1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác di sản văn hóa quan họ bắc ninh phục vụ phát triển du lịch

167 122 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiếm có một loại hình dân ca nào mà không gian tồn tại của nó lại rộng lớn như Quan họ, không chỉ phát triển ở 44 làng Quan họ gốc của Bắc Ninh mà còn lan tỏa cả một vùng mà người ta vẫn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Lê Thị Minh Quế

KHAI THÁC DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ BẮC NINH

PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Lê Thị Minh Quế

KHAI THÁC DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ BẮC NINH

Trang 3

MỤC LỤC

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các hình, bảng, bản đồ

PHẦN MỞ ĐẦU 1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3

4 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 3

5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

7 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN 6

8 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 6

CHƯƠNG 1 DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ - TÀI NGUYÊN 7

DU LỊCH VĂN HÓA QUAN TRỌNG 7

1.1 Di sản văn hóa và du lịch văn hóa 7

1.2 Di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh 11

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Quan họ Bắc Ninh 11

1.2.2 Phân bố các làng Quan họ Bắc Ninh 16

1.2.3 Những hình thức tổ chức và diễn xướng Quan họ Bắc Ninh 18 1.2.4 Các làn điệu Quan họ Bắc Ninh 23

1.2.5 Ca từ Quan họ Bắc Ninh 25

1.2.6 Những yếu tố văn hóa khác góp phần hình thành môi trường tồn tại của văn hóa Quan họ Bắc Ninh 27

1.3 Vai trò của di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh trong hoạt động du lịch 30

1.3.1 Vùng văn hóa Quan họ Bắc Ninh nằm ở vị trí thuận lợi để phát triển du lịch 30

Trang 4

1.3.2 Di sản văn hóa Quan họ là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng đối với hoạt động phát triển du lịch của Bắc Ninh nói riêng và

của cả nước nói chung 31

1.3.3 Những khó khăn, hạn chế của việc khai thác di sản văn hóa Quan họ trong hoạt động du lịch 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC DI SẢN VĂN HÓA 37

QUAN HỌ BẮC NINH PHỤC VỤ DU LỊCH 37

2.1 Công tác tổ chức, quản lý khai thác di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh phục vụ du lịch 37

2.1.1 Công tác quản lý, tổ chức khai thác di sản văn hóa Quan họ phục vụ phát triển du lịch 37

2.1.2 Công tác xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa Quan họ và tổ chức kinh doanh 38

2.1.2.1 Cơ quan xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa Quan họ 38 2.1.2.2 Sản phẩm du lịch văn hóa Quan họ 39

2.1.2.3 Tổ chức kinh doanh sản phẩm du lịch văn hóa Quan họ 47

2.2 Thực trạng thị trường khách du lịch và quảng bá xúc tiến du lịch dựa trên các giá trị di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh 52

2.2.1 Thị trường khách du lịch quốc tế 52

2.2.2 Thị trường khách du lịch nội địa 54

2.2.3 Công tác xúc tiến du lịch Quan họ 56

2.3 Công tác đầu tư cho Du lịch Quan họ 58

2.4 Công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch Quan họ 61

2.5 Đánh giá 63

2.5.1 Những kết quả đạt được 63

Trang 5

2.5.2 Những vấn đề tồn tại 64

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN 68

NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC DI SẢN VĂN HÓA 68

QUAN HỌ PHỤC VỤ DU LỊCH 68

3.1 Các căn cứ đề xuất, kiến nghị 68

3.1.1 Định hướng phát triển du lịch Bắc Ninh 68

3.1.2 Những vấn đề tồn tại của thực trạng khai thác di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh phục vụ du lịch 71

3.1.3 Kinh nghiệm của một số nước về khai thác di sản văn hóa phục vụ du lịch 71

3.2 Các giải pháp, kiến nghị khai thác di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh phục vụ du lịch 75

3.2.1 Về tổ chức, quản lý 75

3.2.2 Về nguồn nhân lực 78

3.2.3 Về đầu tư cho du lịch Quan họ 80

3.2.4 Về thị trường khách du lịch Quan họ 82

3.2.5 Về xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch Quan họ 84

3.2.6 Về xúc tiến du lịch Quan họ 88

Phần 3 KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤC LỤC I

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt Nam có tài nguyên du lịch khá phong phú với nhiều đặc điểm giống các nước trong khu vực Đông Nam Á- phát triển trên cơ sở nền văn minh nông nghiệp lúa nước; đồng thời có những nét khác biệt riêng Vì thế người ta thường nói rằng đó là sự thống nhất trong đa dạng giữa các quốc gia Đông Nam Á

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam và Quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 đều xác định ưu tiên phát triển loại hình du lịch văn hóa Đây cũng là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển du lịch trên thế giới khi mà cùng với cuộc sống hiện đại, con người càng ngày càng có nhu cầu thưởng thức giá trị văn hóa, nâng cao hiểu biết về bản sắc văn hóa của dân tộc mình và tìm hiểu các dân tộc khác

Để du lịch Việt Nam hấp dẫn du khách thì điều quan trọng chính là việc chúng ta phải biết tận dụng phát huy “những nét khác biệt” văn hóa, bản sắc dân tộc để khai thác xây dựng các loại hình du lịch, các sản phẩm du lịch đặc trưng, độc đáo Đây có thể coi là yếu tố cơ bản quyết định sức cạnh tranh du lịch của mỗi quốc gia

Quan họ Bắc Ninh vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại càng minh chứng những giá trị văn hóa quan trọng của Quan họ Hiếm có một loại hình dân ca nào mà không gian tồn tại của nó lại rộng lớn như Quan họ, không chỉ phát triển ở 44 làng Quan họ gốc của Bắc Ninh mà còn lan tỏa cả một vùng (mà người ta vẫn gọi là vùng Kinh Bắc) Gắn liền với câu hát dân ca Quan họ, còn là lề lối, cách thức ‘chơi” Quan họ, là những phong tục tập quán, là những sinh hoạt văn hóa của người dân Đó là môi trường, là không gian để Quan họ ra đời và phát triển

Trang 7

Trên thực tế, tại Bắc Ninh, du lịch gắn với các giá trị văn hóa Quan họ chưa phát triển, chưa được nhiều người biết đến Một số sản phẩm du lịch gắn với giá trị Quan họ đã được khai thác nhưng đầu tư còn ít, cho nên sức hấp dẫn đối với khách du lịch hạn chế

Du lịch gắn với các giá trị di sản văn hóa Quan họ (sau đây gọi là du lịch Quan họ) chính là điểm khác biệt, là thế mạnh nổi bật của Bắc Ninh Nếu được quan tâm đúng mức và đầu tư bài bản cho hoạt động du lịch, chắc chắn hình ảnh du lịch gắn với Quan họ sẽ là thương hiệu hấp dẫn của điểm đến Bắc Ninh nói riêng và của Việt Nam nói chung

Với mong muốn di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh được bảo tồn thông qua hoạt động du lịch, làm đa dạng hóa các sản phẩm, loại hình du lịch của Bắc Ninh góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh cho Du lịch Việt Nam, thu hút đông thêm lượng khách đi du lịch cả đối tượng là khách nội địa và khách quốc tế trong giai đoạn đầy cạnh tranh của du lịch thế giới hiện nay, tác

giả đã chọn đề tài “Khai thác di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh phục vụ

phát triển du lịch”

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cho đến nay, có thể nói rằng đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về Quan họ Bắc Ninh trên mọi mặt như lịch sử, đặc điểm nghệ thuật, nội dung, trang phục, ẩm thực Quan họ, không gian văn hóa Quan họ Việc điều tra, nghiên cứu Quan họ được thực hiện từ những thập niên 60-70 của thế kỷ XX

Đó là: công trình khoa học “Dân ca Quan họ Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Văn Phú, Lưu Hữu Phước; “Quan họ, nguồn gốc và quá trình phát triển” của tác giả Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý; “Tìm hiểu dân ca Quan họ” của tác giả Trần Linh Quý, Hồng Thao; “Lễ hội Bắc Ninh” của tác giả Trần Đình Luyện Gần đây, một số công trình nghiên cứu của sinh viên, học viên thạc sỹ,

Trang 8

nghiên cứu sinh, những cuộc sưu tầm của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam về Quan họ…cũng đã được thực hiện

Tuy nhiên, việc nghiên cứu xem xét khai thác di sản văn hóa Quan họ vào hoạt động du lịch chưa có nhiều người quan tâm Một số đề tài của sinh viên, học viên làm thạc sỹ đã thực hiện chủ yếu đề cập đến phát triển du lịch Bắc Ninh trên cơ sở khai thác các tài nguyên di tích, lịch sử, văn hóa nói chung của tỉnh; hoặc nghiên cứu về trang phục Quan họ, nghiên cứu về dân ca Quan họ hay nghiên cứu một làng Quan họ cho phát triển du lịch

Các nội dung đó đều liên quan đến khai thác Quan họ như một sản phẩm du lịch tuy còn sơ sài, mang tính chung chung, chưa chuyên sâu Cho đến nay, chưa có một công trình dành riêng cho khai thác di sản văn hóa Quan họ để phát triển du lịch trên phạm vi của tỉnh Bắc Ninh Các vấn đề đặt

ra đối với đề tài này là hệ thống hóa các giá trị văn hóa của Quan họ Bắc Ninh như một tài nguyên du lịch, xác định vị trí các làng Quan họ gốc đồng thời đánh giá thực trạng hoạt động du lịch gắn với giá trị Quan họ Bắc Ninh, đề xuất các giải pháp nhằm khai thác hiệu quả giá trị di sản văn hóa Quan họ trong hoạt động du lịch

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Mục đích của đề tài là trên cơ sở đánh giá vai trò của di sản Quan họ như một tài nguyên du lịch văn hóa; đánh giá thực trạng khai thác Quan họ trong hoạt động du lịch tại Bắc Ninh hiện nay, đề xuất được những giải pháp trong việc tổ chức, khai thác hoạt động này một cách hợp lý, bền vững, tạo hiệu quả kinh tế du lịch cao đồng thời góp phần vào nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

4 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ chính sau:

Trang 9

- Hệ thống hóa những vấn đề của di sản văn hóa Quan họ, bao gồm: khái niệm, lịch sử hình thành phát triển, phân bố các làng Quan họ, hình thức

tổ chức, diễn xướng, làn điệu, ca từ Quan họ, không gian Quan họ tồn tại, phát triển

- Phân tích vai trò ý nghĩa của di sản văn hóa với hoạt động du lịch, và đánh giá vai trò của di sản văn hóa Quan họ trong phát triển du lịch của tỉnh

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng khai thác Quan họ trong hoạt động

du lịch hiện nay của Bắc Ninh, từ đó chỉ ra những tồn tại, bất cập, hạn chế cần giải quyết

- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị khai thác Quan họ phục vụ du lịch

5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: di sản văn hóa Quan họ với tư cách là nguồn

tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể, các công ty du lịch có tổ chức các chương trình du lịch Quan họ, các hoạt động du lịch của các làng Quan họ

Phạm vi nghiên cứu:

Nội dung: Luận văn nghiên cứu về di sản văn hóa Quan họ, và những yếu

tố ảnh hưởng khác trong việc khai thác Quan họ phục vụ du lịch

Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu du lịch Quan họ tại Bắc Ninh, một số làng Quan họ gốc và các nhân tố có ảnh hưởng đến hoạt động này ở khu vực Bắc Bộ

Thời gian: Số liệu, tài liệu thu thập và thực trạng được xem xét trong khoảng 10 năm trở lại đây

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp thu thập, xử lý tư liệu:

Luận văn thu thập thông tin từ nhiều nguồn, nhiều lĩnh vực liên quan đến hoạt động du lịch Quan họ Trên cơ sở đó, tổng hợp, phân loại, xử lý số liệu để sử

Trang 10

dụng trong luận văn, lấy đó làm cơ sở đưa ra nhận định, đánh giá sao cho

khách quan nhất

Phương pháp phân tích:

Đây là phương pháp chủ đạo, được sử dụng thường xuyên trong quá trình nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp này nhằm đánh giá khoa học, khách quan mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan đến phát triển du lịch Quan

họ như: tài nguyên du lịch, điều kiện hạ tầng, vật chất kỹ thuật du lịch, vị trí địa lý, nguồn nhân lực, hiệu quả kinh doanh…

Phương pháp nghiên cứu thực địa:

Phương pháp này giúp luận văn thu thập các tư liệu về lịch sử Quan họ, giá trị nội dung và nghệ thuật của Quan họ, số lượng làng Quan họ gốc…thống kê về khách du lịch Bắc Ninh trong đó có khách du lịch Quan họ;

cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tại Bắc Ninh…

Phương pháp điều tra xã hội học:

Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng khá hiệu quả Hình thức

sử dụng là phỏng vấn trực tiếp Đối tượng điều tra (phỏng vấn) là các cụ nghệ nhân Quan họ, phỏng vấn người dân làng Quan họ, khách du lịch có tham gia chương trình du lịch Quan họ Việc điều tra này giúp tác giả có được những thông tin xác thực cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác

di sản văn hóa Quan họ cho hoạt động du lịch

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:

Để đưa ra giải pháp khai thác Quan họ trong du lịch một cách thiết thực, hiệu quả, tác giả đã tổ chức lấy ý kiến một số chuyên gia trong lĩnh vực văn hóa là những người lâu năm làm công tác nghiên cứu sưu tầm Quan họ và

tổ chức hát Quan họ Bên cạnh đó, lấy ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực du lịch là lãnh đạo cơ quan Quản lý Nhà nước về du lịch, là các doanh nghiệp kinh doanh du lịch…Những ý kiến có ý nghĩa lớn cho luận văn

Trang 11

7 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Luận văn đã bước đầu đánh giá tiềm năng của Quan họ trong việc khai thác cho mục đích du lịch đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế khách quan trong việc khai thác Quan họ, một di sản văn hóa phi vật thể, cho hoạt động

du lịch Trên cơ sở phân tích thực trạng du lịch Quan họ tại Bắc Ninh, tác giả

đã rút ra những đánh giá, nhận xét về hạn chế cũng như mặt làm được của phát triển du lịch Quan họ trong thời gian qua

Trên cơ sở tìm hiểu hoạt động phát triển du lịch văn hóa ở Thái Lan, Malaisia, Indonesia là những nước cùng thuộc khu vực Đông Nam Á có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, tác giả đã rút ra một số kinh nghiệm trong việc khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể cho phát triển du lịch của Việt Nam

Luận văn đã căn cứ vào thực tế tình hình địa phương, mối quan hệ với những địa phương khác đặc biệt là thủ đô Hà Nội, căn cứ Chiến lược tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam để đưa ra một số giải pháp lâu dài và cấp bách nhằm thu hút khách đến với du lịch Quan họ

8 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1 Di sản văn hóa Quan họ - Tài nguyên du lịch văn hóa quan trọng

Chương 2 Thực trạng khai thác di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh phục

vụ du lịch

Chương 3 Một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả khai thác di sản văn hóa Quan họ phục vụ du lịch

Trang 12

CHƯƠNG 1 DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ - TÀI NGUYÊN

DU LỊCH VĂN HÓA QUAN TRỌNG 1.1 Di sản văn hóa và du lịch văn hóa

Để hiểu về di sản văn hóa, trước tiên chúng ta phải làm rõ khái niệm văn hóa và di sản Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm, cũng như định nghĩa khác nhau về văn hóa Tựu chung lại thì văn hóa là những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra Còn di sản, hiểu theo nghĩa thông thường

là những gì có giá trị để lại cho đời sau Như vậy, di sản văn hóa chính là những giá trị vật chất và giá trị tinh thần còn lưu giữ lại cho đến ngày nay Theo quy định tại điều 1, Luật Di sản văn hóa, di sản văn hóa được định nghĩa là “sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [26] Để hiểu rõ hơn khái niệm di sản văn hóa, từ đó có cách quản lý cũng như khai thác chúng hợp lý

và hiệu quả, người ta đã phân loại thành di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Trong đó, di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Trong khi đó, di sản văn hóa phi vật thể

là sản phẩm thuộc về tinh thần, có giá trị lịch sử khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn

và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [26]

Cũng theo Công ước bảo vệ di sản văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể là tập quán, hình thức thể hiện biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật đồ tạc tác và các không gian văn hóa có liên quan mà

Trang 13

các cộng đồng, các nhóm người, cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên

và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự

kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người

Di sản văn hóa phi vật thể, ngoài các lĩnh vực khác, được thể hiện ở những mặt sau đây: các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể; nghệ thuật trình diễn; tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội; tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; nghề thủ công truyền thống

Tại Điều 2, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Di sản, di sản phi vật thể được xác định rõ, gồm:

- Tiếng nói, chữ viết;

- Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học quy định tại Điều 747 cua

Bộ Luật dân sự về các loại hình tác phẩm được bảo hộ có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học;

- Ngữ văn truyền miệng bao gồm thần thoại, tục ngữ, ngạn ngữ, thành ngữ, câu đối, ngụ ngôn, ca dao, truyện thơ dân gian, sử thi, trường ca, văn tế, lời khấn và các hình thức ngữ văn truyền miệng khác;

- Diễn xướng dân gian bao gồm âm nhạc, múa, sân khấu, trò nhại, giả trang, diễn thời trang, diễn người đẹp, hát đối, trò chơi và các hình thức diễn xướng dân gian khác;

- Lối sống, nếp sống thể hiện qua khuôn phép ứng xử- đối nhân xử thế; luatạ tục hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ trong ứng xử với tổ tiên, với

Trang 14

ông bà, cha mẹ, với thiên nhiên, ma chay, cưới xin, lễ đặt tên, hành động và lời chào-mời và các phong tục tập quán khác;

- Lễ hội truyền thống bao gồm lễ hội có nội dung đề cao tinh thần yêu nước, yêu thiên nhiên, lòng tự hào dân tộc, truyền thống chống ngoại xâm, tôn vinh các vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, ca ngợi tinh thần cần cù lao động sáng tạo của nhân dân, đề cao lòng nhân ái, khát vọng tư do hạnh phúc, tinh thần đoàn kết cộng đồng

- Nghề thủ công truyền thống

- Tri thứ c văn hoá dân gian bao gồm tri thức về y, dươ ̣c ho ̣c cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về thiên nhiên và kinh nghiê ̣m sản xuất, về binh pháp, về kinh nghiê ̣m sáng tác văn nghê ̣ (ho ̣c thuâ ̣t), về trang phu ̣c truyền thống, về đất, nước, thời tiết, khí hâ ̣u, tài nguyên, về sông, biển, núi, rừng và các tri thức dân gian khác

Tuy nhiên, sự phân loại như trên cũng chỉ mang tính chất tương đối, vì bản thân khái niệm văn hóa cũng đã trìu tượng và có rất nhiều cách hiểu khác nhau Cho dù di sản văn hóa nói chung cũng như di sản văn hóa phi vật thể nói riêng được xem xét ở những góc độ nào thì cũng được khẳng định rằng chúng luôn gắn bó chặt chẽ với đời sống của con người, thể hiện bản sắc văn hóa của một dân tộc, một quốc gia Di sản văn hóa nói lên chiều sâu của lịch

sử, đặc điểm kiến trúc nghệ thuật, đời sống tâm hồn Di sản văn hóa là những gì quá khứ để lại Thời gian thì không bao giờ trở lại, do vậy, di sản văn hóa có ý nghĩa lớn, vì nó là tấm gương phản chiếu quá khứ giúp chúng ta hiểu được phần nào của lịch sử dân tộc

Du lịch văn hóa đang ngày một phổ biến trên thế giới và được chú trọng phát triển ở Việt Nam Theo Luật Du lịch, du lịch văn hóa là “loại hình du lịch dựa vào việc khai thác các giá trị di sản văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của nền văn hóa dân tộc, có sự tham gia của đông đảo cộng

Trang 15

đồng” Như vậy, di sản văn hóa là nhân tố cơ bản trong phát triển du lịch văn hóa

Di sản văn hóa góp phần hình thành xu hướng phát triển du lịch trên thế giới Ngày nay, trong xã hội công nghiệp hiện đại, khi chất lượng cuộc sống được nâng cao, con người có điều kiện và nhu cầu muốn được hưởng thụ văn hóa nhiều hơn, được đi tới những miền đất mới tìm hiểu khám phá những nền văn hóa khác Nếu di sản chỉ được giấu kín trong lòng đất, trong các bảo tàng

mà không được nghiên cứu, trưng bày giới thiệu cho công chúng biết thì di sản đó cũng không có giá trị tồn tại Vì vậy, khi di sản được khách du lịch quan tâm, tìm hiểu thì đó đã tạo cơ hội, môi trường cho di sản được “sống” Ngược lại, đến lượt mình, di sản văn hóa càng phong phú, đa dạng và giữ được tính xác thực bao nhiêu thì nó lại càng có sức hấp dẫn khách du lịch bấy nhiêu Do vậy, nơi nào có nhiều di sản văn hóa thì nơi đó sẽ có cơ hội thu hút được nhiều khách du lịch Từ đó hình thành luồng khách di chuyển từ khu vực này đến khu vực khác, từ nơi này đến nơi khác để tìm hiểu, chiêm ngưỡng di sản văn hóa Đó chính là du lịch văn hóa

Di sản văn hóa chính là nguồn tài nguyên du lịch văn hóa Nói như vậy không có nghĩa tất cả di sản văn hóa đều trở thành tài nguyên du lịch văn hóa

Mà thực tế là, chỉ có những di sản văn hóa nào có sức hấp dẫn nhất định, có thể khai thác cho hoạt động du lịch thì mới được gọi là tài nguyên du lịch văn hóa Nếu như di sản văn hóa được phân loại thành di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, thì tài nguyên du lịch văn hóa cũng được phân chia thành tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể Việc hình thành các sản phẩm du lịch văn hóa như thế nào là phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm, tính chất, thể loại di sản văn hóa đó; hay nói cách khác, sản phẩm du lịch có hấp dẫn khách du lịch hay không thì chính di sản văn hóa đóng vai trò quyết định Di sản văn hóa tạo nên sự phong phú, đa dạng của

Trang 16

sản phẩm du lịch Ở nhiều quốc gia, du lịch văn hóa được xem là loại hình du lịch chính, thậm chí còn trở thành thương hiệu của một quốc gia, một vùng đất Chính bởi vì bản thân di sản văn hóa đã mang tính lịch sử, tính truyền thống, tính biểu trưng…cho nên sản phẩm du lịch văn hóa có giá trị hấp dẫn đặc biệt Nếu biết khai thác hợp lý di sản văn hóa phục vụ du lịch thì sẽ tạo ra những sản phẩm du lịch văn hóa giàu sức hút, có ý nghĩa

Như vậy, du lịch văn hóa muốn phát triển không thể không dựa vào việc khai thác giá trị các di sản văn hóa Mặc dù thế, trên thực tế, không phải sản phẩm du lịch văn hóa nào cũng lôi cuốn du khách Vì vậy, để du lịch văn hóa thực sự hấp dẫn thì trước hết phải xác định giá trị của mỗi di sản văn hóa (di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể) đối với hoạt động du lịch, tiếp theo là phải có sự đầu tư đúng mức để di sản văn hóa trở thành sản phẩm

du lịch văn hóa Ngược lại, một phần lợi nhuận từ du lịch đem lại cần phải được đầu tư trở lại cho di sản văn hóa (nhằm phục vụ công tác bảo tồn di sản…) Đó là sự phát triển du lịch bền vững

1.2 Di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Quan họ Bắc Ninh

Thời gian qua, đã có không ít những công trình nghiên cứu về Quan họ Bắc Ninh Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một kết luận cuối cùng về thời điểm chính xác ra đời của Quan họ Bắc Ninh, cũng như có rất nhiều giả thuyết về ý nghĩa của tên gọi “Quan họ”

Trong dân gian có nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc Quan họ (xem thêm phần Phụ lục luận văn) Trong đó nổi bật có ba cách giải thích khác nhau về nghĩa của tên gọi Quan họ, gắn liền với nguồn gốc ra đời của Quan họ Đó là quan niệm cho rằng Quan họ nghĩa là “Họ nhà quan”; Quan

họ nghĩa là “Quan dừng lại” và Quan họ nghĩa là “Quan viên hai họ”

Trang 17

Thứ nhất, Quan họ nghĩa là “họ nhà quan”: vào thời nhà Lê, có hai viên quan ở làng Diềm và làng Bựu chơi với nhau rất thân Khi về hưu, hai ông tổ chức cho hai làng kết chạ với nhau Vào những dịp mỗi nơi có hội hè, đình đám, nhất là lễ hội mùa xuân, người ta đều mời nhau sang chơi Trong ngày

ấy, trước là làm lễ thờ thần, sau là tổ chức cho trai gái hai làng hát với nhau Tục ấy cứ truyền mãi sau gọi là hát Quan họ

Thứ hai, Quan họ nghĩa là “Quan dừng lại”: có căn cứ cho rằng Quan họ bắt nguồn từ một hình thức ca hát dân gian nào đó Một trong những giai thoại đó là việc các quan nhà Lý đi xứ Bắc Các quan nhà Lý đi kinh lý ở vùng Bắc Ninh, đang đi trên đường chợt nghe có tiếng hát từ cánh đồng vẳng lên Các quan thấy hay dừng lại nghe Từ đó, tiếng hát ở đây gọi là Quan họ,

có nghĩa là tiếng hát làm quan phải dừng lại

Thứ ba, Quan họ nghĩa là “Quan viên hai họ”: Quan họ được quan niệm chuyên hát trong đám cưới Trong các đám cưới, người ta vẫn nói: “Bên nhà gái cử người đi xem Quan họ nhà trai đã bắt đầu đi đón dâu chưa để chuẩn bị tiếp” Quan họ như vậy, là cách nói tắt của từ ‘Quan viên hai họ”, trong đó

“quan” nghĩa là “quan viên” và “họ” nghĩa là “họ hàng”

Theo ý kiến các nhà nghiên cứu thì cũng chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về nguồn gốc của Quan họ Đối với tác giả Đặng Văn Lung, Trần Linh Quý, Hồng Thao trong tập sách “Quan họ - nguồn gốc và quá trình phát triển” cũng chỉ kể ra các giai thoại dân gian Đối với nhà nghiên cứu âm nhạc Quan họ Hồng Thao trong bài viết “Quan họ, tên gọi và nguồn gốc”, thì cho rằng Quan họ có sớm nhất là thế kỷ XV, thời điểm ra đời của thơ lục bát – dạng thơ phổ biến của lời ca Quan họ Trong khi đó, tác giả Lê Danh Khiêm, Hoắc Công Huynh, Lê Thị Chung trong cuốn sách “Không gian văn hóa Quan họ”[16] lại cho rằng Quan họ ra đời trên cơ sở căn cứ sau:

Trang 18

* Sinh hoạt văn hóa Quan họ bắt nguồn từ tục kết chạ giữa các làng xã Hai làng hoặc nhiều làng kết nghĩa với nhau gọi là “kết chạ” Kết chạ là tục

có ở hầu hết các tỉnh đồng bằng trung du Bắc Bộ, nhưng chỉ ở Bắc Ninh tục kết chạ mới đậm đặc, phổ biến hơn cả Tỉnh Bắc Ninh có ít nhất 30 chạ Trong tổng số 49 làng Quan họ hiện nay thì có 36 làng có tục kết chạ Khi hai làng đã kết chạ với nhau thì cũng có nghĩa là coi nhau như họ hàng, như anh

em một nhà, dù ở hai công xã nhưng vẫn xem như là cùng huyết thống Vì vậy, trai gái trong làng kết chạ không được lấy nhau Do đó, các bọn Quan họ

ở những làng kết chạ với nhau thì không được phép nên vợ nên chồng Đồng thời, trong ngôn ngữ giao tiếp của người Quan họ cũng rất cung kính, trân trọng, đề cao lẫn nhau, xưng hô với nhau là “anh”, “chị”, “chúng em” Phải chăng đây cũng là hệ quả ảnh hưởng tất yếu từ cách xưng hô chung của những làng kết chạ với nhau Khi đã kết chạ rồi, thì mỗi làng đều tự xưng là

“dân em” và gọi làng kia là “dân anh” Mối quan hệ giữa các làng cùng chạ thật bình đẳng, trân trọng, đề cao lẫn nhau, không làng nào đứng trên làng nào Khi các làng đã kết chạ với nhau, thì vào những dịp hội hè đình đám của mỗi làng, người ta đều mời nhau sang chơi, đặc biệt là vào dịp lễ hội mùa xuân Từ tục kết chạ, trong các bọn quan họ xuất hiện tục kết bạn Quan họ Các bọn Quan họ ở các làng Quan họ kết nghĩa với nhau gọi là kết bạn Quan

họ Việc kết bạn Quan họ thực hiện theo nguyên tắc “âm dương tương cầu”, nghĩa là bọn Quan họ nam kết bạn với bọn Quan họ nữ và nguyên tắc “làng đối làng”, có nghĩa là bọn Quan họ nam của làng này kết bạn với bọn Quan

họ nữ của làng kia Các bọn Quan họ cùng một làng không bao giờ kết bạn với nhau

“Bọn Quan họ” là tên được đặt ra để chỉ tổ chức cơ sở của Quan họ Tổ chức Quan họ ở cơ sở bao giờ, ở đâu cũng phải là một tập thể cùng giới tính,

Trang 19

nghĩa là gồm toàn nam hoặc gồm toàn nữ, người đứng đầu bọn Quan họ nam

là ông trùm và người đứng đầu bọn Quan họ nữ là bà trùm

Hiện nay, sinh hoạt văn hóa Quan họ tồn tại ở rất nhiều làng quê Bắc Ninh, Bắc Giang Tuy nhiên, thực tế chỉ có 49 làng Quan họ gốc (44 làng ở Bắc Ninh và 5 làng ở Bắc Giang) Có 3 tiêu chí xác định làng Quan họ gốc:

- Làng phải có ít nhất một bọn Quan họ nam và một bọn Quan họ nữ

- Các bọn Quan họ của làng phải kết bạn với các bọn Quan họ của làng khác theo nguyên tắc bọn Quan họ nam kết bạn với bọn Quan họ nữ

- Hai tiêu chí trên phải tồn tại tối thiểu là ba đời [23]

*Sinh hoạt văn hóa Quan họ ra đời sớm nhất là vào thế kỷ XVII Quan

họ ra đời, tồn tại và phát triển chính là trên cơ sở nhu cầu tất yếu phải mở rộng giao lưu Điều này xảy ra khi nền sản xuất không còn đơn thuần là tiểu nông, tự cung tự cấp và khép kín trong công xã, mà trình độ sản xuất đã được nâng cao bằng việc phát triển kinh tế hàng hóa tiểu thủ công nghiệp, tiểu thương nghiệp Nền móng của nền kinh tế hàng hóa là việc ra đời và phát triển các nghề phụ Việc phát triển buôn bán tiểu thương nghiệp dẫn đến ra đời các phố nhỏ, trung tâm buôn bán Việc ra đời các nghề phụ và buôn bán nhỏ đương nhiên là đã có từ rất sớm Song chỉ cho tới những năm cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, tiểu thủ công nghiệp và tiểu thương nghiệp mới phát triển mạnh mẽ Như vậy, việc phát triển kinh tế hàng hóa tiểu thủ công nghiệp

và tiểu thương nghiệp thế kỷ XVII là điều kiện giao lưu quan trọng để ra đời tục kết chạ giữa các làng xã, từ tục kết chạ đó, sinh hoạt văn hóa Quan họ ra đời

Các bài bản dân ca Quan họ là tổng hòa của sự tiếp thu, kế thừa và sáng tạo từ các loại hình dân ca, nhạc cổ vốn có của các làng xã vùng Quan họ Bắc Ninh là điểm giao thoa giữa vùng rừng núi, trung du và vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, bởi vậy, ngoài các yếu tố văn hóa bản địa, đây là vị trí thuận lợi

Trang 20

để tiếp xúc và tiếp thu các yếu tố văn hóa, văn nghệ của vùng rừng núi, trung

du và vùng đồng bằng ven biển Đồng thời, Bắc Ninh lại là đất của trăm nghề, sớm phát triển kinh tế hàng hóa tiểu thủ công nghiệp và tiểu thương nghiệp,

do đó người Bắc Ninh có điều kiện giao lưu với các địa phương khác, trong

đó bao gồm cả giao lưu kinh tế và giao lưu văn hóa Đó cũng chính là cơ sở thuận lợi để người Bắc Ninh tiếp thu nhiều loại hình dân ca, nhạc cổ của các vùng trong nước làm phong phú cho vốn văn nghệ dân gian của mình Tiếng hát Quan họ bắt nguồn từ một số hình thức ca hát dân gian cụ thể nào đó, mà những hình thức này đều mang hình thức giao duyên, đồng thời vốn có sẵn ở các làng xóm Trong quá trình giao lưu ngày càng mở rộng giữa các cộng đồng đã tập hợp lại thành một loại hình ca hát đối đáp nhiều làn điệu Lối hát này được phát triển trên cơ sở vừa tuân thủ nét riêng, tập tục riêng của mỗi làng, vừa tuân thủ các tập tục văn hóa được hình thành trong mối quan hệ giữa các làng Từ đó, kết quả là ra đời một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp: sinh hoạt văn hóa Quan họ

Có thể nói, Quan họ Bắc Ninh có những bước phát triển thăng trầm Quan họ Bắc Ninh là một hiện tượng văn hóa dân gian sống động tồn tại ngay trong cuộc sống của người dân, nó phục vụ cho chính đời sống tinh thần và tâm linh của họ hàng ngày, hàng giờ, góp phần vào sự phát triển của mỗi cá nhân và cộng đồng Từ những năm 60-80 của thế kỷ XX, khi phong trào văn hóa văn nghệ nông thôn phát triển rầm rộ, Quan họ đã được quan tâm phát triển Đoàn dân ca Quan họ Bắc Ninh được thành lập Một số câu lạc bộ Quan

họ ra đời Phong trào “Khắp nơi đàn và hát dân ca” phổ biến rộng rãi Để giữ gìn những làn điệu dân ca, các nhà nghiên cứu, các nghệ sỹ đã dành nhiều công sức, tâm huyết học hỏi từ những nghệ nhân Quan họ về lề lối, quy cách, làn điệu, lời hát Bước sang thời kỳ mở cửa, cùng với nền kinh tế thị trường,

sự phát triển của phương tiện thông tin đại chúng và văn hóa ngoại lai làm lu

Trang 21

mờ những bài dân ca trữ tình Trong những năm gần đây, khi đời sống kinh tế

đã ổn định hơn, người ta lại có xu hướng tìm về những giá trị văn hóa cổ truyền dân tộc Dân ca Quan họ được sưu tầm, nghiên cứu, tìm hiểu và trình diễn không chỉ ở những lễ hội của làng quê, tại những liên hoan văn hóa văn nghệ trong nước, mà được mang ra nước ngoài biểu diễn cho bạn bè quốc tế thưởng thức Quan họ cũng không chỉ được người Việt Nam sưu tầm, nghiên cứu mà nhiều sinh viên, nhà nghiên cứu nước ngoài đã đến vùng quê Kinh bắc để tìm hiểu Qua đó, Di sản văn hóa Quan họ được nhìn nhận và đánh giá cao Ngày nay, hàng năm cứ vào dịp hội Lim, khắp nơi đổ về vùng Bắc Ninh trảy hội, nghe hát Quan họ Hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, tại những làng quê Quan họ, phong trào ca hát Quan họ cũng đã được chính quyền quan tâm phát triển, khuyến khích thế hệ đi trước truyền dạy cho thế hệ sau [19]

Cho dù Quan họ được giải thích bằng nhiều cách khác nhau về nguồn gốc ra đời, kể cả giai thoại trong dân gian và từ những căn cứ khoa học của các nhà nghiên cứu, và có quá trình phát triển thăng trầm, thì tựu chung lại, Quan họ là một loại hình dân ca dân gian đặc trưng của một vùng mà người ta hay gọi là vùng Kinh Bắc, có từ lâu đời Quan họ có nguồn gốc sâu xa từ sinh hoạt giao duyên, hát đối đáp nam nữ từ thủa xa xưa mà hầu hết các dân tộc anh em với người Việt đều có Nó tồn tại thường nhật nhưng tập trung nhất và thăng hoa trong sinh hoạt lễ hội của nhân dân Do đặc trưng tính chất của loại hình này là truyền miệng, nên việc nghiên cứu tìm hiểu về nơi nó sinh ra là rất quan trọng Đó chính là những ‘Bọn Quan họ”, những “anh hai”, ‘chị hai’ - chủ nhân của di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh, là những ngôi làng Quan họ vùng Kinh Bắc – nơi nuôi dưỡng, gìn giữ những làn điệu dân ca

1.2.2 Phân bố các làng Quan họ Bắc Ninh

Di sản văn hóa Quan họ tồn tại và lan tỏa ở cả một vùng rộng lớn Tuy nhiên, sinh hoạt văn hóa Quan họ thực chất chỉ tồn tại ở một địa vực nhất

Trang 22

định, đó là 49 làng Quan họ gốc, trong đó tại Bắc Ninh có 44 làng [32] Các làng Quan họ ở Bắc Ninh phân bố ở huyện Tiên Du (11 làng), huyện Yên Phong (17 làng), huyện Từ Sơn (2 làng), thành phố Bắc Ninh (14 làng) Không gian văn hóa Quan họ tập trung trong khoảng 250km2, tập trung và xoay quanh thành phố Bắc Ninh

Những làng Quan họ chủ yếu phân bố xung quanh các con sông: sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Tương Những con sông này uốn lượn quanh chân đồi, chảy len lỏi giữa những cánh đồng bằng phẳng góp phần làm cho cuộc sống nông nghiệp của người dân Bắc Ninh được thuận lợi hơn, họ

có thời gian rảnh rỗi trong những lúc nông nhàn Trần Linh Quý đã khái quát

vị trí địa lý của các con sông gắn bó mật thiết với những làng Quan họ: “Sông núi đã quy vùng ôm lấy một quê hương có nhiều cánh đồng rộng mỏi cánh cò Giữa những cánh đồng bát ngát ấy, có khi nổi lên những ngọn đồi thoai thoải, trên đó là một cảnh chùa tĩnh mịch cổ kính, hay những xóm làng xanh tươi…len lách trong quê hương Quan họ là dòng sông Cầu và sông Ngũ Huyện Khê, và sông Tiêu Tương” [29] Có lẽ cũng bởi gần các con sông cho nên trong sinh hoạt văn hóa Quan họ, chiếc thuyền thúng bằng nan rất gắn bó với con người Quan họ Hát Quan họ trên sông cũng là một hình thức biểu diễn của dân ca Quan họ Bắc Ninh

Các làng Quan họ Bắc Ninh còn đồng thời là những làng nghề hoặc nằm ở vị trí gần sát các làng nghề khác Đó là những làng nghề với nghề trồng dâu nuôi tằm bán kén (làng Diềm, làng Hữu Chắp), nghề làm hàng xáo (làng Hòa Đình), nghề đúc đồng (làng Đại Bái, Lũng Ngâm, Quảng Phú), nghề nhuộm (làng Đình Bảng), nghề kim hoàn chạm vàng bạc khảm trai (Thị Cầu), nghề làm tranh dân gian vàng mã (Đông Hồ)… Bên cạnh đó, các làng Quan

họ này còn là nơi có chợ làng, chợ vùng nổi tiếng như: chợ Lim, chợ Ó, Nhồi, Đống Cao, Thị Cầu, Đáp Cầu Như vậy, bên cạnh việc hình thành những làng

Trang 23

nghề, các làng buôn cũng dần xuất hiện và phát triển Đó là điều kiện cho việc giao lưu buôn bán giữa các vùng quê được mở rộng và sôi động Những chợ quê trở thành trung tâm giao lưu kinh tế, đó cũng là môi trường tạo cơ hội giao lưu văn hóa, trong đó có văn hóa Quan họ Như vậy, có thể nói văn hóa Quan họ là sản phẩm của một vùng kinh tế phát triển (xem Hình 1.1.Bản đồ phân bố các làng Quan họ Bắc Ninh)

1.2.3 Những hình thức tổ chức và diễn xướng Quan họ Bắc Ninh

Hát Quan họ là một nội dung nổi bật của sinh hoạt văn hóa Quan họ Bắc Ninh Việc ca hát Quan họ cũng được quy định cả về thời gian, không gian biểu diễn

Về thời gian: Quan họ chủ yếu hát vào mùa xuân, cơ bản là hát trong các ngày hội làng (mở đầu là hội Hữu Chấp ngày 4/1 và kết thúc là ngày hội Điều Thôn ngày 15/2) Ngày hội xuân của bất kỳ làng Quan họ nào cũng sôi động các hoạt động Quan họ Vào những dịp này, ca hát Quan họ được tổ chức thường xuyên Có thể xem, mùa xuân là mùa hát Quan họ nói riêng, mùa sinh hoạt văn hóa Quan họ nói chung

Ngoài ra, mùa thu cũng là mùa ca hát Quan họ Đó là dịp các bọn Quan

họ nam nữ của từng làng phục vụ lễ tế thần, rước thần Thành Hoàng mùa thu

ở làng mình; ca Quan họ vào đêm trăng sáng Tuy nhiên, mùa thu không được xem là mùa hát Quan họ như mùa xuân vì lực lượng hát Quan họ không đông đảo như hội mùa xuân, ca hát không trải rộng ra nhiều ngày như mùa xuân và không có nhiều hình thức ca hát Quan họ như hội xuân

Bên cạnh đó, cũng có nơi hát Quan họ vào mùa hè Và thậm chí, Quan

họ được ca vào bất kỳ ngày nào, mùa nào trong năm Ví như ca hát Quan họ khi Quan họ thăm viếng nhau lúc có tiệc mừng; hoặc như hát Quan họ hiếu trong các đám tang (Làng Lũng Giang, Tam Sơn) [16]

Trang 24

Về địa điểm hát Quan họ: có hai hình thức là hát Quan họ ngoài trời và hát Quan họ trong nhà

Hát Quan họ ngoài trời có hát trên bộ và hát dưới thuyền Hát Quan họ trên bộ gồm nhiều địa điểm khác nhau: Hát ở cổng làng trong ngày hội: Bọn Quan họ làng mở hội đón bạn ở cổng làng hoặc đầu làng Khi bọn Quan họ bạn tới, đôi bên hát chúc hát mừng Hát Quan họ ở cổng nhà chứa trong ngày hội: Buổi chiều, bọn Quan họ sở tại mời Quan họ bạn về nhà chứa để “xơi cơm Quan họ” và tổ chức hát canh Có “nhời mời” rồi thì Quan họ sở tại về trước, đứng sẵn ở cổng “nhà chứa” đón khách Khi khách về đến cổng nhà chứa, thì đôi bên lại hát chúc hát mừng, sau đó mới đưa khách vào trong nhà Hát Quan họ ở trung tâm hội: Sau khi cùng bọn Quan họ bạn hát ở trong đình, bọn Quan họ làng mở hội dẫn bạn ra xem hội một lượt, rồi tìm một địa điểm thích hợp rồi “hát hội” với nhau Các bọn Quan họ kết bạn hẹn nhau đi chơi hội xuân của một làng Quan họ nào đó, gặp nhau ở trung tâm hội, người ta ca chúc mừng nhau, sau đó xem hội rồi hát hội với nhau cũng ở ngay trung tâm hội; các bọn Quan họ tìm nhau để kết bạn trong ngày hội xuân, cũng hát chúc, hát mừng và hát hội với nhau ngay ở trung tâm hội Trung tâm hội thường là sân đình, sân đền hoặc sân chùa Song cũng có nơi, trung tâm hội là một quả đồi (đồi Hồng Vân ở hội Lim), là một sườn đê trước cửa đình chùa…(ở các làng Đống Cao, Trà Xuyên, Khúc Toại, Châm Khê Ở một số trường hợp, trong ngày thường cũng có ca Quan họ ngoài trời, đó là khi Quan họ thăm viếng nhau những khi bản thân hoặc gia đình một thành viên bọn Quan họ có việc mừng; hay đặc biệt hơn là cả ca Quan họ trong những đám tang, gọi là hát Quan họ hiếu (làng Quan họ Lũng Giang và Tam Sơn)

Hát Quan họ dưới thuyền: Trong những ngày hội xuân, các bọn Quan

họ kết bạn rủ nhau xuống thuyền hát Hát thuyền thường được tổ chức ở ao hồ

Trang 25

trung tâm hội Nhiều làng còn tổ chức hát Quan họ trên sông, chủ yếu là trên sông Ngũ Huyện Khê

Hát Quan họ trong nhà: Những bọn Quan họ kết bạn với nhau đã mời nhau sang làng mình chơi hội, hoặc Quan họ kết bạn tới thăm viếng nhau, thì chủ yếu hát ở trong nhà Đó là hát trong đình hoặc trong đền: trong ngày hội, các bọn Qua họ sở tại dẫn các bọn Quan họ bạn vào làm lễ và hát Quan họ thờ ngay ở trong đình hoặc đền Những bọn Quan họ nơi khác mà không kết bạn với Quan họ sở tại thì không được hát thờ ở trong đình (hoặc đền) Ngoài hát trong đình (đền), người ta còn tổ chức hát trong “nhà chứa”, gọi là hát canh chỉ hát vào ban đêm trong ngày hội Phải nhấn mạnh rằng, đã là hát canh thì không bao giờ hát vào ngày thường, không hát ban ngày và không bao giờ ca

ở nhà khác ngoài ‘nhà chứa” Bên cạnh hát canh trong nhà chứa, Quan họ còn được hát tại nhà riêng của các thành viên Quan họ Đó là hát cầu vui, cầu may Khi bản thân hoặc gia đình của một liền anh, liền chị nào đó có việc mừng, bọn Quan họ bạn tới thăm chia vui Khi đó, bọn Quan họ chủ và bọn Quan họ khách tổ chức hát cầu vui, cầu may ở trong nhà người có việc mừng Hình thức hát trong nhà này rất phổ biến và thường xuyên

Về quy định lề lối trong các hình thức hát Quan họ:

Quan họ có bốn hình thức hát khác nhau:

Thứ nhất là hát chúc, hát mừng: Hát chúc, hát mừng là hình thức ca hát khi các bọn Quan họ mới gặp gỡ nhau Trong “hát chúc, hát mừng”, lề lối quy định là: cả bọn nam ca đối đáp với cả bọn nữ, không hát đối đáp giữa đôi nam với đôi nữ như ở hát hội, hát canh Bọn Quan họ chủ thường ca trước, cho dù bên chủ là bọn nam hay bọn nữ Riêng trường hợp Quan họ đi tìm bạn để xin kết bạn thì bên nam ca trước và trường hợp Quan họ tới thăm bạn có việc mừng thì bên khách ca trước Khi hát chúc, hát mừng, đôi bên chỉ được sử

Trang 26

dụng giọng la rằng, không ca các giọng lề lối khác cũng như những giọng lẻ, giọng vặt, giọng giã bạn

Thứ hai là hát thờ: Hát thờ là hình thức ca Quan họ trong đình hoặc trong đền trong ngày hội xuân giữa bọn Quan họ làng mở hội và bọn Quan họ kết bạn với mình Những bọn Quan họ không kết bạn với các bọn Quan họ sở tại thì không được tham gia vào hát thờ Hát Quan họ thờ thực chất là hình thức Quan họ tham gia vào phần lễ, phần đạo trong ngày lễ hội, những câu ca trong hát thờ là thay thế cho những lời cầu khẩn, ca ngợi công đức thần và cầu thần phù hộ cho dân làng an khang, mùa màng bội thu…Trong hát thờ, lề lối quy định là: Nếu ở hát chúc, hát mừng thường theo nguyên tắc “tiền chủ hậu khách” hoặc “khách tòng chủ”, thì ở hát thờ lại ngược lại, thường là “tiền khách, hậu chủ” hoặc “chủ tòng khách”, cho dù bên chủ là bọn nam hay bọn

nữ, nghĩa là bọn Quan họ khách ca trước Khi hát thờ, có thể ca các giọng lề lối cơ bản như: La rằng, tình tang, bạn Kim lan, cái ả, cây gạo, song chủ yếu vẫn là sử dụng giọng La rằng; không được ca các giọng lẻ, giọng vặt và giọng giã bạn Hình thức “hát thờ” trực tiếp tham gia vào phần lễ, phần đạo của ngày hội, nên còn được gọi là “Quan họ ca sự tại đình”

Thứ ba là hát hội: Hát hội là hình thức ca cầu vui, chủ yếu là hát ở trung tâm hội làng, bao gồm cả hát trên bộ và hát dưới thuyền Hát hội là hình thức thu hút nhiều lực lượng tham gia nhất Trong hát hội, lề lối quy định là: trong hát hội bắt buộc phải có hát đôi, đôi nam ca đối đáp với đôi nữ Thực hiện nguyên tắc: bên nam bao giờ cũng phải nhường phần cho bên nữ ra câu trước Mở đầu cho hát hội là câu mời giầu, mời nước Tùy từng nơi mà mời loại giầu nào, song chủ yếu Quan họ dùng hai loại miếng giầu là giầu têm cánh phượng và giầu têm cánh quế Sau câu mời nước, mời giầu, đôi bên ca đối đáp các giọng thuộc hệ thống giọng lẻ, giọng vặt Riêng cuộc hát dưới thuyền thì chủ yếu là ca giọng lẻ, giọng vặt có nội dung về sông nước Sau

Trang 27

giọng lẻ, giọng vặt là giọng giã bạn Riêng cuộc hát hội giữa bọn Quan họ sở tại và bọn Quan họ kết bạn với mình thì không ca giã bạn, bởi sau đó còn về nhà chứa xơi “cơm Quan họ” và tổ chức hát canh

Thứ tư là hát canh: Hát canh là hình thức chỉ được tổ chức trong nhà chứa, là lối hát giữa bọn Quan họ làng mở hội xuân và bọn Quan họ kết bạn với mình Hát canh chỉ có trong hội xuân, vào ban đêm Canh là chỉ ban đêm Mỗi canh hát có độ dài ngắn về thời gian khác nhau Thời gian dài hay ngắn của một canh hát phụ thuộc vào vốn bài bản của những người hát Nếu cả đôi bên không đối được nhiều giọng thì thời gian sẽ ngắn và ngược lại, nếu đôi bên đều đối được đủ các giọng thì thời gian sẽ dài Trong một cuộc hát canh thường gồm nhiều canh hát Hát canh bắt buộc phải qua đủ 3 chặng lề lối: Chặng thứ nhất là ca các giọng lề lối Trọng chặng này, có thể ca tất cả các giọng lề lối, song bắt buộc mỗi bên phải ca dược năm giọng cơ bản là la rằng, tình tang, bạn kim lan, cái ả, cây gạo Trong chặng lề lối không chấm điểm, bên nào không ca được một trong năm giọng trên thì sẽ bị loại ngay để đôi khác vào thay Chặng thứ hai là ca các giọng lẻ, giọng vặt Ở chặng này, các bên được quyền tung ra bài độc của mình Chặng thứ ba là ca các giọng giã bạn, tức là hát để chia tay nhau Quy định của chặng này là đầu tiên phải ca giọng “chuông vàng gác cửa tam quan”, sau đó mới đến các giọng nói về sự

xa cách, thương nhớ như Kẻ Bắc, người Nam và cuối cùng là các giọng tạm biệt từ đây, chia rẽ đôi nơi Hát canh đến khoảng canh bốn (hai, ba giờ sáng) thì tạm nghỉ, đôi bên cùng xơi “tiệc nước” (Tiệc nước thường là các loại quả

và đặc biệt là các món đặc sản của địa phương) sau đó lại hát tiếp đến sáng mới nghỉ

Như vậy, có thể nói, Quan họ Bắc Ninh là loại hình dân ca có nhiều hình thức biểu diễn khác nhau, tại nhiều địa điểm khác nhau Chính vì hình thức biểu diễn cũng như địa điểm biểu diễn phong phú như vậy mà phải

Trang 28

chăng, đó là lý do khiến cho loại hình dân ca này thu hút sự tham gia của đông đảo người dân (kể cả những em nhỏ lẫn người cao tuổi, con trai hay con gái) Có lẽ vì thế mà Quan họ đã phát triển, lan tỏa ở một không gian khá rộng, mà người ta hay nói là “vùng văn hóa Quan họ”

1.2.4 Các làn điệu Quan họ Bắc Ninh

Theo tác giả Hồng Thao, trong bài “Những làn điệu Quan họ khác nhau”, in trên tạp chí Sân khấu số 10-1989, cho rằng: Quan họ có 174 làn điệu Theo Ban Sưu tầm nghiên cứu Quan họ (trực thuộc Đoàn dân ca Quan

họ và sau này là trực thuộc Trung tâm Văn hóa Quan họ, ngày nay trực thuộc Trung tâm Văn hóa – Thông tin), dân ca Quan họ có số lượng hơn 700 bài ca Quan họ Tuy số lượng bài bản Quan họ nhiều như vậy, nhưng chỉ có 213 giọng Quan họ khác nhau, với nhiều câu là câu đối, nhiều câu là dị bản, trong

đó có 174 bài gồm 8 bài giọng lề lối; 159 bài giọng vặt, 7 bài giọng giã bạn

và 126 dị bản [16] Giọng lề lối là loại giọng cổ, có những âm điệu xưa nhất, loại giọng này có tiết tấu chậm, rề rà, âm điệu thường ở khu thấp, tầm cữ hẹp, đường nét của giọng điệu đều đều Giọng vặt là giọng gồm tất cả các loại giọng khác như giọng chầu văn, giọng luyện, giọng lý, giọng tuồng, giọng chèo, giọng kể chuyện , giọng vặt có nhiều âm điệu phong phú nhất, thường ngắn gọn về giai điệu, tiết tấu linh hoạt, không đều đều đơn điệu như giọng lề lối; sắc thái của âm điệu về loại giọng này rất phong phú, thanh thoát tươi sáng cũng có khi buồn man mác

Theo nghiên cứu của nhạc sỹ Hồng Thao, các giọng Quan họ đã tiếp thu và phát triển nhiều loại dân ca khác nhau ở các vùng miền trong nước như hát chèo, trống quân, hát ví, ca trù để tạo nên một phong cách riêng của ca hát Quan họ [20] Âm nhạc Quan họ được đánh giá “đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật dân gian, đã tạo cho nó có một giá trị lớn, khiến nhiều người yêu thích

Vì thế, nhạc sỹ Hồng đánh giá “âm nhạc Quan họ là thứ nghệ thuật không cần

Trang 29

đến phiên dịch Những khách nước ngoài tiếp xúc với dân ca Quan họ, yêu thích nó chủ yếu là vì họ cảm thông, rung động qua yếu tố âm nhạc Người dịch lời ca dù có tài giỏi đến mấy đi nữa cũng khó có thể diễn tả (ngay tại chỗ) được đầy đủ và sâu sắc ý nghĩa gần xa của ngôn ngữ văn học Quan họ [24]

Một nét đặc biệt trong dân ca Quan họ là mặc dù câu ca Quan họ rất giàu chất thơ và chất nhạc khi ca lên, nhưng người ta không thấy việc sử dụng nhạc cụ đệm cho hát Quan họ, “Dân ca Quan họ cũng như các loại dân ca khác của một số dân tộc Việt Nam là sản phẩm của dân Dân làm, dân hát, dân chơi Cái chính trong sinh hoạt của hát Quan họ chủ yếu là để trao đổi tâm tình với nhau nên nó không nhất thiết phải có phần đệm hay nhạc cụ đệm ”[24] Chính vì không có nhạc đệm khi hát (đối với dân ca Quan họ nói riêng và các loại hình dân ca nói chung) mà trong dân ca Quan họ, người ta thấy hiện tượng từ đệm, từ láy được sử dụng thường xuyên Việc sử dụng nhiều từ đệm, từ láy chính là cách nâng cấp tính nhạc cho câu hát Ngoài ra,

ca từ Quan họ cũng được thể hiện dưới hình thức thơ lục bát biến thể, song thất lục bát, bốn từ năm từ (theo dạng vè), bảy từ tám từ, hát nói, ca dao Và

ca dao luôn giữ vai trò chủ đạo trong ca từ Quan họ Theo PGS.TS Nguyễn Thụy Loan trong tác phẩm “Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh, bảo tồn

và phát huy” đã nhận xét: “Âm nhạc thực sự đã trở thành yếu tố quan trọng có thể chi phối cả cấu trúc lời ca và nghệ sỹ có thể nhào nặn lời ca một cách nhuần nhuyễn theo hình hài của phần nhạc bằng nhiều thủ pháp đa dạng Họ dùng nhiều thể thơ khác nhau Họ sử dụng nhiều dạng điệu thức âm nhạc khác nhau, không chỉ ở các các điệu thức trong hệ thống ngũ cung phổ biến mà cả những dạng thuộc hệ ngũ cung đặc biệt Trong khi vẫn bám sát thanh điệu lời

ca, giai điệu dân ca Quan họ không chịu bó mình trong một hoặc vài tổ hợp cao độ đơn giản mà có thể phóng khoáng uốn lượn mềm mại uyển

Trang 30

chuyển Kỹ thuật hát của nghệ nhân Quan họ xưa đã đạt tới độ nhuần nhuyễn theo những quy chuẩn của tiếng hát đẹp Thêm vào đó là những kỹ thuật đặc trưng, đặc biệt là kỹ thuật “nảy hạt” – tuy có nét chung với lối hát chèo và ca trù nhưng lại rất riêng khó lẫn”

Quan họ là sản phẩm sáng tạo của chính những người dân bản địa, những người lao động Vì thế, lời ca Quan họ phản ánh cuộc sống, tinh thần, tình cảm của người dân Nó chính là thể loại mang đặc trưng của một loại hình nghệ thuật dân gian Bên cạnh đó, thể loại này đã bắt đầu tiến tới chuyên môn hóa trong sáng tạo và sinh hoạt nghệ thuật Điều này thể hiện không chỉ

ở kỹ thuật hát Quan họ mà còn là ở sự phân công sáng tác1 Mặt khác, văn hóa ứng xử của người Quan họ cũng có những nét rất riêng, đó là cách nói ý nhị, mộc mạc, chân thành nhưng rất “bác học” thể hiện qua cách ví von, dùng từ ngữ bóng bẩy để diễn tả tâm tư tình cảm của mình

Như vậy, xét về mặt nghệ thuật trong câu hát Quan họ, ta thấy nó

“không thuần túy là nghệ thuật dân gian, cũng không hoàn toàn là nghệ thuật bác học mà là vạch nối giữa nghệ thuât dân gian và nghệ thuật bác học” [15]

1.2.5 Ca từ Quan họ Bắc Ninh

Lời của một bài ca Quan họ có hai phần: lời chính và lời phụ Lời chính

là phần cốt lõi, phản ánh nội dung của bài ca; lời phụ gồm tất cả những tiếng nằm ngoài lời ca chính, là tiếng đệm, tiếng đưa hơi (như: í hi, ư hư, a ha )

Nội dung của các bài ca Quan họ vô cùng phong phú Như chúng ta đã biết, Quan họ là sản phẩm sáng tạo của người dân lao động Do đó, nội dung

Trang 31

dân ca Quan họ sẽ phản ánh tâm tư, tính cảm, nguyện vọng của chính người dân lao động Tuy nhiên, việc thể hiện tình cảm trong ca từ Quan họ cũng hết sức ý nhị, nhẹ nhàng Người Quan họ thường dùng thiên nhiên để ướm hỏi, bày tỏ tình cảm hoặc dùng thiên nhiên để giận hờn oán trách Thiên nhiên được đưa vào dân ca thường là hình ảnh của khóm trúc, cây tre, ao cá, cây đa, cái quán, thuyền nan, con đò

Có thể nói, phần lớn những bài dân ca Việt Nam là những bài ca trữ tình, những bài ca để thổ lộ tình cảm yêu thương Trong dân ca Quan họ chủ yếu nhằm mục đích tình cảm lứa đôi, rất ít nội dung nói về lao động, hoặc có chăng thì cuối cùng cũng là nhằm thông qua lao động để nói lên tình cảm đôi lứa Tuy nhiên, trong văn hóa Quan họ, có một quy định nghiêm ngặt là các bọn Quan họ kết nghĩa thì không bao giờ được lấy nhau Cũng chính vì không thể yêu nhau, lấy nhau nên mối quan hệ của các bọn Quan họ đã trở thành một mối quan hệ keo sơn Mọi tình cảm của người Quan họ được dồn nén trong câu hát Vì vậy, khi ca câu Quan họ, người hát thể hiện được cảm xúc làm cho lời ca, giai điệu càng trữ tình, mượt mà đến độ “say đắm lòng người” như có ý kiến nhận xét

Những bài ca Quan họ cũng là những lời tâm tình, thể hiện sự coi trọng mối quan hệ bạn bè Họ chơi với nhau, kết nghĩa với nhau bằng cái ân, cái nghĩa, bằng sự chân thành, nhiệt tình Bởi thế, mới có câu: “Dẫu rằng lở núi Tản ViênCạn sông Tô Lịch chẳng quên nghĩa người” hay “Hôm nay sum họp trúc mai Tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm” hoặc: “Nghĩa người em bắc lên cân Bên vàng nặng chín, bên ân nặng mười”

Trang 32

1.2.6 Những yếu tố văn hóa khác góp phần hình thành môi trường tồn tại của văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Văn hóa Quan họ là sự tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó có trang phục Quan họ Trang phục Quan họ đóng vai trò không thể thiếu trong các buổi biểu diễn của các liền anh, liền chị

Đối với liền chị, trang phục Quan họ gồm: nón thúng quai thao, khăn vấn tóc, yếm, áo váy, thắt lưng Nón thúng quai thao không phải là loại nón dùng tránh mưa, tránh nắng, ít khi dùng để đội, nên nón quai thao rộng và có độ dốc thấp Quai nón làm bằng một loại vải lụa vừa mềm mại, vừa có màu hồng đào Ở giữa nón (bên trong), có gắn một chiếc gương soi nhỏ, để các liền chị soi gương sửa khăn ở đầu quai thao có nhiều tua bằng sợi tơ, bện thành nhiều quả thao, vì thế mà gọi nón quai thao Khăn mỏ quạ: là mảnh vải vuông, màu thâm hoặc đen, được gấp chéo mép vải lại, tạo thành tam giác Khi đội, đặt lên vòng khăn vấn tóc, gấp hình mỏ quạ ở chính giữa đường rẽ ngôi của tóc, bắt hai góc khăn về hai phía tai rồi thắt múi lại đằng sau gáy Khi nắn “mỏ quạ” phải nắn thành hình chữ nhân, hàm ý người Quan họ coi trọng chữ nhân, luôn lấy chữ nhân làm đầu, coi trọng tình người Với cách vận khăn mỏt quạ, khuôn mặt của các liền chị trông đẹp tựa như một búp sen Yếm của các liền chị là một mảnh vải hình vuông dựng chéo, khoét một góc phần cổ, mặt trước ngực bó sát người Áo của các liền chị Quan họ thường được gọi là “áo mớ ba

mớ bảy”2 Chất liệu để may áo hội cũng như áo liền chị Quan họ thường là lụa tơ tằm hoặc the, lụa màu nâu non, màu đen hoặc màu cánh gián Chiếc váy của người Quan họ thường có màu đen, dài đến mu bàn chân và có hình ống được khâu kín hai mép vải lại Cái đẹp của váy Quan họ là không để cho

2 Áo “mớ ba, mớ bảy”: người ta mặc 3 áo dài lồng vào nhau gọi là “mớ ba”, và thắt nút dải yếm thắt lưng gọi là “mớ bảy” Áo tứ thân và áo cánh được may từ 4 khổ vải, hai khổ sau ghép ở sống lưng, hai mảnh trước là hai tà áo hoặc vạt áo Áo tứ thân không có khuy, khi mặc có thể bỏ buông hoặc thắt hai vạt vào nhau Áo cánh thì chỉ may dài tới mông, còn

Trang 33

váy hớt trước, không để váy quây tròn lấy người và phải may và mặc khéo sao cho phía trước váy rủ xuống hình lưỡi chai tới mu bàn chân, phía sau hơi hớt lên đúng tầm mắt gót chân Thắt lưng là một hoặc nhiều dải vải nhiều màu thắt ngang thân ở tầm rốn để giữ cạp váy, cũng có thể thắt ngoài áo để giữ áo

và lấy dáng Thắt lưng thường được làm bằng lụa có độ dài thắt quanh người hai vòng, thắt nút “giọt lệ” và buông xuống phái trước, khi buông xuống, hai đầu thắt lưng có độ dài ngắn khác nhau, không bao giờ để hai đàu bằng nhau Dép của nữ Quan họ là dép cong làm bằng da trâu, có một vòng tròn bằng da trên mặt dép để xỏ ngón chân thứ hai (cạnh ngón cái), mũi dép cong, cứng (để che đi các ngón của bàn chân, bảo vệ các ngón bàn chân vì xưa người Quan

họ không đi tất chân) [16]

Trang phục của các liền anh Quan họ gồm: khăn xếp, ô lục soạn, áo, quần, dép Khăn xếp là một dải vải lụa hoặc nhiễu màu đen hoặc thâm, được gấp theo chiều dài dải vải Mỗi lần dùng làm khăn, liền anh Quan họ tự vấn lên đầu sao cho hai nếp đầu tiên tạo thành chữ nhân, biểu hiện quan điểm thẩm mỹ của người Quan họ là lấy chữ nhân làm đầu Đội khăn xếp, khuôn mặt liền anh Quan họ trở thành “vuông chữ điền” - môt mẫu hình về người con trai khỏe, đẹp ngày xưa Ô lục soạn của liền anh Quan họ, cũng giống như chiếc nón thúng quai thao của liền chị Quan họ, chủ yếu cầm để làm duyên chứ mục đích chính không phải để che mưa che nắng Áo của nam Quan họ là

áo cánh bên trong và áo dài 5 thân bên ngoài Áo cánh thường dài quá mông, thường may bằng vải sồi, trúc bâu hoặc lụa có màu trắng ngà hoặc nâu gụ Bên ngoài mặc áo dài 5 thân Áo dài thường làm bằng chất liệu sa, lụa và có màu đen Quần của người Quan họ gồm 3 loại: quần lá tọa, quần chân què và quần ống sớ Quần lá tọa có cạp quần rộng, không khâu viền để luồn dài rút, khi mặc cạp quần được kéo lên cao, rồi dùng ruột tượng hoặc thắt lưng luạ, hai đầu ruột tượng được thắt nút, thõng xuống trước bụng, gọi là “lá tọa”;

Trang 34

quần “chân què” cũng có đũng rất rộng và sa thấp khi mặc, quấn thắt lưng hoặc ruột tượng, khi đó đũng quần cao lên, ống quần bị kéo xếch lên cao, lửng đến bụng chân, do đó gọi là “quần chân qùe” Kiểu quần được các liền anh sử dụng phổ biến nhất là “quần ống sớ” Quần ống sớ có độ dài phù hợp với người mặc, phía trên may cạp viền nhỏ để luồn dải rút, cũng có khi cạp vắt chéo, sau đó vặn lộn ra mấy vòng cho chặt, không cần dải rút Loại quần này, ống quần như một ống tròn đứng, giống như ống đựng sớ tâu vua nên mới gọi là “quần ống sớ” Nam Quan họ thường đi guốc mộc, mũi tròn cong lên để che và bảo vệ các ngón chân

Ngoài trang phục Quan họ, ẩm thực Quan họ cũng là một yếu tố kết thành văn hóa Quan họ Cơm Quan họ gồm các món ăn là đặc sản của địa phương, ở mỗi một làng có phong tục riêng, song bắt buộc nơi nào cũng có thịt gà và giò lụa Cuối bữa ăn có “tiệc nước” là các loại bánh, chè hoặc các thứ hoa quả

Có thể nói “miếng giầu” trong sinh hoạt văn hóa Quan họ cũng được nhắc đên rất nhiều Ở mọi lĩnh vực sinh hoạt Quan họ, chúng ta đều thấy hình ảnh miếng giầu xuất hiện: đó là miếng giầu mời nhau trong ngày hội xuân để xin kết bạn; trong mỗi cuộc ca hát, gặp mặt thì người Quan họ cũng mang miếng giầu ra tiếp bạn Miếng giầu gắn với các hoạt động tới mức, trong trang phục của các liền chị bao giờ cũng phải có bộ xà tích, tuy hình thức thì như là

để trang trí cho đẹp, song thực tế là để treo ống vôi Cách têm giầu cánh phượng cũng rất khéo léo cầu kỳ đồng thời cách mời giầu của người Quan họ lại càng lịch thiệp tao nhã

Dân ca Quan họ Bắc Ninh tồn tại trong một môi trường văn hóa với những tập quán xã hội riêng Đó là tục kết chạ giữa các làng Quan họ Trong

44 làng Quan họ cổ của tỉnh Bắc Ninh đã có 33 cặp kết chạ, chiếm gần 80% trong tổng số các làng Quan họ [16] Hai làng hoặc nhiều làng kết nghĩa với

Trang 35

nhau gọi là “kết chạ” Về địa điểm sinh hoạt văn hóa Quan họ, ngoài đình, đền, sân chùa…thì “nhà chứa” cũng là nơi thường xuyên hội họp, tập luyện,

“ngủ bọn” của bọn Quan họ và lớp đàn em học hát “Nhà chứa” thường chính

là nhà của ông (bà) trùm Quan họ3 “Bọn Quan họ” thường rủ nhau ngủ bọn ở nhà ông(bà) trùm để học câu, luyện giọng, luyện cho hợp giọng nhau để cùng

đi hát Ngoài ra, nhà chứa dùng làm nơi đón tiếp Quan họ bạn, mời cơm Quan

họ bạn, tổ chức hát canh giữa bọn Quan họ sở tại và bọn Quan họ kết nghĩa với mình trong dịp lễ hội mùa xuân của làng Mỗi bọn Quan họ đều có nhà chứa riêng của mình

Cho đến nay, dân ca Quan họ vẫn tồn tại ở làng quê Bắc Ninh Hàng năm, đến hẹn lại lên, mỗi khi vào mùa lễ hội, câu hát Quan họ lại vang lên khắp thôn xóm Lời ca Quan họ là những câu hát trữ tình, bay bổng, cuốn hút lòng người Cùng với câu hát là những sinh hoạt văn hóa khác, thể hiện rõ bản sắc văn hóa vùng kinh bắc xưa Chính với những ý nghĩa đó, Quan họ Bắc Ninh được coi là di sản văn hóa phi vật thể, có ý nghĩa quan trọng và đã được

đệ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới

1.3 Vai trò của di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh trong hoạt động du lịch 1.3.1 Vùng văn hóa Quan họ Bắc Ninh nằm ở vị trí thuận lợi để phát triển du lịch

Thành phố Bắc Ninh tiếp giáp, cách thủ đô Hà Nội 30km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 45km, cách cảng biển Hải Phòng 110km Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm – tam giác tăng trưởng Hà Nội – Hải Phòng –

3 “Nhà chứa” là từ dùng để chỉ địa điểm học hát, sinh hoạt thường xuyên của các bọn Quan

họ Đó thường là nhà của ông (bà) trùm Quan họ

Ông(bà) trùm Quan họ: người đứng ra tổ chức truyền dạy Quan họ cho thế hệ trẻ trong làng Các liền anh, liền chị Quan họ (thường là thiếu niên nam nữ tuổi từ 9 đến 17) rủ nhau ngủ bọn vào buổi tối để học câu, luyện giọng ghép với nhau theo từng đôi một để đi hát sao cho thật hợp giọng, thật nhuần nhuyễn

Trang 36

Quảng Ninh Đường quốc lộ 18 nối Bắc Ninh với cảng hàng không quốc tế Nội Bài và các tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh Quốc lộ số 38 nối Bắc Ninh với Hải Dương Hệ thống đường giao thông nội tỉnh cũng tương đối phát triển với trục đường quốc lộ chạy qua 1A, 1B, 18, đường sắt xuyên Việt đi Trung Quốc Đường sông cũng được xem là một lợi thế trong phát triển du lịch của tỉnh, với 3 con sông chính là sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình chảy qua tạo mạng lưới đường thủy dài 127km Với vị trí như vậy, Bắc Ninh có điều kiện giao lưu kinh tế, buôn bán nội vùng và với các tỉnh bạn, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội Do đó, từ xa xưa, người dân vùng này, ngoài chuyên nghề nông còn giỏi giang ở nhiều nghề phụ và nhất là nghề buôn bán Hệ thống làng nghề dày đặc nằm trên địa bàn tỉnh cũng là một trong những yếu tố thu hút khách du lịch Hoạt động giao thông, giao lưu kinh tế phát triển tạo thuận lợi cho hoạt động du lịch của tỉnh Bắc Ninh và đặc biệt là vùng văn hóa Quan

họ

1.3.2 Di sản văn hóa Quan họ là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng đối với hoạt động phát triển du lịch của Bắc Ninh nói riêng và của cả nước nói chung

*Trước hết, có thể phát triển loại hình du lịch nghiên cứu tìm hiểu dân ca Quan họ Bắc Ninh Quan họ Bắc Ninh là sinh hoạt văn hóa nghệ thuật độc đáo, đặc sắc Dân ca Quan họ có cách hát không giống với các loại hình dân

ca khác thế nhưng, theo nghiên cứu của các nhà khoa học và nhạc sỹ Hồng Thao, các nghệ nhân Quan họ đã tiếp thu và phát triển nhiều loại hình dân ca khác nhau ở các vùng miền trong nước như hát chèo, trống quân, hát ví, ca trù, hát ghẹo, dân ca Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, dân ca Nam Bộ…để sáng tạo

ra dân ca Quan họ với những đặc điểm, phong cách riêng Vì thế Quan họ được nhận xét là sự tổng hòa của nhiều loại hình dân ca, nhưng không phải loại hình dân ca cụ thể nào, mà chỉ có thể gọi đó là dân ca Quan họ Dân ca

Trang 37

Quan họ cũng giống như các loại hình dân ca khác, không có nhạc đệm kèm theo, vì thế kỹ thuật hát “vang, rền, nền, nảy” có ý nghĩa rất lớn Hát Quan họ không chỉ đòi hỏi hát tròn vành, rõ chữ, mượt mà duyên dáng, bằng nhiều kỹ thuật như rung, ngân, luyến, láy mà còn phải hát “nảy hạt”, tùy theo cảm hứng

và thị hiếu của người hát, những “hạt nảy” có thể lớn nhỏ về cường độ Quan

họ là cách hát đối đáp giữa một cặp nữ của làng này với một cặp nam của làng kia bằng một bài hát cùng giai điệu, khác về ca từ và đối giọng mà lời ca là thơ, ca dao có từ ngữ trong sáng mẫu mực, thanh lịch Có nhiều hình thức hát: hát thờ, hát hội, hát thi lấy giải, hát canh Ở mỗi hình thức hát khác nhau thì

có những quy định về lề lối, kỹ thuật, nguyên tắc hát không giống nhau Ngoài ra, gắn liền với câu ca Quan họ còn có những yếu tố khác làm nên văn hóa Quan họ, đó là ẩm thực Quan họ (cỗ Quan họ, miếng giầu Quan họ), đó là không gian biểu diễn Quan họ, đó là trang phục Quan họ…và những nguyên tắc trong giao tiếp giữa liền anh, liền chị Quan họ với những phong tục khác

đi liền với ca hát Quan họ Một trong những nét đặc biệt của văn hóa Quan

họ, đó là tục kết bạn Quan họ và tục ngủ bọn Quan họ Quan họ kết bạn với nhau giữa bọn Quan họ nam làng này với bọn Quan họ nữ làng kia, trong mỗi làng, có thể có nhiều bọn Quan họ nam và bọn Quan họ nữ, nhưng trong một làng, các bọn Quan họ không kết bạn với nhau, mà chỉ kết bạn với các bọn Quan họ ở các làng khác Đã kết chạ với nhau thì các liền anh liền chị không được phép lấy nhau Trong khi đó, ở hầu hết các bài dân ca Quan họ thì đều

có nội dung bày tỏ tình yêu nam nữ với tất cả các trạng thái, tình huống cung bậc khác nhau, phản ánh tình nghĩa của người Quan họ, khao khát cuộc sống thanh bình, sống với nhau vì nghĩa vì tình Một điểm khác biệt của dân ca Quan họ Bắc Ninh so với các loại hình dân ca ở Việt Nam trong việc truyền dạy là tục ngủ bọn Đó là tục ngủ bọn ở nhà ông (bà) trùm Quan họ Đấy chính là những điểm khác biệt của di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh Những

Trang 38

yếu tố độc đáo trên đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho các làn điệu dân ca Quan họ

Quan họ Bắc Ninh là sinh hoạt văn hóa cộng đồng làng xã Như chúng ta

đã biết, dân ca là một loại hình nghệ thuật do nhân dân lao động sáng tạo nên,

vì thế nội dung lời ca phản ánh tâm hồn, tình cảm của người dân, gắn liền với cuộc sống và phong tục của người dân Sinh hoạt văn hóa Quan họ là một bộ phận của sinh hoạt văn hóa cộng đồng, gắn bó chặt chẽ với những phong tục tập quán, sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng và lễ hội Đó là tục kết chạ anh, chạ

em giữa các làng Quan họ, là tục lệ mua và cúng gà đen trong phiên chợ âm dương ở lễ hội làng Ó (làng Xuân Ổ, Võ Cường, Bắc Ninh); lễ hội rước bà Đống và tục lao đòn đám giữa đám nam thanh nữ tú trong lễ hội làng Hòa Đình, Đống Cao; tục rước nước tắm Phỗng trong hội làng Châm Khê; tục rước nước cướp cầu trong lễ hội đền thờ Vua Bà làng Diềm; tục chém lợn tế thần trong lễ hội làng Khắc Niệm; tục rước nước tế thần cầu phúc trong hội Lim cùng các trò chơi dân gian như thi dệt vải, thi cỗ chay, thi đánh cờ người, chơi tổ tôm điếm…[20] Ngay cả tục kết chạ Quan họ cũng là một phương tức gắn kết cộng đồng các làng Quan họ Như vậy, tìm hiểu về Quan họ tức là sẽ được tìm hiểu về sinh hoạt văn hóa cộng đồng làng xã , phản ánh đời sống của

cư dân nông nghiệp ở châu thổ Bắc Bộ

Với những giá trị như trên, di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh thật sự là nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn du khách Dựa vào di sản văn hóa Quan họ, Bắc Ninh có thể tạo ra nhiều sản phẩm du lịch, kết hợp hình thành các tour, tuyến du lịch phong phú

* Bên cạnh đó, có thể kết hợp du lịch Quan họ với du lịch thăm quan di tích, tham dự lễ hội Trong dân gian ta có câu: “Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài” để ca ngợi những di sản văn hóa cộng đồng nổi tiếng của các miền trong nước Xứ Bắc hay vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh thuộc vùng Kinh Bắc) là

Trang 39

một trong những xứ sở của đình chùa và lễ hội Ở đây có những ngôi chùa cổ kính có ý nghĩa lớn về lịch sử và kiến trúc như: chùa Dâu, chùa Cổ Pháp, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp, chùa Dạm, chùa Lim, chùa Xuân Ổ, chùa Viêm Xá (Diềm), chùa Châm Khê trong đó, có những ngôi chùa nổi tiếng có

lễ hội gắn liền với Quan họ cả phần lễ và phần hội như: chùa Lim, chùa Châm Khê, chùa Dương Ổ, chùa Hòa Đình Ngoài ra, vùng Kinh Bắc cũng nổi tiếng với những ngôi đình “Thứ nhất là đình Đông Khang, thứ nhì đình Bảng, vẻ vang đình Diềm” (câu ca dân gian) và những ngôi đền thờ Mẫu4, hầu hết tập trung ở những làng Quan họ gốc Những ngôi đình, ngôi đền này là không gian văn hóa để Quan họ tồn tại và phát triển

*Có thể kết hợp du lịch Quan họ với du lịch làng nghề Di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh được hình thành từ những làng Quan họ nhỏ bé, để rồi phát triển thành vùng văn hóa Quan họ Mặt khác, làng Quan họ đó đồng thời cũng là những làng nghề, hoặc nằm gần với những làng nghề mà cho đến ngày nay, những sản phẩm của những làng nghề truyền thống này vẫn được thị trường ưa chuộng, cả nước biết đến Việc khai thác cho khách du lịch tìm hiểu các làng nghề truyền thống gắn liền với du lịch Quan họ sẽ tạo nên những sản phẩm du lịch đặc trưng riêng có của tỉnh Bắc Ninh

Trên thực tế, Quan họ Bắc Ninh không còn gói gọn trong một vùng văn hóa Quan họ hay trong địa vực hành chính của một tỉnh Bắc Ninh Đã từ lâu, Quan họ được giới thiệu với bạn bè thế giới qua các chương trình giao lưu biểu diễn văn hóa nghệ thuật ở trong nước cũng như ở nước ngoài Vì vậy, nhiều người nước ngoài biết đến Việt Nam qua làn điệu dân ca Quan họ Họ

có thể nghe hát Quan họ ở bất kỳ đâu, song chắc chắn không nơi nào ấn tượng

Trang 40

bằng nghe hát Quan họ ở chính nơi nó được sinh ra Do đó, phát triển du lịch Quan họ sẽ góp phần hình thành xu hướng tìm hiểu văn hóa Quan họ, cũng chính là tìm hiểu lịch sử truyền thống, phong tục tập quán của ông cha ta, bản săc dân tộc ta Đối với bạn bè quốc tế thì dân ca Quan họ đã trở thành hình ảnh của đất nước, con người Việt Nam Vì vậy, phát triển du lịch di sản văn hóa Quan họ góp phần quảng bá, đưa hình ảnh đất nước Việt Nam ra với thế giới

1.3.3 Những khó khăn, hạn chế của việc khai thác di sản văn hóa Quan

họ trong hoạt động du lịch

Mặc dù tiềm năng phát triển du lịch gắn với giá trị văn hóa Quan họ là rất lớn nhưng trên thực tế, việc khai thác Quan họ cho hoạt động du lịch gặp phải những khó khăn khách quan Không giống như những dạng tài nguyên

du lịch văn hóa khác, Quan họ đòi hỏi phải có một không gian trình diễn, người nghe cũng phải có một trình độ nhất định thì mới cảm nhận được cái hay, cái đẹp của Quan họ

Dân ca Quan họ Bắc Ninh thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn Không giống như múa rối nước (tuy cũng thuộc nghệ thuật biểu diễn) có thể được sân khấu hóa để biểu diễn ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào và người xem là bất cứ

ai cũng có thể hiểu được vì nó thể hiện qua trang phục, hành động, sân khấu…dễ hiểu; còn đối với dân ca Quan họ thì không thể áp dụng tính nguyên bản để phục vụ du lịch, bởi đối với du khách từ các quốc gia khác đến không biết tiếng Việt mà chỉ thẩm nhận dân ca truyền thống qua giai điệu, tiết tấu, nhạc cụ, nghệ thuật biểu diễn của nghệ sỹ Vì thế, nếu chỉ đơn thuần nghe Quan họ thì ngay cả người Việt Nam cũng không chắc hiểu được chứ chưa nói gì đến khách du lịch quốc tế Mặt khác, ngoài tiếng hát, Quan họ còn có những giá trị văn hóa đặc sắc khác mà nếu được diễn giải cho khách du lịch hiểu thì sẽ rất hấp dẫn

Ngày đăng: 15/03/2021, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w