1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kính ngữ và các phương thức biểu hiện của nó trong tiếng hàn hiện đại

14 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 443,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tình hình nghiên cứu được chú trọng ở cả chiều rộng và chiều sâu như vậy, có thể nói, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hàn Quốc đã nhìn thấy và đánh giá cao tầm quan trọng của kính ngữ tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

LÊ THỊ THU GIANG

KÍNH NGỮ VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA NÓ TRONG TIẾNG HÀN

HIỆN ĐẠI

Chuyên ngành : Đông phương học

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

HÀ NỘI - 2003

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Nói đến chức năng của ngôn ngữ thì cho đến nay, ngoài quan điểm coi

ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, là công cụ của tư duy vẫn là quan điểm được chấp nhận và phổ biến hơn cả thì cùng với sự phát triển của các ngành khoa học có tính liên ngành, chức năng của ngôn ngữ không còn chỉ dừng lại ở mức độ khái quát như vậy nữa Chẳng hạn, dưới góc độ của ngành ngôn ngữ - tâm lý học hay ngôn ngữ - xã hội học , ngôn ngữ còn có hàng loạt các chức năng khác như chức năng điều khiển hành vi, chức năng liên kết các thành viên trong cộng đồng, chức năng thể hiện sự tôn trọng, đề cao

Trong tiếng Hàn, khi nói đến chức năng thể hiện sự kính trọng, đề cao hay khiêm nhường đối với các đối tượng giao tiếp, người ta không thể không nói tới kính ngữ Không có tài liệu nào khẳng định việc người Hàn Quốc(1) nói riêng

và những người dân trên bán đảo Triều Tiên nói chung đã bắt đầu sử dụng kính ngữ như một phương tiện thể hiện sự kính trọng từ bao giờ song kể từ khi chữ Hangul được ra đời vào năm 1443 cho đến nay, mặc dù hệ thống kính ngữ trong tiếng Hàn đã có nhiều thay đổi ở nhiều mặt nhưng có thể nói, tiếng Hàn hiện nay vẫn là ngôn ngữ có hệ thống kính ngữ rất phát triển và phức tạp Giải thích về hiện tượng này, người ta thường nhìn ở hai khía cạnh: ngôn ngữ và văn hoá Xét trên khía cạnh ngôn ngữ thì phải nói rằng trong bản thân đặc điểm và cấu trúc nội tại của tiếng Hàn đã cho phép những hình thức biểu hiện kính trọng có thể tồn tại

và phát triển Nghĩa là, trong bản thân hệ thống từ vựng cũng như cấu trúc ngữ pháp của tiếng Hàn đã tồn tại sự quy định và phân biệt những yếu tố có và không

có khả năng biểu hiện được sự kính trọng Sự phân biệt này có được bởi quy ước chung của toàn xã hội Nó cho phép với dấu hiệu nào thì ý nghĩa nào được bộc

lộ, thậm chí cả mức độ của từng ý nghĩa đó

(1)

Tiếng Hàn là ngôn ngữ chung cho cả dân tộc Hàn và được sử dụng trên toàn bộ bán đảo Triều Tiên Nhưng do tài liệu chúng tôi sử dụng để nghiên cứu đều được thu thập chủ yếu ở Đại Hàn dân quốc nên tiếng Hàn mà luận văn đề cập chỉ dừng lại ở khái niệm là ngôn ngữ đang được sử dụng ở quốc gia này hiện nay

Trang 3

Bên cạnh sự cho phép của bản thân đặc điểm của tiếng Hàn, yếu tố văn hoá cũng đóng vai trò quan trọng Kính ngữ là phương tiện ngôn ngữ biểu hiện các mức độ đề cao, kính trọng nên nhìn chung chúng thường chỉ được dùng khi

xã hội đã có sự phát triển về trình độ văn hoá đến một mức độ nào đó, ít nhất là

có sự phân hoá trên dưới và thứ bậc xã hội Người dân Hàn không chỉ đã tiếp thu rất sớm mà còn tiếp thu rất mạnh và trung thành những ảnh hưởng của Nho giáo Ngay cả đến thời điểm chữ Hangul - hệ thống chữ cái ghi âm tiếng Hàn ngày nay được sáng tạo (1334) - thì Nho giáo cũng đã vào bán đảo này được hơn 1300 năm Cùng với quá trình tiếp thu ảnh hưởng trên nhiều mặt như thiết chế chính trị, chế độ thi cử, quan niệm đạo đức của Nho giáo xã hội truyền thống Hàn Quốc đã phát triển trên cơ sở sự phân biệt về giai tầng được thực hiện rất rõ ràng

và nghiêm ngặt Tư tưởng “ nam tôn nữ ti ”, “ trưởng ấu hữu tự ” cùng với chế độ đại gia tộc đã thiết lập nên một trật tự rất chặt chẽ trong quan hệ gia đình cũng như xã hội Với lý do đó, người Hàn Quốc khi ở trong gia đình hay ra ngoài xã hội bao giờ cũng cần phải xác định đúng vị trí của mình để có những hành vi và lời nói cho phù hợp và đúng lễ nghĩa Điều này thể hiện rõ trong quan niệm đạo đức, phong cách sinh hoạt và cả trong đời sống ngôn ngữ mà một trong những biểu hiện rõ nhất đó là sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống kính ngữ

Kính ngữ được duy trì không chỉ như một phương tiện cần thiết trong giao tiếp mà còn là cơ sở để đánh giá và công nhận phẩm chất, tư cách đạo đức của người đó trong cộng đồng Việc sử dụng kính ngữ đúng lúc, đúng chỗ vì thế còn chịu thêm áp lực của dư luận cộng đồng và chuẩn mực xã hội Với đặc trưng của một xã hội còn mang nhiều nét ảnh hưởng của những quy chuẩn đạo đức truyền thống, có thể nói, kính ngữ trong tiếng Hàn là một bộ phận quan trọng, không thể bỏ qua trong sinh hoạt ngôn ngữ cũng như văn hoá của người Hàn Quốc nhưng đồng thời nó cũng là một hệ thống rất phức tạp và luôn biến đổi Vì thế, ngay từ đầu những thập niên 60 - 70, đây đã là vấn đề được nhiều nhà ngôn ngữ Hàn Quốc quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh và nhiều cách tiếp cận khác nhau

Trang 4

Có thể nói, trong hầu hết các công trình nghiên cứu tổng hợp về ngữ pháp tiếng Hàn, do tính liên quan chặt chẽ cả trên phương diện ngữ pháp và từ vựng nên kính ngữ luôn được đề cập tới như một phần không thể thiếu ( Lee Ik Seop, Im Hong Bin.1983; Wang Mun Yong, Min Hyeon Sik.1993; Nam Ki Sim

1978, 1985, 1996; Baek Bong Cha 1999; Heo Ung 1983 ) Trong đó vai trò quan trọng cũng như các phương thức biểu hiện tiêu biểu của kính ngữ đều được phân tích và khẳng định một cách có hệ thống Nét nổi bật của các công trình này đồng thời cũng là của hầu hết các sách nghiên cứu về ngôn ngữ của các nhà ngôn ngữ học Hàn Quốc từ trước đến nay là kính ngữ được tiếp cận và tìm hiểu chủ yếu dựa trên cơ sở đối tượng tiếp nhận sự đề cao Với cách tiếp cận này, kính ngữ được nhìn như một hệ thống gồm ba phép đề cao: đề cao chủ thể, đề cao khách thể và đề cao đối tượng tiếp nhận Trong mỗi phép đề cao đó, tuỳ theo sự tham gia của các yếu tố ngữ pháp và từ vựng mà ý nghĩa, phương thức biểu hiện

và phạm vi hoạt động của kính ngữ được đi sâu phân tích và nhìn nhận rõ ràng hơn Dựa trên quan điểm có tính thống nhất và phổ biến như vậy, các công trình nghiên cứu riêng có tầm sâu hơn về kính ngữ hoặc về một phép đề cao cũng lần lượt xuất hiện ( Ko Yeong Keun 1974; Seo Jung Soo 1983; Im Hong Bin 1990; Seong Ki Ch’eol 1990; Kim Ch’ung Hoe 1990 )

Bên cạnh đó, cũng có nhiều công trình đã tìm một hướng đi mới cho việc nghiên cứu kính ngữ: tìm hiểu phương thức biểu hiện của kính ngữ trên phương diện hoạt động ngữ pháp Wang Mun Yong - Min Hyeon Sik (1993 ) đã chia phương thức biểu hiện của kính ngữ thành hai loại: phương thức ngữ pháp và phương thức từ vựng Tuy nhiên, cách tiếp cận này chỉ dừng lại ở những công trình lẻ tẻ và tầm ảnh hưởng của cách tiếp cận theo đối tượng tiếp nhận sự đề cao vẫn là xu hướng có thể khẳng định

Không chỉ dừng lại ở các công trình nghiên cứu đồng đại, các nhà ngôn ngữ học Hàn Quốc còn tìm hiểu quá trình biến đổi, hình thành cũng như mất đi của các yếu tố biểu hiện cho kính ngữ theo lịch đại ( Ahn Byeong Hee 1961; Heo Ung 1963, 1975; Kwon Jae Il 1998 ) Bằng việc miêu tả, phân tích, so sánh đặc điểm hoạt động của kính ngữ trong từng thời kỳ, hướng nghiên cứu này

Trang 5

đã giúp cho bức tranh về kính ngữ trong tiếng Hàn được hiện lên một cách toàn diện và đầy đặn hơn Với tình hình nghiên cứu được chú trọng ở cả chiều rộng và chiều sâu như vậy, có thể nói, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hàn Quốc đã nhìn thấy và đánh giá cao tầm quan trọng của kính ngữ trong sinh hoạt giao tiếp ở cộng đồng Tuy nhiên, ở Việt Nam, cũng như bản thân tiếng Hàn, kính ngữ vẫn còn là một vấn đề rất mới

Kể từ khi hai nhà nước Việt Nam - Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức đến nay đã được tròn mười năm Trong mười năm qua, cùng với

sự hợp tác phát triển tốt đẹp trên nhiều mặt kinh tế, chính trị, văn hoá việc đào tạo và nghiên cứu về tiếng Hàn cũng như về Hàn học tại Việt Nam cũng đã gặt hái được nhiều thành tựu Nhưng trong khi tầm quan trọng của tiếng Hàn nói chung và kính ngữ nói riêng với tư cách là một phương tiện rất quan trọng và cơ bản trong việc tạo lập, duy trì và phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa hai dân tộc

đã được khẳng định thì việc nghiên cứu về kính ngữ trong tiếng Hàn ở Việt Nam vẫn mới chỉ dừng lại ở những bước đi đầu tiên Tính đến thời điểm hiện nay, ngoài các bài viết có tính chất tổng hợp về tiếng Hàn, ở Việt Nam chỉ có hai công trình nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề kính ngữ trong tiếng Hàn nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu và khái quát Đó là khoá luận tốt nghiệp với đề tài

“ Một số biểu hiện của kính ngữ trong tiếng Hàn ” của cử nhân Nguyễn Thị Thu Ngân, Khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Hà Nội thực hiện năm 1998 và báo cáo tham gia hội thảo “ Những vấn đề văn hoá - ngôn ngữ và xã hội Hàn Quốc ” được tổ chức tại Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2002 của Nguyễn Thị Hương Sen với nhan đề “ Kính ngữ thông dụng trong tiếng Hàn so với tiếng Việt ” Xuất phát từ mâu thuẫn giữa tầm quan trọng của kính ngữ trong sinh hoạt giao tiếp và thực tế nghiên cứu về vấn đề kính ngữ ở Việt Nam, chúng tôi đã chọn kính ngữ

và các phương thức biểu hiện của nó trong tiếng Hàn hiện đại làm đề tài nghiên

cứu của mình Mục đích của chúng tôi khi tiến hành thực hiện luân văn này là:

- Tìm hiểu một cách sâu sắc, cơ bản và có hệ thống về các phương thức biểu hiện của kính ngữ trong tiếng Hàn hiện đại

Trang 6

- Thử nghiệm một cách tiếp cận mới trong việc nghiên cứu về kính ngữ trong tiếng Hàn ở Việt Nam

- Cố gắng để luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu cho việc giảng dạy và học tập tiếng Hàn cho sinh viên Việt Nam học ngành Hàn học, Khoa Đông phương học nói riêng và những người có quan tâm đến tiếng Hàn nói chung

Với những mục đích thiết thực trên, chúng tôi hy vọng luận văn sẽ góp một phần nhỏ vào nỗ lực phát triển việc học tập, tìm hiểu và nghiên cứu tiếng Hàn và Hàn học ở Việt Nam

2 Nhìn chung, kính ngữ được các nhà nghiên cứu thống nhất coi là

phương tiện ngôn ngữ được dùng để biểu hiện sự kính trọng, khiêm nhường đối với các đối tượng tham gia giao tiếp Như vậy, kính ngữ chỉ là một trong các phương thức thể hiện phép lịch sự trong giao tiếp mà người ta có thể sử dụng riêng rẽ hoặc đồng thời cùng với các hành vi phi ngôn ngữ như âm giọng, sắc mặt, thái độ, cử chỉ Nghiên cứu về kính ngữ trong tiếng Hàn, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu về các phương thức biểu hiện trên cơ sở hoạt động ngôn ngữ và ý nghĩa nội dung của kính ngữ trong từng phương thức đó

Trong tiếng Hàn, kính ngữ chỉ là một trong các phương thức biểu hiện tính lịch sự trong giao tiếp thông qua hành vi ngôn ngữ chứ không bao gồm tất cả các cách nói lịch sự Có nhiều cách thể hiện phép lịch sự thông qua hành vi ngôn ngữ và kính ngữ chỉ là một trong các cách thể hiện đó Để thể hiện phép lịch sự trong giao tiếp, người Hàn Quốc có thể sử dụng các lối nói giảm, nói tránh hay các lối diễn đạt mang tính lịch sự khác như thực hiện lối nói gián tiếp đối với những hành vi ngôn ngữ có tính áp đặt và xúc phạm cao v.v nhưng các hình thức đó không được coi là biểu hiện của kính ngữ Qua việc khảo sát một số công trình nghiên cứu của các học giả Hàn Quốc về kính ngữ chúng tôi thấy, các hình thức diễn đạt này chỉ được coi là một lối nói mang tính lịch sự chứ không được coi là một bộ phận của kính ngữ

Xét trên phương diện ngôn ngữ học, kính ngữ trong tiếng Hàn thực chất chỉ được xét trong phạm vi nhỏ của một số phụ tố, tiểu từ và hệ thống từ vựng

Trang 7

mang sắc thái kính trọng chuyên dùng Như vậy, nói một cách cụ thể, khi xem xét vấn đề kính ngữ và các phương thức biểu hiện của nó, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu hệ thống các hình vị ngữ pháp và từ vựng chuyên dùng mang sắc thái đề cao hoặc hạ thấp khác nhau được sử dụng theo những quy tắc nhất định nhằm thể hiện sự kính trọng hoặc không kính trọng đối với các đối tượng tham gia hoạt động giao tiếp

Là một sản phẩm xã hội, cũng như bản thân tiếng Hàn, kính ngữ đã trải qua nhiều quá trình phát triển và biến đổi tương ứng với xu thế phát triển của từng thời đại Trong quá trình đó, song song với những phương thức biểu hiện ngày càng được tinh tế hoá thì cũng có những phương thức ngày càng bị suy thoái mặc dù nó đã từng phát triển và được sử dụng rất rộng rãi trong quá khứ Diện mạo của kính ngữ trong tiếng Hàn như thế nào khi chữ Hangul bắt đầu được truyền bá? Quá trình sử dụng và biến đổi của kính ngữ đã diễn ra ra sao? Cái gì trong hệ thống đó đã mất đi và cái gì đang được phát huy mạnh mẽ? Tại sao lại có hiện tượng đó? Có rất nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh cần phải làm sáng tỏ khi nói về kính ngữ Tuy nhiên, với đề tài kính ngữ và phương thức biểu hiện của nó trong tiếng Hàn hiện đại, luận văn này của chúng tôi không lấy việc làm nổi rõ các biến động cũng như sự phát triển của kính ngữ trong các giai đoạn lịch sử xã hội làm trọng tâm mà chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện, phân tích, miêu

tả, tổng hợp và hệ thống lại diện mạo của kính ngữ trong lát cắt đồng đại là đời sống sinh hoạt xã hội hiện nay của người dân Hàn Quốc

3 Nếu nói “ngôn ngữ chỉ nảy sinh ra do nhu cầu, do sự cần thiết, cấp

bách phải giao tiếp với những người khác.” ( K Marx) thì kính ngữ cũng chỉ được sử dụng đối với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể và hướng tới những đối tượng giao tiếp cụ thể Thậm chí, có những phương thức biểu hiện có thể trở thành phương thức đặc trưng cho từng hoàn cảnh hay đối tượng giao tiếp nào đó Vì thế, mặc dù luận văn lấy phương thức biểu hiện của kính ngữ làm nội dung chính nhưng vì đặc trưng của kính ngữ là luôn gắn với những đối tượng và hoàn cảnh

cụ thể nên chúng tôi cũng sẽ tiến hành khảo sát những đối tượng giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể gắn với từng phương thức biểu hiện của kính ngữ để

Trang 8

từ đó tìm ra nội dung ý nghĩa cũng như phạm vi hoạt động của kính ngữ trong từng phương thức biểu hiện

Để nhận diện các phương thức biểu hiện của kính ngữ, ngoài việc chú ý tập trung khai thác các hiện thực văn bản bằng tiếng Hàn cũng như các tài liệu nghiên cứu có liên quan bằng các phương pháp thường dùng của khoa học ngôn ngữ, chúng tôi còn sử dụng các mẩu đối thoại cũng như các dạng văn bản thường gặp trong đời sống sinh hoạt giao tiếp hàng ngày của người Hàn Quốc

Như chúng tôi đã trình bày, khi nghiên cứu về vấn đề kính ngữ trong tiếng Hàn hiện đại, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc thường có xu hướng tiếp cận theo đối tượng tiếp nhận sự kính trọng để quy thành các phép đề cao và chỉ ra các phương thức biểu hiện của kính ngữ trong mỗi phép đề cao đó Ngoài ra, tuy không phổ biến nhưng không thể không nhắc tới một cách tiếp cận khác, đó là cách tiếp cận theo các phương thức hoạt động của kính ngữ với tư cách là một phương tiện ngôn ngữ Cụ thể với trường hợp của tiếng Hàn là thông qua con đường thay thế từ vựng và chắp dính các yếu tố ngữ pháp

Trong hai cách tiếp cận trên, vì cách tiếp cận thứ nhất lấy đối tượng được tiếp nhận sự kính trọng, đề cao làm cơ sở xem xét nên nó cho phép hình dung một cách dễ dàng và trực giác về phép đề cao đối với từng đối tượng giao tiếp đồng thời có thể so sánh được sự khác biệt về phương thức biểu hiện của kính ngữ giữa các đối tượng giao tiếp khác nhau Xuất phát từ suy nghĩ phương thức biểu hiện của kính ngữ có thể và nên được nhìn nhận trực tiếp từ góc độ ngôn ngữ, chúng tôi đã quyết định lựa chọn cách tiếp cận thứ hai để tiến hành tìm hiểu các cách thức, phương pháp biểu hiện ý nghĩa kính trọng của kính ngữ trong tiếng Hàn Từ sự nhìn nhận, xem xét một cách độc lập và cụ thể về các phương thức biểu hiện trên bình diện ngữ pháp, chúng tôi tiến hành tìm hiểu nội dung biểu hiện và phạm vi hoạt động của các phương thức đó trong tương quan với các yếu tố ngôn ngữ khác khi tham gia vào các thành phần câu cũng như với từng đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp có liên quan Cách tiếp cận này so với cách tiếp cận trước tuy có phức tạp và ít phổ biến hơn song nó cho phép tìm hiểu và phân biệt được các phương thức biểu hiện của kính ngữ không chỉ trên phương diện đối

Trang 9

tượng giao tiếp mà còn cả trên phương diện hoạt động ngôn ngữ Hơn nữa, sự lựa chọn này cũng là cố gắng của chúng tôi trong việc thử tìm ra một cách tiếp cận khác trước một vấn đề đã có lịch sử nghiên cứu tương đối dài trong giới ngôn ngữ học Hàn Quốc

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp quan sát, miêu tả đồng đại - một phương pháp mang tính chất truyền thống, chuyên dụng của ngôn ngữ học Ngoài ra, ở một mức độ nào đó, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu với quan niệm cũng như tình hình sử dụng kính ngữ ở Việt Nam nhưng không đặt việc này làm yêu cầu chính

4 Với mục đích tìm hiểu về phương thức biểu hiện của kính ngữ trong

tiếng Hàn hiện đại ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương I: Dẫn luận chung về kính ngữ trong tiếng Hàn: Bàn về khái

niệm kính ngữ cũng như chức năng và các yếu tố quyết định tới việc lựa chọn sử dụng kính ngữ trong tiếng Hàn

Chương II: Kính ngữ biểu hiện bằng phương thức ngữ pháp: Miêu

tả và khảo sát các phương thức biểu hiện của kính ngữ được tạo lập bằng cách chắp dính các yếu tố biểu hiện sắc thái kính trọng hoặc không kính trọng Đây là phương thức biểu hiện chính của kính ngữ trong tiếng Hàn đồng thời cũng là phương thức thể hiện rõ đặc trưng của loại hình ngôn ngữ chắp dính

Chương III: Kính ngữ biểu hiện bằng phương thức thay thế từ vựng: Khảo sát và liệt kê các từ mang sắc thái kính trọng thường dùng Mặc dù

không phải là phương thức biểu hiện chủ yếu song việc thay thế, sử dụng các từ cùng nghĩa mang sắc thái kính trọng cũng được sử dụng tương đối phổ biến Đặc biệt, xét trên phương diện đối tượng giao tiếp, đây là phương thức biểu hiện quan trọng nhất của kính ngữ trong tiếng Hàn đối với đối tượng giao tiếp là vai khách thể

Cuối cùng là tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 10

CHƯƠNG I DẪN LUẬN CHUNG VỀ KÍNH NGỮ TRONG TIẾNG HÀN

I KHÁI NIỆM KÍNH NGỮ

Như chúng tôi đã đề cập, kính ngữ ( 경어, 敬語, a term of respect ) là

một phạm trù ngữ pháp rất quan trọng trong tiếng Hàn Nó không chỉ thu hút được sự quan tâm của giới học thuật Hàn Quốc mà còn của cả các nhà nghiên cứu nước ngoài Trong các bài viết về kính ngữ hiện nay, khái niệm này được dùng để chỉ một loại phương tiện ngôn ngữ có chức năng thể hiện các mức độ kính trọng, đề cao đối với một đối tượng giao tiếp nào đó Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu các tài liệu của Hàn Quốc, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu Hàn Quốc không sử dụng khái niệm kính ngữ mà trên thực tế, nó chỉ tồn tại như một khái niệm trong từ điển

Trong các công trình nghiên cứu của các học giả Hàn Quốc, không có

khái niệm kính ngữ mà chỉ có khái niệm phép kính ngữ (경어법 , 敬語法 ) Trên

thực tế, khái niệm kính ngữ là khái niệm mới chỉ xuất hiện trong các bài viết của các nhà nghiên cứu Việt Nam về hiện tượng ngôn ngữ này Tuy nhiên, về mặt nội dung, khái niệm kính ngữ mà một số nhà nghiên cứu Việt Nam sử dụng và khái niệm phép kính ngữ của một số nhà nghiên cứu Hàn Quốc là giống nhau Chẳng hạn như quan niệm về “ một phạm trù ngữ pháp thể hiện sự tôn trọng của người nói đối với một đối tượng nào đó thông qua hành vi ngôn ngữ ” được các nhà nghiên cứu Việt Nam coi là kính ngữ trong khi các nhà nghiên cứu Hàn Quốc lại gọi là phép kính ngữ Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là nên hiểu kính ngữ và phép kính ngữ như thế nào? Có nên đồng nhất hai khái niệm này với nhau không? Có hay không sự khác biệt trong quan niệm về kính ngữ của các nhà nghiên cứu hai nước?

Phép kính ngữ trong tiếng Hàn ngoài cái tên chữ Hán là kính ngữ pháp

(경어법, 敬語法 ) còn được gọi dưới nhiều cái tên khác nhau tuỳ theo từng tác

Ngày đăng: 15/03/2021, 15:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w