LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn: “Hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc l ợi nông dân tại Hà Nội Nghiên cứu trường hợp Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh V ăn,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI THANH MINH
HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO HIỂM VÀ PHÚC LỢI
NÔNG DÂN TẠI HÀ NỘI (Nghiên cứu trường hợp Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân
xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Công tác xã hội
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI THANH MINH
HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO HIỂM VÀ PHÚC LỢI
NÔNG DÂN TẠI HÀ NỘI (Nghiên cứu trường hợp Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân
xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội)
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60900101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa
Hà Nội - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài “Hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân tại Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội)” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi và những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực Luận văn cũng đã được sửa chữa theo góp ý của Hội đồng bảo vệ ngày 20 tháng 11 năm
2013
Ngày 27 tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Bùi Thanh Minh
Chủ tịch Hội đồng
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà
Giáo viên hướng dẫn
PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn: “Hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc l ợi nông dân tại Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh V ăn, huyện Thanh Oai, Hà Nội)”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động
viên to lớn cả về chuyên môn lẫn tinh thần từ phía các thầy cô, các bạn đồng nghiệp Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG HN; sự giúp
đỡ tạo điều kiện từ Đảng Ủy, UBND xã, Ban điều hành Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội; sựu hỗ trợ từ gia đình, bạn bè và các em sinh viên ngành Công tác xã hội
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa đã tận tình hướng dẫn tôi về chuyên môn và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi từ những bước đầu tiên nghiên cứu cho đến khi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ, đảng viên và người dân xã Thanh Văn đã hợp tác, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu một cách tốt nhất
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô, các bạn đồng nghiệp và các em sinh viên đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Tuy đã có nhiều nỗ lực, nhưng do thời gian và năng lực còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu xót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của Quý thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành c ảm ơn!
Hà N ội, ngày 27 tháng 11 năm 2013
Tác giả
Bùi Thanh Minh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
2.1 Nghiên cứu nước ngoài 3
2.2 Các nghiên cứu trong nước 6
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 14
3.1 Ý nghĩa khoa học 14
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 14
4 Câu hỏi nghiên cứu 15
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 15
5.1 Đối tượng nghiên cứu: 15
5.2 Khách thể nghiên cứu 16
6 Phạm vi nghiên cứu 16
7 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu 16
7.1 Mục đích 16
7.2 Nhiệm vụ 16
8 Giả thuyết nghiên cứu 17
9 Phương pháp nghiên cứu 17
9.1 Phương pháp luận 17
9.2 Phương pháp thu thập thông tin 18
NỘI DUNG CHÍNH 20
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 20
1.1 Khái niệm công cụ 20
1.2 Các lý thuyết ứng dụng 23
1.3 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 28
1.4 Đặc điểm và hoạt động của một số quỹ lương hưu dành cho nông dân.29
Trang 6Chương 2: Lịch sử hình thành và các thể chế của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi
nông dân tại xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội 32
2.1 Sơ lược lịch sử hình thành Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội 32
2.2 Đặc điểm các đối tượng tham gia 34
2.3 Đặc điểm về tổ chức, nhân sự 39
2.4 Đặc điểm tài chính 46
2.5 Đặc điểm về chính sách bảo hiểm và phúc lợi 58
Chương 3: Tác động đối với đời sống của người dân địa phương và tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn 65
3.1.Tác động của quỹ đối với đời sống người dân địa phương 65
3.2 Tính bền vững trong hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội 73
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
1 Kết luận 91
2 Khuyến nghị 92
2.1 Đới với Ban điều hành quỹ 92
2.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 93
2.3 Đối với người dân địa phương 94
2.4 Đối với những địa phương có dự định thành lập quỹ 95
Danh mục tài liệu tham khảo 96
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHXH: Bảo hiểm xã hội
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Danh mục các bảng
Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu được lựa chọn
Bảng 2.1: Cơ cấu nghề nghiệp của thành viên tham gia quỹ được khảo sát
Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn của thành viên điều hành, giám sát quỹ
Bảng 2.3 So sánh nguồn quỹ của các quỹ cộng đồng
Bảng 2.4 Chế độ đóng – hưởng tại một số quỹ lương hưu nông dân
Bảng 3.1: Các nhu cầu của người dân được đáp ứng khi tham gia quỹ
Bảng 3.2: Đánh giá tính ổn định về nguồn thu của quỹ
Bảng 3.3: Các khoản thu của quỹ
Bảng 3.4: Các khoản chi của quỹ
Bảng 3.5: So sánh mức đóng – hưởng của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn và Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam
Danh mục các hình
Hình 1.1: Các hệ thống có ảnh hưởng đến hoạt động của Quỹ
Hình 1.2: Thang nhu cầu Maslow
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện cơ cấu thu nhập trung bình của người dân/tháng
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức của Quỹ bảo hiểm và Phúc lợi nông dân
xã Thanh Văn
Hình 2.3: Mô hình tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Hình 2.3: Sơ đồ thể hiện các khoản chi của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn
Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện lý do người dân tham gia quỹ
Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện đánh giá của người dân về khó khăn khi tham gia và nhận chế độ từ quỹ
Trang 9
An sinh xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế hòa nhập và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội
Tại Việt Nam, an sinh xã hội có vai trò ngày càng quan trọng và ngày càng được Đảng, Nhà nước quan tâm Văn kiện Đại hội X của Đảng xác định: “…xây dựng hệ
th ống an sinh xã hội đa dạng, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
ti ến tới bảo hiểm y tế toàn dân” [2, tr.11]; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6
Khóa X cũng đề cập đến việc từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống an sinh xã hội
để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo
Trong hệ thống an sinh của mỗi quốc gia, bảo hiểm xã hội đóng vai trò quan trọng, là hệ thống xương sống của toàn thể hệ thống an sinh Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020 ghi rõ: “Bảo hiểm xã hội và
b ảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh
xã h ội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã
h ội và phát triển kinh tế - xã hội” [3, tr.2]
Là một nước nông nghiệp, với nông dân chiểm trên 70% dân số và 50% lực lượng lao động, muốn đạt được an sinh cho toàn dân thì cần chú trọng đặc biệt đến an
Trang 102
sinh xã hội cho nông dân Tuy nhiên, ở Việt Nam, hệ thống chính sách an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng chưa chú ý đúng mức đến người nông dân Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2006, trong đó đã bước đầu đề cập đến hệ thống Bảo hiểm xã hội tự nguyện dành cho nông dân (có hiệu lực năm 2008) Đó là một dấu hiệu quan trọng, tạo ra hành lang pháp lý để phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội dành cho nông dân nói riêng và đảm bảo an sinh cho người nông dân nói chung Tuy nhiên, qua nhiều năm thực hiện, bảo hiểm xã hội tự nguyên chưa thu hút được sự tham gia của người dân, nhất là nông dân Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đến tháng 10 năm 2012, mới có 135 nghìn người tham gia trong
số 30 triệu đối tượng của loại hình bảo hiểm này trong đó chủ yếu là những người thiếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc các cán bộ cấp xã Bảo hiểm xã hội tự nguyện không thu hút được người dân là do mức đóng cao so với thu nhập của người nông dân và các chế độ hưởng kém hấp dẫn…
Trong khi chính sách của nhà nước tỏ ra kém hiệu quả do thiếu tính sát thực thì các cơ chế cộng đồng trong việc đảm bảo an sinh lại được phát huy Căn cứ trên nhu cầu của người dân về lương hưu để đảm bảo cuộc sống khi về già, nhiều địa phương đã hình thành các loại hình quỹ lương, quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi Có thể kể đến các Quỹ lương hưu tự nguyện ở tỉnh Nghệ An, Quỹ Phúc lợi tại nhiều xã ở tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh hay Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi ở xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội…Đây là một trong những loại hình quỹ cộng đồng tự phát, hoạt động trên cơ sở quản lý của cộng dồng để chi trả lương hưu cho người nông dân khi hết tuổi lao động Nhiều mô hình bộc lộ tính thiếu bền vững và đã chuyển đổi, tuy nhiên có những mô hình hoạt động rất hiệu quả, thu hút sự tham gia và đồng tình của người dân Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi
xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội là một ví dụ điển hình
Việc đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm, thu hút nông dân và lao động ở khu vực phi chính thức cũng là một chủ trương lớn của Chính phủ nhằm đảm bảo an sinh xã hội tốt hơn cho người dân Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số
Trang 113
15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI một số vấn
đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 cũng khẳng định chủ trương này:
“Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật bảo hiểm xã hội theo hướng đa dạng hóa các hình
th ức bảo hiểm xã hội, mở rộng đối tượng tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội, khuy ến khích nông dân và người lao động trong khu vực phi chính thức tham gia bảo
hi ểm xã hội”[5, tr.3] Do đó, việc tồn tại và phát triển của các loại hình quỹ cộng đồng
nói riêng và việc xã hội hóa công tác đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trong giai đoạn hiện nay là vô cùng cần thiết
Nghiên cứu này sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm của loại hình quỹ này trên cơ sở lý thuyết của An sinh xã hội và Công tác xã hội, tìm hiểu các cơ chế về
tổ chức, tài chính và chính sách, các tác động của quỹ đến đời sống người dân, từ đó xác định các ưu và nhược điểm, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động của loại hình quỹ nói riêng và hoạt động bảo hiểm xã hội hướng đến nông dân nói chung Nghiên cứu cũng hướng đến việc tìm ra những nhân tố cần thiết để có thể xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống các loại hình quỹ cộng đồng nhằm đảm bảo an sinh
xã hội cho người lao động ở khu vực phi chính thức nói chung và nông dân nói riêng
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu nước ngoài
An sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội là những lĩnh vực quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia Do đó, nghiên cứu về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và bảo hiểm xã hội là rất nhiều:
Neil Gilbert và Paul Terrell (2009): Dimensions in Social Welfare Policy/Khuôn khổ của chính sách phúc lợi xã hội (tái bản lần 7) đã phân tích và đưa ra một công cụ khá hoàn thiện, có chiều sâu và bao hàm nhiều lĩnh vực khi nghiên cứu về chính sách phúc lợi xã hội Nghiên cứu đưa ra những minh họa thực tế để chứng minh cho các luận điểm lý thuyết về bảo đảm thu nhập, phúc lợi trẻ em, những thành phố kiểu mẫu, chăm sóc hàng ngày, hành động của cộng đồng và sức khỏe tâm thần Ngoài ra, tác giả
Trang 124
còn nêu ra tổng quan về xu hướng của chính sách phúc lợi xã hội của các bang có hệ thống phúc lợi tiến bộ, bao gồm: tính phù hợp, tài chính, phân phối và phân phối lợi ích…
Neil Gilbert (1989) trong “Phúc lợi tư bản hiện đại ở Mỹ/The enabling state: Modern welfare capitalism in America”: Sau hơn hai thập niên áp dụng chế độ tài chính và phúc lợi cải tiến ở Hoa Kỳ và một nước công nghiệp dân chủ khác, chế độ phúc lợi mới đã vượt xa những hình mẫu truyền thống Lựa chọn mô hình nào là vấn
đề đặt ra Nghiên cứu trên sẽ trình bày chi tiết một tầm nhìn mới về sự chuyển dịch của phúc lợi xã hội – từ cách thức phân phối đến đối tượng hưởng lợi Nghiên cứu tím hiểu
về lợi ích của các tổ chức tư nhân và hướng tiếp cận theo hướng thị trường trong phân phối nguồn quỹ dự phòng xã hội; kiểm tra cách thức chuyển dịch từ thuế tiêu dung, hỗ trợ tín dụng, các chi phí phát sinh khác sang nguồn quỹ phúc lợi xã hội
Còn Howard Jacob Karger trong “Chính sách phúc lợi xã hội Mỹ/American social welfare policy” (tái bản lần 6, 2009) lại nghiên cứu về chính sách phúc lợi xã hội
Mỹ với cái nhìn đa chiều, gắn phúc lợi xã hội với nhiều vấn đề của xã hội Mỹ như công nghệ, tôn giáo, bất bình đẳng, chính sách thuế và cả những biến đổi xã hội mang tính cập nhật nhất: Bầu cử tổng thống 2008, khủng hoảng kinh tế, sự đóng băng của thị trường bất động sản…
Về bảo hiểm vi mô, Eloisa A.Barbin, Christopher Lomboy và Elmer S.Soriano trong nghiên cứu thực tế về bảo hiểm vi mô của Philippines/A Field Study of Microinsurance in the Philippines đã đi đánh giá một cách tổng quát về mô hình bảo hiểm vi mô mà MFIs( Microfinance Institution in Philippines) đã đang áp dụng cho các gia đình có thu nhập thấp, trong đó có chú ý đến bảo hiểm từ sự đóng góp tự nguyện trong cộng đồng nhằm hỗ trợ những người thu nhập thấp, người nghèo trước những rủi
ro về tài chính trong cuộc sống
Trang 135
Trung Quốc, một quốc gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam, cũng có nhiều nghiên cứu về an sinh xã hội, trong đó đặc biệt chú ý đến hệ thống an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng dành cho nông dân ở nông thôn
Wang Dewen (2005) trong “Hệ thống an sinh cho người cao tuổi ở đô thị và nông thôn Trung Quốc: Thách thức và lựa chọn/China’s Urban and Rural Old Age Security System: Challenges and Options” Nghiên cứu cho thấy lịch sử phát triển và hiện trạng của hệ thống an sinh cho người cao tuổi Trung Quốc ở đô thị và nông thôn Nghiên cứu cũng nêu lên những thách thức và lựa chọn trong quá trình xây dựng một hệ thống an sinh bền vững dành cho người cao tuổi Hệ thống lương hưu hiện tại mới chỉ có độ phủ cao ở đô thị trong khi chưa bao phủ đến nông dân ở nông thôn Kẻ hở của quỹ và những tài khoản cá nhân trống rỗng đặt một gánh nặng lên tính bền vững của hệ thống lương hưu ở đô thị Tuổi trung bình ngày càng cao và thu nhập lại thấp đặt ra thạch thức không nhỏ cho hệ thống hỗ trợ các gia đình dễ tổn thương ở nông thôn Sự tách biệt giữa hệ thống an sinh cho người cao tuổi ở đô thị và nông thôn còn đặt ra áp lực cho quá trình đô thị hóa và những nông dân mất đất Do đó, cải cách hệ thống an sinh
là yêu cầu cấp thiết đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế
Changyou Zang (2009), “Phương thức bảo hiểm xã hội dành cho nông dân Trung Quốc/Research on Chinese Farmers’ Social Endowment Insurance Mode”: Dựa trên lý thuyết an sinh xã hội, vận vào điều kiện thực tế của Trung Quốc, tác giả cho rằng: Giá trị lao động thực sự phải bao hàm khả năng bảo hiểm cho lao động đó và một phần cho cha mẹ của họ Bằng cách này, tác giả hợp nhất hình thức bảo hiểm nhà nước, tập thể, gia đình, cá nhân…thành một phương thức bảo hiểm phức tạp Phương thức này bao gồm hệ thống bảo hiểm xã hội của nhà nước và các hệ thống hỗ trợ của gia đình và cộng đồng Hệ thống bảo hiểm xã hội này bao gồm hưu trí cơ bản, hưu trí xã hội và các
kế hoạch hưu trí mang tính chất gia đình dành cho nông dân Nghiên cứu cũng chỉ ra cách thức quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội nông thôn và làm rõ những thành phần cơ bản trong hệ thống bảo hiểm xã hội khá phức tạp dành cho nông dân Trung Quốc này
Trang 146
Zhang Jianwei (2008) trong “Nghiên cứu về an sinh lương hưu/Study on farmer’s pension security” lại quan tâm đến hệ thống lương hưu cho người cao tuổi ở nông thôn Trung Quốc Theo đó, cuộc sống của những người cao tuổi ở nông thôn Trung Quốc chủ yếu dựa vào hỗ trợ của gia đình, nhưng đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn Nông dân Trung Quốc lại được chia thành nhiều nhóm khác nhau và nghiên cứu chỉ đi sâu vào việc thiết kế hệ thống lương hưu cho những nông dân đích thực Bởi vì, tuy là nông dân nhưng những người làm việc tại các thị trấn, đô thị, trong các doanh nghiệp lại được hưởng các chế độ của hệ thống an sinh xã hội đô thị Nghiên cứu hướng đến thiết lập một hệ thống bao gồm các thiết chế chính thức và không chính thức có khả năng khích lệ cá nhân, gia đình, chính phủ và các nguồn lực xã hội trong việc giảm trừ bất ổn kinh tế mà những người nông dân gặp phải khi bước vào giai đoạn cao tuổi Trong khi đó, những hỗ trợ của gia đình cho người cao tuổi vẫn được coi là
mô hình mang tính lâu dài và cần được củng cố ở khía cạnh kinh tế và đạo đức
Như vậy, có thể thấy rằng, các nghiên cứu về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và bảo hiểm xã hội trên thế giới là rất nhiều Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chỉ tập trung vào thể chế chính sách, khuôn khổ và mối liên hệ của an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cũng như bảo hiểm xã hội với các yếu tố kinh tế - xã hội xung quanh nó Các giải pháp mang tính cộng đồng như các loại hình quỹ ở Việt Nam chưa được nghiên cứu
2.2 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, nghiên cứu về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội cũng khá nhiều với những cách tiếp cận khác biệt
Về lý luận chung, có thể nhắc đến các đề tài:
Viện Xã hội học: Chính sách xã hội và quản lý xã hội ở cấp cơ sở nông thôn và
đô thị (1983 – 1985); Chính sách xã hội ở Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa (1987 – 1989); Người cao tuổi và hệ thống an sinh xã hội ở miền Bắc Việt Nam (1991) là những đề tài đầu tiên tập trung nghiên cứu về chính sách xã hội ở Việt Nam
và bước đầu chú ý đến an sinh xã hội cho một số đối tượng cụ thể
Trang 157
Tác giả Bùi Thế Cường là một người nghiên cứu khá sớm và đa dạng về các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ở Việt Nam Ông nghiên cứu về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội với nhiều góc độ nhìn nhận khác nhau:
Toàn bộ các quan điểm, hệ thống chính sách xã hội nói chung và chính sách an sinh xã hội nói riêng cũng như công tác xã hội đã được tác giả mô tả, phân tích, giải thích khoa học trong “Chính sách xã hội và công tác xã hội ở Việt Nam thập niên 90” Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh cơ bản của chính sách xã hội và công tác xã hội, đồng thời tiến hành nghiên cứu trường hợp về nhiều khía canh khoa học khác nhau của chính sách xã hội và công tác xã hội: lý luận xã hội, lý luận về an sinh
xã hội; người cao tuổi và hệ thống an sinh xã hội; tệ nạn xã hội, xã hội học và công tác
xã hội; chính sách tiền lương, các tổ chức bảo đảm xã hội ở nông thôn trong Đổi mới; phúc lợi doanh nghiệp; chính sách với đồng bào dân tộc thiểu số…Có thể thấy, đây là một nghiên cứu khá bài bản và được thực hiện từ rất sớm về một lĩnh vực khá mới lạ ở Việt Nam lúc bấy giờ là chính sách xã hội và công tác xã hội.1
Là một đề tài nhánh nằm trong đề tài cấp Viện Xã hội học “Báo cáo xã hội năm 2000”, đề tài “Hệ thống phúc lợi xã hội và tình hình phúc lợi xã hội năm 2000” của nhóm tác giả Viện Xã hội học do tác giả Bùi Thế Cường làm chủ nhiệm đã phân tích
và làm rõ bối cảnh xã hội cũng như các chính sách phúc lợi xã hội cụ thể: ưu đãi xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cứu trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, già hóa dân số, thiên tai…
Nhóm tác giả Viện Xã hội học do Bùi Thế Cường làm chủ nhiệm đề tài cũng có một hướng tiếp cận khá độc đáo về phúc lợi xã hội Đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phúc lợi xã hội (năm 2001)” tập trung đi sâu phân tích và so sánh giữa mô hình phúc lợi thực dân, tổ chức phúc lợi với tư tưởng của Hồ Chí Minh về phúc lợi; lại tiếp tục phân tích và so sánh sự biến chuyển trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phúc lợi xã hội ở
1 Năm 2010, Công tác xã hội mới được coi là một nghề khi Thủ tướng phê duyệt “Đề án phát triển nghề công tác
xã hội giai đoạn 2010-2020”
Trang 16Nhắc tới lý luận chung về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cũng không thể không
kể đến hai giáo trình phổ biến hiện nay Giáo trình “An sinh xã hội” (NXB Đại học kinh tế quốc dân, 2008) của tác giả Nguyễn Văn Định đã trình bày một cách tổng quát
về an sinh xã hội Từ vai trò, bản chất, chức năng, các chính sách cụ thể ở Việt Nam, một số kinh nghiệm về an sinh xã hội ở một số nước tiêu biểu như Đức, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và công tác quản lý nhà nước về an sinh xã hội…Đây là một công trình được viết thiên về kinh tế, do đó, đôi khi nhấn mạnh tính tài chính mà không tập trung vào những đặc điểm đặc thù và mục tiêu cơ bản của hệ thống an sinh xã hội là đảm bảo an sinh cho người dân
Trong giáo trình “Nhập môn an sinh xã hội” (NXB Lao động Xã hội, 2008), Tác giả Nguyễn Hải Hữu cũng phân tích về khái niệm, các cách hiểu khác nhau, các tranh luận về khái niệm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và các lĩnh vực liên quan Tác giả cũng đi sâu vào phân tích vai trò, bản chất, chức năng cũng như các chính sách cụ thể, các thể chế tài chính, chính sách, cán bộ trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam Với kinh nghiệm của một nhà quản lý nhiều năm trong ngành lao động, tác giả đã khái quát
Trang 179
được khá đầy đủ những kiến thức cơ bản nhất, được chấp nhận một cách chính thống nhất về an sinh xã hội, phúc lợi xã hôi, bảo hiểm xã hội Tác giả cũng nhấn mạnh được đến tính đặc thù và mục tiêu của an sinh xã hội
Viện Khoa học Lao động (2010) “Quan điểm và định hướng về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong Chiến lược KTXH giai đoạn 2011-2020” thông qua nghiên cứu thực trạng hệ thống an sinh xã hôi lại đưa ra 6 kiến nghị để định
hướng sự phát triển của các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội trong thời kỳ
mới
Tác giả Đàm Hữu Đắc (2010) trong đề tài: Nghiên cứu chính sách phúc lợi xã hội
và phát triển dịch vụ xã hội chăm sóc người cao tuổi trong kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập”, mã số: ĐTĐL.2007G/51 đã tập trung nghiên cứu toàn diện
về lý luận và thực tiễn của hệ thống chính sách phúc lợi xã hội và dịch vụ xã hội chăm sóc người cao tuổi Việt Nam Nghiên cứu còn tìm hiểu những kinh nghiệm quốc tế để
từ đó đề xuất định hướng phát triển hệ thống chính sách phúc lợi xã hội và dịch vụ xã hội cơ bản chăm sóc người cao tuổi hiện đại phù hợp với bối cảnh xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua từng giai đoạn
Đề tài “Chiến lược an sinh xã hội thời kỳ 2011-2020” của Viện Khoa học Lao động đã tổng kết kết quả thực hiện chính sách an sinh xã hội thời kỳ 2001-2010 và đề
ra chiến lược an sinh mang tầm quốc gia giai đoạn 2011-2020 Thông qua phân tích định hướng của Đảng và Nhà nước về chính sách an sinh xã hội cũng như các hệ thống chính sách về thị trường lao động chủ động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các chương trình giảm nghèo…nghiên cứu đề ra những chỉ tiêu mang tính chiến lược cho việc phát triển và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội nói chung và mỗi lĩnh vực chính sách cụ thể nói riêng
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá hệ thống an sinh xã hội ở vùng nông thôn cũng như
xu hướng phát triển kinh tế xã hội, đề tài: “Hệ thống An sinh xã hội với dân cư nông thôn giai đoạn 2011-2020” trên cơ sở tổng kết, đánh giá hệ thống an sinh xã hội ở
Trang 1810
vùng nông thôn cũng như xu hướng phát triển kinh tế xã hội để đưa ra các giải pháp mang tính định hướng trong việc hoạch định chính sách an sinh xã hội tại nông thôn trong thời kỳ mới
Một đề tài nghiên cứu khá toàn diện về hệ thống an sinh và phúc lợi xã hội Việt Nam cũng như đề ra các kiến nghị để định hướng hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và Phúc lợi xã hội giai đoạn 2015 – 2020 cũng đang được Khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội Đề tài nằm trong chương trình khoa học lý luận trọng điểm do đó mang tính khái quát và cập nhật cao Thông qua nghiên cứu đời sống, nghiên cứu hiệu quả của các chính sách về lao động – việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, ưu đãi và trợ giúp xã hội, đề tài sẽ cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng các chính sách an sinh xã hội nói chung và các chính sách cụ thể trong từng lĩnh vực nói riêng Đồng thời, thông qua phân tích mô hình của các nước trên thế giới, thông qua những thông tin thực tế tại Việt Nam, đề tài hướng đến việc định hướng để hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội trong tương lai có thể phục vụ tốt hơn, đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của mỗi người dân nói riêng và xã hội Việt Nam trong thời kỳ mới nói chung
Là một quốc gia đi sau thế giới rất nhiều trong việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, do đó, các kinh nghiệm quốc tế từ cách hiểu về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội đến cách thức tổ chức, cách thức xây dựng hệ thống là vô cùng hữu ích cho việc hiểu, nghiên cứu, xây dựng hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ở Việt Nam Do đó, có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào mảng này
Tác giả Đinh Công Tuấn (2008) trong “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” đã trình bày, phân tích về quan điểm, lịch sử hình thành, cách thức tổ chức và các chính sách an sinh xã hội cụ thể của các nước EU Trong các hệ thống an sinh xã hội của EU, tác giả lại đi sâu vào phân tích mô hình của một số quốc gia điển hình như Đức, Thụy Điển, Pháp, Anh…Thông qua việc so sánh, phân tích với tình hình thực tế của hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, tác giả đưa ra
Trang 1911
những bài học kinh nghiệm từ việc tìm hiểu, phân tích sự thành công hay thất bại của các nước EU để áp dụng vào điều kiện thực tế Việt Nam sao cho đem lại hiệu quả cao nhất
Cũng phân tích các bài học kinh nghiệm của các nước đối với Việt Nam, Tác giả Trần Hoàng Hải và Lê Thị Thúy Hương (2011) lại tiếp cận dưới góc độ pháp luật về an sinh xã hội “Pháp luật an sinh xã hội kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam”
là một công trình khoa học công phu khi nghiên cứu, phân tích hệ thống pháp luật an sinh xã hội ở một số nước tiêu biểu như Đức, Mỹ, Nga; đồng thời tác giả cũng phân tích những quan điểm, nội dung và nguyên tắc cơ bản của hệ thống Pháp luật Việt Nam Trên cơ sở sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh trong lĩnh vực Luật học, tác giả đã đưa ra những nhận định, phân tích và đánh giá về ưu điểm và nhược điểm, những bất cập trong hệ thống pháp luật về an sinh xã hội hiện nay, từ đó đưa ra các kiến nghị để phát triển hệ thống an sinh xã hội về mặt pháp luật, chính sách một cách toàn diện hơn, hoàn thiện hơn
Các nghiên cứu về việc tiếp cận hệ thống an sinh của các đối tượng cụ thể trong
xã hội cũng là một mảng quan trọng trong các nghiên cứu về an sinh xã hội và phúc lợi
xã hội:
Viện Khoa học Lao động (2010) với đề tài: “Nghiên cứu khả năng tiếp cận hệ thống an sinh xã hội của khu vực không chính thức” Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu đến khả năng tiếp cận chính sách việc làm, chính sách dạy nghề và chính sách bảo hiểm xã hội của khu vực phi chính thức, từ đó đưa ra các giải pháp trên cơ sở học tập những kinh nghiệm quốc tế
Cũng là khả năng tiếp cận của khu vực không chính thức, Hoàng Bá Thịnh (2011) trong nghiên cứu “Lao động nữ di cư làm việc ở khu vực phi chính thức và mức độ tiếp cận an sinh xã hội” lại đi sâu vào nghiên cứu lao động phụ nữ di cư, nghiên cứu chỉ ra những khó khăn, rào cản của lao động nữ di cư trong khu vực phi chính thức trong việc
Trang 20có tỷ lệ tham gia thấp (20%), Bảo hiểm y tế có 57,4% dân số tham gia…Nghiên cứu khuyến nghị về việc tăng cường sự tham gia các loại hình bảo hiểm của người dân, qua
đó tăng năng lực ứng phó với các rủi ro
Là xương sống và lưới đầu tiên trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, bảo hiểm
xã hội cũng là một nội dung quan trọng được nhiều cơ quan, tổ chức đặc biệt là trong lĩnh vực hoạch định chính sách
Báo cáo “Dự báo cân đối Quỹ Bảo hiểm xã hội và các khuyến nghị pháp lý” do ILO thực hiện tại Việt Nam là một báo cáo nhấn mạnh đến sự bền vững về khía cạnh tài chính của Quỹ bảo hiểm xã hội Theo nghiên cứu này, hiện nay, chính sách bảo hiểm xã hội đã bao phủ khoảng 20% lực lượng lao động ở Việt Nam Nghiên cứu cũng chỉ ra những rủi ro của Quỹ Bảo hiểm xã hội Việt Nam: tuổi nghỉ hưu sớm trong khi Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa, chế độ chi trả hào phóng, chỉ có 47% doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động (năm 2010) Nghiên cứu cũng
dự báo rằng, nếu không thay đổi chính sách, đến năm 2021, Quỹ Bảo hiểm xã hộisẽ bắt đầu thâm hụt và cạn kiệt vào năm 2034 Từ đó, nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp: tăng tuổi về hưu, tính lại công thức đóng và hưởng, thay đổi cách thức đầu tư sinh lời của nguồn quỹ, tăng cường việc tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động có đủ điều kiện…
Trang 2113
Liên quan trực tiếp đến đề tài về loại hình các quỹ cộng đồng: Về loại hình bảo hiểm xã hội nông dân có nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2007) Trong báo cáo “Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp chuyển đổi bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện”
đã nghiên cứu về các đặc điểm của loại hình bảo hiểm xã hội nông dân, trong đó tập trung nghiên cứu về tính bền vững tài chính và cách thức chuyển đổi sang bảo hiểm xã hội tự nguyện Sau nghiên cứu này, bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An đã được chuyển đổi sang bảo hiểm tự nguyện, tuy nhiên, số lượng chuyển đổi ít và không thực
sự phù hợp với nhu cầu của người dân
Ngoài ra còn phải kể đến một nghiên cứu rất toàn diện về loại hình quỹ này của P.Castel (2007), Nghe An Voluntary Pension Fund: Transition to the nation scheme policy Option Nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển, thể ché tài chính của loại hình quỹ này và đưa ra các lựa chọn cùng với bình luận về ưu và nhược điểm cũng như những gói giải pháp đi kèm
Về Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh Văn, cũng có rất nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí, các báo Tuy nhiên, các bài báo mới chỉ mang tính báo chí, giới thiệu mô hình mà chưa có tìm hiểu sâu sắc, mang tính khoa học
về Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nước về an sinh
xã hội, phúc lợi xã hội cũng như các cơ chế cộng đồng trong hệ thống an sinh Ngay cả nghiên cứu về loại hình quỹ lương hưu tự nguyện cũng đã có Tuy nhiên, nghiên cứu này lại có hướng tiếp cận khác biệt Nghiên cứu sẽ vận dụng các kiến thức của an sinh
xã hội và công tác xã hội; tiếp cận từ nhu cầu của người dân Nghiên cứu không chỉ tập trung vào tính bền vững về tài chính của quỹ như các nghiên cứu trên mà còn đánh giá tính bền vững đó qua cơ sở pháp lý, qua tác động xã hội của quỹ, qua nhu cầu của người dân, qua độ phù hợp với tình hình thực tế của địa phương để từ đó đưa ra những
Trang 22xã hội và công tác xã hội sẽ được vận dụng trong điều kiện thực tế ở Việt Nam
Nghiên cứu cũng sẽ khẳng định vai trò của các cơ chế cộng đồng trong việc đảm bảo an sinh cho người nông dân Nghiên cứu đi sâu vào phân tích hoạt động của Quỹ dưới góc nhìn khoa học để cung cấp những tài liệu mang tính khoa học về một loại hình quỹ cộng đồng vốn đã và đang tồn tại trong hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội tại Việt Nam Về cụ thể, nghiên cứu sẽ tìm hiểu so sánh về thể chế tổ chức, thể chế tài chính và thể chế chính sách của loại hình quỹ này với các loại hình bảo hiểm chính thống của Nhà nước hiện nay để tìm ra sự giống và khác nhau
Thông qua thực tế hoạt động của quỹ, nghiên cứu sẽ làm rõ hơn các giải pháp để nâng cao hiệu quả trong việc phát huy các cơ chế cộng đồng trong việc đảm bảo an sinh cho người nông dân nói riêng và người dân nói chung, từ đó đóng góp các ý tưởng vào việc định hướng và hoàn thiện các cơ chế đảm bảo an sinh xã hội cho người nông dân nói riêng và các tầng lớp xã hội nói chung
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đánh giá ưu và nhược điểm của loại hình quỹ bảo hiểm và phúc lợi dành cho nông dân đang tồn tại trong thực tế Qua đó đề xuất những giải pháp phù hợp
để nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình quỹ tự nguyện này
Đồng thời, nghiên cứu sẽ cung cấp một cách tiếp cận mới khi nghiên cứu về các loại hình quỹ bảo hiểm, phúc lợi: Tiếp cận dưới góc độ công tác xã hội, nhấn mạnh đến nhu cầu của đối tượng thụ hưởng Đây là hướng tiếp cận liên ngành Bởi có nhiều loại
Trang 2315
hình quỹ, khi tiếp cận dưới góc độ an sinh xã hội hay bảo hiểm xã hội, nó không có tính bền vững cao về mặt khoa học, nhưng lại phù hợp với nhu cầu của người dân và vẫn thể hiện tính bền vững của mình về mặt tài chính, chính sách qua các năm Do đó, khi nghiên cứu các lĩnh vực liên quan đến an sinh xã hội, các loại hình bảo hiểm cần hết sức chú ý đến tác động xã hội cũng như nhu cầu của đối tượng thụ hưởng Ngoài sự bền vững về tài chính, mức độ hài lòng và tin tưởng của người dân sẽ mang tính quyết định sự tồn tại và bền vững của của các loại hình quỹ lương hưu nói riêng và các quỹ trong an sinh xã hội nói chung
Ngoài ra, nghiên cứu sẽ góp phần vào xây dựng một hệ thống bảo hiểm xã hội phù hợp, bền vững dành cho nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội nói riêng và nông dân ở nhiều địa phương khác trong cả nước bằng việc khắc phục các nhược điểm, phát huy các ưu điểm đã và đang tồn tại Thông qua nghiên cứu, các ưu điểm và nhược điểm của quỹ sẽ được đánh giá một cách toàn diện, từ đó, nghiên cứu sẽ tổng kết ra những điểm chung nhất và cần thiết nhất trong việc xây dựng các quỹ có tính cộng đồng tương tự
4 Câu hỏi nghiên cứu
Lịch sử ra đời và hoạt động của loại hình Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân tại xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội được thực hiện như thế nào?
Tác động của quỹ đối với đời sống của người dân được thể hiện như thế nào? Tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội được thể hiện như thế nào?
Có nên duy trì hoạt động của các loại hình quỹ tự nguyện trong hệ thống bảo hiểm xã hội dành cho nông dân hay không?
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân tại xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Trang 24Không gian: Xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung nghiên cứu hoạt động của loại hình quỹ bảo hiểm và phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội Qua đó so sánh các thể chế của quỹ với các loại hình quỹ cộng đồng khác cũng như bảo hiểm xã hội của nhà nước Nghiên cứu cũng tập trung đánh giá các tác động của quỹ đối với đời sống của người dân địa phương Ngoài ra, nghiên cứu đánh giá tính bền vững trong hoạt động của quỹ trên các tiêu chí: tính pháp lý, độ phù hợp với nhu cầu của người dân, tính bền vững về tài chính…Từ đó đưa ra các đề xuất có tính thực tiễn về việc duy trì loại hình quỹ cộng đồng trong hệ thống các cơ chế đảm bảo an sinh
xã hội cho người dân ở khu vực phi chính thức; đưa ra các giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình quỹ cộng đồng tại Thanh Văn nói riêng và hướng đến việc hoàn thiện một hệ thống bảo hiểm xã hội phù hợp, sát thực, có khả năng thu hút người dân tham gia, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho nông dân
7 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
7.1 Mục đích
Nghiên cứu tập trung phân tích hoạt động của loại hình quỹ bảo hiểm và phúc lợi tại xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội Đồng thời, đánh giá tác động xã hội, đánh giá tính bền vững của mô hình Từ đó, đề ra các giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình quỹ cộng đồng trong việc đảm bảo an sinh cho người nông dân nói riêng và người dân nông thôn nói chung
7.2 Nhiệm vụ
Mô tả đặc điểm của loại hình quỹ ở các khía cạnh: hoạt động, đặc điểm tài chính, đặc điểm tổ chức, đặc điểm chính sách…
Trang 2517
Tìm hiểu, đánh giá tác động của quỹ đối với đời sống của người dân địa phương Đánh giá tính bền vững của quỹ trên các tiêu chí: bền vững về tài chính, tính pháp lý, độ phù hợp với nhu cầu của người dân
Đưa ra các đề xuất phù hợp để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ
8 Giả thuyết nghiên cứu
Loại hình Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội
có các đặc điểm hoạt động giống với bảo hiểm xã hội Việt Nam
Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn có tác động tích cực đối với đời sống của người dân địa phương
Cần thiết phải duy trì và phát triển hệ thống Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân trong công tác đảm bảo an sinh cho người dân nông thôn
Chính quyền địa phương có vai trò quan trọng trong việc thành lập và phát triển loại hình quỹ cộng đồng này
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp luận
Mọi công trình khoa học đều không thể thiếu nền tảng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận cho biết cách thức tiếp cận một vấn đề xã hội cụ thể Phương pháp luận định hướng cho nghiên cứu, quyết định hướng tiếp cận vấn đề của nghiên cứu Vì thế nó có vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của một nghiên cứu khoa học Luận văn này dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp luận để lý giải các hiện tượng, các vấn đề xã hội Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan không tồn tại riêng rẽ, tách rời mà có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau Điều
đó đòi hỏi, khi nghiên cứu về loại hình quỹ bảo hiểm phúc lợi dành cho nông dân không được xem xét nó một cách riêng lẻ, tách biệt với những mối liên hệ của nó trong
Trang 2618
xã hội Khi phân tích hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, Thanh Oai, cần đặt các hoạt động của nó trong mối liên hệ với tình hình kinh tế - xã hội địa phương, đời sống người dân, các luật pháp, chính sách quy định về an sinh xã hội nói chung và hoạt động của các loại hình quỹ cộng đồng nói riêng Sự tồn tại và phát triển của Quỹ sẽ kết quả của sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét các sự vật, hiện tượng trong
xã hội với cái nhìn mang tính lịch sử của nó Việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của loại hình quỹ bảo hiểm và phúc lợi cũng phải đặt trong các bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội mà nó tồn tại; đồng thời cần nghiên cứu kỹ lưỡng sự biến chuyển trong các hoạt động của quỹ theo thời gian
9.2 Phương pháp thu thập thông tin
9.2.1 Trưng cầu ý kiến
Nghiên cứu tiến hành trưng cầu ý kiến của người dân tham gia quỹ
Dung lượng mẫu: 155
Cách thức lựa chọn mẫu: Ngẫu nhiên nhưng đảm bảo cân bằng về số lượng người được nhận và chưa được nhận lương, giữa nam và nữ
Cơ cấu mẫu: Trong 155 mẫu được lựa chọn, có 80 người trên 60 tuổi (52,1%) người đã được nhận lương; có 74 người (47.7%) là nữ
Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu được lựa chọn
Trang 2719
9.2.2 Phỏng vấn sâu
Mục đích phỏng vấn sâu là để thu thập các thông tin chính xác, cụ thể, có tính chiều sâu Để có những thông tin cụ thể, chính xác làm căn cứ phân tích hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi tại xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội
Số lượng phỏng vấn sâu 25 Trong đó:
15 nông dân tham gia quỹ
05 người dân không tham gia quỹ
02 cán bộ quản lý quỹ
02 đại diện chính quyền
01 chuyên gia về bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội ;
9.2.3 Phân tích tài liệu:
Nghiên cứu cũng thu thập và phân tích các tài liệu về lịch sử hình thành và phát triển quỹ; cơ chế thu chi, các báo cáo hàng năm của quỹ cũng như các bài báo, các tài liệu có thông tin về lịch sử hình thành, hoạt động, tác động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội với đời sống người tham gia
Trang 2820
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1 Khái niệm công cụ
1.1.1 Quỹ cộng đồng (Mô hình bảo hiểm dựa vào cộng đồng)
“Là hình thức bảo hiểm vi mô do cộng đồng, tổ chức phi chính phủ (tự nguyện và phi lợi nhuận) cung cấp dịch vụ cho các hộ gia đình với mục đích phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro
Mô hình này được hoạt động theo cơ chế chia sẻ rủi ro, tập trung quyền lực của những nhóm có cùng đặc trưng, lợi ích Mô hình này được tổ chức và quản lý ở cộng đồng và mang tính tự nguyện Các thành viên tham gia đồng thời là chủ sở hữu và người hưởng lợi” [23, tr.45]
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa trên của Viện Khoa học Lao động xã hội và Giz trong cuốn Thuật ngữ an sinh xã hội về quỹ cộng đồng Các đặc điểm, tính chất của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội nằm trong đặc điểm, tính chất của loại hình quỹ cộng đồng (mô hình bảo hiểm dựa vào cộng đồng nêu trên)
1.1.2 An sinh xã hội
Thuật ngữ này được sử dụng đầu tiên tại Mỹ (Luật An sinh xã hội – 1935) chỉ
sự bảo vệ trong bốn trường hợp: Già cả, chết, tàn tật và thất nghiệp Năm 1938, thuật ngữ an sinh xã hội được sử dụng làm tên gọi cho đạo luật quy định về các chế độ trợ cấp xã hội đang áp dụng tại New Zealand Năm 1952, Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã thông qua công ước 102 về an sinh xã hội Ở Việt Nam, an sinh xã hội được sử dụng lần đầu tiên tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về an sinh xã hội Cho đến nay, do sự phức tạp và đa dạng của an sinh xã hội nên tồn tại nhiều nhận thức khác nhau về lĩnh vực này An sinh xã hội cũng có những khác biệt giữa các quốc gia
Trang 2921
Có nguồn gốc từ tiếng Anh, Social security nhưng khi dịch sang tiếng Việt, ngoài an sinh xã hội, nó còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an toàn xã hội…với những ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau Theo nghĩa chung nhất, Social securiry là sự đảm bảo thực hiện các quyền con người được sống hòa bình, tự do làm
ăn, cư trú, di chuyển, tự do ngôn luận trong khuôn khổ của pháp luật; được bảo vệ, bình đẳng trước pháp luật; được học tập, có việc làm, nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già…Điều này cũng được thể hiện qua một số định nghĩa:
Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới: “An sinh xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh về thu nhập”
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO - 1984): “An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, những cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng hoặc tử vong An sinh xã hội cung cấp chăm sóc y tế và trợ giúp cho các gia đình có nạn nhân là trẻ em” [10, tr.11] Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh bảo hiểm xã hội và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức
Theo tác giả Hoàng Chí Bảo trong đề tài KX02.02/06-10: “An sinh xã hội là
sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho sự phát triển con người và xã hội An sinh xã hội là những bảo đảm xã hội cho con người tồn tại như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách
An sinh xã hội bao hàm trong nó cả những đảm bảo về an ninh để con người sống, làm việc, thực hiện được nhu cầu, lợi ích chính đáng, hợp lý của mình trong
Trang 3022
quá trình phát triển; con người nhận được từ xã hội những đảm bảo về cuộc sống, những bảo vệ trước những rủi ro, bất trắc, những tình huống bất thường đe dọa hoặc phá hủy trạng thái bình yên, quyền sống và sự thụ hưởng lợi ích của họ”
Trong “Thuật ngữ an sinh xã hội” của Viện Khoa học Lao động Xã hội (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) và GIZ thì an sinh xã hội được định nghĩa như sau:
“An sinh xã hội là hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước (bảo hiểm xã hội
và trợ giúp xã hội) và tư nhân (các chế độ không theo luật định và của tư nhân) nhằm giảm mức độ đói nghèo và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và
xã hội trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội” [23, tr.10]
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều cách nhìn nhận khác nhau về an sinh xã hội Điều này không chỉ gây ra tranh cãi ở Việt Nam mà còn là vấn đề của nhiều quốc gia Tuy nhiên, trong giới hạn của nghiên cứu này, tác giả chú trọng sử dụng định nghĩa của tổ chức Viện Khoa học Lao động Xã hội và GIZ (2011), vì định nghĩa này nhấn mạnh đến vai trò của cộng đồng nói chung và tư nhân nói riêng, với các chế độ không theo luật định Định nghĩa này công nhận sự tồn tại của các quỹ cộng đồng là một dạng thức nhỏ nằm trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam
1.1.3 Phúc lợi xã hội
Cũng giống an sinh xã hội, cũng có rất nhiều khái niệm và nhận thức nhau về phúc lợi xã hội Thậm chí mối quan hệ giữa phúc lợi xã hội và an sinh xã hội cũng có
sự khác biệt ở mỗi trường phái, mỗi quốc gia
Theo “Thuật ngữ an sinh xã hội” của ILLSA và GIZ (2011): “Phúc lợi là hoạt động của người dân, cộng đồng và tổ chức trong xã hội nhằm đảm bảo mức sống tối thiều và các điều kiện sống nhất định” [23, tr 53 – 54]
Trong nghiên cứu này, phúc lợi xã hội được coi là bộ phận thu nhập được phân phối lại để thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần cho người dân Người dân có thể nhận được các loại hỗ trợ về y tế, nghỉ dưỡng, học tập…mà không phải trả tiền
Trang 3123
1.1.4 Bảo hiểm xã hội
Theo Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH (2006): “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [18, tr.2]
“Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia” [18, tr.2]
“Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội”.[18, tr.2]
1.2 Các lý thuyết ứng dụng
1.2.1 Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng nhất trong công tác
xã hội Khởi nguồn từ lý thuyết tổng quát của Bertalaffy cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và bản thân các hệ thống này cũng là một phần của các hệ thống lớn hơn Lý thuyết hệ thống được Pincus và Minahan và các đồng sự áp dụng vào thực tiễn công tác xã hội và nó được phát triển và hoàn thiện trong công tác thực hành công tác xã hội bởi Germain và Giterman2
Trong công tác xã hội, hai loại thuyết hệ thống nổi bật và quan trọng nhất là thuyết hệ thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái Nghiên cứu này sử dụng thuyết
hệ thống sinh thái mà đại diện của nó là Hearn, Siporin, Germain và Gitterman Thuyết
hệ thống sinh thái nhấn mạnh đến sự tương tác của con người vào môi trường sinh thái
mà mình sinh sống Sự can thiệp vào một điểm bất kì trong hệ thống sẽ tạo ra sự thay đổi của cả hệ thống
Theo định nghĩa của “Lý thuyết công tác xã hội hiện đại”:
2 Malcolm Payne (1997 – Trần Văn Kham dịch), Modern Social Theories, Lyceum Books INC, USA
Trang 3224
“Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt đông thống nhất.” Theo lý thuyết này, con người phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ Công tác xã hội chú ý đến 3 hệ thống: (1) Các hệ thống thân tình hay tự nhiên như gia đình, bạn bè, người thân hay đồng nghiệp; (2) Các hệ thống chính thức như cá nhóm bạn bè, đồng nghiệp, hay các tổ chức công đoàn; (3) Các hệ thống tập trung như của các tổ chức xã hội như bệnh viện, trường học…
Các hệ thống luôn có sự tác động lên cá nhân Có thể đó là sự tác động tiêu cực hoặc tích cực Bên cạnh đó không phải tất cả mọi cá nhân đều có khả năng tiếp cận sự
hỗ trợ như nhau về nguồn lực có từ các hệ thống tồn tại xung quanh Như vậy mỗi cá nhân chịu sự tác động khác nhau từ các hệ thống mà họ tồn tại Các nhóm đối tượng yếu thế chịu sự tác động của nhiều hệ thống và mỗi cá nhân, mỗi nhóm đặc thù lại có khả năng tiếp cận khác nhau Nghiên cứu sẽ đi sâu phân tích sự tương tác giữa những người tham gia quỹ, giữa người tham gia quỹ với cán bộ điều hành và kiểm soát quỹ các đối tượng yếu thế với nhau, đồng thời cũng nghiên cứu khả năng tiếp cận quỹ của các đối tượng yếu thế, một trọng tâm của công tác xã hội…Từ đó sẽ khái quát được sự tương tác của cả hệ thống lớn là Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, Thanh Oai,
Hà Nội Sự tương tác đó sẽ phản ánh được tổ chức và hoạt động của quỹ trong việc trợ giúp và đảm bảo an sinh xã hội cho người yếu thế nói riêng và nông dân Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội nói chung
Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai,
Hà Nội cũng là một tiểu hệ thống trong hệ thống lớn hơn là hệ thống an sinh xã hội Việt Nam Do đó, tổ chức và hoạt động của quỹ cũng chịu ảnh hưởng chi phối của chính sách tổ chức và hoạt động của cả hệ thống pháp luật, chính sách an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội Việt Nam nói riêng… Không những thế, hoạt động cuả quỹ cũng nằm trong mối liên hệ với các hệ thống xã hội khác, có mối quan hệ gắn bó với nhiều tổ chức khác…Do đó, nghiên cứu cũng tập trung vào nghiên cứu mối liên hệ,
Trang 3325
sự tác động giữa Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội và các hệ thống xung quanh
Nghiên cứu cũng tập trung đánh giá tác động của quỹ đối với đời sống của dân
cư tại địa phương Tác động của quỹ đối với đời sống người dân là tiêu chí quan trọng
để xác định hiệu quả hoạt động của quỹ
Hình 1.1: Các hệ thống có ảnh hưởng đến hoạt động của Quỹ
1.2.2 Lý thuyết nhu cầu
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology), trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the Third Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa hành
vi (Behaviorism)
Chính quyền
địa phương
Hệ thống kiểm soát quỹ
Các tổ chức
chuyên môn
Hoạt động của Quỹ
Luật pháp, chính sách về ASXH
Người dân tham gia Ban điều hành quỹ
Trang 3426
Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu
ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước
Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:
Hình 1.2: Thang nhu cầu Maslow
Nhu cầu cơ bản ((basic needs): bao gồm các nhu cầu cơ bản của con
người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục…Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất Maslow cho rằng, những nhu cầu
ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn
Trang 3527
và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được
Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety needs): Nhu cầu an toàn và an ninh
này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai,
gặp thú dữ…
Nhu cầu về xã hội ((social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu
mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu
về tình cảm, tình thương (needs of love) Nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh
Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi
là nhu cầu tự trọng vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân
Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): Khi nghe về nhu
cầu này: “thể hiện mình” chúng ta khoan vội gán cho nó ý nghĩa tiêu cực Không phải ngẫu nhiên mà nhu cầu này được xếp đặt ở mức độ cao nhất Nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm” Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng
của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội
Thông qua lý thuyết về Thang bậc nhu cầu được đề xướng bởi nhà tâm lý học Abraham Maslow, chúng ta sẽ đi tìm hiểu nhu cầu của các nhóm dân cư tham gia và không tham gia quỹ Từ đó chúng ta đối chiếu với những hoạt động của quỹ, xem xét mức độ thích hợp của những hoạt động đó với những nhu cầu của nhóm đối tượng Phù hợp với nhu cầu của đối tượng là yêu cầu tiên quyết, không thể thiếu quyết định hiệu quả của các hoạt động trợ giúp; mức độ phù hợp với nhu cầu của người dân sẽ
Trang 3628
quyết định mức độ tham gia và gắn bó với quỹ, một trong những tiêu chí quan trọng trong việc xác định tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân tại
xã Thanh Văn, huyện Thanh Oại, Hà Nội
Xã Thanh Văn là một xã vùng chiêm trũng, nằm ở phía đông của huyện Thanh Oai, Hà Nội Thanh Văn cách trung tâm Hà Nội khoảng 20km, diện tích đất tự nhiên là
600 ha trong đó đất 2 vụ lúa là 444,5 ha, dân số 7000 người3
Trước Đổi mới, Thanh Văn là một xã nghèo của huyện Thanh Oai, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, nhà tranh vách đất, cơ sở vật chất của xã vô cùng yếu kém: không có trụ sở Ủy ban nhân dân; giao thông trong làng, liên thôn, liên xã rất khó khăn; sản suất gặp nhiều khó khăn với năng suất lúa chỉ đạt 100 kg/sào/vụ; văn hóa, giáo dục cũng hạn chế do thiếu điều kiện phát triển…
Sau Đổi mới, với chiến lược phát triển có chiều sâu, phù hợp với tình hình kinh
tế địa phương, Thanh Văn không ngừng phát triển cả về kinh tế, văn hóa, giáo dục Hiện nay, cơ cấu kinh tế của xã đã trở nên đa dạng, có kinh tế dịch vụ, có tiểu thủ công nghiệp Hoạt động nông nghiệp cũng không ngừng được công nghiệp hóa theo hướng sản xuất hàng hóa: toàn xã có trên 50 trang trại hoạt động với hiệu quả kinh tế cao, xã cũng thực hiện dồn điển đổi thửa được diện tích đất canh tác ở các thôn…Xã cũng tiến hành xây dựng 26 km đường bê tông nội đồng, liên thôn, liên xã để tạo điều kiện cho sinh hoạt và sản xuất của người dân
Hoạt động văn hóa giáo dục cũng đạt được nhiều thành tựu, mỗi năm xã có
20-30 học sinh đỗ vào các trường đại học chính quy Thu nhập trung bình của người dân đạt 20 triệu/người/năm Đây là một mức thu nhập cao so với nhiều vùng nông thôn
Chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội có nhiều đặc thù so với các vùng nông thôn khác không chỉ ở Hà Nội và trong
3 UBND xã Thanh Văn (2012), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2012
Trang 3729
phạm vi cả nước đặc biệt là trong công tác quy hoạch và sử dụng đất đai Thanh Văn là một trong số ít trong các xã nông thôn từ chối tiếp nhận các dự án công nghiệp mà chú trọng đến phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại để nâng cao đời sống của người dân
1.4 Đặc điểm và hoạt động của một số quỹ lương hưu dành cho nông dân
Hiện nay, Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai,
Hà Nội đang là một mô hình quỹ cộng đồng nhận được sự quan tâm của cấp Bộ, ngành
có liên quan và nhiều địa phương khác Tuy nhiên, có rất nhiều quỹ cộng đồng đã ra đời và hoạt động trước loại hình quỹ ở Thanh Văn Những người xây dựng và phát triển quỹ ở Thanh Văn đã nghiên cứu, học hỏi cách thức xây dựng và phát triển quỹ tại các cộng đồng này
Nhắc đến Bảo hiểm nông dân được thực hiện thí điểm tại một số tỉnh, thành phố thì không thể không nhắc đến Quỹ Bảo hiểm xã hội nông dân tỉnh Nghệ An Đây là địa phương mà loại hình này phát triển có quy mô và ảnh hưởng lớn nhất Quỹ Bảo hiểm
xã hội nông dân Nghệ An được UBND tỉnh Nghệ An ký quyết định thành lập ngày 28/04/1998 Ngày 30 tháng 07 năm 1999, UBND tỉnh ban hành Điều lệ tạm thời Bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An Ngày 10 tháng 04 năm 2001, UBND tỉnh ban hành chính thức Điều lệ Bảo hiểm xã hội nông dân Đến cuối năm 2006, theo số liệu của cơ quan Bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An, đã có 86.769 người lao động của 314 xã thuộc 11 huyện/thị xã/thành phố tham gia chương trình; 96 đối tượng được hưởng lương hưu hàng tháng và 3.252 đối tượng nhận trợ cấp một lần Như vậy, số đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chiếm 5,7% lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của Nghệ An, bằng 6,7% tổng số đối tượng không thuộc diện tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc Tuy nhiên, do nhiều nhân tố trong đó có thiểu tính bền vững
Trang 3830
về tài chính, bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An đã được nghiên cứu chuyển sang Bảo hiểm xã hội tự nguyện4
Ngoài ra còn có các quỹ lương hưu cộng đồng tại Dị Sử, Mỹ Hào, Hưng Yên và
quỹ của các chi hội nông dân tỉnh Bắc Ninh
Trong quá trình công nghiệp hóa, đất nông nghiệp được chuyển đổi để xây dựng các khu công nghiệp Điều này làm nảy sinh vấn đề về việc làm, thu nhập của những người nông dân cao tuổi Từ thực tế địa phương, chính quyền xã Dị Sử, Mỹ Hào, Hưng Yên đã quyết định thành lập “Quỹ chăm sóc công dân hết tuổi lao động” Nguồn tài chính quỹ được huy động từ công tác xã hội hóa, kêu gọi đóng góp của các doanh nghiệp trên địa bàn, đóng góp của người dân xã từ làm ăn xa và trích tiền chuyển nhượng đất công Do chủ trương đúng đắn, quỹ đã huy động được rất nhiều cá nhân, tập thể đóng góp Nawm 2004, nguồn tài chính quỹ lên đến 1 tỷ đồng Số vốn này được gửi ngân hàng và lấy lãi suất để trả lương cho người cao tuổi trên 60 tuổi không hưởng chế độ gì của Nhà nước Quỹ do Hội người cao tuổi và Hội nông dân xã quản lý, chịu
sự giám sát của của UBND xã Đến nay, nguồn tài chính quỹ đã lên đến 5 tỷ và thực hiện chi trả chế độ cho trên 1000 người cao tuổi tại địa phương Mức chi trả tương đối thấp so với Thanh Văn: Năm 2008 là 40.000 đồng/người/tháng (đối với người từ 60 đến 69 tuổi) và 50.000 đồng/người/tháng (đối với người từ 70 tuổi trở lên).5
Một địa phương khác thành lập quỹ lương hưu nông dân từ rất sớm là thôn Ất, Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh thành lập năm 1992 Các thành viên tham gia tình nguyện đóng 100 kg thóc chia đều cho 10 năm Mỗi tháng thành viên nhận lại 10 kg thóc được gọi là lương hưu Khi thành viên mất, quỹ sẽ hoàn trả số tiền tương ứng 100
kg thóc và chi mai tang phí Số thóc các thành viên đóng sẽ được quy ra tiền để cho các
Trang 3931
hộ dân ở địa phương vay lấy lãi Từ 172 thành viên ban đầu, đến nay, quỹ đã có trên
500 thành viên tham gia Nguồn tài chính quỹ lên đến 2 tỷ trong đó có 600 triệu cho người dân địa phương vay để phát triển kinh tế Mức chi trả hiện nay của quỹ lương hưu thôn Ất , phường Hạp Lĩnh, Bắc Ninh cũng ở mức cao so với các địa phương khác trong tỉnh: 65.000 đồng/người/tháng
Ngoài các loại hình quỹ được nêu trên, còn có rất nhiều địa phương khác phát triển các loại hình quỹ lương hưu nông dân như Nghệ An, Bắc Ninh, Bắc Giang…Đồng thời, với ảnh hưởng của các loại hình quỹ, đặc biệt từ tác động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội, nhiều địa phương khác đã tham quan, học hỏi kinh nghiệm để xây dựng mô hình
Như vậy, có thể thấy rằng, nhu cầu về loại hình quỹ cộng đồng để chi trả lương hưu cho người nông dân là một nhu cầu cấp thiết, được nhiều địa phương quan tâm Việc tồn tại và phát triển của các loại hình quỹ này không phải chỉ là thiểu số một địa phương mà đã có ở rất nhiều địa phương, do đó vấn đề nghiên cứu càng trở nên cấp thiết do tính phổ biến của một mô hình không chính thức (không do nhà nước quy định
Trang 40Đầu năm 2000, với tình hình kinh tế ngày càng phát triển, Đảng ủy xã Thanh Văn
có nghị quyết tái thành lập quỹ hưu trí dành cho nông dân xã và xác định đây là việc làm trọng tâm để đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trong xã khi về già Mỗi thành viên tham gia quỹ đóng góp 20.000 đồng/người/tháng để đến 60 tuổi nhận lương hưu Tuy nhiên, do chưa tạo ra được sự tin tưởng của người dân nên đến năm 2009 quỹ mới huy động được gần 250 thành viên tham gia với số vốn chỉ khoảng 1 tỷ đồng Nếu so
về giá trị tiền quỹ, Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn thời kỳ này có
số vốn thấp hơn Quỹ lương hưu của nông dân xã Dị Sử, Mỹ Hào, Hưng Yên (năm
2008 có 4,1 tỷ) và ở thành phố Bắc Ninh (năm 2013 là gần 4 tỷ đồng)
Đến năm 2010, Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn có bước ngoặt trong sự phát triển của mình với nguồn tài chính tiết kiệm từ xây dựng cơ bản ở địa