1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tính mạch lạc trong thơ vi thùy linh

97 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy khái niệm mạch lạc còn chưa thống nhất, song hầu như các nhà Ngôn ngữ đều nhất trí ở tầm quan trọng của nó trong việc tạo lập ra văn bản, coi “mạch lạc là chất tạo ra văn b

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG BÍCH NGỌC

KHẢO SÁT TÍNH MẠCH LẠC TRONG THƠ

VI THÙY LINH

Mã số ngành: 60.22.01 Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt

Hà Nội - 2014

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luâ ̣n văn 4

6 Cấu trúc luâ ̣n văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

1.1 Vài nét về tác giả Vi Thùy Linh và đặc điểm ngôn ngữ thơ hiện đại 5

1.1.1 Vài nét về tác giả Vi Thùy Linh 5

1.1.2 Đặc điểm của ngôn ngữ thơ 6

1.2 Một số lí thuyết về mạch lạc 9

1.2.1 Biểu hiện của mạch lạc 12

1.2.2 Sự khác biê ̣t giữa mạch lạc trong thơ và truyện ngắn 21

1.3 Vai trò của mạch lạc trong việc tạo lập văn bản 24

CHƯƠNG 2 25

CÁCH TỔ CHỨC MẠCH LẠC TRONG THƠ VI THÙY LINH 25

2.1 Mạch lạc qua quan hệ thời gian 25

2.1.1 Thời gian trong văn bản 25

2.1.2 Mạch lạc theo thời gian trong thơ Vi Thùy Linh 26

a- Quan hệ trình tự 26

b- Quan hệ thời hạn 28

2.1.3 Các loại quan hệ thời gian 28

a- Trạng ngữ biểu thị thời gian 28

b- Các từ ngữ chỉ dẫn quan hệ thời gian 30

Trang 4

2.2.1 Sơ lược về quan hệ nguyên nhân trong văn bản 34

a- Các loại quan hệ nguyên nhân 34

b- Căn cứ để xác định quan hệ nguyên nhân 36

2.2.2 Một số loại quan hệ nguyên nhân trong thơ Vi Thùy Linh 42

a- Mạch lạc theo quan hệ nhân quả thuần túy 42

b- Mạch lạc theo quan hệ thời gian - nhân quả 42

c- Mạch lạc theo quan hệ suy luận giữa các sự kiện 43

CHƯƠNG 3 47

NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ HẠN CHẾ CỦA THƠ VI THÙY LINH 47

3.1 Những đóng góp 47

3.1.1 Về thể thơ 47

3.1.2 Nhịp thơ 52

3.1.3 Cái mới trong việc sử dụng phép trùng điệp 58

3.1.4 Cách dùng từ ngữ mới lạ trong biểu hiện chủ đề tình yêu 59

3.1.5 Sáng tạo trong sử dụng mạch lạc 65

3.2 Những hạn chế 68

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 82

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, Vi Thùy Linh là một nhà thơ trẻ thuộc thế hệ 8x Sau khi xuất hiện trên thi đàn chưa lâu, thơ Vi Thùy Linh đã được quan tâm như một hiện tượng của giới sáng tác trẻ Bởi đó là tiếng nói của lớp nghệ sĩ sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đổi mới Ngôn ngữ thơ Vi Thùy Linh có những yếu tố mới lạ nhưng không phải là không có những tùy tiện Vì thế thơ Vi Thùy Linh được bàn luận khá nhiều

Để có thể góp một tiếng nói vào việc đánh giá thơ Vi Thùy Linh nói riêng và thơ của các nhà thơ trẻ nói chung, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát tính mạch lạc trong thơ Vi Thùy Linh”

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là: Tìm hiểu các cách tổ chức ngôn ngữ để tạo nên tính mạch lạc trong văn bản thơ Vi Thùy Linh Qua đó đi đến việc khẳng định các giá trị và hiệu quả của sử dụng ngôn ngữ trong sáng tạo thơ ca

3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luâ ̣n văn gồm ba tâ ̣p thơ của nhà thơ trẻ Vi Thùy Linh:

- Tập thơ Khát (Vi Thùy Linh, Nhà xuất bản Hội nhà văn, tháng 1/1999)

- Tâ ̣p thơ Linh (Vi Thùy Linh, Nhà xuất bản Thanh niên, tháng 10/ 2000)

- Tâ ̣p thơ Đồng tử (Vi Thùy Linh, Nhà xuất bản Văn nghệ, Hà Nội, tháng 9/2005)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tiến hành nghiên cứu các hình thức liên văn bản – cụ thể là mạch lạc trong tổ chức văn bản

Trang 6

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp miêu

tả Ngoài ra, một số thủ pháp nghiên cứu ngôn ngữ cũng đuợc sử dụng như thống kê, cải biến, so sánh

5 Đóng góp của luâ ̣n văn

Từ viê ̣c ng hiên cứu tính ma ̣ch la ̣c trong thơ Vi Thùy Linh , luâ ̣n văn sẽ chỉ ra sự kết nối mạch lạc về hình thức thể hiện cũng như về nội dung Qua đó

có thể đánh giá được những đóng góp và hạn chế của nhà thơ Vi Thùy Linh trong quá trình sáng tác thơ ca Luận văn sẽ đi sâu vào những khía ca ̣nh cu ̣ thể của sự kết nối và góp phần giải mã hiện tượng Vi Thùy Linh

6 Cấu trúc luâ ̣n văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luâ ̣n văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

1.1 Vài nét về tác giả Vi Thùy Linh và đặc điểm ngôn ngữ thơ hiện đại 1.1.1 Vài nét về tác giả Vi Thùy Linh

1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ hiện đại

1.2 Mô ̣t số lý thuyết về ma ̣ch la ̣c

1.2.1 Mạch lạc là gì?

1.2.2 Sự khác biê ̣t giữa ma ̣ch la ̣c trong thơ và truyê ̣n ngắn

1.2.3 Vai trò của ma ̣ch la ̣c trong thơ Vi Thùy Linh

Chương 2: Cách tổ chức mạch lạc trong thơ Vi Thùy Linh

2.1 Mạch lạc qua quan hệ thời gian

2.2 Mạch lạc qua quan hệ không gian

Trang 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Vài nét về tác giả Vi Thùy Linh và đặc điểm ngôn ngữ thơ hiện đại 1.1.1 Vài nét về tác giả Vi Thùy Linh

Vi Thùy Linh, nhà thơ nữ trẻ trên văn đàn Việt Nam hiện nay sinh ngày

4 tháng 4 năm 1980 Vi Thùy Linh được biết đến như một hiện tượng thơ qua

ba tập thơ: “Khát”, “Linh” và “Đồng tử” Linh thổi vào văn đàn thơ mới một cơn lốc mãnh liệt với khát vọng tình yêu đắm say, cuồng nhiệt

Sinh năm 1980, lớn lên trong gia đình nghệ thuật, ông nội và chú là họa

sĩ, bố là đạo diễn, Vi Thùy Linh được nuôi dưỡng trong không khí nghệ thuật

và là một người đa cảm từ thủa bé

Vi Thùy Linh chỉ làm thơ tự do mà từ chối các thể thơ có niêm luật Cũng là một tiếng thơ lạ, Vi Thùy Linh mới chỉ bắt đầu đi những bước đầu tiên trên con đường thơ truân chuyên gian khó của mình

Sự xuất hiê ̣n của nhà thơ trẻ Vi Thùy Linh đã ta ̣o thành “hiê ̣n tượng” trong giới viết trẻ với tiề m năng sáng ta ̣o khá “sung mãn” Cô liên tiếp cho ra mắt công chúng yêu thơ các tác phẩm đă ̣c sắc được tâ ̣p hợp trong các tâ ̣p thơ : Khát (tháng 1/1999), Linh (tháng 5/2000), Đồng tử (tháng 9/3/2005) và gần đây nhất là tâ ̣p thơ Vili i n love Chỉ trong một thời gian ngắn cái tên Vi Thùy Linh đã dành được sự quan tâm của đông đảo công chúng Nữ nhà thơ đã ghi tên mình mô ̣t cách đầy ấn tượng trong làng thơ Việt Nam Mă ̣c dù ở mỗi người ấn tượng đó có khác nhau đ i nữa , có người khen , có người chê , có người yêu quý và cũng có người phê phán nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng Vi Thùy Linh là mô ̣t “hiê ̣n tượng”

“Hiê ̣n tượng Vi Thùy Linh” đã ta ̣o nên các cuô ̣c tranh luâ ̣n rất sôi nổi với hai luồng ý kiến trái ngược nhau: Nhóm những người coi thơ Vi Thùy Linh là

mô ̣t “hiê ̣n tượng thơ mới” , là “trẻ thứ thiệt” điển hình là Nguyễn Trọng Tạo , Nguyễn Huy Thiê ̣p, Hoàng Hưng, Nguyễn Thu ̣y Kha, Phạm Xuân Nguyên…

Trang 8

và nhóm những người đối lâ ̣p không coi thơ Vi Thùy Linh là thơ như Nguyễn Thanh Sơn , Hoàng Xuân Tuyền , Hưng Yên, Trần Ma ̣nh Hảo… Cuô ̣c tranh luâ ̣n kéo dài từ ngày 17 tháng 2 năm 2001 đến ngày 24 tháng 3 năm 2001 Liên tiếp trên các số 7, 8, 9, 10 của báo Người Hà Nội , khởi đầu từ bài viết

“Đầu thiên niên kỷ ma ̣n đàm về thơ trẻ” của nhà thơ Nguyễn Tro ̣ng Ta ̣o được nhà thơ Hoàng Hưng trích đăng trên báo Lao Động Cuô ̣c tranh luâ ̣n này về hình thức đã chấm dứt với bài “ Trả lời thư ngỏ” của nhà thơ Hoàng Hưng , nhà thơ Bế Kiến Quốc đăng trên báo Người Hà Nội số 12 ra ngày 24 tháng 3 năm 2001 chưa làm thỏa lòng công chúng yêu thơ

1.1.2 Đặc điểm của ngôn ngữ thơ

Qua thế kỷ 20, thơ hiện đại nổi bật với tham vọng cách mạng về nhận thức và mỹ học: “Gạt bỏ sự kiểm soát của lý trí, để vô thức và tiềm thức dẫn dắt một cách viết tự động (écriture automatique) nhằm đạt được nhận thức nguyên sơ, trực giác về sự vật” (Tuyên ngôn siêu thực của André Breton, 1924)

Chính vì lẽ đó mà khó có thể khái quát vài đặc điểm về sự phong phú đa dạng chưa từng có của thơ ca hiện đại qua suốt một thế kỷ đầy biến động xã hội và nhảy vọt về khoa học kỹ thuật

Việc nghiên cứu và chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ thơ đã được trình bày khái quát trong cuốn Ngôn ngữ thơ ca Việt Nam của Hữu Đạt Sẽ là phiến diện nếu xem xét ngôn ngữ thơ ca chỉ chú ý tới hình thức mà không chú ý đến nội dung Nói cụ thể hơn, khi chú ý đến mối quan hệ này cần phải quan tâm đến cả hai mặt: mặt hình thức của hình thức và mặt hình thức của nội dung

Có như vậy chúng ta mới thấy được tiềm năng – tức tiền đề vật chất của ngôn ngữ dân tộc trong quá trình sáng tạo nghệ thuật ở mỗi một tác giả hoặc mỗi trào lưu thơ ca

 Phương thức biểu hiện của ngôn ngữ thơ thực chất bao gồm hai mặt:

Trang 9

- Mặt thứ nhất: phải phân tích những kiểu diễn đạt cơ bản trong thơ ca Chẳng hạn như những kiểu so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tỉ dụ, khoa trương… là những kiểu diễn đạt hay được dùng phổ biến nhất, mang đặc điểm ngôn ngữ thể loại

- Mặt thứ hai: cần phải phân tích những biện pháp chuyển nghĩa mà nhà thơ áp dụng để biểu thị những suy nghĩ, tình cảm của mình trước đối tượng, cũng như việc miêu tả những tính chất và phẩm cách của đối tượng

 Tổ chức ngôn ngữ và cấu trúc hình tượng thơ

Thơ là một thể loại của văn học nghệ thuật, cho nên hình tượng thơ cũng phần nào giống hình tượng của văn học nói chung Tuy nhiên, nó cũng có điểm khác căn bản Đó là cách xây dựng hình tượng dựa trên những quy luật riêng của các hoạt động ngôn ngữ, khác với quy luật hoạt động ngôn ngữ trong lĩnh vực văn xuôi Hình tượng thơ là một bức tranh sinh động và tương đối hoàn chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính chất vần, điệu với trí tưởng tượng sáng tạo và cách đánh giá của người nghệ sĩ

Hình tượng thơ chính là mối quan hệ giữa các bộ phận của câu thơ, của đoạn thơ trong cách tổ chức những câu thơ, đoạn thơ để phản ánh đối tượng với những rung động tình cảm và cách đánh giá của người nghệ sĩ theo cách riêng của họ Việc phân tích hình tượng thơ có thể đứng từ nhiều góc độ khác nhau, một mặt phải chú ý đến quan hệ kết hợp, mặt khác còn phải chú ý đến các thao tác liên tưởng, so sánh, trong tư duy và cơ chế ngôn ngữ của tiếng Việt trong việc hiện thực hóa các thao tác đó

 Đặc điểm về tính nhạc của ngôn ngữ thơ

Đặc điểm về tính nhạc là đặc điểm có tính phổ biến trong mọi ngôn ngữ Nhưng do mỗi một ngôn ngữ cụ thể có cơ cấu, cách cấu tạo và tổ chức khác

Trang 10

nhau nên đặc điểm đó cũng được thể hiện ra một cách khác nhau

Tính giàu có về thanh điệu, nguyên âm và phụ âm là những đặc tính làm cho ngôn ngữ thơ Việt Nam có một dạng vẻ độc đáo riêng Trước hết nói về cách hòa âm trong thơ Việt Nam là nói tới cách hòa phối các thanh điệu, các cách kết hợp âm thanh theo một kiểu nhất định nào đó ở trong câu thơ, đoạn thơ và một bài thơ cụ thể

Khả năng biểu hiện chủ yếu ở những từ tượng thanh, những từ láy âm như: lả lướt, lắc lư, nhấp nhô, ào ào, lơ thơ, mênh mông, rì rầm, ục ịch, lập lòe… Sức gợi tả này giúp cho việc tìm tòi, phát triển đường nét giai điệu và lời ca để làm cho tiếng hát thêm độc đáo, ý vị, duyên dáng và đậm đà bản sắc dân tộc

 Đặc điểm về phong cách của nhà thơ

Nói tới phong cách đặc điểm của mỗi nhà thơ, tức là chúng ta nói tới chủ thể sáng tạo của một tác phẩm cụ thể Đặc điểm về phong cách của nhà thơ sẽ trực tiếp chi phối việc sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm Đặc điểm ấy, đến lượt nó lại trực tiếp chịu sự chi phối của thế giới quan sáng tác, cách lựa chọn

đề tài, chủ đề, lựa chọn đối tượng phản ánh của tác giả…

Về thi pháp, ta có thể thấy thơ hiện đại khác thơ trước nó (cổ điển, lãng mạn) ở những điểm sau:

- Thơ hiện đại mang một nhạc tính nội tại, thứ nhạc do một xung động tiềm thức tạo ra và tác động tới tiềm thức người đọc (có thể so sánh với tác động của những câu thần chú) Thơ hiện đại chủ yếu là thơ tự do có vần hoặc không vần, thơ văn xuôi, tức là thể thơ không định sẵn

- Hình ảnh trong thơ hiện đại bất ngờ, sửng sốt Nhiều khi hai sự vật kết hợp với nhau tạo sự nhảy vọt về trí tưởng tượng Điều quan trọng là những kết hợp bất ngờ ấy không do “sự nghĩ” mà có Đó là thành quả của đời sống tâm hồn mãnh liệt (giống như những chất liệu của ban ngày kết hợp thành

Trang 11

giấc mộng ban đêm) Nó cũng thể hiện “cái ngẫu nhiên” của đời sống hiện đại đầy bất trắc, đầy biến động không ai đoán định nổi

- Thơ hiện đại là “nghệ thuật của ngôn ngữ” theo đúng nghĩa Hai con đường làm mới ngôn ngữ thơ: một là đưa vào thơ những từ ngữ mới xuất hiện trong đời sống, hai là tạo nghĩa mới cho từ cũ và tạo hẳn chữ mới Trong phút xuất thần của nhà thơ, những kết hợp từ, có vẻ vô nghĩa song lại chấn động tâm linh, buột ra từ cõi hoang sơ khi ngữ âm còn trinh trắng u ơ như những tín hiệu thiên nhiên chưa khoác “ách” ngữ nghĩa của cộng đồng Cực đoan hơn, nhiều nhà thơ hiện đại khẳng định họ không sử dụng ngôn ngữ, ngược lại họ phục vụ nó: bị sức mạnh bí mật của ngôn ngữ chiếm lĩnh, họ chỉ là người truyền sự ám ảnh của nó đến người đọc

Như vậy, từ thơ trữ tình điệu ngâm sang thơ trữ tình điệu nói, ngôn ngữ thơ đã làm cuộc chuyển hóa nhanh chóng từ thi pháp trung đại sang hiện đại Ngôn ngữ thơ ngày càng giàu có, cách diễn đạt càng tự nhiên, càng chuyên chở đầy đủ, tinh tế những cảm xúc phong phú, đa dạng, đa cung bậc của cái tôi trữ tình tiểu tư sản trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám

1.2 Một số lí thuyết về mạch lạc

Mạch lạc là một phạm trù cơ bản của ngôn ngữ học văn bản Khái niệm này được chú ý trong giới Ngôn ngữ thế giới từ đầu thế kỉ XX và đến những năm bảy mươi của thế kỉ XX khái niệm mạch lạc đã tạo ra không khí nghiên cứu sôi nổi tại Việt Nam Tuy khái niệm mạch lạc còn chưa thống nhất, song hầu như các nhà Ngôn ngữ đều nhất trí ở tầm quan trọng của nó trong việc tạo lập ra văn bản, coi “mạch lạc là chất tạo ra văn bản”, “chính mạch lạc chứ không phải là yếu tố nào khác tạo nên văn bản” (đối lập với phi văn bản ), “là cái làm cho văn bản là văn bản” chứ không phải là những câu vô nghĩa đứng gần nhau Do đó muốn xem sự hài hòa cũng như trí tuệ của người tạo lập ra văn bản phải dựa vào tính mạch lạc

Trang 12

Mạch lạc trong tiếng Anh gọi là coherence Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu mạch lạc là một trong những điều kiện/ những đặc trưng hàng đầu quyết định một chuỗi câu là văn bản

Từ những năm 40 của thế kỷ XX đã có những công trình nghiên cứu đặt nền móng cho bộ môn ngữ pháp văn bản Ngay sau đó vào những năm 50-60, ngữ pháp văn bản đã hình thành và tự khẳng định đươc vai trò vị trí của mình trong ngôn ngữ học Cùng với sự phát triển đó, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ

đã đi tìm các thuộc tính đặc thù chỉ có ở văn bản Hiện tượng liên kết được khảo sát sớm hơn cả Ban đầu là tính liên kết chủ yếu chỉ hạn chế ở những biểu hiện hình thức, cùng với đó là sự xuất hiện của các phương tiện liên kết câu Sau đó, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã phát hiện ra một số văn bản không có liên kết hình thức nhưng vẫn là văn bản Từ đó liên kết ngữ nghĩa ra đời và được quan tâm nhiều hơn

Từ khi ra đời, thuật ngữ mạch lạc được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau David Nunan định nghĩa mạch lạc một cách đơn giản như sau: “Mạch lạc là tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là có “mắc vào nhau” chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan với nhau” Một diễn ngôn hoặc một văn bản gồm các câu có liên hệ về nghĩa với nhau, cùng hướng vào một chủ đề nhất định là một diễn ngôn hoặc một văn bản có mạch lạc”

Theo Bách khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học (tập 10, 1994, Pergamon Press): “Mạch lạc là sự nối kết có tính chất logic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt truyện, một truyện kể… lệ thuộc vào sự tạo ra những sự kiện được nối kết với nhau, hơn là những dây liên hệ thuộc ngôn ngữ (như trong liên kết)” [34, tr9] Dưới đây chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến và những định nghĩa tiêu biểu về khái niệm mạch lạc của các nhà nghiên cứu Việt Nam

Trang 13

Khái niệm mạch lạc được đề cập đến đầu tiên trong các công trình nghiên cứu của Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thiện Giáp… Tuy nhiên ở các giai đoạn đầu, các công trình đó mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu những khái niệm chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu, khảo sát chung Càng về sau, những công trình nghiên cứu về mạch lạc xuất hiện ngày càng nhiều hơn

và đã đi vào nghiên cứu chuyên sâu hơn nhiều

Tuy khái niệm mạch lạc vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau giữa các nhà nghiên cứu, song mạch lạc được coi là điều kiện và đặc trưng cơ bản nhất của một văn bản đích thực Nói cách khác, mạch lạc là yếu tố quyết định việc làm cho một chuỗi câu trở thành văn bản

Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Một văn bản, một diễn ngôn là một lập luận đơn phức hợp bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào Tính lập luận là sợi chỉ đỏ bảo đảm tính mạch lạc (coherense) về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức (cohesion) của văn bản, của diễn ngôn” [12, tr174]

Tác giả Diệp Quang Ban định nghĩa mạch lạc như sau: “Mạch lạc là sự nối kết có tính chất hợp lý về mặt nghĩa và mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại, một lời nói hay bài biết…), nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết với câu” [6, tr94] Định nghĩa này đã nêu được các thuộc tính, dấu hiệu cơ bản (đặc trưng vốn có) của mạch lạc về mặt nghĩa và về mặt chức năng và vai trò của mạch lạc với việc tạo lập văn bản, đồng thời cũng có sự phân biệt mạch lạc với liên kết Như vậy, mạch lạc đã được hiểu từ đơn giản đến phức tạp, được nhìn ở nhiều góc độ, khái quát hơn Điều này cho thấy tính trừu tượng, khó nắm bắt mạch lạc, “khó giảng giải thế nào là mạch lạc, nhưng dễ cảm nhận khi thiếu vắng nó” [5, tr62]

Trang 14

1.2.1 Biểu hiện của mạch lạc

Mạch lạc là một vấn đề khá phức tạp, mơ hồ vì vậy nó đã và đang là một “mảnh đất màu mỡ để các nhà nghiên cứu cày xới” Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã không dừng lại ở việc tìm hiểu thế nào là mạch lạc, mà còn

đi sâu khám phá các biểu hiện ở mạch lạc Đó cũng là quan điểm của Trần Ngọc Thêm khi nói về biểu hiện của mạch lạc trong văn bản Mặc dù Trần Ngọc Thêm không trực tiếp dùng từ “mạch lạc” nhưng những phát hiện về liên kết nội dung của ông cũng chính là những phát hiện cơ sở cho mạch lạc Theo ông liên kết nội dung gồm hai bình diện là liên kết chủ đề và liên kết logic

a Liên kết chủ đề

Khái niệm: Liên kết chủ đề của văn bản chính là sự tổ chức những phần nêu của các phát ngôn Cách thể hiện của nó theo Trần Ngọc Thêm: “Liên kết nội dung (trong đó có liên kết chủ đề) được thể hiện bằng liên kết hình thức

và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt liên kết nội dung Nếu ta không thông qua các phương tiện hình thức thì sẽ không có cách nào để nhận diện chính xác liên kết nội dung nói chung và liên kết nội dung nói riêng” Hai phát ngôn có thể coi là có liên kết chủ đề khi chúng nói đến những đối tượng chung hoặc những đối tượng có quan hệ mật thiết với nhau Có bảy phương thức thể hiện liên kết chủ đề là: lặp từ vựng, đối, thế, đồng nghĩa, liên tưởng, thế đại từ, tỉnh lược yếu và tỉnh lược mạnh Trong đó năm phương thức duy trì chủ đề là lặp từ vựng, thế đồng nghĩa, thế đại từ, tỉnh lược yếu và tỉnh lược mạnh, còn phép liên tưởng và phép đối là hai phương thức phát triển chủ đề

Để phân tích liên kết chủ đề phải phân tích ở cả hai cấp độ giữa các từ trong phát ngôn và giữa các phát ngôn trong văn bản

b Liên kết logic

Khác với liên kết chủ đề, “liên kết logic chủ yếu là sự tổ chức của các

Trang 15

phần báo Nó là một bình diện “sâu” hơn liên kết nội dung, mang tính ngữ nghĩa nhiều hơn, và cũng phụ thuộc vào những nhân tố ngoài ngôn ngữ nhiều hơn” [30, tr313]

Đơn vị liên kết chủ yếu trong liên kết logic là các hành động sự việc Về mặt ngôn ngữ, các đơn vị liên kết logic được thể hiện bằng các từ, cụm từ, phát ngôn, chuỗi phát ngôn Sự kết hợp của hai đơn vị sẽ được coi là có liên kết logic khi chúng phù hợp với nhau theo những quan hệ ngữ nghĩa nhất định Có nhiều loại quan hệ ngữ nghĩa Quan hệ ngữ nghĩa bậc một mang tính khái quát cao Quan hệ ngữ nghĩa bậc hai làm nhiệm vụ cụ thể hóa cho các quan hệ bậc một Có ba phương thức liên kết được dùng để thể hiện các quan

hệ ngữ nghĩa vừa nêu là phép tuyến tính, phép nối lỏng, phép nối chặt Hai đơn vị được coi là phù hợp với nhau về ngữ nghĩa khi hai đơn vị cùng cấp độ kết hợp lại với nhau nhưng các đặc trưng bản thể và tiền giả định lại không đối lập với nhau mà có điểm chung Giữa các phát ngôn, giữa các đoạn văn, sự phù hợp ngữ nghĩa cũng diễn ra theo quy luật như trên Trong văn bản, mỗi phát ngôn đi sau phải phù hợp với toàn bộ phát ngôn đứng trước đó, cho đến phát ngôn cuối cùng của văn bản

Theo tác giả liên kết chủ đề là một sợi dây xuyên suốt, xâu chuỗi các phần nêu bộ phận lại với nhau, còn liên kết logic là sợi dây khác xâu chuỗi các phần báo bộ phận với nhau Liên kết chủ đề, liên kết logic hay nói cách khác là liên kết nội dung đã làm nên sự thống nhất chặt chẽ và toàn vẹn của nội dung toàn văn bản

Quan điểm của Diệp Quang Ban

Đến tác giả thì khái niệm mạch lạc, biểu hiện của mạch lạc đã được đưa

ra rõ ràng Qua các khảo sát của mình, tác giả đã đưa ra những biểu hiện thực

tế dễ nhận biết của mạch lạc trong một số phạm vi cụ thể sau

a Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu

Trang 16

Giữa các từ ngữ trong một câu luôn có quan hệ cấu trúc về nghĩa hoặc về

cú pháp Nhờ có quan hệ cấu trúc mà trong câu luôn duy trì được tính mạch lạc Theo tác giả thì mạch lạc được biểu hiện rõ trong quan hệ nghĩa giữa vật nêu ở chủ ngữ với đặc trưng nêu ở vị ngữ và trong quan hệ cú pháp giữa động

từ với bổ ngữ Để chứng minh cho điều này tác giả đã đưa ra ví dụ có tính chất “phản diện” Tức chỉ ra những trường hợp không có mạch lạc để nhận biết mạch lạc

Ví dụ: Cái bàn tròn này vuông

Câu trên là một câu đúng ngữ pháp nhưng về mặt ý nghĩa logic không được chấp nhận do mâu thuẫn giữa đặc trưng “tròn” vốn đã được gắn cho cái bàn ở phần chủ ngữ [“cái bàn tròn này”] với đặc trưng vuông được dùng để miêu tả cái bàn tròn ấy ở gần vị ngữ Hai đặc trưng về hình thể “tròn” và

“vuông” không dung hợp được với nhau

Dẫn chứng thứ hai mà tác giả đưa ra là:

A1 Các cháu trong làng rất quý mến và tự hào về thầy giáo ấy

B1 Các cháu trong làng rất tự hào và quý mến thầy giáo ấy

Cả 2 câu trên đều không được chấp nhận đối với ngữ pháp tiếng Việt Xét trong cách kết hợp giữa từ “quý mến”, “tự hào” với “thầy giáo ấy”, tác giả thấy với cách viết trên sẽ tạo ra cách kết hợp “quý mến về thầy giáo ấy” là không chấp nhận được (dẫn chứng a) Còn “tự hào” cần quan hệ từ “về” nhưng quan hệ này lại vắng mặt (dẫn chứng b) Hai câu trên cần sửa lại là: a(1) Các cháu trong làng rất quý mến thầy giáo ấy và tự hào về ông b(1) Các cháu trong làng tự hào về thầy giáo ấy và rất quý mến ông

b Mạch lạc trong quan hệ giữa các đề tài - chủ đề của các câu

Đề tài là những vật, việc, hiện tượng được nói đến Còn chủ đề là vấn đề chủ yếu được đặt ra và giải quyết Mạch lạc trong quan hệ giữa các đề tài (chủ đề) của các câu có thể được thực hiện theo hai cách là duy trì đề tài và triển

Trang 17

khai đề tài

- Duy trì đề tài

Duy trì đề tài là trường hợp vật, việc, hiện tượng nào đó được nhắc lại trong những câu khác nhau với tư cách là đề tài của các câu đó Các từ ngữ diễn đạt đề tài này trong các câu có thể chỉ là một và được lặp lại nhưng cũng

có thể là những yếu tố có bề ngoài khác nhau Ở các trường hợp này, các từ ngữ đều cùng chỉ về một vật, việc, hiện tượng đó Sự duy trì đề tài có thể được thực hiện bằng cách sử dụng các phương tiện thuộc các phép liên kết như phép lặp từ ngữ (trong phép liên kết từ vựng), phép thế bằng đại từ, phép tỉnh lược

Ví dụ : “(1) Thần Tứ Tượng không nản lòng lại cất công xây đắp nhiều núi khác cho vừa ý Nữ Oa (2) Thần đắp rất nhiều núi từ Bắc chí Nam (3) Ngày nay người hạ giới vẫn cho những dấu chân lớn còn lưu lại trên đá ở một vài núi vùng Bắc Bộ và Trung Bộ là những dấu chân của thần”

Trong đoạn văn trên các từ: ''thần Tứ Tượng - thần” cùng chỉ một đối tượng, tức từ “thần” ở câu thứ hai và thứ ba được thay thế cho ''thần Tứ Tượng'' ở câu thứ nhất Để biết thần nào ta phải quy chiếu ''thần'' với ''thần Tứ Tượng'' ở câu trước Như vậy, giữa các câu đã có sự duy trì đề tài nhờ phép thế đại từ ''thần''

- Triển khai đề tài

Triển khai đề tài là trường hợp từ một đề tài nào đó trong một câu liên tưởng đến đề tài khác thích hợp trong câu khác theo một quan hệ nào đó nhằm mục đích làm cho sự việc được nói đến phát triển thêm lên Các đề tài được đưa thêm vào phải có cơ sở nghĩa và cơ sở logic nhất định Cơ sở nghĩa thể hiện ở sự phù hợp về nghĩa của các đề tài mới thêm vào với đề tài đã có và với tình huống sử dụng nói chung Cơ sở logic thể hiện ở các kiểu quan hệ logic thích hợp và số lượng đề tài được triển khai thỏa mãn tính cần và đủ

Trang 18

(không thiếu cũng không thừa) Sự triển khai đề tài có thể được thể hiện bằng các phương tiện thuộc các phép liên kết như phép phối hợp từ ngữ, phép so sánh (trong phép quy chiếu)

Ví dụ: ''Đôi ta như cúc với khuy

Như kim với chỉ may đi cho rồi''

''Cúc, khuy, kim, chỉ, may'' đều là những từ có quan hệ với nhau trên cơ

sơ liên tưởng đồng loại Cúc, khuy là những cái thường thấy trên áo Phải có cúc, khuy thì chiếc áo mới hoàn chỉnh Cũng giống như kim, chỉ luôn đi liền với nhau, thiếu một trong hai cái cũng không được Từ cúc - khuy, tác giả dân gian đã liên tưởng tới mối quan hệ mật thiết, không thể rời bỏ nhau là kim - chỉ Từ kim - chỉ lại được liên tưởng tiếp đến ''may'' Cúc, khuy, kim, chỉ đều được sử dụng trong may vá Câu ca dao giống như một lời cầu hôn Người nói

đã rất khôn khéo khi tìm những hình ảnh gần gũi đi đôi với nhau để chỉ tình cảm của nam nữ Đôi nam nữ đã hợp ý tâm đầu và giờ chỉ là việc kết họ lại thành một đôi ''may đi cho rồi'' Đề tài đã được triển khai rất mạch lạc, từ việc nêu quan hệ tình cảm của đôi nam nữ đi đến kết quả là phát triển thành hôn nhân, gia đình

c Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau

Để tạo tính mạch lạc, việc trình bày các vật với các đặc trưng riêng của chúng trong một chuỗi câu nối tiếp nhau cũng đòi hỏi phải có cơ sở hợp lí Nếu giữa các vật và các đặc trưng riêng của từng vật không logic thì sẽ không tạo được mạch lạc

Ví dụ: (1) Nhà bác A có hai cháu gái (2) Đứa cả thì hiền lành, chân chất (3) Đứa thứ hai lại hoàn toàn khác (4) Nó thường hay ăn kem

Các câu (1), (2), (3) rất logic với nhau nhưng câu (4) lại là một vấn đề khác, không dung hợp được với đặc trưng nêu ở những câu trên Đặc điểm

Trang 19

''thường hay ăn kem'' không được chờ đợi khi nói về tính tình của hai chị em nhà bác A Vì vậy câu (4) không mạch lạc với các câu phía trước

Qua ví dụ trên ta cũng có thể khẳng định liên kết bằng từ ngữ chỉ có thể tạo

ra mạch lạc giữa các câu vốn mạch lạc với nhau, không phải cứ có liên kết là có mạch lạc Mạch lạc mới là yếu tố quyết định một chuỗi câu thành văn bản

d Mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lí giữa các câu (hay các mệnh đề) Giữa các sự việc chứa trong các câu hay các mệnh đề nối tiếp nhau (trong những câu đơn nối tiếp nhau hoặc trong một câu ghép chứa nhiều mệnh đề) có thể có quan hệ nghĩa - logic (như quan hệ bổ trợ, quan hệ nghịch đối, quan hệ thời gian, không gian, quan hệ nguyên nhân, quan hệ lập luận ) Việc thay đổi trật tự giữa các câu sẽ dẫn đến hậu quả khác nhau Có những hiện tượng thường gặp và có tính chất tiêu biểu thường thấy ở mạch lạc trong việc biểu hiện trật tự hợp lí giữa các câu (mệnh đề):

- Quan hệ thời gian giữa các câu (mệnh đề)

- Quan hệ nguyên nhân giữa các câu (mệnh đề)

- Quan hệ lập luận giữa các câu (mệnh đề)

Những quan hệ này trong câu có thể được chỉ dẫn bằng những từ ngữ thích hợp như trước hết, trước đó, sau này, sau đó, rồi chỉ quan hệ thời gian;

vì, nên chỉ quan hệ nguyên nhân: vì, nên, nhưng, tuy chỉ quan hệ lập luận

- Trật tự giữa các câu (mệnh đề) diễn đạt quan hệ thời gian

Quan hệ thời gian nói ở đây là quan hệ thời gian vật lí khách quan (không bàn đến thời gian tâm lí) Quan hệ thời gian thường được chia thành những kiểu nhỏ như: Thời điểm (là cái lúc mà sự việc diễn ra, với điểm mốc

là "bây giờ", trả lời cho câu hỏi "bao giờ" hay "lúc nào") Thời điểm gồm hai kiểu nhỏ là: Thời gian nối tiếp và thời gian gián cách Thời gian nối cách như: Hôm qua, hôm nay và ngày mai Thời gian gián cách như: Ba hôm nữa tôi sẽ đến, tức là cách hôm nay ba ngày Thời đoạn là khoảng thời gian trong đó sự

Trang 20

việc diễn ra, trả lời cho câu hỏi “bao lâu”

Những câu có quan hệ thời gian trước - sau với nhau, nếu không dùng từ ngữ đánh dấu quan hệ đó, thì trật tự bắt buộc là sự việc diễn ra trước phải được trình bày trước, sự việc diễn ra sau được trình bày sau Với trường hợp không dùng từ ngữ để làm rõ quan hệ thời gian và nếu trật tự của các câu diễn đạt hai sự việc trước - sau không được tuân thủ thì có thể xảy ra hai trường hợp: Biến đổi trật tự sẽ tạo ra những câu vô nghĩa và sẽ làm thay đổi vai trò của các yếu tố trong quan hệ

Ví dụ: (1) Cô giáo vừa bước vào lớp (2) Học sinh liền đứng dậy chào Hai câu (1), (2) có quan hệ thời gian với nhau Sự việc ở câu (1) diễn ra trước, sự việc ở câu (2) diễn ra sau Nếu biến đổi trật tự của câu trên thành (2)

- (1) thì câu sẽ trở nên vô nghĩa

- Trật tự giữa các câu diễn đạt quan hệ nguyên nhân

Quan hệ nguyên nhân là quan hệ giữa hai sự kiện, hiện tượng Sự kiện, hiện tượng này là nguyên nhân của sự kiện, hiện tượng khác Mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân từ góc độ tâm lí học còn có một dạng biểu hiện khác là suy luận quy kết Hai sự kiện có quan hệ nguyên nhân phải tuân theo những điều kiện như tính ưu tiên về thời gian; tính còn hiệu lực; tính cần và tính đủ Quan hệ nguyên nhân giữa các mệnh đề được diễn đạt bằng hai cách: phương tiện tu từ (từ ngữ chỉ quan hệ nguyên nhân) và khuôn hình tu từ (sử dụng khuôn hình diễn đạt quan hệ nguyên nhân) Các phương tiện tu từ thường gặp trong tiếng Việt là vì, do, tại, bởi và (cho) nên (chỉ hệ quả) và các phương tiện tương tự

Về nguyên tắc, sự việc là nguyên nhân phải xuất hiện trước sự việc là hệ quả Nếu trật tự này không được tuân thủ thì sẽ xảy ra hai trường hợp, hoặc là tạo ra chuỗi câu vô nghĩa hoặc sẽ làm thay đổi vai trò của các yếu tố trong quan hệ

Trang 21

Ví dụ: (1) Tôi bị ốm nặng (2) Tôi phải nghỉ học

Theo trật tự này thì “bị ốm” là nguyên nhân dẫn đến hệ quả tôi phải nghỉ học Nếu thay đổi vị trí của hai câu thành (2) - (1) thì câu sẽ trở nên vô nghĩa Quan hệ nguyên nhân - hệ quả của hai câu trên sẽ được rõ hơn khi ta thêm từ chỉ quan hệ: “Vì tôi bị ốm nặng nên tôi phải nghỉ học” Tùy từng hoàn cảnh cụ thể ta có thể sử dụng các phương tiện tu từ để diễn đạt quan hệ nguyên nhân hoặc bằng trật tự trước - sau của các câu (mệnh đề) có quan hệ nguyên nhân với nhau theo khuôn hình tu từ

e) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ ngoại chiếu

Mạch lạc có được trong mối quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản với tình huống bên ngoài văn bản được gọi là mạch lạc theo quan hệ ngoại chiếu (quy chiếu ra bên ngoài văn bản) Tức là quy chiếu các từ trong văn bản với các vật, việc, hiện tượng bên ngoài văn bản Sự quy chiếu trong trường hợp này được gọi là sự chỉ thị Những cách chỉ thị thường được dùng là:

- Chỉ thị bằng tên riêng, bằng miêu tả đặc trưng: Đây là cách quy chiếu

sử dụng tên riêng, tên chỉ người, miền đất, cơ quan, nhãn hiệu… hay miêu tả đặc trưng nổi bật

Ví dụ: Hà Nội là thủ đô văn minh, lịch sự (tên riêng)

Cái bàn màu xanh ở góc kia là của tôi (miêu tả đặc trưng)

- Chỉ thị nhân xưng: Dùng đại từ nhân xưng gồm 3 ngôi “tôi, mày, nó”, trong đó “tôi” là tâm của sự chỉ thị, hay là các mốc để chỉ thị

Ví dụ: Tôi không phải là quan lớn, tôi là họ ngoại của chúa Nam Hà vẫn quen gọi là Biện Nhạc ấy mà!

- Chỉ thị thời gian: Là sự quy chiếu sử dụng từ chỉ thời gian như bây giờ, bấy giờ, hôm qua, ngày mai… hoặc các từ chỉ thời gian đi kèm với các từ chỉ định như hồi ấy, sau này, hôm ấy… và điểm mốc là “bây giờ”

Ví dụ: Bấy giờ, nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ đã

Trang 22

chiếm được Thuận Hóa, thừa thắng lại đánh ra kinh đô Thăng Long, tiêu diệt

họ Trịnh, ổn định ngai vàng cho vua Lê

- Chỉ thị không gian: Là sự quy chiếu có sử dụng đại từ chỉ định như đây, đó, đấy, kia để chỉ về không gian Điểm mốc của chỉ thị không gian là “ở đây”

Ví dụ: Một hôm, lần dò vào rừng săn bắn, Bùi Thị Xuân chợt thấy nơi trảng cỏ gần đấy một chàng trai đang tay không quần nhau với con cọp vằn

dữ tợn

Như vậy, mạch lạc biểu hiện trong hệ ngoại chiếu có vai trò lớn trong việc hiểu văn bản, nó giúp cho lời nói trở thành có nghĩa và xác định Tính mạch lạc trong văn bản được thể hiện rõ hơn qua sự quy chiếu các từ ngữ trong văn bản với các vật, việc, hiện tượng bên ngoài văn bản, nói cách khác phải đặt văn bản trong cả ngữ cảnh có như vậy ta mới hiểu hết nội dung, ý nghĩa trong văn bản

f) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ lập luận

Việc đưa ra những luận cứ (căn cứ để lập luận) nhằm đạt đến một kết luận nào đó (mang tính thuyết phục) được gọi là lập luận Từ lập luận được hiểu theo hai cách: một là quá trình thực hiện sự lập luận, tức là chỉ sự lập luận hay việc lập luận; hai là sản phẩm của quá trình lập luận, tức là chỉ toàn

bộ cái kiến trúc gồm các bộ phận cấu thành có quan hệ với nhau do sự lập luận tạo ra, đây là (cái) lập luận Cũng có người gọi “sự lập luận” bằng cái tên

“luận chứng”

Trong một lập luận có ba bộ phận: luận cứ, kết luận (hay luận đề) và quan hệ lập luận Luận cứ là những căn cứ để từ đó rút ra kết luận, luận cứ có hai loại: lí lẽ và bằng chứng Kết luận là mệnh đề (dưới hình thức câu) hay lí thuyết được bảo vệ bằng các luận cứ Quan hệ lập luận là quan hệ giữa luận

cứ với kết luận Một kết luận đúng phải dựa trên những luận cứ đúng và được

Trang 23

rút ra bằng những quan hệ lập luận đúng Ngoài quan hệ lập luận, trong một lập luận có nhiều luận cứ, giữa các luận cứ cũng có nhiều kiểu quan hệ khác

Có hai kiểu lập luận khái quát thường gặp là lập luận giản đơn và lập luận phức tạp Lập luận giản đơn là lập luận trong đó chỉ có một luận cứ hay

có một số luận cứ đồng hạng với nhau (không phân biệt lớn nhỏ) và một kết luận Lập luận phức tạp là lập luận trong đó có hai luận cứ không ngang nhau

về tính khái quát: một luận cứ chỉ cái chung làm tiền đề lớn thường được gọi

là đại tiền đề, một luận cứ chỉ cái riêng làm tiền đề nhỏ thường được gọi là tiểu tiền đề và một kết luận (về cái riêng) Kiểu lập luận này gồm có ba

“đoạn” như vậy nên nó còn được gọi là “tam đoạn luận” Hai kiểu lập luận trên có thể gặp trong cả khoa học và đời sống hàng ngày, trong đó tam đoạn luận là kiểu tiêu biểu của lập luận

Mối quan hệ giữa các luận cứ với luận cứ và giữa luận cứ với kết luận rất

đa dạng, chặt chẽ tạo nên tính mạch lạc cho văn bản

Ví dụ: Chiếc áo này đẹp nhưng chất không tốt, tôi không muốn mua Câu trên là mô tả cho một dạng lập luận mà hai luận cứ nghịch hướng nhau Luận cứ một là “chiếc áo này đẹp”, luận cứ hai là “chất không tốt” và kết luận là “không muốn mua” Luận cứ một và luận cứ hai ngược hướng nhau trong quan hệ với kết luận Luận cứ một hướng đến không chấp nhận kết luận Luận cứ hai hướng đến chấp nhận Luận cứ hai có hiệu lực mạnh hơn so với kết luận Nhờ có luận cứ hai mà ta hiểu nguyên nhân của kết luận Như vậy câu đã trở nên mạch lạc hơn

1.2.2 Sự khác biê ̣t giữa mạch lạc trong thơ và truyê ̣n ngắn

Trong thơ và truyện ngắn, mạch lạc được biểu hiện trước hết ở tính thống nhất về chủ đề, việc sử dụng câu thơ hoặc câu văn đều nhằm làm rõ nội dung chủ đề mà tác giả hướng tới Và trong đó phép liên kết là cái nền để tạo

ra mạch lạc được khai thác một cách triệt để Tuy nhiên mạch lạc trong thơ và

Trang 24

truyện ngắn lại có những sự khác biệt rất rõ

Nếu như ở truyện ngắn, mạch lạc được thể hiện rất rõ khi căn cứ vào sự luận suy nội dung các sự kiện thì trong thơ lại không có được yếu tố này Ví dụ: Trong truyện ngắn “Mất cái ví” – Nguyễn Công Hoan, để làm sáng rõ chủ đề chính mà tác giả muốn hướng đến là lên án những kẻ bủn xỉn,

ti tiện, nhỏ nhen bất chập mọi thủ đoạn để đạt được mục đích bằng mọi giá, đánh mất lương tâm và tình nghĩa giữa con người với con người, tác giả đã lột

tả một mặt thật của nhân vật “ông Tham” qua năm giai đoạn nối tiếp nhau Mỗi giai đoạn ứng với mỗi sự kiện khái quát nêu ở từng block

Hay như trong truyện ngắn “Mùa đông ấm áp” của Nguyễn Thị Thu Huệ

có đoạn viết: “Tôi mở nắp lồng Lũ chim chao đảo sấp ngửa đè lên nhau Tôi nhẹ nhàng lôi từng con ra và thả chúng Tuổi trẻ thật nhu xuẩn và hiếu thắng Gần hết bọn chim tôi thả ra không bay lên được vì chúng đều bị thương không nặng thì nhẹ.”

Trong đoạn văn bản này không có một dấu hiệu hình thức nào cho thấy trình tự thời gian của các sự kiện Tuy nhiên người đọc bằng sự luận suy và kinh nghiệm của mình vẫn biết đó là thời gian tiếp diễn của các sự kiện hành động kế tiếp nhau

Sự kiện 1: - Mở nắp lồng

Sự kiện 2: - Lũ chim chao đảo sấp ngửa đè lên nhau

Sự kiện 3: - Lôi từng con ra và thả chúng

Sự kiện 5: - Gần hết bọn chim được thả ra không bay lên được

Các sự kiện trong đoạn văn trên được sắp xếp theo thứ tự cái xảy ra trước thì kể trước, cái xảy ra sau thì kể sau nên không cần có bất kì hình thức nhận biết nào người đọc vẫn hình dung ra được chủ thể nói về cái gì và sự việc tiếp diễn ra sao theo một logic trật tự Đó chính là mạch lạc của văn bản khi căn cứ vào sự suy luận nội dung các sự kiện

Trang 25

Còn với thơ tính mạch lạc giữa nội dung các sự kiện không được thể hiện một cách rõ nét như vậy Bởi thơ được viết chủ yếu dựa vào cảm xúc cá nhân của tác giả Khi đọc thơ, các ý thơ có thể dàn trải mà không có sự liên kết giữa các sự kiện

Điển hình trong thơ của Vi Thùy Linh, mỗi tập thơ là một cảm xúc khác nhau và thể hiện chủ đề khác nhau Giữa các đoạn trong bài thơ cũng không

có sự liên kết mạch lạc

Ví dụ 1:

Là mùa đầu cánh đồng Mẹ tôi sinh nở

Là cơn gió của đại ngàn Cha…

Khi bị gọi nhầm tên,

Tôi không nói gì

Khi ai đó nói rằng, tôi giống người họ đã gặp

- Tôi bỏ đi

Khi Cha tôi bảo, sự dữ dội của tôi khiến Người lo sợ

Tôi âm thầm khóc

Cha mẹ định quàng dây cương vào tôi

“Hãy để con tự đi!”

Độc mã

Quyết làm những gì mình muốn

(Tôi – Khát) Ví dụ 2:

Trang 26

làm chúng ta dịu lại

2 – Những con búp bê biết cười, khóc không nước mắt

Con lật đật ngã rồi đứng lên lập tức

Con ốc sên nhẫn nại áp mình vào cánh cửa

Giá con người được như vậy!

(Loài vật và lũ búp bê vẫn kiên trì giấc mơ Làm người?)

(Bóng người – Linh)

1.3 Vai trò của mạch lạc trong việc tạo lập văn bản

Mạch lạc là yếu tố quyết định một sản phẩm ngôn ngữ trở thành một văn bản Nhờ có mạch lạc mà các câu trong văn bản liên kết logic, hợp lý với nhau Mạch lạc giúp tạo nên các mối quan hệ nghĩa, quan hệ logic, quan hệ chức năng trong văn bản Trong một văn bản có thể có hoặc không có các liên kết về hình thức, có thể không thống nhất về đề tài, chủ đề nhưng ta vẫn có thể hiểu văn bản đó nếu văn bản đó có tính mạch lạc Như vậy hiểu biết về mạch sẽ giúp chúng ta có năng lực tạo lập văn bản và giải thích văn bản Điều

đó sẽ giúp cho việc cảm thụ và hiểu sâu sắc về văn bản

Mạch lạc được coi như yếu tố then chốt để tạo nên văn bản, song ứng dụng lí thuyết mạch lạc vào phân tích các tác phẩm thơ ca thì chưa có nhiều

và điều này thậm chí còn khá mới mẻ

Như vậy, biểu hiện của mạch lạc rất đa dạng và phong phú, văn bản được tạo nên từ bao nhiêu yếu tố thì mạch lạc biểu hiện qua quan hệ của bấy nhiêu yếu tố đó Mạch lạc nói chung trong ngôn ngữ thường ngày không có gì

xa lạ Tuy nhiên, mạch lạc với tư cách một đối tượng nghiên cứu khoa học thì vẫn còn là một vấn đề khá mới mẻ

Trang 27

CHƯƠNG 2 CÁCH TỔ CHỨC MẠCH LẠC TRONG THƠ VI THÙY LINH

2.1 Mạch lạc qua quan hệ thời gian

2.1.1 Thời gian trong văn bản

Thời gian là một khái niệm luôn gắn với nhận thức của con người về sự tồn tại, vận động của sự vật trong thế giới khách quan Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan được con người nhận thức và phản ánh lại thông qua hình thức một văn bản cũng phải tuân theo một quá trình vận động theo thời gian

Xác định quan hệ thời gian trong một văn bản giúp người đọc hiểu được

ý nghĩa cụ thể của văn bản và giúp người đọc hiểu được các chuỗi biến cố như một móc xích trình tự Các sự kiện, hiện tượng có thể diễn ra trong một khoảng thời gian nào đó Yếu tố thời gian cho chúng ta biết, sự kiện, hiện tượng nào xảy ra trước, sự kiện hiện tượng nào xảy ra sau và các yếu tố thời gian này được biểu hiện bằng các từ chỉ thời gian

Trong một văn bản, thời gian được biểu hiện bằng các từ ngữ chỉ thời gian và bằng trật tự logic vật lý của các sự kiện, hành động được nhận diện thông qua quy luật tự nhiên

Quan hệ thời gian bằng trật tự logic vật lý được xác định bằng ba phương diện chủ yếu là: quan hệ trình tự, quan hệ thời hạn và quan hệ tần số Quan hệ trình tự thời gian gồm: quan hệ trước sau (trực tiếp và gián cách), và quan hệ cùng lúc (đồng thời) Quan hệ thời hạn là quãng thời gian kéo dài diễn ra sự kiện, trên văn bản, quan hệ thời hạn có thể được tính bằng chương, hồi, màn, cảnh… Quan hệ tần số được tính bằng: quan hệ đơn ứng là sự kiện xảy ra trong một lần và được tính bằng một lần; quan hệ trùng ứng là sự kiện xảy ra một lần và được kể lại trong truyện hơn một lần; quan hệ hội ứng là trường hợp sự kiện xảy ra nhiều lần và được kể lại trong truyện một lần

Trang 28

Ở đây chúng tôi phân chia các loại quan hệ thời gian như trên chỉ nhằm làm rõ thêm cách thức triển khai mạch lạc trong thơ Vi Thùy Linh Việc phân chia này cũng chỉ tương đối dựa trên một số phương tiện liên kết về mặt hình thức và trên cơ sở suy luận nội dung ngữ nghĩa

2.1.2 Mạch lạc theo thời gian trong thơ Vi Thùy Linh

Như chúng tôi đã nói ở mục 2.1.1, quan hệ thời gian được xác định trên

ba phương diện chủ yếu là: quan hệ trình tự, quan hệ thời hạn, quan hệ tần số Chúng tôi dựa vào ba phương diện này để khảo sát đặc điểm mạch lạc qua quan hệ thời gian trong ba tập thơ: Khát, Linh và Đồng tử của nhà thơ trẻ Vi Thùy Linh

a- Quan hệ trình tự

* Thời gian theo quan hệ trước sau

- Thời gian theo quan hệ nối tiếp trực tiếp

Quan hệ trật tự thời gian giữa các sự kiện trong đoạn thơ:

Chỉ sau ba mươi phút, cơn mưa lớn có thể làm ngập thành phố

Sau đó, lớp bụi dày lại tiếp tục nướng mình trong cuộc bay tứ tung và xâm lăng những con mắt

(Cái chân vịt và tiếng còi tàu – Linh) Trong đoạn thơ trên, quan hệ theo trình tự thời gian trước sau trực tiếp được thể hiện qua cụm từ: chỉ sau ba mươi phút… sau đó…

Qua việc phân tích ví dụ trên chúng ta có thể thấy thời gian theo quan hệ trình tự không chỉ đơn thuần là một yếu tố thể hiện sự mạch lạc giữa các câu thơ, đoạn thơ mà còn trở thành một phương tiện nghệ thuật quan trọng để truyền tải nội dung, ý thơ của tác giả đến với độc giả Việc sử dụng quan hệ thời gian theo trình tự đã tạo được sự mạch lạc giữa các sự kiện Sự kiện 1 xảy ra trước rồi đến sự kiện 2 nối tiếp xảy ra Như vậy, người đọc có thể dễ dàng nhận biết các sự kiện xảy ra theo trình tự nào, vào thời điểm nào

Trang 29

Với giả thiết nếu các sự kiện không sắp xếp về mặt thời gian theo trình tự như sau:

Cơn mưa lớn có thể làm ngập thành phố (1)

Lớp bụi dày lại tiếp tục nướng mình trong cuộc bay tứ tung và xâm lăng những con mắt (2)

(Cái chân vịt và tiếng còi tàu – Linh) Trong đoạn thơ trên nếu giữa hai câu thơ không có các cụm từ “chỉ sau

ba mươi phút”, “sau đó” có ý nghĩa về mặt thời gian thì xét về mặt nội dung giữa các sự kiện không có sự tiếp nối rõ ràng Người đọc sẽ khó có thể nhận biết được sự kiện nào xảy ra trước, sự kiện nào xảy ra sau Nội dung ý nghĩa của ý thơ cũng bị hạn chế, mơ hồ

- Thời gian theo quan hệ nối tiếp gián cách

Quan hệ thời gian giữa các sự kiện trong đoạn thơ:

Nữ thi sĩ họ Vương

Sinh ra trong khu phố người Hoa Hải Phòng

Lên bảy tuổi, mới biết nói tiếng Việt

Năm mươi ba tuổi

Thơ vẫn đầy gió Quảng Tây

(Tự Cảm – Linh) Quan hệ theo trình tự thời gian trước sau gián cách ở đoạn thơ trên được thể hiện qua hai khoảng thời gian là năm lên bảy tuổi và năm mươi ba tuổi

* Thời gian theo quan hệ đồng thời

Trình tự thời gian đồng thời trong đoạn thơ:

Bần thần thương

Bà già không chốn nương thân, lọ mọ nhặt nhạnh quanh bãi rác

Chị nông dân nói ngọng xệch mông đạp xe thồ rau từ nửa đêm kịp đến chợ Long Biên lúc 3 giờ sáng

Trang 30

Cô gái đen đúa đội thúng bánh mì, gầy đen như ngõ tối, rao khản gió Ông bán bóng đói lả phùng má thổi, bóng bay lên mặt cắm xuống ho Những thằng bé còi lăn lóc đánh giày rạc chân rao báo

(Ký họa đen – Đồng Tử) Quan hệ thời gian được thể hiện ở các sự kiện nối tiếp đồng thời khi tác giả hồi ký lại trong tâm tưởng như: bà già, cô gái, ông bán bóng, chị nông dân, thằng bé còi

2.1.3 Các loại quan hệ thời gian

a- Trạng ngữ biểu thị thời gian

+ Trong từng câu thơ, đoạn thơ có mốc thời gian xác định cụ thể, dựa vào đó ta có thể xác định được thời gian giữa các sự kiện

Ví dụ 1:

Gắng là hình nộm khi đi qua đường hồ Dâm Đàm

Dẫu cho hồi niệm làm người quặn thắt làm oằn oải bóng cây

Tiếng gà thất thanh lúc một giờ mười bảy phút chiều làm mấy cái vó te

giật mình nâng bẫng đoạn sông ngái ngủ

(Tín hiệu – Linh)

Trang 31

Ví dụ 2:

1.2 giờ sáng

Dậy nói run

Bạn khóc vì quá cô đơn

Mà vẫn kịp thì thào:

“Đang mùa sen nở”…

(Nghệ sĩ – Đồng Tử) Ví dụ 3:

Một người đàn ông luống tuổi, bí mật kể rằng:

- Tôi yêu một cô gái

Sinh tháng Tư năm 80

Ngày mùng 4…

(Những người sinh tháng Tư – Khát) Đây là các mốc thời gian cụ thể trong mỗi đoạn thơ Dựa vào các mốc thời gian này chúng ta có thể xác định được thời gian xảy ra sự kiện Các từ chỉ thời gian này không những có ý nghĩa định vị về mặt thời gian mà nó còn

có giá trị xác định quan hệ thời gian giữa các sự kiện Căn cứ vào các trạng ngữ chỉ thời gian này người đọc có thể nắm được sự kiện xảy ra cụ thể vào thời gian nào

+ Từ chỉ biểu thị thời gian có tính chất phiếm định

Ví dụ 1:

… Là lời kể của Bà đau đáu hồn quê

Ngày xưa tháng ba ngày tám

Những đôi chân lấm bùn và lam lũ

Những đôi vai gánh oằn mưa nắng

(Đồng dao của đất – Khát)

Trang 32

b- Các từ ngữ chỉ dẫn quan hệ thời gian

Không giống như các ngôn ngữ Ấn – Âu, phạm trù thời được thể hiện qua sự khác nhau của động từ ở dạng nguyên mẫu và động từ ở dạng nhân xưng, trong tiếng Việt, ý nghĩa của động từ cũng tham gia vào điều kiện tạo thành câu

“Theo đó các hành động diễn ra trong thời gian theo hai khía cạnh mà người bản ngữ có thể tri giác được:

- Quan hệ với thời điểm phát ngôn

- Diễn tiến của vận động” [35, tr162]

Sự thống nhất của hai khía cạnh này trên phương diện nghĩa đã cho phép một số từ phụ của động từ tiếng Việt có khả năng diễn đạt ý nghĩa thời gian

như đã, đang, sẽ, từng… Trong đó các từ đã, từng có nét nghĩa được coi là chỉ tố tình thái và ý nghĩa thời gian cho quá khứ, còn sẽ có ý nghĩa tương lai;

đang với ý nghĩa là hiện tại tiếp diễn

Ví dụ 1:

Mùi nắng

Men mùa em đêm gió ấp ta vào kiếp giời đày

Đêm mất đi rồi đêm lũy thừa ấn tượng

Trang 33

Sẽ không bao giờ hết chuyện

Vì ta đã hẹn sau kiếp này, thơ vẫn cứ si tình một vạn lẻ một đêm

(Nào hãy ngủ thêm – Đồng Tử) Ví dụ 2:

Bên bờ biển – biểu tượng Copenhagen

Đêm đến, bức tượng là cô gái tuyệt trần làn da như cánh hồng, đôi mắt

xanh như hồ sâu, nàng tìm gặp Andensen đang ẩn kiếp trong con vịt

Cảm giác được Anh ôm rất chặt

Em cố thiếp đi

Nhưng ký ức thức

Bên giường

(Tiếc nuối – Khát)

Trang 34

Ví dụ 2:

Quá khứ vẫn sình lầy ở chân một con dốc ta chưa tới

Len lỏi đâu đây những kẻ mang khuôn mặt Judas

(Tạo hóa – Khát) Ví dụ 3:

Ngày xưa

Khi còn bé

Mẹ chỉ thích chơi trò “em bé”

Mẹ ôm búp bê, cho búp bê “bú tí”

(Những mặt trời đang phôi thai – Khát) Các danh từ chỉ dẫn quan hệ thời gian quá khứ như ký ức, ngày xưa, quá khứ… đều chỉ về mốc thời gian không cụ thể trong quá khứ Dựa vào đó chúng ta có thể hiểu được các sự kiện đã được diễn ra trong quá khứ như thế nào, ra sao…

Ví dụ 5:

Như người đàn bà đợi

Vươn tay

chới với gọi

Lá hừng hực đỏ

Cây mọc trước nhà em -tu viện

Cây - nữ - tu

………

Đông ào ạt về

Chỉ nghe gió thất thanh

Chỉ nghe trong đêm… tiếng trút áo…

Suốt mùa

Tiếng kèn quanh quất

Trang 35

Không có bước chân nào thực lòng yêu, dừng trước nhà tu kín

Cây - nữ - tu dồn sức đỏ rực chiều cuối đông

Vẫn không

bàn chân nào

ở lại

Lá bứt tung, bay như con mắt mỏi

Cây khô trụi

Cất một tiếng cười hoang

Rồi lại xuân

Vẫn tiếng kèn quen thuộc

Tiếng kèn rè lúc nào, ai biết

Bỗng chiếc váy trên mình nữ tu, bay thốc

Ở ví dụ này, nếu chúng ta bỏ các cụm từ chỉ thời gian “như Đông ào ạt

về”, “Rồi lại xuân” mà thay bằng các cụm từ khác không chỉ mốc thời gian

cụ thể sẽ làm cho câu thơ không còn tính mạch lạc, các sự kiện sẽ rời rạc và không có tính liên kết Do đó, nó sẽ làm cho người đọc khó hiểu được nội dung sự kiện diễn ra

Vi Thùy Linh biết vận dụng quan hệ thời gian vào trong sáng tác thơ

Trang 36

Đây là một trong những biểu hiện mạch lạc thành công nhất trong thơ của Vi Thùy Linh

* Kết quả khảo sát các trạng từ chỉ quan hệ thời gian

Theo kết quả thống kê của chúng tôi, các trạng từ chỉ quan hệ thời gian được chia thành: trạng từ chỉ thời gian nối tiếp trực tiếp, trạng từ chỉ thời gian hồi chỉ, trạng từ chỉ thời gian hồi ức Khảo sát 156 bài thơ trong ba tập thơ: Linh, Khát và Đồng tử, chúng tôi thu được kết quả sau:

Bảng: Bảng phân loại các trạng từ chỉ quan hệ thời gian

Tập thơ Số lượng Trạng từ chỉ quan hệ thời gian

Thời gian trực tiếp

Thời gian hồi chỉ

Thời gian hồi

2.2 Mạch lạc qua quan hệ nguyên nhân

2.2.1 Sơ lược về quan hệ nguyên nhân trong văn bản

a- Các loại quan hệ nguyên nhân

Trabasso và Van den Broek đã từng viết quan hệ nguyên nhân phải dựa

Trang 37

vào những cơ sở nhất định của nó Mối quan hệ lệ thuộc theo kiểu quan hệ nguyên nhân - kết quả tạo thành một trong những cơ sở mạch lạc cho văn bản Trong một văn bản, các sự kiện có quan hệ nguyên nhân với nhau, chẳng hạn nếu hai sự kiện E1 và E2 có quan hệ nguyên nhân với nhau thì sự kiện E1 xảy

ra trước E2, E1 là điều kiện cần cho sự xuất hiện của E2 và hoàn cảnh chung quanh được thừa nhận là đủ cho mối quan hệ giữa E1 và E2 có hiệu lực

Đây là quan hệ có vai trò quan trọng trong văn bản nói chung và văn bản thơ nói riêng Trong văn bản, quan hệ nguyên nhân được thể hiện dưới hai dạng là các loại nguyên nhân và mạng lưới các quan hệ nguyên nhân thể hiện qua sự liên kết giữa các sự kiện Bao gồm:

- Quan hệ nhân quả kế tiếp

- Quan hệ nhân quả gián cách

- Quan hệ nhân quả chuỗi

Các quan hệ nguyên nhân đó có vai trò như là những phương tiện giải đoán mạch lạc của văn bản Nhờ đó mà ta có thể vạch ra sự phân biệt một bên

là những sự kiện làm thành chủ đề của văn bản với một bên là những sự kiện

có tính chất ngoại vi

Theo Diệp Quang Ban [5, tr169], nói về quan hệ nguyên nhân trong văn bản cần đề cập đến ba loại phương diện sau:

+ Quan hệ nguyên nhân được đánh dấu bằng các từ ngữ chỉ nguyên nhân như: vì, do, bởi vì, vì thế, vì vậy, tại… Còn các từ như: nên, cho nên, thế là, thế mà… là các từ chỉ kết quả Đó là các phương tiện diễn đạt nguyên nhân giữa các câu, các vế câu và thậm chí là cả các đoạn văn bản với nhau

+ Quan hệ nguyên nhân thể hiện qua khuôn mẫu diễn đạt là loại quan hệ được diễn đạt bằng trật tự các câu hay mệnh đề mà không dùng đến các phương tiện diễn đạt như chúng tôi vừa nêu ở trên Dựa vào nội dung của các sự kiện để xác định quan hệ nhân - quả Thông qua suy luận có thể chứng

Trang 38

minh được những sự kiện diễn ra trước là nguyên nhân dẫn đến sự kiện sau + Thông qua các khuôn mẫu diễn đạt các quan hệ nguyên nhân, chúng ta

có các mạng lưới quan hệ nguyên nhân Trong văn bản tồn tại những chuỗi sự kiện có quan hệ nguyên nhân, trong đó các sự kiện ban đầu kích hoạt những hoạt động hồi đáp bên trong và cả bên ngoài, từ phía nhân vật

Trên cơ sở đó, quan hệ nguyên nhân có tác dụng quyết định tạo ra tính mạch lạc của văn bản Mạng lưới các quan hệ nguyên nhân được xác định khi một chuỗi các quan hệ nguyên nhân có quan hệ chuyển tiếp từ cái này sang cái khác

b- Căn cứ để xác định quan hệ nguyên nhân

* Dựa vào các từ chỉ quan hệ nguyên nhân: vì, bởi, tại, bởi vì…

- Vì là từ biểu thị sắp nêu ra lý do hoặc nguyên nhân của điều được nói đến

(Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, 1998)

Ví dụ:

Bánh như trăng, cứ chạy theo nhìn theo

Rực sáng vì hàng triệu mơ ước trẻ em gửi lên theo hướng thang dây của ngước nhìn

(Sinh nhật - Đồng tử)

- Bởi, bởi lẽ, bởi vì từ biểu thị điều sắp nêu ra là lý do hoặc nguyên nhân

của việc được nói đến

(Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, 1998)

Ví dụ:

Em không thể mở mắt bởi tiếng khô khốc từ những hàm răng va nhau qua cái hôn quá vội (Anh và thời gian - Khát)

Từ chỉ quan hệ nguyên nhân bởi đứng trước cụm chủ - vị tiếng khô khốc

từ những hàm răng va nhau qua cái hôn quá vội nhằm giải thích cho việc

Trang 39

không thể mở mắt

Hay:

Thôi,

Đừng hát tình ca du mục nữa

Bởi vì lang thang ơi!

Hư ảnh tình yêu không ngừng bước giữa trời…

Dạng 1: Từ chỉ nguyên nhân vì, bởi, bởi lẽ, tại có tác dụng chỉ sự kiện

hệ quả với vế chỉ sự kiện nguyên nhân để tạo nên câu chỉ quan hệ nguyên nhân

Ở đoạn thơ trên nguyên nhân của việc người đàn bà rùng mình là do sự

cô đơn Mà giữa hai sự kiện đó được nối liền bởi một từ chỉ quan hệ nguyên nhân là “vì” nhằm giải thích và thể hiện mối quan hệ chặt chẽ

Trang 40

Ví dụ 2:

Ở miền Tây Tạng, người chết được làm lễ thiên táng

bởi loài chim ưng trên đỉnh núi

(Huyền tích – Linh)

Từ “bởi” ở câu thơ trên nằm ở vế câu thứ hai chỉ sự kiện nguyên nhân là loài chim ưng trên đỉnh núi Câu thơ muốn nói đến vấn đề ở miền Tây Tạng, người dân có phong tục khi con người chết đi, họ sẽ được làm lễ thiên táng dựa theo hình ảnh của loài chim ưng Loài chim ưng có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống hằng ngày cũng như về mặt tâm linh của người dân Tây Tạng Từ

“bởi” nối giữa hai vế câu nhằm tạo sự liên kết rõ ràng về mặt hình thức Đồng thời chỉ rõ được nguyên nhân, hệ quả giữa các sự kiện với nhau

Dạng 2: Từ chỉ quan hệ nguyên nhân có tác dụng nối câu chỉ sự kiện hệ

quả với câu chỉ sự kiện nguyên nhân để tạo lên đoạn thơ chỉ quan hệ nguyên nhân giữa hai câu:

Ví dụ:

Thôi,

Đừng hát tình ca du mục nữa

Bởi vì lang thang ơi!

Hư ảnh tình yêu không ngừng bước giữa trời…

(Lang thang - Khát)

Từ chỉ quan hệ nguyên nhân "bởi vì" nối giữa hai câu trên với hai câu

dưới đã tạo thành một đoạn thơ chỉ quan hệ nguyên nhân

Hay:

Anh đã thuộc về nàng họ Vi của núi

Vì sự bí ẩn và hoang dã của nàng

(Tàu lửa - Đồng tử )

Từ chỉ quan hệ nguyên nhân vì đã nối hai câu thơ trên và dưới lại với nhau

Ngày đăng: 15/03/2021, 15:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w