Không ai có thể đếm hết những cuộc chiến tranh đó, chỉ biết rằng người Việt từ trong nôi đã có ý thức về độc lập, tự do của dân tộc đứa trẻ 3 tuổi với câu nói đầu đời đã là câu xin đi đá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
-
BÙI THỊ HỒNG LIÊN
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG TUYỂN TẬP THƠ MÀU HOA ĐỎ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
-
BÙI THỊ HỒNG LIÊN
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI CHIẾN SĨ
TRONG TUYỂN TẬP THƠ MÀU HOA ĐỎ
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Phạm Thành Hưng
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu, tôi đã hoàn thành xong Luận
văn Thạc sĩ của mình với đề tài Hình tượng người chiến sĩ trong tuyển tập
thơ Màu Hoa Đỏ Tôi xin cam đoan Luận văn này là kết quả nghiên cứu
nghiêm túc của tôi dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Phạm Thành Hưng Kết quả này chưa hề được công bố trong bất cứ công trình khoa học
nào, mọi tài liệu tham khảo đều được trích dẫn rõ ràng Nếu lời cam đoan trên
là không đúng, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2016
Tác giả
Bùi Thị Hồng Liên
Trang 4Lời cảm ơn
Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo của khoa Văn học Trường Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo –
PGS.TS Phạm Thành Hưng, thầy đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình
hoàn thành luận văn
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong tổ bộ môn Lí luận Văn học, khoa Văn học, phòng Sau đại học – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và Nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân yêu đã luôn động viên và dành cho em sự giúp đỡ, sẻ chia về mọi mặt trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
Với trình độ còn hạn chế của người viết, Luận văn chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết Em hi vọng sẽ nhận được những ý kiến nhận xét, góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và bạn bè về những vấn đề được triển khai trong Luận văn được hoàn thiện và trọn vẹn hơn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Trang 6MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do, mục đích chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Kết cấu luận văn 6
PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1: ĐỀ TÀI NGƯỜI CHIẾN SỸTRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 7
1.1.Tổ quốc bất khuất với dòng thơ chiến tranh và cách mạng 7
1.2.Người chiến sỹ - Nhân vật trữ tình trung tâm của cả một nền thơ 7
1.2.1.Hình ảnh người lính trong thơ ca kháng chiến chống Pháp 1946-1954 7
1.2.2.Hình ảnh người lính trong thơ chống Mỹ 1954 - 1975 13
1.3.Màu hoa đỏ - Một tuyển tập thơ chuyên biệt về đề tài liệt sỹ 20
1.3.1.Quan niệm tuyển chọn 20
1.3.2.Tính tư tưởng và ý nghĩa giáo dục - thẩm mỹ của tập thơ 20
Chương 2: HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI BẤT TỬTRONG MÀU HOA ĐỎ 22
2.1 Những liệt sĩ anh hùng trong chiến đấu 22
2.1.1 Những con người như chân lý sinh ra 22
2.1.2 Những con người của ý chí, niềm tin 28
2.1.3 Những con người của hành động 36
Trang 72.2 Những liệt sĩ anh hùng trong tâm tưởng, hoài niệm 43
2.2.1 Hình tượng liệt sỹ - hình tượng của hoài niệm sống động 43
2.2.2 Người liệt sỹ trong cảm xúc anh hùng ca bi tráng 52
2.2.3.Tiểu kết……… … 62
Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA TẬP THƠ 64
3.1 Những đặc điểm về ngôn ngữ 64
3.1.1 Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, chân thành 64
3.1.2 Ngôn ngữ giàu hình ảnh biểu tượng 66
3.2 Giọng điệu 69
3.2.1 Giọng điệu hào sảng, tự hào, tôn vinh và ngợi ca 71
3.2.2 Giọng điệu xót xa, tiếc nuối, thương cảm 72
3.2.3 Giọng điệu tâm tình, trầm lắng có chất triết lý, suy tư 74
3.2 Thời gian và không gian trong thơ viết về liệt sĩ 76
3.2.1 Không gian 76
3.2.2 Thời gian 79
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC: TUYỂN TẬP THƠ MÀU HOA ĐỎ - PHẦN 1: NHỮNG VÌ SAO KHÔNG TẮT
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do, mục đích chọn đề tài
Đất nước Việt Nam từ thời khởi nguyên đã được thiên nhiên tạo hóa ưu đãi với điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên khoáng sản, sản vật phong phú, vị trí tự nhiên đắc địa… Đây vừa là ưu thế để nước nhà phát triển nhưng
đồng thời cũng là nguyên nhân khiến lịch sử nước ta hàng ngàn năm dựng
nước cũng là hàng ngàn năm gắn liền với việc giữ nước Có lẽ trên thế giới ít
có quốc gia nào phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh lớn nhỏ để bảo vệ chủ quyền đất nước như nước ta Không ai có thể đếm hết những cuộc chiến tranh
đó, chỉ biết rằng người Việt từ trong nôi đã có ý thức về độc lập, tự do của dân tộc (đứa trẻ 3 tuổi với câu nói đầu đời đã là câu xin đi đánh giặc và chỉ một cái vươn vai đã gánh vác trên lưng toàn bộ vận mệnh của giang sơn) Để
rồi khi lớn lên, ý niệm thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ dường như ăn sâu vào máu thịt mỗi người dân
Việt Và để rồi, trong các cuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa ấy, biết bao thế hệ đã lên đường? Bao nhiêu người trở về? Bao nhiêu người ngã xuống? Bao nhiêu người đã để lại một phần tuổi xanh, một phần cơ thể của mình lại nơi chiến trường khói lửa cho lí tưởng độc lập, tự do, thống nhất hòa bình, toàn vẹn lãnh thổ
Ở cái xứ ngàn năm chiến tranh, vạn ngày trận mạc này, đề tài về người
lính trong thơ là đề tài rất quen thuộc nhưng chưa bao giờ xưa cũ, lỗi thời Bởi mỗi thời đại, mỗi cuộc chiến tranh đi qua, người ta lại có thêm những hiểu biết, những cảm hứng mới bất tận về người lính và nhờ thế những thi phẩm viết về họ cứ nối tiếp nhau ra đời đặc biệt là từ những năm 1945 đến nay – khi đất nước ta trải qua những năm tháng gian khó mà hào hùng chống Pháp, Mĩ, Trung Quốc xâm lược Trong hàng ngàn, hàng vạn bài thơ như thế, thơ viết về
Trang 9liệt sĩ luôn là phần đặc sắc nhất, là miền thiêng liêng xúc động tâm cảm nhất Nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày thương binh liệt sĩ (27/7/1974 – 27/7/2014)
và 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2014), hội hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam , với sự biên soạn của Phan
Sĩ Thao, Hoàng Đình Hùng đã cho ra mắt bạn đọc tập thơ Màu hoa đỏ Điều
khác biệt của tập thơ này so với nhiều tuyển tập thơ khác về chiến tranh là tập thơ này chỉ sưu tầm, lựa chọn những bài thơ về liệt sĩ xuất bản thành một tác phẩm, và được coi như một tư liệu quý, một nén tâm nhang tưởng nhớ, các
anh hùng liệt sĩ, đồng thời giáo dục thế hệ sau đạo lý uống nước nhớ nguồn,
đền ơn đáp nghĩa
Thơ viết về đề tài chiến tranh và người lính từ 1945 đến nay, quả thật là một nguồn tài nguyên văn học vô cùng lớn lao và sâu sắc Bảy mươi thi phẩm
trong tập thơ Màu hoa đỏ nằm trong đề tài cũng như giai đoạn lịch sử ấy
Hơn thế nữa, vì nó tập hợp những bài thơ viết về liệt sĩ nên khi đọc tập thơ, chúng ta không khỏi rưng rưng xúc động trước những đau thương, mất mát và cùng với đó là sự tự hào Chiến tranh đã qua đi gần 40 năm, chúng ta - những con người hiện đại sống trong hòa bình thống nhất, chúng ta tôn vinh những người anh hùng còn sống, chúng ta ngợi ca những chiến công, chúng ta tự hào say sưa về chiến thắng nhưng chúng ta không thể quên những người đã ngã xuống, không thể quên những giá trị cao đẹp chúng ta đang có là do bao thế
hệ cha anh đã đánh đổi bằng máu xương Bằng tình cảm tri ân sâu sắc, bằng
sự rung động mộc mạc, chân thành, với đề tài hình tượng người lính trong tập
thơ Màu hoa đỏ, chúng tôi mong muốn được khảo sát một cách đầy đủ, toàn
diện về hình tượng người lính – người liệt sĩ – những con người đã thành bất
tử, vĩnh hằng trong thơ ca Đồng thời, làm rõ được tính chất bi hùng trong hình tượng người lính ở các bài thơ Qua đó khẳng định được những giá trị nhân văn sâu sắc, đau thương nhưng không ủy mị, tự hào mà vẫn lắng sâu,
Trang 10hướng con người đến sự cao cả, đến tính anh hùng trong thơ viết về liệt sĩ nói
chung và tập thơ Màu hoa đỏ nói riêng Và cũng qua đó ký ức chiến tranh có
thể sẽ bền lâu khi lớp trẻ chưa quên thời cha anh mình ra trận
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có không ít các học giả, các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu những đặc điểm hình tượng thơ ca trong gian đoạn từ 1945 đến nay, đặc biết là từ
1945 – 1975 Trong đó ít nhiều có đề cập đến vấn đề chiến tranh nhìn tự sự
mất mát hi sinh như chuyên luận Thơ với cuộc kháng chiến chống mỹ của Ths Lê Thị Bích Hồng Trong giáo trình Tư duy thơ hiện đại Việt Nam và chuyên luận Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945 -1975 của tác giả Nguyễn Bá
Thành đã khái quát được phần nào chân dung người lính với phẩm chất anh hùng, tinh thần lạc quan chiến thắng, tinh thần đồng đội và cả cái chết, sự hy
sinh Trong chuyên luận Thơ trẻ Việt Nam 1965 – 1975 khuôn mặt cái tôi trữ
tình, Bùi Bích Hạnh cũng nói đến một phần nỗi đau chiến tranh cũng như
chân dung cái tôi trữ tình của người lính trong thơ ca chống Mỹ cứu nước
Phải nói rằng, trong 70 bài thơ của tập Màu hoa đỏ, chúng ta bắt gặp
không ít các bài thơ vô cùng quen thuộc, nhiều bài trở thành kinh điển trong
thơ ca kháng chiến, nhiều thế hệ thuộc làu như :Tây Tiến, Núi Đôi, Quê
hương, Dáng đứng Việt Nam… nhưng đây vẫn là một tập thơ còn tương đối
mới về thời điểm xuất bản cũng như nội dung (những tuyển tập thơ viết về người lính, về chiến tranh đã xuất bản có thể nói là nhiều Nhưng tuyển tập thơ chỉ tập hợp những bài thơ đặc sắc, độc đáo viết về liệt sĩ là không nhiều
và Màu hoa đỏ nằm trong số hiếm hoi đó Vì hai lẽ đó mà các công trình
nghiên cứu một cách bài bản về hình tượng người lính trong tập thơ nói riêng
và toàn bộ nội dung cũng như nghệ thuật của tập thơ nói chung là chưa hề có
Và có thể nói, đề tài của chúng tôi là công trình đầu tiên khảo sát về tập thơ này cũng như là đề tài ít thấy khảo sát chỉ riêng hình tượng người liệt sĩ
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hình tượng người lính - liệt sĩqua 70 bài
thơ (tập trung trọn vẹn nhất trong 25 bài, thuộc phần I – Những vì sao không
tắt )của tuyển tập Màu Hoa Đỏ Ngoài ra, chúng tôi cũng nghiên cứu, xem
xét một số tác phẩm thơ cùng đề tài người lính nói chung chủ yếu trong giai đoạn văn học 1945 – 1975 để đối chiếu, so sánh làm rõ đặc điểm về hình tượng người lính cũng như một số đặc điểm về thi pháp trong tuyển tập
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đi sâu tìm hiểu hình tượng người lính trong tuyển tập thơ, chúng tôi
sử dụng các phương pháp khác nhau như: Thi pháp học, thống kê – phân loại,
hệ thống hóa, so sánh đối chiếu, phân tích tổng hợp và các phương pháp liên ngành khác để có thể tiếp cận, lý giải đặc trưng về hình tượng người lính trong tập thơ một cách khoa học nhất cũng như có thể xem xét đối tượng nghiên cứu trên bình diện lịch sử và dòng chảy chung của thơ ca cách mạng
Việt Nam đương đại
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Đề tài người chiến sĩ trong thơ Việt Nam hiện đại
Chương 2: Hình tượng con người bất tử trong tập thơ Màu hoa đỏ
Chương 3: Một số đặc điểm thi pháp của tập thơ
Trang 12PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: ĐỀ TÀI NGƯỜI CHIẾN SỸ
TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1.Tổ quốc bất khuất với dòng thơ chiến tranh và cách mạng
Có nhà thơ cho rằng, nếu tìm một hình ảnh minh họa cho lịch sử Việt Nam, chúng ta có thể vẽ một thanh gươm tô đậm một màu máu… Điều đó hoàn toàn hợp lý, thấu tình, cũng như quan niệm cho rằng thế kỷ 20 là thế kỷ đau thương nhất trong lịch sử dân tộc Việt.Đất nước Việt Nam nửa sau thế kỷ
20 đã trải qua nhiều biến cố, nhiều sự kiện chiến tranh và cách mạng Đặc biệt
là cuộc 2 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt, kéo dài suốt 30 năm: Kháng chiến chống Pháp (1945 -1954) và kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)
Văn học là tấm gương phản chiếu cuộc sống, vì vậy, trong bối cảnh lịch
sử đặc biệt trên, văn học Việt Nam hiện đại nói chung và thơ ca nói riêng đã
đi sâu vào việc phản ánh hiện thực chiến tranh và cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Đây cũng là chủ đề bao trùm và xuyên suốt cả nền thơ Việt Nam nửa sau thế kỷ 20, là đặc điểm thơ cốt lõi của thơ Việt Nam hiện đại)
1.2.Người chiến sỹ - Nhân vật trữ tình trung tâm của cả một nền thơ 1.2.1.Hình ảnh người lính trong thơ ca kháng chiến chống Pháp 1946-1954
Trong hệ thống văn học truyền thống trước cách mạng tháng 8, đề tài
về tổ quốc, chiến tranh và lòng yêu nước luôn được thể hiện rõ ràng qua những biến cố của lịch sử Nhưng, nhân vật trung tâm của những đề tài ấy –
hình tượng những người lính, thì rất ít được nhắc đến Trong Hịch tướng sĩ
của Trần Hưng Đạo thì đối tượng kêu gọi là các bậc tướng quân có bổng lộc,
Trang 13có thái ấp, có tiền của, vườn ruộng… Nghĩa là những cầm quân, cai quản binh lính và có sở hữu quý tộc dưới trướng của quốc vương Còn những người lính
trận, “lính tốt” thì chưa được nhắc đến Trong Hoàng Lê nhất thống chí binh
lính được nhắc tới chỉ là vài nhóm kiêu binh – một đám đông ô hợp, là công
cụ cho ông Quận này hay ông Quận khác chiếm đoạt quyền lực Họ không phải đội quân chính quy, không có bất kì sự miêu tả cụ thể nào về chân dung,
lý tưởng hay giá trị chiến đấu của họ Trong Chinh phụ ngâm( Đặng Trần Côn
– Đoàn Thị Điểm), có khắc họa hình tượng người chinh phu Nhưng đây lại là
con nhà dòng dõi: Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt/ xếp bút nghiên theo việc
đao binh/ thành liền mong hiến bệ rồng Khi ra trận cũng đã được sắc phong
tước vị Cho nên sau này, khi người chinh phụ phải chịu cảnh xa nhau biền
biệt mới thốt lên cay đắng: Lúc ngoảnh lại trông màu dương liễu/ Thà khuyên
chàng đừng chịu tước phong Mãi đến thời của Nguyễn Đình Chiểu, những
người lính trận mới được tác giả chú tâm khắc họa Nhưng hình tượng người lính Cần Giuộc chưa rõ ràng hẳn tính chất người lính, ở họ vẫn đậm đà bản
sắc nông dân, được tổng hợp kết nối với nhau để làm việc nghĩa vậy nên: Việc
cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm/ Tập khiên, tập mác, tập
cờ, mắt chưa từng ngó Họ vẫn không được coi là đội quân chính quy hay
người lính chính thống Chỉ sau Cách mạng tháng Tám, khi nền văn học cách mạng ra đời và phát triển thì hình tượng những người lính – là những người lính không phẩm hàm, lính trận …mới chính thức bước vào văn đàn với tư cách một nhân vật, và từ đây, họ càng ngày càng có vị thế trung tâm trong loạt đề tài về Tổ quốc – chiến tranh – lòng yêu nước…
Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, hình tượng người lính Vệ Quốc luôn được khắc họa đậm nét trong thơ ca Họ khác nhau về xuất thân,
nguồn gốc Có người ra đi từ mái tranh nghèo (Màu hoa đỏ - Nguyễn Đức Mậu), nơi làng quê nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá (Đồng chí –
Trang 14Chính Hữu), những vùng quê từ miền xuôi đến miền ngược, từ vùng núi đến
đồng bằng đều xơ xác nghèo gian nhà không mặc kệ gió lung lay ( Đồng chí –
Chính Hữu) Từ nơi bến nước, gốc đa, lũy tre làng ấy những chàng trai trẻ đầy
nhiệt huyết lên đường, xuất thân nông dân nên không ít người mù chữ: Lũ
chúng tôi bọn người tứ xứ/ Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ (Nhớ - Nguyên
Hồng) Cũng không ít người là học sinh, sinh viên vừa rời ghế nhà trường,
đến từ những phố dài xao xác heo may giữa lòng Hà Nội, họ luôn có sự tinh nghịch, lãng mạn của thanh niên thủ đô ngay cả trong khi làm nhiệm vụ: Mắt
trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Lại có người
ở nơi quê hương trù mật, đẹp tươi với lúa nếp thơm nồng, với tranh Đông Hồ
gà lợn nét tươi trong… Những người tứ xứ ấy quây tụ lại với nhau bởi tinh
thần nhiệt huyết của tuổi trẻ, bởi niềm tin mãnh liệt vào cách mạng, vào cuộc kháng chiến kiến quốc của họ, nhờ họ và cho chính họ Vì thế, họ chịu đựng
mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn trên đường hành quân áo anh rách vai,
quần tôi có vài miếng vá, miệng cười buốt giá, chân không giày (Đồng chí –
Chính Hữu) Họ cùng bền bỉ vượt qua những cơn sốt rét giữa rừng, giữa mùa chiến dịch sốt run người, vầng trán đẫm mồ hôi, hay quân xanh màu lá mà vẫn dữ oai hùm Đói rét, ốm đau là những thử thách thường xuyên của anh bộ đội nhưng họ vẫn lạc quan, dũng cảm: Lòng vẫn cười vui kháng chiến/ Lột sắt
đường tàu rèn thêm đao kiếm/ Áo vải chân không đi lùng giặc đánh (Nhớ -
Nguyên Hồng) Niềm vui đã giúp họ vượt lên tất cả:
Họ vẫn gầy, vẫn ốm Mắt vẫn lõm, da vàng
Áo chăn chưa đủ ấm
Ăn uống vẫn tồi tàn Nhưng vẫn vui vẫn nhộn
Trang 15Pháo cười luôn nổ ran
(Lên Cấm Sơn – Thôi Hữu)
Điều đáng nói ở đây, là cách họ nhìn cuộc sống kháng chiến Người lính trong thơ ca chống Pháp chưa bao giờ kêu than hay trách móc điều gì Dù hoàn cảnh thực tế có khắc nghiệt:
Cuộc đời gió bụi pha xương máu Đói rét bao lần xé thịt da
Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật Đâu còn tươi nữa những ngày hoa
(Lên Cấm Sơn – Thôi Hữu) Những người lính vẫn chấp nhận gian khổ một cách vui vẻ, thậm chí lạc quan Ta bắt gặp không ít những khuôn mặt vui tươi và nụ cười cởi mở
của người lính vệ quốc khi kể chuyện về trận đánh ở Chợ Đồn, Chợ Rã:Ta
đánh giặc chạy re/ Hai đứa cười ha hả dù đang trong cơn sốt Giọt giọt mồ hôi rơi/ Trên trán anh vàng nghệ (Cá nước – Tố Hữu) Hồng Nguyên đã miêu tả
cuộc đời chiến sĩ với rất nhiều kỉ niệm:
Tôi nhớ bờ tre gió lộng Làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau
Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau
Có tiếng gà gáy xóm
Có ‘Khai hội, yêu cầu, chất vấn”
Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa Trăng lên tập hợp hát om nhà
Tôi nhớ Giường kê cánh cửa
Trang 16Bếp lửa khoai vùi Đồng chí nứ vui vui Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ
(Nhớ - Hồng Nguyên)
Có lẽ ấn tượng nhất với người lính là niềm vui khi được dân chúng yêu mến, đùm bọc, với những sinh hoạt vô cùng độc đáo một thời như bắt rận, xóa mù chữ … Người lính thời đó có lúc phải dùng lá cây để che thân, dùng dây dợ buộc túm các chỗ rách, chỗ thủng của quần áo, và tên gọi “Vệ Túm” ra
đã ra đời như thế:
Áo anh đan sợi chỉ đay Túm xanh, túm tía như cây trên rừng Thằng tây có mắt như bưng
Đố mày biết được cây rừng hay tao
(Bức tranh sinh hoạt – Minh Tiệp)
Họ cũng không ngần ngại thể hiện tuổi trẻ hồn nhiên, chân chất của mình khi cười vang đồng, “nhìn cô thôn nữ cuối nương dâu” trên đường hành
quân và niềm tin chắc chắn chờ ngày độc lập mới lấy vợ Những con người
tuổi xanh đã thực sự sống hồn nhiên, vô tư như vậy Có không ít nhà thơ khi viết về những gian khổ của người lính, họ dự định sẽ nói lên sự cảm thông, chia sẻ, thậm chí là thương hại với những cảnh đời gió bụi nơi chốn rừng thiêng nước độc Nhưng khi chứng kiến niềm vui cũng như tinh thần lạc quan cách mạng của người lính, các tác giả đã thay đổi cảm xúc ban đầu Tình cảm hồn nhiên của người lính đã truyền cảm hứng sáng tác, truyền sự hứng khởi cho nhà thơ, để những vần thơ không hề bi thương, bi lụy mà ngược lại tràn ngập sức mạnh của sự vui tươi:
Trang 17Lòng tôi bừng thức tình trai mạnh Muốn viết bài thơ nhộn tiếng cười Tặng những anh tôi trong lửa đạn Qua nghìn gian khổ vẫn vui tươi
(Lên Cấm Sơn – Thôi Hữu) Không chỉ nhất trí, đồng lòng trong cách nhìn lạc quan về cuộc sống, những người lính từ bốn phương đất nước tập họp nhau thành đồng đội đó
còn giống nhau ở khí khái mạnh mẽ, kiên quyết: người ra đi đầu không
ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy (Đất nước – Nguyễn Đình Thi)
Khi ra trận, họ lăn xả hết mình, hành động thật anh hùng, quả cảm:
Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn
Những đồng chí thân ôm làm giá súng
Đầu bịt lỗ châu mai Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão Những đồng chí chèn lưng cứu pháo Nát thân, nhắm mắt còn ôm …
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu) Tất cả họ, trong những phút giây quan trọng của lịch sử đều mang trong
mình ý chí quyết tâm chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh (Tây tiến – Quang Dũng), sẵn sàng hi sinh vì độc lập tự do của tổ quốc: Những chàng trai chưa
trắng nợ anh hùng/ hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm (Ngày về - Chính
Hữu)
Trang 18Có thể nói, hình tượng người lính trong thơ ca chống Pháp là những hình ảnh đẹp, là bước tiếp nối của hình tượng người sĩ phu yêu nước trong quá khứ, đồng thời là sự mở đầu cho hình tượng anh Giải phóng quân kiên cường bất khuất trong kháng chiến chống Mĩ (1954 - 1975) Thơ ca về người lính trong giai đoạn này đều chung giọng điệu ngợi ca, tươi vui và cảm phục Mỗi bài thơ, dù cách khắc họa chân dung nhân vật khác nhau, nghệ thuật – cấu tứ khác nhau, âm hưởng truyền đến trái tim người đọc cũng khác nhau, song chúng đều để lại những ấn tượng tốt đẹp về người lính cách mạng trong những năm đầu sau 1945
1.2.2.Hình ảnh người lính trong thơ chống Mỹ 1954 - 1975
Sau 9 năm trường kì, kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi với hiệp định Giơnevơ Từ đây miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đi lên chủ nghĩa
xã hội Nhưng cả dân tộc vẫn phải tiếp tục cuộc chiến mới – cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Đây là cuộc chiến khốc liệt cả về thời gian cũng như mức độ thiệt thiệt hại của cả hai phía Cán cân lịch sử thay đổi, kéo theo đó là những thay đổi trong đời sống xã hội – chính trị nói chung
và đời sống văn học nói riêng Trước những yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, hình tượng người lính trong thơ ca giai đoạn này cũng dần dần có sự chuyển biến Người lính lúc này mang trong mình vẻ đẹp mới của thời đại mới – thời đại Hồ Chí Minh Họ không chỉ tượng trưng cho vẻ đẹp dân tộc mà còn được nâng tầm khái quát lên cao hơn – tầm vóc nhân loại
Điều đầu tiên làm nên sự khác biệt về hình tượng người lính trong giai đoạn này với giai đoạn trước chính là đội ngũ sáng tác Bên cạnh hai cây bút
kì cựu là Tố Hữu và Chế Lan Viên, xuất hiện hàng loạt những tên tuổi mới – những thi sĩ tài năng mới Họ trẻ về tuổi đời, đông đảo về đội ngũ, đa dạng và phong phú về phong cách giọng điệu Và quan trọng hơn cả, họ đều là những người tham gia trực tiếp vào kháng chiến, ngày ngày chứng kiến sự khốc liệt
Trang 19của chiến trường cũng như lý tưởng và khát vọng của cả một dân tộc Họ - những thi sĩ cũng là chiến sĩ ấy đã tạo nên những hình tượng người lính độc đáo mà vẫn không kém phần sâu sắc, nhân văn
Người lính trong thời kỳ này đã thoát khỏi những khó khăn, thiếu thốn
về trang bị, quần áo Thay vì ra đi từ quê hương nước mặn đồng chua từ
những làng mạc nghèo nàn xơ xác, họ đều hồ hởi lên đường nhập ngũ từ những xóm làng đã hợp tác hóa, rộn ràng hơn, đông đúc hơn Họ không phải
là những chàng nông dân mù chữ mà đa số đều được học hành dưới mái trường còn thơm mùi ngói mới của những năm hòa bình vừa được lập nên Dưới mái trường đó, đa số họ được truyền thụ lý tưởng giải phóng dân tộc, về
tinh thần không có gì quý hơn độc lập tự do ( Hồ Chí Minh) Họ được học về
những vị anh hùng cứu nước của dân tộc như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung… Từ mái trường của thế hệ mới, với những nhận thức về lịch
sử và trách nhiệm công dân, thế hệ trẻ lên đường chống Mỹ đã khẳng định sự xuất hiện của họ với một thái độ lựa chọn quyết liệt và ý thức sâu sắc về sự
lựa chọn ấy: Khi anh hiểu nhân dân, nhân dân chia cắt, yêu Tổ quốc mình, Tổ
quốc chia đôi Nỗi đau ấy góp đời mình để xóa (Đường tới thành phố - Hữu
Thỉnh); hay: Ta đi hôm nay đã không là sớm/ Đất nước hành quân mấy chục
năm rồi/ Ta đến hôm nay cũng không là muộn/ Đất nước còn đánh giặc chưa thôi (Phạm Tiến Duật); Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/… nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc (Những người đi tới biển - Thanh
Thảo) Trực diện và đầy tính suy lý, những câu thơ của các nhà thơ chống
Mỹ đại diện cho tiếng nói chung của triệu triệu người lính, họ - có thể là những người đã dạn dày bom đạn trong kháng chiến chống Pháp, cũng có thể
là thanh niên, sinh viên, học sinh trưởng thành khi cuộc chiến tranh chống Mỹ
bước vào giai đoạn ác liệt nhất Tất cả đều chung ý chí: Dàn hàng gánh đất
nước trên vai (Bằng Việt)
Trang 20Bước tới chiến trường, hòa mình trong cuộc chiến đấu gian khổ và ác liệt, gương mặt tinh thần của những người lính nhanh chóng hiện diện trong thơ như một tiếng nói tự ý thức mạnh mẽ Không chỉ tuyên ngôn về trách nhiệm, hành động trước lịch sử, những người lính còn tự bạch về bản thân, về đồng đội, về cuộc sống ở chiến trường Ra đời dưới ngòi bút của những
“chiến sĩ – thi sĩ”, hình tượng người lính trong thơ được khắc họa từ nhiều góc độ, nhiều phương diện (thường do chính tác giả“tự họa” chân dung của mình) nên vừa chân thực lại vừa sinh động Với một tâm hồn vững vàng, tin tưởng, những người lính đi vào chiến trường trong tâm thế thanh thản, nhẹ
nhõm, có cái nhìn cuộc sống đầy chất thi vị:
Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu Nghe chim kể chuyện trên đồi chốt Mùa này ta hát khắp Trường Sơn
(Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu - Hoàng Nhuận Cầm)
Vẻ đẹp của sức chịu đựng gian khổ, hy sinh từng được ca ngợi, ngưỡng
mộ trong kháng chiến chống Pháp thì đến thời kỳ chống Mỹ, những phẩm chất ấy được pháthuy cao độ bằng sự ngang tàng, ngạo nghễ pha chút hóm hỉnh, đậm chất lính:
Xe không có kính, bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi… Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người gìa, Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc, Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật
Họ đã giấu đi những chuyện ác liệt và chết chóc ở chiến trường, giấu đi nỗi buồn, sự cô quạnh, họ chỉ nói những niềm vui:
Trang 21Khoái nào bằng phút ngả lưng
Mở trang thư dưới bóng rừng đung đưa
(Nguyễn Duy) Biết tạo ra niềm vui từ chính gian khổ hy sinh, các anh nói về gian khổ
hy sinh như nói về những niềm vui, niềm hạnh phúc Bởi vậy, thương tích trên mình với các anh có đáng kể gì đâu:
Cái vết thương xoàng mà đưa viện.
Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo”
(Nhớ – Phạm Tiến Duật)Trong tâm thế lạc quan, yêu đời ấy, người lính thể hiện niềm tin vào chiến thắng, niềm tự hào về lòng yêu nước, lòng căm thù giặc, về sức mạnh vượt qua khó khăn:
Chúng tôi nói về lòng yêu nước Bằng lưỡi xẻng moi hầm
Bằng khẩu súng cầm tay…
Chúng tôi nói về lòng dũng cảm Bằng xác giặc ngổn ngang, khẩu súng đỏ nòng Bằng áo nhuộm mưa dầm, thuốc đạn
(Nguyễn Đức Mậu)
Một vẻ đẹp nữa của người lính không thể không kể đến trong thơ ca chống Mỹ đó là tình đồng đội Thứ tình cảm thiêng liêng này đã từng được
nhắc đến trong thơ ca chống Pháp Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Và
đến thơ chống Mỹ, tình đồng đội được thể hiện một cách sâu sắc và gắn bó
Trang 22hơn từ trong sinh hoạt đời thường: quờ chân nhau tìm hơi ấm đêm khuya, đến
bước đường hành quân vất vả:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)
Cái bắt tay ấm nồng tình cảm yêu thương chia sẻ Cái bắt tay ấy là tình đồng đội thiêng liêng, họ truyền cho nhau niềm tin chiến thắng, tình yêu và lòng dũng cảm, là sức mạnh đoàn kết ở nơi mà sự sống và cái chết thật cận
kề Bàn tay thay cho mọi lời nói Các anh hiểu rằng kháng chiến là gian khổ,
là trường kì, vậy nên, hàng ngàn con đường ra trận đã trở thành ngôi nhà chung, những đồng đội đã trở thành gia đình ruột thịt:
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)
Trong hoàn cảnh vô thường của chiến tranh, điều mà những người lính chia nhau đâu chỉ là bát đũa, đâu chỉ chăn áo, đâu chỉ là những cái bắt tay
thâm tình, họ còn chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết mà biểu hiện cao
nhất của tình đồng đội là nhận cái chết cho đồng đội sống:
Ngực chặn lỗ châu mai Hùng đứng thẳng Đồng đội xông lên nhìn rõ Hùng cười
(Nấm mộ và cây trầm – Nguyễn Đức Mậu)
Thơ ca lúc bấy giờ là “thơ vũ khí”, “tiếng hát át tiếng bom”, thơ phản ánh hiện thực cách mạng cho nên nội dung thơ không nói nhiều về những
Trang 23gian khổ, hi sinh mất mát Thơ ca và hình tượng người lính phải đem lại cho người tiếp nhận một niềm tin về cuộc chiến đấu, về chính nghĩa và thắng lợi tất yếu đang đến Rất ít người hoài nghi về tính đúng đắn của cuộc chiến Với những nhận thức đã được truyền giảng trên ghế nhà trường của chủ nghĩa xã hội, người lính đồng nhất việc bảo vệ Tổ quốc với bảo vệ chính quyền, trung với đảng nghĩa là trung với nước Đỉnh cao của sự trung thành ấy là sự chiến đấu và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng Đã có không ít các bài thơ viết về sự
hy sinh dũng cảm của người lính nhưng đa số các bài thơ bên cạnh sự thương xót chia sẻ thì đều mang tính đề cao, ngợi ca và thán phục Ở một mức độ nào
đó, thơ ca 1954 – 1975 đã mỹ lệ hóa, thi vị hóa cái chết Dù vậy, vẫn không thể phủ nhận rằng so với giai đoạn chống Pháp, hình tượng người lính chống
Mỹ đã có sự điều chỉnh đáng kể Tầm bao quát cũng như khả năng điển hình hóa của hình tượng đã được nâng tầm lên rất nhiều Tầm vóc người chiến sĩ như cao lớn lên cùng tầm vóc của dân tộc, của thời đại trong cuộc chiến tranh
… Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.
(Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân) Một người lính vô danh, không để lại một tấm hình hay địa chỉ, nhưng dáng đứng của anh đã trở thành dáng đứng của dân tộc, của đất nước Dáng
Trang 24đứng ấy đã tạc vào thời đại, tạc vào thế kỷ Anh “Vệ Túm” khi xưa đã trở
thành “Anh giải phóng quân”, được khuếch đại, so sánh để trở thành huyền thoại, mang tầm vóc sử thi:
Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi Không tự ngắm mình anh chẳng hay đâu Hỡi chàng dũng sĩ
Cả năm châu chân lý đang nhìn anh
(Bài ca xuân 68 – Tố Hữu) Hình tượng người lính trong thơ cách mạng nói chung và thơ ca chống
Mỹ nói riêng mang vẻ đẹp của một con người Việt Nam chiến đấu vì độc lập
tự do của Tổ quốc, vì mục tiêu cách mạng, vì chủ nghĩa xã hội, cho nên vẻ đẹp ấy ít nhiều đều mang tính lý tưởng hóa
Có thể nói hình tượng người lính trong thơ ca chống Mỹ là sự kế thừa và phát huy một cách thành công nhất về đề tài này trong thơ ca các giai đoạn trước Qua mỗi cuộc chiến, chân dung người lính lại hiện ra đầy đặn hơn, dung dị hơn, và cũng chân thực, gần gũi hơn Mang dấu ấn đặc trưng của cả một thế
hệ xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, hình tượng người lính đã trở thành nguồn
cảm hứng bất tận cho sự ngợi ca và ngưỡng vọng Hơn thế nữa, đây còn là hình tượng trung tâm, chi phối chiều sâu thẩm mỹ trong thơ ca kháng chiến
Cùng với thử thách của thời gian, có thể khẳng định rằng các nhà thơ cùng với những vần thơ viết về đề tài người lính ngày càng khẳng định được vị trí vững vàng trong lịch sử thơ ca Việt Nam, nó vẫn tồn tại như một vầng sáng, như một tầm cao trong thơ Việt Nam hiện đại Nhiều bài thơ hay vẫn sống trong lòng người yêu thơ và thế hệ trẻ Thơ về đề tài người lính là một phần không thể phủ định trong các giá trị tinh thần của một thời đại lịch sử đã và sẽ được lưu giữ, trân trọng bởi những thế hệ hôm qua, hôm nay và cả mai sau
Trang 251.3.Màu hoa đỏ - Một tuyển tập thơ chuyên biệt về đề tài liệt sỹ
1.3.1.Quan niệm tuyển chọn
Như đã tìm hiểu và phân tích ở trên, thơ viết về Liệt sỹ không thể xuất hiện ở quy mô tuyển tập trong điều kiện đất nước đang từng ngày kháng chiến; Những mất mát đau thương phải nén lại, giấu bớt, để giữ vững ý chí chiến đấu, để bảo trì niềm tin vào tương lai tất thắng của dân tộc Chỉ đến thời điểm hiện tại, khi chiến tranh đã lùi gần 40 năm, xã hội ngày càng phát triển, nhưng vấn đề chủ quyền luôn là vấn đề thời sự nóng bỏng và những vấn đề hậu chiến vẫn luôn gây nhức nhối lòng người thì thơ về những người Liệt sỹ
mới xuất hiện ở quy mô tuyển tập và Màu hoa đỏ là tập thơ như thế Ra đời
nhân dịp kỷ niệm 67 năm Ngày Thương Binh –Liệt sĩ (27/07/1947 – 27/07/2014) và 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/ 12/
1944 – 22/ 12/ 2014) tập thơ được coi như một tư liệu tuyên truyền, giáo dục
cho các thế hệ người Việt nêu cao đạo lý uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp
nghĩa, đồng thời đây cũng là nén tâm nhan tưởng nhớ, biết ơn các anh hùng
liệt sĩ – những người đã hy sinh cho hòa bình, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, dân tộc
1.3.2.Tính tư tưởng và ý nghĩa giáo dục - thẩm mỹ của tập thơ
Tập thơ góp phần hoàn thiện hơn bức tranh hiện thực kháng chiến: không chỉ có chiến thắng mà còn có đầy hy sinh mất mát Những người lính không chỉ được nhìn dưới ánh hào quang của chiến công mà còn được khắc họa đậm nét trong những phút giây sinh tử, những thời khắc đối diện với kẻ thù Có cái chết nơi đầu súng giặc – giữ từng tấc đất quê hương, có cái chết nơi rừng thiêng nước độc vì sốt rét, vì khốn khó trên đường hành quân những
ngày ở rừng…Người ta vẫn bảo nhau chết là hết nhưng cái chết được nhắc
đến ở đây chưa phải là kết thúc tất cả, mà nó còn để lại bao ám ảnh, bao dư vị
tự hào xen lẫn đắng cay, cơ cực, nhớ thương, tiếc nuối, xót xa cho những
Trang 26người còn sống Cái chết ấy có thể tiếp thêm sức mạnh, sự quyết tâm cho những người đang tiếp tục cuộc chiến song đồng thời nó cũng day dứt tâm tư con người – những người bạn, đồng chí đồng đội hay những người thân như cha mẹ, vợ con, anh em của người lính (ngay cả khi chiến tranh đã kết thúc hàng chục năm) Đã bao lâu rồi, người ta quen nhìn cuộc chiến với sự rực rỡ, lấp lánh của thắng lợi mà không nhận ra mặt trái của nó với tất cả sự đau đớn nơi trái tim con người Nhắc nhở điều đó, tập thơ hướng đến giáo dục thế hệ
về cái giá của hòa bình, của tự do, độc lập dân tộc, qua đó xây dựng nhân sinh quan, lẽ sống, quan niệm về cái đẹp cho độc giả , cho các thế hệ sau…
Trang 27Chương 2: HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI BẤT TỬ
TRONG MÀU HOA ĐỎ
2.1 Những liệt sĩ anh hùng trong chiến đấu
2.1.1 Những con người như chân lý sinh ra
Trong lịch sử văn học Việt Nam, bộ phận thơ ca nói về những người chiến sĩ
có một ý nghĩa đặc biệt trong đời sống văn hóa nói riêng và trong tâm tưởng của nhân dân nói chung Dân tộc Việt Nam trong suốt một thời gian dài từ thế kỷ XIX
đến những năm 75 của thế kỉ XX sống trong nỗi đau của sự xâm phạm, thơ ca chịu
tác động của ngoại cảnh lịch sử chủ yếu là tiếng nói thể hiện tình cảm thẩm mỹ của người nghệ sĩ, làm dậy lên khí thế của một thời đại hào hùng[10, tr 80 ] Đa số các
tác giả đều lăn lộn cùng hiện thực, thấm thía tận cùng xương máu ý nghĩa của sự mất – còn, hạnh phúc ngắn ngủi – bi kịch đằng đẵng của chiến tranh Mỗi tác giả đều cố gắng đưa quan niệm nghệ thuật về con người của mình vào những đứa tinh thần Từ đó, hình tượng những con người, những cái tôi có ý thức trách nhiệm với đất nước, với nhân dân hiện ra, những con người nhận ra mình trong dòng chảy của
lịch sử, những con người được huy động tối đa trí tuệ và cảm xúc, phân tích, khám
phá, tổng kết vẻ đẹp, chiều sâu khái niệm Tổ quốc: con người Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, dáng đứng Việt Nam, nụ cười Việt Nam, lòng nhân ái Việt nam [10, tr
80] Từ thực tế cách mạng gian khổ, từ chiến trường đầy xương máu, các tác giả trong tuyển tập thơ đã tìm đến với nghệ thuật bằng cái tôi nhạy bén với bức tranh cuộc sống tạo nên những hình tượng thơ giàu giá trị thẩm mỹ, vừa hướng về đất nước nhân dân, vừa thể hiện được lí tưởng thẩm mỹthời đại, hòa quyện với hiện thực đời sống nóng bỏng Chính nguồn cảm hứng này đã tạo nên hệ thống hình
tượng những con người như chân lýsinh ra trong cả tuyển tập
Trang 28Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần
ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước
(Hồ Chí Minh) Có thể nói, mỗi nhân vật trữ tình được nhắc đến trong tuyển tập đều là một minh chứng cho câu nói vô cùng ý nghĩa trên Ở vùng địa linh nhân kiệt này, khí thiêng sông núi đã hun đúc lên lòng yêu nước ở mỗi cá nhân, để rồi những con người ấy đi vào văn học như những hình tượng bất tử
Những người chiến sĩ trong tập thơ Màu hoa đỏ đều là những chiến sỹ mang
trong trái tim mình một lý tưởng cao cả : Không có gì quý hơn độc lập, tự do cho tổ quốc Ra đi , tham gia cách mạng và cầm súng vì tình yêu quê hương, đất nước, vì mối thù riêng, mối thù chung dân tộc
Chúng ta có thể tìm thấy những cái tên đã được nghi danh vào lịch sử, những con người cụ thể như Mạc Thị Bưởi, Bế Văn Đàn, Lý Tự Trọng, Phan Đình Giót…nhưng cũng có những con người vô danh, chìm lẫn trong vô vàn những người đã hy sinh trong thời chiến mà ta chỉ có thể gọi họ bằng những
cai tên chung như bà má Hậu Giang, Người con vệ quốc, một chiến sĩ Giải
phóng quân, một em bé liên lạc, hay một cô du kích bé nhỏ… Tuy nhiên, dù
có tên hay không tên, thì trong cái nhìn đầy ngưỡng vọng của các tác giả, chân dung, tính cách của mỗi người lính ấy đều được khắc họa đầy sống
động Nói về Mạc Thị Bưởi, C.B viết: Hai mươi bốn tuổi, tình hiền và ngoan
[11 tr19] Tố Hữu kể về chú bé Lượm dưới cái nhìn đầy tình cảm trìu mến
Chú bé loắt choắt Cái sắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh
Trang 29(Lượm – Tố Hữu)[11, tr 35]
Một chú bé chân chất hồn nhiên, đáng yêu biết bao với má đỏ bồ quân
và nụ cười híp mí Đáng quý nhất chính là tinh thần hăng hái nhiệt tình cách mạng: Cháu đi liên lạc/ Vui lắm chú à/ Ở đồn Mang Cá/ Thích hơn ở nhà và
sự dũng cảm hiếm có ở tuổi của cậu bé: Vụt qua mặt trận/ Đạn bay vèo vèo/
Thư đề thượng khẩn/ Sợ chi hiểm nghèo
Và ấn tượng hơn cả, có lẽ là chân dung của đoàn quân Tây Tiến
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
[11, tr 28]
Những câu thơ trải qua thăng trầm của lịch sử, có lẽ không ai có thể phủ nhận được chân dung “độc lạ” của những người lính cũng như tâm hồn đầy sự lãng mạn hào hoa của họ trong hoàn cảnh khắc nghiệt
Những người lính trong tuyển tập không phải những con người thần thánh, những con người siêu nhân có sức mạnh đặc biệt Họ đều chỉ là những con người bình thường nhất Họ khác nhau về tuổi tác: từ trẻ nhỏ ngây thơ
như bé Lượm, tuổi thiếu niên tròn trăng như Võ Thị Sáu, đến người già tám
mươi tuổi còn chút tài đò đưa như Mẹ Suốt Họ khác nhau về giới tính, khác
nhau về xuất thân… Chúng ta có thể tìm thấy bóng dáng con người và tính cách của họ phảng phất đâu đó trong những con người đời thường của cuộc sống Chỉ đến khi đối diện với cái chết cho lý tưởng, cho độc lập tự do họ vụt sáng trở thành biểu tượng của chân lý:
Không nghĩ để mai sau Các cháu con đúc tượng
Trang 30Mà chỉ muốn trên đầu
Nở vạn mùa hoa phượng
[11, tr 23]
Người đời trải qua bốn giai đoạn: Sinh, lão, bệnh, tử Trong đó, chết là điều đáng sợ nhất, ám ảnh con người nhất Đặc biệt là với những con người tuổi đời còn rất trẻ, khi họ còn chưa kịp sống, chưa kịp tận hưởng hết vẻ đẹp của cuộc đời này Những người lính trong tuyển tập đa số đều còn rất trẻ Thế nhưng thái độ của họ khi đối diện với cái chết chỉ có thể dùng từ “phi thường”
để diễn tả Tố Hữu – lá cờ đầu rực rỡ nhất của thơ ca cách mạng đã khiến trái tim bao người thổn thức khi thuật lại bằng thơ cuộc hành hình Nguyễn Văn Trỗi Điều mà người đọc cảm nhận được không phải là tử khí chết chóc, mà chính là tư thế, chân dung, thái độ kiên trung, mạnh mẽ của người tử tù:
Anh bước lên nhức nhối chân đau Dáng hiên ngang vẫn ngẩng cao đầu Quần áo trăng tinh một màu tinh khiết Thân gầy yếu mạnh hơn cái chết…
… Anh bước tới, mắt nhìn, bình thản Như chính anh là người xử án
(Hãy nhớ lấy lời tôi – Tố Hữu)[11, tr 56]
Đối diện với họng súng quân thù, anh vẫn cảm nhận từng ngọn cỏ, tấc đất dưới chân mình Tiếng thét của anh là tiếng thét căm hờn, quả cảm trước
sự tàn sát khủng bố của quân thù, là tiếng thét thức tỉnh lòng yêu nước của hàng triệu con người bao thế hệ:
Hãy sống chết quang vinh Trước kẻ thù không sợ
Trang 31Vì tổ quốc hi sinh Như đời anh người thợ
(Hãy nhớ lấy lời tôi – Tố Hữu) [11, tr.59]
Trong sự tàn sát khốc liệt của kẻ thù, không chỉ nam nhân, trai tráng như anh Trỗi mới bình thản đối diện với cái chết Hoa lê-ki-ma mỗi mùa trên Côn Đảo đưa hương vẫn nhắc nhở một truyền thuyết:
Người con gái trẻ măng Giặc đem ra bãi bắn vẫn ung dung mỉm cười Ngắt một đó hoa tươi Chị cài lên mái tóc Đầu ngẩng cao bất khuất Ngay trong phút hi sinh
(Truyền thuyết trên đảo Côn Sơn – Phan Thị Thanh Nhàn) [11, tr.29 ]
Cô gái ấy tuổi đời còn rất trẻ Hình ảnh cô ngắt một đóa hoa tươi, cài lên mái tóc gợi ra sức sống, sự trong trẻo, tinh khiết của tuổi thanh xuân, sự yêu đời dịu dàng, rất con gái Nhưng đặt trong bối cảnh của cuộc tử hình, trước những họng súng đen ngòm lạnh lẽo, hành động ấy trở thành biểu tượng cho niềm tin vào lý tưởng độc lập, biểu tượng cho sự dũng cảm của những con người chứng minh cho chân lý yêu nước
Khi tham gia cách mạng, chiến đấu vì Tổ quốc, vì nhân dân, người lính không chỉ đối diện với cái chết khi bị bắt, bị kết tội Mà họ còn phải đối diện với lưỡi hái của tử thần nơi chiến trường Đều là cái chết trong tay kẻ thù, đều
là những cái chết lay động tâm tư con người, nhưng một bên là cái chết bị quy
Trang 32tội, và một bên là cái chết tự nguyện, chủ động Nấm mộ và cây trầm của
Nguyễn Đức Mậu đã kể nên câu chuyện như thế trong tuyển tập:
Cái chết bay ra từ nòng súng quân thủ Nhận cái chết cho đồng đội sống Ngực chặn lỗ châu mai, Hùng đứng thẳng Đồng đội xông lên nhìn rõ Hùng cười
“Chết – hy sinh cho tổ quốc” Hùng ơi Máu thấm cỏ lời ca bay vào đất
Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc Một cây xuân thành biển khắc tên Hùng
(Nấm mộ và cây trầm – Nguyễn Đức Mậu) [11, tr 81]
`Nói đến Nguyễn Đức Mậu, là nói đến một ngòi bút viết về chiến trận Ông nhập ngũ tại một trong những sư đoàn chủ lực của quân đội, tác chiến
trải rộng từ Bắc chí Nam- một sư đoàn ba mươi năm chiến tranh Nhiều lần
đứng giữa ranh giới của sự sống và cái chết, ấn tượng về máu của đồng đội là
ấn tượng sâu đậm nhất trong những trang viết của ông Bài thơ Nấm mộ và
cây trầm là một trong những trang viết đậm ấn tượng tự sự đó Khi miêu tả lại
cái chết bi tráng của Hùng, nhà thơ không chỉ thể hiện sự nhớ tiếc mà còn gửi gắm vào đó ý nghĩa của sự hy sinh Nụ cười của Hùng trong ký ức của nhà thơ đã ghi dấu ấn sâu đậm cho người đọc Giữa không khí chết chóc bao phủ
cả chiến trường, nụ cười ấy bừng sáng trên gương mặt của người lính khi nhìn thấy đồng đội xông lên Đó là nụ cười bình thản chấp nhận cái chết, đó cũng
là nụ cười thỏa mãn khi biết cái chết của mình có ý nghĩa ra sao, đó cũng là
nụ cười hạnh phúc khi con người ra đã sống và chiến đấu hết mình
Có thể nói, mỗi bài thơ trong tuyển tập đều ít nhiều đề cập đến tính chân lý trong cái chết của những người lính Cái nhìn của các nhà thơ trong
Trang 33tuyển tập đa số là chiêm ngưỡng và ngợi ca: Con người kháng chiến sống với
những biến cố dữ dội, những sự kiện lịch sử, những rung động mạnh mẽ và mới lạ;họ chỉ thực sự tìm thấy sức mạnh, niềm vui và niềm tin tưởng ở trong đội ngũ đông đảo của tập thể, của giai cấp và dân tộc [19, tr74] Tất cả họ
bằng máu đã tạo nên đất nước hôm nay Để rồi, cuộc sống của họ trở trành chân lý vĩnh cửu của lòng yêu nước, sự hy sinh của họ trở thành “sao sáng
dẫn đường”, thành tượng đài bất tử trong lòng mỗi người dân Việt như Tố
Hữu đã khẳng định:
Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có con người như chân lý sinh ra
(Hãy nhớ lấy lời tôi – Tố Hữu) [11, tr 55]
2.1.2 Những con người của ý chí, niềm tin
Hình tượng nghệ thuật là một phạm trù quan trọng trong các lý thuyết văn học văn học nói chung và trong cảm hứng sáng tác của người nghệ sĩ nói riêng Theo quan niệm của tập thể tác giả giáo trình Lý luận văn học (Gs Hà Minh Đức chủ biên): “Hình tượng là phương tiện đặc thù của nghệ thuật để phản ánh hiện thực khách quan, bày tỏ tư tưởng của con người; là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ trong quá trình nhận thức và tái hiện cuộc sống theo quy luật tưởng tượng,hư cấu nghệ thuật” [6, tr 30] Trong thơ ca cách mạng, trong công cuộc đấu tranh cho lý tưởng, hình tượng nghệ thuật chính là
vũ khí sắc bén của người nghệ sĩ Bêlinxki đã khẳng định: Tác phẩm nghệ
thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không có sự thôi thúc chủ quan mạnh mẽ nào đó có nguồn gốc trong tư tưởng bao trùm thời đại, nếu nó không phải là tiếng thét đau khổ hoặc lời ca tụng hân hoan,
Trang 34nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc không trả lời những câu hỏi đó [6,
tr 32] Những điều này đặc biệt đúng với tập hợp thơ viết về người lính
Trong tuyển tập Màu hoa đỏ, đa số các bài thơ là viết về liệt sĩ, viết về cái
chết, viết về sự mất mát, chia lìa Nhưng điều mà tất cả các tác giả muốn truyền tải không phải là những yếu tố bi lụy hay sự bi thương Mà từ cái chết của những người lính, nhà thơ thổi vào hồn tác phẩm cảm hứng anh hùng ca
bi tráng Cảm hứng anh hùng ca ấy được thể hiện bởi ý chí, niềm tin mãnh liệt của những con người đã hóa thân thành bất tử Có thể khẳng định, mỗi người Liệt sĩ trong tuyển tập là một hình tượng bất diệt của ý chí và niềm tin
Trước hết, đó là ý chí kiên cường của những con người cách mạng Khi tham gia hoạt động chiến đấu trong lòng địch, mỗi người chiến sĩ từ già đến trẻ đều có khả năng rơi vào vòng nguy khốn của giặc Mà đã là giặc thì sự bạo
tàn sánh ngang với quỷ dữ Chúng đối với phụ nữ tàn độc
Chúng liền đạp chị ngã lăn Đứa dao khoét vú, đứa chân dẫm đầu Đứa thì tay đỡ chậu thau
Đứa thì mổ chị từ đầu đến chân
(Nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi – C.B) [11, tr.20];
Chúng đối với người già càng nhẫn tâm không chút nương tay:
Thằng kia bỗng giậm gót giày Đạp lên đầu má: “mẹ mày, nói không?”
Lưỡi gươm lạnh toát kề hông…
(Bà má Hậu Giang – Tố Hữu) [ 11, tr 42]
Nhưng kì lạ thay những con người như chị Mạc Thị Bưởi hay Bà má Hậu giang dường như có lá gan bằng thép Trong sự tra khảo, hành hạ của địch suốt ba bốn tuần, chị Mạc Thị Bưởi vẫn đủ tỉnh táo để nghĩ cách truyền
Trang 35tin cho người quen về tài liệu mật của Đảng Khi đã hoàn thành được mục đích, bị kẻ thù phanh thây thì:
Chị luôn giữ vững tinh thần
Hô to khẩu hiệu, chửi quân bạo tàn
(Nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi – C.B) [11, tr 20…]
Còn bà má Hậu Giang, tuổi đã già, sức đã yếu, không thể chống cự trước sự hung hăng của kẻ thù vậy mà đến phút cuối cùng má vẫn kiên gan
:Các con ơi ! má quyết không khai nào (Bà má Hậu Giang – Tố Hữu) [11, tr
42] Hành động cũng như tiếng nói của má và chị Bưởi chính là biểu hiện của sức mạnh ý chí hơn người
Ý chí của người lính trong tuyển tập còn thể hiện ở sự kiên cường khi phải đối diện với khó khăn gian khổ:
Nhớ chăng em cái mùa mưa đói quay đói quắt Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng
Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng Môi tái ngắt mái tóc mềm đẫm ướt
(Bài thơ về hạnh phúc – Dương Hương Ly) [11, tr 67]
Trong hồi ức về người vợ đã hy sinh, tác giả Dương Hương Ly nhắc về những khó khăn thiếu thốn khi ở rừng Nhưng cái ông muốn nhấn mạnh không phải là sự gian khổ mà là tâm hồn lạc quan yêu đời của người vợ trẻ:
Trong một góc vườn cháy khét lửa na – pan
Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc
Và em gọi đó là hạnh phúc…
Như chồi biếc gặp mưa xuân, như chim én say trời
Em mải mê đi giữa bao người
Trang 36Giữa nơi chiến trường mưa bom bão đạn, đến đàn ông còn ngao ngán, ghê sợ, chán chường, vậy mà một phụ nữ cầm bút lại có tâm hồn trong trẻo đến thế Nếu như không phải có một ý chí kiên cường, sao cô gái có thể nhìn
ra sự sống giữa bom đạn luôn cận kề
Nói đến ý chí, có lẽ không đội quân nào như đoàn quân Tây Tiến của Quang Dũng – một đội quân mà ý chí kiên cường trước khắc nghiệt vẫn thấm đẫm sự lãng mạn, hào hoa:
Tây tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm
(Tây tiến – Quang Dũng) [11, tr 28]
Trong cái nhìn của những người lính trẻ, gian khó được miêu tả mà vẫn không giấu nổi chút gì đó hóm hỉnh tinh nghịch Và đằng sau sự tinh nghịch
ấy là ý chí quyết tâm của cả một binh đoàn:
Tây tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa, chẳng về xuôi
(Tây tiến – Quang Dũng) [11, tr28]
Ý chí kiên định của người lính còn được thể hiện qua quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ dù gian nan, nguy hiểm trập trùng Từ một chú bé hồn nhiên
như Lượm cũng hiểu tầm quan trọng của nhiệm vụ thư đề thượng khẩn mà tự nhắc nhở bản thân Sợ chi hiểm nghèo để rồi quyết tâm vượt qua mặt trận/ đạn
bay vèo vèo Cho đến những người lính chuyên nghiệp:
Trang 37Bạn ta đó chết trên dây thép ba tầng Một bàn tay chưa rời báng súng Chân lưng chừng nửa bước xung phong Vẫn nằm trong tư thế tiến công
Bên trái: Lò Văn Sự Bên phải Nguyễn Đình Ba Những đêm tiến công, những ngày phòng ngự
Có phải các anh vẫn nằm đủ cả Trong đội hình đại đội chúng ta?
(Giá từng thước đất – Chính Hữu) [11, tr32]
Những người lính đến chết tay không rời súng, chân vẫn trong tư thế tiến công phải là những con người mang ý chí ra sao trên chiến trường Và phải chăng vì thế, sự hi sinh của họ mới có sức lay động mãnh liệt những người còn sống:
Khi bạn ta lấy thân mình đo bước Chiến hào đi
Ta mới hiểu giá từng thước đất
Cái giá ấy được đo bằng máu rỏ nơi chiến trường, được đo bằng thân xác và bằng ý chí quyết tâm của mỗi người lính
Hình tượng người chiến sĩ trong tuyển tập thơ này không chỉ tỏa sáng bằng sức mạnh của ý chí mà còn là biểu tượng cho sức lan tỏa của niềm tin
Đó trước hết là niềm tin vào chiến thắng: chiến tranh càng khó bao nhiêu/
tinh thần càng vững, càng nhiều chiến công( Nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi –
C.B) [11, tr.19]
Trang 38Đó còn là niềm tin vào tương lai:
Không nghĩ để mai sau Các cháu con đúc tượng
Mà chỉ muốn trên đầu
Nở vạn mùa hoa phượng
Hay:
Em ra đi chẳng để lại gì Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi
Và anh biết khi bất thần trúng đạn
Em đã ra đi với đôi mắt cười thanh thản Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai Bởi biết mình có mặt ở tương lai
(Bài thơ về hạnh phúc – Dương Hương Ly) [11, tr 71]
Một lần nữa chúng ta lại bắt gặp nụ cười thanh thản của người lính khi ngã xuống Nụ cười ấy khắc sâu vào lòng người niềm tin mãnh liệt của người chiến sĩ về ngày mai rạng ngời, ngày mai độc lập thống nhất, ngày mai ổn định, hòa bình
Điều đặc biệt hơn cả là ngay cả khi người chiến sỹ đã ngã xuống, niềm tin, ý chí ấy vẫn có một sức sống tiềm tàng mãnh liệt để truyền từ người này sang người khác:
Cây trầm thơm từ gốc thơm ra Như nhắc nhớ với người đang sống Thù riêng lớn, thù chung càng lớn Hờn căm này nhân tiếp những hờn căm Thôi mình đi Hùng nhé! Hãy yên nằm
Trang 39Trận đánh đêm nay vắng Hùng gài bộc phá Trận đánh trường kỳ vắng Hùng tham dự Trận đánh cuối cùng chiến thắng phải về ta Anh trinh sát trao lại tấm bản đồ
Anh xung kích hy sinh phất cao cờ chuẩn Xin Hùng hãy trao cho mình khẩu súng Trận đánh còn tiếp diễn Hùng ơi…
(Nấm mộ và cây trầm – Nguyễn Đức Mậu) [11, tr 82-83]
Vẫn nằm trong cảm hứng nhớ thương về đồng đội, nhưng nếu ở đoạn thơ trước Nguyễn Đức Mậu chú trọng đến ý chí của người lính, thì đến đoạn thơ này, ông đi sâu nhấn mạnh vào sự gửi của niềm tin Người đã chết, nhưng niềm tin thì sống mãi Niềm tin ấy được chính đồng đội của họ kế thừa và phát huy để làm nên những chiến công huyền thoại trong lịch sử đánh giặc cứu nước:
Mai một bên cửa rừng anh có nghe súng nổ
là chúng tôi đang cố tiêu diệt kẻ thù chung
Trang 40Nhớ mãi về ngọn lửa
(Trước tượng đài… – Nguyễn Trọng Tạo) [11, tr.44…]
Câu thơ đầy suy lý của tác giả có nhắc đến hình ảnh ngọn lửa Tác giả
Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới viết:Như mặt trời bằng những tia sáng của nó, ngọn lửa tượng trưng cho hoạt động đem lại sự sinh sản dồi dào, tẩy
uế và soi sáng” [……] Có thể nói, trong thơ ca Việt Nam thời kháng chiến,
ngọn lửa là biểu tượng của sức mạnh ý chí và nghị lực, là biểu tượng rực cháy của niềm tin và hy vọng chiến thắng Đã có không ít nhà thơ thành công khi
lấy cảm hứng từ hình ảnh ngọn lửa Chẳng hạn Bằng Việt với bài thơ Bếp lửa, Phạm Tiến Duật với bài Lửa đèn… Trong tuyển tập Màu Hoa Đỏ, hình ảnh
ngọn lửa được nhắc tới 4 lần như là biểu tượng của niềm tin được trao gửi:
Lửa kêu lửa, giữa miền nam rực lửa Như trái tim anh, ôi lửa nào bằng Phút cuối cùng chói lọi khối sao băng
Niềm tin ấy trở thành lời thề nguyền khắc tạc vào thời đại của những con người anh hùng cứu nước:
Tao già không sức cầm dao Giết bay đã có con tao trăm vùng Con tao gan dạ anh hùng
Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm
(Bà má Hậu Giang – Tố Hữu) Hoặc trở thành lý tưởng dẫn đường cho mai sau:
Anh đi bộ đội sao trên mũ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi