháp phòng ngừa tai nạn thương tích tại phường Ngọc Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
Chương 3 Hướng tới xây dựng mô hình cộng đồng an toàn phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em
Trang 28Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Các khái niệm công cụ
Theo từ điển Tiếng Việt: “Liên kết là kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc
tổ chức riêng rẽ, có thể là nhà nước này liên kết với nhà nước khác về mặt chính trị, quân sự, kinh tế, tỉnh này liên kết với tỉnh khác để cùng tổ chức các hoạt động sự kiện,
tổ chức này liên kết với tổ chức khác, người này liên kết với người khác để cùng làm ăn” [8]
Theo quan điểm của chúng tôi, “Liên kết là sự gắn kết các nguồn lực của cộng đồng vốn đang rời rạc thành một thể thống nhất, vừa có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng vừa có sự tương tác, tác động qua lại để bổ sung cho nhau”
Trong nội dung khóa luận của mình, chúng tôi sử dụng khái niệm trong từ điển
Xã hội học vì nó phù hợp với nội dung mà chúng tôi đang nghiên cứu
Nguồn lực
Theo tác giả Ngô Doãn Vịnh, Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển thì khái niệm nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ Có nghĩa là dưới nhiều góc độ, người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với chúng thích hợp Người ta chia ra thành nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần
Trang 29Nhóm nguồn lực vật chất gồm có: tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thuỷ điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu,
vị trí địa kinh tế ) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng (nhà cửa, công trình công cộng, đường sá, hải cảng, sân bay, hệ thống sản xuất và truyền tải điện, hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống viễn thông và truyền thông )
Nhóm nguồn lực con người (gắn với tài nguyên trí thức) và tài nguyên thông tin Trí tuệ của con người có giá trị đặc biệt và không thể tự có được mà con người phải mất công, mất sức mới có Muốn có trí tuệ, con người phải có thể lực và trí lực cùng hoàn cảnh thuận lợi Đối với vấn đề xây dựng trí tuệ, việc giáo dục quan trọng như thế nào thì việc cải tạo nòi giống cũng quan trọng không kém Trong lĩnh vực xây dựng nguồn lực con người, không thể xem nhẹ việc bồi dưỡng sức dân và thực hiện nhân đạo hiện đại đối với vấn đề sinh sản Để có được nguồn thông tin chất lượng cao nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ cho người dân, nhà nước phải tiến hành xây dựng hệ thống thông tin thống nhất từ trung ương tới các địa phương Có như thế mới khắc phục được tình trạng thiếu thông tin trầm trọng như hiện nay ở nước ta
Theo từ điển Tiếng Việt: “Nguồn lực được hiểu là nguồn sức mạnh vật chất, tinh thần phải bỏ ra để tiến hành một hoạt động nào đó chẳng hạn như nguồn sức mạnh tài chính, thu hút nguồn lực đầu tư” [8]
Trong phạm vi luận văn của mình, chúng tôi đi sâu tìm hiều các nguồn lực hiện
có tại phường Ngọc Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, thể hiện ở chỗ phường Ngọc Sơn có vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế vì có nhiều doanh nghiệp nằm trên địa bàn, có nguồn nhân lực dồi dào, có trường học từ bậc mầm non đến đại học là điều kiện để phát triển văn hóa xã hội, có hệ thống nhà thờ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, có trạm y tế, đoàn thanh niên, các hội trực thuộc ủy ban… là điều kiện để khám chữa bệnh, tổ chức các hoạt động cho người dân, đặc biệt là chăm sóc, tuyên truyền, phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em trên địa bàn phường Những nguồn lực này một khi được liên kết lại nó sẽ tạo thành một mạng lưới rất lớn trong việc phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của phường, đồng thời sẽ giảm thiểu một cách tích cực trong công tác phòng ngừa tai nạn thương tích ở trẻ em trong thời gian tới
Trang 30Liên kết nguồn lực
Từ hai khái niệm “Liên kết” và “Nguồn lực” chúng tôi xin đưa ra khái niệm
“Liên kết nguồn lực” như sau: “ Liên kết nguồn lực đó là hành động của nhân viên công tác xã hội thể hiện vai trò của mình trong việc làm cho các tiềm lực trở thành các nguồn lực có thể phát huy sức mạnh tổng hợp”
Vậy trước hết, muốn liên kết nguồn lực thì nhân viên công tác xã hội phải mô tả được các loại nguồn lực trong cộng đồng Ai đang nắm giữ loại nguồn lực gì? Mức độ
và điều kiện sẵn sàng tham gia hành động của các tiểu hệ thống trong việc thực hiện một nghĩa vụ và trách nhiệm chung
Đồng thời liên kết nguồn lực phải thể hiện được cách thức, xác định được bối cảnh hành động, ai làm gì? Làm như thế nào? Cách thực thực hiện ra sao?
Tại phường Ngọc Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, để phòng ngừa TNTTTE đang tồn tại rất nhiều nguồn lực ở trong các tiểu hệ thống của cộng đồng này Vì vây, điều quan trọng ở đây là phải biết liên kết nguồn lực trong các tiểu hệ thống bằng việc thiết lập mô hình cộng đồng an toàn nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em
1.1.2 Dựa vào cộng đồng
Cộng đồng
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cộng đồng Theo Redo – Trường Công tác
xã hội và Phát triển cộng đồng Philippins định nghĩa: “Cộng đồng là một đơn vị hành chính, lãnh thổ trong đó mọi người có sự liên kết chặt chẽ với nhau, chia sẻ các nền tảng chung như văn hóa, tôn giáo, chủng tộc… Họ chia sẻ mối quan tâm chung về những vấn
đề cụ thể về những vấn đề cụ thể như nghèo đói, tệ nạn xã hội, trẻ em lao động sớm, tai nạn thương tích trẻ em, thất học, bệnh tật, họ có nghĩa vụ và trách nhiệm chung”
Theo tác giả Trịnh Văn Tùng thì “Cộng đồng là một nhóm người có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, có nhiều thuộc tính giống nhau tạo thành bản sắc Cộng đồng ấy không nhất thiết cùng sống trong một đơn vị hành chính lãnh thổ Họ cùng nhau chia
sẻ những mối quan tâm về những vấn đề cụ thể (thiếu hụt chức năng xã hội, bị kì thị,
bị loại trừ xã hội, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực đồng thời có nghĩa vụ và trách nhiệm chung”[34]
Trang 31Như vậy, loại định nghĩa thứ nhất thể hiện rõ tính địa vực, trong khi loại định nghĩa thứ hai không thể hiện tính địa vực Cả hai loại định nghĩa này đều thể hiện rằng, trong một cộng đồng thì có cộng đồng thể và cộng đồng tính Cộng đồng thể tức
là quy mô, cơ cấu hay hình hài vật lý của cộng đồng đó trong khi cộng đồng tính nhấn mạnh tính cố kết của cộng đồng theo hướng nào đó
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng loại định nghĩa thứ nhất bởi lẽ nó phù hợp với địa bàn nghiên cứu, cụ thể như sau:
Phường Ngọc Sơn là một đơn vị hành chính lãnh thổ, tức nó là một đơn vị hành chính cơ sở thấp nhất Những người dân nơi đây có sự liên kết chặt chẽ với nhau vì đều chia sẻ những nét văn hóa tương đồng như đánh bắt trên sông là chính, bị ảnh hưởng bởi một nghề mà được truyền từ đời này sang đời khác của người dân nơi đây Tại đây, họ chia sẻ nhiều mối quan tâm chung trong đó nổi bật là tai nạn thương tích trẻ em Vì vậy họ có nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em, làm thế nào để tạo ra môi trường an toàn cho trẻ, tạo điều kiện để trẻ phát triến triển một cách toàn diện
Thứ hai, Dựa vào cộng đồng tức là sự huy động nguồn lực của chính cộng đồng
đó, sự tham gia của cộng đồng thì càng đông càng tốt Cộng đồng phải là những người chủ động nắm lấy quyền hành động của mình Trong trường hợp này, dựa vào cộng đồng
là trao quyền cho cộng đồng Nhân viên công tác xã hội chỉ có vai trò hỗ trợ, xúc tác
Trang 32Như vậy, tại địa bàn nghiên cứu là phường Ngọc Sơn, quận Kiến an để dựa vào cộng đồng chính là dựa vào các tiểu hệ thống mà đặc biệt là tiểu hệ thống hộ gia đình
có trẻ em phải là những người đầu tiên và xuyên suốt hành động
1.1.3 Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng
Từ những khái niệm như “Liên kết nguồn lực”, “Dựa vào cộng đồng”, chúng tôi xin đưa ra khái niệm “Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng” như sau: “Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng là những hành động kết nối các loại nguồn lực của các tiểu hệ thống trong cộng đồng ấy Để có thể kết nối được nguồn lực, thì người làm công tác kết nối phải đánh giá được các loại nguồn lực , tìm ra những người làm đầu mối thuộc từng tiểu hệ thống và xây dựng các mô hình hoạt động cụ thể trong những trường hợp cụ thể”
1.1.4 Phòng ngừa
Phòng ngừa là việc cung cấp các dịch vụ kịp thời cho những cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế trong xã hội, thúc đẩy các chức năng xã hội của họ trước khi các vấn đề phát sinh (gồm các hoạt động và chương trình như kế hoạch hóa gia đình, tư vấn trước khi sinh con, giáo dục cách làm cha mẹ, tư vấn trước kết hôn, trước khi nghỉ hưu, các chương trình gắn kết tình cảm gia đình [37, tr.13]
Theo tác giả Mai Thị Kim Thanh thì “Phòng ngừa là sự hướng dẫn giúp đỡ mọi
cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương có những chuẩn bị trước nhằm đề phòng những hậu quả, rủi ro và bất hạnh có thể xảy ra cho chính họ, gia đình họ và cộng đồng của họ” [33, tr.12]
Những hình thức phòng ngừa rất đa dạng Nhân viên xã hội có thể vận dụng những cơ cấu về mặt pháp chế xã hội, cơ sở pháp lý, tâm lý, sư phạm, y tế và các cơ sở khác để phòng ngừa như: Trong y tế là hoạt động tiêm phòng, khám sức khỏe định kỳ, trong nhà trường là các hoạt động tập huấn trang bị kiến thức về sức khỏe, về pháp luật, về các kỹ năng trong giao tiếp ứng xử…
Theo quan điểm của chúng tôi, Phòng ngừa là ngăn ngừa trước những cái xấu, cái không hay có thể xảy ra đối với bản thân chúng ta và những người xung quanh
Như vậy, trong khuôn khổ luận văn của mình chúng tôi sử dụng khái niệm
“Phòng ngừa” của tác giả Mai Thị Kim Thanh vì nó phù hợp với tình hình thực tế tại
Trang 33phường Ngọc Sơn đó là việc chuẩn bị tâm thế đề phòng ngừa rủi ro trước khi nó xảy ra đối với trẻ em trên địa bàn phường
1.1.5 Mô hình cộng đồng an toàn
Mô hình
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, an toàn được hiểu là: “Sự không có những rủi ro gây thiệt hại không thể chấp nhận được; hay nói cách khác là t́nh trạng trong đó sự rủi ro gây nguy hại (nhất là đối với con người) hoặc thiệt hại giới hạn ở mức có thể chấp nhận được Trong tiêu chuẩn hoá, tính an toàn của sản phẩm, quá trình và dịch vụ thường được xem xét theo quan điểm đạt được sự cân bằng tối ưu của hàng loạt nhân tố kể cả các nhân tố phi kĩ thuật như sự ứng xử của con người làm giảm bớt tới mức chấp nhận được những rủi ro gây thiệt hại cho con người và sản phẩm hàng hoá Tính an toàn là một trong những khía cạnh của chất lượng”.[15]
Trong luận văn này, chúng tôi cho rằng yếu tố an toàn là hết sức quan trọng, làm thế nào để trẻ em được an toàn không bị tai nạn thương tích? Làm sao để giảm thiểu tai nạn thương tích trẻ em tới mức thấp nhất? cần có sự nỗ lực của cả cộng đồng,
sự tham gia tích cực của các tiểu hệ thống trong cộng đồng đó và phải liên kết nó lại, thì vấn đề an toàn cho trẻ mới được giảm thiểu mọt cách đáng kể Vì vậy chúng tôi cho rằng, an toàn là không có những rủi ro gây thiệt hại (nhất là đối với con người) hoặc thiệt hại ở mức thấp nhất
Cộng đồng an toàn
Từ khái niệm về cộng đồng và khái niệm an toàn, chúng tôi xin đưa ra khái niệm cộng đồng an toàn như sau: Cộng đồng an toàn là một nhóm xã hội những người cùng chung sống trong cùng một môi trường, mà tại đó không có những rủi ro gây thiệt hại (nhất là đối với con người) hoặc thiệt hại ở mức thấp nhất
Mô hình cộng đồng an toàn
Theo từ điển tiếng Viêt, mô hình được hiểu như sau:
- Thứ nhất, mô hình là “Vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại nhiều, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu” [15, tr.616]
- Thứ hai, mô hình là “Hình thức diễn đạt hết sức ngắn gọn theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy” [15, tr.617]
Trang 34Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, chúng tôi quan niệm “mô hình” theo gọc
độ thứ hai
Bên cạnh đó, cũng có ý kiến cho rằng: “Mô hình là cái thay thế đối tượng được nghiên cứu, mà đối tượng ấy không thể nhận thức trực tiếp bằng các giác quan của người nghiên cứu Người ta xây dựng mô hình để mô phỏng các đối tượng nghiên cứu” [35, tr.104]
Qua khái niệm “mô hình” và khái niệm “cộng đồng an toàn” nêu trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm mô hình cộng đồng an toàn như sau: Mô hình cộng đồng an toàn
là những khuôn mẫu, tiêu chuẩn được đưa ra cho nhóm người cùng chung sống trong một môi trường, mà tại đó không có những rủi ro gây thiệt hại hoặc thiệt hại mức thấp nhất cho con người
1.1.6 Trẻ em
Theo Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004: Trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi
Theo công ước quốc tế về quyền trẻ em: Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ
em được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp
áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [36]
Trong đề tài “Liên kết nguồn lực nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em tại phường Ngọc Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng dựa vào cộng đồng” chúng tôi quan niệm theo Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, tức trẻ em là người dưới 16 tuổi
1.1.7 Tai nạn thương tích
Theo Cục Y tế dự phòng, tai nạn thương tích được định nghĩa như sau: “Tai nạn thương tích là các tổn thương thực thể trên cơ thể người gây nên bởi sự tác động bên ngoài vượt quá sức chống đỡ của cơ thể Tai nạn thương tích có thể là một vết thương trên cơ thể do phơi nhiễm với một lực tác động quá mức, hoặc có thể một rối loạn chức năng xảy ra do một sự thiếu hụt một yếu tố thiết yếu cho cuộc sống (không khí, nước, nhiệt độ cần thiết) như là ngạt, sự tắc nghẽn đường thở hoặc bị cóng” [17]
Chúng tôi quan niệm, tai nạn thương tích là các tổn thương thực thể trên cơ thể người gây nên bởi sự tác động bên ngoài vượt quá sức chống đỡ của cơ thể
Trang 351.1.8 Phòng ngừa tai nạn thương tích
Từ khái niệm về “phòng ngừa” và khái niệm “tai nạn thương tích”, chúng tôi xin đưa ra khái niệm phòng ngừa tai nạn thương tích như sau: Phòng ngừa tai nạn thương tích là hệ thống các biện pháp ngăn ngừa, hạn chế các tổn thương thực thể trên
cơ thể người gây nên bởi sự tác động bên ngoài vượt quá sức chống đỡ của cơ thể
1.2 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết hệ thống
Thuyết hệ thống được phát trển vào những năm 1930 và 1940 do nhà sinh học Ludving Von Bertanffy khởi xướng Thuyết hệ thống bao quá mọi lĩnh vực ( tin học, sinh học, kinh tế, xã hội học) một hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ hệ thống Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận của một đại hệ thống Có những hệ thống khép kín, không trao đổi với những hệ thống xung quanh
Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tương tác giữa các tổ phần
lý thuyết này trong thực tiễn
Tiểu hệ thống:
Trong một hệ thống, là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ Có thể coi đó là những hình thức nhỏ hơn trong hệ thống lớn Các tiểu hệ thống được phân biệt với nhau bởi các danh giới, là bộ phận của hệ thống lớn
Một cá nhân được coi là một hệ thống vi mô Hệ thống vi mô có 3 tiểu hệ thống: Hệ thống tâm lý, hệ thống sinh học và hệ thống hành vi Các tiểu hệ thống của con người chịu sự tác động của cả hệ thống gia đình, hệ thống xã hội
Trang 36Vai trò của tiểu hệ thốngtrong mối quan hệ gia đình, mối quan hệ với đồng nghiệp trong xã hội Như vậy, mỗi cá nhân trong tiểu hệ thống của mình sẽ bộc lộ vai trò nào đó ở một môi trường nào đó mà cá nhân nào đó gặp phải
Nguyên tắc hoạt động của một hệ thống
- Nguyên tắc 1: Mọi hệ thống đều nằm trong một hệ thống khác lớn hơn Khi
áp dụng nguyên tắc 1 trong nghiên cứu của mình, chúng tôi thấy rằng phường Ngọc Sơn được nằm trong một chỉnh thể xã hội lớn hơn là quận Kiến An, thành phố Hải Phòng Tuy nhiên trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ nghiên cứu ở một phường cụ thể còn những phường khác sẽ được áp dụng tương tự
- Nguyên tắc 2: Mọi hệ thống đều có thể được chia thành những hệ thống khác nhỏ hơn Trong nghiên cứu này, chúng tôi coi phường Ngọc Sơn là một hệ thống, trong đó bao gồm các tiểu hệ thống như: hộ gia đình, trạm y tế, doanh nghiện, trường học, tôn giáo, chính quyền địa phương… các tiểu hệ thống này liên kết với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất
- Nguyên tắc 3: Mọi hệ thống đều có thể tương tác với các hệ thống khác và thu nhận thông tin, năng lượng từ môi trường bên ngoài để tồn tại Chúng tôi thấy rằng để tiếp nhận thông tin về phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em, các tiểu hệ thống tại phường Ngọc Sơn phải có sự tương tác qua lại lẫn nhau Chẳng hạn như một doanh nghiệp tương tác với chính quyền địa phương để lấy giấy phép kinh doanh, để tuyển công nhân, để làm ăn trên địa bàn phường, một nhà trường tương tác với các hộ gia đình, đó là việc tiếp nhận con cái của các hộ gia đình vào học, hộ gia đình lại tương tác với trạm y tế đó là khi con em của họ bị tai nạn thương tích trẻ em thì chắc chắn nơi đầu tiên mà họ nghĩ đến đó là trạm y tế phường… Như vậy có thể thấy các hệ thống trong cộng đồng đều có sự tương tác qua lại lẫn nhau tạo điều kiện để tiếp nhận thông tin, năng lượng từ môi trường bên ngoài để tồn tại
- Nguyên tắc 4: Mọi hệ thống cần đầu vào hay năng lượng để tồn tại Chẳng hạn như các doanh nghiệp ở phường Ngọc Sơn muốn người dân có thiện cảm với mình, thì họ phải coi người dân là khách hàng là một tiểu hệ thống cùng tương tác với mình, phải chăm sóc một cách chu đáo, cẩn thận đó chính là họ đang tạo ra năng lượng tồn tại cho doanh nghiệp đó
Trang 37- Nguyên tắc 5: Mọi hệ thống tìm kiếm sự cân bằng với hệ thống khác Như vậy, trong quá trình liên kết chúng tôi sẽ xác định rõ chức năng, chẳng hạn như nhà trường đảm nhiệm chức năng giáo dục, trạm y tế đảm nhiệm chức năng khám chữa bệnh, chính quyền địa phương đảm nhiệm chức năng tổ chức và quản lý, doanh nghiệp đảm nhiệm chức năng phát triển kinh tế… mỗi tiểu hệ thống đều có chức năng riêng cân bằng nhau, tuy nhiên cần phải có sự gắn kết các tiểu hệ thống lại với nhau Ví dụ như nhà trường có nguồn lực cơ bản là học sinh, trong trường hợp liên kết để tổ chức một buổi văn nghệ hay tổ chức một buổi truyền thông thì rõ ràng nhà trường không thể
có kinh phí thực hiện cần sự hỗ trợ của các doanh nghiệp Nếu như chính quyền địa phương muốn truyền thông phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em thì rõ ràng phải liên kết với trạm y tế để cùng tiến hành… Điều này khẳng định mọi hệ thống đều tìm kiếm
sự cân bằng với hệ thống khác
Như vậy, trong phạm vi của luận văn này tác giả xem trẻ em là một hệ thống thân chủ cần được sự trợ giúp của các tiểu hệ thống như cha mẹ, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp, các cơ sở y tế địa phương, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội phụ lão…nhằm phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ, tạo điều kiện để các em sống trong một môi trường an toàn và phát triển một cách toàn diện
1.2.2 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Ông là người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp nhu cầu và ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong Tâm lý học
Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần
Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao
Trang 38Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới
Cấu trúc của Tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ
Nhu cầu sinh lý:
Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục.Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là với trẻ em vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa
Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh:
An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao
Trang 39động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự,…
Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được Do đó chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi người căm ghét vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác
Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận)
Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận
Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau
Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại
Nhu cầu được tôn trọng
Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng lực,
có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện
Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người
Nhu cầu phát huy bản ngã:
Trang 40Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông
Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối
đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó
Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân
Sự hiểu biết về thứ bậc nhu cầu của Maslow giúp nhà công tác xã hội xác định được những nhu cầu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu còn chưa được thỏa mãn tại thời điểm hiện tại, đặc biệt là các nhu cầu tâm lý của thân chủ, nhận ra khi nào thì những nhu cầu cụ thể của thân chủ chưa được thỏa mãn và cần đáp ứng
Lý thuyết nhu cầu khẳng định, những nhu cầu cơ bản của con người được đáp ứng thì chúng ta mới có điều kiện để phát triển tốt Trong luận văn này lý thuyết nhu cầu chỉ ra rằng trẻ em tại làng chài Ngọc Sơn cũng có những nhu cầu cơ bản đó là được chăm sóc, được bảo vệ an toàn, không còn bị những tai nạn thương tích đe dọa đến các em và tác giả cho rằng đó là một nhu cầu chính đáng và có thể thực hiện được
1.2.3 Phân loại các loại rủi ro do tai nạn thương tích
Để phân loại tai nạn thương tích người ta có rất nhiều cách tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu Tuy nhiên, có hai cách phân loại phổ biến đó là phân loại theo chủ đích và phân loại theo nguyên nhân
1.2.3.1 Phân loại theo chủ đích
Dựa vào chủ đích của người gây ra tai nạn thương tích, chúng ta có thể chia thành 2 loại:
Tai nạn thương tích không chủ đích: tai nạn thương tích không chủ đích xảy ra
do sự vô tình, không có chủ ý gây thương tích của các đối tượng khác Ví dụ như tai nạn giao thông, ngã, đuối nước,… Hậu quả của tai nạn thương tích không chủ đích thường không nghiêm trọng, chỉ có thể gây thương tích nhẹ cho đối tượng Nhưng trong vài trường hợp thì tai nạn thương tích không chủ đích vẫn có thể gây tử vong cho đối tượng
Tai nạn thương tích có chủ đích: tai nạn thương tích có chủ đích xảy ra do sự cố tình của người gây ra tai nạn thương tíchhoặc nạn nhân Ví dụ như bạo lực, tự tử… Hậu quả của tai nạn thương tíchcó chủ đích thường rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe