1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp tác giáo dục việt nam cộng hòa liên bang đức từ 1990 đến nay

96 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các lĩnh vực hợp tác quốc tế, hợp tác giáo dục nhằm kết hợp thế mạnh của giáo dục Việt Nam với những kinh nghiệm giáo dục của các nước trên thế giới là một trong những bài học quan

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐÀO HƯƠNG THUỶ

HỢP TÁC GIÁO DỤC VIỆT NAM – CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC

TỪ 1990 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐÀO HƯƠNG THUỶ

HỢP TÁC GIÁO DỤC VIỆT NAM – CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC

TỪ 1990 ĐẾN NAY

Chuyên ngành : QUAN HỆ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Giáo viên hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN NGỌC ANH

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài: “Hợp tác giáo dục Việt Nam – Cộng hoà liên bang Đức từ 1990 đến nay” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Luận văn có sự kế thừa, tham khảo các công trình nghiên cứu của những người đi trước và có sự bổ sung những tư liệu, kết quả nghiên cứu mới, chưa được công bố bất cứ công trình nào Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, được sử dụng trung thực

Tác giả luận văn

Đào Hương Thuỷ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Ngọc Anh – người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Qua đây, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, các thầy cô giáo trong khoa Quốc tế học đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi học và thực hiện luận văn

Tôi cũng xin cảm ơn các trung tâm thư viện, các viện nghiên cứu đã giúp

đỡ tôi về nguồn tài liệu Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tác giả của những bài viết, những công trình nghiên cứu có liên quan mà tôi đã tham khảo, qua đó đã giúp tôi có được nguồn tư liệu phong phú để hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 08 tháng 04 năm 2019

Tác giả luận văn

Đào Hương Thuỷ

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 13

7 Kết cấu của luận văn 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP TÁC GIÁO DỤC VIỆT NAM - CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC 15

1.1 Một số khái niệm cơ bản 15

1.2 Lịch sử quan hệ Việt Nam - Đức 18

1.3 Khái quát về kinh tế-chính trị và văn hoá, giáo dục Đức 23

Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DUNG TRONG HỢP TÁC GIÁO DỤC VIỆT NAM - CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC TỪ 1990 ĐẾN NAY 29

2.1 Hợp tác chiến lược về phát triển nguồn nhân lực 29

2.2 Hợp tác trong các lĩnh vực khác 50

Tiểu kết chương 2: 57

CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT, DỰ BÁO VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HỢP TÁC GIÁO DỤC VIỆT NAM - CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 59

3.1 Đánh giá về quá trình hợp tác giáo dục Việt Nam – CHLB Đức hiện nay 59

3.1.1 Thuận lợi 59

3.1.2 Khó khăn 63

Trang 6

3.1.3 Triển vọng 66

3.2 Tác động của hợp tác giáo dục Việt- Đức và những đóng góp của nó đến đời sống xã hội của Việt Nam 71

3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác giáo dục trong giai đoạn hiện nay 75

Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế kỷ XXI đã mở ra mối hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng giữa các dân tộc, làm cho vận mệnh của mỗi dân tộc không thể tách rời vận mệnh chung của cả loài người Để có được sự phát triển bền vững và toàn diện, bên cạnh nội lực, các dân tộc đang rất nỗ lực tranh thủ sức mạnh từ bên ngoài Vì vậy, trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, hợp tác và hội nhập quốc tế nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp thúc đẩy sự phát triển của đất nước là một vấn đề chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển của mỗi quốc gia

Trong các lĩnh vực hợp tác quốc tế, hợp tác giáo dục nhằm kết hợp thế mạnh của giáo dục Việt Nam với những kinh nghiệm giáo dục của các nước trên thế giới là một trong những bài học quan trọng để phát triển đất nước

Giáo dục là một lĩnh vực đặc biệt, vì vậy được Đảng xác định là quốc sách

dục được coi là lĩnh vực có tính đặc thù cao Thực tiễn ở Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh, đầu tư cho giáo dục là đầu tư trực tiếp cho con người, nguồn nhân lực quyết định quá trình sản xuất xã hội, do vậy đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững trong tương lai

Việt Nam là nước đi sau so với các nước trong khu vực và trên thế giới

Sự nghiệp đổi mới càng phát triển, quá trình hội nhập quốc tế càng được đẩy mạnh thì ý nghĩa của bài học về sự hợp tác giáo dục càng có tính thời sự sâu sắc Nhận thức đúng vị trí, vai trò của giáo dục và tầm quan trọng của việc hợp tác giáo dục là một trong những điều kiện không thể thiếu để giúp chúng

ta tìm ra những đối sách phù hợp, đưa sự nghiệp đổi mới tiếp tục tiến lên giành nhiều thắng lợi, sánh vai cùng bè bạn năm châu trên thế giới

Hà Nội, tr.26.

Trang 8

Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay Đổi mới tư duy đối ngoại, đường lối đối ngoại đã được công bố tại diễn đàn các kỳ Đại hội Từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XII (2016) đều đã khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo, nhạy bén trong việc hoạch định và thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng ta Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn

có vai trò quan trọng đối với phát triển và an ninh của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất”2

Để thực hiện chủ trương có tính chiến lược đó đòi hỏi chúng ta phải có những hiểu biết khoa học về vai trò và nhiệm vụ của hợp tác quốc tế với các nước trên thế giới, từ đó đưa ra các giải pháp đúng đắn và hiệu quả trong hợp tác hợp tác quốc tế, đặc biệt là hợp tác giáo dục, nhằm kết hợp nội lực và ngoại lực tạo nên tổng lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước

Việt Nam hiện nay quan hệ ngoại giao với khoảng 180 nước trên thế giới Trong số các đối tác của Việt Nam, Cộng hoà liên bang Đức (CHLB Đức) là một đối tác chiến lược, có quan hệ ngoại giao với chúng ta từ rất sớm

và rất đặc biệt Đức là một quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu, đã nhiệt tình giúp đỡ, viện trợ và hợp tác với Việt Nam trên rất nhiều các lĩnh vực khác nhau trong cả thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xây dựng đất nước hiện nay Trong số các lĩnh vực Đức hợp tác với Việt Nam, nổi lên

là hợp tác giáo dục Sự hợp tác này đang có xu hướng ngày càng phát triển

Mở cửa hội nhập, chủ động hợp tác giáo dục với Đức để học tập kinh nghiệm là đòi hỏi khách quan và cũng chính là điều kiện thuận lợi để phát huy

sự kết hợp nội lực với ngoại lực nhằm tạo sức mạnh tổng hợp cho giáo dục

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, trang 35.

Trang 9

Việt Nam, đây vừa là yêu cầu tất yếu, vừa là nhiệm vụ quan trọng với một đối tác ân tình và tin cậy như Đức

Với lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề Hợp tác giáo dục Việt Nam - Cộng hoà Liên bang Đức giai đoạn 1990 - nay làm đề tài nghiên cứu luận

văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan

Nghiên cứu vấn đề hợp tác giáo dục Việt Nam - Cộng hoà Liên bang Đức đã được các nhà khoa học ít nhiều bàn đến Sau khi tham khảo các công

trình trước đó về mảng đề tài này, tác giả tạm chia thành các nhóm vấn đề sau đây:

Thứ nhất, nhóm tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực ngoại giao Việt Nam, về hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá

Đây là mảng tư liệu khá phong phú, được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau như quốc tế học, chính trị học, ngoại giao học hay văn hoá học… Ở đây chúng tôi tập trung tham khảo những công trình nghiên cứu có liên quan đến

đề tài trên bình diện lý thuyết, với mục đích lấy đó làm cơ sở vận dụng vào nội dung nghiên cứu của luận văn

Trước hết phải kể đến cuốn sách Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại giai đoạn 1986-2000 (xuất bản năm 2001, NXB Thanh

niên) của tác giả Nguyễn Quang Vinh Cuốn sách đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết nhất định về hoạt động đối ngoại của Đảng ta trong chặng đường đầu của thời kỳ mở của hội nhập quốc tế cũng như là quan điểm của Đảng về công tác ngoại giao Tuy nhiên, cuốn sách này chỉ dừng lại ở việc đưa ra những hoạt động chung về đối ngoại mà chưa có sự phân tích sâu sắc

về từng đối tác cụ thể của Việt Nam

Chủ đề ngoại giao tiếp tục được tác giả Nguyễn Phúc Luân đặc biệt quan tâm trong hai tác phẩm của mình Cuốn sách thứ nhất của tác giả là

Trang 10

Ngoại giao Việt Nam vì sự nghiệp giành độc lập tự do(1945-1975) được xuất bản năm 2001 và cuốn thứ hai là Ngoại giao Việt Nam từ thuở dựng nước đến trước cách mạng tháng Tám 1945 được xuất bản năm 2002 tại Nxb CTQG,

Hà Nội Đây là hai cuốn sách được nghiên cứu một cách khá cơ bản, công phu về ngoại giao Việt Nam từ thuở dựng nước cho đến các thời kỳ lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, qua đó cung cấp cho người đọc những hiểu biết khái quát về ngoại giao Việt Nam Hai cuốn sách này giúp tác giả có những kiến thức nền tảng trong quá trình thực hiện đề tài luận văn này

Năm 1986 được đánh dấu là thời khắc Việt Nam bắt đầu chuyển đổi từ

mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế Những tư tưởng chỉ đạo theo tinh thần canh tân, đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã mở ra nhiều vận hội mới cho Việt Nam Từ đây, kinh tế đất nước có sự chuyển mình mạnh mẽ, cuộc sống của nhân dân

có sự thay da, đổi thịt Trong giới khoa học, những nghiên cứu về hội nhập quốc tế và vai trò của nó cũng được quan tâm nhiều hơn từ góc độ chuyên

môn Có thể kể đến những công trình nghiên cứu về chủ đề này như Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ở Việt Nam của tác giả Vũ Văn Hiền (2006); Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của tác giả Dương

Ngọc Hoà (2007), Nxb CTQG, Hà Nội Đây là những nghiên cứu cơ bản về hội nhập quốc tế trong bối cảnh Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa hiện nay Thông qua các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã có những phân tích, lý giải mang tính đặc thù của Việt Nam về quá trình xây dựng, phát triển trong bối cảnh hội nhập, mở cửa hiện nay

Một số công trình viết về chủ đề toàn cầu hoá có thể kể đến ở đây là

cuốn Chủ quyền kinh tế trong một thế giới đang toàn cầu hoá (1999) của Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Toàn cầu hoá và vai trò quốc gia của Đinh Chí Cương (2002), Thông tấn xã Việt Nam; hay Mối đe doạ của toàn cầu

Trang 11

hoá của Edwar S Hermam (2000), Viện Thông tin KHXH, số 2000-22; Vấn

đề toàn cầu hoá và sự phân hoá ở các nước đang phát triển của Elianốp A (2001), Thông tin những vấn đề lý luận, số 13 - 200; Toàn cầu hoá, cơ hội

và thách thức trong tiến trình Việt Nam hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới và Phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế, thực hành tiết kiệm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội IX của Đảng của Cao

Sĩ Kiêm, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 1 (1999) và số 34 (2002); Toàn cầu hoá và khu vực hoá (1999) của Vũ Khoan, Tạp chí Cộng sản, số 4; hay Nhập khẩu công nghệ và năng lực công nghệ nội sinh của Hoàng Xuân Long

(1999), Tạp chí Thông tin Lý luận, số 12 Những công trình nghiên cứu này tuy phân tích vấn đề toàn cầu hoá ở những lát cắt khác nhau nhưng nhìn

chung đều đề cập tới toàn cầu hoá ở những nội dung như: bản chất của toàn cầu hoá, vai trò, tác động của toàn cầu hoá và các quốc gia cần làm gì để

có thể thích nghi với toàn cầu hoá Đây là những vấn đề ít nhiều thuộc

khung lý thuyết của luận văn, chúng tôi lấy đó làm kiến thức nền tảng trong quá trình triển khai đề tài này

Những khảo sát trên cho thấy, mặc dù nguồn tư liệu tham khảo vềlĩnh vực ngoại giao Việt Nam, về hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá là khá phong phú

nhưng hầu hết đây là những công trình nghiên cứu cơ bản Riêng mảng tư liệu viết về ngoại giao Việt Nam thì hầu hết khai thác ở nội dung ngoại giao nói chung, không đề cập tới một đối tác cụ thể nào

Thứ hai, nhóm tài liệu nghiên cứu về chủ trương, chính sánh đối ngoại của Đảng trong giai đoạn hiện nay

Tài liệu nghiên cứu về chủ đề này có thể kể đến các công trình sau đây:

Trước hết, đó là cuốn sáchĐổi mới tư duy và công cuộc đổi mới đất nước ở Việt Nam (2008), của tác giả Nguyễn Duy Quý Nxb KHXH, Hà Nội

Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích tư duy đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 Từ đây, Đảng lãnh

Trang 12

đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng, phát triển đất nước, mở cửa hội nhập và giao lưu quốc tế

Trong một nghiên cứu chung tác giả Trần Mưu và Vũ Quang Vinh lại

đi sâu làm rõ quan điểm của Đảng về hội nhập quốc tế trong cuốn sách Quan

hệ quốc tế những năm đầu thế kỷ XXI, vấn đề, sự kiện và quan điểm (2003),

Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Cuốn sách phân tích về bối cảnh thời đại trong những năm đầu thế kỷ XXI từ đó đưa ra những dự báo và quan điểm về tính tất yếu của hội nhập quốc tế

Ở một công trình khác, tác giả Trần Mưu lại có sự hợp tác chung với tác giả Nguyễn Hoàng Giáp để cho ra đời cuốn sách dưới dạng hỏi - đáp về

Quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam hiện nay (2009), Nxb

Chính trị - Hành chính, Hà Nội Đây là cuốn sách viết ngắn gọn, dễ hiểu dễ nhớ, giúp cho người đọc có hiểu biết sâu rộng hơn từ nhiều khía cạnh khác nhau về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam

Sẽ là thiếu sót nếu không kể đến cuốn sách Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước (2007) của tác giả Hoàng Đức Nhuận, Nxb Quân đội nhân

dân Đây là cuốn sách nói về vai trò của Đảng trong quá trình lãnh đạo nhân dân bước vào thời kỳ đổi mới, hợp tác, hội nhập quốc tế

Những kiến thức cơ bản xoay quanh chủ đề chủ trương, chính sánh đối ngoại của Đảng trong giai đoạn hiện nay còn được trình bày dưới dạng Tập

bài giảng về Quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam (Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội) của Học viện Chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh (2007) Cuốn sách được viết một cách cô đọng, dễ hiểu và được trình bày theo logic chặt chẽ đã gợi mở cho người đọc nhiều hướng nghiên

cứu khác nhau về quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoại của Việt Nam

Thứ ba, nhóm tài liệu nghiên cứu về hợp tác, ngoại giao giữa Việt Nam

- Cộng hoà liên bang Đức và những tài liệu có liên quan

Trong quá trình triển khai đề tài này, chúng tôi ý thức rất rõ trong việc sưu tầm và tìm kiếm tài liệu có liên quan bằng cả tiếng Việt và tiếng Đức

Trang 13

Tuy nhiên, do đây là một đề tài mới, lại thuộc lĩnh vực nghiên cứu cụ thể nên chúng tôi đã gặp những khó khăn nhất định Theo những gì chúng tôi được biết thì cho đến hiện nay, các công trình nghiên cứu về ngoại giao, hợp tác giữa Việt Nam với Cộng hoà liên bang Đức còn rất hiếm Đây thực sự là một khó khăn cho chúng tôi khi bắt tay vào thực hiện đề tài luận văn này

Tuy nhiên, với tinh thần cầu thị và làm việc nghiêm túc, chúng tôi đã

nỗ lực cao nhất trong điều kiện cho phép và đã sưu tầm được một số công trình sau đây:

Tài liệu bằng tiếng Việt

Trước hết phải kể đến cuốn Kỷ yếu Hội thảo Ngoại giao nhân dân Việt Nam - Đức, nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa

CHXHCN Việt Nam và CHLB Đức của Hội hữu nghị Việt Nam - Đức (2010) Với tác giả, đây thực sự là một tài liệu quý, mặc dù quyển kỷ yếu này chỉ là tập hợp các bài viết mang tính chất của bài báo chứ chưa phải là một công trình nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ quốc tế học Tuy nhiên, những bài viết này đã cung cấp cho tác giả nhiều thông tin quan trọng với độ chính xác cao Đây thực sự là những gợi mở cho tác giả trong việc thực hiện đề tài luận văn này

Chủ đề hợp tác, ngoại giao giữa Việt Nam và Cộng hoà liên bang Đức còn được các nhà khoa học bàn đến tại các hội thảo quốc tế được tổ chức giữa hai quốc gia Kỷ yếu hội thảo là tập hợp các bài viết có giá trị xung quanh chủ

đề này và đã được xuất bản thành sách Theo hướng nghiên cứu đó, có thể kể

đến cuốn sách Giảng dạy tiếng Đức trong bối cảnh liên văn hoá (2015) của

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Cuốn sách bao gồm các bài nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và các nhà khoa học Đức được trình bày tại Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ 3 năm 2015 được tổ chức tại Đại học Quốc gia

Hà Nội Trong cuốn sách này, các khía cạnh của hợp tác giáo dục Việt Nam - Đức thông qua việc giảng dạy ngôn ngữ đã được đề cập ở nhiều nội dung

Trang 14

khác nhau Đây thực sự là nguồn tài liệu quý giá để tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn của mình

Trong quá trình nghiên cứu và sưu tầm tài liệu, ngoài rất ít những công

trình có liên quan trực tiếp tới đề tài Hợp tác giáo dục Việt Nam - Cộng hoà Liên bang Đức giai đoạn 1990 đến nay, tác giả còn tham khảo những công

trình nghiên cứu khác có sự bổ trợ nhất định cho kiến thức chuyên ngành Trong số đó có thể đến tác giả Vũ Thanh Hương và Nguyễn Cẩm Nhung với

công trình Thương mại Việt Nam - Đức trước thềm hiệp đỉnh thương mại tự

do giữa Việt Nam và liên minh Châu Âu (EVFTA); Đinh Công Tuấn (2015) với Vai trò của Nhà nước và các tổ chức xã hội dân sự trong hệ thống kiểm soát biến đổi xã hội cấp vùng ở Cộng hoà liên bang Đức, gợi mở cho Việt Nam; hay Nguyễn Việt Hà với công trình Kinh nghiệm đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công tại các nước Châu Âu (2016) Đây là các công trình được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, trong đó có những

nghiên cứu về Cộng hoà liên bang Đức

Ngoài những tài liệu tham khảo như đã nêu và phân tích ở trên có thể

kể đến một vài nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn của tác giả Trước hết, có thể kể đến khoá luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Thị Ngọc Tú, khoa

Quốc tế học với đề tài Bước đầu tìm hiểu hệ thống giáo dục đại học Cộng hoà liên bang Đức Đây là đề tài do Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Quang Minh, một

chuyên gia về quốc tế học có rất nhiều nghiên cứu về CHLB Đức và quan hệ Việt Nam với CHLB Đức hướng dẫn Khoá luận đã có những bước đầu tìm hiểu về hệ thống giáo dục đại học ở Đức, nêu và phân tích, đánh giá những nội dung, đặc điểm của nền giáo dục Đức nói chung và một số trường đại học điển hình ở Đức nói riêng Tuy nhiên, do đây chỉ là một khoá luận hệ cử nhân nên công trình còn có những hạn chế nhất định trong nghiên cứu Hơn nữa, đề tài này chỉ khai thác ở góc độ nghiên cứu về hệ thống các trường đại học của CHLB Đức nên tuy có sự gần gũi với đề tài khoá luận của chúng tôi nhưng không hề trùng lặp Ngoài ra, còn có thể kể đến luận văn thạc sĩ quốc tế học của

Trang 15

tác giả Lê Minh Trang với nghiên cứu về Cộng đồng người Việt Nam ở CHLB Đức giai đoạn 1990-2015 (2017)… Những công trình kể trên, từ góc độ quốc tế

học, các tác giả đều có những tìm hiểu nhất định tới CHLB Đức Đây là những

tư liệu quan trọng tác giả đã tham khảo và lấy đó làm những kiến thức bổ trợ cho luận văn của mình

Những nghiên cứu trên đây giúp tác giả hiểu được các khía cạnh khác nhau của hợp tác Việt - Đức và vai trò của hợp tác ngoại giao trong bối cảnh

mở cửa hiện nay Tuy nhiên, những công trình này chủ yếu dừng lại ở việc nghiên cứu những vấn đề cụ thể, có liên quan gián tiếp đến chủ đề luận văn của tác giả Mảng tư liệu về vấn đề hợp tác giáo dục Việt Nam - Cộng hoà Liên bang Đức vẫn còn quá ít và vì thế nó là khoảng trống cần phải có sự đầu

tư nghiên cứu

Tài liệu bằng tiếng Đức

Trước hết phải kể đến công trình “Deutsche Auslandsschularbeit: Rohstoff Bildung” (Hoạt động giáo dục phổ thông của Đức tại nước ngoài), xuất bản năm 2011 của Bundesverwaltungsamt-Zentralstelle fuer das Auslandsschulwesen (Uỷ ban Giáo dục phổ thông Đức tại nước ngoài, tr.8 – tr.11) Nội dung chính cuốn sách nói về các hoạt động hợp tác giáo dục của Đức với các trường đối tác tại nước ngoài, chủ yếu trong hệ giáo dục phổ thông Cụ thể cuốn sách nói về tầm nhìn, phương hướng, triển vọng của Tổ chức phi chính phủ ZfA (Uỷ ban giáo dục phổ thông Đức tại nước ngoài) trong các khía cạnh giáo dục đối với các trường đối tác của mình (bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông) tại nước ngoài Đây là một tài liệu quan trọng, giúp chúng tôi hiểu được những hoạt động hợp tác cụ thể, thiết thực của Đức với các đối tác nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục phổ thông Tuy nhiên, cuốn sách mới chỉ đề cập tới sự hợp tác chung chung chứ không phải với một quốc gia cụ thể nào

Các khía cạnh giáo dục được nhắc đến trong cuốn sách đó đều liên quan trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống (sáng kiến, ý tưởng mới

Trang 16

“Initiaven”, mạch tư tưởng “Denkanstösse” Kinh tế “Wirtschaft”, lĩnh vực hoạt động “Arbeitsfelder”, kì thi “Prüfungen”, bồi dưỡng chuyên môn

“Fortbildung”) Tiếp đó còn là những danh mục tổng kết cũng như nói về hiện trạng của các trường đối tác tại nước ngoài “Auslandsschulen vor Ort” (đánh giá trên khía cạnh xã hội “Soziales”, giao thoa văn hoá “Kulturelle Begegnung”, môi trường “Umwelt”, thể thao “Sport”) Một phần đáng chú ý trong cuốn sách đó là phần “Alumni” – gặp gỡ các cụu sinh viên, để mở rộng vòng tròn giáo dục, văn hoá và xã hội

Tóm lại, từ việc phân tích tình hình nghiên cứu đề tài trên cho thấy, vấn

đề Hợp tác giáo dục Việt Nam - Cộng hoà Liên bang Đức đã được các tác giả

trong nước và ngoài nước bàn đến ít nhiều ở những nội dung khác nhau Đây chính là nguồn tư liệu quý giá chúng tôi kế thừa trong quá trình triển khai luận văn của mình Tuy nhiên, sau khi khảo sát các công trình trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau đây:

- Thứ nhất, các công trình trước đó chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề ngoại giao, hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề hợp tác giáo dục Việt Nam - Cộng hoà Liên bang Đứccòn rất ít tài liệu đề cập đến

Hoặc, nếu có đề cập thì thường chỉ là những bài viết mang tính chất trao đổi trên

các tạp chí hoặc nguyệt san Cho đến thời điểm hiện nay, nghiên cứu về Hợp tác giáo dục Việt Nam - Cộng hoà Liên bang Đức một cách hệ thống vẫn còn đang

bỏ ngỏ Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi mong sẽ góp phần nhỏ bé trong nghiên cứu về vấn đề này

- Thứ hai, nghiên cứu về ngoại giao Việt Nam - Cộng hoà Liên bang

Đức và những vấn đề đặt ra hiện nay đã xuất hiện ít nhiều Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là phần đông tác giả của những công trình này là các cựu đại sứ, các nhà ngoại giao hoặc kinh tế,… nên tài liệu thường mang tính bài báo, đối ngoại nhiều hơn là nghiên cứu học thuật

- Thứ ba, tuy đã có một số đề tài khoá luận hoặc luận văn nghiên cứu về

CHLB Đức nhưng hầu hết đều ở các lĩnh vực khác như ngoại giao, chính trị,

Trang 17

kinh tế, hoặc vấn đề người hồi hương, hay Việt kiều Đức Có đề tài nghiên cứu

về giáo dục nhưng lại giới hạn ở giáo dục đại học của CHLB Đức chứ không phải là hợp tác giáo dục Việt Nam – CHLB Đức như khoá luận của tác giả

Có một thực tế, so với các đối tác của Việt Nam trên thế giới thì các nghiên cứu khoa học về hợp tác Việt Nam - Cộng hoà Liên bang Đức còn rất hạn chế Tình hình này cho thấy luận văn ít có điều kiện hơn so với nhiều đề tài khác trong việc kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây Vì vậy, khi triển khai đề tài này, chúng tôi có những khó khăn nhất định Chúng tôi mong rằng, với quyết tâm của mình, cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia, các nhà khoa học, luận văn sẽ hoàn thành được mục đích và nhiệm vụ đặt ra

2.2 Đóng góp của luận văn

- Góp phần làm rõ quá trình hợp tác giáo dục Việt Nam - Đức từ năm

1990 đến nay ở nội dung hợp tác chiến lược về phát triển nguồn nhân lực và hợp tác trong một số lĩnh vực khác

- Trên cơ sở phân tích những thuận lợi, khó khăn và những đóng góp của hợp tác giáo dục Việt – Đức, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình hợp tác giáo dục này trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ sự phát triển, đặc điểm hợp tác giáo dục Việt Nam - Cộng hoà Liên bang Đức từ 1990 đến nay, từ đó đưa

ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình hợp tác

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu như trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về hợp tác giáo dục Việt Nam – CHLB Đức

- Phân tích những nội dung cơ bản trong hợp tác giáo dục Việt Nam – CHLB Đức giai đoạn từ năm 1990 đến nay nhằm phát triển nguồn nhân lực

Trang 18

trên các lĩnh vực như cấp học bổng, trao đổi đào tạo học sinh, sinh viên, giáo viên và cán bộ; đào tạo ngôn ngữ, văn hóa, trao đổi trình độ, công nghệ KHKT và hợp tác trong nghiên cứu khoa học; trong xây dựng các cơ sở giáo dục đào tạo và xây dựng chương trình, giáo trình, sách giáo khoa

- Phân tích những thuận lợi, khó khăn cũng như là những đóng góp và triển vọng của quá trình hợp tác giáo dục giữa Việt Nam – CHLB Đức

- Đưa ra một số giải pháp nâng cao quá trình hợp tác giáo dục Việt Nam

- Đức trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình Hợp tác giáo dục Việt Nam - Cộng hoà Liên bang Đức từ 1990 đến nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Cộng hoà Liên bang Đức là một đối tác quan trọng và tin cậy của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực từ trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả không có điều kiện

đi sâu nghiên cứu tất cả quan hệ ngoại giao giữa hai nước mà chỉ giới hạn trong hợp tác giáo dục từ năm 1990 đến năm 2017 Tác giả chọn mốc năm

1990 là bởi vì đây là năm nước Đức tái thống nhất với tên gọi Cộng hoà liên bang Đức, và giới hạn ở mốc năm 2017 nhân sự kiện Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sang thăm Cộng hòa Liên bang Đức và tham dự Hội nghị Thượng định G20 tại thành phố Hamburg từ ngày 5 đến 8/7

Những vấn đề khác xung quanh đề tài này, tác giả chưa có điều kiện nghiên cứu sâu và rộng

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương và đường lối của Đảng, chính sách và

Trang 19

pháp luật của Nhà nước về đối ngoại, về giáo dục- đào tạo và hợp tác quốc

tế, hợp tác giáo dục

Trên cơ sở phương pháp luận quốc tế học, đề tài vận dụng các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, kết hợp logic với lịch sử, so sánh và đối chiếu, sưu tầm, điều tra xã hội học…

Phương pháp phân tích tài liệu: sưu tầm, đọc, tổng hợp và phân tích các tài liệu khoa học có liên quan đến hoạt đông đối ngoại nói chung, hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và CHLB Đức nói riêng, toàn cầu hoá và nền giáo dục của CHLB Đức…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Nâng cao hiểu biết về hợp tác giáo dục Việt Nam – CHLB Đức, từ đó thay đổi nhận thức và tác động vào thực tiễn đời sống xã hội qua việc giảng dạy tiếng Đức nhằm phát huy hiệu quả của hợp tác giáo dục, xây dựng mối quan hệ đoàn kết quốc tế

- Nâng cao sự hiểu biết chuyên môn, kinh nghiệm và chất lượng nghiên cứu khoa học Ngoài ra, những kiến thức và trải nghiệm thu được qua việc nghiên cứu luận văn sẽ được tác giả vận dụng trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu khoa học sau này

Trang 20

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương 8 tiết

Chương 1: Phân tích một số vấn đề lý luận chung về hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và CHLB Đức như: làm rõ các khái niệm công cụ cơ bản trong nội dung đề tài; đưa ra cái nhìn tổng quan về lịch sử mối quan hệ ngoại giao lâu dài giữa Việt Nam và CHLB Đức

Chương 2: Trên cơ sở phân tích đặc điểm cơ bản về kinh tế, chính trị và văn hoá, giáo dục Đức, làm rõ quá trình hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và CHLB Đức giai đoạn từ 1990 đến nay ở nội dung hợp tác chiến lược về phát triển nguồn nhân lực và hợp tác trong một số lĩnh vực khác

Chương 3: Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, triển vọng và những đóng góp của quá trình hợp tác giáo dục Việt Nam – CHLB Đức đến đời sống

xã hội của nước ta, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình hợp tác giáo dục Việt Đức trong giai đoạn hiện nay

Trang 21

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP TÁC GIÁO DỤC

VIỆT NAM - CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC 1.1 Một số khái niệm cơ bản

tế Vậy hợp tác là gì? Hợp tác mang lại lợi ích gì cho nước ta và các nước cùng hợp tác?

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau

trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm một mục đích chung”3 Còn theo quan niệm thông thường, hợp tác có nghĩa là cùng nhau cam kết để giải quyết vấn đề theo mục đích chung Khái niệm hợp tác có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, hợp tác song phương hay đa phương một cách toàn diện hay trên một lĩnh vực nhất định, chẳng hạn như hợp tác kinh tế, hợp tác giáo dục…

Còn theo từ điển Tiếng Đức (Langenscheidt “Großwörterbuch Deutsch

als Fremdsprache”), zusammenarbeiten:zwei oder mehr Personen arbeiten

am gleichen Ziel oder Projekt  kooperieren”4 (hợp tác là hai hoặc nhiều người cùng làm vì một mục đích hoặc một dự án)

Như vậy, từ cách hiểu như trên về hợp tác, có thể rút ra nhận xét sau đây:

Thứ nhất, nói đến hợp tác là nói đến quan hệ song phương hoặc đa

phương, ít nhất phải có hai bên đối tác Cụ thể với đề tài luận văn này, tác giả đề cập tới quan hệ hợp tác giữa hai nước là Việt Nam và Cộng hoà liên bang Đức

Trang 22

Thứ hai, hợp tác là một khái niệm có nội hàm rộng, hẹp khác nhau tuỳ

thuộc vào bối cảnh được sử dụng Do vậy, muốn biết khái niệm hợp tác được hiểu theo nghĩa nào thì cần phải đặt vào bối cảnh cụ thể, xác định rõ về không gian và thời gian Trong đề tài này, tác giả đi sâu nghiên cứu về sự hợp tác

trên một lĩnh vực cụ thể, đó là hợp tác giáo dục Việt Nam- Cộng hoà liên bang Đức giai đoạn từ năm 1990 đến nay

Hợp tác giáo dục Việt Nam - Cộng hoà liên bang Đức nhằm mang lại cho cả hai bên những lợi ích sau đây:

- Cùng nhau giải quyết những vấn đề còn hạn chế, thiếu sót của cả hai quốc gia

- Cùng nhau đạt được những mục tiêu đặt ra trong việc cải tạo, nâng cao hiệu quả giáo dục

- Cùng nhau phát triển

Tất nhiên, theo nguyên tắc ngoại giao chung, để hợp tác có hiệu quả hai bên cần dựa trên những nguyên tắc nhất định, đó là:

- Tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

- Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

- Không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực

- Giải quyết bất đồng, tranh chấp bằng thương lượng hòa bình

- Tự do bình đẳng, hai bên cùng có lợi không hại đến lợi ích của người khác

Từ những phân tích trên cho thấy, hợp tác quốc tế nói chung và hợp tác giáo dục nói riêng có ý nghĩa quan trọng giúp các quốc gia tham gia cùng nhau giải quyết những vấn đề còn tồn tại mang tính toàn cầu Đặc biệt là thông qua hợp tác, những nước phát triển sẽ có điều kiện trực tiếp giúp đỡ cho các nước nghèo, chậm phát triển, cùng nhau thực hiện mục tiêu hòa bình và

phát triển cho toàn nhân loại

Trang 23

* Khái niệm Ngoại giao

Ở đây, cần phân biệt khái niệm hợp tác với khái niệm ngoại giao Theo

Từ điển Tiếng Việt, “ngoại giao là sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ

quyền lợi của quốc gia mình và để góp phần giải quyết những vấn đề quốc tế chung”5

Ở đây tác giả thể hiện tư tưởng chính trị trong định nghĩa của mình

về bản chất ngoại giao: đó là để bảo vệ quyền lợi của quốc gia mình và để góp phần giải quyết những vấn đề quốc tế chung

Ngoài ra, cũng có thể hiểu ngoại giao là một nghệ thuật tiến hành quan

hệ với các nước khác trong việc đàm phán, thương lượng giữa những người đại diện cho một nhóm hay một quốc gia Thuật ngữ này thông thường đề cập đến ngoại giao quốc tế, việc chỉ đạo, thực hiện các mối quan hệ quốc tế thông qua sự can thiệp hay hoà giải của các nhà ngoại giao liên quan đến các vấn đề như kinh tế, thương mại, văn hoá, du lịch, chiến tranh và tạo nền hòa bình và thường gọi là bang giao hay đối ngoại Các hiệp ước quốc tế thường được đàm phán bởi các nhà ngoại giao trước tiên để đi đến việc xác nhận chính thức bởi các chính trị gia của các nước

Về mặt xã hội, ngoại giao là việc sử dụng các tài xử trí, ứng biến để giành được sự thuận lợi, nó là một công cụ tạo ra cách diễn đạt các tuyên bố một cách không đối đầu, hay là một cách cử xử lịch thiệp, theo nghĩa này thì

nó có nghĩa là xã giao

Như vậy, xét về mặt nội hàm khái niệm, theo những phân tích như trên

thì có thể thấy khái niệm ngoại giao có nội hàm hẹp hơn so với khái niệm hợp

tác Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả thống nhất sử dụng khái niệm hợp tác giáo dục trong quan hệ Việt Nam- Cộng hoà liên bang Đức

* Khái niệm Giáo dục

Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm giáo dục có hai nghĩa Nghĩa thứ nhất, “Giáo dục là hoạt động giáo dục nhằm tác động một cách có hệ thống

5

Viện Ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr 683

Trang 24

đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”6

Nghĩa thứ hai, “Giáo dục là hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy -

giáo dục của một nước”7

Với nghĩa thứ nhất, khái niệm giáo dục được hiểu

theo nội hàm hẹp, nghiêng theo hướng giáo dục cho một đối tượng cụ thể

(một cá nhân hoặc một tập thể) Còn với nghĩa thứ hai, khái niệm giáo dục

được hiểu theo nội hàm rộng hơn, nghiêng theo nghĩa dùng để chỉ ngành giáo dục, nền giáo dục, hoặc việc cải cách giáo dục…

Còn theo Từ điển tiếng Đức Langenscheidt “Großwörterbuch Deutsch

als Fremdsprache” Bildung: das (durch Erziehung) erworbene Wissen und

Können auf verschiedenen Gebieten8

(giáo dục theo trường nghĩa thứ 2 có nghĩa là kiến thức được tích luỹ thông qua sự giáo dục, dạy dỗ và khả năng có

thể trên nhiều lĩnh vực khác nhau; erziehen (giáo dục/dạy dỗ một đứa trẻ để

nó phát triển tốt về mặt nhân cách và tâm hồn bằng các quy tắc và sự chuẩn hoá) Ở đây chúng tôi trích dẫn hai định nghĩa của hai từ đều mang tính “giáo

dục” vì nếu chỉ tìm hiểu một trong hai từ thì chưa cắt nghĩa được rõ của hai từ

“giáo dục” trong mối tương quan với Tiếng Việt

Đề tài luận văn của tác giả là nghiên cứu vấn đề hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Cộng hoà liên bang Đức nên khái niệm hợp tác giáo dục ở đây

là một từ ghép, được hiểu theo nghĩa hợp tác trong lĩnh vực giáo dục Vì vậy, khái niệm giáo dục luận văn sử dụng trong suốt đề tài này là khái niệm theo nghĩa thứ hai, tức là hợp tác Việt - Đức trong lĩnh vực giáo dục

1.2 Lịch sử quan hệ Việt Nam - Đức

Mối quan hê ̣ song phương giữa Đức và Viê ̣t Nam có mô ̣t giá tri ̣ đă ̣c biê ̣t Hiê ̣n nay ở Đức có khoảng 130.000 người Viê ̣t Nam và người Đức gốc

Trang 25

Viê ̣t sinh sống , ở Việt Nam có khoảng 110.000 người biết nói tiếng Đức

Trong Tuyên bố chung Hà Nội, Việt Nam và Đức - Đối tác chiến lược vì tương lai, trên cơ sở quan hệ hữu nghị giữa hai nước đang tiếp tục phát triển

mạnh mẽ, hai nước đã nhất trí thi ết lập quan hệ Đối tác chiến lược, tăng cường hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong thời gian tới, đặc biệt trong những lĩnh vực then chốt, trong đó có giáo dục đào tạo9 Đánh giá về mối quan hệ tốt đẹp này, gần đây nhất, trong chuyến thăm CHLB Đức của phó Thủ tướng, Bộ trưởng bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh từ ngày 20 đến ngày 21 tháng 02 năm

2019 đã được Bộ trưởng Ngoại giao Đức, ngài Heiko Maas một lần nữa khẳng định: “đây là chuyến thăm quan trọng, nhiều ý nghĩa, tạo cơ sở để hai nước đưa quan hệ đối tác chiến lược tiếp tục phát triển sâu rộng”10

Quan hệ Việt Nam - Đức đã được vun đắp bởi nhiều thế hệ và có một lịch sử lâu dài, từ thời Cộng hoà dân chủ Đức Ngày 23 tháng 9 năm 1975, CHXHCNVN và CHLB Đức đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mở

ra thời kỳ phát triển mạnh mẽ của quan hệ hai nước trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, lịch sử đã ghi nhận quan hệ Việt - Đức khởi nguồn từ rất sớm

Cộng hoà liên bang Đức hiện nay là một nhà nước liên bang nằm ở châu Âu Liên bang và cả 16 bang đều có những thẩm quyền riêng Các bang nắm giữ thẩm quyền về các lĩnh vực an ninh nội địa, trường phổ thông, trường đại học, văn hóa và hành chính địa phương Đồng thời bộ máy hành chính của các bang không chỉ thực thi những đạo luật của bang, mà cả các đạo luật của liên bang Chính phủ các bang tham gia trực tiếp vào công tác lập pháp của liên bang thông qua đại diện của mình trong Hội đồng Liên bang

Tháng 9 năm 1949, nước Cộng hòa Liên bang Đức (CHLB Đức) được thành lập trên cơ sở các vùng lãnh thổ đo Anh, Pháp, Hoa Kỳ chiếm đóng

Trang 26

https://news.zing.vn/dua-quan-he-doi-tac-chien-luoc-viet-nam-duc-phat-trien-sau-rong-Tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa Dân chủ Đức (CHDC Đức) được thành lập trên phần đất quân đội Liên Xô tạm chiếm

Từ đó, CHLB Đức phát triển theo con đường TBCN, còn CHDC Đức phát triển theo đường lối XHCN Tháng 9 năm 1990, nước Đức tái thống nhất với tên gọi CHLB Đức

CHLB Đức có diện tích 356.300 km2, trong đó Tây Đức (CHLB Đức)

là 248.000 km2, Đông Đức (CHDC Đức) là 108.300 km Thủ đô của CHLB Đức là Berlin

Năm 1911 Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước Trong thời kỳ hoạt động cách mạng ở Châu Âu, Hồ Chí Minh đã có dịp sang Đức và đã có những hoạt động tích cực trong việc xây dựng nền móng vững chắc cho quan hệ ngoại giao Việt - Đức sau này Hồ Chí Minh cũng là lớp người Việt Nam tiên phong trong việc học tiếng Đức, văn hoá và ngôn ngữ Đức Năm 1950, Việt Nam dân chủ cộng hoà và Cộng hoà dân chủ Đức (Đông Đức) đã đặt quan hệ ngoại giao Từ mối quan hệ tốt đẹp đó, mùa hè năm 1955, CHDC Đức đã mời

150 thiếu nhi Việt Nam sang Đức để học tập, đào tạo thành những kỹ sư, công nhân kỹ thuật có trình độ chuyên sâu để sau này trở về Việt Nam xây dựng đất nước Đây chính là thế hệ người Việt đầu tiên được CHDC Đức nhận nuôi dưỡng, đào tạo một cách căn bản, từ rất sớm tại ngôi trường thuộc lâu đài Moritzburg miền Đông nước Đức và cũng là sự khởi đầu cho quá trình hợp tác giáo dục tốt đẹp về sau Lớp học sinh này sau khi được Đức đào tạo

đã trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao có ảnh hưởng tích cực trong quá trình xây dựng, kiến thiết nước nhà

Mối quan hệ ngoại giao này càng được phát triển lên một bước mới vào năm 1957, với vai trò là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã chính thức sang thăm Cộng hoà dân chủ Đức với tư cách là một nguyên thủ quốc gia theo lời mời của Chủ tịch Vihemvic từ ngày 25-7 đến ngày 1 tháng 8 Chuyến thăm tốt đẹp này là tiền đề cực kỳ quan trọng cho quan hệ Việt - Đức sau này

Trang 27

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và cả chống Mĩ sau này, ở CHDC Đức có phong trào ủng hộ Việt Nam rất rộng lớn Thông qua các phương tiện báo chí và truyền thông của chính phủ, nhân dân CHDC Đức đã biết nhiều thông tin về Việt Nam và cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam trong bảo vệ độc lập và tự do cho Tổ quốc Cảm kích trước tinh thần cần cù, bất khuất của nhân dân Việt Nam, nhân dân CHDC Đức khuyên góp ủng hộ Việt Nam, dành nhiều tình cảm gắn bó với Việt Nam như xuất hiện phong trào hiến máu cho Việt Nam trong trường đào tạo sĩ quan với khoảng hơn 300 chiến sĩ đã tham gia Đây thực

sự là những tình cảm tốt đẹp thể hiện tinh hữu nghị quốc tế cao cả

Cùng với sự đóng góp lớn lao của các nước XHCN, CHDC Đức đã tham gia viện trợ hàng hoá, thuốc men, y tế cho Việt Nam Năm 1965, Uỷ ban Việt Nam thuộc Uỷ ban đoàn kết của CHDC Đức được thành lập Đây là tổ chức có vai trò quan trọng trong việc vận động kêu gọi các nguồn viện trợ về tinh thần và vật chất để giúp đỡ Việt Nam trong công cuộc giải phóng dân tộc Hàng trăm cuộc biểu tình, mít tinh yêu cầu đế quốc Mĩ chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam đã diễn ra trên khắp CHDC Đức Qua truyền thông, nhân dân Đức ngày càng hiểu biết hơn về Việt Nam và đã ủng hộ Việt Nam một cách hiệu quả và thiết thực hơn Tình hữu nghị quốc tế cao cả đó được thể hiện qua các chuyến thăm qua lại giữa lãnh đạo hai nước, qua các chuyến hàng viện trợ

từ Đức sang Việt Nam và qua con đường hợp tác về giáo dục đào tạo Đây chính là nguồn động lực vô cùng to lớn của Đức dành cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và xây dựng, kiến thiết đất nước sau này Mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp này được khởi xướng trước hết

từ phía chính phủ và nhân dân hai nước, có cội nguồn từ xa xưa và được nuôi dưỡng theo thời gian Từ đó đến nay, quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước ngày càng phát triển tích cực, sâu rộng, hiệu quả và toàn diện Trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Đức Angela Merkel (tháng 10/2011), Thủ

tướng hai nước đã ký Tuyên bố chung Hà Nội về việc thiết lập quan hệ đối tác

Trang 28

chiến lược, trong đó đề ra các mục tiêu và biện pháp cụ thể tăng cường hợp tác nhiều lĩnh vực trong đó giáo dục là lĩnh vực ưu tiên

Hiện có khoảng 300 doanh nghiệp Đức hoạt động tại Việt Nam Là một trong những nước viện trợ ODA nhiều và thường xuyên cho Việt Nam, từ năm 1990 đến nay, Đức đã cung cấp khoảng 2 tỷ USD cho các dự án ODA tại Việt Nam thông qua hợp tác kỹ thuật, hợp tác tài chính và hợp tác giáo dục Chính phủ Đức đã cam kết dành cho Việt Nam khoản ODA hơn 600 triệu Euro trong giai đoạn 2015-2017 để thực hiện các dự án trong 3 lĩnh vực ưu tiên: Năng lượng; đào tạo nghề gắn với phát triển kinh tế bền vững; chính sách môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên Có thể nói cả 3 lĩnh vực này đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vấn đề giáo dục thông qua việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao Sau thành công của chương trình “Make it in Germany” về hợp tác lao động quốc tế của Đức, giai đoạn 2013-2015, phía Đức đã quyết định mở rộng tiếp nhận điều dưỡng viên Việt Nam sang Đức, trước mắt 100 người/năm trong giai đoạn 2016-

201711 Đây thực sự là một cơ hội tốt được mở ra cho lao động Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

Như định nghĩa về “hợp tác” tác giả đã trích dẫn ở trên, đó là “cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm một mục đích chung” và như vậy, lợi ích được hưởng không chỉ xuất phát từ

một phía Ở đây dễ nhận thấy, ngoài việc Việt Nam là nước đi sau, còn nghèo nàn, lạc hậu là nhân tố được hưởng lợi trực tiếp và nhiều hơn trong mối quan

hệ hợp tác, và ở đây là hợp tác giáo dục, thì Đức cũng là nước sẽ thay đổi được cục diện về sự thiếu hụt lao động lành nghề tại nước mình trong việc kết hợp đào tạo nghề với Việt Nam, nơi có nguồn cung ứng lao động trẻ, dồi dào nhưng chưa được đào tạo ở trình độ chuyên môn cao Theo số liệu thống kê

11

Tạp chí Cộng sản online, Thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Đức,

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=45709&print=true

Trang 29

năm 2016 trên trang chủ của Phòng Công nghiệp và thương mại Đức AHK,

“tổng số lao động có việc làm trên toàn nước Đức là 43,7 triệu người, một kỷ lục chưa từng có tại đây Sự thiếu hụt lao động chất lượng cao tại một số ngành nghề và tại một số tiểu bang thuộc Đức đang là một trong những thách thức lớn của nền kinh tế Chính vì vậy, nhu cầu lao động nhập cư ngày càng cao, đặc biệt là đối với các nguồn lao động chất lượng cao tại Đức.”

Tóm lại, nguồn lực lượng lao động dồi dào nhưng trình độ chưa cao từ Việt Nam cùng với sự khan hiếm nguồn lao động có tay nghề Đức từ phía Đức là một trong những nhân tố then chốt đã thúc đẩy quá trình hợp tác giáo dục Việt – Đức ngày càng đi vào thực chất và phát triển về chiều sâu

1.3 Khái quát về kinh tế-chính trị và văn hoá, giáo dục Đức

Trước khi đi vào phân tích nội dung quan hệ hệ hợp tác giáo dục Việt Nam và CHLB Đức, tác giả xin phân tích qua về vị trí, vai trò kinh tế, địa chính trị của Đức đối với Việt Nam cũng như là đặc điểm của nền giáo dục Đức Bởi, theo tác giả đây cũng là một trong những yếu tố trực tiếp tác động đến quá trình hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và CHLB Đức

Về kinh tế, hiện nay Đức là quốc gia thuộc liên minh Châu Âu có nền

kinh tế thuộc nhóm các nước phát triển nhất thế giới, cụ thể là đứng thứ 4 thế giới sau Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc về GDP, và là thành viên của nhóm G7

Là cửa ngõ quan trọng để hàng hóa Việt Nam vào thị trường Châu

Âu, Đức là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam12

, chiếm gần 20% xuất khẩu của Việt Nam vào EU Năm 2016, xuất khẩu của Việt Nam vào Đức đạt giá trị gần 6 tỷ USD bao gồm nhiều mặt hàng khác nhau như dệt may, giày dép, cà phê, hàng nông thủy sản Trong khi đó Đức xuất khẩu vào Việt Nam trên 2,8 tỷ USD gồm máy móc, thiết bị, ô tô, hóa chất, dược phẩm…

Đức đóng vai trò quan trọng trong đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU Ngược lại, các nhà đầu tư Đức coi Việt Nam là thị trường đầu

12

Vinanet.vn/thuong-mai-cha/duc-doi-tac-thuong-mai-lon-nhat-cua-viet-nam-o-chau-au/647496.html

Trang 30

tư tiềm năng ở Châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ Tính đến hết tháng 4/2017, có 285 dự án của Đức tại Việt Nam còn hiệu lực với tổng vốn đăng

ký 1,4 tỷ USD, đứng thứ 5 EU và thứ 20/116 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu

tư vào Việt Nam13

Ngoài ra, Đức còn là nhà viện trợ ODA lớn và thường xuyên cho Việt Nam với 2 tỷ USD từ năm 1990 đến nay Đức cũng là đối tác quan trọng của Việt Nam trong hợp tác dạy nghề, giáo dục, văn hóa, du lịch, tư pháp -pháp luật, khoa học công nghệ…

Ngoài những đặc điểm trên về kinh tế, nền giáo dục Đức cũng có những thành tựu nổi bật để trong quá trình hợp tác Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm, góp phần xây dựng nền giáo dục Việt Nam tiên tiến, chống tụt hậu về giáo dục so với các nước trong khu vực và trên thế giới

Như đã nói ở trên, CHLB Đức hiện nay là một nhà nước liên bang nằm

ở châu Âu Mỗi bang đều có những thẩm quyền riêng về các lĩnh vực an ninh nội địa, trường phổ thông, trường đại học, văn hóa và hành chính địa phương

Vì thế các hoạt động kinh tế, chính trị xã hội và đặc biệt là giáo dục không chịu sự chi phối của chính phủ liên bang mà nằm dưới sự kiểm soát của từng bang độc lập Các bang có quyền tự quyết cũng như là có đường lối phát triển riêng trong vấn đề giáo dục Ngoài ra, tính dân chủ và tự do của hệ thống chính trị Đức cũng ảnh hưởng đến nền giáo dục của quốc gia này Ngoài một

số ít các trường tư thục, các trường thuộc lực lượng vũ trang hoặc Kitô giáo thì hầu hết các trường học ở Đức đều có quyền tự trị Trong khuôn khổ hiện hành, hiệu trưởng hoặc hội đồng quản trị của mỗi trường sẽ có quyền đưa ra nội quy riêng Chính điều này đã tạo nên sự đa dạng, phong phú và thậm chí

cả mâu thuẫn trong nền giáo dục Đức, đặc biệt là hệ thống các trường đại học Đây cũng là đặc trưng rất riêng của nền giáo dục Đức so với nền giáo dục Việt Nam và các nước trên thế giới

13

Vinanet.vn/thuong-mai-cha/duc-doi-tac-thuong-mai-lon-nhat-cua-viet-nam-o-chau-au/647496.html

Trang 31

Luật cơ bản của CHLB Đức quy định mọi công dân đều có quyền được phát huy hết mọi khả năng của mình và quyền tự do lựa chọn trường học cũng như những cơ sở đào tạo khác để thích ứng với nghề nghiệp sau này Điều này cũng có nghĩa các chính sách giáo dục của CHLB Đức đều hướng đến mục đích tạo ra các cơ hội tốt nhất để mỗi cá nhân có thể lựa chọn loại hình giáo dục phù hợp khả năng và sở thích của mình trong quá trình đi học và đi làm

Khi cộng đồng chung Châu Âu được thành lập, cùng với sự biến động

về kinh tế và chính trị thì nền giáo dục Đức cũng có những xáo trộn nhất định

Sự hợp nhất về chính trị của ngôi nhà chung Châu Âu đã dẫn đến một loạt các

sự liên kết trong đó có liên kết giáo dục Sinh viên các nước EU như Pháp, Anh, Hà Lan, Bỉ… có thể dễ dàng được theo học tại Đức cũng như là kết quả học tập của họ được thừa nhận tại các trường đại học thuộc khối EU, ở đó cũng không còn ranh giới đầu vào và chương trình học tập như giai đoạn trước khi EU được thành lập

Điều kiện khách quan này đã tác động sâu sắc đến nền giáo dục Đức, giúp Đức tiếp thu được rất nhiều kinh nghiệm về giáo dục -đào tạo của các nước EU, từ đó có điều kiện làm giàu cho nền giáo dục của mình Và, khi Việt Nam hợp tác giáo dục với Đức cũng có nghĩa là Việt Nam được hưởng lợi ít nhiều từ sự kiện hợp nhất EU này

“Hiện nay ở Đức có khoảng hơn 375 trường đại học và cao đẳng với nhiều chuyên ngành khác nhau, trong đó có 113 trường đại học tổng hợp (Uni) và đại học kỹ thuật (Tech), 157 trường đại học thực hành (Fach), 31 trường đại học thực hành của bộ nội vụ, 52 trường cao đẳng nghệ thuật và âm nhạc, 16 trường cao đẳng thần học và 6 trường cao đẳng sư phạm”14

Các trường đại học của Đức thường có bề dày về truyền thống đào tạo các ngành nghề cơ bản Cùng với sự phát triển của thời đại, các chuyên ngành

14

Vũ Thị Ngọc Tú, khoá luận tốt nghiệp khoa Quốc tế học, trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, Bước

đầu tìm hiểu hệ thống giáo dục đại học CHLB Đức, tr.20

Trang 32

không ngừng được mở rộng để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và ứng dụng giáo dục đào tạo vào phát triển con người và xã hội Về phương pháp, nét nổi bật của các trường đại học và cao đẳng Đức là chú trọng kết hợp giữa nghiên cứu

và giảng dạy Nghiên cứu khoa học là hoạt động tất yếu, quan trọng và là niềm đam mê của mỗi giảng viên và sinh viên Đức Thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học thì cả giảng viên và sinh viên đều có cơ hội nâng trình

độ chuyên môn, kiến thức cũng như là phương pháp cho bản thân mình Chính vì vậy, ở Đức trường đại học không chỉ đơn thuần là nơi để dạy và học

mà ở đây còn là những trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học Đây là đặc trưng và cũng là thế mạnh của giáo dục Đức để khi hợp tác với Đức Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm

Ngoài ra, một nét rất đặc biệt tại các trường đại học Đức là sinh viên có thể tham gia vào bài giảng của giảng viên Trước khi bắt đầu một môn học, giảng viên sẽ cung cấp cho sinh viên một cái nhìn khái quát về toàn bộ nội dung, chương trình cũng như là mục tiêu của môn học, trên cơ sở đó sinh viên

có thể đóng góp những ý kiến của mình, thảo luận và trao đổi với giảng viên những vấn đề có liên quan đến môn học Điều này ở Việt Nam rất hiếm nhưng ở Đức đó là chuyện bình thường Trong lớp học, người đóng vai trò trung tâm là sinh viên chứ không phải là giảng viên như quan niệm truyền thống Phương pháp dạy học tích cực này đã khơi gợi được tính năng động, sáng tạo của người học, đó cũng chính là phương pháp mà giáo dục học hiện đại ngày nay đang hướng đến

Điều hành trường đại học ở Đức là một hiệu trưởng, vài hiệu phó và một giám đốc hành chính (hay còn gọi là cán bộ đào tạo, người chuyên trách

về việc đăng ký nhập học của sinh viên) Cơ quan cao nhất quyết định toàn bộ hoạt động của trường là hội đồng nhà trường Hội đồng này chịu trách nhiệm toàn bộ việc nghiên cứu, giảng dạy cũng như là số lượng sinh viên và việc học tập của họ Hội đồng nhà trường bao gồm thành viên của các ban đại diện

ở các khoa và các phòng ban chức năng của trường

Trang 33

Ngoài việc tuyển sinh trong nước thì một số trường ở Đức còn có học sinh nước ngoài theo học Với những đại học này thì mối liên hệ đầu tiên và

quan trọng nhất của sinh viên quốc tế là Phòng công tác sinh viên nước ngoài

Đây là bộ phận chịu trách nhiệm hoàn toàn các mối quan hệ quốc tế và những vấn đề có liên quan Sinh viên nước ngoài khi học tập và nghiên cứu tại Đức

sẽ được bộ phận này tư vấn và cung cấp tài liệu liên quan đến việc học tập và cuộc sống tại đây Họ cũng sẽ được thông báo cụ thể về các khoá học, chi phí tài chính và kế hoạch học tập Trong quá trình sinh viên, học viên nước ngoài học tập và nghiên cứu tại Đức, phòng công tác sinh viên nước ngoài sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho quá trình ăn ở và học tập của họ Tất nhiên, để việc học

và sinh sống được thuận lợi thì việc liên hệ này phải được thực hiện ít nhất 6 tháng trước khi họ sang Đức học tập

Vì mỗi trường học ở Đức có quyền hoạt động theo chế độ tự quản dưới sự điều hành theo luật của bang nên các trường đều có cơ chế, chính sách tuyển sinh đặc thù Ở Đức, rất nhiều trường đại học có các dự án hợp tác giáo dục với nước ngoài, trong đó có Việt Nam Khi một trường học nào đó của Đức hợp tác với Việt Nam thì cũng có nghĩa sự hợp tác này đã có sự đồng ý của bang đó

Những phân tích trên về kinh tế và đặc điểm của nền giáo dục Đức cho thấy vị thế của Đức đối với Việt Nam và trên trường quốc tế Trong khi Đức là một quốc gia phát triển nổi lên ở Châu Âu và thế giới thì Việt Nam là một nước

đi sau, đang trong quá trình phát triển Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định, một trong 4 nguy cơ của Việt Nam hiện nay là tụt hậu ngày càng xa hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới Điều này là hoàn toàn có cơ sở, vì vậy trong quá trình phát triển, Việt Nam cần phải có những bước đi tắt, đón đầu khôn ngoan bằng cách hợp tác quốc tế với các nước phát triển, tận dụng thành tựu khoa học công nghệ của họ để rút ngắn khoảng cách chênh lệnh so với các nước phát triển, mà Đức là một trong những đối tác quan trọng

Với những đặc điểm trên về kinh tế chính trị và văn hoá, giáo dục, việc chủ động hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Cộng hoà liên bang Đức chính là

Trang 34

chủ trương, chính sách của cả hai quốc gia trong việc xây dựng và phát triển giáo dục nước nhà

Tiểu kết chương 1

Việt Nam và CHLB Đức là hai quốc gia có lịch sử quan hệ lâu dài và tốt đẹp Khi Việt Nam mở cửa hội nhập quốc tế thì có nhiều lĩnh vực được hợp tác, trong đó có hợp tác giáo dục với CHLB Đức Mục đích của hợp tác nói chung và hợp tác giáo dục với CHLB Đức nói riêng là Việt Nam nhằm học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển để cải tạo chất lượng nền giáo dục nước nhà, từng bước hội nhập với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới

Quan hệ Việt Nam và CHLB Đức càng có ý nghĩa hơn khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay Mối quan hệ tốt đẹp này đã và đang thực sự trở thành mối quan tâm thường xuyên của hai quốc gia ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó

có giáo dục đào tạo

CHLB Đức là một quốc gia có nền kinh tế phát triển và nền giáo dục thuộc top đầu thế giới Nước Đức cũng là một cường quốc có nền công nghiệp lâu đời, nhiều máy móc hiện đại và nhiều kinh nghiệm quý giá trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Trong quan hệ hợp tác với Đức nói chung và hợp tác về giáo dục nói riêng nếu Việt Nam biết tận dụng và tranh thủ những kinh nghiệm và thành tựu văn minh của Đức sẽ là những bài học lớn giúp chúng

ta khắc phục khó khăn trong công cuộc dựng xây, phát triển nước nhà

Trang 35

CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DUNG TRONG HỢP TÁC GIÁO DỤC

VIỆT NAM - CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC

TỪ 1990 ĐẾN NAY

2.1 Hợp tác chiến lược về phát triển nguồn nhân lực

Việt Nam và CHLB Đức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 23/9/1975

Từ đó đến nay, quan hệ hợp tác giữa hai nước ngày càng phát triển tích cực, sâu rộng, hiệu quả và toàn diện Từ nhiều năm nay, Đức là một trong những đối tác quan trọng nhất của Việt Nam ở châu Âu Sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước ngày càng được tăng cường thông qua duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các cơ chế hợp tác

Các dự án đầu tư hợp tác của CHLB Đức với Việt Nam tập trung vào nhiều lĩnh vực khác nhau như: phát triển nguồn nhân lực, phát triển công nông nghiệp, phát triển khoa học công nghệ, kĩ thuật…, tuy nhiên trong nội dung này, tác giả chỉ đi vào nghiên cứu quan hệ hợp tác chiến lược về phát triển nguồn nhân lực từ góc độ giáo dục giữa Việt Nam và CHLB Đức

Trong số những lĩnh vực hợp tác giáo dục giữa hai quốc gia, nổi lên là hợp tác phát triển nguồn nhân lực với một số nội dung cụ thể sau đây:

2.1.1 Cấp học bổng, trao đổi đào tạo học sinh, sinh viên và cán bộ

*Hàng năm Đức cấp học bổng cho sinh viên, học viên Việt Nam

Hồ Chí Minh khẳng định, muốn bảo vệ và xây dựng đất nước cần phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Kế thừa quan điểm này của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII đã cho rằng, cần phải kết hợp nội lực với ngoại lực, “nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu… Đẩy mạnh hội nhập quốc tế văn hoá, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”15

15

Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, tr.36,37.

Trang 36

Trong thời đại ngày nay, mặc dù khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển mạnh như vũ bão, con người đã đạt được nhiều thành tựu vượt bậc trong chế tạo máy móc, robot, các trang thiết bị để phục vụ sản xuất và cả trí tuệ nhân tạo Tuy nhiên, dù trí tuệ nhân tạo có thông minh đến cỡ nào đi chăng nữa thì chúng cũng là sản phẩm được sáng tạo bởi con người, do con người tạo ra và được điều khiển, sử dụng bởi con người Vì vậy, trong mọi yếu tố của lực lượng sản xuất, xét đến cùng thì con người vẫn là nhân tố quan trọng hàng đầu, điều này đã được chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra và khẳng định Nói đến con người là nói đến nguồn nhân lực, còn nói đến giáo dục đào tạo tức là

đề cập đến những yếu tố nhằm bồi dưỡng và phát triển con người cả về mặt trình độ, nhân cách cũng như những kỹ năng trong nghề nghiệp và những vấn

đề có liên quan đến con người

Việt Nam và CHLB Đức đã có một quá trình hợp tác với nhau về giáo dục Trong chương trình hợp tác chiến lược về giáo dục giữa Việt Nam và CHLB Đức hai bên đã có những cam kết rất rõ ràng: phía Đức tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong việc đào tạo nguồn nhân lực ở các trình độ khoa học, kỹ sư và nhân lực quản lý về nhiều lĩnh vực; còn phía Việt Nam sẽ khuyến khích các doanh nghiệp Đức tham gia quá trình đào tạo nhân lực ở trình độ đại học tại các trường đại học của Việt Nam để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp Đức tại Việt Nam Đồng thời, phía Đức duy trì và tiếp tục hỗ trợ giúp Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực thông qua các dự án giáo dục và các chương trình học bổng do Chính phủ Đức tài trợ Mỗi năm CHLB Đức đều dành một phần ngân sách để cấp học bổng cho sinh viên quốc tế trong đó có những ưu tiên đặc biệt cho sinh viên Việt Nam muốn du học tại Đức Có thể kể đến một

số loại học bổng sau đây:

Học bổng từ Chính phủ Đức:

Một là,học bổng DAAD (Deutscher Akademischer Austauschdienst)

Trang 37

DAAD là tên viết tắt của Cơ quan trao đổi Hàn lâm Đức chuyên cung

cấp học bổng chính phủ (ở nhiều bậc học khác nhau) cho sinh viên, học viên Việt Nam và sinh viên quốc tế có nguyện vọng theo học tại CHLB Đức Mục đích của học bổng này là hỗ trợ học sinh, sinh viên, các chuyên gia trẻ, giỏi về chuyên môn, học thuật đến từ các nước đang phát triển có thể theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học được chuyên sâu hơn Đơn vị cấp học bổng là các trường đại học nổi tiếng ở Đức liên quan đến lĩnh vực phát triển Học bổng tài trợ 750 Euro/1 tháng cho nghiên cứu sinh bậc thạc sĩ và 1000 Euro/1 tháng đối với nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ Không những thế, học bổng còn bao gồm các loại phí về bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm tài sản cá nhân cũng như là chi phí đi lại Các học bổng loại này thường tài trợ cho sinh viên, học viên trong việc nghiên cứu học thuật và đi kèm theo đó là những điều kiện nghiêm ngặt Thông thường, học bổng được trao dựa vào và năng lực và trí tuệ của ứng viên Sau nhiều vòng thi tuyển (có thể bằng hình thức phỏng vấn) công khai và khách quan, những sinh viên, học viên ưu tú của Việt Nam sẽ được lựa chọn sang Đức du học Đây chính là nguồn nhân lực chất lượng cao được CHLB Đức đào tạo cả về chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp Những sinh viên, học viên Việt Nam được du học theo loại hình học bổng này hầu hết đều là những người thành danh, có ảnh hưởng tới lĩnh vực

mà họ được đào tạo, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Hai là, học bổng Heinrich Böll

Mỗi năm học bổng Heinrich Böll mang lại cơ hội cho khoảng 1000 sinh viên đại học, sau đại học ở tất cả các ngành và quốc tịch, những người đang theo đuổi mơ ước tại các trường đại học, đại học ứng dụng, học viện nghệ thuật tại Đức Sinh viên Việt Nam có thể nhận học bổng Heinrich Böll cho bậc cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ Chương trình học bổng này nhận đơn thi tuyển 2 lần trong năm với các ngành như cơ khí và công nghệ, giáo dục và đào tạo, khoa học ứng dụng và khoa học cơ bản, khoa học xã hội và truyền

Trang 38

thông, y tế và sức khỏe cộng đồng Đã có rất nhiều sinh viên Việt Nam giành được học bổng Heinrich Böll này sang Đức du học rồi quay trở về trực tiếp góp phần vào công cuộc phát triển nền khoa học công nghệ và giáo dục nước nhà

Ba là, học bổng Deutschland Stipendium

Học bổng này được tài trợ một nửa bởi các tổ chức nhà nước - tư nhân, các doanh nghiệp và cá nhân, nửa còn lại được tài trợ bởi chính quyền liên bang Những sinh viên quốc tế ưu tú trong đó có sinh viên Việt Nam sẽ có cơ hội nhận được 300 euro mỗi tháng thông qua chương trình học bổng này

Bốn là, học bổng Khoa học Kurt Hansen

Đây là học bổng dành cho sinh viên quốc tế có dự định trở thành giảng viên trong lĩnh vực khoa học Chương trình này được tài trợ bởi Bayer Foundation Các loại hình học tập được cấp học bổng bao gồm những dự án học thuật, các khóa thực tập, những khóa học hè, các khóa học dự bị và bổ trợ cùng các đợt huấn luyện giáo viên khoa học,… Đây là học bổng rất thiết thực với các giáo viên Việt Nam đang giảng dạy ngôn ngữ và văn hoá Đức tại hệ thống các trường học ở Việt Nam, từ trung học cơ sở cho đến giảng viên tại các trường đại học

Học bổng từ các trường đại học cụ thể

Một số trường đại học nổi tiếng tại Đức cũng có những chương trình học bổng riêng của mình Có thể kể đến một số học bổng sau đây:

Một là, họcbổng của trường Quản lý Tài chính Frankfurt

Mỗi năm trường Frankfurt trao 10 suất học bổng miễm học phí cho sinh viên đến học tại các khoa Tài chính, Kế toán, Toán học và Quản trị kinh doanh của trường Chính sách hỗ trợ này nhằm tìm kiếm những sinh viên nổi bật trên toàn thế giới có niềm yêu thích chuyên ngành tài chính có cơ hội đến CHLB Đức học tập với một môi trường đào tạo lý tưởng, trong đó có những

ưu tiên nhất định cho sinh viên thuộc các nước đang phát triển như Việt Nam

Trang 39

Hai là, học bổng của trường RWTH Aachen

Đây là trường đại học nằm trong tốp 100 những cơ sở giáo dục hàng đầu theo danh sách của tạp chí Times Trường có một số loại học bổng dành cho sinh viên quốc tế Hàng năm, sinh viên quốc tế trong đó có Việt Nam nếu đạt thành tích học tập xuất sắc có thể thi tuyển để giành học bổng của ngôi trường danh giá này

Ba là, học bổng FRIAS Cofund dành cho sinh viên quốc tế của trường

đại học Freiburg

Vì nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu nên trường đại học Freiburg cũng cấp một số học bổng cho những sinh viên quốc tế muốn theo học các chương trình nghiên cứu Loại hình học bổng này rất phù hợp với những sinh viên, học viên, hoặc cán bộ nghiên cứu của Việt Nam đang làm việc tại các trường đại học, các trung tâm hoặc là viện nghiên cứu

*Hợp tác giáo dục giữa một số bang cụ thể của CHLB Đức với Việt Nam

Ngoài các loại học bổng cơ bản như đã nêu ở trên, hiện nay có một xu hướng đang gia tăng đó là sự hợp tác giáo dục giữa một số bang cụ thể của CHLB Đức với Việt Nam Tiên phong cho xu hướng này có thể kể đến sự hợp tác giữa bang Hessen hoặc bang Bađenvuôttenbec với Việt Nam Từ năm

1991 trở lại đây, mỗi năm Bộ Khoa học và Nghệ thuật của bang Hessen đều thông qua Tổ chức Hỗ trợ Đại học thế giới và dành 150 suất học bổng cho sinh viên Việt Nam Ngoài ra, bang Hessen còn liên kết hỗ trợ Việt Nam trong việc thành lập trường Đại học Việt Đức năm 2008 Có thể nói, đây là một trong những dự án thành công của Đức và bang Hessen với Việt Nam trong việc hợp tác chiến lược về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Chính phủ bang Bađenvuôttenbec cũng đã triển khai mở rộng những dự án hợp tác giáo dục với Việt Nam bằng hình thức lập một số cơ sở đào tạo cán

Trang 40

bộ quản lý kinh tế, tìm hiểu khả năng sản xuất và thị trường Việt Nam để có thể ký kết các hợp đồng song phương về kinh tế và giáo dục đào tạo16

Trên đây là một số loại học bổng cơ bản của Chính phủ, các trường đại học và các bang của Đức cấp cho sinh viên Việt Nam và sinh viên thuộc nhóm các nước đang phát triển Thông qua các chính sách hỗ trợ tài chính từ các loại học bổng này, nhiều học sinh, sinh viên và cán bộ Việt Nam đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu của đối tác đã được sang CHLB Đức học tập, nghiên cứu rồi trở về Việt Nam đem tri thức, trình độ khoa học công nghệ, kỹ thuật phục vụ cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo và xây dựng đất nước, góp phần giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển Theo thống kê của vụ hợp tác quốc tế thuộc Bộ giáo dục và đào tạo thì hiện nay có khoảng 300 nghiên cứu sinh Việt Nam nhận học bổng nghiên cứu tại Đức và khoảng 4600 sinh viên Việt Nam đang theo học tại các trường đại học của Đức17

kỹ năng giảng dạy tiếng Đức cho giáo viên Việt Nam, đào tạo nguồn nhân lực

ở các trình độ khoa học và nhân lực quản lý giáo dục trong ngành sư phạm Đáp lại, phía Việt Nam duy trì và tiế p tu ̣c công tác tuy ển chọn đưa sinh viên

Ngày đăng: 15/03/2021, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w